Thöa baïn,

Kinh Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa
(Trọn bộ 24 tập)

Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm
Khảo dịch: Ḥa Thượng Thích Thiện Siêu
Sàig̣n - 1998

 

batnha.jpg (20778 bytes)

  

MỤC LỤC

* Hội đồng phiên dịch Tam Tạng   * Lời Kư Tam Tạng Thánh Giáo
* Tựa Sơ Hội Kinh Bát Nhă   * Thừa sự Tăng sai
* Đôi nét về HTThích Trí Nghiêm

* Tập 01

Quyển thứ: 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |7 | 8 | 9 | 10 | 11 |12 | 13

14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25

 * Tập 02

Quyển thứ:   26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33 | 34 | 35 | 36

 37 | 38 | 39 | 40 | 41 | 42 | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49 | 50

*  Tập 03

Quyển thứ  51 | 52 | 53 | 54 | 55 | 56 | 57 | 58 | 59 | 60

 61 | 62 | 63 | 64 | 65| 66 | 67 | 68 | 69 | 70 | 71 | 72 | 73 | 74 | 75

 * Tập 04

Quyển thứ  76 | 77 | 78 | 79 | 80 | 81 | 82 | 83 | 84 | 85

 86 | 87 | 88 | 89 | 90 | 91| 92 | 93| 94 | 95 | 96 | 97 | 98 | 99 | 100

 * Tập 05

Quyển thứ | 101 |  102 | 103 | 104 | 105

106 | 107 | 108 | 109 | 110 | 111 | 112 | 113 | 114 | 115

116 | 117 | 118 | 119 | 120 |  121 | 122 | 123 | 124 | 125

 * Tập 06

Quyển thứ: | 126| 127| 128| 129| 130| 131| 132 

133| 134| 135| 136| 137| 138| 139| 140| 141| 142

143| 144| 145| 146| 147| 148| 149| 150

 * Tập 07

Quyển thứ:   151 | 152 | 153 | 154  | 155 

156  | 157  | 158  | 159 | 160 |  161 | 162 | 163 | 164 | 165

 166 | 167 | 168 | 169  | 170 | 171 | 172 | 173 | 174 | 175

 * Tập 08

Quyển thứ:  | 176 | 177 | 178 | 179 | 180 |

181 | 182 | 183 | 184 | 185 | 186 | 187 | 188 | 189 | 190

191 | 192 | 193 | 194 | 195 | 196 | 197 | 198 | 199 | 200


 
* Tập 09

Quyển thứ:  | 201 | 202 | 203 | 204 | 205 | 206 |

 207 | 208 | 209 | 210 | 211 | 212 | 213 | 214 | 215 | 216 | 217 | 218 

219 | 220 | 221 | 222 | 223 | 224 | 225

 * Tập 10

Quyển thứ:  | 226 | 227 | 228 | 229 | 230 | 231 | 232 | 233 |

 | 234 | 235 | 236 | 237 | 238 | 239 | 240 | 241 | 242 | 243 |

  |244 | 245 | 246 | 247 | 248 | 249 | 250|

 * Tập 11

Quyển thứ:  | 251 | 252 | 253 | 254 |  255 | 256 |  

257 |  258 |  259 | 260 |  261 | 262 |  263 | 264 |  265 | 266 |

267 |  268 |  269 |  270 | 271 |  272 |  273 | 274 |  275

 * Tập 12

Quyển thứ:  276| 277| 278| 279| 280|

281| 282|  283| 284| 285| 286| 287| 288| 289| 290

291| 292| 293| 294| 295| 296| 297| 298| 299| 300

  * Tập 13

Quyển thứ: | 301 | 302 | 303 | 304 | 305

306 |307 | 308 | 309 | 310 | 311 | 312 | 313 | 314 | 315

 316 | 317 | 318 | 319 | 320 | 321 | 322 | 323 | 324 | 325

 * Tập 14

Quyển thứ:  | 326| 327|  328| 329|  330|

 331| 332| 333|  334|  335| 336| 337|  338|  339| 340

 341| 342| 343|  344|  345|  346|  347|  348|  349| 350

 * Tập 15

Quyển thứ: |  351 | 352 |  353 | 354 | 355

 356 |  357 | 358 | 359 | 360| 361| 362 | 363 | 364 | 365

366 | 367 | 368 | 369| 370| 371| 372 | 373 | 374 | 375



 

 * Tập 16

Quyển thứ:  |  376| 377 | 378 | 379 | 380

 381 | 382 | 383 | 384 | 385 |  386 | 387 | 388 | 389 | 390  

391 |  392 | 393 | 394 | 395 | 396 | 397 |  398 | 399 | 400

 * Tập 17

Quyển thứ:  | 401  | 402  | 403  |  404  | 405

406  | 407  | 408  | 409  | 410  | 411  | 412  | 413  | 414  | 415

 416  | 417  | 418  | 419  | 420  | 421  | 422  | 423  | 424  | 425

 * Tập 18

Quyển thứ: 426  | 427 | 428  | 429 | 430

431  | 432 | 433 | 434 | 435 | 436 | 437 | 438 | 439 | 440

 441  | 442 | 443 | 444 | 445 | 446 | 447 | 448 | 449 | 450

 * Tập 19

Quyển thứ:  451| 452 | 453 | 454 | 455

 456| 457| 458 | 459| 460| 461| 462| 463| 464| 465

466| 467 | 468 | 469| 470| 471| 472| 473| 474| 475

 * Tập 20

Quyển thứ:  | 476| 477| 478| 479| 480

481 | 482 | 483 | 484 | 485 | 486 | 487 | 488 | 489 | 490

491 | 492 | 493 | 494 | 495 | 496 | 497 | 498 | 499 | 500

 * Tập 21

Quyển thứ: 501 | 502 | 503 | 504 | 505

 506 | 507 | 508| 509| 510|  511 | 512 | 513 | 514 | 515

 516 | 517 | 518 | 519 | 520 | 521| 522 | 523 | 524 | 525

 * Tập 22

Quyển thứ: | 526 | 527 | 528 | 529 | 530

531 | 532 | 533 | 534 | 535 | 536 |537 | 538 | 539 | 540

541 | 542 | 543 | 544 | 545 | 546 | 547 | 548 | 549 | 550

 * Tập 23

Quyển thứ: 551 | 552 | 553 | 554 | 555

 556 | 557 | 558 | 559 | 560 | 561 | 562  | 563 | 564 | 565

 566 | 567  | 568 | 569 | 570 | 571 | 572 | 573 | 574 | 575

*  Tập 24

Quyển thứ:  | 576  |  577 | 578 |  579 |  580

 581 | 582 | 583  |  584  | 585 |  586  |  587 | 588 | 589 | 590

591 | 592 | 593 | 594 | 595 | 596 | 597 | 598 | 599 | 600

 

LỜI TRẦN T̀NH
về Cảo Bản Dịch Phẩm Đại Bát Nhă
của Đại Trưởng Lăo Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm
 

THÀNH LẬP HỘI ĐỔNG PHIÊN DỊCH TAM TẠNG THÁNH GIÁO

Hội đồng phiên dịch Tam Tạng họp tại Viện Đại học Vạn Hạnh Sài G̣n vào những ngày 20, 21, 22.10.1973. Hội Đồng gồm tất cả 12 vị, dưới quyền Chủ Tọa T.T.Thích Trí Tịnh, T.T.Thích Minh Châu. Hội nghị thảo luận ráo riết trong mấy ngày, đến phần phân công phiên dịch kinh bộ, th́ bộ Đại Bát Nhă 600 quyển giao cho T.T Thích Trí Nghiêm phiên dịch, T.T Thích Thiện Siêu duyệt khảo lại.

Trước Hội nghị này, tôi đă tự khởi dịch kinh này từ năm 1972 đă được gần 100 quyển. Sau Hội nghị tôi tiếp tục phiên dịch đến nay là xong 600 quyển.

 HỔI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Xin đem công đức này hồi hướng về quả Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, cầu xin Chư Phật mười phương hiện đang thuyết Pháp và Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đồng dủ ḷng từ bi gia hộ cho các vị Tăng Ni Phật tử, thiện nam tín nữ xa gần đă góp phần công đức vào việc phiên dịch, đánh máy, ấn loát Kinh Đại Bát Nhă này, đời hiện c̣n đây được thêm phần phước huệ thọ mạng đầy đủ dồi dào, đến lúc lâm chung sẽ được văng sanh về mười phương cơi Phật, được nghe các Đức Phật kia thuyết pháp môn thâm diệu là Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa để thọ tŕ đọc tụng, tu tập, suy nghĩ, cúng dường lễ bái v.v…Bồi dưỡng căn lành Bát Nhă là hạt giống căn lành sanh đẻ ra các Phật ba đời. Cuối cùng các Phật tử này sẽ đều được trọn thành Phật quả và khắp cầu nguyện tất cả pháp giới chúng sanh đều được nhờ công đức Bát Nhă thù thắng này đều trọn nên Phật đạo.

Ngưỡng vọng:

Nam Mô Bát Nhă Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát chứng minh gia hộ .

Nam Mô Tam Châu cảm ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát thủ hộ Pháp Bảo Bát Nhă này được lưu hành khắp mười phương thế giới trường tồn vĩnh viễn.

 Viết tại am Hoàng Trúc thuộc chùa Long Sơn trụ sở Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Khánh Ḥa, Nha Trang vào ngày vía Đức Phật A Di Đà, Phật lịch 2524 (1980).

Dịch giả cẩn ghi
HT. Thích Trí Nghiêm

 

LỜI KƯ TAM TẠNG THÁNH GIÁO 

Đường triều Cao Tông Hoàng đế ngự chế ngày ở Cung Xuân

Nếu v́ muốn hiển dương Chánh giáo, mà phi kẻ trí là không lấy ai để quảng đạt văn lư kia; muốn sùng trọng và mở mang rộng răi những lời nhiệm mầu, phi kẻ hiền chẳng thể nào minh định được ư chỉ ấy. Bởi v́ chân như Thánh giáo là huyền tông của các pháp và là khuôn khổ của các kinh điển khác vậy.

V́ nó thâu tóm bao quát rộng xa, ư chỉ lại cực kỳ sâu thẳm , tột bực tinh vi của lư chơn không diệu hữu và là yếu cơ của thể sinh diệt nữa. Lời lẽ tú mậu, đạo lư mênh mông, nên kẻ t́m cầu chẳng cứu xét được nguồn văn tự rơ ràng mà ư nghĩa lại càng thâm u và kẻ noi theo cũng chẳng lường được ngằn mé.

Nên mới biết Thánh Từ đă bao trùm thời không nghiệp thiện nào chẳng đến xong; diệu hóa được phơi bày là không duyên ác nào mà chẳng cắt đứt. Thế là đă mở giềng mối lưới pháp, hoằng dương Chánh giáo sáu độ để cứu vớt quần sinh nơi mê đồ, tức là tháo gỡ then chốt bí yếu của Tam tạng rồi đấy vậy.

Vậy nên gọi rằng chim không cánh mà vẫn bay luôn; Đạo không gốc mà cũng hằng vững chăi. Đạo danh lưu khánh, chảy lăng từ thuở xa xưa mà vẫn trấn thường; phó cảm ứng thân, trải qua trần kiếp cũng là bất hủ.

Mai chuông ngân, chiều kệ tụng, giao ḥa hai tiếng nơi đỉnh Thứu Phong. Ánh huệ nhật, ḍng pháp lưu, quay bánh xe nơi vườn Lộc uyển. Lọng báu che trên không, tiếp giáp mây ùng rồi cùng bay phất phới. Rừng xuân chốn đồng nội, cùng với hoa trời mà hợp lẫn sắc màu .

Cúi đầu kính chúc:

Hoàng Đế Bệ Hạ

Trên ban phước ấm đủ xuống mà b́nh trị tám hoang tai. Thánh Đức khắp trùm đến dân đen được vạn quốc xếp bè he mà triều bái. Ơn gia đến người quá cố; các thần dân đều biết quy về với kinh văn lá bối. Ơn Đức Thánh Vương, thấm nhuần đến vạn loại côn trùng. Đấng Kim Dung tuyên lời điệu kệ, để khiến nước hồ A Nậu Đạt thông suốt chảy về rẽ biệt tám nguồn; non Kỳ Xà Quật tiếp giáp với đỉnh Thung Hoa rừng cây xanh biếc.

Thiết nghĩ: V́ pháp tánh ngưng tịch, chẳng quy tâm th́ làm sao thông đạt được; trí địa huyền áo phải khẩn thành may ra mới hiển hiện được Thế đâu với những đêm dài tối mịt, chợt thắp đuốc huệ sáng bừng, mà là dội trận mưa pháp vũ nơi nhà hỏa trạch.

Nơi đây trăm sông riêng chảy, cuối cùng vẫn quy về đồ⮧ hội biển cả bao dung; muôn khu phấn nghĩa, nhưng tổng quát thành hồ chân thật vậy thôi. Và đâu những so bề hơn kém cùng với Thang Vơ, sánh đọ Thánh đức cùng với Nghiêu Thuấn vậy thay!

Nay đây, HUYỀN TRANG PHÁP SƯ là bậc túc duyên trí huệ, lập chí chân thật trực giản, tâm thần thanh nhă từ lúc thiếu thời, thể tánh siêu việt những phường phù hoa lăng mạn. Ngưng t́nh nơi tịnh thất, ổn dấu chấn u nham, nghỉ ngơi ở Tam thiền, rồi rảo bước lên hàng Thập địa. Vượt khỏi cảnh lục trần phiền lụy, mới đơn độc đi qua La Vệ và vào thành Ca Duy để lănh hội tâm cơ của Nhất thừa diệu đạo, rồi tùy nghi mà hóa vật lợi sanh.

V́ lẽ ở Trung hoa không linh chất, nên mới t́m cầu chơn văn bên Ấn độ xa xôi; gian nan lặn lội dăy sông Hằng, quyết chí t́m ṭi cho kỳ được măn tự đạo pháp. Đă từng trèo lên non Tuyết Lănh mà chỉ được nửa hạt chơn châu. Trên đường học đạo, cả đi lẫn về trọn vẹn mười bảy năm trời dằng dặc, mới thông đạt đầy đủ ư chỉ Tam tạng Thánh giáo, với mục đích duy nhất là lợi lạc quần sanh.

Sau khi về nước, chọn ngày lành tháng tốt: Mồng sáu tháng hai năm thứ mười chín niên hiệu Trinh Quán, mới phụng sắc lệnh nhà vua, rồi đem yếu văn của Tam tạng Thánh giáo cả thảy là sáu trăm năm mươi bảy bộ. Và lấy cảnh chùa Hoằng Phước mà làm nơi trụ xứ cho sự nghiệp phiên dịch kinh điển vĩ đại này.

Chẳng khác nào dẫn nguồn pháp thủy nơi đại dương bất tận về rửa sạnh ô nhiễm trần lao cho đời; truyền nối ánh sáng trí đăng vô cùng cực mà chiếu soi chốn u minh hắc ám được rực rỡ muôn đời. Nếu tự chẳng phải đă lâu đời vun trồng thắng duyên huệ nghiệp là làm sao xiển dương được ư chỉ như thế đây?

Nên kinh gọi :"Pháp tướng thường trụ". Trang Sư trí sáng ngang bằng nhật nguyệt tinh. Hoàng Đế ta phúc báo đă nhóm đầy, nên cơ nghiệp được vững bền đồng như trời đất

Nay cúi đầu xem thấy bài Ngự chế đề tựa ở các Kinh luận, đă từng soi sáng từ xưa đến nay, lư văn bao hàm tiếng vang vàng đá chạm reo và vẻ linh hoạt tươi nhuận của gió mây bay động. Để trị bồi phụ thêm ít đất, làm cho núi đủ cao lên, sương lộ giáng xuống nhiều ḍng càng chảy mạnh, lược cử đại cương để làm lời kư này vậy.

Tỳ kheo THÍCH TRÍ NGHIÊM dịch
Tỳ kheo THÍCH THIỆN SIÊU khảo

 

TỰA SƠ HỘI KINH ĐẠI BÁT NHĂ

Đường triều Sa môn HUYỀN TRANG chế tác ở chùa Tây Minh

 

Kinh Đại Bát Nhă là lời tuyệt xướng của thời kỳ Hi Đại và là bến hiền lương của khoán kiếp xa xôi. Ánh hào quang đă bao trùm trời người thâu tóm chơn lẫn tục. Thật là áo chỉ nhập thần, là phù linh trấn cho hữu quốc vậy. Tự chẳng phải Thánh đức xa vời, triết nhân độc xuất thời Huyền âm chẳng lưu lộ, viên giáo khó thành xong.

Sở dĩ dấy nên các Hoàng Vương Đế Chúa đă từng tỏ bày xiển thuật những lời vàng soi ngọc ánh để tán dương sự việc xa cách ngàn xưa, mà lư lẽ sáng soi ba thời. Sầm uất vậy thay làvăn này, đầy đủ lắm ôi cũng chính ngày nay!

Nhưng mà toàn bộ chia thành hai mươi bốn sách. Ngày xưa chỉ ṃ được nửa hạt châu. Mà hội gồm cả mười sáu hội, nay mới nắm lấy được toàn viên ngọc. V́ thầm xét các hội đều có duyên khởi riêng và xét mỗi một bộ đều là đem về nơi gốc để rơ dấu vết riêng, nên mỗi hội phải làm riêng một bài tựa.

Đến như Linh Phong mới tập hợp, hoằng vận khắp t́m ṭi, chỉ để suy rộng thân nguyên và mở sâu tâm yếu. V́ sao thế? Bởi lẽ năm uẩn là gói các loại hữu t́nh; hai ngă là gia trạch của hữu phong. Trạch và ngă mà cao là khát vọng chạy theo ánh nước dương diệm mới sâu; phong uẩn mà c̣n thời t́m cầu thành quách tầm hương lại càng rộng cao tót vót.

Dễ đâu biết rằng cội gốc của ngă là do tưởng, mà tưởng đă hư vọng thời ngă tồn tại vào đâu? Uẩn bị trói buộc bởi do danh, mà danh là giả dối thời uẩn cũng không nương đâu được c̣n!

Cho nên mới phải phát nơi đàm tức không, xiển xướng lư vong ngôn. Xem việc rắc rối của trần tục là phi động, coi loại côn trùng là bất sinh. Nghe danh vọng như tiếng vang, thấy sắc đẹp tựa thấy bóng trong gương. Thuyên Tể mất chỗ nương, nhiên hậu Chơn Tể mới độc lộ.

Khuôn thước đừng thi hành, nhiên hậu mới diệu lập thước nhiệm mầu. Lo đường ngàn mất, ngôn thuật bốn cùng.

Có thế mới khiến nổi những kẻ cạn vội được cơ hội co ngón mà tháo giải cùm tay và những người c̣n đang chầu Nam chực Bắc đều biết hướng quy về. Nghĩa lư đă rộng như trời, mà lời lẽ lại đầy nhẫy như biển. V́ làm căn bản cho các hội sau, lại là trước xưa chưa truyền đến. Trong hội này, kể khắc thành bốn trăm quyển cộng tám mươi lăm phẩm vậy.

Hoặc bảo: Quyền biến theo phương cơi , lẽ nên lược dịch. Thầm phản ứng rằng: Một lời có thể che trùm hết, mà c̣n phải chế tác ra liên chương nhă tụng. Niết Bàn khá đề, mà lời lẽ của hai chữ ấy phải chép thành pho tạng.

Thong thả nhu ḥa, hưỡn đăi mở lối, ḱa phải chăng là những lời dạy dỗ của Đấng Từ Mẫu ấy vậy ôi? Nếu dịch mà dám cắt bỏ bớt đi, sợ e để lại cái hoạn hại đứt tay cho đời sau không phải ít!

Nay dịch truyền này quyết phải theo đúng nguyên bản, hầu mới tránh khỏi chê bai là nhiều lời,. Huống chi thời đại chữ viết vào tre, gỗ, khái niệm c̣n tăng tổn mà hgồn phách giaop tiếp lờ mờ, nên lời răn dạy phải rất rơ ràng,trước sau cảm tạ ban cho. Như trong biệt lục mới chép đầy đủ.

Ḱa ai là kẻ đă có sẵn đại tâm mậu khí và đă từng lâu đời học hỏi, nhiều kiếp phụng tŕ, mới tự gây được sự bất kinh bất bố, rồi tự t́m hỏi đ̣ mà qua sông vậy.

Tỳ kheo THÍCH TRÍ NGHIÊM dịch
Tỳ kheo THÍCH THIỆN SIÊU khảo

 

THỪA SỰ TĂNG SAI
 

 Trong bộ truyện của Tam Tạng Pháp Sư quyển thứ mười, để ở chùa Đại Từ Ân, có đoạn tường thuật về việc Pháp Sư phiên dịch Kinh Đại Bát Nhă này; do Hội ấn hành kinh điển tại Hương Cảng có trích đăng nơi tập mục lục (1958). Tôi xin phụng dịch như sau:

"… Các nước phương Đông trọng kinh Bát Nhă. Đời trước tuy đă có phiên dịch nhưng chưa thể chu toàn đầy đủ, nên nhiều người lại muốn thỉnh Lệnh ủy dịch.

Song Bát Nhă là bộ Kinh to tát, ở kinh đô nhiều việc rắc rối; lại nữa nhân mệnh vô thường, e khó được thành tựu viên măn nên mới thỉnh xin dọn đến ở cung Ngọc Hoa mà phiên dịch. Nhà vua bằng ḷng phê chuẩn ngay! Tức là mùa Đông tháng Mười, niên hiệu Hiển Khánh năm thứ tư, Pháp Sư từ kinh đô phát hướng về Ngọc Hoa cung, và cùng chư vị Đại Đức thuộc hội đồng phiên dịch và môn đồ thảy đồng hành nhất thể. Đến nơi, an trí tại Viện Túc Thành lấy làm trụ sở phiên dịch. C̣n việc cung cấp các việc y như khi ở kinh sư.

Đến ngày Nguyên đán tháng Giêng mùa Xuân năm thứ năm khởi đầu dịch kinh Đại Bát Nhă. Bản chữ Phạn tổng có hai mươi vạn bài tụng. Văn đă rộng lớn, kẻ học đồ muốn cầu thỉnh xin lược bớt; nên Pháp Sư hầu muốn thuận theo ư chúng, như ngài La Thập đă làm, cắt bỏ bớt những đoạn văn phiền phức trùng điệp. Khởi nghĩ ấy rồi, đêm nằm mộng thấy có những sự trạng để răn cảnh giới nhau, như hoặc thấy bay lên trên cao nguy, đi nơi hiểm khốn, hoặc thấy thú dữ bắt người v.v…; run sợ toát mồ hôi mới được thoát khỏi. Khi đă tỉnh giấc kinh hăi, đến các chúng nói lại việc ấy và lại y như Kinh phiên dịch rộng đủ. Trong đêm bèn thấy chư Phật Bồ Tát phóng hào quang nơi chặng giữa mày mắt soi xúc thân ḿnh, tâm ư vui thích. Pháp Sư lại tự thấy tay cầm đèn hoa cúng dường chư Phật, hoặc thấy thăng lên ṭa cao v́ chúng thuyết pháp, có nhiều người vây quanh ngợi khen cung kính, hoặc mộng thấy có người đem danh quả phụng biếu cho ḿnh; tỉnh giấc vui mừng chẳng dám cắt bỏ bớt, nhất nhất đúng như bản chữ Phạn mà dịch.

Đức Phật thuyết Kinh này tính ở bốn chỗ:

1.   Núi Thứu Phong nơi thành Vương Xá;

2.   Vườn Cấp Cô Độc;

3.   Cung Trời Tha Hóa Tự Tại

4.   Tịnh Xá Trúc Lâm thành Vương Xá.

Tổng cộng 16 Hội, hợp thành một bộ. Nhưng Pháp Sư từ ở Ấn Đột́m được ba bản; đến ngày phiên dịch đây, trong văn có chỗ nghi ngờ, tức đem ba bản so sánh lấy làm quyết định; ân cần tra xét lại kỹ càng rồi mới chịu hạ bút thành văn. Tâm ư tra xét cẩn thận đúng mức , thật từ xưa chẳng sánh kịp. Hoặc văn trái với ư chỉ sâu thẳm, ư hiểu c̣n có do dự rụt rè, tất cảm giác cảnh lạ, tuồng như có người trao cho minh quyết, tâm trí liền rỗng vỡ vạc thông suốt, như vẹt mây mù mà thấy mặt trời. Pháp Sư tự nói rằng: "Chỗ ngộ hội như đây đâu phải trí cạn cợt Huyền Trang tôi mà thông suốt được, đều là được chư Phật Bồ Tát đă âm thầm gia hộ vậy".

Hội thứ nhất của Kinh có phẩm Nghiêm tịnh cơi Phật. Trong ấy nói :"Các chúng Bồ Tát Ma ha tát v́ Bát Nhă Ba La Mật Đa, dùng thần thông nguyện lực đựng các ngọc báu thượng diệu, các diệu hương hoa, uống ăn trăm vị, áo mặc, âm nhạc của cơi Đại Thiên tùy ư sanh ra năm trần diệu cảnh, các thứ cúng dường để trang nghiêm chỗ thuyết pháp". Lúc ấy, Ngài tự chủ chùa Ngọc Hoa hiệu Huệ Đức và các Ngài Đại đức Tăng hội đồng dịch Kinh, trong đêm ấy đồng mộng thấy trong nội cảnh chùa Ngọc Hoa rộng răi nghiêm tịnh lịch đẹp trang nghiêm: Nào là phan trướng, xe báu, nào là tràng hoa, kỹ nhạc v.v… đầy nhẫy trong nội cảnh chùa. Lại thấy có vô lượng Tăng chúng tay cầm lọng hoa và đồ cúng dường như trên đồng đến cúng dường Kinh Đại Bát Nhă. Những đường sá tường vách trong khu vực chùa đều trang hoàng dẹp đẽ, đất đầy danh hoa, Tăng chúng đồng giẫm trên mà đi. Đến như Viện phiên kinh, nơi Viện lại càng bội phần đẹp đẽ lạ lùng, như Kinh đă chép cơi bảy báu trang nghiêm. Lại nghe thấy trong Viện có ba gian nhà để giảng thuyết, Pháp Sư ngồi gian giữa diễn giảng. Đă thấy đấy rồi, vui mừng thức giấc, đồng đến thăm hỏi nói việc đă thấy trong mộng với Pháp Sư. Pháp Sư bảo:"Nay chính dịch phẩm này, các Bồ Tát thảy tất có cúng dường. Các Thầy đă mộng thấy, tin có việc ấy. Ôi".

Bấy giờ, bên điện có hai cây mít, bỗng lúc phi thời lần lượt nở hoa, mỗi hoa đều nở sáu đóa thịnh mậu, sắc hồng trắng, thật đáng yêu phi thường. Lúc đấy Tăng chúng luận nghị rằng: "Đây chính là triệu chứng điềm lành Bát Nhă được tái xiển dương lại; lại ra sáu quả là tiêu biểu sáu Ba La Mật Đa".

Nhưng Pháp Sư khi dịch kinh này, tâm chí miệt mài và hằng lo lắng vô thường , nên mới bảo chư Tăng rằng: "Huyền Trang tôi năm nay đă sáu mươi lăm tuổi, chắc sẽ bỏ mạng ngôi già lam này; bộ Kinh này rất lớn lao, hằng lo sợ việc làm chẳng trọn vẹn, người người nên nỗ lực gia công tinh tiến, rất chớ nên v́ khó nhọc mà từ nan!".

 

Đôi nét về Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm

Thân thế:

Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xă Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đ́nh có năm anh chị em. Gia đ́nh Ngài là một gia đ́nh có truyền thống nhiều đời uy tín Tam Bảo.

Xuất gia tu học:

Ngài húy là Tâm Bổn, tự là Truyền Lai, hiệu là Trí Nghiêm ḍng Lâm Tế đời thứ 43.

_Năm 15 tuổi (1926) xuất gia thọ giới với Ngài Vĩnh Hảo Đại Sư (cũng là cậu ruột của Ngài) tại chùa Phước Long, Xă Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên.

_Năm 22 tuổi (1933), Ngài thọ Đại Giới, tại Giới Đàn Chùa Bảo Sơn Phú Yên do Ḥa thượng Vạn Ân làm Đàn Đầu.

_Năm 27 tuổi (1938) Ngài được trúng tuyển vào tu học tại Phật Học Đường Bảo Quốc Huế. Tại đây Ngài đă được sự truyền dạy của Ḥa Thượng Thích Trí Độ, một vị Đốc Giáo danh đức thời bấy giờ. Chính nơi đây đă đào tạo nhiều vị Tăng tài lỗi lạc cho Phật Giáo nước nhà hiện nay. Ngài đă tu học tại Phật Học Đường này 8 năm.

Đạo Nghiệp :

_ Năm 1944 (34 tuổi), sau khi măn học, Ngài đă bắt đầu công việc hoằng hóa bằng việc lưu hành diễn giảng Giáo lư tại các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên…

_ Năm 1945 (35 tuổi), Ngài trở về Phú Yên làm trụ tŕ chùa Thiên Tôn ở Tuy An 9 năm. Trong thời gian này Ngài đă tham gia Phật Giáo Cứu Quốc thuộc liên khu V.

_ Năm 1955 Ngài lại tiếp tục công cuộc hoằng hóa, chuyên lo giảng dạy Phật Pháp tại các Tỉnh Hội Phật Học : Phú Yên, Khánh Ḥa. Lúc này Ngài được coi là vị Giảng Sư kỳ cựu của Hội Phật Học Miền Trung.

_ Năm 1956, Ngài chủ trương xây dựng Trường Bồ Đề Tuy Ḥa và Cô nhi viện Phước Điền Tuy Ḥa, Phú Yên.

_ Năm 1957, theo thỉnh cầu của Giáo Hội, Ngài ra giữ chức Hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên Huế.

_ Năm 1960, Ngài vào thường trú để lo Phật sự tại chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh Giáo - Hội Phật Giáo Khánh Ḥa Nha Trang hiện nay.

_ Năm 1964, Ngài là thành viên của Hội Đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất.

_ Năm 1966, Ngài giữ chức Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Ḥa - Nha Trang.

_ Năm 1968, Ngài là Chứng Minh Đạo Sư của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Ḥa - Nha Trang.

_ Năm 1968, Ngài là Đệ nhị Tôn Chứng tại Đại Giới Đàn Hải Đức Nha Trang (lần 2).

_ Năm 1973, Ngài làm Giáo Thọ tại Đại Giới Đàn Phước Huệ Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang.

_ Năm 1974, Ngài làm giám luật Ban Quảng trị Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang.

_ Năm 1977, Ngài được Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Giác Nhiên, Đệ nhị Tăng Thống GH. PG. VN TN. tấn phong Ḥa Thượng.

_ Năm 1980 - Dịch xong bộ Đại Bát Nhă Kinh

_ 1980 - đến nay tiếp tục nghiên cứu và phiên dịch Kinh điển Đại Thừa tại tại Am Hoàng Trúc - thành phố Nha Trang.

Phiên dịch kinh luận:

Mặc dù bận nhiều Phật sự về lănh đạo và hoằng hóa, nhưng Ngài vẫn tinh tấn chăm lo phiên dịch kinh luận để tiếp dẫn hậu lai.

1- Kinh Lời Vàng : Nguyên danh kinh là "Phật Giáo Thánh kinh", 1 quyển, do nữ cư sĩ Trung Hoa là Dương Tú Hạc biên soạn.

2- Kinh Phổ Môn giảng lục : 1 quyển, do Bảo Tịnh Pháp Sư giảng (dịch năm 1969).

3- Kinh Pháp Hoa giảng lục : 1 bộ, 7 quyển, 2 tập, do Thái Hư Pháp Sư giảng (dịch năm 1969)

4- Luận Thành Thật : 20 quyển, do Ha Lê Bạt Ma Tát soạn.

5- Kinh Đại Bát Nhă 24 tập, 600 quyển, 5 triệu chữ (5.000.000), do Huyền Trang Hán dịch. Khởi dịch từ năm 1973 đến năm 1980 mới hoàn tất.

Bốn kinh luận đầu đă in, riêng "Kinh Lời Vàng" và "Kinh Pháp Hoa - giảng lục" đă được tái bản một hai lần, " Kinh Đại Bát Nhă; đă in 2 lần, lần mới nhất là năm 1998 tại Sài g̣n.

Ngoài ra, c̣n 10 bộ kinh nhỏ chưa in.

Từ năm 1981, Ngài là Chứng minh Đạo Sư của tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh - Ḥa Nha Trang.

Sau một thời bệnh nặng,  mặc dù đă được hàng đệ tử, các giáo sư bác sĩ và y sĩ bệnh viện Thành phố Nha Trang tận t́nh chăm sóc chữa trị. Nhưng v́ tuổi cao sức yếu, Ngài không vượt qua khỏi, Ngài đă an tường xả báo thân lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng 01 năm 2003 ( nhằm ngày 11 tháng chạp năm Nhâm Ngọ) thọ thế 93 tuổi, 70 tuổi đạo.

Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Ngài đă nỗ lực không ngừng trong công việc xiển dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài không c̣n nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ măi măi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni Phật tử hậu lai.

Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, lược ghi

-- o0o --
Ấn bản trên giấy:
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Trần Đ́nh Việt

Biên tập:
Nguyễn Cẩm Hồng

Sửa bản in:
Hồng Anh

Kiểm tra số trang:
Lạc Kính

-- o0o --

Ấn bản điện tử:
Tŕnh bày:
Thích Nguyên Tạng

Đánh máy vi tính:

Nguyên Chí, Hoa Giác, Quảng Thức, Hải Hạnh, Hồng Liên, Hoàng Ánh, Thùy Châu,

Diệu Nga, Thanh Tâm, Thục Đức, Thiền Lâm, Phước Ngọc, Thạch Huệ, Bích Thi,

Bích Hương, Nhị Tường, Phương Trang, Phong Lan, Bích Ty, Phước Sơn,

Kim Ngân, Thùy Dung, Đông Phương, Diệu Xuyến, Chơn Mỹ Thanh,

Mướt-LiênChân Hiền Tịnh, Chân Nguyện, Cao Thân.

Sửa bản điện tử:
Nhị Tường

--- o0o ---

Mục Lục

Tập:  1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 78 | 9 | 10 | 11 | 12

13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24  

--- o0o ---

Cập nhật ngày 01-3-2006