
KINH
ĐẠI-THỪA LƯ-THÚ LỤC BA-LA-MẬT-ĐA
PHÁT BỒ-ĐỀ-TÂM
NAM-MÔ THẬP
PHƯƠNG THƯỜNG-TRỤ TAM-BẢO
Một năm
trọn,
Dịp
kỷ-niệm Phật-Tổ thành-đạo năm ngoái
(1956) tôi tâm-nguyện phiên-dịch và ấn-hành trọn
năm những cuốn kinh mỏng, thông-thường,
phổ-biến cho các hàng Phật-tử sơ-cơ.
Hoàn-cảnh vô
cùng khó-khăn, phức-tạp, chỉ một ḷng
nhẫn-nại, tin-tưởng nơi Tam-bảo gia-hộ,
vừa trong kỳ kỷ-niệm Phật-Tổ
thành-đạo năm nay (1957), 12 tập gồm 22 quyển
và 4 phẩm nhỏ được ra đời.
Ghi lại
một ư-nguyện đầu, xin chân-thành dâng lời
sám-hối và niệm ân lên Tam-bảo chứng-minh.
Hồi-hướng công-đức tới quư Thày, quư
Đạo-hữu đă phát-tâm cúng kinh và trợ-thành
những kinh này, cùng tứ ân, lục đạo,
pháp-giới chúng-sinh, đều trọn thành
Phật-đạo.
Thích-Tâm-Châu
KINH
ĐẠI-THỪA LƯ-THÚ LỤC BA-LA-MẬT
PHÁT BỒ-ĐỀ-TÂM(1)
- Đường, Bát-Nhă dịch chữ
Phạm ra chữ Hán
- Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ Việt.
Source:
Chùa Di Đà
Khi đức Thế-Tôn
nói ra những tiếng như Sư-Tử gầm (2),
hiển-minh Bí-mật Tổng-tŕ-môn (3) rồi, liền
đó, Đại Bồ-Tát Di-Lặc (Từ-Thị),
từ ṭa ngồi của ḿnh đứng dậy, chễ áo
vai hữu, gối hữu quỳ xuống đất,
dốc ḷng, chắp tay, hướng lên đức Phật,
bạch rằng: "Quư-hóa thay, quư-hóa thay! Đại Thánh
Thế-Tôn, thường đem tâm đại-bi tán-thán và nói
ra "Bí-mật cam-lộ-thắng Đà-la-ni (4) như
thế, để thủ-hộ quốc-giới, kính xin
đức Thế-Tôn thương xót chúng-sinh, diễn nói
pháp Vô-thượng Bồ-Đề, khiến những
hữu-t́nh (chúng-sinh) chưa phát tâm, làm sao phát tâm
được? Hữu-t́nh phát tâm rồi, làm sao tu-hành
được? Và, do nhân-duyên ǵ không thoái-chuyển
được Đại-thừa-tâm.(5)
Bấy giờ,
đức Thế-Tôn bảo Đại Bồ-Tát
Di-Lặc: "Nếu có thiện-nam-tử,
thiện-nữ-nhân, muốn v́ hữu-t́nh, tu hạnh
Đại-thừa và muốn độ hữu-t́nh
đến đại Niết-Bàn, trước tiên cần
phải phát năm tâm thù-thắng. Năm tâm thù-thắng
ấy là ǵ? - Một là, đối với các hữu-t́nh,
phát tâm đại-từ-bi, b́nh-đẳng rộng
khắp. Hai là, đối với
Nhất-thiết-chủng-trí(6), tâm không thoái-chuyển. Ba là,
đối với các hữu-t́nh, khởi ra ư-tưởng
như bạn thân và trong mọi hiểm-nạn, thề
sẽ cứu-hộ họ. Bốn là, đối với
hữu-t́nh, thường khởi ra ư-tưởng là mang
nợ họ. Năm là, thường mang ḷng
thẹn-hổ, nghĩ biết thời nào trả xong
nợ họ? Người phát được năm tâm
như thế, quyết chóng chứng được
quả Vô-thượng Chính-đẳng chính-giác".(7)
Lại nữa,
Đại Bồ-Tát Di-Lặc! Thế nào là đối
với trong Đại-thừa, nhất tâm tu-hành,
được bất-thoái-chuyển? - Như thời xa
xưa, có một thương nhân thông-minh, sáng-suốt,
thường làm việc nhân-từ, hiếu-thuận,
thấy cha mẹ, họ-hàng nghèo khổ, thường
thường buồn rầu, bức-thiết thân-tâm,
biết dùng phương-tiện ǵ cung-cấp,
giúp-đỡ được? Thương-nhân ấy
suy-nghĩ rằng: "Không ǵ hơn là vào bể, nhặt
ngọc Như-ư-bảo(8), đem về cung-cấp, mới
khỏi được sự nghèo khổ!" V́ nhân-duyên
ấy, thương-nhân kia phát tâm dũng-mănh, không tiếc
thân-mệnh, liền từ nhà ra đi, dùng bao
phương-tiện, t́m-ṭi tư-lương
(lương-thực, vật-dụng), cùng t́m các bạn
lành, thuyền và thuyền-sư (lái thuyền).
Trong khi
thương-nhân ấy đi đến nửa đường,
gặp một người lạ, từ bể trở
về, người lạ kia hỏi thương-nhân
ấy rằng: "Ông muốn đi đâu, t́m ǵ mà
vội-vàng thế?" Thương-nhân ấy trả
lời đầy-đủ những nhân-duyên như trên: v́
muốn cứu giúp những người bần-cùng, nên nay
muốn vào bể, t́m ngọc Như-ư-bảo, đem về
tư-cấp cho họ. Người lạ kia nói:
"Trước kia tôi bỏ nhà ra đi, cũng như
thế, v́ muốn cứu giúp thân-tộc bị những
khổ-năo bần-cùng. Khi tôi phát tâm bỏ nhà ra đi
rồi, trên đường đi, tôi gặp nhiều
nguy-nan, nào trải qua những đồng rộng, qua
những băi cát sỏi (sa-mạc) mông-mênh, không có một chút
nước, một cây cỏ, lại nhiều những voi
đồng, hổ, báo, sài-lang, rắn độc,
sư-tử...; hoặc gặp giặc cướp, núi to,
sông lớn, đói khát, rét, nóng, kinh-rợn, sợ-hăi. Qua
được nơi ấy, tôi cùng Thuyền-sư vào
tới bể lớn lại gặp gió to, cá lớn, ác-long,
sấm chớp, mưa đá, sóng vỗ, nước xoáy...
có nhiều lưu-nạn, không thể nói hết
được. Tuy chịu đựng những khổ-nạn
như thế, nhưng vẫn không t́m được
ngọc Như-ư-bảo, mà chỉ được những
thứ giúp cho thân-thể, tạm cung-cấp đủ cho
ḿnh, chứ chưa thể cứu giúp được
sự nghèo thiếu của thân-tộc. Nay tôi khuyên
Nhân-giả, không nên gượng chịu sự gian-khổ
ấy, chỉ nhọc mệt cho ḿnh mà thôi! Tôi muốn cùng
Nhân-giả sắp đặt việc khác, ở nơi khác.
Tại sao vậy? V́, trong bể lớn kia có nhiều
tai-nạn, chứ không phải là một nạn, nào:
hắc-phong, hắc-sơn, Dược-soa, La-sát, cá ḱnh,
giảo-long..., nhưng, chỉ từng nghe nói cái tên
ngọc Như-ư, thực ra ngh́n vạn người đi
t́m ngọc, chưa chắc một, hai người đă
được viên ngọc quư ấy. Bởi nhân-duyên
ấy, tôi khuyên Nhân-giả nên quay về sớm đi
thôi!"
Lúc đó,
thương-chủ kia nghe lời ấy rồi, càng thêm
tăng-tiến, phát ra ba tâm thù-thắng, quyết vào bể
t́m ngọc không lùi. Ba tâm thù-thắng ấy là ǵ? - Một là
nghĩ rằng cha mẹ, anh em, họ-hàng nghèo khổ
như thế, nỡ nào ta về không, không cứu giúp cho
nhau được ǵ? Hai là, nghĩ rằng thân-thuộc
của ta, thời trước giàu có, làm ơn giúp ta cơm
ăn, áo mặc, thương xót ta nhiều, ngày nay bị
bần-cùng, thân-mệnh không cứu toàn được, ta
nỡ nào buông bỏ như thế, mà muốn lui trở
về? Ba là, nghĩ rằng ta khi ở nhà, trông nom việc
nhà, sai khiến tôi-tớ lớn, nhỏ, lại c̣n quở
trách mọi thứ, nỡ nào họ nghèo khổ, ta không
thương, giúp họ, để họ được
vui vẻ, mà lại muốn lùi trở về? Do nhân-duyên
ấy, nghĩ đến việc trả ân-đức,
thương-nhân kia phát tâm đại-dũng-mănh,
quyết-định tiền-tiến, cốt vào trong
bể, t́m Như-ư-bảo, được rồi về
nhà, đem giúp cho thân-thuộc, tha hồ tiêu dùng, khỏi
sự gian-nan, cùng cực măi măi".(9)
Vị
Đại Bồ-Tát cũng như thế: Đại
Bồ-Tát phát Bồ-Đề-tâm, quán-tưởng
lục-thú, tứ-sinh(10) trong mười phương,
đều là cha mẹ ta đời trước, v́
thương xót ta, nên tạo mọi nghiệp ác, phải
sa-đọa vào trong địa-ngục, ngă-quỉ, súc-sinh,
chịu mọi sự khổ-năo. Bởi nhân-duyên ấy, ta
tự suy-nghĩ: "dùng phương-tiện ǵ,
để cứu giúp cho những người bị
khổ-nạn ấy? Khởi ư-niệm ấy rồi,
thấy chỉ có vào trong bể đại-pháp Lục
Ba-la-mật-đa, cầu Phật-chủng-trí, mới có
thể cứu giúp được nỗi khổ sinh-tử
cho hữu-t́nh được! Bồ-Tát suy-nghĩ như
thế rồi, phát tâm đại-dũng-mănh, không
thoái-khuất, tinh-tiến cần cầu, không
lười-biếng, chán-nản, dùng bao
phương-tiện, t́m-ṭi tư-lương, t́m bạn
lành giác-ngộ (Bồ-Đề) cùng Pháp (chính-pháp) và
Pháp-sư.
Khi Bồ-Tát
đi đến nửa đường, gặp một
Ma-vương, thống-lĩnh đồ-chúng, hoặc nó
hiện làm thân h́nh người cơi Trời, hoặc nó
hiện làm thân người, hoặc nó hiện làm thân h́nh
người Bà-la-môn, hoặc nó hiện làm thân người
chủ đi buôn, hoặc nó hiện làm thân h́nh vị
Bật-sô, Bật-sô-ni, hoặc nó hiện làm thân h́nh các loài
khác. Ma-vương kia liền hỏi Bồ-Tát phát tâm
ấy rằng: "Nay ngài muốn đến nơi nào mà
vội-vàng thế? - Bồ-Tát ấy đáp: "Tôi v́
hết thảy chúng-sinh bị khổ-năo, nay muốn vào
trong bể lớn lục-độ, cầu
Phật-chủng-trí Như-ư Bảo-châu, để cứu
giúp hết thảy chúng-sinh bị nghèo thiếu".
Ma-vương lại nói: "Tôi khi mới phát tâm cũng
thế, v́ muốn độ hết thảy chúng-sinh bị
khổ-năo ra khỏi nhà sinh-tử, tôi qua nơi
đồng-nội, sa-mạc đại lưu-chuyển
(trôi giạt, lăn lộn măi), chịu đủ tất
cả sự đói khát, trộm giặc, sợ-hăi mọi
nạn, chứ không phải một nạn, mới
đến được trong bể lục-độ đại-pháp.
Hoặc có khi gặp người xin đầu, hoặc
gặp người xin mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
tay, chân, chi-tiết, tim, phổi, ruột, dạ-dầy, gan,
mật, lá lách, thận, cho đến nước, thành,
vợ, con, con ở trai, con ở gái, người
sai-khiến, những thứ như trên, tùy ai xin cái ǵ
sẽ cho cái ấy, không sinh ḷng sẻn-tiếc, chỉ
cần cầu trí-bảo (viên ngọc trí-tuệ, tức
Phật-trí).Trải vô-lượng kiếp sinh-tử
lưu-chuyển trong bể khổ, tuy chịu mọi
sự khổ-nạn, vẫn không được
Vô-thượng Bồ-Đề, mà chỉ quay về
cầu quả A-la-hán, mới ra khỏi được ba
cơi và được tịch-diệt Niết-Bàn. Nay tôi
khuyên ngài, không nên gượng chịu sự lao-khổ
ấy, nên tự tu-tŕ, tôi muốn cùng ngài cùng bước
lên giai-vị quả ấy. Tại sao vậy, V́, tôi
nghĩ trong ba đường ác thường chịu
sự đói khổ, tâm nghĩ đến sự ăn
uống, ngửa mặt lên hư-không, có ai lại cho vào
miệng ta một bữa cơm no đâu? Mọi
khổ-nạn bức-thiết thân-tâm, mệnh người
vô thường, nhanh hơn nước trên núi chảy
xuống, bậc thiện-tri-thức (bạn lành) thời
khó gặp gỡ, nếu không tin theo, lĩnh-thụ, sau
ăn-năn sao kịp! Trong bể sinh-tử,
lưu-chuyển bất định, tâm như mặt
trăng đáy nước, có ǵ thực ư! Người
ác-trí-thức (bạn ác) dễ thấy, dễ gặp,
thường hay khuyên người thực-hành đạo
Bồ-Tát, bỏ của-cải, bỏ thân-mệnh, mong
đến đạo Bồ-Đề. Phương chi
chư Phật ra đời, bao thời-gian mới hiện
một lần, ngh́n, vạn người cầu đạo
Bồ-Đề, chưa chắc một, hai người
được. Bởi thế, tôi khuyên Nhân-giả không nên
chịu sự lao-khổ, mà nên cầu giải-thoát, tự
chứng Niết-Bàn. Lại, trong ba vô-số kiếp,
chịu mọi cần khổ, mới chứng
được Phật-quả Bồ-đề, mà đây,
thời ngay trong đời này, hay chỉ trong ba đời
sẽ chứng được quả A-la-hán, là một
bậc Vô-học, chịu sự khổ làm chi! Người
ngu-si vô-trí, tâm họ mong cầu Phật-quả, trải qua
vô-lượng kiếp, chịu mọi sự gian-khổ,
vẫn chưa nghe thấy chứng được quả
A-la-hán, phương chi là chứng được
đạo-quả Vô-thượng Bồ-Đề! Ví
như có người bắt được một con chim
nhỏ, lại trông thấy con chim Kim-sí, người
ấy liền thả con chim đă bắt được,
đang nắm trong tay, tiến về phía trước,
đuổi bắt con chim Kim-sí kia, nhưng, con chim lớn
vỗ cánh bay cao, chim con cũng bay mất. Người ngu
cầu Phật-quả, cũng như thế, bỏ
quả A-la-hán này, cầu Phật-quả kia, hai quả
đều mất cả. Đă biết thế rồi, mong
ngài sớm hồi-tâm, ngay trong đời này, ngài
quyết-định chứng được quả
A-la-hán!"
Liền khi
ấy, Bồ-Tát nghe lời ấy rồi, càng thêm
dũng-mănh, phát ra ba tâm. Ba tâm ấy là ǵ? - Một là,
nghĩ rằng hết thảy chúng-sinh từ thuở
vô-thỉ sinh-tử đến nay, đều là
thân-thuộc của ta, hoặc là bầu-bạn, hiện
đang chịu sự khổ-năo, chưa thoát khỏi
được, nỡ nào ta lùi bước trở về?
Hai là, nghĩ rằng hết thảy chúng-sinh từ
vô-thỉ đến nay, cung-cấp cho ta cơm ăn, áo
mặc, thương xót ta thâm-thiết, nay họ phải
chịu nhiều khổ-nạn trong luân-hồi, ta chưa
báo đền được họ, nỡ nào ta lại
sinh tâm thoái-chuyển? Ba là, nghĩ rằng hết thảy
chúng-sinh, từ thuở vô-thỉ đến nay, họ
đều là quyến-thuộc của ta, ta sai-khiến và
có khi lại quở-trách, ta chưa có chút ǵ thù-đáp ơn
của họ cả! Bởi nhân-duyên ấy, ta không nên
thoái-khuất, cần dũng-mănh thêm để cầu
chứng đạo-quả Bồ-Đề. Nếu
chứng được Bồ-Đề
Nhất-thiết-trí-bảo, dùng đem cứu giúp chúng-sinh
bị khổ-nạn trong sinh-tử, thế gọi là
Đại-Bồ-Tát ở trong Đại-thừa, nhất
tâm tu-hành được bất-thoái-chuyển.(11)
Lại nữa,
Bồ-Tát Di-Lặc! Ông nên biết đấy là Đại
Bồ-Tát tu hạnh Đại-thừa, phát ra năm tâm.
Trong năm tâm ấy, tâm thứ nhất là đối
với các hữu-t́nh, phát-khởi tâm đại-bi; tâm
thứ hai là v́ các hữu-t́nh cầu Nhất-thiết-trí,
tâm không thoái-chuyển; hai tâm ấy, đối với pháp
Đại-thừa, Bồ-Tát cần tinh-tiến tu-hành. Tâm
thứ ba là hết thảy hữu-t́nh đều là bạn
thân của ta; tâm thứ tư là hết thảy hữu-t́nh
đối với ta là người có ơn, ta chưa có
mảy chút ǵ thù-đáp lại; tâm thứ năm là hết
thảy hữu-t́nh đều là quyến-thuộc của
ta, ta từng đối với họ khởi ra những
nghiệp bất-thiện, quở mắng, trách phạt
phi-lư, thâm-tâm hổ-thẹn, thời nào đền trả
xong! Ba tâm ấy, khiến các Bồ-Tát dũng-mănh
bất-thoái, cho đến chứng được
đạo-quả Vô-thượng Chính-đẳng
chính-giác".(12)
Chú thích:
(1) Kinh này là cuốn kinh
số 261, trong Đại-Tạng-Kinh. Đề-mục
kinh này đă giải rơ trong quyển "Quy-y
Tam-bảo". Kinh này có 10 phẩm: phẩm Quy-y Tam-bảo
thứ nhất, phẩm Đà-la-ni thứ hai và phẩm
Phát-Bồ-Đề-Tâm đây là phẩm thứ ba. Bồ-Đề-tâm
có ba hạng: Bồ-Đề-tâm của Thanh-văn,
Bồ-Đề-tâm của Duyên-giác và Bồ-Đề-tâm
của Phật. Đây nói về Vô-thượng Bồ-Đề-tâm
tức là Bồ-Đề-tâm của Phật.
Bồ-Đề (Bodhi): Xưa dịch là
"Đạo", nay dịch là "Giác".
Phát-Bồ-Đề-tâm: Nghĩa là phát-khởi tâm cầu
Chân-đạo hay phát-khởi tâm cầu Chính-giác.
(2) Sư-tử gầm:
Sư-tử là đầu loài thú, một tiếng nó
rống lên là các loài thú khác đều khiếp sợ.
Đối với Phật đủ uy-đức, trong
đại-chúng Ngài nói ra lời ǵ là có ư
quyết-định, không sợ-hăi và trái lại, chúng nghe,
phiền-năo tiêu-tan, ma-vương sợ-hăi, nên
tỷ-dụ lời Phật nói như Sư-tử gầm.
(3)
Tổng-Tŕ-Môn: Tức Đà-la-ni-môn. Đà-la-ni (Dhàrani)
Trung-Hoa dịch là Tổng-tŕ, có nghĩa là giữ việc
thiện không mất, giữ cho ác không khởi. Lấy
niệm, định, tuệ làm thể, Bồ-Tát tu
niệm, định, tuệ đầy đủ
được công-đức ấy. Môn đây có nghĩa
là "pháp-môn". Pháp-môn Tổng-tŕ đúng ra bao gồm 4
loại: Pháp, nghĩa, chú, nhẫn, nhưng thường
chỉ cho chú-môn của Mật-giáo, gọi là
Tổng-tŕ-môn.
(4) Môn Đà-la-ni này rất
Bí-mật, vi-diệu, thù-thắng và có ư-vị giải-thoát
cam-lộ.
(5) Đây là duyên-khởi, Ngài
Bồ-Tát Di-Lặc tán-thán công-đức hiển-minh
bí-mật Tổng-tŕ-môn của đức Phật,
đồng thời Bồ-Tát Di-Lặc lại hỏi
đức Phật: làm sao cho chúng-sinh phát được
Vô-thượng Bồ-Đề-tâm, phát tâm rồi làm sao tu-hành
được và làm sao không thoái-chuyển được?
(6)
Nhứt-thiết-chủng-trí: Tức Phật-trí. Nghĩa là
dùng một trí viên-minh của Phật, biết hết
thảy đạo-pháp của chư Phật và biết
được hết thảy nhân-duyên của chúng-sinh.
(7) Trên đây đức
Phật trả lời câu hỏi của Bồ-Tát
Di-Lặc là chúng-sinh muốn tu hạnh Đại-thừa
và đạt tới Niết-bàn cần phải phát ra năm
tâm thù-thắng. Phát được năm tâm ấy thời
không thoái-chuyển và chóng chứng được
đạo-quả Vô-thượng Bồ-đề.
(8) Như-Ư-Bảo (Cintămani):
Cũng gọi là Ma-ni-châu, nghĩa là từ nơi viên
ngọc này, phát-xuất ra mọi thứ hợp với
ư-nguyện của chúng-sinh mong cầu. Như-ư-bảo
đây là tỷ-dụ cho Phật-trí tức Nhất-thiết-chủng-trí.
(9) Đoạn văn trên
đây đức Phật nói về người lái buôn, v́
có trí thông-minh, biết quán-sát thấu-đáo, biết
thương xót cha mẹ, thân-tộc, quyết-tâm phát
nguyện vào bể t́m ngọc Như-ư đem về cứu
giúp cho tất cả, mặc dầu giữa
đường có người can ngăn, gặp bao
hiểm-nạn, vẫn không sờn ḷng, nản chí, mà
đạt tới đích của ư-nguyện, để
tỷ-dụ cho vị Bồ-Tát phát tâm tu hạnh
Đại-thừa cũng phải như thế.
(10) Lục-thú: Thiên, nhân,
A-tu-la, địa-ngục, ngă-quỉ, súc-sinh. Tứ Sinh:
loài sinh trứng, loài sinh con, loài sinh nơi
ẩm-ướt, loài hóa-sinh.
(11) Trên đây nói Bồ-Tát
phát tâm tu hạnh Đại-thừa, đạt tới
Vô-thượng Bồ-đề cần nhất tâm
tinh-tiến, mặc dầu gặp nhiều chướng-ngại
và Ma-vương cám-dỗ.
(12) Đoạn văn trên
đây là kết thành về năm tâm thù-thắng.