PHẬT NÓI
KINH THẬP-THIỆN
NGHIỆP-ĐẠO (1)
- Ngài
Thực-Soa-Nan-Đà dịch chữ Phạm ra chữ
Hán
- Thích-Tâm-Châu
dịch chữ Hán ra chữ Việt
Source: Chùa Di Đà
Chính tôi được nghe (2):
Một thời kia đức Phật ở chốn
Long-Cung: Sa-Kiệt-La (3), cùng với tám nghìn
chúng Đại-Tỳ-Khưu và ba vạn hai
nghìn vị Đại-Bồ-Tát. (4)
Bấy giờ, đức Thế-Tôn
bảo Long-Vương rằng: “Tâm-tưởng
của hết thảy chúng-sinh khác nhau, sự
tạo nghiệp của họ cũng khác, nên
mới có sự luân-chuyển trong mọi
thú”.
Này Long-Vương! Ông có
thấy những vị đương trong hội này
cũng như những hình-sắc của mọi
loài trong đại-hải này, đều
khác nhau không?
- Như thế, hết thảy không
phải do tâm tạo ra thiện và bất
thiện của nghiệp thân, nghiệp miệng,
nghiệp ý mà có những hình-sắc
ấy là gì?
Song, TÂM không có SẮC,
không thể nào nhận thấy được.
Và, đó chỉ là sự giả-dối
của mọi pháp hợp-tập gây nên,
rốt-ráo không có chủ, không có ta,
cũng không có cái gì của ta. Tuy
đều tùy nghiệp hiện ra không
đồng, mà trong ấy thực không có
tác-giả, nên hết thảy pháp đều
không thể nghĩ, bàn được về
tự-tính như-huyễn của nó.
Bậc trí-giả biết thế
rồi, nên tu thiện-nghiệp và do đó
sẽ sinh ra năm UẨN (5), mười hai XỨ (6),
mười tám GIỚI (7)... đều
được đoan-chính, ai trông thấy
cũng đều vui-vẻ không chán.
Này Long-Vương! Ông xem thân
của Phật, từ trăm, nghìn, ức
phúc-đức sinh ra, mọi tướng
trang-nghiêm, ánh sáng rực-rỡ, tỏa
khắp đại-chúng; dù có đến vô
lượng ức vị Tự-Tại
Phạm-Vương cũng không thể
hiển-hiện như thế được. Ai
được chiêm-ngưỡng thân của
Như-Lai lại không lóa mắt!
Ông lại xem thân của các
vị Đại-Bồ-Tát đây,
diệu-sắc nghiêm-tịnh, hết thảy
đều do tu-tập phúc-đức
thiện-nghiệp sinh ra.
Lại, các hàng Thiên, Long
bát bộ (8)..., có uy-thế lớn cũng
bởi phúc-đức thiện-nghiệp sinh ra.
Và, ngay như trong đại-hải
này có những chúng-sinh hình-sắc thô-xấu,
hoặc lớn hoặc nhỏ cũng đều do
những tưởng-niệm nơi tự-tâm, tạo
ra những nghiệp bất thiện của thân,
miệng, ý, nên tùy nghiệp, họ tự
chịu lấy báo-thân như thế.
Nay ông thường nên tu, học
như thế và cũng nên làm sao cho
chúng-sinh hiểu-thấu nhân-quả, tu-tập
thiện-nghiệp như thế. Được thế,
nhân chỗ chính-kiến bất động ấy
ông sẽ không rơi vào đoạn-kiến,
thường-kiến (9). Đối với những
ruộng phúc (10) các ông hoan-hỷ,
cung-kính, cúng-dường, nên các ông
cũng được Nhân, Thiên tôn-kính,
cúng-dường.
Long-Vương nên biết!
Bồ-Tát có một pháp dứt
được hết thảy khổ-não trong mọi
đường ác. Một pháp ấy là
gì?
- Nghĩa là ngày đêm
thường nhớ, nghĩ, quán-sát
thiện-pháp, làm cho những thiện-pháp
ấy, niệm-niệm tăng-trưởng và
không dung hào phân bất thiện nào xen
vào. Thế tức là hay khiến mọi ác
dứt hẳn, thiện-pháp viên-mãn,
thường được thân-cận chư
Phật, Bồ-Tát và Thánh-Chúng.
Thiện-pháp ấy là gì? -
Nghĩa là, thân của Nhân, Thiên,
đạo Bồ-Đề của hàng Thanh-Văn,
đạo Bồ-Đề của hàng
Độc-Giác và đạo-quả
Vô-Thượng Bồ-Đề, đều y vào
pháp ấy làm căn-bản mà
được thành-tựu, nên gọi là
thiện-pháp. Và, thiện-pháp ấy tức
là mười thiện-nghiệp-đạo. Những
gì là mười?
- Nghĩa là, xa hẳn những
nghiệp: sát-sinh, trộm cắp, tà hạnh;
nói dối, hai lưỡi, ác-khẩu, nói
khéo; tham-dục, giận-dữ và tà-kiến.
Này Long-Vương! Nếu tránh
nghiệp sát-sinh, liền thành-tựu
được mười pháp lìa xa
phiền-não. Những gì là mười? -
Một là, phổ-thí đức vô-úy
đối với mọi chúng-sinh. Hai là,
thường khởi tâm đại-từ đối
với chúng-sinh. Ba là, dứt hẳn hết
thảy tập-khí (11) giận-dữ. Bốn là,
thân thường không có tật-bệnh.
Năm là, thọ-mệnh lâu dài. Sáu
là, thường được hàng Phi-nhân
(12) thủ-hộ. Bảy là, thường không
ác mộng, thức, ngủ vui-vẻ. Tám là,
diệt trừ oán-kết, mọi oán tự
giải. Chín là, không sợ sa vào
đường ác. Mười là, sau khi mệnh
mất được sinh lên cõi trời. Ấy
là mười pháp. Nếu đem mười
pháp ấy hồi-hướng đạo
Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được
quả vị Phật, thọ-mệnh sẽ tùy
tâm tự-tại.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp trộm-cắp, liền
được mười pháp có thể
bảo-đảm, tin-tưởng. Những gì là
mười? - Một là, của-cải
đầy-dẫy, vua, giặc, nước, lửa và
con hư-không không thể làm tan mất
mất được. Hai là, nhiều người
yêu-mến. Ba là, người không lừa
gạt. Bốn là, mười phương khen
ngợi. Năm là, không lo tổn hại. Sáu
là, tiếng lành đồn xa. Bảy là,
ở chốn đông người không sợ.
Tám là, của cải, thọ-mệnh,
hình-sắc, sức-lực, yên-vui,
biện-tài đầy-đủ không thiếu.
Chín là, thường sẵn lòng
bố-thí. Mười là, sau khi mệnh mất được
sinh lên cõi trời. Ấy là mười
pháp. Nếu đem mười pháp ấy
hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành
Phật, chứng được trí thanh-tịnh
Đại-Bồ-Đề.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp tà-hạnh, liền
được bốn pháp mà bậc
trí-giả khen-ngợi. Những gì là bốn?
- Một là, mọi căn điều-hòa, thuận-lợi.
Hai là, xa hẳn sự xôn-xao. Ba là,
được đời khen-ngợi. Bốn là,
vợ không bị ai xâm-phạm. Ấy là
bốn pháp. Nếu đem bốn pháp ấy
hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành
Phật, được cái tàng-tướng
ẩn-mật của Phật, Đại-Trượng-Phu.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp nói dối, liền
được tám pháp mà chư Thiên
khen-ngợi. Những gì là tám? - Một là,
miệng thường thơm, sạch như hoa sen. Hai
là, được mọi người đời
tín-phục. Ba là, nói lời
thành-chứng, Nhân, Thiên kính-ái.
Bốn là, thường đem lời
dịu-dàng, an-ủi chúng-sinh. Năm là,
được ý vui thù-thắng (13) ba nghiệp
thanh-tịnh. Sáu là, nói không
lầm-lẫn, tâm thường hoan-hỷ. Bảy
là, nói lời tôn-trọng, Nhân, Thiên
vâng làm. Tám là, trí-tuệ
thù-thắng, không ai có thể chế-phục
được. Ấy là tám pháp. Nếu
đem tám pháp ấy hồi-hướng
đạo Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, liền
được chân-thực-ngữ của Như-Lai.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp hai lưỡi, liền được
năm pháp không thể phá-hoại. Những
gì là năm? -Một là, được
thân bất hoại, không gì có thể
hoại được. Hai là, được
quyến-thuộc bất hoại, không gì có
thể phá được. Ba là, được
lòng tin bất hoại, thuận theo bản-nghiệp.
Bốn là, được pháp-hạnh bất
hoại, chỗ tu kiên-cố. Năm là, được
thiện-tri-thức bất hoại, không bị
lừa-dối. Ấy là năm pháp. Nếu
đem năm pháp ấy hồi-hướng
đạo Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được
quyến-thuộc chân-chính, các ma
ngoại-đạo không thể làm tan-hoại
được.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp ác-khẩu, liền
thành-tựu được tám thứ tịnh-nghiệp.
Những gì là tám? -Một là, lời
nói không trái pháp-độ. Hai là,
lời nói ra đều lợi-ích. Ba là,
lời nói quyết-định hợp lý. Bốn
là, lời nói đẹp-đẽ. Năm
là, lời nói ra người ta thừa-lĩnh
được. Sáu là, lời nói ra
người ta tin dùng. Bảy là, lời nói
không thể chê-trách được. Tám
là, lời nói ra người ta đều ưa
thích. Ấy là tám pháp. Nếu đem
tám pháp ấy, hồi-hướng đạo
Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật,
đầy-đủ Phạm-âm thanh-tướng
của Như-Lai.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa nghiệp nói khéo, liền
thành-tựu được ba thứ
quyết-định. Những gì là ba? - Một
là, quyết-định được bậc
trí-nhân yêu-mến. Hai là,
quyết-định thường dùng trí-tuệ
như-thực vấn đáp. Ba là,
quyết-định đối với Nhân, Thiên
uy-đức tối-thắng, không có
dối-trá. Ấy là ba pháp. Nếu đem ba
pháp ấy, hồi-hướng đạo
Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được
Như-Lai thụ-ký, đều không luống
dối.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa tham-dục, liền thành-tựu
được năm thứ tự-tại. Những
gì là năm? - Một là, ba nghiệp
tự-tại, mọi căn đầy-đủ. Hai
là, của cải tự-tại, hết thảy
oán-tặc không hề cướp-đoạt. Ba
là, phúc-đức tự-tại, tùy tâm
muốn gì, vật-dụng đều đủ.
Bốn là, vương-vị tự-tại,
đồ-vật quý lạ đều đem
phụng-hiến. Năm là, những vật
được dùng, thù-thắng gấp trăm
lần bản-tâm mong cầu, vì thời
trước không bỏn-xẻn, ghen-ghét. Ấy
là năm pháp. Nếu đem năm pháp
ấy, hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng, Chính-giác, sau khi thành
Phật, ba cõi (14) đặc biệt tôn-trọng
và đều cung-kính, cúng-dường.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa giận-dữ, liền được tám
thứ tâm pháp hỷ-duyệt. Những gì
là tám? - Một là, không có tâm
làm tổn-não ai. Hai là, không có
tâm giận-dữ. Ba là, không có tâm
gây sự kiện-cáo. Bốn là, có
tâm nhu-hòa, ngay-thực. Năm là,
được từ-tâm của bậc Thánh-giả.
Sáu là, tâm thường làm việc
lợi-ích, an-vui cho chúng-sinh. Bảy là,
thân-tướng đoan-nghiêm, chúng đều
tôn-kính. Tám là, vì sự
hòa-nhẫn, chóng sinh lên thế-giới
Phạm-thiên. Ấy là tám pháp. Nếu
đem tám pháp ấy hồi-hướng
đạo Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được
tâm vô-ngại, của Phật, người
trông không chán.
Lại nữa, Long-Vương! Nếu
xa-lìa tà-kiến, liền thành-tựu
được mười pháp công-đức.
Những gì là mười? - Một là,
được ý vui chân-thiện và
bạn-bè chân-thiện. Hai là, thâm
tín nhân-quả, thà bỏ thân-mệnh
trọn không làm ác. Ba là, chỉ quy-y
Phật, không quy-y các Thiên-thần. Bốn
là, lòng ngay, thấy chính, lìa hẳn
hết thảy lưới ngờ: tốt, xấu. Năm
là, thường sinh trong cõi Nhân, Thiên,
không sa đường ác. Sáu là, vô
lượng phúc-tuệ, dần-dần thêm
hơn. Bảy là, lìa hẳn tà-đạo,
tu-hành Thánh-đạo. Tám là, không
khởi thân-kiến (15) bỏ mọi nghiệp
ác. Chín là, trụ vào kiến-giải
vô-ngại. Mười là, không sa vào
những nạn-xứ. Ấy là mười pháp.
Nếu đem mười pháp ấy
hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành
Phật, mau chứng hết thảy pháp của
Phật, thành-tựu thần-thông tự-tại.
Bấy giờ, đức Thế-Tôn
lại bảo Long-Vương rằng: “Nếu có
vị Bồ-Tát nào y vào thiện-nghiệp
ấy, trong khi tu đạo, xa-lìa nghiệp
sát-hại, chăm làm bố-thí,
thường giầu của báu, không ai
xâm-đoạt, được sống lâu
không chết non và không bị hết thảy
oán-tặc làm tổn-hại.
Xa-lìa nghiệp không cho mà
lấy, chăm làm bố-thí, thường
giầu của báu, không ai xâm-đoạt,
được sự tối-thắng, không ai sánh
kịp và đều hay tập-hợp
đầy-đủ những pháp-tạng của
chư Phật.
Xa-lìa nghiệp không đúng
Phạm-hạnh, chăm làm bố-thí,
thường giầu của báu, không ai
xâm-đoạt, mà mình trinh-thuận, mẹ
và vợ, con, không ai thường đem lòng
dục mà nhìn ngó ngoài.
Xa-lìa lời nói dối-trá,
chăm làm bố-thí, thường giầu
của báu, không ai xâm-đoạt, tránh mọi
hủy-báng, thu giữ chính-pháp, như
lời thệ-nguyện của mình, việc làm
quyết-định kết-quả.
Xa-lìa lời ly-gián, chăm
làm bố-thí, thường giầu của
báu, không ai xâm-đoạt, quyến-thuộc
hòa-mục, đồng vui một chí,
thường không có sự tranh-đấu
ngang-trái.
Xa-lìa lời thô-ác, chăm
làm bố-thí, thường giầu của
báu, không ai xâm-đoạt, hết thảy
chúng-hội, hoan-hỷ quy-y và lời nói ra
ai cũng đều tín-thụ, không chút
trái-nghịch.
Xa-lìa lời nói vô nghĩa,
chăm làm bố-thí, thường giầu
của báu, không ai xâm-đoạt, lời
nói không hư-thiết, người đều
kính-thụ, hay dùng thiện-phương-tiện,
dứt mọi ngờ vực.
Xa-lìa tâm tham-cầu, chăm
làm bố-thí, thường giầu của
báu, không ai xâm-đoạt, hết thảy
vật sở-hữu, đều đem ban cấp, tín
giải kiên-cố, đủ uy-lực lớn.
Xa-lìa tâm bực tức, chăm làm
bố-thí, thường giầu của báu,
không ai xâm-đoạt, chóng tự
thành-tựu tâm trí vô-ngại, mọi
căn nghiêm-trang, tốt đẹp, ai thấy cũng
đều kính-ái.
Xa-lìa tâm tà-đảo,
chăm làm bố-thí, thường giầu
của báu, kông ai xâm-đoạt,
thường sinh vào nhà kính-tín chính-kiến,
thấy Phật, nghe Pháp, cúng-dường
chúng Tăng và thường không quên
mất tâm Đại-Bồ-Đề.
Ấy là bậc Đại-Sĩ trong
khi tu đạo Bồ-Tát, làm mười
nghiệp thiện, dùng bố-thí trang-nghiêm,
được lợi-ích lớn.”
Như thế, Long-Vương!
Thiết-yếu mà nói, thực-hành
mười thiện-đạo, dùng trì-giới
trang-nghiêm, hay sinh hết thảy nghĩa lợi
của Phật-Pháp và đầy-đủ
đại-nguyện. Dùng nhẫn-nhục
trang-nghiêm, được viên-âm của
Phật, đủ mọi tướng tốt. Dùng
tinh-tiến trang-nghiêm hay phá ma oán, nhập
Pháp-tạng của Phật. Dùng
thiền-định trang-nghiêm, hay sinh niệm, tuệ,
tàm-quý, khinh-an (16). Dùng trí-tuệ
trang-nghiêm, hay dứt hết thảy phân-biệt
vọng-kiến.
Lòng từ trang-nghiêm, đối
với chúng-sinh không khởi não-hại.
Lòng bi trang-nghiêm, thương mọi chúng-sinh
thường không chán bỏ. Lòng hỷ
trang-nghiêm, thấy người tu thiện, tâm
không hiềm ghét. Lòng xả trang-nghiêm,
đối cảnh thuận, nghịch, tâm không
thương, giận.
Bốn nhiếp pháp (17)
trang-nghiêm, thường siêng nhiếp-hóa
hết thảy chúng-sinh.
Niệm xứ trang-nghiêm, khéo hay
tu-tập bốn quán niệm xứ (18).
Chính-cần (19) trang-nghiêm, đều hay dứt
trừ hết thảy bất-thiện-pháp, thành
hết thảy thiện-pháp. Thần-túc (20) trang-nghiêm,
thường khiến thân tâm vui-vẻ,
nhẹ-nhàng. Năm căn (21) trang-nghiêm, thâm
tín kiên-cố, tinh-cần không biếng,
thường không mê-vọng, vắng-lặng
điều-thuận, dứt mọi phiền-não.
Năm lực (22) trang-nghiêm, mọi oán diệt
hết, không gì hoại được.
Giác-chi (23) trang-nghiêm, thường khéo
giác-ngộ hết thảy mọi pháp.
Chính-đạo (24) trang-nghiêm, được
chính-trí-tuệ, thường hiện ở
trước. CHỈ trang-nghiêm nên gột bỏ
được hết thảy kết-sử. QUÁN
trang-nghiêm nên hay như-thực biết
được tự-tính của mọi pháp.
PHƯƠNG-TIỆN trang-nghiêm, chóng thành
đầy-đủ sự vui vô-vi.
Long-Vương nên biết!
“Mười nghiệp thiện ấy hay khiến
mười LỰC (25), bốn pháp VÔ ÚY (26),
mười tám pháp BẤT CỘNG (27) cùng
hết thảy Phật-Pháp đều được
viên-mãn. Vì thế, các ông nên
siêng tu-học”.
Này Long-Vương! ví như
hết thảy thành, ấp, làng, xóm,
đều y vào đại-địa mà
được an-trụ, hết thảy dược-thảo,
cỏ cây, rừng-rú cũng y vào
đại-địa mà được
sinh-trưởng; mười thiện-đạo ấy
cũng lại như thế: Hết thảy Nhân,
Thiên y vào đó mà an-lập; hết
thảy Thanh-Văn, Độc-Giác, Bồ-Đề,
mọi hạnh Bồ-Tát và hết thảy
Phật-Pháp, cùng y vào đại-địa
của mười thiện mà được
thành-tựu”.
Đức Phật nói kinh này
rồi, Sa-Kiệt-La Long-Vương cùng
toàn-thể đại-chúng hết thảy
thế-gian Thiên, Nhân, A-Tu-La... đều rất
hoan-hỷ, tín-thụ phụng-hành.
Chú-Thích:
1) Kinh Thập-Thiện
Nghiệp-Đạo là cuốn kinh số 600 trong
Đại-Tạng-Kinh do Ngài Thực-Soa-Nan-Đà
(Siksànanda: Tàu dịch là Học-Hỷ)
dịch chữ Phạm ra chữ Hán.
2) Chính tôi được nghe:
Là lời Tôn-Giả A-Nan tự xưng. Ít
lâu sau khi đức Phật nhập Niết-Bàn,
chư vị Thánh-Tăng nhóm họp lại
để kết-tập những lời Phật dạy.
Tôn-Giả A-Nan được đề-cử
tụng Kinh-tạng, do đó, đầu mỗi kinh
đều có ghi câu “Chính tôi
được nghe”, để chứng tín.
3) Sa-Kiệt-La (Sàgara): Tàu
dịch là Hàm-Hải (bể nước mặn).
4) Tỳ-Khưu (Bhiksu): Trung-Hoa dịch
là “Khất-sĩ”. Nghĩa là
người tu hành, trên cầu đạo của
chư Phật để tu tỉnh, dưới đi xin
ăn nơi quần-chúng để tiện hóa
độ. Tỳ-Khưu có hai phái. Phái nam
gọi là Tỳ-Khưu giữ 250 giới. Phái
nữ gọi là Tỳ- Khưu-ni (Bhiksuni) giữ 348
giới.
Bồ-Tát (Bodhisattva): Gọi
đủ là Bồ-đề-tát-đỏa.
Trung-Hoa dịch nghĩa là “Giác hữu
tình”. Nghĩa là những vị phát
đại tâm, vì chúng-sinh cầu đạo
vô thượng, và luôn luôn
giác-ngộ chúng-sinh thành
vô-thượng-đạo.
5) Năm uẩn: Có chỗ gọi
năm ấm. Là năm thứ ngăn-che mất
chân-tính. Năm thứ ấy là: sắc,
thụ, tưởng, hành, thức.
6) Mười hai xứ: Có chỗ
gọi là mười hai nhập. Tức là
sáu căn: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân,
ý và sáu trần (cảnh): sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp.
7) Mười tám giới: Là
sáu căn, sáu trần như trên và
thêm sáu thức: nhãn-thức, nhĩ-thức,
tỵ-thức, thiệt-thức, thân-thức và
ý-thức thành 18 giới.
8) Thiên, Long bát bộ: Là
nói bao quát tám bộ chúng thường
tới nghe Phật thuyết-pháp và
hộ-trì chính-pháp mà mắt
người không thể trông thấy
được. Tám bộ ấy là: 1) Thiên
(Deva: các vị trong cõi trời). 2) Long (Nàga:
rồng là loài vua dưới nước). 3)
Dạ-Soa (Yaksa: quỷ-thần bay trên không; cũng
có chỗ gọi là Dược-Soa). 4)
Càn-Thát-Bà (Gandharva: dịch là
Hương-Ấm, là Nhạc-Thần trong cung vua
Đế-Thích). 5) A-Tu-La (Asura: dịch là Phi-Thiên,
tức là một loại quỷ-thần có
phúc-báo gần như trời...). 6) Ca-Lâu-La
(Garuda: dịch là Kim-Sí-Điểu). 7)
Khẩn-Na-La (Kimnara: dịch là Ca-Thần cũng
là vị Nhạc-thần trong cung vua
Đế-Thích). 8) Ma-Hầu-La-Già (Mahoraga:
dịch là Đại-Mãng-Thần, tức là
loài địa-long vậy).
9) Đoạn-kiến,
thường-kiến: Đây là hai thứ
kiến-giải của những con người
thiên-chấp. Đoạn-kiến là không tin
nghiệp-quả, cố-chấp thân-tâm con
người chết đi là hết không
tục-sinh nữa, phóng tâm làm ác,
không sợ hậu-báo. Thường-kiến
là cố-chấp thân-tâm con người
thường-trụ không gián-đoạn mặc
dầu trải qua thời-gian quá-khứ, hiện-tại,
vị-lai, do đó tạo những nghiệp thiện,
ác cho là không quan-hệ gì đến
sự sướng, khổ của thân này.
10) Những ruộng phúc: Là
nơi gieo trồng mầm phúc-đức. Ruộng
phúc phân-tích có 8, nhưng bao-quát
lại thời có 3 thứ: 1) Cung-kính chư
Phật, Thánh-nhân, chư Tăng gọi là
Kính-điền. 2) Hiếu-thuận với những
người có ân như: cha mẹ,
Hòa-Thượng, A-Xà-Lê... gọi là
Ân-điền. 3) Thương xót, cứu giúp
chúng-sinh cùng những người yếu-đau
gọi là Bi-điền.
11) Tập-khí: Là một
vọng-hoặc trong 3 vọng-hoặc của
Đại-thừa-giáo. Tập-khí
thông-thường gọi là thói quen. Là
cái hơi hướng do sự huân-tập
những trần-cảnh mà thành.
12) Phi-nhân: Là chỉ vào
các hàng quỷ-thần.
13) Thù-thắng: Là chỉ cho
những sự siêu-tuyệt, mà đời
khó có.
14) Ba cõi: Cõi Dục, cõi
Sắc và cõi Vô-Sắc.
15) Thân-kiến (Satkàyadrsti):
Tà-kiến đối với thân chấp là
thực-ngã.
16) Niệm, tuệ, tàm-quý,
khinh-an: Đây là nói về những
tâm-sở thiện phát hiện trong khi nhập
định.
17) Bốn nhiếp pháp: Nghĩa
là 4 phương-pháp nhiếp-phục,
hóa-độ chúng-sinh. Bốn
phương-pháp ấy là: bố-thí,
ái-ngữ, lợi-hành và đồng-sự.
18) Bốn niệm xứ: Tức là 4
pháp quán-niệm: quán thân bất
tịnh, quán thụ là khổ, quán tâm
vô thường, quán pháp vô ngã.
19) Chính-cần: 4 pháp cố
gắng hành-trì một cách
chân-chính: 1) Điều ác đã sinh,
làm cho dứt hẳn. 2) Điều ác chưa
sinh, làm cho không thể sinh được. 3)
Điều thiện chưa sinh làm cho chóng sinh. 4)
Điều thiện đã sinh làm cho
tăng-trưởng.
20) Thần-túc: còn gọi là
4 như-ý-túc: Tức là 4 pháp thực
hành làm cho sự tu thiền được
đầy đủ như ý bằng sự
linh-diệu:Dục, niệm, tiến và tuệ.
21) Năm căn: Tín, tinh-tiến,
niệm, định và tuệ.
22) Năm lực: Tín-lực,
tinh-tiến-lực, niệm-lực, định-lực
và tuệ-lực.
23) Giác-chi: Tức là 7 ngành
giác-ngộ: Trạch-pháp, tinh-tiến, hỷ,
khinh-an, niệm, định và hành-xả.
24) Chính-đạo: Tức là 8
chính-đạo: Chính-kiến, chính-tư-duy,
chính-ngữ, chính-nghiệp, chính-mệnh,
chính-tinh-tiến, chính-niệm và
chính-định.
25) Mười lực: Đây là
10 lực của Như-Lai: 1) Trí-lực biết
chỗ giác-ngộ, hay chẳng phải chỗ
giác-ngộ. 2) Trí-lực biết nhân-quả
nghiệp-báo 3 đời của chúng-sinh. 3)
Trí-lực biết mọi phép thiền
giải-thoát tam-muội. 4) Trí-lực biết
mọi pháp thiền-định và 8
giải-thoát tam-muội. 5) Trí-lực biết
mọi tri-giải. 6) Trí-lực biết mọi
cảnh-giới. 7) Trí-lực biết được
chỗ sẽ đến của mọi đường
(đạo). 8) Trí-lực biết dùng
thiên-nhãn không chướng-ngại. 9)
Trí-lực biết túc-mệnh vô-lậu. 10)
Trí-lực biết dứt hẳn tập-khí.
26) Bốn pháp vô úy: Là
bốn pháp nói về tâm hóa độ
tha nhân không khiếp sợ. Vô úy có
hai: Vô úy của Bồ-Tát và Vô
úy của Phật:
A.- Vô úy của Phật: 1)
Nhất-thiết-trí vô úy. 2) Lậu-tận
vô úy. 3) Chướng-đạo vô úy. 4)
Tận-khổ-đạo vô úy.
B.- Vô úy của Bồ-Tát: 1)
Ghi nhớ không quên nên thuyết-pháp
không sợ. 2) Biết pháp-dược và
biết căn-tính chúng-sinh nên
thuyết-pháp không sợ. 3) Khéo hay vấn
đáp nên thuyết-pháp không sợ. 4) Hay
ngắt dứt nỗi ngờ của chúng-sinh nên
thuyết-pháp không sợ.
27) Mười tám pháp bất
cộng: Vì không cộng-đồng với
các hàng Nhị-Thừa và Bồ-Tát,
nên 18 công-đức này chỉ có ở
nơi Phật nên gọi là “bất
cộng”: 1) Thân không lầm. 2) Miệng
không lầm. 3) Niệm không lầm. 4) Không
có tưởng khác. 5) Không có cái
gì là không định tâm. 6) Không
có cái gì là không biết xả. 7)
Lòng mong muốn độ sinh không diệt. 8)
Tinh-tiến không diệt. 9) Niệm không diệt.
10) Tuệ không diệt. 11) Giải-thoát không
diệt. 12) Giải-thoát tri-kiến không diệt.
13) Hết thảy nghiệp-thân làm theo
trí-tuệ. 14) Hết thảy nghiệp-khẩu
làm theo trí-tuệ. 15) Hết thảy
nghiệp-ý làm theo trí-tuệ. 16)
Trí-tuệ biết được đời
quá-khứ không bị chướng-ngại. 17)
Trí-tuệ biết được đời
vị-lai không bị chướng-ngại. 18)
Trí-tuệ biết được đời
hiện-tại không bị chướng-ngại.