Mật Tạng Bộ 3-
No 1060 (Tr.106 àTr.111)

KINH THIÊN THỦ THIÊN NHĂN QUÁN THẾ ÂM
BỒ TÁT QUẢNG ĐẠI VIÊN MĂN VÔ NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI
Hán dịch: Đời Đường, Sa môn DÀ PHẠM
ĐẠT MA người xứ Tây Thiên Trúc dịch
Việt dịch: LIÊN DU (Thượng toạ THÍCH
THIỀN TÂM)
Source:
Như thế tôi
nghe, một thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự
nơi đạo tràng Bảo Trang Nghiêm, trong cung
điện của Quán Thế Âm Bồ Tát ở tại non
Bổ Đà Lạc Ca. Đức Phật ngồi nơi
ṭa sư tử, ṭa này trang nghiêm thuần bằng vô
lượng ngọc báu tạp Ma Ni xung quanh treo vây nhiều
trang phan bá bảo.
Khi ấy,
Đức Như Lai ở trên Pháp ṭa, sắp muốn
diễn nói môn Tổng Tŕ Đà La Ni, có vô ương số
Bồ Tát Ma Ha Tát câu hội. Các vị ấy là:
Tổng Tŕ
Vương Bồ Tát,
Bảo Vương
Bồ Tát,
Dược
Vương Bồ Tát,
Dược Thượng
Bồ Tát,
Quán Thế Âm Bồ
Tát,
Đại Thế
Chí Bồ Tát,
Hoa Nghiêm Bồ Tát,
Bảo Tạng
Bồ Tát,
Đức Tạng
Bồ Tát,
Kim Cang Tạng
Bồ Tát,
Hư Không Tạng
Bồ Tát,
Di Lặc Bồ Tát,
Phổ Hiền
Bồ Tát,
Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát …
Những vị
Bồ Tát như thế đều là bậc Quán
Đảnh Đại Pháp Vương Tử.
Lại có vô
lượng vô số đại Thanh Văn Tăng,
đều là bậc A La Hán tu hạnh Thập Địa
câu hội. Trong ấy, Ngài Ma Ha Ca Diếp làm Thượng
Thủ.
Lại có vô
lượng Phạm Ma La Thiên câu hội. Trong ấy, Ngài
Thiện Tra Phạm Ma làm thượng chủ.
Lại có vô
lượng chư Thiên Tử ở cơi Trời Dục
Giới câu hội trong ấy, Ngài Cù Bà Dà Thiên Tử làm
Thượng Thủ.
Lại có vô
lượng Hộ Thế Tứ Thiên Vương câu
hội. Trong ấy, Ngài Đề Đầu Lại Tra làm
Thượng Thủ.
Lại có vô
lượng Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La,
Khẩn Na La, Ma Hầu La Ǵa, Nhơn, Phi Nhơn câu hội.
Trong ấy, Ngài Thiên Đức Đại Long Vương
làm Thượng Thủ.
Lại có vô
lượng chư Thiên Nữ ở cơi Trời Dục
Giới câu hội. Trong ấy, Ngài Đồng Mục Thiên
Nữ làm Thượng Thủ.
Lại có vô
lượng Thần Hư không, Thần Giang Hải,
Thần Tuyền Nguyên, Thần Hà Chiểu, Thần
Dược Thảo, Thần Thọ Lâm, Thần Xá
Trạch, Thần Cung Điện, cùng Thủy Thần,
Hỏa Thần, Địa Thần, Phong Thần, Thổ
Thần, Sơn Thần, Thạch Thần … đều
đến tập hội.
Bấy giờ,
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở trong đại
hội, mật phóng ánh Thần Thông Quang Minh, chiếu sáng 10
phương sát độ và cơi Tam Thiên Đại Thiên
Thế Giới này đều thành sắc vàng. Từ Thiên
cung, Long cung, cho đến cung điện của các vị
Tôn Thần thảy đều chấn động. Biển
cả, sông, nguồn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, cùng Thổ
sơn, Hắc sơn, cũng đều rung động
dữ dội. Ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng, Tinh Tú, châu báu và lửa đều bị ánh kim
quang rực rỡ kia lấn át làm cho ẩn mất không
hiện.
Lúc đó, Ngài
Tổng Tŕ Vương Bồ Tát thấy tướng
trạng hy hữu ấy, lấy làm lạ cho là việc
chưa từng có, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, cung kính chắp tay, dùng lợi kệ
hỏi Phật, để biết tướng Thần
Thông kia do ai làm ra. Kệ rằng:
Ai thành Chánh Giác trong
ngày nay?
Khắp phóng ánh sáng
như thế này.
Mười
phương sát độ thành sắc vàng.
Cả cơi Đại
Thiên cũng như vậy.
Ai được
tự tại trong ngày nay?
Phô diễn Thần
Lực ít có này.
Không ngằn cơi
Phật đều rung động,
Cung điện Long
Thần cũng long lay.
Sức Thần Thông
này ai làm ra?
Là ánh quang minh
Đấng Phật đà,
Là của Bồ Tát,
Đại Thanh Văn,
Hay Trời
Đế Thích cùng Phạm, Ma?
Nay trong chúng hội
đều sanh nghi,
Chẳng biết
đây là nhơn duyên ǵ?
Muốn cầu
hiểu rơ tâm thành kính,
Hướng trông
về ngôi Đại Từ Bi.
Đức Phật
bảo Tổng Tŕ Vương Bồ Tát:
- Thiện nam tử!
Các ông nên biết, trong Pháp Hội này, có một vị
Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Quán Thế Âm Tự Tại, từ vô
lượng kiếp đến nay đă thành tựu Tâm
Đại Từ Bi, lại khéo tu tập vô lượng
Đà La Ni Môn. Vị Bồ Tát ấy v́ muốn làm cho chúng
sanh được lợi ích an vui, nên mới phóng sức
Thần Thông như thế.
Đức Như Lai
vừa nói lời ấy xong, Quán Thế Âm Bồ Tát
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y
phục nghiêm chỉnh, chắp tay hướng về
Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn!
Tôi có chú Đại Bi Tâm Đà La Ni, nay xin nói ra, v́ muốn
cho chúng sanh được an vui, được trừ
tất cả bịnh, được sống lâu,
được giàu có, được diệt tất
cả nghiệp ác, tội nặng, được xa ĺa
chướng nạn tăng trưởng tất cả công
đức của Pháp lành, được thành tựu
tất cả các thiện căn, được tiêu tan
tất cả sự sợ hăi, được mau
đầy đủ tất cả những chỗ mong
cầu. Cúi xin Thế Tôn Từ Bi doăn hứa”.
Đức Phật
bảo: “Thiện nam tử! Ông có Tâm Đại Từ Bi,
muốn nói Thần Chú để làm lợi ích an vui cho
tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc hợp thời, vây
ông nên mau nói ra, Như Lai tùy hỷ, chư Phật cũng
thế”.
Quán Thế Âm Bồ
Tát lại bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn!
Tôi nhớ vô lượng ức kiếp về
trước, có Phật ra đời, hiệu là Thiên Quang
Vương Tịnh Trụ Như Lai. Đức Phật
ấy v́ thương nghĩ đến tôi và tất cả
chúng sanh, nên nói ra môn Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại
Đại Bi Tâm Đà La Ni. Ngài lại dùng tay sắc vàng xoa
nơi đầu tôi mà bảo: ‘Thiện nam tử! Ông nên
thọ tŕ Tâm Chú này, và khắp tất cả chúng sanh trong
cơi trước ở đời vị lai, mà làm cho họ
được sự lợi ích an vui lớn’. Lúc đó tôi
mới ở ngôi Sơ Địa, vừa nghe xong Thần
Chú này liền chứng vượt lên Đệ Bát
Địa. Bấy giờ tôi rất vui mừng, liền
phát thệ rằng: ‘Nếu trong đời vị lai, tôi có
thể làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh th́
khiến cho tôi ngay tức thời thân sẽ sanh đầy
đủ ngàn tay ngàn mắt’. Khi tôi phát thệ rồi, th́
ngàn tay ngàn mắt đều hiện đủ nơi thân.
Lúc ấy, cơi đất 10 phương rung động 6
cách, ngàn Đức Phật trong 10 phương đều
phóng ánh quang minh soi đến thân tôi và chiếu sáng khắp
10 phương vô biên thế giới. Từ đó về
sau, tôi ở trong vô lượng Pháp Hội của vô
lượng chư Phật, lại được nghe và
thọ tŕ môn Đà La Ni này. Mỗi lần nghe xong, tôi khôn
xiết vui mừng, liền được vượt qua
sự sanh tử vi tế trong vô số ức kiếp. Và
từ đó đến nay, tôi vẫn hằng tŕ tụng
Chú này, chưa từng quên bỏ. Do sức tŕ tụng
ấy, tùy theo chỗ sanh, tôi không c̣n chịu thân bào thai,
được hóa sanh nơi hoa sen, thường gặp
Phật nghe Pháp. Nếu có vị Tỳ Khưu, Tỳ
Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hay đồng nam,
đồng nữ nào, muốn tụng tŕ Chú này,
trước tiên phải phát tâm Từ Bi đối với
chúng sanh, và sau đây theo tôi mà phát nguyện:
Nguyện con mau
biết tất cả Pháp
Nguyện con sớm
được mắt trí huệ.
Nguyện con mau
độ các chung sanh.
Nguyện con sớm
được phương tiện khéo.
Nguyện con mau lên
thuyền Bát Nhă.
Nguyện con sớm
được qua biển khổ.
Nguyện con mau
được đạo Giới Định.
Nguyện con sớm
lên non Niết Bàn
Nguyện con mau
về nhà Vô vi.
Nguyện con sớm
đồng thân Pháp tánh.
Nếu con
hướng về nơi non đao,
Non đao tức
thời sụp đổ.
Nếu con
hướng về lửa, nước sôi,
Nước sôi
lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con
hướng về cơi Địa ngục,
Địa ngục
liền tự mau tiêu tan.
Nếuc on hướng
về loài Ngạ Quỷ,
Ngạ Quỷ
liền được tự no đủ.
Nếu con
hướng về chúng Tu La,
Tu La tâm ác tự
điều phục.
Nếu con
hướng về các Súc Sanh,
Súc Sanh tự
được trí huệ lớn.
Khi phát lời
nguyện ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của tôi,
lại nên chuyên niệm danh hiệu Bổn Sư tôi tức
là Đức A Di Đà Như Lai, kế đó tụng
Đà La Ni Thần Chú này. Nếu chúng sanh nào, trong
một ngày đêm tụng 5 biến Chú, sẽ diệt
trừ được tội nặng trong ngàn muôn kiếp
sanh tử”.
Quán Thế Âm Bồ
Tát lại bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn!
Nếu chúng sanh nào tụng tŕ Thần Chú Đại Bi, mà
c̣n bị đọa vào 3 đường ác, tôi thề không
thành Chánh Giác. Tụng tŕ Thần Chú Đại Bi, nếu
không được sanh về các cơi Phật, tôi thề
không thành Chánh Giác. Tụng tŕ Thần Chú Đại Bi,
nếu không được vô lượng Tam Muội
Biện Tài, tôi thề không thành Chánh Giác. Tụng tŕ Thần
Chú Đại Bi, tất cả sự mong cầu trong
đời hiện tại, nếu không được
vừa ư, th́ Chú này không được gọi là Đại
Bi Tâm Đà La Ni, duy trừ cầu những việc bất
thiện, trừ kẻ Tâm không chí thành. Nếu các
người nữ chán ghét thân nữ, muốn
được thân nam, tụng tŕ Thần Chú Đại Bi,
như không chuyển nữ thành nam, tôi thề không thành Chánh
Giác. Như kẻ nào tụng Chú này, nếu c̣n sanh chút ḷng
nghi, tất không được toại nguyện. Nếu
chúng sanh nào xâm tổn tài vật, tức ăn uống
của Thường Trụ, sẽ mang tội rất
nặng, cũng do được sám hối, dù có sám
hối cũng không trừ diệt. Nếu phạm tội
ấy, cần phải đối 10 phương
Đạo sư sám hối mới có thể trừ
diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng Chú
Đại Bi Tâm Đà La Ni, 10 phương Đạo sư
đều đến v́ làm chứng minh, nên tất cả
tội chướng thảy đều tiêu diệt. Chúng
sanh nào tụng Chú này, tất cả tội Thập ác
Ngũ nghịch, báng Pháp, báng người, phá Giới, phạm
Trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của Tăng kỳ,
làm nhơ người tu Phạm hạnh, bao nhiêu tội ác
nghiệp nặng như thế đều được
tiêu hết, duy trừ một việc: kẻ tụng
đối với Chú c̣n sanh ḷng nghi. Nếu có sanh Tâm ấy
th́ tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không liền
diệt được tội nặng, cũng có
thể làm nhân Bồ Đề về kiếp xa sau.
Bạch Đức
Thế Tôn! Nếu có hàng Trời, Người tụng tŕ
Thần Chú Đại Bi, th́ không bị 15 việc chết
xấu, sẽ được 15 chỗ sanh tốt. Thế
nào là 15 việc chết xấu?
1. Không bị chết do đói khát khốn khổ.
2. Không bị chết do gông tù đánh đập.
3. Không bị chết v́ oan gia thù địch.
4. Không bị chết giữa quân trận chém giết nhau.
5. Không bị chết do cọp sói cùng các ác thú tàn hại.
6. Không bị chết bởi rắn độc cắn.
7. Không bị chết v́ nước trôi lửa cháy.
8. Không bị chết ở phạm nhằm thuốc
độc.
9. Không bị chết do loài sâu côn trùng độc làm
hại.
10. Không bị chết
v́ điên cuồng mê loạn.
11. Không bị chết
do té cây, té xuống núi.
12. Không bị chết
v́ người ác trù ếm.
13. Không bị chết
bởi Tà Thần Ác Quỷ làm hại.
14. Không bị chết
v́ bịnh ác lâm thân.
15. Không bị chết
v́ phi mạng tự tại.
Tụng tŕ Thần
Chú Đại Bi, không bị 15 việc chết xấu
như thế.
Sao gọi 15 chỗ
sanh tốt?
1. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp đấng
quốc vương hiền lành.
2. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp ở cơi
nước an lành.
3. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp ở thời
đại tốt.
4. Tùy theo chỗ sanh, thường gặp bạn lành.
5. Tùy theo chỗ sanh, thân căn thường
được đầy đủ.
6. Tùy theo chỗ sanh, Đạo Tâm thuần thục.
7. Tùy theo chỗ sanh, không phạm Giới cấm.
8. Tùy theo chỗ sanh, thường được quyến
thuộc ḥa thuận, có ân nghĩa.
9. Tùy theo chỗ sanh, vật dụng, thức ăn
uống thường được đầy đủ.
10. Tùy theo chỗ sanh,
thường được người cung kính giúp
đỡ.
11. Tùy theo chỗ sanh,
tiền bạc châu báu không bị kẻ khác cướp
đoạt.
12. Tùy theo chỗ sanh,
những việc mong cầu đều được
toại nguyện.
13. Tùy theo chỗ sanh,
Long Thiên Thiện Thần thường theo ủng hộ.
14. Tùy theo chỗ sanh,
thường được thấy Phật nghe Pháp.
15. Tùy theo chỗ sanh,
khi nghe Chánh Pháp ngộ giải nghĩa sâu.
Nếu có kẻ nào
trị tụng Chú Đại Bi, sẽ được 15
chỗ sanh như thế? Cho nên tất cả hàng Trời,
Người đều nên thường tụng tŕ, chớ
sanh ḷng biếng trễ.
Khi Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát nói lời ấy rồi, liền ở
trước chúng Hội, chắp tay đứng thẳng,
đối với chúng sanh khởi ḷng Từ Bi, nở
mặt mỉm cười nói Chương Cú màu nhiệm:
Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà
La Ni rằng:
r
Bồ Tát thuyết
Pháp xong, cơi đất 6 phen chấn động, trời
mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười
phương chư Phật thảy đều vui mừng,
Thiên Ma Ngoại Đạo sợ dựng lông tóc, tất
cả chúng hội đều được quả
chứng. Hoặc có vị chứng quả Tu Đà Hoàn,
hoặc có vị chứng quả Tư Đà Hàm, hoặc có
vị chứng quả A La Hán, hoặc có vị chứng
được Sơ Địa, Nhị Địa, Tam
Địa, Tứ Địa, Ngũ Địa cho
đến Thập Địa. Vô lượng chúng sanh phát
ḷng Bồ Đề.
Khi ấy Đại
Phạm Thiên Vương từ chỗ ngồi đứng
dậy, sửa y phục nghiêm chỉnh, chắp tay cung kính
bạch với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rằng:
“Lành thay Đại sĩ! Từ trước đến nay
tôi đă trải qua vô lượng Phật hội, nghe
nhiều Pháp yếu, nhiều môn Đà La Ni, song chưa
từng nghe nói Chương Cú thần diệu: Vô Ngại
Đại Bi Tâm Đà La Ni này. Cúi xin Đại sĩ v́ tôi,
nói h́nh trạng tướng mạo của Đà La Ni
ấy. Tôi và đại chúng đều ưa thích muốn
nghe”.
Quán Thế Âm Bồ
Tát bảo Phạm Vương: “Ông v́ phương tiện
lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên hỏi như
thế. Nay ông khéo nghe, tôi sẽ v́ ông mà nói lược qua.
Này Phạm
Vương! Những Tâm Đại Từ bi, Tâm B́nh
đẳng, Tâm Chẳng nhiễm trước, Tâm Không Quán,
Tâm Cung kính, Tâm Khiêm nhường, Tâm Không tạp loạn, Tâm
không chấp giữ, Tâm Vô Thượng Bồ Đề,
nên biết các thứ Tâm ấy đều là tướng
mạo của môn Đà La Ni này. Vậy ông nên y theo đó mà
tu hành”.
Phạm Vương
thưa: “Tôi và đại chúng hôm nay mới hân hạnh
được biết tướng mạo của môn
Đà La Ni này. Từ đây chúng tôi xin thọ tŕ chẳng
dám lăng quên”.
Bồ Tát lại nói
tiếp: “Nếu kẻ thiện nam thiện nữ nào
tụng tŕ Thần Chú này, phải phát Tâm Bồ Đề
rộng lớn, thệ độ tất cả muôn loài, giữ
ǵn trai giới, đối với chúng sanh khởi ḷng b́nh
đẳng, và thường nên tŕ tụng chớ gián
đoạn. Lại nên ở nơi Tịnh thất,
tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch,
treo phan, đốt đèn, dùng hương hoa cùng các
thức ăn uống để cúng dường, buộc
Tâm một chỗ chớ nghĩ chi khác, y như Pháp mà
tụng tŕ. Lúc ấy sẽ có Nhật Quang Bồ Tát,
Nguyệt Quang Bồ Tát, cùng vô lượng Thần tiên
đến chứng minh, giúp thêm sự hiệu nghiệm.
Bấy giờ Ta cũng dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay
nâng đỡ, khiến cho kẻ ấy từ đó về
sau có thể hiểu suốt tất cả sách vở
thế gian, thông đạt các điển tịch Vi Đà
và tất cả Pháp Thuật Ngoại Đạo. Chúng sanh
nào tụng tŕ Thần Chú này, có thể trị lành tám muôn
ngàn thứ bệnh ở thế gian, hàng phục các Thiên Ma,
Ngoại đạo, sai khiến được tất
cả các Quỷ thần. Những kẻ tụng Kinh
tọa Thiền ở nơi non sâu đồng vắng,
bị Sơn tinh, tạp Mị, các Quỷ Vọng,
Lượng làm năo loạn phá hại, khiến cho tâm không an
định, chỉ cần tụng Chú này 1 biến, các
Quỷ thần ấy thảy đều bị trói.
Nếu hành giả có thể tụng tŕ đúng Pháp, khởi
ḷng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ây Ta sẽ
sắc cho tất cả Thiện Thần, Long Vương,
Kim Cang, Mật Tích thường theo ủng hộ, không
rời bên ḿnh, như giữ ǵn tṛng con mắt hoặc thân
mạng của chính họ”.
Tiếp đó,
Bồ Tát liền đọc lời kệ sắc lịnh
rằng:
Ta sai Mật Tích, Kim
Cang sĩ,
Ô Sô Quân Đồ
Ương Câu Thi,
Bát bộ lực
sĩ, Thưởng Ca La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả
Ta sai Ma Hê Na La Diên,
Kim Tỳ La Đà Ca
Tỳ La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Bà Cấp Ta Lâu
La,
Măn Thiện Xa Bát Chân
Đà La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tát Giá Ma Ḥa La,
Cưu Lan Đơn
Tra Bán Chỉ La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tất Bà Dà La
Vương,
Ứng Đức
Tỳ La Tát Ḥa La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Phạm Ma Tam
Bát La,
Ngũ Bộ
Tịnh Cư Diêm Ma La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Thích
Vương Tam Thập Tam,
Đại Biện
Công Đức Bà Đát Na,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Đề
Đầu Lại Tra Vương,
Các Thần Mẫu
Nữ, chúng Đại lực,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tỳ Lâu
Lặc Xoa Vương,
Tỳ Lâu Bác Xoa
Tỳ Sa Môn,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Kim Sắc
Khổng Tước Vương,
Hai mươi tám
Bộ Đại Thiên chúng,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Ma Ni Bạt
Đà La,
Tán Chi đại
tướng, Phất La Bà,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Na Đà,
Bạt Na Đà,
Bà dà La Long, Y Bát La,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Tu La, Càn Thát Bà,
Ca Lâu, Khẩn Na, Ma
Hầu La
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Ta sai Thuỷ,
Hỏa, Lôi, Điển Thần,
Cưu Bàn Trà
Vương, Tỳ Xá Xà,
Thường theo
ủng hộ bên hành giả.
Các vị Thiện
Thần này cùng Thần Long Vương, Thần Mẫu
Nữ đều có năm trăm Đại Lực Dạ
Xoa làm quyến thuộc, thường theo ủng hộ
người thọ tŕ Thần Chú Đại Bi. Nếu
người đó ở nơi núi hoang đồng vắng,
ngủ nghỉ một ḿnh, các vị Thiện Thần
ấy thay phiên nhau canh giữ không cho tai ương
chướng nạn xâm phạm đến thân. Nếu hành
giả đi trong núi sâu lạc mất đường
về, tụng Chú này, Thiện Thần Long Vương hóa
làm người lành chỉ đường dẫn lối.
Như hành giả trụ nơi núi rừng đồng
vắng, thiếu thốn nước lửa, Long Thần
v́ ủng hộ, hóa ra nước lửa.
Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát lại v́ người tụng Chú, nói bài
kệ thanh lương tiêu trừ tai hoạ rằng:
Hành giả đi
trong đồng núi vắng,
Gặp những
cọp sói, các thú dữ,
Rắn, rết, tinh,
Mị, Quỷ, Vọng lượng.
Tụng Tâm Chú này
khỏi bị tai hại,
Nếu đi
biển cả hoặc sông hồ,
Những rồng
rắn độc, loài Ma Kiệt,
Dạ Xoa, La Sát, cá
rùa lớn,
Nghe tụng Chú này
tự lánh xa,
Nếu bị quân
trận giặc bao vây,
Hoặc gặp
người ác đoạt tiền của,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Giặc cướp
tự khởi ḷng thương xót.
Nếu bị vua
quan, quân sĩ bắt,
Gông cùm trói buộc
giam ngục tù,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Vua, quan tự mở
ḷng ân xá.
Nếu đi vào nhà
nuôi sâu độc,
Uống ăn
để thuốc muốn hại nhau,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Thuốc độc
biến thành nước Cam Lồ.
Nữ nhơn bị
hại khi sanh sản
Khổ v́ ma quái làm
ngăn cản,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Quỷ tà sợ
trốn sanh an ổn.
Gặp Rồng,
dịch quỷ gieo hơi độc,
Nóng bức đau
khổ sắp mạng chung,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Bịnh dịch
tiểu trừ mạng trường cửu.
Rồng, Quỷ
lưu hành bịnh thủng độc,
Ung sang lở lói
nhiềukhổ đau,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Khạc ra ba lần
hơi độc mất.
Chúng sanh đời
trược khởi ḷng ác,
Trù ếm hại cho
thỏa oán thù,
Chí thành xưng
tụng Chú Đại Bi,
Liền phản
trở lại người trù ếm.
Chúng sanh cơi
trược đời Mạt Pháp,
Lửa dâm dục
thạnh, Tâm điên đảo,
Ngoại t́nh, xa
vợ, bỏ chồng con,
Ngày đêm
tưởng măi điều sai quấy,
Nếu hay xưng
tụng Chú Đại Bi,
Lửa dục tiêu
trừ, Tâm tà dứt.
Công lực
Đại Bi chỉ lược qua,
Nếu ta nói hết
không cùng kiếp.
Khi ấy, Quán
Thế Âm Bồ Tát lại bảo Phạm Vương
rằng: “Này Phạm Vương! Nếu chúng sanh nào
muốn tiêu trừ tai nạn Ma chướng nên lấy
chỉ ngũ sắc xe làm một sợi niệt,
trước tiên tụng Chú này 5 biến thắt lại
một gút, rồi đeo nơi cổ, hoặc bở
nới đăi để trong thân. Tâm Chú Đại Bi đây
do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật
đời quá khứ đă nói ra. Các Đức Phật
ấy v́ thương xót muốn cho người tu hành: Công
Đức lục Độ chưa đầy đủ,
mau được đầy đủ; Bồ Đề
chưa phát, mau được phát sanh! hàng Thanh Văn
chưa chứng quả, mau được chứng
quả; các vị Thần Tiên trong cơi Đại Thiên
chưa phát ḷng Bồ Đề, mau được phát Tâm
Vô Thượng Bồ Đề. Nếu chúng sanh nào chưa
được tín căn Đại Thừa, do sức oai
thần của Đà La Ni này, hột giống Đại
Thừa tự sanh mầm và tăng trưởng; lại do
sức Tư Bi phương tiện của Ta, khiến cho
sự mong cầu của họ đều được
thành tựu.
Lại nữa, trong
Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, những chúng sanh
nơi ba đường ác, ở chỗ sâu kín tối
tăm, nghe Thần Chú của Ta đây, đều
được ĺa khổ. Các vị Bồ Tát chưa lên
được Sơ Trụ, mau được siêu lên, cho
đến mau chứng ngôi Thập Trụ, mau đến
quả vị Phật, thành tựu ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy
h́nh. Nếu hàng Thanh Văn một phen được nghe
qua Chú này, hoặc biên chép, tu hành môn Đà La Ni này, dùng Tâm chất
trực như Pháp mà trụ, th́ bốn quả Sa Môn không
cầu tự được, Công lực lửa Thần
Chú này có thể khiến cho nước sông, hồ, biển
cả trong cơi Đại Thiên dâng trào, vách đá, núi nhỏ,
núi Thiết Vi và Tu Di thảy rung động, lại có
thể làm cho tan nát như bụi nhỏ, những chúng sanh
ở trong ấy đều phát Tâm Bồ Đề.
Nếu chúng sanh nào,
trong đời hiện tại muốn mong cầu việc
chi, nên giữ trai giời nghiêm sạch trong hai mươi
mốt ngày, và tụng tŕ Chú Đại Bi, tất
đều được toại nguyện. Nếu
thường chí Tâm tŕ tụng, th́ từ kiếp sống
chết này đến kiếp sống chết khác, tất
cả nghiệp ác đều mau tiêu diệt, tất cả
chư Phật, Bồ Tát, Phạm Thiên, Đế Thích,
Tứ Thiên Vương, Thần, Tiên, Long Vương
thảy đều chứng biết cho, hàng Trời.
Người nào thường thọ tŕ Tâm Chú này, như tắm
gội sông, hồ, biển cả, nếu những chúng sanh
ở trong đó được nước tắm gội
của kẻ ấy dính vào thân, th́ bao nhiêu nghiệp
nặng tội ác thảy đều tiêu diệt, liền
được siêu về Tây phương Tịnh
Độ, hóa sanh nơi hoa sen, không c̣n thọ thân thai, noăn,
thấp nữa. Các chúng sanh ấy chỉ nhờ chút
ảnh hưởng mà có được như thế,
huống chi là người tŕ tụng? Và, như
người tụng Chú đi nơi đường, có
ngọn gió thổi qua ḿnh, nếu những chúng sanh ở
sau được gió của kẻ ấy lướt qua y
phục, thân thể, th́ tất cả nghiệp ác, chướng
nặng thảy đều tiêu diệt, không c̣n đọa
vào Tam Đồ, thường sanh ở trước
Phật. Cho nên, phải biết quả báo phứơc
đức của tŕ Chú thật không thể nghĩ bàn!
Lại nữa,
người tŕ tụng Đà La Ni này, khi thốt ra lời
nói chi, thiện hoặc ác, tất cả Thiên Ma, Ngoại
Đạo, Thiên, Long, Quỷ. Thần, đều nghe thành
tiếng Pháp Âm thanh tịnh, đối với kẻ
ấy khởi ḷng cung kính, tôn trọng như Phật.
Người nào tŕ
tụng Đà La Ni này nên biết người ấy chính là
tạng Phật Thân, v́ chín mươi chín ức hằng hà
sa chư Phật đều yêu quư. Nên biết người
ấy chính là Tạng Quang Minh, v́ ánh sáng của tất
cả Như Lai đều chiếu đến nơi ḿnh.
Nên biết người ấy chính là Tạng Từ Bi, v́
thường dùng Đà La Ni cứu độ chúng sanh. Nên
biết người ấy chính là Tạng Diệu Pháp, v́
nhiếp hết tất cả môn Đà La Ni. Nên biết
người ấy chính là Tạng Thiền Định, v́
trăm ngàn Tam Muội thảy đều hiện tiền.
Nên biết người ấy chính là Tạng Hư không, v́
hằng dùng Không Huệ quan sát chúng sanh. Nên biết
người ấy chính là Tạng Vô Úy, v́ Thiên, Long,
Thiện thần thường theo hộ tŕ. Nên biết
người ấy chính là Tạng Diệu Ngữ, v́
tiếng Đà La Ni trong miệng tuôn ra bất tuyệt. Nên
biết người ấy chính là Tạng Thường
Trụ, v́ tam tai ác kiếp không thể làm hoại. Nên
biết người ấy chính là tạng Giải thoát, v́
Thiên Ma, Ngoại đạo không thể bức năo. Nên
biết người ấy chính là Tạng Dược
Vương, v́ thường dùng Đà La Ni trị bịnh
chúng sanh. Nên biết người ấy chính là Tạng
Thần Thông, v́ được tự tại dạo
chơi mười phương cơi Phật. Công đức
người ấy khen ngợi không thể cùng!”.
Đức Phật
bảo Phạm Vương: “Này Thiện nam tử! Nếu
kẻ nào chán sự khổ ở thế gian, muốn
cầu thuốc trường sanh, th́ nên an trụ nơi chỗ
vắng lặng sạch sẽ, kiết giới thanh
tịnh và thật hành một trong các phương pháp
như sau: hoặc tụng Chú vào áo mà mặc, hoặc
tụng Chú vào nước uống, thức ăn, chất
thơm, dược phẩm mà dùng, nên nhớ mỗi
thứ đều tụng 108 biến, tất sẽ
được sống lâu. Nếu có thể kiết
giới đúng Pháp, và y như Pháp mà thọ tŕ, th́ mọi
việc đều thành tựu.
Phép kiết giới
như thế nào? Hoặc tụng Chú vào lưỡi dao
sạch, rạch đất xung quanh làm giới hạn.
Hoặc tụng Chú vào nước sạch, rảy bốn phương
làm giới hạn. Hoặc tụng Chú vào hột cải
trắng, liệng ra bốn phía làm giới hạn, hay dùng
Tâm tưởng đến chỗ nào th́ chỗ đó là
giối hạn. Hoặc tụng Chú vào chỉ ngũ
sắc treo vây bốn bên làm giới hạn. Mấy
phương pháp trên đây dùng cách nào cũng
được, nên nhớ mỗi thứ đều
phải tụng cho đủ 21 biến. Nếu tụng tŕ
đúng Pháp, tự nhiên sẽ được hiệu
quả.
Này Thiện nam
tử! Chúng sanh nào nghe danh tự của mông Đà La Ni này
c̣n được tiêu diệt tội nặng sanh tử
trong vô lượng kiếp, huống chi là tụng tŕ?
Nếu người nào được Thần Chú này mà
tụng tŕ, phải biết kẻ ấy đă từng cúng
dường vô lượng chư Phật, gieo nhiều
căn lành. Nếu kẻ nào tụng tŕ đúng Pháp, lại
có thể v́ chúng sanh dứt trừ khổ nạn, nên
biết người ấy là bậc có đủ Tâm
Đại bi, không bao lâu sẽ thành Phật. Cho nên hành
giả khi thấy mọi loài, đều nên v́ chúng tụng
Chú này, khiến cho chúng được nghe để cùng gây
Nhân Bồ Đề, th́ sẽ được vô
lượng vô biên công đức.
Nếu kẻ hành tŕ
khéo giữ ǵn trai giới, dụng Tâm tinh thành, v́ tất
cả chúng sanh sám hội tội nghiệp đời
trước, tự ḿnh cũng sám hối những ác
nghiệp đă gây ra từ vô lượng kiếp
đến nay, nơi miệng rành rẽ tụng Đà La Ni
này Tâm liên tiếp không dứt, th́ trong đời hiện
tại liền chứng được bốn đạo
quả của bậc Sa Môn. Nếu là hạng lợi
căn có phương tiện Huệ Quán, th́ quả vị
Thập Địa c̣n chứng được không lấy
ǵ làm khó, huống chi là những phước báo nhỏ
nhặt ở thế gian. Những việc như thế,
nếuc ó mong cầu, đều được toại
nguyện.
Này Thiện nam
tử! Nếu người nào muốn sai khiến Quỷ,
th́ t́m một chiếc xương sọ của kẻ qua
đời đem về rửa sạch. Kế đó
lập Đàn Tràng, để chiếc xương ấy
trước tượng Thiên Nhăn, chí Tâm tụng Chú mỗi
ngày đều dùng hương hoa cùng các thức ăn
uống cúng tế vong linh. Đúng 7 ngày như thế,
Quỷ sẽ hiện thân, tùy theo mạng lịnh của
người ấy sai bảo.
Như hành nhơn
muốn sai khiến Tứ Thiên Vương, th́ tụng Chú
này vào gỗ Đàn Hương rồi đốt lên,
tất sẽ thấy hiệu quả. Sở dĩ
được như thế, là do nguyện lực
Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát sâu nặng,
lại cũng do oai thần rộng lớn của Đà La
Ni này”.
Đứa Phật
lại gọi Ngài A Nan mà bảo:
“Này A Nan! Khi trong
một nước có tai vạ nổi lên, nếu muốn
được an ổn, vị Quốc Vương ở
xứ ấy phải biết dùng Chánh Pháp trị dân, có độ
lượng khoan hồng, không làm oan uổng trăm họ,
tha kẻ tù phạm, và giữ thân tâm tinh tấn đọc
tụng Chú này. Hành tŕ như thế luôn 7 đêm, th́ trong cơi
nước ấy tất cả tai nạn thảy
đều tiêu tan, ngũ cốc phong thạnh, dân chúng
được an vui.
Lại trong một
xứ, nếu gặp những tai ương dồn
dập như: bị nước nghịch đem binh xâm
lấn, dân t́nh rối loạn không yên, quan đại
thần mưu phản, bịnh dịch lưu hành, mưa
nắng trái thời hoặc nhật nguyệt sai độ
… Muốn diệt các thứ tai nạn ấy, vị
Quốc Vương phải lập Đạo Tràng, tạo
tượng Thiên Nhăn Đại Bi để day mặt
về phương Tây, sắm các thứ hương hoa,
tràng phan, bảo cái hoặc trăm thức ăn uống mà
cúng dường rồi dùng thân tâm tinh tấn tụng
đọc Chương Cú thần diệu. Hành tŕ như
thế đúng 7 ngày th́ nước giặc quy hàng, chánh t́nh
yên ổn, lân bang ḥa hảo thương mến lẫn nhau,
trong triều từ Vương tử cho đến
trăm quan đều hết dạ trung thành, nơi cung vi
phi tần thể nữ khởi ḷng hiếu kính đối
với Vua, các Thiên Long, Quỷ Thần đều ủng
hộ trong nước khiến cho mưa gió thuận ḥa,
mùa hoa quả tốt, nhân dân vui đẹp.
Lại nếu trong
nhà có những tai nạn như: Ma Quái nổi dậy,
quyến thuộc đau nặng, tiền của hao ṃn, gia
đ́nh rối loạn, người ác gieo tiếng thị
phi hoặc vu khống để làm hại, cho đến
trong ngoài lớn nhỏ chẳng ḥa thuận nhau. Muốn
diệt những tai nạn ấy, gia chủ phải
lập Đàn Tràng, hướng về tượng Thiên
Nhăn, chí Tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và
tụng Đà La Ni này đủ ngàn biến, th́ tất
cả các việc xấu như trên thảy đều tiêu
diệt, gia đ́nh được vĩnh viễn an vui”.
Ngài A Nan bạch
Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chú này tên
gọi là chi? Con nên thọ tŕ như thế nào?”
Đức Phật
bào: “Thần chú này có những tên như sau:
1. Quảng Đại Viên Măn Đà La Ni.
2. Vô Ngại Đại BI Đà La Ni.
3. Cứu Khổ Đà La Ni.
4. Diên Thọ Đà La Ni.
5. Diệt Ác Thú Đà La Ni.
6. Phá Ác Nghiệp Chướng Đà La Ni.
7. Măn Nguyện Đà La Ni.
8. Tùy Tâm Tự Tại Đà La Ni.
9. Tốc Siêu Thánh Địa Đà La Ni.
Ông nên y như
thế mà thọ tŕ”.
Ngài A Nan lại
bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Vị
Bồ Tát Ma Ha Tát, bộ chủ của Thần Chú này, tôn
hiệu là chi, mà khéo nói môn Đà La Ni như thế?”
Đức Phật
bảo: “Vị Bồ Tát ấy hiệu là Quán Thế Âm
Tự Tại, cũng tên là Nhiên Sách, cũng gọi là Thiên
Quang Nhăn.
Này Thiện nam
tử! Quán Thế Âm Bồ Tát Thần thông oai lực không
thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp về
trước đă từng thành Phật hiệu là Chánh Pháp
Minh Như Lai. V́ nguyện lực Đại Bi, v́ muốn
làm Duyên phát khởi cho tất cả hàng Bồ Tát, v́
muốn an vui thành thục cho chúng sanh, Ngài mới giáng Tích
hiện làm Bồ Tát. Vậy ông và đại chúng, các hàng
Bồ Tát Ma Ha tát, Phạm Vương, Đế Thích, Long
Thần, đều nên cung kính, chớ sanh ḷng khinh mạn
xem thường. Nếu tất cả hàng Trời,
Người thường xưng niệm, cúng dường
Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ được vô
lượng phước, diệt vô lượng tội,
khi mạng chung sanh về cơi nước của Phật A
Di Đà”.
Đức Phật
bảo Ngài A Nan: “Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát
nói ra đây, chân thật không dối. Nếu muốn
thỉnh Bồ Tát đến, nên tụng Chú vào hương
Chuyết Cụ La 21 lần rối đốt lên, Quán
Thế Âm Bồ Tát liền đến. (Chuyết Tụ
La hương chính là An Tất Hương).
Nếu kẻ nào
bị loài ma mèo dựa vào phá khuấy, ngươi thân
thuộc nên t́m một bộ xương sọ của con
mèo đă chết đốt tan ra tro, rồi ḥa với
đất bùn sạch nắn thành h́nh mèo. Khi hoàn thành,
để h́nh ấy trước tượng Thiên Nhăn,
tụng 108 biến Chú Đại Bi vào lưỡi dao
rồi chặt h́nh mèo thành 108 đoạn. Nên nhớ cứ
mỗi lần tụng xong một biến Chú th́ chém
xuống một dao … kêu tên loài ma mèo một lần. Làm
như thế bịnh nhơn sẽ an lành, ma mèo vĩnh
viễn không dám phá hại.
Nếu người
nào bị chất độc của loài sâu cổ làm
hại, th́ thân nhân mau dùng hương Dược Kiếp
Bố La ḥa đồng phân với hương Chuyết Cụ
La vào trong nước trong, sắc c̣n một chén. Xong,
lại để chén thuốc ấy trước
tượng Thiên Nhăn tụng chú 108 biến rồi cho
bịnh nhân uống, liền thấy an lành. (Dược
Kiếp Bố La hương tức là Long Năo Hương).
Nếu bị
rắn rít cắn, dùng vị Càn Cương tán mạt,
tụng chú vào đấy 21 biến rồi đắp lên
vết thương, liền hết.
Nếu bị kẻ
thù mưu hại, nên dùng đất sạch, hoặc
bột, hoặc sáp nắn thành h́nh kẻ ấy. Xong,
lại để h́nh nhơn trước tượng Thiên
Nhăn, tụng vào lưỡi dao 108 biến Đại Bi,
cứ tụng xong mỗi biến chú lại chém xuống
một dao, kêu tên người kia một lần, rồi
đem 108 đoạn h́nh đă chặt đốt tan. Y theo
Pháp thức như thế, kẻ oan gia thù nghịch sẽ
đổi ra trạng thái vui vẻ thân hậu đối
với ta, trọn đời đôi bên quư mến lẫn
nhau.
Nếu bị
bịnh đau mắt, hoặc mắt kéo màng đỏ,
mắt trắng đục, hoặc quáng manh, hoặc hư
tṛng, không thấy được ánh sáng, nên dùng trái Ha Lê
Lặc, trái Am Ma Lặc, trái Bệ Hê Lặc, mỗi
thứ một quả đem nghiền, vắt lấy
nước. Khi vắt nước nên ở chỗ vắng
lặng, giữ cho sạch sẽ, miệng luôn niệm
Phật, chớ cho mèo chó gà lợn cùng đàn bà mới sanh
thấy. Vắt nước xong đem ḥa với bạch
mật hoặc sữa người. Sữa này phải là
sữa phụ nhơn sanh con trai, chớ không
được dùng sữa của người sanh con gái.
Khi ḥa thành xong, đem chén thuốc ấy để
trước tượng Thiên Nhăn tụng chú 108 biến. Tŕ
chú vào thuốc rồi, bịnh nhơn phải ở nơi
nhà kín, tránh gió trong thời gian 7 ngày và dùng thuốc ấy
nhỏ vào mắt, làm như thế, tṛng con mắt hư
lại sanh, các chứng kia đều lành, mắt
được thấy tỏ rơ. (P.C: Ba thứ trái này
xứ ta không có, bịnh nhơn nên phương tiện thay
vào ba trái hoặc ba thứ thuốc khác có tánh cách trị
đau mắt, nếu như chí thành, cũng
được linh nghiệm).
Nếu bị
bịnh rét hoặc bị loài ma rét dựa, nên dùng da cọp
hoặc da beo tụng vào đấy 21 biến chú rồi
phủ lên ḿnh th́ bịnh sẽ lành, ma cũng xa lánh. Như
được da sư tử lại càng quư.
Nếu bị
rắn độc cắn, dùng chất ráy đóng trong
lỗ tai của người bị cắn, tụng chú 21
biến, thoa vào vết thương nọc rắn liền
tiêu.
Nếu bị
bịnh rét dữ nhập tâm, hôn muội sắp chết,
dùng một khối mủ cây đào lớn ước
lượng bằng trái đào, đem ḥa với một
chén nước trong, sắc c̣n nửa chén, tụng chú vào
đấy 7 biến rồi uống, bịnh sẽ lành,
thuốc này chớ cho phụ nữ sắc.
Nếu bị loài
quỷ truyền thi, phục thi làm bịnh, dùng hương
Chuyết Cụ La, tụng chú 21 biến, rối
đốt xông vào lỗ mũi, lại lấy 7 khối
hương lớn ước bằng lóng tay cái, cũng gia
tŕ chú 21 biến mà uống, bịnh sẽ lành. Nên nhớ:
bịnh nhân phải kiêng rượu, thịt, ngũ vị
tân, và mắng chửi. Một phương pháp nữa là
dùng vị Ma Na Thỉ La ḥa với Bạch Giới Tử
và muối hột, gia tŕ chú 21 biến, rồi đem xông
đốt dưới giường người bịnh,
quỷ liền vội vă trốn chạy không dám ở. (Ma
Na Thỉ La là vị thuốc Hùng Hoàng).
Nếu bị
bịnh tai điếc lùng bùng, tụng chú vào dầu mè,
rồi nhỏ trong tai, bịnh sẽ lành.
Nếu bị
chứng thiên phong xụi nửa thân ḿnh, tai điếc,
mũi không biết mùi, dùng dầu mè sắc với vị
Thanh Mộc Hương, gia tŕ chú 21 biến rồi thoa
nơi ḿnh, bịnh sẽ vĩnh viễn tiệu trừ.
Lại một phương pháp: dùng sữa Ngưu Tô
thuần chất, tụng vào 21 biến chú mà thoa, bịnh
cũng lành.
Nếu phụ
nhơn sanh sản khó, mau dùng dầu mè gia tŕ chú, 21 biến
rồi thoa nơi rốn và ngọc môn liền
được dễ sanh.
Nếu phụ
nhơn có nghén, thai nhi chết trong bụng, dùng một
lượng thuốc A Ba Mộc Lợi Dà, đổ hai
chén sắc c̣n một chén, gia tŕ chú 21 biến mà uống, th́
cái thai liền ra, phụ nhơn không một chút đau
đớn. Như thai y (nhau) không ra, cũng uống
thuốc này. (A Ba Mộc Lợi Dà là vị Ngưu
Tất).
Nếu bỗng nhiên
đau nhói nơi tim chịu không kham, đây gọi là
chứng độn thi chú, nên dùng hương Quân Trụ
Lỗ, tụng chú 21 biến, rồi để trong miệng
nhai nuốt không hạn nhiều ít, chừng nào mửa
được mới thôi. Y như thế bịnh sẽ
lành, song nên nhớ phải cữ ngũ vị tân và
rượu thịt. (Quân Trụ Lỗ là vị thuốc
Huân Lục Hương).
Nếu bị
phỏng lửa thành ghẻ, dùng phẩn trâu đem tụng
21 biến mà thoa, bịnh sẽ lành.
Nếu bị sên
lải cắn, dùng nửa chén nước tiểu con
ngựa kim, như bị bịnh nặng th́ một chén, gia
tŕ chú 21 biến uống vào, loài trùng này sẽ quyện ra
như sợi dây.
Nếu bị
bịnh ghẻ đinh, dùng lá Lăng Tiêu đâm lấy
nước gia tŕ chú 21 biến mà thoa, th́ ghẻ liền ra
cồi rồi lành.
Nếu rủi
bị con lằn cắn vào mắt, dùng phẩn mới
của con Lừa, lược vắt lấy nước,
gia tŕ chú 21 biến, đợi ban đêm trước khi ngủ,
nhỏ thuốc ấy vào, bịnh sẽ lành.
Nếu bị đau
bụng, dùng nước giếng trong nấu với 21
hột muối lớn, c̣n nửa chén gia tŕ chú 21 biến uống
vào, liền hết đau.
Nếu bịnh
đau mắt đỏ, mắt lồi thịt, mờ
mịt không thấy, dùng lá Xa Xa Di, đâm lược
lấy nước, gia tŕ chú 21 biến, rồi bỏ
đồng tiền có meo xanh vào ngâm một đêm. Xong
lại lấy ra, tụng thêm vào đấy 7 biến chú
nữa. Dùng thuốc này nhỏ vào mắt bịnh sẽ
lành. (Lá Xa Xa Di là lá Câu Kỷ).
Nếu người
có tật ban đêm sợ hăi ra vào không yên, lấy chỉ
trắng xe thành niệt, gia tŕ Chú tụng 21 biến,
kết thành 21 gút rồi buộc nơi cổ, th́ tật ấy
sẽ dứt. Chẳng những trừ được
sự khủng bố, mà cũng diệt được
tội.
Nếu trong nhà sanh
nhiều tai nạn, dùng nhánh cây Thạch Lựu chặt
thành 1.080 đoạn ước độ 1 tấc, mỗi
đoạn 2 đầu đều thoa mật Tô lạc.
Kế đó đem ḷ nhỏ để trước bàn
Phật, cứ tụng xong mỗi biến chú liền
đốt một đoạn. Khi thiêu hết 1.080
đoạn, tất cả tai nạn thảy đều
tiêu trừ.
Nếu ở các
nơi đấu tranh, luận nghị, muốn
được hơn người, dùng cành Bạch
Xương Bồ gia tŕ chú 21 biến, đeo nơi cánh tay
mặt, tất sẽ được toại nguyện.
Nếu muốn
được trí huệ, nên dùng nhành Xa Xa Di chặt thành
1.080 đoạn, mỗi đoạn 2 đầu thoa
sữa Ngưu Tô thuần nhất và sữa Ngưu Tô ḥa
với bạch mật, cứ mỗi lần tụng chú
đốt một đoạn. Nên nhớ trong một ngày
đêm chia ra ba thời, mỗi thời tụng Chú
đốt 1.080 đoạn. Thật hành đúng 7 ngày, Chú
sư sẽ được trí huệ thông ngộ. (P.C:
Mỗi thời tụng 1.080 biến, tất là người
tụng quá nhuần và có định tâm nhiều).
Nếu muốn hàng
phục Đại lực quỷ thần, dùng củi cây A
Rị Sắc Ca, thoa sữa Tô lạc và mật vào, đem
trước tượng Đại Bi gia tŕ chú 49 biến,
rồi đốt trong lửa. (A Rị Sắc Ca
dịch là Mộc Hoạn Tử, cũng gọi Vô Hoạn
Tử, một thứ cây có năng lực trừ tà,
hạt của trái này có thể xỏ làm hạt chuỗi).
Nếu lấy
một lượng Hồ Lô Giá Na, đem đựng trong
b́nh lưu ly, để trước tượng
Đại Bi tụng chú 108 biến, rồi dùng thuốc
ấy thoa lên trán và nơi thân, th́ tất cả Thiên, Long, Quỷ,
Thần, Người cùng loài Phi Nhơn trông thấy
đều hoan hỷ. (Hồ Lô Giá Na là vị Ngưu
Hoàn).
Nếu thân bị
xiềng xích, dùng phẩn của con bồ câu trắng, gia
tŕ chú 108 biến, tụng xong đem thoa vào tay chà lên gông
xiềng, gông xiềng sẽ tự sút.
Nếu vợ
chồng bất ḥa, trạng như nước lửa, dùng
đuôi lông chim oan ương đem trước
tượng Đại Bi tụng chú 1.080 biến rồi
đeo trong ḿnh, tất vợ chồng trọn đời
vui ḥa yêu thương nhau.
Nếu thứ cây
trái bị sâu bọ cắn, dùng tro và cát sạch ḥa với
nước trong, gia tŕ chú 21 biến, rảy trên cây, trên
mạ cùng bốn bên bờ ruộng, th́ sâu bọ không dám
phá hại”.
Đức Phật
lại bảo Ngài A Nan: “Quán Thế Âm Tự Tại Bồ
Tát có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh
tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh. Đó
cũng do tâm Đại Bi của vị Đại sĩ
ấy hóa hiện.
(P.C: Những
Chân ngôn sau đây, có chỗ ngang dài là chữ đọc
hơi kéo dài ra, có chỗ ngang ngắn là hai chữ
đọc hiệp lại một. Muốn cầu
điều ǵ, đọc Chân ngôn theo điều ấy).
1. Nếu chúng sanh nào muốn được giàu lớn, có
nhiều thứ châu báu đồ dùng, nên cầu nơi tay
cầm Châu Như Ư.
Chân ngôn rằng: Án,
- phạ nhựt ra, phạ da ra, hồng phấn tra.
2. Nếu muốn trị các thứ bệnh trên thân, nên
cầu nơi tay cầm cành Dương Liễu
Chân ngôn rằng: Án,
Tô tất địa, ca rị phạ rị, đa nẫm
đa, mục đa duệ, phạ nhựt ra, pha nhựt
ra bạn đà, hạ nẵng, hạ nẵng, hồng
phấn tra.
3. Nếu muốn trị các chứng bệnh trong bụng,
nên cầu nơi tay cầm Bát Báu.
Chân ngôn rằng: Án,
- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt ra,
hồng phấn tra.
4. Nếu muốn trị bịnh mắt mờ không
thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm Châu Nhựt Tinh
Ma Ni.
Chân ngôn rằng: Án
- độ tỉ, ca giả độ tỉ, bát ra
phạ rị nảnh, tát phạ hạ.
5. Nếu muốn hàng phục tất cả Thiên Ma
Thần, nên cầu nơi tay cầm
Chân ngôn rằng: Án
- nể bệ nể bệ, nể bà dă, ma ha thất
rị duệ, tát phạ ha.
6. Nếu muốn hàng phục tất cả oán giặc, nên
cầu nơi tay cầm Chày Kim Cang.
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt ra chỉ nảnh, bát ra nể bát
đa dă, tát phạ hạ.
7. Nếu muốn trừ tánh ở tất cả chỗ
sợ hăi không yên, nên cầu nơi tay Thí Vô Úy.
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt ra nẵng dă, hồng phấn tra.
8. Nếu bị các việc quấy rối, muốn
được an ổn, nên cầu nơi tay cầm Dây
Quyến Sách.
Chân ngôn rằng: Án
- chỉ rị lă ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
9. Nếu bị bịnh nhiệt độc, muốn
được mát mẻ hết bịnh, nên cầu nơi
tay cầm Châu Nguyệt Tinh Ma Ni.
Chân ngôn rằng: Án
- tô tất địa yết rị, tát phạ hạ.
10. Nếu muốn
được làm quan, lên chức, nên cầu nơi tay
cầm Cung Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- a tả vĩ, lệ, tát phạ hạ.
11. Nếu muốn
được mau gặp các bạn lành, nên cầu nơi
tay cầm Tên Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- ca mạ lă, tát phạ hạ.
12. Nếu muốn
hàng phục các Quỷ, Thần, Vọng, Lượng, nên
cầu nơi tay cầm Gươm Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- đế thế đế nhá, đổ vỉ
nảnh, đổ đề bà đà dă, hồng phấn
tra.
13. Nếu muốn
trừ những chướng nạn ác bên thân, nên cầu
nơi tay cầm cây Phất Trắng.
Chân ngôn rằng: Án
- bát na di nảnh, bà nga phạ đế, mô ha dă nhá, nga
mô hạ nảnh tát phạ hạ.
14. Nếu muốn
tất cả người trong quyến thuộc
được ḥa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm
cái Hồ B́nh.
Chân ngôn rằng: Án-Yết
lệ, thảm măn diệm, tát phạ hạ.
15. Nếu muốn
xua đuổi hổ báo sài lang và tất cả ác thú, nên
cầu nơi tay cầm cái Bàng Bài.
Chân ngôn rằng: Án
- dược các sam nẵng, na dă chiến nại ra,
đạt nậu bá rị dă, bạt xá bạt xá, tát
phạ hạ.
16. Nếu muốn
trong tất cả thời, tất cả chỗ, ĺa
nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm
cây Phủ Việt.
Chân ngôn rằng: Án
- vị ra dă, vị ra dă, tát phạ hạ.
17. Nếu muốn
có tôi tớ trai gái để sai khiến, nên cầu nơi
tay cầm chiếc Ṿng Ngọc.
Chân ngôn rằng: Án
- bát na hàm vị ra dă, tát phạ hạ.
18. Nếu muốn
được các thứ công đức, nên cầu nơi
tay cầm Hoa Sen Trắng
Chân ngôn rằng: Án-phạ
nhựt ra, vị ra dă, tát phạ hạ.
19. Nếu muốn
được sanh về 10 phương Tịnh
độ, nên cầu nơi tay cầm Hoa Sen Xanh.
Chân ngôn rằng: Án
- chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt ra, bôï ra
bạn đà, hồng phấn tra.
20. Nếu muốn
được trí tuệ lớn, nên cầu nơi tay
cầm cái Gương Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- vị tất phổ ra, na ra các xoa, phạ nhựt
ra, mạn trà lả, hồng phấn tra.
21. Nếu muốn
được diện kiến 10 phương tất
cả chư Phật, nên cầu nơi tay cầm Hoa Sen Tím.
Chân ngôn rằng: Án
- tát ra tát ra, phạ nhựt ra, hồng phấn tra.
22. Nếu muốn
lấy được kho báu ẩn trong ḷng đất, nên cầu
nơi tay cầm cái Bảo Kíp.
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt ra, bá thiết ca rị, yết
nẳng hàm, ra hồng.
23. Nếu muốn
được đạo tiên, nên cầu nơi tay Hóa
Hiện Mây Ngũ Sắc.
Chân ngôn rằng: Án-phạ
nhựt ra, ca rị ra tra hàm tra.
24. Nếu sanh lên
cơi Phạm Thiên, nên cầu nơi tay cầm B́nh Quân Tŕ.
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt ra, thế khê ra, rô tra hàm tra.
25. Nếu muốn
được sanh lên các cung Trời, nên cầu nơi tay
cầm Hoa Sen Hồng
Chân ngôn rằng: Án
- thương yết lệ, tát phạ hạ.
26. Nếu muốn
xua đuổi giặc nghịch ở phương khác
đến, nên cầu nơi tay cầm Cây Bảo Kích.
Chân ngôn rằng: Án
- thảm muội dă, chỉ nảnh hạ rị,
hồng phấn tra.
27. Nếu muốn
triệu tất cả chư Thiên Thiện Thần, nên
cầu nơi tay cầm Ống Loa Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- thương yết lệ, mạ hạ thảm
mản diệm, tát phạ hạ.
28. Nếu muốn
sai khiến tất cả Quỷ thần, nên cầu nơi
tay cầm Cây Gậy Đầu Lâu.
Chân ngôn rằng: Án
- độ nẳng, phạ nhựt ra xá.
29. Nếu muốn
10 phương chư Phật sớm đến đưa
tay tiếp dẫn, nên cầu nơi tay cầm Xâu Chuỗi
Ngọc.
Chân ngôn rằng: Nẳng
mồ, ra đát nẳng, đát ra dạ dă. Án-a na bà
đế vĩ nhá duệ, tất địa tất đà
lật thế, tát phạ hạ.
30. Nếu muốn
có được tất cả Phạm âm thanh tốt
nhiệm màu, nên cầu nơi tay cầm chiếc Linh Báu.
Chân ngôn rằng: Nẳng
mồ - bát na hàm bá noa duệ, Án - a
mật lật đảm, nghiểm bệ thất rị
duệ, thất rị chiếm rị nảnh, tát phạ
hạ.
31. Nếu muốn
được miệng nói biện luận hay khéo, nên
cầu nơi tay cầm chiếc Ấn Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát
phạ hạ.
32. Nếu muốn
được Thiên thần, Long Vương thường
đến ủng hộ, nên cầu nơi tay cầm Cu Thi
Thiết Câu.
Chân ngôn rằng: Án
- a rô rô, đa ra ca ra, vỉ sa duệ, Nẳng
mồ - tát phạ hạ.
33. Nếu v́ ḷng
Từ Bi muốn cho tất cả chúng sanh được
nhờ sự chở che giúp đỡ, nên cầu nơi tay
cầm cây Tích Trượng.
Chân ngôn rằng: Án
- na lật thế, na lật thế, na lật tra bát
để, na lật đế na dạ bát nảnh,
hồng phấn tra.
34. Nếu muốn
cho tất cả chúng sanh thường yêu mến nhau, nên
cầu nơi tay Hiệp Chưởng.
Chân ngôn rằng: Án
- bát nạp mạng nhá lăng, hất rị (theo
trong Tạng Bản, lại có Chân Ngôn: Án - vỉ
tát ra, vỉ tát ra, hồng phấn tra).
35. Nếu muốn
tùy theo chỗ sanh, thường ở bên Phật, nên
cầu nơi tay Hiện Hóa Phật.
Chân ngôn rằng: Án
- chiến na ra, ba hàm tra rị, ca rị na, chỉ rị
na, chỉ rị nỉ, hồng phấn tra.
36. Nếu muốn
được đời đời kiếp kiếp
thường ở trong cung điện Phật, khôgn
thọ sanh ở bào thai, nên cầu nơi tay Hiện Hóa Cung
Điện.
Chân ngôn rằng: Án
- vỉ tát ra, vỉ tát ra, hồng phấn tra.
37. Nếu muốn
được học rộng nghe nhiều, nên cầu
nơi tay cầm Quyển Kinh Báu.
Chân ngôn rằng: Án
- a hạ ra, tát ra phạ ni, nể dă đà ra, bố
nể đế tát phạ hạ.
38. Nếu từ
thân này cho đến thân thành Phật, tâm Bồ Đề
thường không lui sụt, nên cầu nơi tay cầm
Bất Thối Kim Luân.
Chân ngôn rằng: Án
- thiết na di tả, tát phạ hạ,
39.Nếu muốn
mười phương chư Phật mau đến xoa
đầu thọ kư , nên cầu nơi tay Đảnh
Thượng Hóa Phật
Chân ngôn rằng: Án
- phạ nhựt rị ni, phạ nhựt lảm
nghệ, tát phạ hạ.
39. Nếu muốn
có được cây trái ngũ cốc, nên cầu nơi tay
cầm Chùm Bồ Đào.
Chân ngôn rằng: Án
- a ma lă kiếm đế nể nảnh, tát phạ
hạ.
40. Nếu muốn
cho tất cả loài Hữu t́nh đói khát được
no đủ, mát mẻ, nên cầu nơi tay cầm
Nước Hóa Cam Lộ.
Chân ngôn rằng: Án
- tố rô tố rô, bác ra tố rô, bác ra tố rô,
tố rô, tố rô dă, tát phạ hạ.
41. Nếu hàng
phục Ma oán trong cơi Đại Thiên, nên cầu nơi tay
cầm Tổng Nhiếp Thiên Thủ.
Chân ngôn rằng: Đát
nể dă thá, phạ lồ chỉ đế, thấp
phạ ra dă, tát bà đốt sắc, tra ô hạ di dả,
sá phạ hạ.
Này A Nan! Những
việc có thể cầu mong như thế, kể có ngàn
điều. Nay Ta chỉ nói được chút ít phần
thôi”.
Khi ấy Nhựt
Quang Bồ Tát v́ người thọ tŕ Đại Bi Tâm
Đà La Ni mà nói Đại Thần Chú để ủng
hộ rằng:
Nhựt Quang Bồ
Tát bạch Phật:
“Bạch Đức
Thế Tôn! Tụng chú này diệt được tất
cả tội, cũng đuổi được tà ma và
trừ thiên tai. Nếu kẻ nào tụng Chú này 1 biến,
lễ Phật 1 lạy, mỗi ngày chia ra làm 3 thời
tụng chú lễ Phật như thế, trong đời
vị lai tùy theo chỗ thọ thân, thường
được tướng mạo xinh đẹp,
được quả báo đáng vui mừng”.
Nguyệt Quang Bồ
Tát cũng v́ hành nhơn mà nói Đà La Ni để ủng
hộ rằng:
Thâm đê
đế đồ tô tra. A nhă mật đế ô đô
tra. Thâm kỳ tra. Ba lại đế. Gia di nhă tra ô đô tra.
Câu la đế tra kỳ ma tra. Sá phạ hạ.
Nguyệt Quang Bồ
Tát bạch Phật:
“Bạch Đức
Thế Tôn ! Tụng chú này 5 biến, rồi lấy chỉ
ngũ sắc dệt thành niệt, gia tŕ chú vào, buộc tréo
nơi tay. Chú này do 40 hằng hà sa chư Phật đời
quá khứ đă nói ra, nay tôi cũng nói để v́ các hành
nhơn mà làm duyên ủng hộ. Chú này có công năng trừ
tất cả chướng nạn, tất cả bịnh
ác, thành tựu tất cả Pháp lành, xa ĺa tất cả
sự sợ hăi”.
Đức Phật
bảo Ngài A Nan: “Ông nên dùng ḷng trong sạch tin sâu mà thọ
tŕ môn Đại Bi tâm Đà La Ni này, và lưu bố
rộng ra trong cơi Diêm Phù Đề, chớ cho đoạn
tuyệt. Đà La Ni này có thể làm lợi ích lớn cho
chúng sanh trong ba cơi. Tất cả bịnh khổ ràng buộc
nơi thân, nếu dùng Đà La Ni này mà trị th́ không
bịnh nào chẳng lành. Dùng Đại Thần chú này
tụng vào cây khô, cây ấy c̣n được xanh cành lá,
trổ bông trái huống chi là chúng sanh có t́nh thức ư?
Nếu thân bị đau bịnh, dùng Chú này trị mà không
lành, lẽ ấy không bao giờ có.
Này Thiện nam
tử! Sức oai thần của Đại Bi Tâm Đà La
Ni không thể nghĩ bàn! Không thể nghĩ bàn, khen
ngợi không bao giờ hết được! Nếu
chẳng phải là kẻ từ đời quá khứ lâu xa
đến nay đă gieo nhiều căn lành, th́ dù cho cái tên gọi
c̣n không được nghe, huống chi là được
thấy! Nay đại chúng các ông, cả hàng Trời,
Người, Long, Thân, nghe Ta khen ngợi, phải nên tùy
hỷ. Nếu kẻ nào hủy báng Thần chú này tức là
hủy báng chín mươi chín ức hằng hà sa chư
Phật kia. Người nào đối với Đà La Ni này
sanh nghi không tin, nên biết kẻ ấy sẽ vĩnh
viễn mất sự lợi ích lớn, trăm ngàn muôn
kiếp không nghe thấy Phật, Pháp, Tăng, thường
ch́m trong Tam đồ, chẳng biết bao giờ mới
được ra khỏi”.
Khi ấy, tất
cả chúng hội: Bồ Tát, Ma Ha Tát, Kim Cang, Mật Tích,
Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Đại Thiên
Vương, Thiên Long Quỷ Thần, nghe Đức Như
Lai khen ngợi môn Đà La Ni này xong, thảy đều vui
mừng, y lời dạy mà tu hành.
KINH THIÊN THỦ THIÊN NHĂN QUÁN
THẾ ÂM BỒ TÁT
QUẢNG ĐẠI VIÊN MĂN VÔ
NGẠI ĐẠI BI TÂM ĐÀ LA NI
HẾT