Nguồn gốc văn bản của kinh
Quán vô lượng thọ: Kinh văn của
Tịnh độ tông
Nhuận
Châu
PB Nghiên cứu Phật Học - 03
Kōtatsu Fujitta
Kenneth K.Tanaka
Dẫn nhập của người dịch (Kenneth K.Tanaka)
Ở Trung Hoa, kinh Quán Vô
Lượng Thọ (Book on the Contemplation of the Buddha of
Immeasurable Life) đóng một vai tṛ quan yếu trong giai
đoạn đầu tiên của sự truyền bá
Tịnh độ tông hơn bất kỳ kinh văn nào
khác của tông nầy. Từ đời Tùy cho
đến đời Tống, có ít nhất 40 luận
giải về kinh nầy được trước tác,
phần nhiều được biên soạn trước
năm 800. Như ngài Thiện Đạo, một
vị tăng lỗi lạc xiển dương Tịnh
độ tông Trung Hoa đă viết một luận giải
đặc sắc về kinh Quán Vô Lượng Thọ
để đánh dấu cho sự kiện trung tâm
nầy. Trước đó nữa, các luận giải
quan trọng khác về kinh nầy của ngài Huệ
Viễn, của ngài Trí Khải (c: Zhiyi 智顗) Đại sư tông Thiên thai, đă
để lại một ảnh hưởng to lớn
vượt qua giới hạn truyền thống Tịnh
độ tông Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên.
Có ba yếu tố giải thích cho
sự quan trọng của kinh Quán Vô Lượng Thọ
trong giai đoạn phát triển ban đầu của
Tịnh độ tông ở vùng Á Đông.
Trước tiên, nó được
xem như bản kinh xiển dương cho hai pháp tu
tập để được văng sanh: quán tưởng
và xưng danh hiệu đức Phật A-di-đà. Như
chúng ta sẽ thảo luận dưới đây, pháp quán tổng
phát khởi nhiều sự chú ư trong số Phật tử
Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ V, như chúng ta
được thấy bản dịch những bộ “quán
kinh” trong thời kỳ nầy. Cũng vậy, pháp xưng
danh thu hút được sự chú ư tập trung, khiến
cho giáo lư nầy mau chóng thực hành trong số đông hàng
cư sĩ hơn là những hạn chế và yêu cầu
theo đúng quy cách của pháp thiền quán. Pháp xưng danh
c̣n dành cho cả những người đă phạm những
tội nặng khó được văng sinh.
Thứ hai, một số học
giả hiện đại đă đưa ra lư lẽ
rằng cảm hứng chủ đạo mà Hoàng hậu
Vi-đề-hi đă trải qua được ghi trong
phẩm tựa của kinh Quán Vô Lượng Thọ (xem
ở dưới) được củng cố bằng
sự phát triển ư tưởng tinh thần con
người bị câu thúc và t́nh trạng yếm thế
của xă hội Trung Hoa vào hậu bán thế kỷ thứ
VI. Chuyện kể xác nhận t́nh trạng Phật giáo trong
thời kỳ nầy đă đến giai đoạn
mạt pháp, trong t́nh trạng những tai họa thiên nhiên và
những cuộc nội chiến, đă lên đến
đỉnh điểm với cuộc đàn áp Phật
giáo từ năm 577-580 của Vũ Đế nhà Bắc
Chu.
Thứ ba, như được
thấy rơ ràng trong vô số luận giải về kinh Quán
Vô Lượng Thọ, kinh nầy là văn kiện quan
trọng thúc đẩy các học giả xiển
dương giáo lư Đại thừa. Một trong những
giáo lư ấy đề cập đến các giai vị trong
chín phẩm văng sanh nằm trong cơ cấu chung của
hệ thống giáo lư Đại thừa (marga). Trong
tiến tŕnh nầy, bắt đầu từ thế
kỷ thứ VI, kinh Quán Vô Lượng Thọ đă
giúp mang đến cho giáo lư Tịnh độ tông vị trí
trọng tâm cho các chú giải của nhiều Tăng sĩ
học giả.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ dành
trọn phần mở đầu cho câu chuyện vua
A-xà-thế (s: Ajātaśatru) và vua cha Tần-bà-sa-la (s:
Bimbisāra) cùng mẹ là Hoàng hậu Vi-đề-hi. Nghe
Đề-bà-đạt-đa kể lại rằng cha ông
đă định giết ông khi c̣n nhỏ nhưng không
được, A-xà-thế liền nhốt vua cha
Tần-bà-sa-la vào ngục với ư định bỏ đói
cho đến chết. Nhưng Hoàng hậu
Vi-đề-hi cứu sống vua Tần-bà-sa-la bằng cách
bí mật đem thức ăn vào ngục mỗi lần
đến thăm vua. Khi A-xà-thế phát hiện ra hành vi bí
mật đó, trong cơn giận dữ đă ra lệnh
hạ ngục mẹ ông luôn. Đau đớn về hành vi
của con ḿnh, Hoàng hậu Vi-đề-hi cầu cứu
đến lời khuyên của đức Phật, và mong
ước được sinh vào một nơi mà không có
những nỗi khổ đau. Đức Phật liền
phóng quang thị hiện cho bà vô số cơi giới trong
khắp mười phương, Hoàng hậu
Vi-đề-hi đă chọn cơi Cực lạc của
đức Phật A-di-đà.
Đức Phật tiếp tục
giảng giải những công hạnh tu tập cần
thiết để quy hướng về cơi Tịnh
độ của đức Phật A-di-đà. Những
công hạnh nầy là “Ba nghiệp thanh tịnh,”
gồm kính trọng cha mẹ và sư trưởng, giữ
giới và tụng đọc kinh điển Đại
thừa. Qua năng lực thần thông, đức Phật
đă cho Hoàng hậu Vi-đề-hi và những người
thân thấy được cảnh giới Tịnh
độ của đức Phật A-di-đà và nhờ
đó mà bà chứng được vô sanh pháp nhẫn.
Không lo âu về thọ mạng
trong đời sau th́ sẽ không có được sự
lợi lạc từ lời “khai thị” của
đức Phật, Hoàng hậu Vi-đề-hi thưa
hỏi về phương pháp tu tập để
được văng sanh. Để trả lời,
đức Phật đă dạy cho bà 16 pháp quán, bắt
đầu với pháp quán về mặt trời mọc
ở cơi Ta-bà nầy, và chuyển sang kích thước
vật lư của cơi Tịnh độ (Sukhāvati), như
đất đai, cây cối, ao hồ; rồi nói về
đức Phật A-di-đà và các vị Bồ-tát trợ
thủ như Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát
Đại Thế Chí. Ba pháp quán sau cùng đề cập
đến các đối tượng của chín phẩm
văng sanh và chi tiết từng phẩm hạng mà mọi
người có khả năng đạt được.
Lời chỉ dạy của đức Phật về 16
pháp quán tạo thành chủ đề chính trong phần chánh
văn của bộ kinh. Kinh Quán Vô Lượng Thọ
kết thúc bằng sự quả quyết rằng Hoàng
hậu Vi-đề-hi chắc chắn sẽ
được văng sanh, và khuyến tấn người
đọc truyền bá sâu rộng giáo nghĩa kinh văn.
Lai lịch của các bản
dịch
Đă từ lâu, kinh Quán Vô
Lượng Thọ được xem là một trong “Ba kinh
Tịnh độ,” cùng với Vô Lượng Thọ kinh
(Đại bổn A-di-đà–Larger Sukhāva- tīvyūha-sūtra)
và kinh A-di-đà (Tiểu bổn A-di-đà-Smaller
Sukhāvatīvyūha-sūtra). Theo truyền thống,
bản kinh nầy được gọi là Quán Vô
Lượng Thọ kinh và Vô Lượng Thọ Quán
kinh và được xem là do ngài
Cương-lương-da-xá (s: Kālayaśas 畺良耶舎; 383-442?) dịch vào thời Lưu
Tống.
Tập sách sớm nhất ghi
lại sự kiện kinh nầy do ngài
Cương-lương-da-xá dịch là Pháp kinh Lục
(Catalogue of Scriptures Compiled by Fa-Ching), sưu tập năm
593, vào đời Tùy. Sách ghi rằng, “Vô Lượng
Thọ Quán kinh, 1 quyển, dịch vào niên hiệu Nguyên
Gia đời Lưu Tống, Sa-môn
Cương-lương-da-xá dịch kinh nầy tại
Yang-chou.” Chính mục nầy đă được ghi
nhận qua hầu hết các bản sao lục về
sau. Tuy nhiên, trong tác phẩm cổ xưa nhất
hiện c̣n lưu hành, Chú Tam tạng dịch kinh (A Compilation
of Notices on the Translation of the Tripiṭaka) của Tăng Hựu (僧祐) soạn, khoảng từ năm
502-515, được soạn trước Pháp Kinh Lục –
ghi kinh Quán Vô Lượng Thọ trong chương thứ
tư của nó trong phần “Những kinh văn pha tạp
của những dịch giả khuyết danh.” Nhưng
trong Cao tăng truyện (Biographies of Eminent Monks), do Huệ
Kiểu soạn năm 519 - cũng như trong Pháp Kinh
Lục - là Cương-lương-da-xá (s: Kāla- yaśas 畺良耶舎) đă dịch kinh Quán Vô Lượng
Thọ. Cũng vậy, theo hai cuốn Lục
được soạn vào đời Đường,
Nội điển lục, soạn năm 644
(Đại Đường Nội điển lục -
Catalogue of Inner Scriptures, Compiled During the Great T’ang Period) và
Khai nguyên Thích giáo lục (Catalogue of Śākya-muni’s
Teachings, Compiled During the Great T’ang Period), soạn năm
730, Sung ch’i lu của Tao-hui (Catalogue of Scriptures Compiled During
the Sung ch’i Period), đều ghi Cương-lương-da-xá
(s: Kāla- yaśas 畺良耶舎) dịch kinh Quán Vô Lượng Thọ. Do
Sung ch’i lu đă thất lạc khi Phí Trưởng Pḥng
soạn Lịch đại Tam bảo kư (Record of the Three
Treasures Throughout Successive Generations) vào đời Tuỳ
năm 597, sự ghi nhận kinh Quán Vô Lượng Thọ
trong Cao tăng truyện (Biogra -phies of Eminent Monks) tạo nên
chứng cứ xưa nhất của kinh văn cho sự
hiện hữu của nó trong số những bản kinh
hiện c̣n lưu hành.
Trong tác phẩm Chú Tam tạng
dịch kinh (A Compilation of Notices on the Translation of the Tripiṭaka), có
khả năng xếp kinh Quán Vô Lượng Thọ vào
những bản kinh của những dịch giả
khuyết danh, giả định rằng hoặc do v́
Tăng Hựu (僧祐) không
biết được Cương-lương-da-xá là
dịch giả, hoặc là Tăng Hựu (僧祐) không chấp nhận sự gán ghép như
vậy. Mặc dù điều nầy đă đưa ra
một mức độ hoài nghi nào đó về tính
chất xác thực của dịch giả, nhưng nó không
hội đủ lư lẽ để hoàn toàn bác bỏ
nguồn gốc tác giả của nó là
Cương-lương-da-xá. Thực vậy, khi soạn
chương “Những kinh văn hỗn hợp của
những dịch giả khuyết danh” (kinh Quán Vô
Lượng Thọ nằm trong số đó), Tăng
Hựu (僧祐) đă đích thân ghi chú, “Do v́ tính uyên bác
c̣n ở mức độ thấp, và cần có nhiều
khảo cứu hơn nữa, nhiều chỗ (trong kinh
văn nầy) chưa được trọn nghĩa.
Nguyện xin các bậc cao minh phủ chính cho khiếm
khuyết nầy.”
Như những ḍng chữ nầy
đă chỉ rơ, cảm thấy cần bỏ ngỏ cho
đời sau làm sáng tỏ. Thật đúng như vậy
trong tác phẩm mà Huệ Kiểu, soạn sau Tăng
Hựu không lâu, chắc hẳn đă t́m ra được
những chứng cứ để điều chỉnh quan
điểm mới đây và xác định người
dịch kinh là Cương-lương-da-xá. Mặc dù niên đại
của Huệ Kiểu (497-554) sau Tăng Hựu (445-518),
nhưng quan điểm của Huệ Kiểu vẫn
đáng tin cậy v́ ông không xa với
Cương-lương-da-xá.
Theo Cao tăng truyện (Biographies
of Eminent Monks), Cương-lương-da-xá (s:
Kālayaśas 畺良耶舎) sinh ở Tây Vực (Western Region), thông
hiểu Tam tạng Kinh, Luật, Luận; ngoài ra, Sư c̣n
là người siêng năng tu tập thiền định và
“không ngừng truyền bá các môn tam-muội đến các
nước.” Sư đến kinh đô Kiến Khang
của nhà Tống vào năm Nguyên Gia thứ nhất
(424 - Giáp Tư), khi ở chùa Đạo Lâm trên núi Chung Nam, theo
lời thỉnh cầu của Sa-môn Seng-han, sư
dịch hai bộ kinh, Dược Vương
Dược Thượng quán (Contem- plation on Bhaisajyarāja
and Bhaisajyasamudgata; sau đây gọi là Dược
Vương Dược Thượng quán kinh-Bhaiṣaj-
yarāja Contemplation Sūtra), và kinh Quán Vô Lượng
Thọ, ghi là “(Seng-han) liền dịch ngay (hai bản
kinh trên).” Cao tăng truyện c̣n b́nh luận thêm, “Như là
một diệu pháp vi diệu để chuyển hóa
nghiệp chướng và là đại sự nhân duyên
(dẫn đến văng sanh) vào cơi Tịnh độ, hai kinh
nầy liền được tŕ tụng rộng răi và
truyền bá khắp nơi vào đời Tống”. Sau đó
Cương-lương-da-xá về Giang Lăng. Năm Nguyên
Gia thứ 19 (442), Sư qua miền Mân Thục của Tây
Vức, truyền bá pháp tu tập thiền định. Sau
Sư trở về lại Giang Lăng, thị tịch
ở đó vào năm 60 tuổi.
Chính xác Sư thị tịch
năm nào th́ không được ghi rơ theo tư liệu
trên, nhưng theo thời gian dịch kinh Quán Vô Lượng
Thọ, tin chắc đó là vào khoảng năm đầu
đến năm thứ 19 niên hiệu Nguyên Gia (424-442).
Như vậy, kinh Quán Vô Lượng Thọ đă
được dịch ngay sau năm 421, đó đúng là
năm Vô lượng thọ kinh (Sutra on the Buddha of
Immeasurable Life) được dịch - có nghĩa là sự
kiện ngài Khang Tăng Khải (s: Samgha-varman 康僧鎧) dịch Đại bổn A-di-đà kinh
(Larger Sukhāvatīvyūha-sūtra), mà nay được
coi như là do Phật-đà-bạt-đà-la (佛馱跋陀羅 Buddhabhadra; 359-429), và Bảo Vân (寶雲 376-449) dịchBởi nguyên do nầy và các
sự kiện khác (sẽ được tŕnh bày ở sau),
ngày tháng nầy được xem là chính xác về mặt
lịch sử.
Tuy nhiên, có một số tác
phẩm sao lục thay v́ vậy, lại xếp Đàm-ma-mật-đa
trong thời Lưu Tống như là dịch giả của
Quán Vô Lượng Thọ kinh, 1 quyển. Một trong
những sao lục nầy là Đại Châu lục (Catalogue
of the Great Chou Period), soạn năm 695, căn cứ vào
Khai nguyên lục xếp kinh Quán Vô Lượng Thọ
như là bản kinh “thất truyền”. Cả hai
đều lưu ư rằng sự sắp xếp nầy
vốn xuất phát từ Pao-ch’ang lu (Catalogue by Pao-ch’ang),
soạn vào đời Lương, năm 518. Tuy nhiên,
điều nầy không được thuyết phục,
ngay cả Phí Trưởng Pḥng, người đă y cứ
rất rơ vào Pao-ch’ang lu, lẫn bất kỳ các tác phẩm
nào trước Đại Châu lục - bắt đầu
với Chú Tam tạng dịch kinh -được nhắc
đến như vậy.
Tiểu sử của Dharmamitra có
trong Chú Tam Tạng Dịch kinh, Cao Tăng Truyện, và
trong Danh Tăng Truyện Sao của Pao-ch’ang. Theo
những nguồn gốc nầy, Pao-ch’ang xuất thân
từ Chi-pin, (Càn-đà-la, hoặc
Trong những sử liệu
nầy th́ không có sự liên quan nào giữa Dharmamitra với
bản dịch Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh. Do
từ chỗ quy kết sai lầm ghi trong Đại Châu
lục và Khai nguyên lục có lẽ là do nhầm lẫn có
thể xảy ra giữa hai vị Tăng tương
đồng về tiểu sử; cả Dharmamitra và
Cương-lương-da-xá đều là những vị
tinh thông về thiền quán, đều đến kinh
đô Kiến Khang của nhà Tống vào thời
điểm rất giống nhau, cả hai đều đă
dịch một số kinh về thiền quán. Bất
luận nguyên do lầm lẫn nào, đến nay vẫn
không có căn cứ xác đáng nào để thừa
nhận Dharmamitra là dịch giả của Quán Vô
Lượng Thọ Phật kinh.
Trong Lịch đại Tam bảo
kư của Phí Trưởng Pḥng có nhắc đến Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh (1 quyển) lưu hành vào
đời Hậu Hán và Đông Tấn, mục ghi về
những kinh của các dịch giả khuyết danh, như
thể gợi ư rằng hai bản dịch kinh nầy
trước đó đều khác hẳn với bản
đang lưu hành của Cương-lương-da-xá
dịch. Phí Trưởng Pḥng ghi là đă trích dẫn
từ chương “Những kinh văn hỗn hợp
của những dịch giả khuyết danh” mà ông đă
đọc trong Chú Tam tạng dịch kinh (A Compilation of Notices
on the Translation of the Tripiṭaka), nhưng thực ra, ư nầy
chẳng có căn cứ xác đáng nào cả. Như đă
lưu ư trước đây, Chú Tam tạng dịch kinh
chỉ ghi một một bản dịch kinh Quán Vô
Lượng Thọ và không có chứng cứ nào đă tham
chiếu từ bản lục đời Hậu Hán và
Đông Tấn về những kinh văn của những
dịch giả khuyết danh. Như vậy, mục nầy
nên được xem như chẳng ǵ khác hơn là sự
thêm thắt của Phí Trưởng Pḥng, đặc
biệt trong sự soi sáng của sự kiện Trí
Thăng (Chih- sheng), tác giả của Khai nguyên lục
cũng bác bỏ ư kiến có hai bản dịch như
vậy từng hiện hữu. Có một học
giả thời hiện đại đă theo đó đi quá
xa đến mức trau chuốt mục Lịch
đại Tam bảo kư như là “một tác phẩm
kiệt xuất”.
Trong mối tương quan
nầy, Tịnh độ văng sanh truyện (Biographies on
Rebirth in the Pure Land) của Giới Châu (986-1077) và
Lạc bang di cảo (Accounts of Rebirths in the Country of Bliss)
của Tông Hiểu (1151-1214) vào đời Tống,
cả hai tác phẩm đều nói đến một
vị Tăng pháp danh Seng-hsien đăđến Trường
An vào những năm đầu đời Đông Tấn,
vào khoảng niên hiệu Đại Hưng (大興; 318-321). Vị Tăng nầy
được mô tả trong các tác phẩm nầy như
thể là người đă biết rơ Thập lục quán
kinh (Sixteen Contemplations Sūtra) – nói cách khác, bản kinh Quán
Vô Lượng Thọ đang lưu hành hoặc bản kinh
nào khác có cùng nội dung – đề cập đến “ba
công hạnh và phát nguyện (văng sanh) về cơi Tịnh
độ, và chín phẩm văng sanh”. Điều nầy,
dĩ nhiên, là một thêm thắt của đời sau, không
thể tin được; mặc dù Cao tăng truyện cho
chúng ta biết Seng-hsien là người quy hướng
đức Phật A-di-đà, nhưng cũng chẳng có ǵ
khác hơn là đưa ra mối liên hệ của Seng-hsien
với kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Chúng ta đă điểm qua các
bộ Lục gắn liền với bản dịch
tiếng Hán của bộ kinh nầy. Tuy nhiên, ngoài ra c̣n có
các bản dịch kinh Quán Vô Lượng Thọ trong tạng
Uigur (Mông Cổ).
Một trong số đó là bản
viết tay một trang được phát hiện ở
vùng Thổ Phồn (Turfan), được mang về do
đoàn khảo cứu của Ōtani. Bản sao chụp
trang kinh ấy cùng với ghi chú và bản dịch của
Tachibana Zuichō được t́m thấy trong Nitaku
sōsh. Haneda Tōru đă xuất bản tác phẩm
có sửa chữa của Tachibana, nhưng mặc dù có
những ư kiến khác nhau về cách giải thích bản
văn, vẫn không có ǵ nghi ngờ rằng bản thảo
trong tạng Uigur (Mông Cổ) tương đương
với một phẩm quán về Bồ-tát Quán Thế Âm
trong điều thứ 10. Dù kinh văn không
tương ứng hoàn toàn với bản dịch tiếng
Hán, nhưng nói chung có thể tin nó được dịch
lại từ bản dịch tiếng Hán, căn cứ vào
những chứng cứ là thường có những
chuyển ngữ tiếng Hán trong đó. Quan
điểm nầy được tán thành bởi thực tế
là phần lớn văn học Phật giáo Mông Cổ
đang lưu hành đều được dịch từ
tiếng Hán.
Có một thuyết trước
đây đă từng đưa ra khẳng định
rằng có một bản kinh tương tự như kinh
Quán Vô Lượng Thọ được t́m thấy trong
các bản khắc của nước Khang Cư (Sogdian). Ư kiến
nầy được đưa ra bởi Hans Reichelt,
người đă biên tập và dịch Quán kinh sang
tiếng Đức (Der Dhyāna Text, Meditation Sūtra)
từ bản khắc tiếng Khang Cư, đă chỉ cho
thấy sự tương đồng của nó với kinh
Quán Vô Lượng Thọ. Dù thuyết nầy chỉ
vừa mới được giải thích ở Nhật
Bản, căn cứ vào phân tích kỹ lưỡng
về bản Thiền kinh nầy, Friedrich Weller đă
chỉ ra rằng kinh ấy tương quan với Quán Phật
tam muội hải kinh (Sūtra on the Sea Samādhi Attained
Through Comtemplation on the Buddha; sau gọi là Tam muội hải
kinh Samādhi Sea Sūtra). Do vậy, chúng ta phải
kết luận ngay rằng không c̣n bản dịch nào
bằng tiếng Khang Cư về kinh Quán Vô Lượng
Thọ c̣n tồn tại.
Vấn đề liên quan
đến việc sưu tập (biên soạn)
Như đă tŕnh bày, một sự
kiện hiển nhiên là không có bản gốc tiếng
Sanskrit về kinh Quán Vô Lượng Thọ c̣n tồn
tại đến ngày nay, cũng không có bản dịch
tiếng Tây Tạng để hỗ trợ cho sự có
mặt sớm hơn một bản gốc tiếng
Sanskrit. Bản dịch tiếng Mông Cổ (Uigur) không
chắc là được dịch lại từ bản
tiếng Hán, như thế là đă cho bản tiếng Hán
kinh Quán Vô Lượng Thọ đang lưu hành một
hiện trạng nguồn gốc văn bản. Tuy nhiên,
như đă tŕnh bày, không bao giờ có hơn một bản
dịch kinh nầy của Cương-lương-da-xá, và
ngay cả bản dịch nầy cũng c̣n bị bao quanh
những vấn đề về tính chất xác thực
của nó.
Cương-lương-da-xá
cũng được công nhận với bản dịch
những kinh có cùng nguồn gốc văn bản, như
Dược Vương kinh (Bhaiṣajyarāja Sūtra), vốn
thiếu bản đối chiếu cả tiếng Sanskrit
đến tiếng Tây Tạng
cũng như các bản tiếng Hán khác. Trường
hợp tương tự đối với các bản quán
kinh khác được dịch cùng thời gian như: Tam
muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) của
Phật-đà-bạt-đà-la (359-429), Quán Phổ Hiền
Bồ-tát hạnh pháp kinh (Sūtra on the Comtemplation of the
Cultivation Method of the Bodhisattva Samantabhadra; sau đây sẽ
gọi là Phổ Hiền Quán kinh - Samantabhadra Comtemplation
Sūtra) và Quán Hư Không Tạng Bồ-tát kinh
(Sūtra on the Comtemplation of the Bodhisattva Ākāśagarbha;
sau đây sẽ gọi là Hư Không Tạng Quán kinh -
Ākāśagarbha Comtemplation Sūtra) của Dharmamitra;
và Quán Di-lặc Bồ-tát thượng sanh Đâu-suất
thiên kinh (Sūtra on the Comtemplation of the Bodhisattva Maitreya’s
Ascent to Rebirth in the Tuṣita Heaven; sau đây sẽ gọi là
Di-lặc Quán kinh - Maitreya Comtemplation Sūtra) của
Chu-Chu Ching-sheng. Mặc dù bản dịch Di-lặc Quán kinh
tiếng Tây Tạng được t́m thấy trong ấn
bản Sde-dge and Lhasa (bản dịch Di-lặc Quán kinh
chứ không phải ấn bản Bắc Kinh, Snar-than,
hoặc ấn bản Co-ne của Phật giáo Tây Tạng),
bản dịch Di-lặc Quán kinh nầy là bản dịch
lại từ tiếng Hán, cho biết rằng ở Tây
Tạng cũng vậy, không biết đến bản
gốc tiếng Sanskrit của những kinh nầy.
Đưa ra những t́nh huống như thế chung quanh
các bản Quán kinh, chúng ta không thể nào xem sự không
hiện hữu của bản gốc tiếng Sanskrit
của kinh Quán Vô Lượng Thọ như là một
trường hợp cá biệt.
Người ta không thể nào xác
định dứt khoát nhan đề bản kinh Quán Vô
Lượng Thọ sẽ là như thế nào. Nhất
là chúng ta khó hiểu thuật ngữ Sanskrit về chữ
quán, dù chữ quán thường để dịch
thuật ngữ vipaśyanā trong tiếng Sanskrit. Ngữ
cảnh mà từ nầy sử dụng trong kinh tương
đương với dhyāna. Thế th́, dĩ nhiên,
chẳng có sự bảo đảm nào nhan đề kinh
tiếng Hán hiện nay là dịch sát theo nhan đề kinh
tiếng Sanskrit. Dù ở mức độ nào, tính không
chắc chắn vây quanh ngay cả trong mối tương
quan với nhan đề bản kinh nầy.
Nếu chúng ta chấp nhận
rằng Cương-lương-da-xá đă dịch kinh Quán
Vô Lượng Thọ từ tiếng Sanskrit, th́ nguồn
gốc văn bản từ tiếng Sanskrit lẽ ra
phải được sao lục (ghi nhận) ít nhất
từ đầu thế kỷ thứ V. Tuy vậy, không có
một bằng cứ chứng minh cho sự hiện
hữu của kinh ở Ấn Độ trong thời
kỳ đó. Dù có một học giả đă gợi ư
rằng, kinh nầy được gán vào trong Vô
lượng thọ kinh ưu-ba-đề-xá nguyện sinh
kệ của ngài Thế Thân, thường được
gọi là Tịnh độ luận (Treatise on the Pure land),
nói chung không có một học giả nào chấp nhận
giả thuyết nầy và rất chắc là điều
ấy không hề có.
Sự không hiện hữu của
nguồn gốc bản kinh nầy đưa ra một nghi
ngờ nghiêm trọng về giả thuyết bản kinh
Quán Vô Lượng Thọ hiện đang lưu hành
được biên soạn ở Ấn Độ. Căn
cứ vào những chứng cứ đă đưa ra,
một vài giả thuyết bác bỏ lập luận
bản kinh trên được soạn tập ở Ấn
Độ đă được đưa ra gần đây
ở Nhật Bản. Ư kiến nầy đại khái có
thể chia thành hai: thuyết soạn tập ở Trung Á và
thuyết soạn tập ở Trung Hoa. Do vậy, tôi sẽ
phân tích nguyên do mà hai ư kiến trên đă y cứ và rồi
nỗ lực để xác định điều nào
tạo nên quan điểm đúng đắn.
Thuyết soạn tập ở
Trung Á
Kasugai Shinya có lẽ là
người đầu tiên đưa ra ư kiến nầy.
Theo ông, kinh Quán Vô Lượng Thọ và những Quán kinh khác
được biên soạn như là kinh văn tinh yếu
hay cô đọng của Đại thừa Ấn
Độ nhằm chuyên môn hóa sự tu tập, đến
phiên nó được kích thích bởi khuynh hướng
tự do khởi phát đương thời tại vùng
Gandhāra (Kiền-đà-la). Căn cứ vào những
dữ kiện như nơi xuất thân của
người dịch những Quán kinh, th́ việc soạn
tập những kinh nầy phải diễn ra ở Hsi-yu,
Tây Vực. Đề cập đến sự soạn
tậpTam kinh Tịnh độ, Nakamura Haijime cho rằng:
kinh Quán Vô Lượng Thọ chắc phải
được soạn sau hơn (hai kinh kia), ở một
nơi nào đó ở vùng Trung Á. Dù nó có được
soạn ở Ấn Độ, th́ cũng phải có
đầu mối bắt nguồn từ một vùng nào
đó ở Trung Á.
Nói cách khác, khi để ngỏ
khả năng sự soạn tập kinh nầy ở
Ấn Độ, Nakamura Haijime cơ bản đă thừa
nhận thuyết soạn tập ở Trung Á.
Thế th́, điều ǵ cấu
thành nền tảng của quan điểm nầy? Mặc
dù nguồn gốc thuyết phục ủng hộ cho
thuyết nầy, theo ư tôi, chưa được thỏa
đáng, tuy thế, người ta có thể chỉ ra
những sự kiện phát sinh.
Sự kiện phát sinh thứ nhất là thực tế
Cương-lương-da-xá và những dịch giả khác
rất gần gũi với vùng Trung Á. Trong khi tính chính xác
của tuyên bố Cương-lương-da-xá thực
sự đă dịch kinh Quán Vô Lượng Thọ đă có
vấn đề, th́ vẫn chưa có lư do đưa ra
buộc phải bác bỏ tuyên bố nầy; mối nghi
ngờ chính tương tự có thể phát sinh liên quan
đến dịch giả của các bản Quán kinh cũng
như vậy. Dù được biết
Cương-lương-da-xá đă từng ở Tây Vức,
chúng ta không có tin tức chi tiết về những hoạt
động của Sư trước khi đến kinh
đô nhà Tống, ngoài sự kiện là Sư thường
truyền dạy pháp thiền định ở rất
nhiều nước.
C̣n nhiều công hạnh của
những dịch giả Quán kinh được biết
trước khi họ đến Trung Hoa. Như
Đàm-ma-mật-đa (s: Dharmamitra), một Tăng sĩ
tinh chuyên thiền định, vốn xuất thân ở
Chi-pin, (Kashmire hoặc là Kiền-đà-la) đă đến
kinh đô Kiến Khang đời Lưu Tống qua lối
đường giao thương phía Bắc, cùng với
những vùng được phát hiện như Kucha, Đôn
Hoàng (Tun-huang), và Liang-chou. Chu-ch’u Ching-Sheng, cháu của
vua Chu-ch’u Meng-Sun của triều Bắc Lương, là
một thiền tăng đă học thiền ở Khotan,
Thổ-phồn, và Kara-khoja, sau đó trốn qua Kiến
Khang, sau sự đàn áp năm 439 của vua Đại
Vũ (r.424-452), đời Bắc Lương thuộc
Bắc Ngụy. Đáng lưu ư là Chu-ch’u Ching-Sheng nói là
“có được hai bản Quán kinh ở vùng
Thổ-phồn, một là về Quán Thế Âm và một là
Di-lặc, mỗi bộ gồm một quyển”. Bản
kinh về Quán Thế Âm đă mất, nhưng có thể dẫn
chứng qua tài liệu rằng sự soạn tập
Di-lặc Quán kinh diễn ra ở vùng phụ cận
Thổ-phồn. Vùng Thổ-phồn lúc ấy rất
mật thiết với Phật giáo thời Bắc
Lương, nơi cả hai truyền thống Đại
thừa và Tiểu thừa được tu tập và có
rất nhiều thiền sư kiệt xuất và
đạt được năng lực thần thông.
Những yếu tố nầy gợi ư rằng những
bản Quán kinh khác, gồm cả kinh Quán Vô Lượng Thọ,
có thể được soạn tập ở phụ
cận vùng nầy.
Trong số những dịch
giả Quán kinh, chỉ có Phật-đà-bạt-đà-la (佛馱跋陀羅 Buddhab-hadra; 359-429), người dịch Tam
muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra), là không có quan
hệ trực tiếp với vùng Trung Á, v́ Sư sinh ở
Ca-t́-la-vệ, miền Bắc Ấn Độ, và qua Trung
Hoa bằng đường biển phía Nam. Tuy nhiên, Sư
đă học vài năm hoặc là ở Kashmire hoặc là
Kiền-đà-la, và khi đến Trường An, Sư
thích thân cận ngài Cưu-ma-la-thập, và được
bảo trợ bởi ngài Bảo Vân (寶雲), một vị Tăng vừa mới
trở về từ Tây Vức và Ấn Độ, ngài
Phật-đà-bạt đà-la cùng hợp tác với Bảo
Vân dịch Đại bản A-di-đà kinh (Larger
Sukhāvatīvyūha-sūtra), vốn rất có thể dựa
trên một bản thảo vừa mới phát hiện ở
Ấn Độ. Ngài Phật-đà-bạt đà-la c̣n
dịch kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra) dựa vào bản tiếng
Sanskrit có được ở Khotan. Do tất cả
nguyên do nầy, chắc chắn Phật-đà-bạt
đà-la rất thông thạo về vùng Trung Á. Do vậy
rất có thể giả định rằng nguồn
gốc bản thảo của Tam muội hải kinh
(Samādhi Sea Sūtra) cũng từ vùng Trung Á, cũng
như các bản Quán kinh khác.
Một luận cứ khác nữa
hỗ trợ cho thuyết soạn tập kinh Quán Vô
Lượng Thọ ở Trung Á là đề cập
đến quán Phật và quán h́nh tượng. Trong pháp quán
thứ 8 và 13, kinh nầy khoáng trương thực hành pháp
thiền quán dùng tượng Phật và Bồ-tát làm
đối tượng quán chiếu, sau đó kinh c̣n nói
đến quán sắc thân và những tướng tốt
chính và phụ của đức Phật A-di-đà, của
Quán Thế Âm Bồ-tát, và của Đại Thế Chí
Bồ-tát trong từng pháp quán thứ 9, 10 và 11. Pháp quán
Phật và quán h́nh tượng này trong khi rất thông
dụng ở các quán kinh khác, nhưng lại
được đề cập rất chi tiết ở
trong Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra).
Theo lịch sử nghệ thuật Phật giáo,
điểm chung của Phật giáo Kiền-đà-la và
nền nghệ thuật của vùng ấy có thể
được thấy rơ qua sự mô tả nét trầm
tư trong thiền định và các tướng hảo
của tượng Phật theo trong Tam muội hải kinh
(Samādhi Sea Sūtra). Chẳng hạn, kinh nầy mô
tả tượng Phật với một hàng ria mép,
đó là một điểm độc đáo của
tượng Phật trong nghệ thuật Kiền-đà-la;
tượng nầy c̣n được khắc họa theo
tầm cỡ của hang động nổi tiếng ở
Nagarahāra, vùng gần Jalalābād ở phía Bắc
Afghanistan ngày nay, nơi mà dấu vết (bóng của
tượng–shadow) của tượng Phật vẫn
c̣n. Hai điều mô tả nầy, chắc rằng
không thể nào có được nếu không có sự am
hiểu sâu sắc về toàn cảnh Phật giáo
Kiền-đà-la; do đó thừa nhận rằng nó trùng
hợp với những ǵ ngài Phật-đà-bạt-đà-la
quán sát được trước đây khi Ngài c̣n ở tại
miền Tây Bắc Ấn Độ. Trong mức
độ nào đó, nếu chúng ta thừa nhận Phật
giáo Kiền-đà-la và nền nghệ thuật của nó
đă thực sự được phản ánh rơ nét trong
Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra), th́
điều ấy sẽ cung cấp cho chúng ta một ch́a
khóa để đánh giá những bản quán kinh khác,
gồm cả kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Khi khảo sát kinh Quán Vô
Lượng Thọ trong ánh sáng nầy, chúng ta thấy khuynh
hướng phóng đại mô tả về các tướng
tốt chính và phụ của chư Phật và Bồ-tát.
Chẳng hạn, tướng tốt của đức
Phật A-di-đà được mô tả, gồm cả
chú giải rằng “chiều cao của đức Phật
là sáu mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa
do-tuần (niyutas of kotis of yojanas).” Không thể là vô
cớ khi cho rằng mô tả nầy gợi lại cho chúng
ta tượng Phật khổng lồ của
Bāmiyan. Khi mô tả vầng hào quang trên đảnh
Bồ-tát Quán Thế Âm trong pháp quán thứ 10, kinh văn c̣n
ghi rằng, “Trong hào quang ấy có năm trăm hóa thân
Phật, như đức Phật Thích-ca Mâu-ni.” Có
giả thuyết giả định rằng đức
Phật Thích-ca Mâu-ni được mô tả ở đây có
liên quan đến tượng Phật cao 35 hay 38m ở
phía Đông Bāmiyan.
Tuy nhiên, trong pháp quán thứ 13,
được biết đức Phật A-di-đà khi
thị hiện thân tướng to lớn th́ sẽ biến
đầy khắp cả bầu trời, nhưng khi
hiện thân nhỏ th́ chỉ bằng một trượng
sáu (trượng lục; 288 cm) hay tám thước (bát xích; 24cm).
Do vậy, chúng ta khó có thể đưa vào chứng minh
những mối quan hệ giữa sự mô tả trong kinh
và những tượng Phật khổng lồ như
vậy ở Bāmiyan.
Tuy nhiên, không thể bác bỏ
rằng kinh Quán Vô Lượng Thọ là bản kinh
đầu tiên mô tả thân tướng to lớn của
chư Phật và Bồ-tát. Chẳng có ǵ bất thường
để suy luận ra từ đây rằng dịch
giả bản kinh nầy đă có trong đầu h́nh
ảnh tượng Phật to lớn, có thể lớn
hơn thân tướng người thường. Hơn
nữa, khi diễn tả h́nh tượng đức
Phật A-di-đà trong pháp quán thứ 9, kinh nói: “Hào quang trên
đảnh đức Phật A-di-đà giống như
trăm triệu tam thiên đại thiên thế giới
(trichiliocosms); trong hào quang ấy có trăm vạn ức
na-do-tha hóa Phật nhiều như cát sông Hằng”. Theo
một sử gia nghệ thuật, tượng Phật theo
mẫu đơn giản–các hóa Phật đứng thành
hàng nghiêng, xếp hàng theo hào quang phóng ra từ đảnh
đầu–đă được
t́m thấy trong số các vật khảo cổ ở
Kiền-đà-la cũng như từ Khotan. Hơn
thế nữa, trong kinh này, đức Phật A-di-đà
cùng với hai vị Bồ-tát trợ thủ (pháp quán
thứ 7 và thứ 8), mô-típ thông dụng trong nghệ
thuật Trung Á, đă t́m thấy được h́nh
thức phát triển cao nhất của nó. Kinh Quán Vô
Lượng Thọ c̣n mô tả chi tiết đồ h́nh
chi tiết hợp nhất hai vị Bồ-tát Quán Thế Âm
và Đại Thế Chí. Thực vậy, điều ấy
nói rơ sự liên quan đến pháp quán thứ 13, “Bồ-tát
Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí, ở
khắp mọi nơi đều có thân tướng
đồng như chúng sinh, mọi chúng sinh chỉ cần
quán đảnh đầu của các Ngài, liền nhận
biết đó là Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát
Đại Thế Chí.” Những tham khảo như
vậy gợi ư rằng bản kinh nầy chắc hẳn
không được soạn bởi một ai mà không có
mối quan tâm sâu sắc đến h́nh tượng các
vị Bồ-tát nầy.
Trong lịch sử h́nh
tượng Phật giáo Trung Hoa, mặc dù nghệ thuật
Kiền-đà-la có ảnh hưởng rất sớm ở
Trung Hoa, tượng Phật bằng đá chưa trở
thành phổ biến trước những năm 400.
Tượng mạ vàng hiện đang c̣n lưu hành th́
nhỏ, chỉ cao chừng 30 - 40cm. Được biết
lúc đó chưa có tượng Phật với kích
thước như người hoặc lớn hơn, măi
cho đến khi có nghệ thuật điêu khắc trong
những động đá lớn ở Yun-kang vào nửa
sau thế kỷ thứ V. Như đă được
thừa nhận, có những kinh văn ám chỉ về
những phương pháp khác nhau về việc tạo
tượng vào thế kỷ thứ IV, như tường
thuật của ngài Đạo An (312-385) về
việc đúc một pho tượng mạ vàng cao một
trượng sáu (288 cm), nhưng đó không phải là
tác phẩm như thế c̣n tồn tại đến ngày
nay. Ở Trung Á, trái lại, tượng Phật theo
nghệ thuật Kiền-đà-la thường
được tiếp nhận gần giống như
nguyên bản, và h́nh dáng tượng Phật khổng lồ
vốn đă được tạc tại Trung Á chừng
400 năm. Như vậy, ngoài Ấn Độ ra, Trung
Á hầu như là ứng viên có thể cung ứng cho
nguồn gốc của pháp quán tượng
được đề cập trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ.
Chứng cứ nầy cung cấp
cho nền tảng của thuyết soạn tập ở
Trung Á của kinh Quán Vô Lượng Thọ, dù chúng ta
phải nhận thấy rằng luận cứ ấy
chưa hoàn toàn xác đáng. Nhưng trên sự xem xét nền
tảng lịch sử và địa dư, việc chọn
lựa thuyết nguồn gốc Trung Á dường như
thích đáng. Điều nầy đặc biệt đúng
khi người không hoàn toàn tin vào thuyết kinh
được soạn tập ở Ấn Độ, mà cũng
không dễ chấp nhận kinh Quán Vô Lượng Thọ có
thể soạn tập ở Trung Hoa.
Thuyết soạn tập ở
Trung Hoa
Nay chúng ta khảo sát thuyết
thứ hai. Khả năng nguồn gốc Trung Hoa của
kinh Quán Vô Lượng Thọ không có ǵ ḱ lạ, do sự
nghiên cứu rất nghiêm túc về bản kinh nầy mà phát
hiện ra được những yếu tố Trung Hoa rơ
ràng. Tôi cho rằng Tsukinowa Kenryū Tsukinowa Kenryū là
người đầu tiên đưa ra Thuyết soạn
tập ở Trung Hoa.
Theo ông, kinh Quán Vô Lượng
Thọ cũng như các Quán kinh khác, đều
được soạn tập do các cao Tăng vào niên
hiệu Yuan-chia (Nguyên Gia 元嘉;
424-453), thời Lưu Tống, khi tham khảo với các
thiền sư kiệt xuất lúc ấy đang hội
tụ vào Trung Hoa. Kinh được soạn để
đáp ứng cho sự quan tâm lớn mạnh của
giới học Phật nhiệt tâm tu tập thiền
định, cũng như để chống lại
sự thách thức do Đạo gia đưa ra. Tuy nhiên, do
v́ bản báo cáo của Tsukinowa đưa ra theo dạng
của một bảng tóm tắt, cho nên các chi tiết trong
luận cứ của ông không được sáng
tỏ. Sau đó không lâu, Suzuki Munetada lại
đưa ra luận thuyết soạn tập ở Trung
Hoa, làm nảy sinh vấn đề có khả năng
xảy ra, Ấn Độ như là nơi kinh
được soạn tập rồi truy tầm con
đường khả hữu mà kinh nầy
được chuyển ngữ. Nếu thuyết nầy
được chấp nhận, th́ phải trả lời
câu hỏi là khi nào và do ai mà kinh nầy được
soạn tập. Dù Suzuki Munetada đă nỗ lực giải
đáp vấn đề nầy, nhưng nghiên cứu
của ông vẫn không dẫn đến một kết
luận dứt khoát nào.
Như vậy, luận cứ Thuyết
soạn tập ở Trung Hoa cũng không được
hoàn toàn tin tưởng; nhưng khi phân tích về kinh Quán Vô
Lượng Thọ, những sự kiện sau có thể
được đưa ra hỗ trợ cho quan
điểm nầy.
Thứ nhất, bản kinh mà kinh
Quán Vô Lượng Thọ vay mượn nhiều nhất
đó là bản dịch tiếng Hán Đại bổn
A-di-đà kinh (Larger Sukhā- vatīvyūha-sūtra) và
Tiểu bổn A-di-đà kinh (Smaller
Sukhāvatīvyūha-sūtra).
Chẳng hạn, ư tưởng trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ về đức Phật A-di-đà và hai vị
Bồ-tát trợ thủ đến để tiếp
dẫn chúng sinh khi lâm chung về cơi Tịnh độ,
chắc chắn là mượn từ hai bản kinh trên, và
được trau chuốt kỹ lưỡng thành ư
tưởng mới “chín phẩm văng sanh.” Bản Đại
bổn A-di-đà kinh mà kinh Quán Vô Lượng Thọ y
cứ vào là Vô lượng thọ kinh, do
Tăng-già-bạt-ma (s: Saṃghavarman; c: 僧伽跋摩) hay Khang Tăng Khải dịch (dù riêng
tôi: tác giả Kōtatsu Fujitta là do Tăng-già-bạt-ma và
Bảo Vân dịch). Chúng ta biết điều nầy v́
một số thuật ngữ mới đưa vào
(liệt kê phần sau) chỉ được t́m thấy
trong bản trên (Vô lượng thọ kinh): đó chính là
nguyện lực của Pháp Tạng Tỳ-kheo thành
tựu (quán thứ 7); “48 lời nguyện của Pháp
Tạng Tỳ-kheo (chương nói về trung phẩm
hạ sanh); thành tâm tŕ mười niệm.” (chương
nói về hạ phẩm hạ sanh). Do sự vận
dụng những thuật ngữ như vậy, nên kinh Quán
Vô Lượng Thọ có lẽ không phải là bản
dịch trực tiếp ngay từ bản gốc tiếng
Sanskrit, mà thay v́ vậy, dùng một bản kinh đă
được dịch sang tiếng Hán rồi.
Khi đối chiếu kinh Quán Vô
Lượng Thọ với những Quán kinh khác, thấy
tính tương đương trong giáo lư, trong thuật
ngữ chuyên môn, trong văn phong phiên dịch là thực
trạng không thể nào bác bỏ được. Vài ví
dụ hiển nhiên được tŕnh bày trong bản
đối chiếu ở dưới (riêng Hư Không
Tạng Quán kinh – Ākāśa- garbha Comtemplation Sūtra
được bỏ qua, v́ bản dịch sớm nhất
quá vắn tắt để đối chiếu chính
xác). Khi đánh giá sự tương đương
trong bản đối chiếu, quá rơ ràng rằng, nếu
kinh Quán Vô Lượng Thọ được biên tập
tại Trung Hoa, th́ lẽ ra nó phải được
viết với sự chu đáo cao độ về
thuật ngữ và văn phong như những bộ quán kinh
khác. Hơn nữa, ta nên lưu ư rằng thuật ngữ
pha Hán có thể được t́m thấy trong những
đoạn kinh văn nầy-chẳng hạn, thuật
ngữ “xưng danh - ch’eng ming; e: recite the name” hiệu
Phật và Bồ-tát. V́ thuật ngữ tương tự
cũng xuất hiện trong Hư Không Tạng Quán kinh-
Ākāśagarbha Comtemplation Sūtra (không ghi trong bảng
đối chiếu), ư tưởng đọc thuộc ḷng
(đọc thầm-e: recite) một danh hiệu như
vậy là thông thường trong tất cả các quán kinh
đă được đề cập. Tuy vậy, do
hầu hết các dữ kiện về xưng danh (ch’eng
ming; e: recite the name) không thể nào truy xét lại
được từ kinh văn tiếng Sanskrit, nên ư
tưởng đáng quan tâm là phải có một bản
gốc đầu tiên trong bối cảnh tín ngưỡng
của nền phiên dịch kinh điển Phật giáo
ở Trung Hoa. Cũng từ quan điểm nầy,
yếu tố Trung Hoa được phát hiện rơ ràng trong
kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Trong số các bản quán kinh, Tam
muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra), chắc chắn
là bản kinh duy nhất được dịch
trước kinh Quán Vô Lượng Thọ, và
điều ấy gợi ư rằng sự biên tập kinh
kinh Quán Vô Lượng Thọ đă ảnh hưởng
rất lớn từ kinh nầy. Cũng không có lư do nào
để tin rằng kinh Quán Vô Lượng Thọ ảnh
hưởng bởi Di-lặc Quán kinh - Maitreya Comtemplation
Sūtra. Chẳng hạn, kinh Quán Vô Lượng Thọ phát
biểu liên quan đến pháp quán thứ sáu; “Lại
nữa, có những nhạc khí treo giữa hư không,
như Thiên bảo tràng, không gơ mà tự âm vang”. “Thiên
bảo tràng” nầy có một ư nghĩa rất đặc
biệt, và Bảo Tràng, một trong năm vị
Đại thần của cơi trời Đâu-suất
xuất hiện trong Di-lặc Quán kinh–Maitreya Comtemplation
Sūtra. Nói cách khác, việc biên tập kinh Quán Vô
Lượng Thọ chắc chắn là có tham khảo
đoạn kinh văn nầy để đưa vào.
Trong mối quan hệ nầy, có
thể chỉ ra rằng các bản Quán kinh khác kinh Quán Vô
Lượng Thọ vẫn c̣n dùng lối Hán dịch như
các kinh luận đang lưu hành hiện nay trong việc
biên soạn kinh Quán Vô Lượng Thọ. Chẳng hạn,
Tam muội hải kinh (Samādhi Sea Sūtra) đă trích
dẫn từ rất nhiều kinh, trong số đó có 3
trích dẫn danh hiệu 10 vị Phật trong 10
phương, rơ ràng đă lấy từ Bảo
Nguyệt Đồng Tử Tố Vấn kinh (Sūtra on
the Question of Prince of Jeweled-Moon), trích trong “Dị hành
phẩm-Chapter on Easy Practice”, do ngài Cưu-ma-la-thập
dịch từ Thập địa kinh luận (十地經論
Daśabhūmikasūtraśāstra;Daśabhūmika-vibhāsa).
Ngoài ra, Tam muội hải kinh c̣n đề cập
đến “duy vô tam muội 惟無三昧; Samādhi of nonexistence only”,
điều nầy chắc là y cứ trong Duy Vô Tam-muội
kinh (Book of the Samādhi of nonexistence only), một bản kinh
mà Đạo An đă xác định trước đó là
kinh ngụy tạo. Thuật ngữ “duy vô tam
muội–samādhi of nonexistence only” c̣n được t́m
thấy trong những bản kinh khác được
biết là do Cương-lương-da-xá (s: Kālayaśas 畺良耶舎) dịch, như Dược Vương
Dược Thượng Quán kinh (Bhaisajy-arāja Contemplation
Sūtra). Nếu chúng ta chấp nhận
Cương-lương-da-xá là người dịch kinh
nầy, sự vận dụng thuật ngữ chuyên môn
nầy cung cấp cho chúng ta biết một vài phán đoán
quan điểm của Cương-lương-da-xá về
bản dịch. Cũng t́m thấy trong Dược
Vương Dược Thượng Quán kinh những câu
chắc chắn là dựa vào Tam Muội Hải kinh.
Tiếp theo, được biết rơ là Phổ Hiền
quán kinh được vay mượn hầu hết từ
bản dịch Diệu Pháp Liên Hoa kinh của ngài
Cưu-ma-la-thập–quá nhiều đến nỗi
thường được quy như là “bộ kinh đúc
kết của kinh Pháp Hoa.” Chính Hư Không Tạng Quán
kinh thừa nhận là lấy từ Quyết định
t́-ni kinh, dịch giả khuyết danh, đời
Đông Tấn. Ư tưởng niệm danh hiệu
của 35 đức Phật, như được t́m
thấy trong Hư Không tạng Quán kinh, cũng đều
có đề cập trong Dược Vương
Dược Thượng Quán kinh.
Mặc dù chúng ta đă xem xét
một vài ví dụ từ những bản Quán kinh khác,
vẫn c̣n có nhiều dấu tích ư tưởng kinh Quán Vô
Lượng Thọ được kế thừa từ
sự phiên dịch kinh điển cua Phật giáo Trung Hoa.
Một trong những ví dụ nổi bật nhất là
đă chia nội dung kinh văn thành 16 pháp quán. Lối phân
chia như vậy không phải bắt nguồn từ kinh
Quán Vô Lượng Thọ, mà trong Thiền bi yếu pháp kinh,
những mục, “quán tịnh”, “quán Phật” và “quán h́nh”
đều đă được phân thành 30 pháp quán. Bản
Quán kinh nầy chắc là phải do hoặc là ngài
Cưu-ma-la-thập hoặc là Dharamitra dịch, nhưng
dù dịch giả là ai, kinh ấy phải lưu hành ngay
trước hoặc cùng thời với kinh Quán Vô
Lượng Thọ. V́ cho rằng có lẽ nó có một
ảnh hưởng từ sự phân loại sau này về
Quán kinh.
Cũng vậy, như đă
chỉ ra bởi Mochizuki, giáo lư nổi bật trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ về “tam tâm” - “trực tâm”, “thâm
tâm”, “hồi hướng phát nguyện tâm” - có thể liên
quan với “trực tâm”, “thâm tâm”, và “hồi hướng
tâm” xuất hiện trong “Phật quốc phẩm” của
kinh Duy-ma-cật do ngài Cưu-ma-la-thập dịch.
Cũng vậy, những ư niệm trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ như “niệm Phật tam muội”
(pháp quán thứ 8 và 9) và “chư Phật hiện
tiền tam muội” (phẩm công đức), rơ ràng là
ảnh hưởng bởi Ban chu Tam muội kinh. Hơn
nữa, những câu như “Thân nầy thành Phật, thân
nầy là Phật - pháp quán thứ 8” có tương
đương trực tiếp với kinh Ban-chu Tam
muội.
Cũng vậy, ư tưởng
đạt được Bách pháp minh môn và nhờ
đó nhập vào Hoan hỷ địa - như
được đề cập trong chương
Thượng phẩm hạ sanh và Hạ phẩm
thượng sanh - có lẽ là kế thừa từ bản
dịch Thập địa kinh do ngài
Cưu-ma-la-thập dịch, hoặc là phẩm Thập
địa trong bản dịch kinh Hoa Nghiêm do ngài
Phật-đà-bạt-đà-la dịch. Dù những
tương đương nầy, không cấu thành
những chứng cứ không bác bỏ được,
nhưng nó đă cung cấp sự đáng tin cậy cho
những giả thuyết mà kinh Quán Vô Lượng Thọ
đă sử dụng nhiều bản kinh được
dịch sang tiếng Hán trước đó.
Những yếu tố Trung Hoa c̣n
có thể được thấy qua văn phong và lối
dẫn chuyện trong kinh. Chẳng hạn, có đoạn,
“Chúng ta xưng tán danh hiệu rộng răi thập nhị
bộ kinh Đại thừa,” trong chương Hạ
phẩm thượng sanh. Do đề kinh trong tiếng
Sanskrit vốn thường không xuất hiện ở
phần đầu mà ở phần cuối của kinh, nên
chúng ta tin chắc rằng chương nầy rút ra từ
một bản dịch tiếng Hán.
Căn cứ vào những ǵ đă phát hiện
được, kinh Quán Vô Lượng Thọ rất
chắc không phải có gốc là bản dịch trực
tiếp, nguyên văn từ tiếng Sanskrit (hoặc
Prākrit). Cho nên, chúng ta phải thừa nhận rằng có
những chứng cứ đầy đủ để
ủng hộ cho ư kiến rằng kinh nầy
được soạn tập ở Trung Hoa.
Kết luận sơ bộ
Làm sao để chứng cứ
nầy đối chiếu được với những
ǵ hỗ trợ cho thuyết soạn tập ở Trung Á?
Nếu việc kết tập kinh nầy ở Ấn
Độ bị bác bỏ, th́ thuyết nào trong hai
thuyết đối nghịch trên được chấp
nhận? Tôi cho rằng cả 2 thuyết đều có
những điểm đáng chú ư nhưng không thể nào
đưa ra dứt khoát một chứng cứ nào bằng
cách chọn thuyết nầy bỏ thuyết kia. Cho
đến nay tôi vẫn chọn một quan điểm
thỏa hiệp, bằng cách chấp nhận từng
phần của cả hai thuyết. Có nghĩa là, chỉ v́
những yếu tố Trung Hoa được phát hiện
trong kinh văn không có nghĩa là kinh được soạn
ở Trung Hoa. Đơn giản nhất, tôi tin rằng
cốt tuỷ của kinh Quán Vô Lượng Thọ là
nhằm truyền đạt một h́nh thái của
thiền định mà vào thời đó, được
thực hành vài nơi vùng Trung Á, có khả năng là vùng Thổ-phồn.
Khi dịch kinh nầy, ngài Cương-lương-da-xá
đă đảm nhiệm việc khẩu dịch, do
được ghi nhận, như đă lưu ư. Là Sa-môn
Seng-han đảm nhiệm việc ghi chép cho
Cương-lương-da-xá. Trong tiến tŕnh nầy,
văn cảnh và ư tưởng mang màu sắc Trung Hoa, v́ khá
nhiều bản kinh tiếng Hán đă được tham
khảo và vận dụng, bắt nguồn với kinh Vô
lượng thọ. Chính những sự kiện nầy
hỗ trợ cho thuyết kinh được soạn
tập ở Trung Hoa. Một quan điểm chiết trung
như thế có thể thiếu sự minh bạch,
nhưng đó là quan điểm thích đáng nhất
để chọn mà không cần nhiều chứng cứ
thuyết phục.
Tôi đă phác họa quan
điểm của ḿnh về những vấn đề
chung quanh sự soạn tập kinh Quán Vô Lượng
Thọ. Qua phác thảo nầy, điều rơ ràng là, trong khi
giáo lư Tịnh độ xuất hiện trong kinh văn
nầy có nguồn gốc ở Ấn Độ, nhưng
nó đă trưng bày sự phát triển sâu rộng mà chỉ
có thể diễn ra ở bên ngoài Ấn Độ, đó là
ở Trung Hoa hoặc Trung Á. Do vậy, dù kinh Quán Vô
Lượng Thọ chắc chắn là nguồn gốc quan
trọng để nghiên cứu Tịnh độ tông
Phật giáo, nhưng nó phải được xem như
một xuất xứ hoàn toàn khác phả hệ với
Đại bổn A-di-đà kinh (Larger
Sukhāvatīvyūha-sūtra) và Tiểu bổn A-di-đà
kinh (Smaller Sukhāvatīvyūha-sūtra)...