Kinh Đại Bát Nhă Ba La Mật
Đa
(Trọn bộ 24 tập)
Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm
Khảo dịch: Ḥa Thượng Thích Thiện Siêu
Sàig̣n - 1998
|
|
THÀNH LẬP HỘI ĐỔNG PHIÊN DỊCH TAM TẠNG
THÁNH GIÁO
Hội đồng phiên dịch Tam Tạng
họp tại Viện Đại học Vạn Hạnh
Sài G̣n vào những ngày 20, 21, 22.10.1973. Hội Đồng
gồm tất cả 12 vị, dưới quyền Chủ
Tọa T.T.Thích Trí Tịnh, T.T.Thích Minh Châu. Hội nghị
thảo luận ráo riết trong mấy ngày, đến
phần phân công phiên dịch kinh bộ, th́ bộ
Đại Bát Nhă 600 quyển giao cho T.T Thích Trí Nghiêm phiên
dịch, T.T Thích Thiện Siêu duyệt khảo lại.
Trước Hội nghị này, tôi đă
tự khởi dịch kinh này từ năm 1972 đă
được gần 100 quyển. Sau Hội nghị tôi
tiếp tục phiên dịch đến nay là xong 600
quyển.
HỔI HƯỚNG CÔNG
ĐỨC
Xin đem công đức này hồi
hướng về quả Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề, cầu xin Chư Phật mười
phương hiện đang thuyết Pháp và Đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đồng dủ ḷng
từ bi gia hộ cho các vị Tăng Ni Phật tử, thiện
nam tín nữ xa gần đă góp phần công đức vào
việc phiên dịch, đánh máy, ấn loát Kinh Đại
Bát Nhă này, đời hiện c̣n đây được thêm
phần phước huệ thọ mạng đầy
đủ dồi dào, đến lúc lâm chung sẽ
được văng sanh về mười phương cơi
Phật, được nghe các Đức Phật kia
thuyết pháp môn thâm diệu là Đại Bát Nhă Ba La Mật
Đa để thọ tŕ đọc tụng, tu tập,
suy nghĩ, cúng dường lễ bái v.v…Bồi dưỡng
căn lành Bát Nhă là hạt giống căn lành sanh đẻ
ra các Phật ba đời. Cuối cùng các Phật tử
này sẽ đều được trọn thành Phật
quả và khắp cầu nguyện tất cả pháp
giới chúng sanh đều được nhờ công
đức Bát Nhă thù thắng này đều trọn nên
Phật đạo.
Ngưỡng vọng:
Nam Mô Bát Nhă Hội Thượng Phật
Bồ Tát Ma Ha Tát chứng minh gia hộ .
Nam Mô Tam Châu cảm ứng Hộ Pháp Vi
Đà Tôn Thiên Bồ Tát thủ hộ Pháp Bảo Bát Nhă này
được lưu hành khắp mười phương
thế giới trường tồn vĩnh viễn.
Viết tại am
Hoàng Trúc thuộc chùa Long Sơn trụ sở Tỉnh Giáo
hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Khánh Ḥa, Nha
Trang vào ngày vía Đức Phật A Di Đà, Phật
lịch 2524 (1980).
Dịch giả cẩn ghi
HT. Thích Trí Nghiêm
Đường triều Cao Tông Hoàng
đế ngự chế ngày ở Cung Xuân
Nếu v́ muốn hiển dương Chánh
giáo, mà phi kẻ trí là không lấy ai để quảng
đạt văn lư kia; muốn sùng trọng và mở mang
rộng răi những lời nhiệm mầu, phi kẻ
hiền chẳng thể nào minh định được
ư chỉ ấy. Bởi v́ chân như Thánh giáo là huyền tông
của các pháp và là khuôn khổ của các kinh điển
khác vậy.
V́ nó thâu tóm bao quát rộng xa, ư chỉ
lại cực kỳ sâu thẳm , tột bực tinh vi
của lư chơn không diệu hữu và là yếu cơ
của thể sinh diệt nữa. Lời lẽ tú mậu,
đạo lư mênh mông, nên kẻ t́m cầu chẳng cứu
xét được nguồn văn tự rơ ràng mà ư nghĩa
lại càng thâm u và kẻ noi theo cũng chẳng
lường được ngằn mé.
Nên mới biết Thánh Từ đă bao trùm
thời không nghiệp thiện nào chẳng đến xong;
diệu hóa được phơi bày là không duyên ác nào mà
chẳng cắt đứt. Thế là đă mở giềng
mối lưới pháp, hoằng dương Chánh giáo sáu
độ để cứu vớt quần sinh nơi mê
đồ, tức là tháo gỡ then chốt bí yếu
của Tam tạng rồi đấy vậy.
Vậy nên gọi rằng chim không cánh mà
vẫn bay luôn; Đạo không gốc mà cũng hằng
vững chăi. Đạo danh lưu khánh, chảy lăng từ
thuở xa xưa mà vẫn trấn thường; phó cảm
ứng thân, trải qua trần kiếp cũng là bất
hủ.
Mai chuông ngân, chiều kệ tụng, giao
ḥa hai tiếng nơi đỉnh Thứu Phong. Ánh huệ
nhật, ḍng pháp lưu, quay bánh xe nơi vườn Lộc
uyển. Lọng báu che trên không, tiếp giáp mây ùng rồi
cùng bay phất phới. Rừng xuân chốn đồng
nội, cùng với hoa trời mà hợp lẫn sắc màu .
Cúi đầu kính chúc:
Hoàng Đế Bệ Hạ
Trên ban phước ấm đủ
xuống mà b́nh trị tám hoang tai. Thánh Đức khắp
trùm đến dân đen được vạn quốc
xếp bè he mà triều bái. Ơn gia đến người
quá cố; các thần dân đều biết quy về
với kinh văn lá bối. Ơn Đức Thánh
Vương, thấm nhuần đến vạn loại côn
trùng. Đấng Kim Dung tuyên lời điệu kệ,
để khiến nước hồ A Nậu Đạt
thông suốt chảy về rẽ biệt tám nguồn; non
Kỳ Xà Quật tiếp giáp với đỉnh Thung Hoa
rừng cây xanh biếc.
Thiết nghĩ: V́ pháp tánh ngưng
tịch, chẳng quy tâm th́ làm sao thông đạt
được; trí địa huyền áo phải khẩn
thành may ra mới hiển hiện được Thế
đâu với những đêm dài tối mịt, chợt
thắp đuốc huệ sáng bừng, mà là dội
trận mưa pháp vũ nơi nhà hỏa trạch.
Nơi đây trăm sông riêng chảy,
cuối cùng vẫn quy về đồ⮧ hội
biển cả bao dung; muôn khu phấn nghĩa, nhưng
tổng quát thành hồ chân thật vậy thôi. Và đâu
những so bề hơn kém cùng với Thang Vơ, sánh
đọ Thánh đức cùng với Nghiêu Thuấn vậy
thay!
Nay đây, HUYỀN TRANG PHÁP SƯ là bậc
túc duyên trí huệ, lập chí chân thật trực giản,
tâm thần thanh nhă từ lúc thiếu thời, thể tánh
siêu việt những phường phù hoa lăng mạn.
Ngưng t́nh nơi tịnh thất, ổn dấu chấn u
nham, nghỉ ngơi ở Tam thiền, rồi rảo
bước lên hàng Thập địa. Vượt khỏi
cảnh lục trần phiền lụy, mới đơn
độc đi qua La Vệ và vào thành Ca Duy để lănh
hội tâm cơ của Nhất thừa diệu
đạo, rồi tùy nghi mà hóa vật lợi sanh.
V́ lẽ ở Trung hoa không linh chất, nên
mới t́m cầu chơn văn bên Ấn độ xa xôi;
gian nan lặn lội dăy sông Hằng, quyết chí t́m ṭi cho
kỳ được măn tự đạo pháp. Đă
từng trèo lên non Tuyết Lănh mà chỉ được
nửa hạt chơn châu. Trên đường học
đạo, cả đi lẫn về trọn vẹn
mười bảy năm trời dằng dặc, mới
thông đạt đầy đủ ư chỉ Tam tạng Thánh
giáo, với mục đích duy nhất là lợi lạc
quần sanh.
Sau khi về nước, chọn ngày lành
tháng tốt: Mồng sáu tháng hai năm thứ mười
chín niên hiệu Trinh Quán, mới phụng sắc lệnh nhà
vua, rồi đem yếu văn của Tam tạng Thánh giáo
cả thảy là sáu trăm năm mươi bảy
bộ. Và lấy cảnh chùa Hoằng Phước mà làm
nơi trụ xứ cho sự nghiệp phiên dịch kinh
điển vĩ đại này.
Chẳng khác nào dẫn nguồn pháp
thủy nơi đại dương bất tận về
rửa sạnh ô nhiễm trần lao cho đời;
truyền nối ánh sáng trí đăng vô cùng cực mà
chiếu soi chốn u minh hắc ám được rực
rỡ muôn đời. Nếu tự chẳng phải đă
lâu đời vun trồng thắng duyên huệ nghiệp là
làm sao xiển dương được ư chỉ như
thế đây?
Nên kinh gọi :"Pháp tướng
thường trụ". Trang Sư trí sáng ngang bằng
nhật nguyệt tinh. Hoàng Đế ta phúc báo đă nhóm
đầy, nên cơ nghiệp được vững
bền đồng như trời đất
Nay cúi đầu xem thấy bài Ngự
chế đề tựa ở các Kinh luận, đă
từng soi sáng từ xưa đến nay, lư văn bao hàm
tiếng vang vàng đá chạm reo và vẻ linh hoạt
tươi nhuận của gió mây bay động. Để
trị bồi phụ thêm ít đất, làm cho núi đủ
cao lên, sương lộ giáng xuống nhiều ḍng càng
chảy mạnh, lược cử đại cương
để làm lời kư này vậy.
Tỳ kheo THÍCH TRÍ NGHIÊM dịch
Tỳ kheo THÍCH THIỆN SIÊU khảo
Đường triều Sa môn
HUYỀN TRANG chế tác ở chùa Tây Minh
Kinh Đại Bát Nhă là lời tuyệt
xướng của thời kỳ Hi Đại và là
bến hiền lương của khoán kiếp xa xôi. Ánh hào
quang đă bao trùm trời người thâu tóm chơn lẫn
tục. Thật là áo chỉ nhập thần, là phù linh
trấn cho hữu quốc vậy. Tự chẳng phải
Thánh đức xa vời, triết nhân độc xuất
thời Huyền âm chẳng lưu lộ, viên giáo khó thành
xong.
Sở dĩ dấy nên các Hoàng Vương
Đế Chúa đă từng tỏ bày xiển thuật
những lời vàng soi ngọc ánh để tán dương
sự việc xa cách ngàn xưa, mà lư lẽ sáng soi ba
thời. Sầm uất vậy thay làvăn này, đầy
đủ lắm ôi cũng chính ngày nay!
Nhưng mà toàn bộ chia thành hai mươi
bốn sách. Ngày xưa chỉ ṃ được nửa
hạt châu. Mà hội gồm cả mười sáu hội,
nay mới nắm lấy được toàn viên ngọc. V́
thầm xét các hội đều có duyên khởi riêng và xét
mỗi một bộ đều là đem về nơi
gốc để rơ dấu vết riêng, nên mỗi hội
phải làm riêng một bài tựa.
Đến như Linh Phong mới tập
hợp, hoằng vận khắp t́m ṭi, chỉ để
suy rộng thân nguyên và mở sâu tâm yếu. V́ sao thế?
Bởi lẽ năm uẩn là gói các loại hữu t́nh; hai
ngă là gia trạch của hữu phong. Trạch và ngă mà cao là
khát vọng chạy theo ánh nước dương diệm
mới sâu; phong uẩn mà c̣n thời t́m cầu thành quách
tầm hương lại càng rộng cao tót vót.
Dễ đâu biết rằng cội
gốc của ngă là do tưởng, mà tưởng đă
hư vọng thời ngă tồn tại vào đâu? Uẩn
bị trói buộc bởi do danh, mà danh là giả dối
thời uẩn cũng không nương đâu
được c̣n!
Cho nên mới phải phát nơi đàm
tức không, xiển xướng lư vong ngôn. Xem việc
rắc rối của trần tục là phi động, coi
loại côn trùng là bất sinh. Nghe danh vọng như
tiếng vang, thấy sắc đẹp tựa thấy bóng
trong gương. Thuyên Tể mất chỗ nương,
nhiên hậu Chơn Tể mới độc lộ.
Khuôn thước đừng thi hành, nhiên
hậu mới diệu lập thước nhiệm
mầu. Lo đường ngàn mất, ngôn thuật bốn
cùng.
Có thế mới khiến nổi những
kẻ cạn vội được cơ hội co ngón mà
tháo giải cùm tay và những người c̣n đang
chầu
Hoặc bảo: Quyền biến theo
phương cơi , lẽ nên lược dịch. Thầm
phản ứng rằng: Một lời có thể che trùm
hết, mà c̣n phải chế tác ra liên chương nhă
tụng. Niết Bàn khá đề, mà lời lẽ của
hai chữ ấy phải chép thành pho tạng.
Thong thả nhu ḥa, hưỡn đăi
mở lối, ḱa phải chăng là những lời
dạy dỗ của Đấng Từ Mẫu ấy
vậy ôi? Nếu dịch mà dám cắt bỏ bớt đi,
sợ e để lại cái hoạn hại đứt tay
cho đời sau không phải ít!
Nay dịch truyền này quyết phải
theo đúng nguyên bản, hầu mới tránh khỏi chê bai
là nhiều lời,. Huống chi thời đại chữ
viết vào tre, gỗ, khái niệm c̣n tăng tổn mà
hgồn phách giaop tiếp lờ mờ, nên lời răn
dạy phải rất rơ ràng,trước sau cảm tạ
ban cho. Như trong biệt lục mới chép đầy
đủ.
Ḱa ai là kẻ đă có sẵn đại
tâm mậu khí và đă từng lâu đời học hỏi,
nhiều kiếp phụng tŕ, mới tự gây
được sự bất kinh bất bố, rồi
tự t́m hỏi đ̣ mà qua sông vậy.
Tỳ kheo THÍCH TRÍ NGHIÊM dịch
Tỳ kheo THÍCH THIỆN SIÊU khảo
Trong bộ truyện của Tam
Tạng Pháp Sư quyển thứ mười, để
ở chùa Đại Từ Ân, có đoạn tường
thuật về việc Pháp Sư phiên dịch Kinh
Đại Bát Nhă này; do Hội ấn hành kinh điển
tại Hương Cảng có trích đăng nơi tập
mục lục (1958). Tôi xin phụng dịch như sau:
"… Các nước phương Đông
trọng kinh Bát Nhă. Đời trước tuy đă có phiên
dịch nhưng chưa thể chu toàn đầy
đủ, nên nhiều người lại muốn
thỉnh Lệnh ủy dịch.
Song Bát Nhă là bộ Kinh to tát, ở kinh
đô nhiều việc rắc rối; lại nữa nhân
mệnh vô thường, e khó được thành tựu
viên măn nên mới thỉnh xin dọn đến ở cung
Ngọc Hoa mà phiên dịch. Nhà vua bằng ḷng phê chuẩn
ngay! Tức là mùa Đông tháng Mười, niên hiệu
Hiển Khánh năm thứ tư, Pháp Sư từ kinh đô
phát hướng về Ngọc Hoa cung, và cùng chư vị
Đại Đức thuộc hội đồng phiên
dịch và môn đồ thảy đồng hành nhất
thể. Đến nơi, an trí tại Viện Túc Thành
lấy làm trụ sở phiên dịch. C̣n việc cung
cấp các việc y như khi ở kinh sư.
Đến ngày Nguyên đán tháng Giêng mùa Xuân
năm thứ năm khởi đầu dịch kinh
Đại Bát Nhă. Bản chữ Phạn tổng có hai
mươi vạn bài tụng. Văn đă rộng lớn,
kẻ học đồ muốn cầu thỉnh xin
lược bớt; nên Pháp Sư hầu muốn thuận
theo ư chúng, như ngài La Thập đă làm, cắt bỏ
bớt những đoạn văn phiền phức trùng điệp.
Khởi nghĩ ấy rồi, đêm nằm mộng
thấy có những sự trạng để răn
cảnh giới nhau, như hoặc thấy bay lên trên cao
nguy, đi nơi hiểm khốn, hoặc thấy thú
dữ bắt người v.v…; run sợ toát mồ hôi
mới được thoát khỏi. Khi đă tỉnh
giấc kinh hăi, đến các chúng nói lại việc ấy
và lại y như Kinh phiên dịch rộng đủ. Trong
đêm bèn thấy chư Phật Bồ Tát phóng hào quang
nơi chặng giữa mày mắt soi xúc thân ḿnh, tâm ư vui
thích. Pháp Sư lại tự thấy tay cầm đèn hoa
cúng dường chư Phật, hoặc thấy thăng lên
ṭa cao v́ chúng thuyết pháp, có nhiều người vây quanh
ngợi khen cung kính, hoặc mộng thấy có người
đem danh quả phụng biếu cho ḿnh; tỉnh giấc
vui mừng chẳng dám cắt bỏ bớt, nhất
nhất đúng như bản chữ Phạn mà dịch.
Đức Phật thuyết Kinh này tính
ở bốn chỗ:
1.
Núi Thứu Phong
nơi thành Vương Xá;
2.
Vườn Cấp
Cô Độc;
3.
Cung Trời Tha Hóa
Tự Tại
4.
Tịnh Xá Trúc Lâm
thành Vương Xá.
Tổng cộng 16 Hội, hợp thành một
bộ. Nhưng Pháp Sư từ ở Ấn Đột́m
được ba bản; đến ngày phiên dịch
đây, trong văn có chỗ nghi ngờ, tức đem ba
bản so sánh lấy làm quyết định; ân cần tra
xét lại kỹ càng rồi mới chịu hạ bút thành
văn. Tâm ư tra xét cẩn thận đúng mức , thật
từ xưa chẳng sánh kịp. Hoặc văn trái
với ư chỉ sâu thẳm, ư hiểu c̣n có do dự rụt
rè, tất cảm giác cảnh lạ, tuồng như có
người trao cho minh quyết, tâm trí liền rỗng
vỡ vạc thông suốt, như vẹt mây mù mà thấy
mặt trời. Pháp Sư tự nói rằng: "Chỗ
ngộ hội như đây đâu phải trí cạn
cợt Huyền Trang tôi mà thông suốt được,
đều là được chư Phật Bồ Tát đă
âm thầm gia hộ vậy".
Hội thứ nhất của Kinh có
phẩm Nghiêm tịnh cơi Phật. Trong ấy nói :"Các
chúng Bồ Tát Ma ha tát v́ Bát Nhă Ba La Mật Đa, dùng
thần thông nguyện lực đựng các ngọc báu
thượng diệu, các diệu hương hoa, uống
ăn trăm vị, áo mặc, âm nhạc của cơi
Đại Thiên tùy ư sanh ra năm trần diệu cảnh,
các thứ cúng dường để trang nghiêm chỗ
thuyết pháp". Lúc ấy, Ngài tự chủ chùa Ngọc
Hoa hiệu Huệ Đức và các Ngài Đại
đức Tăng hội đồng dịch Kinh, trong
đêm ấy đồng mộng thấy trong nội
cảnh chùa Ngọc Hoa rộng răi nghiêm tịnh lịch
đẹp trang nghiêm: Nào là phan trướng, xe báu, nào là
tràng hoa, kỹ nhạc v.v… đầy nhẫy trong nội
cảnh chùa. Lại thấy có vô lượng Tăng chúng
tay cầm lọng hoa và đồ cúng dường như
trên đồng đến cúng dường Kinh Đại
Bát Nhă. Những đường sá tường vách trong khu
vực chùa đều trang hoàng dẹp đẽ,
đất đầy danh hoa, Tăng chúng đồng
giẫm trên mà đi. Đến như Viện phiên kinh,
nơi Viện lại càng bội phần đẹp
đẽ lạ lùng, như Kinh đă chép cơi bảy báu trang
nghiêm. Lại nghe thấy trong Viện có ba gian nhà để
giảng thuyết, Pháp Sư ngồi gian giữa diễn
giảng. Đă thấy đấy rồi, vui mừng
thức giấc, đồng đến thăm hỏi nói
việc đă thấy trong mộng với Pháp Sư. Pháp
Sư bảo:"Nay chính dịch phẩm này, các Bồ Tát
thảy tất có cúng dường. Các Thầy đă
mộng thấy, tin có việc ấy. Ôi".
Bấy giờ, bên điện có hai cây mít,
bỗng lúc phi thời lần lượt nở hoa, mỗi
hoa đều nở sáu đóa thịnh mậu, sắc
hồng trắng, thật đáng yêu phi thường. Lúc
đấy Tăng chúng luận nghị rằng: "Đây
chính là triệu chứng điềm lành Bát Nhă
được tái xiển dương lại; lại ra sáu
quả là tiêu biểu sáu Ba La Mật Đa".
Nhưng Pháp Sư khi dịch kinh này, tâm chí
miệt mài và hằng lo lắng vô thường , nên mới
bảo chư Tăng rằng: "Huyền Trang tôi năm
nay đă sáu mươi lăm tuổi, chắc sẽ
bỏ mạng ngôi già lam này; bộ Kinh này rất lớn
lao, hằng lo sợ việc làm chẳng trọn vẹn,
người người nên nỗ lực gia công tinh
tiến, rất chớ nên v́ khó nhọc mà từ nan!".
|
|
Đôi nét về Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm
Thân thế:
Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là
Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911)
tại Thôn Chánh Lộc, Xă Xuân Lộc, Huyện Đồng
Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên.
Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà
Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong
gia đ́nh có năm anh chị em. Gia đ́nh Ngài là một gia
đ́nh có truyền thống nhiều đời uy tín Tam
Bảo.
Xuất gia tu học:
Ngài húy là Tâm Bổn, tự là Truyền Lai,
hiệu là Trí Nghiêm ḍng Lâm Tế đời thứ 43.
_Năm 15 tuổi (1926) xuất gia thọ
giới với Ngài Vĩnh Hảo Đại Sư (cũng
là cậu ruột của Ngài) tại chùa Phước Long,
Xă Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên.
_Năm 22 tuổi (1933), Ngài thọ
Đại Giới, tại Giới Đàn Chùa Bảo
Sơn Phú Yên do Ḥa thượng Vạn Ân làm Đàn
Đầu.
_Năm 27 tuổi (1938) Ngài được
trúng tuyển vào tu học tại Phật Học
Đường Bảo Quốc Huế. Tại đây Ngài
đă được sự truyền dạy của Ḥa
Thượng Thích Trí Độ, một vị Đốc
Giáo danh đức thời bấy giờ. Chính nơi
đây đă đào tạo nhiều vị Tăng tài
lỗi lạc cho Phật Giáo nước nhà hiện nay.
Ngài đă tu học tại Phật Học Đường
này 8 năm.
Đạo Nghiệp :
_ Năm 1944 (34 tuổi), sau khi măn học,
Ngài đă bắt đầu công việc hoằng hóa
bằng việc lưu hành diễn giảng Giáo lư tại
các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú
Yên…
_ Năm 1945 (35 tuổi), Ngài trở về
Phú Yên làm trụ tŕ chùa Thiên Tôn ở Tuy An 9 năm. Trong
thời gian này Ngài đă tham gia Phật Giáo Cứu Quốc
thuộc liên khu V.
_ Năm 1955 Ngài lại tiếp tục công
cuộc hoằng hóa, chuyên lo giảng dạy Phật Pháp
tại các Tỉnh Hội Phật Học : Phú Yên, Khánh Ḥa.
Lúc này Ngài được coi là vị Giảng Sư kỳ
cựu của Hội Phật Học Miền Trung.
_ Năm 1956, Ngài chủ trương xây
dựng Trường Bồ Đề Tuy Ḥa và Cô nhi
viện Phước Điền Tuy Ḥa, Phú Yên.
_ Năm 1957, theo thỉnh cầu của
Giáo Hội, Ngài ra giữ chức Hội Trưởng
Hội Phật Học Thừa Thiên Huế.
_ Năm 1960, Ngài vào thường trú
để lo Phật sự tại chùa Long Sơn, trụ
sở Tỉnh Giáo - Hội Phật Giáo Khánh Ḥa Nha Trang
hiện nay.
_ Năm 1964, Ngài là thành viên của Hội
Đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật
Giáo Việt
_ Năm 1966, Ngài giữ chức Chánh
Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt
_ Năm 1968, Ngài là Chứng Minh Đạo
Sư của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt
_ Năm 1968, Ngài là Đệ nhị Tôn
Chứng tại Đại Giới Đàn Hải
Đức Nha Trang (lần 2).
_ Năm 1973, Ngài làm Giáo Thọ tại
Đại Giới Đàn Phước Huệ Phật
Học Viện Hải Đức Nha Trang.
_ Năm 1974, Ngài làm giám luật Ban Quảng
trị Viện Cao đẳng Phật học Hải
Đức Nha Trang.
_ Năm 1977, Ngài được Đại
Lăo Ḥa Thượng Thích Giác Nhiên, Đệ nhị Tăng
Thống GH. PG. VN TN. tấn phong Ḥa Thượng.
_ Năm 1980 - Dịch xong bộ Đại
Bát Nhă Kinh
_ 1980 - đến nay tiếp tục nghiên
cứu và phiên dịch Kinh điển Đại Thừa
tại tại Am Hoàng Trúc - thành phố Nha Trang.
Phiên dịch kinh luận:
Mặc dù bận nhiều Phật sự
về lănh đạo và hoằng hóa, nhưng Ngài vẫn tinh
tấn chăm lo phiên dịch kinh luận để
tiếp dẫn hậu lai.
1- Kinh Lời Vàng
: Nguyên danh kinh là "Phật Giáo Thánh kinh", 1 quyển, do
nữ cư sĩ Trung Hoa là Dương Tú Hạc biên
soạn.
2- Kinh Phổ Môn
giảng lục : 1 quyển, do Bảo Tịnh Pháp
Sư giảng (dịch năm 1969).
3- Kinh Pháp Hoa giảng
lục : 1 bộ, 7 quyển, 2 tập, do Thái Hư Pháp
Sư giảng (dịch năm 1969)
4- Luận Thành Thật
: 20 quyển, do Ha Lê Bạt Ma Tát soạn.
5- Kinh Đại Bát Nhă 24 tập, 600
quyển, 5 triệu chữ (5.000.000), do Huyền Trang Hán
dịch. Khởi dịch từ năm 1973 đến
năm 1980 mới hoàn tất.
Bốn kinh luận đầu đă in,
riêng "Kinh Lời Vàng" và "Kinh Pháp Hoa - giảng
lục" đă được tái bản một hai
lần, " Kinh Đại Bát Nhă; đă in 2 lần,
lần mới nhất là năm 1998 tại Sài g̣n.
Ngoài ra, c̣n 10 bộ kinh nhỏ chưa in.
Từ năm 1981, Ngài là Chứng minh
Đạo Sư của tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh -
Ḥa Nha Trang.
Sau một thời bệnh nặng,
mặc dù đă được hàng đệ tử, các giáo
sư bác sĩ và y sĩ bệnh viện Thành phố Nha
Trang tận t́nh chăm sóc chữa trị. Nhưng v́
tuổi cao sức yếu, Ngài không vượt qua khỏi,
Ngài đă an tường xả báo thân lúc 2 giờ sáng ngày 13
tháng 01 năm 2003 ( nhằm ngày 11 tháng chạp năm Nhâm
Ngọ) thọ thế 93 tuổi, 70 tuổi đạo.
Suốt cuộc đời, từ khi
xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Ngài
đă nỗ lực không ngừng trong công việc xiển
dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là
một tấm gương sáng ngời về đạo
hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và
Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài không
c̣n nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp
hoằng hóa của Ngài sẽ măi măi là ngọn đuốc
soi đường cho Tăng Ni Phật tử hậu lai.
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, lược ghi
-- o0o --
Ấn bản trên giấy:
Chịu trách nhiệm xuất
bản:
Trần Đ́nh Việt
Biên tập:
Nguyễn Cẩm Hồng
Sửa bản in:
Hồng Anh
Kiểm tra số trang:
Lạc Kính
-- o0o --
Ấn bản
điện tử:
Tŕnh bày:
Thích Nguyên
Tạng
Đánh máy vi tính:
Nguyên
Chí, Hoa Giác,
Quảng
Thức, Hải
Hạnh, Hồng
Liên, Hoàng
Ánh, Thùy Châu,
Diệu
Nga, Thanh Tâm,
Thục
Đức, Thiền
Lâm, Phước
Ngọc, Thạch Huệ, Bích Thi,
Bích
Hương, Nhị
Tường, Phương
Trang, Phong Lan,
Bích Ty, Phước
Sơn,
Kim
Ngân, Thùy Dung,
Đông
Phương, Diệu
Xuyến, Chơn
Mỹ Thanh,
Mướt-Liên, Chân Hiền
Tịnh, Chân
Nguyện, Cao
Thân.
Sửa bản điện tử:
Nhị Tường
--- o0o ---
Tập: 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11
| 12
13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24
--- o0o ---
Cập nhật ngày
01-3-2006