KINH
PHÁP ẤN
Thi
Hộ đời Tống dịch từ Phạn ra Hán
Nhất
Hạnh từ Hán ra Việt và chú giải
Lá
Bối Xuất Bản
( Trích
từ nguồn : THƯ VIỆN HOA SEN )
I.
Hồi
đó Phật đang ở nước Xá Vệ
với đầy đủ quý vị trong cộng
đồng khất sĩ. Một hôm ngài nói
với đại chúng: “Có pháp ấn
mầu nhiệm, quý vị có biết không?
Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn
giải pháp ấn này cho quý vị nghe.
Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh
ra để nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu
đáo, khéo léo xử dụng tâm ý
đề ghi nhớ mà hành trì.”
Các
vị khất sĩ bạch Phật: Hay quá, thưa
đức Thế Tôn! Xin người chỉ dạy
cho, chúng tôi muốn được nghe.”
II.
Phật dạy: Tự tính của Không là
không nằm trên bình diện có không,
không nằm trong khuôn khổ các vọng
tưởng, không có tướng sinh, không
có tướng diệt, và vượt thoát
mọi tri kiến . Tại sao thế? Vì tự
tính của Không không có vị trí
trong không gian, không có hình tướng,
không thể khái niệm được, chưa
bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm
bắt được và thoát ly mọi sự
nắm bắt. Vì thoát ly đượcmọi
sự nắm bắt nên nó bao hàm
được tất cả các pháp và an
trú nơi cái thấy bình đẳng
không phân biệt.
Cái
thấy ấy là cái thầy chân chính
và xác thực. Quý vị khất sĩ!
Quý vị nên biết rằng không những
tự tính của Không như thế mà
tất cả các pháp cũng đều như
thế. Ðó gọi là pháp ấn.
“Quý
vị khất sĩ! Pháp ấn này chính
là ba cánh cửa đi vào giải thoát,
là giáo lý căn bản của chư
Phật, là con mắt của chư Phật, là
chỗ đi về của chư Phật. Vì vậy
quý vị nên nghe cho kỹ, tiếp nhận cho
thấu đáo, để ghi nhớ mà tư duy
và quán chiếu ngay trong lòng thực tại.
III.
“Quý
vị khất sĩ! Người tu hành nên
tìm nơi tĩnh mịch như vào rừng,
ngồi dưới gốc cây để thực
tập quán chiếu về tự thân thực
tại. Phải thấy mọi sắc là khổ,
là không và là vô thường
để thoát ly cho được sự bám
víu vào hình sắc và trở về an
trú trong cái thấy bình đẳng không
phân biệt đối với hình sắc.
Ðối với cảm giác, tri giác, tâm
tư và nhận thức cũng thế: người
ấy nên quán chiếu rằng chúng là
khổ, là không và là vô thường
đề có thể thoát ly cho được
cái thấy có tính cách sai lạc về
cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận
thức để đại tới cái thấy
bình đẳng không phân biệt về
chúng. Này quý vị khất sĩ, các
uẩn vốn là không, vốn được sinh
khởi từ tâm, khi tâm không còn hiện
hành thì uẩn cũng không còn tác
dụng. Thấy biết được như thể
tức là đạt được giải thoát
chân chính. Giải thoát chân chính
rồi thì thoát được mọi tri kiến.
Phép quán sát này được gọi
là KHÔNG, cánh cửa giải thoát thứ
nhất.
IV.
“Lại
nữa, an trú trong định mà quán sát
các đối tượng thì hành giả
thấy các đối tượng hình sắc
đều tan biến hết và người ấy
thoát ly được tính cách hư ảo
của tri giác về hình sắc. Các
đối tượng khác là thanh, hương,
vị, xúc và pháp cũng đều tan
biến hết và hành giả thoát ly
được tính cách hư ảo của
mọi tri giác về thanh, hương, vị, xúc
và pháp. Pháp quán sát này gọi
là VÔ TƯỚNG, cửa giải thoát
thứ hai. Vào được cánh cửa giải
thoát này rồi thì tri kiến sẽ
được thanh tịnh; và vì tri kiến
đã thanh tịnh nên hành giả diệt
trừ được hết các phiền não
tham, sân, si. Tham, sân, và si đã tận
diệt thì hành giả an trú được
trong cái thấy bình đẳng. An trú
được trong cái thấy này thì
lìa được những cái thấy về TA
và về CỦA TA, nghĩa là chấm dứt
được mọi cái thấy sai lằm. Cái
thấy này không còn cơ hội và
căn cứ đề sinh khởi nữa.
V.
Lại
nữa, các vị kha’t sĩ! Thoát ly
được cái thấy về ta rồi thì
không còn cho rằng những sự vật mà
ta thấy, nghe, cảm và biết là những
sự vật có thật ngoài nhận thức
nữa. Vì sao thế? Vì nhận thức cũng
chính là do nhân duyên mà phát
sinh. Nhận thức và các nhân duyên
làm phát khởi ra nhận thức đều
biến chuyển vô thường, mà vì
thức vô thường cho nên ta cũng không
nắm bắt được. Thức uẩn
đã không như bất cứ hiện
tượng nào khác thì còn có
gì cần được tạo tác nữa đâu?
Pháp quán sát này được gọi
là VƠ TÁC, cửa giải thoát thứ ba.
Vào được cửa giải thoát này
rồi thì thấy được chân
tướng các pháp một cách triệt
để, không còn bị kẹt vào một
pháp nào nữa và thể nghiệm
được tính cách tịch diệt của
các pháp.”
VI.
Phật
bảo quý vị khất sĩ: “Pháp ấn
mầu nhiệm là như thế. Ðó là ba
cánh cửa đi vào giải thoát. Quý
vị khất sĩ, nếu quý vị tu học theo
pháp ấn này thì chắc chắn là
sẽ đạt được tri kiến thanh
tịnh.”
Toàn thể
các vị khất sĩ nghe pháp nãy
đều tỏ ra sung sướng. Họ làm lễ
Phật sau khi đã tiếp nhận giáo pháp
này để hành trì.
PHẦN
CHÚ GIẢI
I.
KINH PHÁP ẤN (Phật
thuyết Pháp Ấn Kinh) thuộc về Kinh bộ A
Hàm, là kinh số 104 của Ðại Tạng
Tân Tu. Trong Ðại Tạng còn có hai kinh
cũng nói về đề tài Pháp ấn;
đó là Kinh Phật Thuyết Thánh Pháp
Ấn (kinh số l03) và kinh thứ 80 của bộ
Tạp A Hàm (kinh số 99 của Ðại Tạng
Tân Tu. Kinh này do thiền sư Câu Na
Bạt Ðà La dịch, cũng vào đời
Tống). Trong kinh tạng Pa li, đề tài Pháp
ấn được nói đến trong kinh số 43
của Trung Bộ (Najjihima Nikaya) và trong bộ
Patisambhidă Magga. Nội dung của ba kinh đại
khái tương đồng, nhưng đứng
về phương diện mạch lạc và ý
tứ thì Phật Thuyết Pháp ấn Kinh
khúc chiết và súc tích hơn. Kinh
văn ngắn, gọn và hàm súc. Kinh nói
về thật tướng của các Pháp và
của nhận thức, và về những
phương pháp thiền quán để
đạt tới giải thoát. Kinh này do
thiền sư Thi Hộ đời Tống dịch từ
Phạn ra Hán văn.
II.
Ðề tài của kinh
là ba cánh cửa giải thoát (tam giải
thoát môn): không, vô tướng và
vô tác. Ba phép quán này, được
xem như là những nét đặc thù
căn bản nhất của đạo Phật cho nên
cũng được gọi là pháp ấn.
Ấn tức là khuôn dấu, nghĩa là
những dấu hiệu có thể chứng minh được
tính cách đích thực của giáo
lý đạo Phật. Những giáo lý
nào không mang khuôn dấu pháp ấn
thì không phải là giáo lý Phật
giáo.
Trong
luận tạng của Phật Giáo Tiểu Thừa,
tam pháp ấn (ti-lakkhana) thường được
cho là VÔ thường, VÔ ngã và
Khổ. VÔ thường, VÔ ngã và Khổ
thường lại được nhận thức như
đồng nhất với tam giải thoát môn
là Không, VÔ tướng và VÔ tác.
Thật ra VÔ Thường, VÔ ngã và
Khổ tuy có liên hệ mật thiết với
Không, VÔ tướng và VÔ tác nhưng
phạm vi và tác dụng của tam giải
thoát môn rộng lớn hơn nhiều. Các
luận gia Tiểu Thừa thường nói vì
các pháp vô thường cho nên cửa
giải thoát là vô tướng, vì
các pháp vô ngã cho nên cửa giải
thoát là không và vì các pháp
là khổ cho nên cửa giải thoát là
vô tác. Nói như thế là giới
hạn tam giải thoát môn lại trong phạm vi
luân lý học, trong khi bản chất của tam
giải thoát môn là nhận thức học.
Ðạo Phật là con đường giải
thoát bằng trí tuệ chứ không phải
bằng đạo đức luân lý. Ðọc
kinh Pháp ấn ta sẽ thấy được
điều đó. Trong mười tám phép
quán để đạt tới giải thoát
(mahã-vipassanã) của Phật Giáo Nguyên
Thỉ, VÔ thường, Khổ và VÔ ngã
được kể là ba phép quán đầu.
VÔ tướng, VÔ tác và Không
được kể là ba phép quán thứ mười
một, mười hai và mười ba. Như vậy
VÔ thường, VÔ ngã và Khổ
đáng lẽ đã không thể
được đồng nhất với VÔ
tướng, VÔ tác và Không. Tam giải
thoát môn vì vậy mới đích
thật là Pháp ấn.
Có
khi trong luận tạng, tam pháp ấn lại
được cho là VÔ thường, VÔ
ngã và Niết bàn. VÔ thường
và VÔ ngã là đặc tính của
các pháp đứng về phương diện
hiện tượng mà nói. Niết bàn
cũng là đặc tính của vạn pháp
nhưng đứng về phương diện bản
thể mà nói. Cái thấy này đã
vượt lên trên cái thấy của tiểu
thừa nhưng vẫn còn bị kẹt. Ðại thừa
về sau đi xa hơn, có thiết lập Nhất
Thật Tướng ấn, nhưng căn bản vẫn
không được vững chãi bằng Tam
Giải Thoát Môn. Thật ra pháp ấn
phải là Tam Giải Thoát Môn, như kinh
Pháp ấn cho ta thấy, và các đặc
tính VÔ thường, VÔ ngã và Khổ
của vạn pháp tuy rất quan trọng nhưng
chỉ là những chiếc chìa khóa ớ
mở cửa Tam Pháp ấn mà thôi.
III.
Kinh văn có thể
được chia làm sáu đoạn. Ðoạn
thứ nhất nói về trường hợp mà
kinh được nói ra. Ðoạn thứ nhì,
nói về Không như tự
tính của các pháp và của nhận
thức, và cũng là nền tảng trên
đó được thiết lập ba phép
quán đưa vào giải thoát.
Ðoạn
thứ ba nói về không giải
thoát môn, phép quán
thứ nhất. Ðoạn thứ tư nói về vô
tướng giải thoát môn,
phép quán thứ hai. Ðoạn thứ năm
nói về vô tác giải
thoát môn, phép quán thứ
ba. Ðoạn thứ sáu là đoạn khép
của kinh trong đó có câu kết luận
của Phật về ba cánh cửa đi vào
giải thoát.
IV.
1) Kinh Pháp ấn
thuộc về thể tài vô vấn tự
thuyết, nghĩa là kinh do Phật tự ý
nói ra chứ không phải do có người hỏi.
Ðề tài pháp ấn là một đề
tài rất quan trọng cho nên trước khi
nói Phật đã dặn dò kỹ
lưỡng là đại chúng phải “đem nhận thức thanh tịnhra để nghe cho kỹ, tiếp nhận
cho thấu đáo, khéo léo xử dụng
tâm ý để ghi nhớ mà hành
trì”. Ðiều này thật quan trọng,
bởi vì nếu không cẩn trọng và tinh
tế thì người nghe kinh có thể hiểu
sai lạc lời kinh, và do đó đánh
mất một cơ hội quý báu để
tiếp nhận pháp bảo. Quý vị hãy
đem nhận thức thanh tịnh ra mà nghe cho
kỹ. Nhận thức thanh tịnh (hán văn:
thanh tịnh tri kiến) là nhận thức không
bị che lấp bởi thành kiến và bởi
sự cố chấp vào những kiến thức
đã thu lượm được. Người
nói bắt buộc phải xử dụng ngôn
từ và ý niệm, người nghe cũng
phải tiếp nhận qua ngôn từ và ý
niệm. Dầu người nói khéo léo
đến đâu trong việc xử dụng ngôn
từ và ý niệm mà người nghe
không khéo léo xử dụng tâm ý
để tiếp nhận thì vẫn bị kẹt
vào ngôn từ và ý niệm như
thường, và do đó sự tiếp nhận
sẽ không thành công. Ðiều dặn
dò này, Phật còn lặp lại một
lần nữa trong đoạn thứ nhì của kinh
văn.
2) Trước khi trình bày ba phép
quán đưa đến giải thoát tức
là Không, vô tướng và vô tác.
Phật nói về không như tự tính
của vạn pháp và của nhận thức. Không
ở đây không còn là khái
niệm “không” đối chiếu với
khái niệm “có” mà là thực
tại của vạn hữu vượt thoát mọi
khái niệm của nhận thức thông
thường. Ta không thể đem cái nhận
thức thông thường của ta ra mà
hiểu không, bởi vì Không không
nằm trên bình diện có, không, không
nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng,
không có tướng sinh, không có tuớng
diệt và vượt thoát mọi tri kiến.
Không là tiếng gọi của tự
thân thực tại, tri kiến của ta là
các khuôn khổ ý niệm không thể
chứa đựng được tự thân thực
tại. Tự thân thực tại không có
tướng sinh, không có tướng diệt,
vượt thoát có và không; vì
vậy muốn đạt tới thế giới của
tự thân thực tại, ta không thể xử
dụng các khuôn khổ của vọng
tưởng như sinh và diệt, có và
không, một và nhiều, trên và
dưới, v.v.... Những khuôn khổ này
không chứa đựng được tự thân
thực tại, không nắm bắt được
tự thân thực tại. Kinh văn rất rõ
ràng: Vì tự tánh của Không là
không có vị trí trong không gian, không
có hình tướng, không thể khái
niệm được chưa bao giờ từng sinh
khởi, tri kiến không nắm bắt được
và thoát ly mọi sự nắm bắt. Vì
không bị kẹt trong nhận thức khái
mềm nên tự tánh của không bao
hàm được vạn pháp; ta không
bị kẹt trong những khuôn khổ nắm bắt
và vượt thoát ra được thế
giới của khái niệm thì ta đạt
được cái thấy chân thật về
tự thân thực tại, nghĩa là về
không. Cái thấy này được gọi
là cái thấy bình đẳng. Cái
thấy thông thường hàng ngày
của ta là cái thấy qua khuôn khổ ý
niệm: ta thấy vạn vật là những thực
tại riêng biệt, núi là núi, sông
là sông, núi có ngoài sông, sông
có ngoài núi, ta không phải là
người, người không phải là ta...
cái thấy ấy là cái thấy phân
biệt, cắt xén thực tại thành những
mảnh vụn rời rạc có sinh có diệt,
có lớn có nhỏ, có trong có
ngoài. Trong thế giới của tự thân
thực tại, vạn vật không có thực
thể riêng biệt, cái này nằm trong
cái kia, cái này có mặt vì cái
kia có mặt. Chỉ có cái thấy bình
đẳng mới nhận thức được tự
thân thực tại. Không tức là thể
tính bình đẳng không phân biệt
của thực tại. Bình đẳng tính
(Phạn ngữ: samatã) là thể tính
chân thực của thực tại. Ðó là
thế giới như thật ythă bhutam). Phật
giáo đại thừa gọi thế giới đó
là thế giới chân như (bhutatathată),
và gọi cái thấy bình đẳng
không phân biệt ấy là bình
đẳng tính trí (samatăjnàna). Cũng
vì vậy mà phép quán về không
trong tông phái Thiên Thai cũng được
gọi là bình đẳng quán.
Ta
phải chú ý đến câu kinh sau
đây: Vì thoái lyÏ được mọi
nắm bắt cho nên nó (tự tính của
Không) bao hàm đuợc tất cả các
pháp và an trú nơi cái thấy bình
đẳng không phân biệt: cái thấy
ấy là cái thấy chân thực. Ðiểm
đặc biệt của câu kinh này là
tự tánh của Không được xem như
vừa là đối tượng vừa là
chủ thể của nhận thức.
Ðứng
về phương diện văn pháp, ta thấy
cả hai động từ bao hàm và an trú
đều có cùng một chủ từ nó
(tự tánh của không). Nhưng động
từ bao hàm chỉ về đối tượng
nhận thức và động từ an trú
chỉ về chủ thể nhận thức. Ðiều
này cho thấy đối tượng nhận thức
và chủ thể nhận thức không rời nhau
mà có, đối tượng nhận thức
và chủ thể nhận thức đều là
nhận thức. Ðây là căn bản và là
khởi điểm của giáo lý Duy Thức sau
này.
Tuy
nhiên, ta đừng vội đối lập Không
với các pháp như ta đối
lập bản thể với hiện tượng,
đối lập thể và tướng. Không
chính là các pháp, tự tính
của Không là tự tính của vạn
pháp. Kinh văn rất rõ ràng: Quý
vị Khất sĩ. Quý vị nên biết
rằng tự tmh của Không như thế mà
tất cả các pháp cũng như thế.
Sự thực về tự tính Không là
sự thực căn bản trên đó
được thiết lập ba phép quán
giải thoát, vì vậy cho nên Phật gọi
cái thấy về tự tính không là pháp
ấn. Pháp ấn này là điểm
đặc trưng của đạo Phật, vì
vậy Phật đã nhấn mạnh rằng nó
là giáo pháp căn bản của chư
Phật, là con mắt của chư Phật, là
chỗ đi về của chư Phật. Pháp
ngữ con mắt của chư Phật sau này
đã trở nên pháp ngữ “chánh
pháp nhãn tạng” (kho tàng của cái
thấy chánh pháp) của thiền tông.
Tới đây, Phật nhắc lại một lần
nữa: Quý vị nên nghe cho kỹ, tiếp
nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ
mà tư duy và quán chiếu trong lòng
thục tại. Ta hãy để ý tới
sáu chữ: quán chiếu trong lòng thực
tại. Quán chiếu trong lòng thực tại
là phải đi thẳng vào thực tại
mà chiêm nghiệm trực tiếp chứ không
phải là đứng bên ngoài và
quán sát thực tại như một đối
tượng khách quan. Ðây là điểm
chính yếu của thiền quán.
3)
Cánh cửa giải thoát thứ nhất là
sự quán chiếu về tính cách khổ,
không và vô thường của năm uẩn,
tức là năm yếu tố kết hợp nên
sinh mạng: vật chất, cảm giác, tri giác,
tâm tư và nhận thức.
Những
yếu tố này đều có tính cách vô
thường, nghĩa là luôn luôn chuyển
biến và vì vậy, không có một
bản chất thường tại, hoặc một
đồng nhất tính (identité fixe). Năm
yếu tố này nương vào nhau mà
có mặt, cái này có trong cái kia,
cái kia có trong cái này, cái này là
cái kia, cái kia là cái này. Vật chất
chẳng hạn không thể có ngoài tri
giác và tri giác không thể có
ngoài vật chất, vì vậy không có
cái gì có được thực thể
riêng biệt của nó. Cái thực thể
riêng biệt ấy không có, cho nên các
pháp được gọi là không.
Không ở đây trước hết là
không có thực thể (thực thể: thể
tính chân thực). Tuy nhiên không có
thực thể không có nghĩa là hư
vô. Cái bàn không có thực thể
riêng biệt, nhưng cái bàn không phải
là hư vô. Thấy được cái
bàn trong tính cách “không có
thực thể” của nó tức là thấy
được chân tướng của cái
bàn. Trái lại, thấy cái bàn là
một vật thường tại và có thực
thể riêng biệt tức là thấy bằng
thứ tri kiến sai lầm. Nhận thức vạn
vật bằng thứ tri kiến này thì sẽ
không tránh được đau khổ. Vì
vậy cho nên kinh nói năm uẩn là vô
thường, là không, và có tác dụng
gây đau khổ. Quán chiếu về năm
uẩn là quán chiếu thẳng vào tự
thân của thực tại. Kinh văn dùng từ
ngữ “như thật quán sát” là
vì thế. Như thật (yathãbhutam) là
tự thân thực tại. Kinh văn rất rõ
ràng: Phải thấy được mọi
hình sắc vật chất là khổ, là
không và vô thường để thoát ly
cho dược sự bám víu vào hình
sắc vật chất và trở về an trú trong
cái thấy bình đẳng không phân
biệt đối với hình sắc vật chất.
Ðối với cảm giác, tri giác, tâm
tư và nhận thức cũng vậy: người
ấy nên quán chiếu rằng chúng là
khổ, là không và là vô thường
để có thể thoát ly cho đuợc ái
thấy có tinh cách sai lạc về cảm
giác, tri giác, tâm tư và nhận thức
để đạt tới cái thấy bình
đẳng không phân biệt về chúng.
Trong
nhận thức phân biệt, năm uẩn trở
thành những vật thường tại và
có thực thể riêng biệt. Nếu ta
vượt lên khỏi nhận thức phân
biệt ấy thì năm uẩn sẽ hiển lộ
trong tự thân của nó và chúng
không còn tác dụng ràng buộc và
gây khổ đau nữa. Khi ấy ta thoát
được những khuôn khổ tri kiến hẹp
hòi và sai lạc, và đạt
được giải thoát. Ta hãy đọc
lại kinh văn: Các uẩn vốn là
không, vốn được sinh khởi từ tâm;
khi tâm không còøn hiện hành thì
uẩn cũng không còn tác dụng. Chữ
tâm ở đây là chỉ cho nhận thức
phân biệt. Phép quán về không này
được gọi là cánh cửa giải
thoát thứ nhất, tức không giải
thoái môn.
Không
giải thoát môn là nền
tảng trên đó cả nền văn học
Bát Nhã đồ sộ được thành
lập. Bát Nhã nghĩa là trí tuệ,
thứ tri kiến bình đẳng không phân
biệt mà kinh Pháp ấn nói đến.
Tâm Kinh Bát Nhã là một kinh
được trì tụng hàng ngày tại
các thiền viện. Kinh này cũng nói
về tính Không của năm uẩn.
“Bồ Tát Quán Tự Tại khi quán
chiếu thâm sâu về Bát Nhã thì
phát kiến ra được là năm uẩn
đều không, và do đó thoát ra
khỏi mọi khổ nạn”. Ðó là
câu đầu của Tâm Kinh
4)
Thế giới hàng ngày trong đó chúng
ta sinh hoạt là một thế giới
được tạo dựng do tri giác (perceptions)
của chúng ta. Ta thấy trời, đất,
núi, sông, nhà cửa, chợ búa, sinh
vật, cây cỏ. Ta nghe nhiều loại âm
thanh, như tiếng sấm nổ, tiếng mưa
rào, tiếng chim hót, tiếng khóc la. Ta ngửi
thấy các mùi, ta nếm thấy các
vị, ta xúc chạm sự vật, ta dựng
xây các tư tưởng. Tri giác có
năm loại: sắc (hình sắc), thanh (âm thanh),
hương (mùi hương), vị (vị nếm),
xúc (xúc chạm) và pháp (tư
tưởng và ký ức). Giác quan của
chúng ta cung cấp cho ta những dừ kiện của
tri giác, và có nhiều khi ta lầm lạc
vì những dữ kiện ấy, như khi thấy
sợi dây ta tưởng là con rắn, nhìn
bạn tưởng là kẻ thù. Khoa học
giúp ta thấy được một số những
sai lầm của tri giác. Thiền quán
giúp ta cởi bỏ những sai lầm căn bản
của tri giác và của nhận thức.
Phương pháp được đưa ra trong
đoạn kinh văn này là phép quán
vô tướng, tức là vô tướng
giải thoát môn. Các kinh Phật Thuyết
Thánh Pháp ấn kinh do Trúc Pháp Hộ
dịch và kinh Phật Thuyết Pháp ấn Kinh
của Thi Hộ dịch đều dùng danh từ vô
tưởng để dịch danh từ animitta của
Phạn ngữ. Kinh 80 của Tạp A Hàm do Cầu Na
Bạt Ðà La dịch thì dùng danh từ vô
tướng, và danh từ vô tướng
về sau này đã trở thành phổ
thông hơn.
Người
đã thành công trong phép quán không
thì có thể thành công dễ dàng trong
phép quán vô tướng. Các kinh
Thánh Pháp ấn và Tạp A Hàm
đều nhấn mạnh rằng phải thấy
được không thì mới thấy
được vô tướng. Ðiều
này thật quan trọng. Vô tướng
có liên hệ mật thiết tới không: tri
giác của ta cho ta cái cảm tưởng là
mọi sự vật đều có vị trí
riêng, hình tướng riêng và bản
chất riêng của chúng, trong khi đó
vạn vật nương nhau mà sinh khởi, cái
này có vì cái kia có, cái này
nằm trong cái kia và không có vật
gì có tự thể hay bản ngã riêng
biệt
Ví
dụ cái bàn không phải là một
thực thể riêng biệt; sự có mặt
của cái bàn tùy thuộc vào sự
có mặt của gỗ, của cưa, của
bào, của người thợ mộc và của
ngàn vạn hiện tượng khác, nếu ta
rút gỗ, cưa, bào, đinh, thợ mộc v.v..
ra, thì cái bàn không có mặt và
ta tìm không ra hình tướng của cái
bàn. Ðã không có bản chất
riêng biệt thì hình tướng cũng
chỉ là giả tạo, không hiện thực. Ta
thử lấy một ví dụ: nước. Trong ngôn
ngữ hóa học, nước là H2O. Ta tạm cho
H2O là tự tính của nước, như ta
gọi Không là tự tính của vạn
hữu. Nước đồng thể với tuyết,
với sương, với mây, với băng;
nước có mặt trong không khí, trong
cây lá, trong sinh vật. Những hình
tướng của nước, của H2O, loãng, đặc,
nhẹ, nặng, lớn, nhỏ, mỏng, dày và
những hình thái của các bình
đựng mà nước chấp thuận theo như
vuông, tròn, bầu, dài v.v... đều là
những tướng của nước. Kẹt
vào một trong những hình tướng này
thì không thấy được tự thể
của nước, tức là của H2O. Phép
quán vô tướng là phép quán
giúp ta không bị kẹt vào những dữ
kiện của tri giác để đi được
vào trong lòng thực tại
Trong
kinh Anuràdhasutta (Samyutta- Nikaya), A Nậu
Lâu Ðà đã cùng Phật đi
tìm bản chất riêng biệt của Phật.
Phật hỏi A Nậu Lâu Ðà xem có
thể tìm thấy Phật nơi năm uẩn
không, A Nậu Lâu Ðà nói không.
Ngài hỏi có thể tìm thấy Phật
ngoài năm uẩn không, A Nậu Lâu
Ðà cũng trả lời không. Không thể
tìm thấy Phật vì Phật là vô
tướng. Nhận Phật qua hình tướng,
dù là tướng hữu hay tướng vô, đều
là sai lầm. Kinh Kim Cương Bát Nhã
của Ðại Thừa cũng lấy đề tài
này. Phật hỏi Tu Bồ Ðề rằng có
thể nhận ra Phật qua sắc tướng không,
Tu Bồ Ðề nói không. Phật nói:
“Bất cứ cái gì có tướng
đều là hư vọng. Nếu thấy
được rằng các tướng không
phải là tướng, thì thấy
được Như Lai.”
Tướng
tức là đối tượng của tri giác
và là nội dung của tri giác vậy.
Nếu kẹt vào tướng thì không
thể thấy được thực tại, vì
vậy phép quán vô tướng là
phép quán giúp người hành giả
vượt thoát được tính cách
hư ảo của đối tượng tri giác. Ta
hãy đọc kinh văn: “Lại nữa, an
trú trong định mà quán sát các
đối tượng hình sắc thì hành
giả thấy hình sắc đều tan biến hết
và người ấy thoát ly được
tính cách hư ảo của tri giác về
hình sắc. Các đối tượng
khác là thanh, hương, vị, xúc và pháp
cũng đều tan biến hết và hành
giả thoát ly được tính cách hư
ảo của tri giác về thanh, hương, vị,
xúc và pháp. Phép quán sát
này gọi là vô tướng, cửa giải
thoát thứ hai.”
Vô
tướng cũng là vô tưởng: vô
tướng là đứng về phương diện
đối tượng nhận thức mà nói,
còn vô tưởng là đứng về
phương diện chủ thể nhận thức mà
nói. Khi đối tượng nhận thức
hiển lộ tính cách vô tướng của
nó thì chủ thể nhận thức là
vô tưởng. Tưởng là uẩn thứ ba
của năm uẩn, đó là tri giác. Tri
giác, một khi không còn bị kẹt vào
tính cách hư vọng của đối
tượng thì được gọi là vô
tưởng. Vô tưởng không có nghĩa
là vô tri vô giác, mà vẫn là
một cái thấy, một thứ tri kiến. Thứ
tri kiến không bị hình tướng dẫn
dắt và bó buộc được gọi
là tri kiến thanh tịnh. Với tri kiến
này, không còn sự phân biệt chia
cắt nữa, cho nên những cái thấy sai
lạc như ta và của ta được phá
đổ tận gốc. Ý niệm về ta và
của ta không còn, thì gốc rễ của
tham lam, hờn giận và si mê cũng
được đào bỏ. Ta đọc lại kinh
văn: Vào được cánh cửa giải
thoát này rồi thì tri kiến sẽ
được thanh tịnh, và vì tri kiến
đã thanh tịnh nên hành giả diệt
trừø được hết các phiền
não tham, sân, và si. Tham sân si đã
tận diệt thì lìa được những
cái thấy về ta và về của ta, nghĩa
là chấm dứt được mọi cái
thấy sai lầm. Các cái thấy này
không còn cơ hội và căn cứ
để sinh khởi nữa.
Tiếng
nimitta (tướng) có nghĩa là hình
ảnh, tướng mạo, đối tượng
của nhận thức. Phạn ngữ còn
tiếng laksana cũng có nghĩa là tướng
trạng, cũng có nghĩa là đối
tượng của nhận thức. Ngành pháp
tướng học của đạo Phật nghiên
cứu về tướng trạng của vạn pháp
để từ đó đi vào tự thể
của vạn pháp . Con đường đó
gọi là “từ tướng trạng của
vạn pháp đi vào thể tính của
vạn pháp” (tùng tướng nhập
tánh). Học phái tân duy thức của
Dinnaga (Trần na) phân biệt hai loại tướng:
tự tướng và cọng tướng. Tự
tướng (svalaksana) bản thân của thực
tại, còn cọng tướng (samànya) là
những khuôn khổ mà nhận thức mang
vào cho tự tướng. Theo nghĩa đó
thì vô tướng của kinh Pháp ấn
tức là sự vắng mặt của cọng
tướng vậy.
Tông
Thiên Thai có ba phép quán: không, giả
và trung. Phép quán thứ hai, giả quán,
nhằm mục đích khai thị tính cách
hư ảo, không thật và giả tạm
của các pháp. Phép quán này cũng
nằm trong truyền thống phép quán vô
tướng.
Phép
quán vô tướng mà thành công
cũng giúp cho hành giả thấy được
tính cách bất sinh bất diệt của vạn
pháp.
5)
Cánh cửa giải thoát thứ ba là vô
tác. Danh từ vô tác (apranihita) có
nghĩa là không đặt một đối
tượng nào phía trước mình.
Trước hết nó có nghĩa rằng
đối tượng nhận thức không phải
là một vật độc lập với nhận
thức, nằm ở ngoài nhận thức. Nhận
thức bao hàm chủ thể nhận thức và
đối tượng nhận thức. Thấy bao
giờ cũng là thấy một cái gì, nghe
bao giờ cũng là nghe một cái gì.
Không có thể có một cái thấy
và một cái nghe thuần túy chủ thể
không có đối tượng. Không có
đối tượng thì không phải thấy,
không phải nghe. Vô tác là cái
nhìn siêu việt được tính cách
nhị nguyên đối với chủ thể và
đối tượng. Duy thức học sau này
phân biệt kiến phần (chủ thể nhận
thức - darsana-bhàga) với tướng phần
(mmittabhàga) và nhấn mạnh hai phần này
nương nhau mà sinh khởi, cái này có
thì cái kia mới có. Ta đọc câu
này trong kinh Pháp ấn : thoát ly
được cái thấy về Ta rồi thì
không còn cho rằng những sụ vật mà
ta thấy, nghe, cảm và biết là nhũng
sựï vật có thật ngoài nhận
thức nũa. Vì sao thế? Vì nhận thúc
cũng chính là do nhân duyên mà
phát sinh. Những nhân duyên ấy tức
là kiến phần (chủ thể nhận thức)
và tướng phần (đổi tượng
nhận thức) vậy. Nhân duyên có
nghĩa là nhân và duyên. Chữ nhân
(hetu) thường được gọi là nguyên
nhân chính và duyên là những
điều kiện phối hợp để cho nhân
trưởng thành. Nhân cũng là một
duyên. Ngoài ra còn có tăng
thượng duyên, tức là những
điều kiện giúp rập, sở duyên
duyên, tức là đối tượng nhận
thức, và đẳng vô gián duyên,
tức là sự nối tiếp không gián
đoạn của dòng nhân quả. Nhận
thức cần đến tất cả bốn duyên
để sinh khởi, biến chuyển và hoại
diệt; nhận thức cũng biến chuyển và
sinh diệt như các nhân duyên làm phát
khởi ra nó.
Ta
hãy đọc tiếp: Nhận thức và
các nhân duyên làm phát khởi ra
nhận thức đều biến chuyển vô
thường mà vì thức vô thường cho
nên ta cũng không nắm bắt được.
Thứùc uẩn đã không như bất
cứ hiện tượng nào khác thì
còn có gì cần được tạo
tác thêm nữa đâu? “Thức uẩn
đã không”, ta phải nhớ rằng
không ở đây là không có thực
thể riêng biệt, không nắm bắt
được chứ không phải là không
đối với có.Không ở đây
không phải là nền tảng của có,
mà cũng không phải là nền tảng
của không, mà là nền tảng của cả
có và không. Nó siêu việt có
và không, nó thu nhiếp vạn pháp,
vì vậy ta không thể làm cho nó
giàu thêm hoặc nghèo thêm. Ðó
là ý nghĩa của bốn chữ “bất
tăng bất giảm” trong Tâm Kinh Bát
Nhã. Vô tác vì vậy còn có
nghĩa là không có gì cần
được tạo tác nữa, không có
gì cần được thực hiện nữa,
kể cả sự giác ngộ, đạt
đạo, chứng quả hay đắc đạo. Ði
tìm cầu một sự giác ngộ ngoài
tự tâm là một điều sai lầm.
Hướng tới một tương lai trong đó
giác tính của mình sẽ tròn
đầy hơn là một điều sai lầm.
Tự tính giác ngộ đã có
đầy đủ nơi mọi người; đi
tìm giác ngộ ngoài tâm cũng như
hạt muối đi tìm chất mặn. Trong bài
thơ “Bướm bay vườn cải hoa
vàng” có một câu nói về việc
này. “Công trình xây dựng ngàn
đời, nhưng công trình, em ơi, đã
được ngàn đời hoàn
tất”. Vô tác sau này sẽ là
nền tảng cho vô đắc vậy. Tâm
Kinh Bát Nhã nói: “Không có
đắc vì không có sở đắc
vậy.”
Thấy
được các pháp không có mặt
riêng biệt ngoài nhận thức, thấy
được nhận thức không có mặt
riêng biệt ngoài các pháp, đó
là đạt được cái thấy thực
sự bình đẳng không phân chia, trong
đó các pháp hiện rõ tính
cách niết bàn của chúng. Niết bàn
có nghĩa là tịch diệt; chữ tịch
diệt đây có nghĩa là sự vắng
mặt của những ý niệm ta và của ta,
ta và người, sinh và diệt, thường
và đoạn, một và nhiều. Thấy
được các pháp như vậy mới
thật sự là thấy được các
pháp một cách cứu cánh. Ta hãy
đọc kinh văn: Phép quán sát này
được gọi là vô tác, của
giải thoát thứù ba. Vào được
cửa giải thoát này rồi thì thấy
đựơc chân tướng các pháp
một cách triệt để, không còn
bị kẹt vâo một pháp nào nữa
và thể nghiệm được tính cách
niết bàn của các pháp.
Kinh
Tạp A Hàm do Cầu Na Bạt Ðà La dịch
đã dùng danh từ “vô sở
hữu’ (không có) để dịch danh từ
apramhita, thay vì dùng danh từ vô tác Sau
này có người lại dùng danh từ
vô nguyện. Tự điển Phật học của
Nyanetiloka (Buddhist Dictionary, manual of Buddhist Terms and Doctrines)
đã dùng danh từ desireless. Nhà học
giả Anh Edward Conze trong các tác phẩm nghiên
cứu của ông đã dùng danh từ
wishlessness.
6)
Ðoạn khép của kinh gọi ba cánh cửa
giải thoát là pháp ấn, và nhắc
lại rằng mục tiêu của ba phép quán
này là đi đến tri kiến thanh tịnh.
V.
Ðạo Phật trước
hết là con đường đưa đến
giải thoát bằng trí huệ chứ không
phải bằng đức tin và bằng sự
cấm đoán luân lý. Những khai
thị của đạo Phật về vô
thường, vô ngã, không, vô tướng,
vô tác v.v... là để hướng dẫn
hành giả đạt tới nhận thức về thực
tại chứ không phải là những tiền
đề để đi tới các kết luận
luân lý, như cách nói: đời là
vô thường cho
nên ta không nên tham
đắm, sự vật là không cho nên ta phải chán bỏ v.v. . . Nhiều nhà kết tập kinh
điển và nhiều luận gia A Tỳ Ðạt
Ma thường hay quên đi nguyên tắc căn
bản của đạo Phật là giải thoát bằng trí tuệ cho nên cứ có khuynh hướng
diễn tả đạo Phật trước hết
như là một nền luân lý, do đó
đã có thể gây ấn tượng sai
lầm cho một số người học Phật
đời sau. Vô tác được hiểu
là vô dục (desirelessness) cũng vì lý do
đó. Vô tác phải được hiểu
trên bình diện nhận thức luận, cũng
như không và vô tướng vậy.
Ta
biết đoạn thứ ba của kinh văn nói
về không, đoạn thứ tư nói
về vô tướng và đoạn thứ
năm nói về vô tác. Ta hãy
trở lại đoạn thứ hai của kinh văn;
đoạn này nói về không như
tự tính của các pháp và của
nhận thức. Trong đoạn này, ý niệm
về ba cánh cửa giải thoát cũng
đã được đề cập tới . Kinh
văn như sau: Tự tính của không là
không nằm trên bình diện có không,
không nằm trong khuôn khổ các vọng
tưởng, không có tướng sinh, không
có tướng diệt và vượt thoát
mọi tri kiến. “Không nằm trên
bình diện các pháp hữu vi (vô sở
hữu)” đó là Không
“không nằm trong khuôn khổ các vọng
tưởng (vô vọng tưởng)” đó
là vô tướng; “không có
tướng sinh, không có tướng diệt
và vượt thoát mọi tri kiến (vô
sở sinh, vô sở diệt, ly chư tri kiến)”
là vô tác vậy. Ðoạn kinh văn
này như vậy đã bao hàm ý niệm
ba cánh cửa giải thoát, vì vậy cho
nên Phật đã nói “đó là
Pháp ấn”. Ba đoạn kinh văn tiếp
sau chỉ là để chỉ bày rõ
ràng thêm ba phép quán giải thoát
mà thôi.
Kinh
Pháp ấn tuy thuộc về kinh bộ A Hàm
của Phật giáo nguyên thỉ, nhưng trong kinh
đã chứa sẵn hạt giống của các
tư tưởng hệ bát nhã, duy thức
và viên giác. Ðây là một trong
những kinh căn bản nhất của đạo
Phật. Ðọc kinh bằng con mắt của Phật
giáo đại thừa, hành giả sẽ
thấy được những ý tứ sâu xa
hàm chứa trong kinh và có thể hiểu
được những câu kinh mà người
kết tập hoặc người dịch đã
thiếu ít nhiều khéo léo khi diễn
tả. Trong kinh Pháp ấn có một câu
như thế. Ðó là câu: “Phục
thứ, ly ngã kiến dĩ, tức vô kiến
vô văn vô giác vô tri.”
Nếu
dịch từng chữ ta sẽ có: Lại nữa,
lìa ngã kiến rồi thì không (còn)
thấy, không (còn) nghe, không (còn) cảm,
không (còn) biết. Người học giả
sơ cơ sẽ có thể hoang mang trước
một câu kinh như thế. Tại sao lìa
được ngã kiến mà không còn
thấy, nghe, cảm biết? Lìa ngã kiến
thì biến thành vô tri hay sao? Do đó,
căn cứ trên văn mạch và trình
tự tư tưởng, chúng tôi đã
dịch câu kinh đó như sau: “Thoát
ly được cái thấy về ta rồi thì
không còn cho rằng những sự vật mà
ta thấy, nghe, cảm và biết là những
sự vật có thật ngoài nhận thức nữa
‘? Xin kèm theo bản Hán dịch của Thi
Hộ để các bậc cao minh cứu xét.
VI. Từ ngữ
- Pháp ấn:
Chữ pháp ở đây có nghĩa là
giáo pháp của Phật. Chữ ấn có
nghĩa là khuôn dấu, tức là
phương tiện chứng minh cho tính cách
chân xác và chính thống của
đạo Phật.
- Xá Vệ:
Sràvasti, một vương quốc nhỏ cácCa
Tỳ La Vệ (Kapilavastu) chừng năm trăm dặm
về phía Ðông Bắc. Bây giờ là
thành Rapetmapet ở phía
- Khất sĩ.
dịch từ chữ bhiksu, những vị xuất gia
thời Phật còn tại thế, mỗi ngày
đi khất thực một lần để nuôi
thân và để có dịp gặp gỡ
và giảng dạy đạo lý cho người
cư sĩ. Dịch âm là tỳ khưu hay
bí-sô. Kinh Pháp ấn dùng danh từ
bí-sô.
- Thế Tôn:
một trong mười danh hiệu thường
được dùng để gọi Phật. Thế
Tôn (Bhagavàn) có nghĩa là bậc tôn
quý ở đời.
- Không:
Phạn ngữ là sùnyatà, có nghĩa
là trống rỗng. Không ở đây có
nghĩa là không có tự thể riêng
biệt, không thể nhận thức bằng các
phạm trù tri giác và tư tưởng,
chứ không có nghĩa là hư vô,
không có nghĩa là không đối với
có
- nắm bắt:
dịch chữ upàdàna, danh từ hán việt
là thủ hay trước, có nghĩa là
bị kẹt vào, mắc vào, không buông
thả được.
- cái thấy
bình đẳng: dịch chữ bình
đẳng kiến, cái thấy không chia cắt
thực tại thành từng mảnh nhỏ riêng
biệt và rời rạc, cái thấy trong
đó các ý niệm về ta và
người, sinh và diệt, một và nhiều
v.v.. . đã được phá bỏ. Cái
thấy này là một thứ trí tuệ
giác ngộ, gọi là
bình-đẳng-tánh-trí (samatàjnàna).
- Ba cánh cửa
đi vào giải thoát: tam giải thoát
môn, Phạn ngữ gọi là trivimoksha-dvara,
tức là Không (sùnyatà), Vô
tướng (animitta) và Vô tác (apranihita).
- quán chiếu
trong lòng thực tại: dịch từ
bốn chữ “như thật quán sát”.
Như thật ở đây có nghĩa là
đi thẳng vào thực tại chứ không
đứng bên ngoài thực tại mà
quán sát thực tại như một đối
tượng khách quan. Ðây là điểm
khác biệt giữa Phật học và Khoa học
xưa nay.
- uẩn: có
khi gọi là ấm, dịch từ chữ skandha
của Phạn ngữ, có nghĩa là nhóm
họp và ngăn che. Năm uẩn kết hợp
thành sinh mệnh và cũng có tác
dụng ngăn che cái thấy về thực tại.
Năm uẩn là sắc (vật chất, rùpa),
thọ (cảm giác. vedanà), tưởng (tri
giác, sanjnà), hành (tâm tư.
samskàra) và thức (nhận thức,
vijnàna).
- Cái thấy
(sai lầm) : dịch từ Phạn ngữ drsti, từ
hán việt là kiến, thường hay dùng
trong nghĩa tà kiến, tức là nhận
thức sai lầm. Có nhiều nhóm kiến như
nhị-kiến, tứ-kiến, ngũ-kiến, v.v...
- nhân duyên
: Nhân (hetu) là nguyên nhân chính, như
hạt lúa, duyên (pratyayÏa) là những
điều kiện trợ lực cho nhân như
đất, nước và ánh sáng làm cho
hạt lúa mọc thành cây lúa.
- triệt để
dịch từ chữ cứu cánh, có nghĩa
là tận gốc, hoàn toàn.
- tịch diệt: dịch
từ chữ niết bàn, có nghĩa là
thoát ly được các phạm trù
có-không, sinh-tử, này-kia, một-nhiều,
trước-sau, thường-đoạn, v v Tịch diệt
không có nghĩa là hư vô, bởi
vì tịch diệt siêu việt cả có
và không.
- sắc thanh,
hương, vị, xúc và pháp:
đây là sáu loại đối tượng
của tri giác, gọi là lục trần,
đối với sáu loại giác quan gọi
là lục căn. Pháp là đối
tượng của ý căn, làm phát sinh
ý thức.