KINH BÁT NHĂ
NHÂN VƯƠNG HỘ QUỐC
THẦN BẢO KƯ
|
|
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
Quyển 33, số 1706/145
Từ trang 286 đến trang 314
Sa Môn Bách
Đ́nh Thiện Nguyệt
giảng
tại Tứ Minh
Tỳ
Kheo Thích Bảo Lạc
dịch
tiếng Hán sang tiếng Việt
Pháp
Bảo Tùng Thư,
Ấn hành Mùa An Cư, Phật lịch 2547 - 2003
--- o0o ---
Lời
tựa nguyên bản
- Quyển nhất
-
Quyển hai
- Quyển ba
* Phẩm Quán Không
* Phẩm Bồ Tát giáo hóa
-
Quyển bốn
* Phẩm giáo hóa
* Phẩm nhị đế
* Phẩm Hộ quốc
* Phẩm tán hoa
* Phẩm thọ tŕ
* Phẩm phó chúc
-
Chú thích
Dễ
ở hiểu kinh mà khó việc ghi chép là dối Phật;
dễ nơi ghi chép mà khó ở hiểu kinh là dối
Tổ. Đối với đạo của Phật, Tổ
không dám khi nên chỉ thuật lại cũng hợp cơ
duyên thôi.
Trước
tiên, bản kinh chú giải này ở Nhật Bản
truyền qua bằng đường hàng hải. Sự
hưng suy của Phật Pháp phải trải qua bao
hiểm nạn gian nguy như vậy. Sau này, nơi lời
tựa ông Cảnh Vu Triều văn Nguyên có ghi lại rơ nên
nay vua cùng tướng sĩ là thời buổi lấy tôn
giáo làm chính. Nh́n lại kinh này đúng là món quốc bảo,
nhưng v́ chưa có ai ghi chép lại làm cho giáo điển
bị kém khuyết. Một ngày kia vào năm Chiêu Khánh
diễn giả đang tham thiền th́ có người mang
kinh đến trao cho tại hội Linh Sơn.
Tiếp đó khách kêu tôi bảo rằng: mong có một
bản kinh ghi chép đầy đủ để phát huy.
Tôi tuy vô vàn cảm tạ không thể không tuân hành, và gấp
đưa về phương Đông. Nhằm ngày nhàn hạ
với khách, từ nơi ḷ hương mở ra ba
quyển theo lời mách bảo. Chợt ngoái nh́n lại tôi
thấy thần bảo:
-
Khó khăn lắm thay, chẳng phải chỗ dám biết
đâu!
Năm
Ức Hựu thời vận suy, cái học bị bỏ
phế có nhiều người nhụt chí. Trong hoàn cảnh
như thế há ai đuổi kịp ư?
Thần
hoặc khuyên tôi rằng: đây cũng là việc làm
hưng hiển đạo giáo, thấy việc
nghĩa không làm, lại làm việc ác là dũng ư? Tôi vâng
dạ cố chí miệt mài chưa dám tự cho là hay
khéo.
Nhân
duyên thuật như thế nên gọi là thần bảo kư
để mong có người thông bác, hiệu đính
ngỏ hầu một ngày kia kinh này được phổ
biến rộng răi.
Ngày Vu Lan năm
Canh Dần đời Chiêu Định
Thích Thiện
Nguyệt (^)
Kinh này có hai tên gọi hoặc
là Long Bảo Thần Vương hoặc Luân Vương
Hưng Thế Thần Bảo như lời mách
bảo.
Các nhà
dịch thuật danh tiếng phái Thiên Thai lấy việc
truyền pháp của tông làm chính; c̣n giải thích kinh là
việc thứ yếu, nhưng cũng lấy việc
đạt tâm tông phát triển thiền định. Phàm
một bộ kinh nào giải bất cứ nghĩa ǵ
cũng phải có pháp trước mở ra hai môn: 1) bàn
rộng nghĩa chính và 2) hoặc theo nguyên văn giải
nghĩa. Muốn hiểu ư kinh hẳn xét đề kinh qua 5
phần thể, dụng, tông, giáo, tướng. Luận
về pháp ắt phải có tên, tên hẳn phải có thể.
Thể của pháp có thật, cũng là chủ hay ấn
tức in sâu vào, dấu ấn như thế đáng nên tin
nhận; c̣n phủ nhận chỉ là tà đạo mà thôi.
Tông nêu rơ điểm quan trọng của thể, lấy
nhân quả làm tông nên thể là phần quan trọng của
tông. Rơ thể là thấy dụng. Hoàn bị nghĩa thứ
tư là giáo th́ Tiểu-Đại, bán-măn, đốn-tiệm,
quyền-thật riêng biệt, đấy gọi là
tướng. Như kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa có giải
rộng điểm này. Riêng kinh này lấy cả hai nhơn
- pháp có 5 nghĩa. Lấy nhơn và pháp làm tên, có
người nói pháp và người nghe pháp làm đề mục
chung. Sau đây căn cứ các kinh hoặc nêu lên cả ba:
nhơn, pháp, dụ từ giản dị tới phức
tạp đủ cả. Thật tướng là thể,
thường các kinh Đại thừa chỉ một thật
tướng ấn làm thể, lấy ba đức làm
dụng. Kinh này có tên là Bát Nhă có đủ ba nghĩa là: 1)
thật tướng tức tánh đức thể pháp thân.
Thể hẳn quy về một nhưng không ĺa Tông là
Dụng trong đó có nghĩa ly-hiệp v.v... Tự hành
nhân quả là tông; đă là tông ắt phải nương
theo hành mà có nhân quả; cũng chính là tông. Thể
đầy đủ cần phải quán chiếu là tự
hành mà đầu là nhân kết thúc là quả, đó không
phải là trí bát nhă. Hai trí quyền, thật là dụng, song
dụng vốn giải thoát. 2) Văn tự Bát Nhă lấy
dụng soi sáng làm nghĩa, hai trí tấn-thủ làm dụng;
Đại Thừa lấy thục tô làm tướng, là pháp dung
thông giữa các bộ Bát Nhă, bỏ thục tô (váng sữa
đặc) nhị thừa thành tướng ích dụng
đây phải là một vị. Tên kinh có chung có riêng nhưng
tựu trung trong cùng chủ đề gồm chung 12
chữ. Phẩm tựa thứ nhất đủ ba chung và
riêng như kinh văn. Nhưng hai tiếng ‘Phật
thuyết’ là chung, c̣n ngoài ra các chữ khác là riêng
cần phải biết. Từ Phật là một chủ
đề cần giải thích, như nói Phật là
người thuyết kinh. Phật đầy đủ 10
hiệu hay cũng gọi 10 đức và Phật là một
bậc giác ngộ. Giác có 3 nghĩa: tự giác, giác tha, giác
hạnh viên măn; dù nghĩa có khác Phật vẫn là một
bậc giác. Cũng có thể nói người đầy
đủ ba giác là Phật, đủ tám biện tài tuyên nói
thông suốt bằng 8 âm như ta thường biết.
Luận Khởi Tín gọi là viên âm một khi Phật
diễn tả các loài đều hiểu biết. Sau
giải từ ‘Nhân Vương’ là người nghe pháp
hay pháp được nói ra.Trước tiên 4 tiếng Nhân
Vương hộ quốc là tóm ư chính mở đầu
bộ kinh. Nhân vương theo cách gọi thông thường
xưa nay là đế vương. Giờ dựa theo
đấy giải thích người ban ân trải rộng
đức là nhân; cai trị đất nước an
ổn là vua. Ở đây cho thấy điểm nổi
bật là đức dụng của vua. T́m xét rơ đạo
quân vương không thể nêu ra hết được. Đại
loại có bốn cách giải thích: 1) nhân duyên: phàm xử
sự đối phó mọi việc giữa quốc dân và
vua được gọi là nhân duyên. Hộ quốc hay
bảo vệ đất nước có hai: vua tự
bảo vệ và quốc dân bảo vệ (năng hộ -
sở hộ). Việc hộ quốc mang ba ư nghĩa: a) Vua
là người đứng ra bảo vệ; đất
nước được vua bảo vệ nên lấy
đạo vua trị nước. b) Trí tuệ là chính cho
việc trị quốc và vua được bảo vệ
là do trí tuệ Bát Nhă, v́ thế vua cùng quốc thể
đều được an ổn, c) vua làm chủ giáo pháp
do vua hoằng truyền rộng khắp, cho nên có câu
nói: "Người hay hoằng đạo" là
vậy. Tuy thông thường có ba nghĩa, nhưng
thật ra điểm chính là làm hiển lộ trí Bát Nhă, là
phần quan trọng cho việc hộ quốc; ngoài ra c̣n
hai điểm khác để giúp thêm việc giải thích mà
thôi. Nhưng Nhân Vương đây dựa chữ giáo
giải thích, Nhân cũng tức nhẫn mà cũng hàm
nghĩa là rộng răi để nói cái đức vua
trải rộng, không bị mừng giận chi phối mà
phải giữ trung tiết, cho ta thấy rơ vua có ḷng nhân
hậu.
2) Dựa
theo giáo giải thích, trong cùng một nhà lại phân bốn
giáo: tạng-thông-biệt-viên giáo để giải
đại cương. Cho nên, mỗi phái đều có cách
nói nhưng chắc hẳn phải dựa theo bốn
nghĩa ấy mà luận về cạn sâu giáo phải có
chỗ quy về để hiểu không thể thiếu.
Nếu dựa theo các kinh xưa nay giải lại có
nghĩa xét đoán mở rộng. Việc xét đoán này có 4
ư trong đó mỗi ư c̣n chia thành hai điểm: dựa vào
tôn chỉ giáo phải theo văn giải thích. 1) Tạng
giáo: nếu thấy các pháp có sanh th́ tạng là sanh diệt,
pháp không là không hẳn có phân tích diệt đi đến
không. Sanh tức là có, diệt là không, không th́ hết
thảy vi trần đều bao hàm trong đó là đất
nước nên không dời đổi. Dựa theo văn
giải thích vua có an lạc đất nước mới
thái ḥa. Tiếng gọi đúng nhất của nhị
thừa là vua, do theo quả nghiệm nhân nhưng trong nhân
đă có quả. Đối với đất nước
phải biết vua và ngoài ra ba thí dụ khác cũng thế.
2) Thông giáo giải rằng sắc tức là không, so nội
dung phân tích của tạng giáo có khác, nên chẳng sanh
diệt hẳn toàn là dối th́ phiền năo ba cơi liền
dứt ngay, do căn cứ nơi quả nói như vậy.
Nếu cũng do nhân nhưng từ từ đoạn
dứt th́ ở ngoại giới theo văn giải thích. 3)
Biệt giáo giải rơ thứ tự ba đế, giải
về không chẳng khác Thông giáo; sắc nhiều vô hạn
nên mượn so sánh. Sắc tuy nhiều nhưng so với
tâm không ngăn ngại. Nếu căn cứ tạng giáo th́
dứt ngay đây, nhưng nói pháp vô biên tại điểm
nhứt tâm dường như trở ngại việc
hiểu tôn chỉ. Nay dùng hai nghĩa thông thường
giải thích: một dựa tâm năng tạo không ngăn
được tâm dung thông; c̣n nếu chỉ dựa pháp
sở tạo KHÔNG, với sắc không có thể
được; hai dựa theo quả không theo nhân, như
cho rằng Bát Địa nhập vô công dụng đạo
ứng hiện mười loại thân, như thế
cũng không ngăn chướng đạo. Sau giải
từ Sơ địa trở lên, như nói không
động chuyển mà động chuyển tức
giải thập địa như kinh Hoa Nghiêm Bồ Tát tùy
lực tùy phần trong thập địa, tùy tiện
được tự tại vô ngại. Nêu 6 chữ e
bị hiểu lầm nên phải tạo 10 chữ như
pháp quán sau: Viên giáo giải mọi pháp gốc do lư tánh
khởi nên không có sanh diệt. Lấy cái thấy viên măn
đó nh́n sự và lư có đủ trong một niệm, tuy
không sanh diệt sanh diệt vẫn hiển nhiên; dù sanh
diệt rơ ràng có mất đi nhưng theo thói thường
danh vẫn y nguyên. Vốn không sanh diệt dựa theo chân
tánh rơ chân tục cũng khá đầy đủ; che chân lấp
tục để nói quên th́ quên trước ngăn sáng sau,
hoặc sáng trước ngăn sau. Mất sáng lại
quay về được trung đạo ư, cả ba
đều gọi là tánh rộng lớn như pháp tánh,
cả ba đều bất động nên lồng lộng
như hư không. Dựa theo lư chân thật rốt ráo
từ Sơ trụ, người giữ vững quốc
gia được làm vua. Sau đây giải từ ‘tam tàng’,
thông thường dựa theo nhân quả của 4 phái
để luận hai chữ đắc, không
đắc th́ tam tàng của bốn quả đă dứt mê lầm nên
được tôn là nhân vương; ngoài ra, nếu mang danh
vua nhưng thiếu ḷng nhân chưa được là nhân
vương. Thông giáo lấy quả để luận
cũng có thể gọi chung là vua. Ba phái dùng danh xưng
tiểu vương, nên gọi hai ba tiểu vương,
mỗi phái lư hợp ở phẩm vị có sự hơn
kém khác nhau. Và mỗi phái c̣n có phần giáo tướng
nh́n rộng hai từ nhân vương đă có sự hơn
kém nhau, nên bảo rằng không phải nhân cũng vua,
tức có hơn kém nhau rơ rệt. Nhưng theo người
đời có nhân mà không làm vua cũng có người, và
chưa từng có người bất nhân làm vua, chỉ có
Kiệt, Trụ bất nhân làm vua. Ba, giải theo hai từ
bổn-tích phân thành hai để luận. Theo kinh Pháp Hoa là
bổn môn và tích môn. Tích môn c̣n chưa nghe huống ǵ bổn
môn ư? Ngoại trừ tích chỉ mượn để
dùng thể dụng của bổn tích. Theo ư này có hai lối
nh́n: 1) Theo Viên giáo 2) Luận theo nghĩa sâu cạn Viên giáo
hành là bổn; Biệt giáo quả là tích, Thông giáo quả tuy
Phật địa nhưng vọng hăy c̣n là tích. Ba phái
thuộc nhị thừa tuy cùng tiểu quả nhưng
vọng thành ra tích, tích là dấu vết nên xoay theo tướng
vọng là nghĩa thuộc Thông giáo. Hoặc dựa Thông
giáo luận mỗi phái nghĩa bổn tích có khác. Ngoài ra
bổn tích c̣n dựa cao thấp luận về tứ cú.
Bốn, giải việc quán tâm, ba lối giải thích trên
tuy đầy đủ nhưng vọng quán thuộc
về sự; chỉ viên quán tự hành mới đạt
lư, nên nói rằng: thí như người nghèo ngày đêm mang
của báu trong ḿnh mà không biết nên phải quán tâm.
Đoạn này gồm 4 ư như: sanh diệt, vô sanh, vô
lượng, vô tác quán chiếu dựa pháp tứ
đế. Quán về sắc không, cảnh v.v... theo mỗi
phái quán có khác nhau. Nên có câu: quán pháp sanh diệt thấy
sắc là có so sánh của ba phái. V́ sanh - diệt - sắc do
tâm sở chuyển nên tâm được tự tại. Quán
sắc là không tức Thông giáo quán, không chỉ có tâm
được tự tại mà v́ không nên sắc
cũng tự tại, nên nói rằng không sắc tự
tại. Nếu quán không là sắc theo thứ tự tức
quán theo Biệt giáo. Kinh Anh Lạc nói đó là hai phép quán
để làm phương tiện nhập trung đạo.
Nếu quán sắc, không bất nhị (không hai) tức là
Viên giáo quán. Do ngộ có viên chóng c̣n sắc, không chỉ duy
nhất một lư; do quán chiếu một bên nên thấy không
hai nhưng hai; nếu quán chiếu mà quên hết tuy hai nhưng
bất nhị. Song chiếu quên cả hai do nhất tâm,
thể trung đạo nên không phải thật
tướng. Nhất tâm quán ba pháp, ba pháp nhất tâm không có
trước sau cũng gọi nhứt tâm trong ba pháp nên
chẳng buông theo dọc; quán ba pháp nhứt tâm nên
chẳng ngă theo ngang. Chẳng dọc ngang như con mắt
thiên thấy suốt đến vô cực không bị
ngăn ngại. Nay ta v́ Thánh chúa dựa theo pháp quán tâm
để giải thích; suy công chủ ở trên lấy
đạo giáo hóa nên đầy đủ đức
của nhân vương. Vua nhờ sức chánh quán
để bảo vệ đất nước, làm mọi
việc lành bổn tích sâu rộng khó có thể nghĩ bàn.
Đó cũng là pháp quán tâm như đă phối hợp giải
thích của ba phái ở trên.
Sau luận
việc hộ quốc, như trước đă giải
thích rơ vua, phần sau giải thích rơ hơn nên ở đây
không đi vào chi tiết. Nay giải từ Bát Nhă, nếu
nói đủ là Bát Nhă Ba La Mật, là một kinh dùng hộ
tŕ pháp khéo dùng tuệ giác làm cho quốc chủ (vua) an
ổn trị quốc để giáo pháp được
truyền bá. Giữ nguyên ngữ không dịch
được như kinh nêu rơ có năm nghĩa không
thể dịch, v́ để tôn trọng mà Bát nhă là một
trong các nghĩa đó. Không dịch được có
nghĩa là lư sâu vô cùng. Nay đối chiếu theo cổ
luận, trước luận chỗ gốc có 2 ư: một
có thể phiên dịch chỗ hay để dùng, và một
không thể dịch v́ trang nghiêm sâu rộng để theo
nên tên bao hàm nghĩa cũng bao hàm nhiều nghĩa. Nếu
dịch bát nhă là trí tuệ rất cạn cợt không
thể diễn dịch được hết ư. Nay
lược luận hai thuyết: trước chỉ
chỗ lầm và sau dung hợp, thành mỗi thuyết có
sự tranh biện. Ở đây nói chung bát nhă có hai
loại: a) theo bộ loại có đầy đủ, thiên
lệch, viên quyền, thật có thể dịch nghĩa hay
không thể dịch nghĩa dung ḥa cả hai thuyết. Tuy
chưa hàm hết ư chính. b) Tóm bác, như nói ánh lửa không
thể lấy như đă luận dẫn. V́ bát nhă là chánh
trí không thể dùng thiên kiến giữ lấy; giữ
lấy bị bỏng tay hại ḿnh; không thể chấp
giữ nhưng lấy, v́ lấy nên thấy. Chỉ do
chấp thủ hay không mà chẳng lầm tư duy, không quan
hệ ǵ để nghĩ suy! Nghĩ việc đương
nghĩ th́ đúng thực tại, trí tuệ bao hàm hai
nghĩa hiệp và ly cũng chỉ mới nêu lên
được một bên nên Thành Thật luận phải
hợp lại để giải thích. Ngài Tịnh Danh dùng
ĺa ngôn thuyết, chính đó là trí để phân biệt
tánh; huệ lấy không bám chấp lời, nói lấy phân
biệt nêu trí có thật, không vướng mắc nên
huệ tức là không. Phải ĺa là ĺa không ĺa hữu;
hiệp nơi trung đạo, như luận hợp
lại để giải thích. Thật huệ là trí, trong
ấy thật bát nhă phải trụ vào đâu? Sau nêu
lên điểm đồng điểm dị căn cứ
theo các bộ kinh. Phật thuyết kinh Bát Nhă trong 29 năm
kể cả bộ Nhân Vương như 5 bộ Bát Nhă
đă nêu đủ. Nay đề cập tám bộ
chỗ phát xuất không giống như kinh này mở
hiệp khác nhau. Có thuyết cho rằng Thiên vương Bát
Nhă tức là Nhân Vương Bát Nhă. Ở đây không nên
chấp; nếu chấp là kẹt, không như đă nói nhân
vương mà lại có chỗ thưa hỏi nên không
đúng. Dù văn kinh Đại Bát Nhă có giống, nhưng
đúng ra là hai bộ khác nhau.
Hỏi: Nhân vương theo thông
thường nói khác, tại sao đây nói giống
điểm nào?
- Đáp : Căn cứ theo kinh Đại
Bát Nhă nhân tức là nhơn vật, cũng như sách nói
nhơn là người nhân; hợp cả hai thành
người có nhân đức, ư giống nhau nhưng sách Lăo
tử lại cho rằng: Thánh nhơn bất nhân. Nói cách
dễ hiểu, do nhân vương thực hành nhân
đức làm việc không cầu được trả
ơn, như thế không thể gọi bất nhân
được. Thật ra nhân hay bất nhân đều
căn cứ nơi có đạo đức hay vô
đạo đức mà ra. Ở đây nói nhân vương
tức nói vua có tu hành nhân đức, nếu làm trái
đạo làm người c̣n chưa xong huống ǵ có nhân
đức ư?
Lại
hỏi rằng gọi nhân là ǵ?
- Đáp
: nhân không dễ
giải thích. Tách riêng từng chữ theo lối chiết
tự để luận có thể khả dĩ nên nói
chữ nhơn đi cùng chữ nhị là người nhân.
Chữ nhơn theo chữ nhị hai nét thành tam tài (thiên,
địa, nhân). Ngoài ra, cũng nói rằng quán suốt
cả ba là vua tức hàm nghĩa nhân vậy. Như
người học kém mà đỗ đạt cao,
trường hợp này không biết giải thích làm
sao?
Lại
hỏi nữa: người xưa dùng kinh này không đúng
chánh bản dịch có phải v́ không có mục lục mà ra
không ?
- Đáp: Đại loại có dùng mục
lục hay không e cũng chỉ nghe vậy thôi. Hơn
nữa, kinh có ba nhà dịch thuật đâu chẳng
phải không chánh truyền, huống ǵ c̣n có trong đại
tạng mục lục của Phí Trường Pḥng
đủ để tham khảo, nên tin là không thể
dối được. Sau đây Hải Dung dẫn
chứng việc bài bác là không đúng, cho rằng trên
biển thánh thường dùng tai mắt thấy nghe chỗ
không thấy nghe mà chỉ ức đoán việc ấy há
biết có thật hay không? Chỉ nghe qua ngoài tai không
thấy được chính xác đâu đủ làm tin.
Phần chính kinh xuất phát từ hai cách giải rộng
hẹp khác nhau, trước sau có ba nhà phiên dịch nêu rơ
chỗ đúng chỗ sai. Luận như thế e có hơi
quá đáng chăng, nhưng cả ba cuốn đều
dịch chú giải vào đời Tần. Trừ hai bản
dịch trước mà bản ngài La Thập dịch là hoàn
hảo nhất, nghĩa lư thâm sâu mà văn phong lại bóng
bẩy nên được tôn trọng lúc bấy giờ.
Danh từ Ba la mật dịch là việc đă hoàn tất
tốt, cũng c̣n gọi là đến bờ bên kia
(giải thoát). Nhờ cái hơn của trí tuệ nên
mọi việc hoàn tất viên măn lư cần phải
biết. Trong lục độ, năm độ
trước thuộc về sự, chỉ có độ
thứ sáu: bát nhă thuộc về lư. Sự do lư dẫn
lối c̣n đạt đến viên măn huống ǵ lư
dẫn đạo lại không đưa tới rốt ráo
sao? Nói đến bờ bên kia cũng như dùng thuyền
bè qua đại dương mà có bờ bên này, bên kia,
giữa ḍng khác nhau. C̣n ở bờ bên này hay ở giữa
ḍng đều chưa hoàn toàn mà đến được
bờ bên kia niềm vui mới trọn vẹn. Đó mới là
ư nghĩa đạt được rốt ráo vậy; nên
gọi sanh tử là bờ bên này. Ở đây tuy giải
thích như vậy nhưng nghĩa nói chung c̣n tùy thuộc
nhân duyên. Kế dựa theo các phái giải thích, Tạng giáo
lấy thật có sanh tử làm bờ bên này, Niết Bàn
tịch diệt làm bờ bên kia, giữa ḍng c̣n kiến
hoặc, tư hoặc chưa dứt sạch phiền
năo đối với sáu pháp lục độ đều là
việc cần hành chưa rốt ráo và chưa đạt
được đến bờ bên kia, nên cần phải
dùng bát chánh đạo làm bè đưa qua vậy. Quan
niệm bên này - bên kia của Thông giáo không khác Tạng giáo.
Nếu đem phân tích lục độ là lư, c̣n theo như
ba phái sự lư lẫn lộn với nhau. Nhưng theo kinh
Bát Nhă sự - lư hoàn toàn khác biệt; ngoài ra, v́ bị vô minh
nên c̣n ở giữa ḍng. Như phàm phu c̣n bị sắc,
Không chi phối nên c̣n bên này trong cơi dục. Bồ Tát
nương theo giáo pháp đến bờ kia, thế
giới giải thoát bên kia, nhưng cần phải dùng
tới hạnh nguyện làm thuyền để sang. Viên
đốn toàn dùng sự lư; sự viên măn là rốt ráo trong
lư tuy hai nhưng không hai; lư rốt ráo là viên măn trong sự
tuy không hai nhưng hai. Lấy thí dụ sanh tử, Niết
Bàn nói có bên này, bên kia ta cần phải biết,
nhưng thật ra không có sanh tử cũng không đạt
Niết Bàn. Lấy hết thảy hạnh làm một
hạnh, v́ tất cả các hạnh dùng làm thuyền bè hoàn
toàn đạt đến bờ đại giải thoát, là
ư nghĩa này vậy. Sau lấy pháp quán giải thích bỉ
ngạn không dựa vào không - giả -trung quán mà chỉ
lấy sắc - Không quán bên này bên kia. Nhưng luận
về tướng th́ hiển sự đạt lư như
đă giải thích. Dựa ba nghĩa giải như sau. Kinh
giải, theo chữ, tiếng Phạn là Tu Đa La trước
đây có dịch hay không dịch tóm tắt các duyên thành
năm nghĩa, mỗi nghĩa có ba phần: giáo-hạnh-lư
thành 15 ư theo nghĩa bóng v.v... Ngoài ra, kinh cũng có nghĩa
pháp thường hằng và c̣n có nghĩa là đường
chắn ngang. Đây là một trong sáu kinh Bát Nhă mà kinh này thay các
bộ kia nên gọi là kinh vậy.
Nhơn kinh
dạy về sáu trần cũng nhân kinh làm sáng tỏ
việc giáo hóa. Luận kinh là ghi lại lời Thánh nhân
dạy. Nhờ lời dạy để ta ngộ
đạo có chung có riêng. Chung là mười phương các
cơi Phật đối với sáu trần đều là
thể giáo hóa. Chư Phật hoặc dùng ánh sáng làm Phật
sự nơi sáu trần như ví dụ, cơm thơm
nơi ba trần: thơm là hương trần, cơm
đưa vào miệng nhai là vị trần, cơm ở
giữa môi và lưỡi có chất dịch vị là xúc
trần. Hoặc mặc nhiên không nói mà đạt pháp tam
muội là pháp trần, suy rộng ra mà biết. Mỗi
một trần đều có đủ sáu căn nhưng
mỗi căn cũng có đầy đủ sáu trần. Các
căn, trần biến khắp pháp giới đều có
thể nhập đạo huống ǵ c̣n hợp với
thể giáo hóa. Thậm chí dựa bổn môn, tích môn quán tâm
làm thí dụ. Giả sử thiền tông truyền tâm
yếu ngoài giáo pháp nhẫn đến không lời, không
chữ mà chỉ một pháp duy nhất để thấu
đạt tâm hay không thấu đạt và đó cũng là
giáo thể, thử hỏi c̣n nơi nào, pháp nào truyền
riêng nữa chứ? Do ta chưa hiểu rơ chỗ sâu
sắc của lư này nên khó dùng ng̣i bút diễn đạt.
Biệt giáo phần chính lấy thanh, sắc làm thể. Khi
Phật c̣n tại thế và sau khi nhập diệt có khác
nhưng đối với kinh có ba nghĩa là một
nghĩa thật. Ba nghĩa hợp nhau thành thể ḥa
hợp để lời dạy của Phật đầy
đủ. Nếu lấy đường ngang giải thích
kinh; như ở đời dệt vải hẳn
trước phải có đường chỉ ngang, nay kinh
kết lời Phật cũng thế. Lấy văn tự
làm kinh đó là thường hằng; lấy tâm con
người làm điểm tựa khoảng giữa là
đường ngang. Tuy đạo xuất thế
đạt chánh giác cũng do đây mà thành nên thí dụ
đường ngang là kinh. Sau giải chữ ‘tự’
của phẩm tựa thứ nhất cũng mang
được một ư nghĩa giống đại loại
cần phải biết. Thứ hai luận về thể
chia thành hai: 1) theo cổ văn dùng văn tự làm thể,
ư nghĩa đơn giản không có ǵ để phê b́nh 2) c̣n
như lấy vô tướng làm thể, tuy đạt lư
nhưng chưa đạt lời, nên luận đến
vẫn là việc mông lung theo cách nói thông thường, do
không gần gủi kinh mà nói như vậy. Có người
nói rằng lấy năm pháp nhẫn, mười
địa làm thể như kinh này vừa
văn chương vừa có lư, đó là tôn ư ngài La Thập,
nhưng lại không phải thể kinh. Luận về
thể hẳn phải quy về Một, chưa nghe mà
lấy một ít nghĩa làm thể nên chẳng đúng.
Ở đây giải có ba nghĩa như sau: a) dựa ư
nghĩa để giải gọi thể là pháp. Có tôn ti
trật tự có đạo vua tôi, cha con nếu tổn
thương đâu c̣n hợp đạo lư nữa. Thế
nên pháp xuất thế thể cũng vậy, tuy trong 10 cơi
khác nhau nhưng đồng nương theo một thể
pháp tánh. Duy cái thể của chúng sanh chưa từng khác,
th́ chỗ cực vi đó chỉ có nơi Phật. Cho nên
kinh giáo Đại Thừa chỉ rơ thật tướng làm
thể; nếu dựa theo chỗ phế bỏ làm thể
không phải ư chính nên miễn bàn. b) dẫn chứng,
dựa theo thật tướng các pháp luận nhân quả;
chỉ khi nào ngộ được thật tướng rơ
nhân quả mới lấy đó làm thể kinh. Nếu theo
cách luận xưa ngộ thật tướng, nhân quả
làm chỗ xét soi. Luận như thế đâu biết
được thể của các nhà lập tông là chỗ
nào. Thể của nhà lập tông ư nghĩa mỗi nhà
đều có chỗ qui về như c̣n truyền v.v... c)
dựa theo kinh giáo các phái bàn riêng, song ư nghĩa chung. Dù
phải luận riêng nhưng phê phán quyền - thiệt -
chung - riêng theo nghĩa các bộ kinh. Kế đến
chỉ nêu rơ nghĩa chính của riêng bộ này hoặc
bộ kia. Như Bát Nhă gốc là pháp Bồ Tát nhưng có
nghĩa cộng hay bất cộng (chung và không chung).
Cộng là pháp chung nhị thừa thuộc về Thông Giáo;
bất cộng là pháp riêng hàng Bồ Tát thuộc Viên giáo mà
thôi. Y cứ lời Phật dạy theo lư th́ thể của
thật tướng cũng có hai nghĩa khác nhau: 1)
thật tướng của thật tướng tức là
thật tướng các pháp, nhưng Tam Thừa có khác
với thật tướng Phật. 2) Trung đạo
thật tướng cần phân biệt dựa chỗ
cộng hay bất cộng để luận th́ cộng là
dùng hai trí quyền thật giáo hóa tha nhân; bất cộng là
tự hành hai trí ấy cho chính ḿnh. Nếu lấy
tướng vọng để luận việc giáo hóa tha
nhân tuy quyền thật song vẫn gọi là quyền; c̣n
tự hành như trên đă phân tích thành thử quyền
thật giữa tự-tha khác nhau. Sau giải tùy theo các kinh,
nay y cứ nơi bốn bộ để luận th́ Bát Nhă
là một bộ, tuy có chung trong các bộ nhưng loại
hết phân nửa không nói rơ mà chỉ đề cập tam
thừa Biệt giáo chung các pháp; đối với nhị
thừa mặc Đại chỉ giữ Tiểu bí mật luân
chuyển nhau nên ba thừa cùng tu thập địa. Cho hai
bên đúng th́ Thông giáo đúng cả hai; lấy quyền
thật th́ hai bên quyền thật là viên, chỉ duy tam
thừa từ thể cực viên ngay điểm cực
viên ấy thật tướng là thể. Cũng như
sự trong sáng có phân giáo thuộc Thông tức Viên giáo để
bàn về thể là vậy.
3) Tông
yếu, nêu rơ thể hành tŕ. Hành tức tu hành bao hàm nhân
quả lấy đó làm tôn chỉ cũng chẳng hợp
hay sao? Trong đó luận theo cổ, giải thích theo văn
ngày nay. Người xưa dùng pháp quán vô sanh làm tôn chỉ,
phần nhiều Triệu pháp sư dùng Không của Bát Nhă
dựa ư để luận. Cho rằng thể Bát Nhă vô sanh
nên biết không sanh diệt dùng quán để ĺa
hết cả hai bên hữu vô; biết giả danh, trung
đạo là pháp chánh quán như kinh dẫn chứng. Ư kinh
dựa vào văn để nêu rơ: vô sanh thể nó vốn
không, không thể thấy; tuy biết mà không biết,
thấy mà không thấy, không hành, không thọ v.v... Nay
dựa theo đó xét xem, đây là ư của Thông giáo. Do
vậy hai nhà dịch kinh Triệu pháp sư, La Thập
phần nhiều dựa theo ư Thông giáo. Tuy dùng trí quyền
theo Thông giáo nhưng mất thật trí theo Viên đốn.
Tạm làm cho mất thật th́ hai trí quyền -
thật đều không. Kế đến giải thích Phật
tự hành nhân quả làm tông yếu. V́, Phật đă
chứng đạt trí vắng lặng, nên nay lấy Bát Nhă
làm tông yếu. Luận về tự hành chỉ có Phật
mà thôi, người khác phải biết. Luận nhân quả
hành cái không, hàm nghĩa không phải không, như đức
không chẳng phải không không; đă ngộ thuộc
về trí ắt hợp cảnh. Bởi v́ lấy một
sắc một hương không chẳng phải trung
đạo; trí và sự chỉ riêng đều là bát nhă không
thể đem tâm đạt được, cũng không
thể dùng vô tâm lấy được. Ĺa hữu ĺa vô
liền hợp trung đạo, nhưng ĺa trong vắng
lặng. Cái thể hữu vô hiển nhiên rơ ràng; cái dụng
cũng thế chỉ v́ chúng che mất không rơ một khi có
trí cũng vô đắc, vô tướng cũng tức
không tướng, c̣n tự vô tướng không phân biệt
được vô tướng. Lấy đó làm tông yếu
hẳn không sai lầm.
Hỏi: Tông và Thể khác hay giống
nhau?
- Đáp: Dùng áo lông cừu làm thí dụ.
Luận tấm lưới phải dùng mép lưới;
trương tấm lưới mắc lưới trải
đều. Lông dệt thành áo lông cừu; nhấc nâng bâu áo
lên lông bị ảnh hưởng. Dùng thí dụ nầy làm
thể, từ tông làm hiển rơ tông th́ đạt tinh
yếu của nó hoặc lấy cây đ̣n dông nhà thí dụ
KHÔNG, th́ không là chỗ bị lấy mất. V́ tông luận
từ thể hữu đương nhiên, ở đây
luận chỗ giống chỗ khác nhau, hoàn toàn chẳng
giống cũng chẳng khác, như luận ly hợp
cũng thế.
4) Nêu rơ
những ǵ đă nói để luận về Thể;
chẳng phải là Dụng của tông; nhưng không
xa ĺa dụng tông mới phản ảnh
được chỗ vi diệu của tông thể.
Cũng ví như vàng là món đồ trang sức quí vốn
nó không khác cũng không phải chẳng khác. Ư đây có
hơi khác ít nhiều. Điểm này luận về Dụng,
Tông đă rơ Thể mà Thể đă hiển lộ th́
đạt Dụng. Cho nên tiếp sau mượn Tông nêu rơ
Dụng, cũng tức là nêu rơ công năng lực dụng
của Bát Nhă. Xưa có nhà luận rằng, trước
đây lấy cả hai nội, ngoại hộ làm Dụng
như kinh đă chứng minh; nay nói tránh bảy nạn,
luận về bảy nạn như sau: 1- không cho mà
đoạt lấy; cho là bàn cả hai nội, ngoại
hộ th́ có được một mặt chân hay tục.
Đoạt đến thập địa gọi chung nhưng
không nói về tục; cũng chỉ biết có Một mà
không biết có Hai, nên cũng không nương tựa
được. Đó tức là đoạt vậy. Nay lấy nhị
trí Phật làm dụng mới bao hàm trọn nhân quả, y
báo chánh báo cơi Phật. Cũng như y báo chánh báo, cơi thế
gian để so sánh mà không ủng hộ tà pháp. V́ thế
đem hơn bao kém, đưa ra chánh mà dấu y báo, tức
hai phần nội ngoại hộ lướt qua không nói
hết, huống ǵ bàn về hai trí lư hẳn sâu sắc
hơn. Ưu điểm của lối dịch cổ là
sâu sắc vượt cả cách nói quyền thật
của phàm phu c̣n phân tự tha. Soi sáng rơ ḿnh cũng tức
soi sáng lư; soi sáng người khác tức là xem căn cơ
họ để v́ thế trên cùng với pháp tánh,
dưới hợp căn cơ, chưa từng soi sáng
một mà không soi sáng hai. Nếu dựa vào giáo pháp
để luận có ba điểm : song, quyền, thật
như kinh nêu rơ. Sau đây dùng trí tát bà nhă dẫn để
chứng minh cái Dụng nhưng cũng có mạnh yếu
khác nhau. Hai trí Biệt, Thông chỗ lực dụng yếu
không đồng cũng như người phàm bắn cung;
c̣n hai trí Viên-Trung chỗ lực dụng mạnh như
mũi tên của thánh nhân trương cung nhắm bắn.
Kế hỏi tại sao và nêu bằng chứng để
giải thích. Luận so sánh việc tiến thoái là tiếng
không xác định được. Nếu Thông giáo tuy
nhị trí b́nh đẳng nhưng lại là chân không, nên soi
sáng lư chẳng phải cùng khắp; Biệt giáo tuy chứng
đạo theo thứ đệ mới biết nghĩa
KHÔNG hay VIÊN. Cho nên hoặc soi sáng hoặc chứng ngộ
đều phải bỏ hẳn một bên theo Viên
Dụng mới hơn được, tức như
dưới dùng quyền trí vậy. Dùng nhị trí so sánh
đồng trong một quốc độ làm cho kiến
hoặc, tư hoặc không phát sanh. Như giải thích
nghĩa hộ quốc, do v́ hành thập địa tuy chung
ba thừa, nhưng chỗ thực hành chỉ một
nghĩa hộ quốc duy nhất. Căn cứ theo đó
dịch là tịch quang cũng gọi là hộ vệ.
Văn luận rất nhiều nên không thể nói
hết. Đoạn sau tuy có luận về hộ nhưng không
phải do quả mà c̣n là cái nhân, nên sau nói rơ hơn. Ngoài ra,
kinh Lăng Già cũng nói đến Kim Cang lực sĩ,
hộ nói theo hóa thân như kinh ấy.
5) Phần
giáo tướng, nêu lên chung cái rộng nhưng chỉ
hạn trong bốn chương cũng đủ
để luận chung - riêng. Nếu không có giáo
tướng cũng không bàn được nghĩa sâu
cạn, bán giáo hay măn giáo. Bên trên là phần giáo tướng
đă rơ. Phần tóm lược sẽ giải sau. Bàn
về phần chính, đương nhiên đây nói về
kinh Bát Nhă, là một trong các bộ kinh quan trọng. Nói bán,
măn giáo đối với ba tạng Thánh điển đây
phải là măn giáo mà pháp Đại Thừa có trong ba giáo Thông -
Biệt - Viên. Ma ha dịch là lớn, nhiều hoặc
hơn v.v... diễn cũng dịch là rộng lớn. Theo
thứ tự năm thời thuyết kinh, kinh Phương
Đẳng phải có trước rồi đương nhiên
mới tới bộ Bát Nhă. Cũng như từ sữa
đặc mới có váng sữa; Nhị Thừa dung hợp
thêm vào sự ấm nóng t́nh chấp. Đến thời kinh Pháp
Hoa chỉ c̣n hiển bày một vị; vị nầy chỉ
cho tướng chung. Nay kinh nầy bàn riêng việc hộ
tŕ Phật pháp tu hạnh thập địa và ngoại
hộ giữ ǵn lănh thổ. Nhưng bàn về lănh vực
xuất thế, Phật dạy đạo là quan trọng.
Vua Ba Tư Nặc hỏi Phật, thế nào là Ma ha
diễn và phải lấy ǵ đối chiếu?
- Phật
dạy rằng, đă gọi ma ha diễn là đă
được soi sáng đến cảnh, nên biết
chẳng phải ba tàng. Tuy chẳng phải ba tàng mà chỗ
bị phá và chỗ hiểu thông có đủ trong bốn
giáo. Chỉ riêng ba tàng đă bị phế nên hoàn toàn không
phải ư chính. Mặc dù 8 câu kệ có giải điểm
nghi vấn trên. Nhưng nếu toàn bộ kinh mà ư chính
chỉ thuyết minh Đại Thừa dùng 8 câu kệ bàn
về vô thường, sanh diệt, như thế là tại
làm sao; cho nên phải giải thích. V́ vua Phổ Minh nhờ
Ban Túc đem tế thần mà được. Vua Phổ
Minh y theo lời thỉnh bảy đức Phật,
mời 100 vị thầy nói kinh Bát Nhă nghe xong rồi
mới mất. Ban Túc nghe kinh, trong lúc các vị pháp sư v́
vua nói bốn câu kệ vô thường. Nhà vua nhân đó
đạt được pháp không, tam muội b́nh
đẳng, bị bắt đem phán xét. Đoạn kinh này
khuyên vua từ bỏ đất nước mới hộ
tŕ được đạo. Không phải ư chính kinh
muốn nói mà chỉ bàn nghĩa bóng về đại ư thôi.
Kế
dựa theo kinh giải hai phần: a) trước chỉ rơ
phần chung mà các nhà phiên dịch cổ kim tùy quốc
thổ mỗi nơi mà có phân chia hoặc không phân chia,
cho nên ở đây nêu làm thí dụ. Phải nói buổi
đầu các nhà dịch kinh Thiên Trúc (Ấn Độ) văn
phong sơ lược thiếu sót, như Đại Trí Độ
luận giải thích, Ngài Thiên Thân giải kinh Bát Nhă,
Niết Bàn ở Ấn Độ có phân chia hoặc không phân.
Đến Trung Hoa ngài An Thế Cao phân ra làm ba phần, ngài
Lưu Cầu giải kinh Pháp Hoa, như vậy ở
đây có phân hay không phân (hai vị Thánh, hai bậc hiền
đức theo sự tích giải kinh đầy đủ
như ghi chú nơi bộ đại tạng kinh). Bàn
việc dịch giải kinh cần nhất có hiểu thông
lư hay không; c̣n việc phân chia hay không ư nghĩa vẫn
giữ nguyên vẹn. Ban đầu không lẽ không phân chia
làm sao nêu rơ được hết ư; không phân làm sao tránh
khỏi phân liệt rạn nứt ? Công việc
cốt ở chỗ có ư hướng, nên nói t́nh
người như lan, cúc; người có kỹ năng
chuyên môn mới làm việc tốt, văn tự hẳn có
lầm lẫn. b) Phần chính có ba ư: 1) luận bậc thánh
nhân thuyết pháp há không căn cứ mà nói pháp tà sao? Hẳn
nói phải có sách, ắt có người nghe, có thời gian,
nơi chốn, có chứng minh không sai lầm. Nơi
lời tựa nói rơ tựa phát khởi; phần chánh, phần
lưu thông sáng sủa hoặc nghiêm túc không nghi ngờ;
lời văn, chương mục rơ ràng. Sách chuyển
tải phần ư chánh như vậy. Phần chánh tông
phải hợp căn cơ lập giáo, phần lưu thông
làm lợi ích cho mai hậu, và đó là phần khá quan
trọng 2) dựa các chương kinh phê b́nh có phân hai
mục: a) tùy mỗi phẩm phân như phẩm tự
là phần tựa. Phần này dựa theo phẩm phân chia
không căn cứ văn từ. Theo văn từ phân chia
từ phẩm sau cùng Phật bảo ngài Nguyệt Quang...
đọc kinh văn là phần lưu thông. b) Dựa
văn giải thích ư chính lại phân ra 3 ư: * phần
tựa chia thành ba mục: nêu rơ 3 tên gọi khác nhau tức
ba pháp đối. Đó là Thông, Biệt đối, chủ
bạn đối và trước sau đối, hoàn toàn
không phát khởi từ phẩm tựa * giải thích
nghĩa: kinh nêu chung bốn ư, đó là dùng 6 pháp
chứng tín nêu ở đầu kinh. Mỗi pháp đều
có phần thực nghiệm chứng minh không thể sai
lầm nên xác chứng để tin, do đức Như Lai
hiện tướng đoan nghiêm nói trong năm thời
thuyết giáo. Đă dùng tựa phát khởi, phần chánh tông
chung phần này giải thích thành một. * Tựa chung
tức là các kinh đều có; tựa riêng là chỉ riêng
kinh này có. Kinh ba đời chư Phật thuyết nơi
đầu quyển có nêu 6 pháp chứng tín đều do
từ kim khẩu nói ra để vâng phục gọi là
lời tựa Như Lai nói, hay cũng là lời ngài A Nan xác
chứng đáng tin, như thế tựa A Nan là loại
thứ ba, như có nêu ở đầu kinh gọi là
tựa trước kinh Phật nói; lúc bấy giờ
tại... là 6 điều chứng tín của tựa
chung. Khi Phật c̣n tại thế cũng như lúc Ngài
sắp nhập Niết Bàn, các đệ tử tuân hành
lời dạy mà nói như vậy. Lời tựa sau kinh là
sau khi Phật nhập diệt, các lần kết tập
kinh điển mới đưa vào là bốn loại. Nay
dựa theo phần sau đối với kinh này kết
hợp lại v.v... 3) Trùng thuyết pháp duyên khởi
lại phân ra hai mục: dẫn kinh và dẫn luận. Phàm
dẫn luận có điểm: a) Ngài A Nan thưa thỉnh
Phật 4 điều, Phật theo câu hỏi trả
lời, đó là một trong 5 điều chứng
tín.
1. Ngài Ca
Diếp nêu hỏi: Vào thời kỳ kiết tập kinh
điển ngài Ca Diếp nêu nhiều vấn nạn, Ngài A
Nan thay Phật trả lời v.v... Bốn điểm
giải thích lại chia làm hai phần: a) theo thông
thường giải 6 việc b) theo đó giải nghĩa
5 điều chứng tín 1) Như thị (như thế)
chỉ pháp đă được nghe. Như phần sau
đây để chỉ cái thể pháp đă nghe; một
lời đương được (bao hàm) cái không vô
tận. Nếu không như thế là không phải pháp,
cho nên từ Như Thị bao hàm toàn kinh rơ ràng. Nói về
điểm này giải thích có hai: 1) giải bốn pháp
tất đàn đều là nhân duyên: dùng văn tải
đạo không phải để tranh biện với
người thế là đệ nhứt tất đàn;
ngước lên th́ biết ngước lên, cúi xuống
thuận chiều thế tục nên đều không tranh, là
thời gian và phương sở tất đàn; do
vật sanh tin, tin là gốc thiện nên phải do nơi
người - tín tất đàn; kinh này chia ra chương
mục chung các phần mà thành vậy. Để phá kiến
chấp một bên của ngoại đạo không đoái
hoài đến pháp hữu vô nên nay dùng Như Thị là
điểm chính đối trị pháp tà vậy.
Người xưa lấy tín thuận giải thích nghĩa
Như Thị, đây là đệ nhứt nghĩa. Đă tin
phải hợp lư là NHƯ. 2) Y lời dạy giải thích,
theo lời Phật dạy nêu rơ nghĩa Như Thị, có
nghĩa là nếu luận Chân Tục th́ một Có, một
Không. Ngài A Nan truyền đạt lại lời dẫn.
Như nói sắc, không không hai chẳng khác là Như là
Thị ấy là nghĩa chung. Luận riêng sanh tử có
Niết Bàn là Không. Như thế th́ có - không đắp
đổi thay nhau là nghĩa theo Biệt giáo. Viên giáo
nhận định sanh tử tức Niết Bàn Không
chẳng thật tướng là Như; như như
bất động là Thị. Đó là nghĩa Như Thị
theo các kinh Viên giáo. Kinh này luận đầy đủ ư
nghĩa Như Thị của ba phái, Ngài A Nan nhất
nhất truyền thừa không khác cũng để cho
hậu thế tin lời Phật mà hiểu rơ. Đứng
về mặt bổn môn hay tích môn quán chiếu ở đây
kinh lược bớt không nêu hết. Bổn (gốc) không
phải chỉ từng phần; c̣n quán tức xét toàn
thể là nghĩa hoàn bị.
Ngă
Văn, ngă là Ngài A
Nan xưng (tôi); văn là người nghe. Muốn nghe dùng
tai và có đầy đủ các duyên mới có thể nghe
được, là thế giới tất đàn; nêu cái chung
hàm cái riêng là nghĩa thế đế. Do kết tập
Pháp bảo nên xưng ta là người nghe. Nhân nghe cảm
kích thương khóc nẩy sanh việc thiện nên gọi
Ta nghe. V́ để đối trị ba việc nghi; nghi
không chắc khiến mọi người không tin. V́ nghi nên
phải phá bỏ niệm nghi. Ba điều nghi sẽ
giải thích sau. Chân đế vốn không có Ngă nhưng
tục đế mượn xưng Ta mà phải hiểu
là không có chỗ nào nghe cả. Cho nên lấy Vô Ngă mà ngă, không
nghe mà nghe, là đệ nhứt nghĩa.
Dựa pháp
giải thích chữ Ngă; từ Ngă có 3 nghĩa: kiến
chấp, kiêu mạn, tự xưng, với phàm phu so sánh có
ít nhiều khác biệt. Ngài A Nan là người có học mà
đoạn kiến đă diệt tự kiêu, song nói theo
đời phải xưng Tôi như ư Tam Tạng kinh.
Nhưng Ngài A Nan vốn phải là bậc vô học theo hầu
làm thị giả đức Phật nên không phải
học, chứ không phải thật Ngài chưa đạt
đến. Cho đến thời kỳ kiết tập
kinh điển mới phát hiện Ngài chứng quả
thứ tư, mới kham nổi việc kiết tập,
mới được hoàn toàn. Ngày xưa phần nhiều
không biết việc này, nhân đó phải giải rơ.
Bốn câu kệ luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa nói ‘Tôi;
có nghĩa rằng hể vướng vào bốn câu
đều được gán chỉ là tà kiến. Nếu
không có Tôi ai nghe, là ư theo Thông giáo vậy. Như các kinh
Đại Thừa gọi A Nan là hàng đa văn nghe nhiều
hiểu rộng nên biết Ngă, vô Ngă; thậm chí phân
biệt Ngă, vô ngă tuy hai mà bất nhị - không hai - theo
thứ tự trước sau, là ư Biệt giáo vậy. Phân
biệt Ngă, Vô Ngă tuy hai nhưng không hai trong nghĩa viên dung song
chiếu.
Phương
tiện làm thị giả là ư của Viên giáo. Theo như kinh
Chánh Pháp Niệm giải rơ A Nan có bốn nghĩa: Khánh
Hỷ, Hỷ Hiền, Hiền, Hải theo thứ tự
duy tŕ ba tạng giáo điển. Kinh A Hàm có nói đến
Điển Tạng A Nan, truyền tŕ hạnh Bồ Tát; tuy
vậy vẫn chỉ một người mà đầy
đủ bốn đức. Đó là bao quát Tiểu
nằm trong Đại, duy tŕ bốn tạng giáo pháp là ư
của Ước giáo vậy. Quán tâm là ǵ? Không khởi
đi từ Ngă, Vô Ngă mà dùng ba pháp quán là ư nghĩa của
diệu quán. Diệu quán lập thành ư nghĩa của
quán tâm vậy. Kế giải thích Nghe có hai: a) đặt
thành nghi vấn, v́ ngài A Nan sanh nhằm đêm đức
Phật thành đạo phải đợi đến măi
hơn 20 năm sau; như thế những kinh Phật nói
trước đó Ngài phải không nghe chứ? b) dẫn
luận giải dựa theo nhân duyên hay nói đủ bốn
pháp tất đàn trong phần sau. Kinh Báo Ân nói, theo đó
tuần tự nghe là thế giới tất đàn. Ngài A Nan
muốn xin Phật nghe lại, nghe sanh thiện là nhơn
tất đàn. Kinh Thai Tạng nói, xét tướng nhập
thai mẹ ứng hợp với việc thấy nghe hóa hiện
trước. Thai biểu hiện bất tịnh mà nhập
thai là phá ác tất đàn. Kinh Pháp Hoa nói, do được
thọ kư nên nhớ tới việc trước
được Phật ấn chứng tam muội . Không chẳng nghe là đệ
nhứt nghĩa. Văn tuy nhiều chỉ tóm lược
chọn một chữ giải gọn ư chẳng
rườm rà. 2) Dựa theo lời Phật dạy giải
chữ NGHE. Như trên đă giải thích Ngă nói đủ là
Tôi hay chúng tôi. Nay y theo Ngă giải thích nghe cũng hợp
với ví dụ vậy. Theo thứ tự giải thích
giữ niệm hoan hỷ để nghe, là nghe ba
tạng Phật pháp. Đoạn sau giải rơ hơn tam
tạng, mỗi tạng y cứ lời Phật dạy
để nói duyên do có đủ trong phần chú giải nên
không dẫn ra sợ rườm rà.
- Một
thuở nọ, thời điểm nghe giữ ǵn hợp
với nhau; gọi nghe tức nghe điều cần
được nghe, tŕ là hay ǵn giữ. Cả hai không
xảy ra đồng một lúc không thể ḥa hợp
được. Tùy theo y cứ hợp nhất với
lời giáo hóa do đây thành tựu. Phần này lại chia
làm hai: a) giải theo nhân duyên như Triệu pháp sư
đă giải, lấy sự hiển lư phải thích nghi
việc đời. Đại Trí Độ luận
giải thích thời có thật có tạm nhưng thời
vốn không thay đổi, do nghĩa mà có đổi thay.
Cho nên dựa hai ba chữ riêng mà không hẳn có khó
dễ. Nhân v́ Ca La hiểu thời là thật đúng, v́
đệ tử nội giáo y thời thọ thực
đúng thời khắc không sai mà ngài Hộ Minh áp dụng.
Tam ma da hiểu thời là giả tạm, v́ phá chấp
thời theo ngoại đạo là thường hoặc vô
thường. Ở đây theo cả hai giải thích
chỉ nhắm tới việc rơ ràng hẳn không thể
hiểu theo ngoại đạo. Đệ nhứt nghĩa lấy
không thời hay không chẳng thời làm thời
điểm. Cả hai chẳng giả hay thật mà chính
yếu làm rơ trung đạo đệ nhứt nghĩa; cho
nên phải biết nghĩa chữ Thời rộng thay! b)
Dựa theo lời Phật dạy giải từ Một
Thời, song lời dạy hiểu lư xuyên qua các pháp
Tạng-Thông trí có cái THỂ để phân tích. Đối
với Biệt -Viên giáo là chứng phần địa
trụ, dù các bậc có hạ trung thượng; kể
cả phần riêng biệt trên của trên đạt
đến chỗ vi diệu dung thông trước sau
gọi là Nhứt Thời. Như trên luận giải
cả ba phái đều nói đủ. Hợp chung
điểm chính mỗi phái như trên phân tích ta phải
biết, nhưng ở đây chỉ có Biệt-Viên giáo
luận chỗ ḥa nhập, mà lấy Bát Nhă chung làm khởi
điểm tiếp phần chính. Từ đầu đă
nói có phần chánh; nêu chánh tiếp quy về chánh hay sao?
Phật:
Phật là giáo chủ đạo Phật bậc thuyết
giáo tuy chung bốn giáo mà khiêm tốn văn từ. Nay y theo
bốn nghĩa tất đàn giải thích chung. V́ Phật
là giác, bậc thấu triệt hết thảy phiền năo.
Nói đủ giác có ba nghĩa: tự giác hiểu rơ
phiền năo tự thân tâm, giác tha làm cho người hiểu
được nghiệp báo và nhân quả trọn vẹn và
giác hạnh viên măn: đầy đủ tự giác và giác
tha; v́ đủ giác nên phá sạch những kết buộc
xứng danh Phật, hễ ai có cơ duyên có cảm hẳn
có ứng khác nhau, tức là thế giới tất đàn.
Trong kiếp ban sơ không phiền năo phần nhiều con
người lúc đó không cảm được Phật.
Phương Đông thiên hạ có thể nói sống lâu mà không
cảm được Phật. Thọ đến 8 vạn
năm, dù được sống lâu nhưng họ không
cảm được Phật. Phương Nam phần
nhiều người chưa rơ quả mà tu nhân, là
người giác như trên nói, tuy kiếp sơ có giảm xuống
c̣n 100 tuổi mới cảm được Phật. V́
thế Phật ra đời trong thời kỳ này.
Sau đây
lấy thí dụ như mặt trời không xuất
hiện để ví Phật cũng Như như thế.
Nếu mặt trời không xuất hiện th́ ao hồ, hoa
cỏ không sanh trưởng nẩy nở; khi mặt
trời lên muôn vật đều sanh trưởng. Như
thế cỏ hoa nhân có mặt trời mới sanh
trưởng tươi tốt, là nhân tất đàn. Khéo
ứng hợp biết căn tánh tam thừa, v́ nhân duyên
Phật ra đời nên cảm được Phật;
sở dĩ nói đoạn phiền năo cơi hữu
đảnh là dứt sạch một phẩm tư hoặc
ở đệ cửu địa vĩnh viễn ra
khỏi ba cơi. V́ thế nên nói vĩnh viễn vượt
qua ḍng sinh tử. Trái lại, nếu ai chưa phá
được phiền năo không thể cảm
được Phật. Đây là đối trị tất
đàn.
Phật
trụ pháp tánh, v́ thể của pháp tánh vốn cùng khắp
mọi nơi chưa hề động xuất.
Nếu có cơ duyên cảm được ở
chỗ không động xuất ấy thấy có
động xuất, người thấy đó là bậc
ứng hóa vậy. Pháp tánh thuộc đệ nhứt
nghĩa vốn không động xuất.
Hết
quyển một (^)
Phật theo tứ giáo giải
thích có 4 tướng khác nhau. Phật vốn không phân
bốn mà do việc thuyết giáo nên có phân thân thành bốn.
Nh́n chung đức Phật vốn chỉ có Một. Dựa
theo Tam tạng kinh th́ Phật, Như Lai thân sắc
tướng có bốn khác nhau. Theo Bổn Môn chỉ có
một đức Phật; Tích Môn Phật phân thành ba.
Đứng giữa bốn giáo mỗi giáo phân hai đức
Phật mà có ba; cả hai cảm ứng đức Phật
riêng.
Theo thể
dụng, Phật vốn chỉ một Thể mà Dụng có
bốn. Hiểu rơ ư này cho dù bốn đức Phật có
giống hay khác bàn vẫn vô ngại. Nay cũng v́ chỗ
phân biệt ấy nên cần phải làm sáng tỏ. Phật
dịch nghĩa là giác. Phật thấu suốt nhân quả
thế gian và xuất thế hàm trong bốn pháp:
khổ-tập-diệt-đạo. Phật thọ 80
tuổi giống như người đời, dù kiệt
xuất hơn người mà vẫn chưa hề ĺa
thế nhân. Do Phật có 34 tâm thành thích ứng, đó là 8
nhẫn, 8 trí, 9 tâm vô ngại và 9 tâm giải thoát. Nói chung
không ngoài hai đức: đoạn đức, trí
đức Phật dứt trừ được kiến
chấp và suy nghĩ sai lầm, chứng thành Phật
quả dưới một thân cây. V́ thế cây ấy
được gọi là cây Bồ Đề, nói gọn là cây
quí báu. Theo Tam Tạng Phật hiện tướng thành
đạo, thân cao sáu trượng; là hiện thân
được tôn sùng đặc biệt. V́ hai căn
lợi và độn của thông và tuệ nên
thấy Phật có hơn kém không giống nhau. Kỳ
thật, đức Phật đặc biệt chỉ
một thân mà do thấy của ta có khác; không phải thân
tướng Phật hiện lớn biến nhỏ; nói
chung hay riêng cũng chỉ nghĩa ấy mà thôi.
Trước đây phần nhiều hiểu sai từ
Phật nên phải giải rơ như thế. Một
niệm tương ưng không như 34 tâm mà do từ
từ tu tập dứt trừ phiền năo. Nay dùng trí
một niệm tương ưng cùng với KHÔNG, không gián
đoạn nhưng đoạn được Hữu
trước sau, liền khiến cho phiền năo
trước dứt sạch; đến khi chứng quả
trừ sạch hết chỉ c̣n lại tập khí (thói
quen) mà thôi. Có sự khác nhau sâu xa đến như thế!
Đại Thừa, Tiểu Thừa v́ căn cơ thiết
lập sự giáo hóa không đồng, nên có các h́nh
tướng đức Phật riêng như thế. Phật
hiện thân cao vọi thù thắng đấng tôn sùng oai
nghiêm. Người được Phật thọ kư cũng
như Phật ban chức cho, như trời Sắc cứu
cánh nhận được việc Phật giao phó cho.
Điều này hoàn toàn giống điềm ứng tướng
nói trong kinh Hoa Nghiêm, nhưng theo thứ tự cao thấp
khác nhau. Ở kinh Hoa Nghiêm quả vị Phật cứu cánh
cao tột, là khởi đầu việc ứng hóa thân.
Điểm này theo Biệt giáo dạy phải đoạn
phần vô minh của mười hai nhân duyên. V́ quyền
giáo theo thứ bậc nên Phật chỉ thọ kư (trao
chức). Việc này mới nh́n qua h́nh như giống
nhưng kỳ thật hoàn toàn khác, tuy khác mà giống
cũng khó phân định được rơ ràng. Phật
tướng tṛn đủ không như trên nói 3 tướng
ẩn khuất mà chỉ hiện tướng như hư
không không thể nghĩ bàn. Điều quan trọng là Phật
cũng không ĺa hiện tướng như ta thường
thấy, dùng một căn cơ tṛn đủ nên
được xưng tán giống như hư không trong
pháp giới. Chỉ do tâm hiện mà không dùng lời diễn
đạt được, không dùng thức biết
được. Thân Phật như thế rơ ràng là pháp thân
trọn vẹn nên Ngài nói: thân này của ta là pháp thân, do
mặt trời che khuất nó rộng lớn như hư
không nên gọi Phật tṛn sáng. V́ sợ những nhà học
giả do hiểu lầm thâm ư này nên phải suy nghĩ chín
chắn. Kinh Tượng Pháp quyết nghi dẫn chứng
trong bốn thân Phật hoặc nghe hoặc thấy
ngồi trên đài sen v.v... đều là Phật riêng theo ta,
đâu có giống như ứng thân Phật theo thứ
bậc cao thấp như kinh Hoa Nghiêm nói đâu? Thế
nhưng ngoài ra ba thân khác của Phật ta cần phải
biết. Theo Bổn môn, Tích môn; v́ ba thân theo Tích môn,
một thân là Bổn môn. Đây y cứ theo chỗ thể
dụng của Bổn-Tích nói như vậy. Nếu theo kinh
Pháp Hoa khai mở cho thấy Bổn là một
đức Phật viên dung mà thường phân 3 thân theo Tích
môn. Nhưng lại cho rằng, như thật hiểu ư
mới biết được thể dụng hơn kém
của bốn thân Phật. Nay đem luận bàn hẳn
không giống như ngôn ngữ dùng hằng ngày. Dựa theo
bốn thân Phật làm rơ pháp quán tâm; không dùng bốn câu
kệ, ba pháp quán quán chiếu mà có bốn Phật, tức
do nơi nhứt niệm tṛn sáng quán xét được ba
thân để thấy tâm ta, tâm Phật đồng không hai
tánh giác, cũng là ư chỉ quán tâm như Phật chỉ
dạy.
1) Giải
chữ Trụ, có nghĩa Phật đầy đủ ba
thân ở tám nơi khác nhau. Nhà luận sư Đại
Suất của Ấn Độ phân biệt danh nghĩa, có 3
loại trụ xứ, song cũng không kể ra hết. Dùng
ngôn ngữ ngày nay, Phật vốn không trụ, không trụ
mà trụ, có sự có lư; lư trụ tức đệ
nhứt nghĩa không, sự trụ như trên đă nói.
Nhưng lư và sự khác nhau ra sao? Câu trả lời là không
trụ không chẳng trụ không ở nơi không chẳng
tồn tại, chỉ do gốc trụ thật như
biến như hóa có giới hạn số, qui định
về lượng th́ chưa nghe; phân biệt nghĩa vô
cùng tận. Dựa theo giáo nghĩa trụ không theo bốn
phái mà theo Thể phân tích, hoặc có thứ bậc hay không,
đều nhập vào nhị lư để làm chỗ
nương trụ, theo đó Phật có bốn thân. Dựa
theo lư trụ chỉ có hai, hai phân biệt là ở giữa
và chân trung. Nói bốn thân nhưng ĺa chỗ hơn nói có
Niết Bàn khác ở chỗ bí tàng. Gọi Niết Bàn là
từ chân không mà có tên: bí tàng dùng ba đức để
xưng. Do phân biệt như thế lư phải có chỗ quy
về. Dựa theo quyền-thật mà luận ư
nghĩa không đồng nhất.
2) Giải
chữ Thành, hơi dài ḍng; ở đây giải theo chi
tiết. Thành dịch tiếng Phạn sang tiếng Trung Hoa
có dẫn trong kinh Bổn Duyên từ Thiên La đời vua
Chiêu Vương; nói rơ Ban Túc v́ lư do bị đuổi,
nước mới bắt đầu có quốc hiệu là
‘Bất Hại’ v́ quân lính mỗi ngày giết một
người, đến nỗi thiên hạ đồn là ác
độc. Phản lại quốc dân Ban Túc bị phế,
bị La Sát bắt mang đi, được vua Phổ Minh
giữ lại. Câu chuyện có hai thuyết: một
để làm sáng tỏ ḷng tin nên dùng đức của Ban
Túc, và một thuyết khác v́ việc khai giáo nên lập
hội thuyết pháp bố thí; v́ thế nay là phần
mở đầu của kinh Bát Nhă này. Pháp hội qui tụ
cả hằng ngàn vị vua để mong đền ân
đất nước mà đầu tiên xưng là thành
Vương Xá. Thành Vương Xá c̣n gọi bằng tên khác
dịch tiếng Phạn có bốn nghĩa, cũng dịch
dựa theo nhân duyên bốn nghĩa tất đàn như: 1)
Lực Doanh, tiếng lực có sức mạnh dẽo dai;
doanh là làm cho đầy đặn, sung măn, từ dễ
bị ngộ nhận. 2) Ma Già Đà phiên âm là dị, từ
xưa chưa ai dịch đúng, mỗi nhà dịch tùy theo
nghĩa. Tất cả đều ghi nhận nước
ấy có 12 thành mà Phật ở tại đó ít nhiều. V́
hai thân: báo thân, pháp thân mà ân đức có nặng nhẹ
như kinh nêu rơ. Kinh Pháp Hoa cũng nói rằng pháp quán
tượng và kinh hành là trả được hai ân cho
đất nước và cỏ cây. Nên biết chư
Phật, các bậc thánh nhân khi nêu ra một nơi
đều có nguyên do, chứ không phải không căn
cứ. Sau giải từ ‘xá’ là theo tiếng rời
để giải, vương tức là thành vua; xá là
nhà, có 6 tinh xá nên có tên này. 3) Giải từ ‘núi’ là ngọn
Kỳ Xà Quật, Trung Hoa dịch là Linh Thứu sơn, có ba
nghĩa nên mang tên như thế. Nơi đức Phật
thường ở đó, chỉ cho biết Phật
phần nhiều thuyết pháp tại hai nơi. V́ núi như
bờ thành đẹp của Vương Xá cần phải
bàn đến. Kinh Bát Nhă này Phật cũng thuyết
tại Linh Thứu - một nơi danh thắng - nổi
tiếng xưa nay.
Nhưng
ở những nơi khác Phật thuyết kinh không danh
thắng sao? Đó là do người mới nh́n qua một
lần nói vậy cũng chỉ trong ṿng tương
đối thôi. Nêu số chúng nghe pháp là chúng Tỳ kheo
của Tam Thừa; nghe cùng một âm của đức
Như Lai thuyết giáo. Dù cùng nghe pháp nhưng Phật thuyết
có quyền, thật khác nhau nên đạt lợi ích có sâu,
cạn chẳng đồng. Nên có phần phát khởi
trực tiếp hợp với người đủ
căn cơ kết duyên với bốn chúng.
Hỏi: Các kinh nêu số chúng hoặc
nói trời người thuộc Tam Thừa, hoặc nói
bốn chúng như Tỳ Kheo, ở đây khác thường
lại nói trực tiếp ư?
- Đáp: Trung hữu luận Tam
Thừa lấy người làm bản vị; trực
tiếp tức lấy loại mà nói. Khởi đi từ
người như kinh đă đề cập, ở
đây trước nhất theo loại để bàn nên nói:
một do ảnh hưởng và hai là trực tiếp.
Nhưng nói người mà không nói loại số chúng đa
phần không phải một là đủ; c̣n nói loại
không nói người hẳn loại bao hàm hết thảy.
Tuy có bốn chúng mà nghĩa hẳn phải chung, không có phân
quyền, thật, sâu, cạn ǵ cả.
Nay dựa
vào một chúng mà chia thành bốn, mỗi chúng đều
nằm trong số đó. Tại sao một chúng không bao hàm
hết thảy? Tại sao chỉ nói một căn cơ mà
không nói chung? Ở đây chú ư tới loại để nói
chứ không nói nguyên ủy con người. Nếu gọi
tỳ kheo, tỳ kheo ni mỗi chúng c̣n có bốn nghĩa
khác nhau nên lấy người từ loại để nói.
Luận Tam Thừa phải theo thứ tự trước
sau nên biết; luận Bồ Tát tâm hơn c̣n h́nh thức
kém. Nếu luận về h́nh thức y phục chưa
hẳn Bồ Tát kém Thanh Văn, nay đem so sánh h́nh thức
y phục người xuất gia trước là chúng Thanh
Văn. Từ ‘Dữ’ có nghĩa cùng nhau, căn cứ theo
luận có bảy mà đây giải một trong số
đó. Chúng tỳ kheo tuy đa số không giống, nhưng
chỗ nương tựa thời gian, nơi chốn v.v...
bảy chỗ bất nhất không đồng. Nếu
trưng chỗ đồng chỗ dị như trong kinh có
ghi đầy đủ. Nhưng v́ hậu thế phải
luận để không có pháp nào là số một mà do nhân tâm
mỗi người một khác; song tất cả
đều được ḥa hảo cùng nhau hay cũng
gọi là chúng ḥa hợp, hoặc nói bao hàm. Theo thông
thường gọi là đại A La Hán, đại là
lớn cũng phải hiểu là nhiều, là hơn, nên
gồm ba nghĩa để giải, như từ ‘ma ha
diễn’ là Đại Thừa phần lớn hàm ư này
được giải riêng. Tỳ kheo có 5 nghĩa mà sách
chỉ đề cập ba là khất sĩ so nhân, ứng
cúng so quả. Lấy nhân định quả như
thường giải thích; nay thêm hai nghĩa nữa
đối với văn không quan trọng; chia ra giải
từng chữ tiếng Phạn chưa rơ phải
đặt vào vị trí nào. Rơ ràng đối học vị
đơn giản có hai hữu học và vô học. Như
Thành Thật luận giải thích, La Hán có hai cấp là hành
và trụ. Hành là thực hành cái học như người
thường, trụ là quả phân hai khác nhau. Như nói
người hiền lương giữ 5 giới thực
hành hạnh A La Hán là người cần phải học.
Học hạnh vô học như thế cũng không thật
sự giống quả riêng để hướng tới.
Tin tưởng những ǵ đă nói rơ không cần luận
bàn. Theo như trên giải thích từ A La Hán dịch thành ba
nghĩa là sát tặc (giết giặc phiền năo), ứng
cúng (thọ của cúng dường), vô sanh hay bất sanh
(không sanh lại nhân gian nữa). Đem quả luận nhân ư
nghĩa đă rơ ràng; đây theo ư của Tạng và Thông giáo.
Nếu theo nghĩa đầy đủ giải thích vô sanh
thuộc về trung đạo. Cho nên nói không phải
chỉ có bất sanh mà c̣n vô lậu Niết Bàn cũng
như vậy. Ứng cúng nói ngược lại là cung
ứng, là lấy đức từ bi ứng hợp
theo nhu cầu, là nghĩa cung ứng. Công đức có 8
loại để tán thán đức của Thanh Văn hay
chỉ đề cập sáu loại, hai loại sau nói chung
có mở kết khác nhau. Các kinh tán thán đức phần
nhiều dùng lời, câu để ca ngợi nhưng ở
đây đặc biệt khác hơn là nêu pháp để tán
thán. Do người tốt ảnh hưởng tới
đức mà đức hẳn do người tạo.
Lấy đức rơ người là ư này như sẽ
giải thích, nhưng cũng dùng tán thán ba đức
của người chính là Thanh Văn. Nay lấy bộ Bát
Nhă làm chuẩn nên Nhị Thừa cũng chung các giáo
thuyết. 2) Giải điểm khác nhau phần nhiều
hợp với danh nghĩa ba pháp giả nêu rơ Biệt-Viên.
Pháp hữu vi có hai trí và đức; dựa trí để
đoạn đức. Nếu bàn hai đức th́
đoạn đức hẳn có đủ để
luận; đạo tịch nhiên vốn chỉ Một. Nay
nêu cái khác để giải thích cũng lại nói
Một như thường hư luận. Phải dựa hai
loại giải thoát phân tích, kế dựa thập trí để ca ngợi, v́ một
trí nằm trong hệ tư tưởng 9 cơi dục
giới. Tu bốn pháp quán sẽ đạt trí vô lậu,
như thế mỗi đế sau là chỗ phát khởi
bốn trí. Ở hai cơi trên, hệ vào nơi pháp, mỗi cơi
tu bốn quán hạnh, v́ so sánh bốn trí. So sánh có nghĩa
là so chỗ phát khởi trí ở trước. Tóm lại
luận chung một quán so sánh với một trí, và ngoài ra
tâm, thế trí là bốn, rồi sau thêm pháp tứ
đế, diệt tận, vô sanh là 10 pháp. Nếu chỉ
hợp tứ đế và bốn trí là tám thêm diệt
tận, vô sanh thành đủ 10 pháp. Nên biết rằng
chỉ nói sự khác nhau giữa mở kết, c̣n 5 khổ
trí đề cập sau. Lặp lại rơ 16 món quán hạnh
chẳng qua luận rộng phần kinh trên thôi. Đối
với tập trí như có khác biệt; c̣n phần diệt
tận và vô sanh như luận dẫn. C̣n theo thứ
đệ lại thêm như thật trí thành 11 trí. Theo
Đại Thừa giáo luận chẳng có liên hệ ǵ với
mở kết cả mà chỉ do nơi Phật chứ không
phải do Nhị Thừa. Nhưng đối với hàng
hữu học, vô học nêu rơ cái khác nhau của việc
tăng, giảm như kinh nói. Kế tán thán ba căn,
trước tiên đối với trí để luận, và
sau giải thích. V́ đối với việc trước
khi kiến đạo phải lấy tín đối với
9 căn thành tựu tin và hành cả hai. Đến lúc
kiến đạo nhắm tới căn chưa
đạt và nay biết vô lậu nên nói là muốn
biết. Như thế theo thứ lớp trải qua hai
tiến tŕnh suy tư và vô học, đổi danh tri căn
thành tri kỷ (biết ḿnh). Trên đă giải thích rơ 16 tâm
hạnh theo trí rất rơ ràng, sao ở đây c̣n nêu ra làm ǵ
nữa? Nhưng nhắm tới điểm rơ ràng đă nêu
và cũng chỉ nêu cái đức để tán thán chứ
không phải căn cứ ở chỗ thực hành. Nếu
theo chỗ thực hành nên y trí như đă giải thích. Nay
nói tâm hạnh phải sau quả cũng đâu có lỗi ǵ.
Chỉ bổ khuyết một nghi vấn ở đây
mới phải dùng chữ, cũng như đă giải
thích huống ǵ phải nói hết 16 hạnh, nói đủ
ư nghĩa không phải một. Nhưng nói tâm hạnh
nghĩa là phải xa ĺa Hữu; ở đây nói gọn
chữ ĺa hẳn cũng quá một lần. V́ 16 tâm hạnh
thuộc biểu pháp nên mượn ba đức để
tán thán; nói pháp giả trước chỉ cái Thể
để giải thích danh (sắc). V́ danh sắc nên
đứng đầu thọ và tiếp đến là
tưởng, hành và thức là chủ của thọ. Nói
chung mang danh thọ, nói riêng không có cái Thể có thọ nên
trên nói là giả (tạm mượn). Pháp chỉ quán gọi
đó là vô chủ (không ai làm chủ) mà vẫn hiện
hữu. Ngoài ra, cũng nói một là giả hai là thật do
theo tướng trạng gọi tên. Thật-giả cho là
thật nhưng giả, nên nhập chung lại gọi là
thật giả. Do tiếng chung hợp lại để
gọi như thế, chỉ v́ nó là hư thật. Thật
đây nguyên ủy do hư giả; hư giả trở
thành nghĩa phổ thông. Trong ba giả mỗi thứ có ba
pháp quán như trên nói đều dựa pháp riêng. Pháp giả
là hư dối không thật; v́ các pháp hư nên không
thật, không thật nên không; v́ không nên quán không là thật
giả. Đối với giả gọi là thật, thật mà
chẳng phải thật; chỗ thật ấy là
không. Một sắc, một hương gốc ở
nơi giả; do thể KHÔNG nên không chẳng phải Bát
Nhă. Suy đến cùng lư không chỉ là giả, là dùng pháp
giả quán. Chữ Quán ở trong, v́ trong Hữu không
phải Không nên Thể nó chẳng phải giả; nhưng
Hữu có thể Không nên Dụng nó giả. V́ thế, không
giả là phương tiện đi vào trung đạo. Do
trung choán một bên nên hai bên chỉ có tên mà không gọi là
quán. Do trung đạo thật nên dùng để nói, đây
dựa theo pháp giả cho rơ. Hai pháp quán sau dùng theo lối
loại suy để hiểu. Nếu dựa theo ba pháp
giả hẳn rơ viên quán. Viên nhưng không riêng viên; chỉ y
theo thứ lớp quy về nhất tâm là không-giả-trung
quán, tự nhiên mất chiếu soi, đó là đạt
vậy. Luận Đại Trí Độ nêu thí dụ giải thích
3 điểm sau đây: trước đưa ra 2 thí
dụ như con chó sắp rơi xuống giếng dụ
cho ư hẳn nó phải sủa. Hai h́nh ảnh (con chó rơi
và tiếng sủa) sợ rớt ngă, chúng sanh cũng
thế -giống như thế - thành 3 nghĩa nên gọi
pháp giả v.v... Thế nhưng hết thảy các pháp
đều do danh hợp mà thành h́nh. Thế th́ không ǵ ngoài
danh cả và không chi là không có danh; cũng hợp với pháp
nên nói ba cơi không ngoài pháp, cũng chỉ một giả danh
thôi. Các pháp đều thành danh như thế để phân
biệt.
Sau tán thán ba
đức pháp không của tam muội (thiền
định) do giả ngộ được pháp Không,
và kế ca ngợi 3 pháp Không ấy, cũng đều
căn cứ theo thứ lớp nhân quả. V́ các pháp
giả nên Không, theo đó hiểu ư nghĩa như trên.
Đại Trí Độ luận dẫn dụng nêu 37 phẩm
trợ đạo là siêu Niết Bàn, v́ mỗi phẩm có
khả năng đạt đến; đạt
đến chỗ mong đạt là Niết Bàn. Ngoài ra,
luận Niết Bàn có ba nghĩa cũng tức là 3 nghĩa
Không. Đó là: 1) đạt Niết Bàn môn, phải thích hợp
hai nghĩa nhị môn 2) ngoại môn hay là các phẩm trợ
đạo và 3) nội môn là 3 nghĩa Không. Thế nên
đức Như Lai vào đại Niết Bàn cao tột
hưởng trọn an lạc của ba đức vô cùng
thâm viễn. Sau giải thích từ Không Môn cũng chỉ
lặp lại. V́ quán mọi pháp vô ngă những ǵ của ta
biến mất - hết thảy đều tan ră - tất
cả do nhân duyên ḥa hợp mà thành nên biết pháp nhờ các
duyên tồn tại đều là Không. Không tạo, không
thọ nên vốn nó Không; do 3 nghĩa Không ấy nên gọi
Không Môn tức cửa vô tướng vậy. Quán thân tuy
Không vẫn kẹt Thượng Không nên có tướng trong
tướng đối trị chấp tướng
để tu thực hành vô tướng. Chẳng hạn
như co duỗi, cúi ngước... đều gọi
đó là tướng. Tướng vốn không thật,
nhưng do động chuyển thành gió. Gió tùy thức tác
động. Nếu thức diệt, niệm niệm không
khởi làm ǵ có tướng ư? Vô tướng cũng
tức vô ngă. Nhưng thấy có tướng nam, nữ
v.v... là có Ngă, tâm vẫn mê muội trong vô trí. Vọng
thấy có xương, lóng các tướng liên hệ, v́
thế mà xương, da che phủ các quan năng
động tác, như cây cối tự nhiên, cũng như
ví dụ trẻ con không khác.
Luận
về vô tác, hễ vật có tướng tạo tác
đều nương vào vô tướng; vô tướng
cũng chính là không, nhưng do chỗ tạo tác nên có. Nói vô
tướng là Không hay vô tác. Ba pháp hay cửa Không nói đây
là pháp quan trọng trong thiền quán. Nhưng Không này không
phải là tam muội (thiền định) nên phần
nhiều dễ làm cho thoái tâm. Chỉ 3 hạng
người sau mới đạt Niết Bàn, đó là
người tu hành giữ giới, tu thiền quán pháp Không
và người dũng mảnh tinh tấn, chỉ ba
hạng người như thế tu 37 phẩm trợ
đạo đạt đích thành tựu được
phân nửa. Nhờ bước đầu này đạt
đến 3 cửa giải thoát, cửa thứ hai cũng
lần lượt đạt được; trừ
những việc ẩn tàng không giao động.
Sau nói
về Tứ Đế và Mười Hai Nhân Duyên như
phần tóm lược để tán thán. Như Tứ
đế, nhân duyên phân ra hai mục chắc không khỏi có
nhiều phức tạp, huống nữa phần sau tán thán
Duyên Giác là thế nào? Phải nói rơ ở đây phân tích
như thế, song đế, duyên, độ v.v... vẫn
ẩn tàng nên phải nhanh, chậm có khác giữa
khai-hiệp. Ở đây Thừa nói chung hợp thành
một nên có giống có khác, như đă giải thích. Nói
khác, tứ đế để người căn trí
chậm lụt quán xét; th́ nhân duyên cho những kẻ
lợi căn nên có chung, có riêng, song tất cả
đều phát xuất từ kinh là chính. Mỗi pháp chung
bốn giáo, nhưng tùy theo cách dùng nghĩa mà văn có khác
không giống. Về Duyên Giác có hai hạng khác nhau. Nói
Đại Tiên Duyên Giác có ba hạng a) Độc Giác kinh gọi là
Duyên Giác tức là Đại Tiên; gọi như thế tức
nh́n từ ngoài vào trong, phân biệt chỗ ngộ giống
nhau để gọi tên. b) Nhân Duyên Giác như đă nêu
cũng giống nghe là ngộ. Duyên Giác sanh ra đời tuy
không gặp Phật, mà chứng ngộ pháp vô sanh là khác
ở điểm nào? Do không chấp thường, không
chấp đoạn v.v... nên phân 3 nghĩa để
giải thích. Nói chung hàng Duyên Giác do duyên sanh nên không
đoạn, do duyên diệt nên không thường. Không
chấp đoạn, không chấp thường nên được tán
dương công đức. c) Bích Chi Phật cũng c̣n
gọi là Độc Giác; giữa hai bậc có giống có khác.
V́ loại đồng nên sanh ra đời không gặp Phật;
do căn tánh khác nên có tiểu đại hơn kém khác nhau.
Đại không đạt quả vô học nhưng do hữu học
đạt thành. Bích Chi Phật căn tánh sáng suốt không
khác vô học như đă giải lược. Tư
liệu nêu hai ṿng: trước hỏi và sau lấy ư. V́ tam
thừa theo một hướng khác không
hợp hai bên mỗi bên rơ tứ đế, nhân duyên
khác.
Thứ
đến nói Bồ Tát nhưng gọi là La Hán, nếu cho
nhứt hướng giống tại sao tam thừa có khác?
Câu trả lời là nơi một cảnh đạt
ngộ tŕnh độ có cao thấp nên nói không giống nhau.
Nh́n chung tứ đế, nhân duyên cùng một cảnh
nhưng tùy cơ hiểu khác chỗ ngộ không
giống, nên đưa ra ví dụ ba con thú cùng qua sông
một lúc (con tới trước, tới sau khác nhau), cho
nên kinh dẫn chứng việc chứng ngộ khác nhau. V́
cảnh giống nên gọi chung là quán nhân duyên; v́ chỗ
ngộ khác nên đạt Bồ Đề không đồng
cũng phù hợp với bốn pháp tứ đế
như lời hỏi đáp cần phải biết. Sau
hỏi về Đại Tiên Duyên Giác ra đời không gặp
Phật tại sao nay liệt vào giống hàng Thanh Văn? V́
kinh không có danh từ Độc Giác nên nói chung Duyên Giác nêu lên làm
câu hỏi. Câu trả lời là Duyên Giác ra đời
cũng như Phật xuất thế, và Thanh Văn bao hàm
trong đó. Nay nói Duyên Giác sanh đời không gặp
Phật là dựa theo hàng Độc Giác. Nếu kể hàng
Bồ Tát nữa là 5 như ư nghĩa dịch giải,
v.v... Bậc đạo tâm rộng lớn là kẻ có
thật trí , phương tiện trí đều thành tựu mọi
công đức, nên cũng gọi bậc Đại Sĩ hay
Khai Sĩ. V́ các Ngài sẵn ḷng đảm đương
trọng trách để hưng long đạo pháp. Theo
lời dạy cái tâm quan trọng hơn cả. Bồ Tát
trước nghĩ tới lợi tha rồi sau mới
nghĩ ḿnh; thuần chân với mọi vật nên hơn
hàng Thanh Văn. Muốn được thế phải
khổ luyện qua 3 a tăng kỳ trong hàng trăm
kiếp. Đó là chưa nói tới việc đoạn dứt
mê c̣n thua A La Hán. Thông giáo tuy khác Tạng giáo nhưng giáo pháp
rơ ràng là không thay đổi nên thuyết giáo c̣n phải
lặp lại; lặp lại đương nhiên có lư do
nên nói phải hợp nguyện vọng, và v́ thế nên khác
nhau. Hàng thập địa hạnh viên măn như hạnh
Phật. V́ Thập địa cũng là Bồ Tát
địa, nên được như danh xưng
đương nhiên thay Phật giáo hóa. Bồ Tát không thành
hay chưa thành Phật vẫn phải lấy tâm vô tác quán
cảnh bất nhị (không hai) chư hành không tạo tác
nên không thành. Nhứt niệm chưa tṛn đủ nên
chẳng hay chưa thành Phật vội. Luận đối
chiếu Bồ Tát như trên với phần sau để
so sánh. Phần giải ở đây đúng phải là
cửa ban đầu của pháp đại thừa sâu
rộng nên cùng hành thập địa đến đệ
bát địa thành nghĩa chung nghĩa riêng khác nhau. Chánh
giáo hàm Mật giáo; không phải mật của hiển
mật. Nếu căn cứ ba loại người phát tâm
như kinh Đại Phẩm th́ mỗi phái của ba phái
hợp với nghĩa chung, cả hai thuyết đúng là A
La Hán qua 3 a tăng kỳ chưa đoạn dứt mê
lầm vẫn không gọi La Hán được mà chỉ
khi nào chứng quả mới xưng danh. Ngoài ra, kinh
Bản Hạnh nói có hai ư: 1) Dựa theo Bồ Tát tới khi
đạt quả xưng danh và 2) Dựa theo Như Lai thành
Phật giáo hóa một đời đồng như
được ấn chứng. Về sau cả hai ư trên
không c̣n bàn nữa. Đối với ba phái Bồ Tát dựa
theo quả vị so sánh như kinh nói. Cũng dẫn
chứng Đại Phẩm kinh, rằng Bồ Tát riêng với
danh nhẫn cũng để tán dương đưa
tới ư của nhị thừa . Như trên nêu rơ đối
với Thanh Văn đều là La Hán không bị ngăn cách
do học hay vô học.
Hỏi: Ở đây với Bồ Tát
có thâu có chọn, ư này như thế nào?
- Đáp : Trong lấy Bồ Tát bất
định h́nh thể làm tiêu chuẩn để giải
thích. Đây là một cách nói kiên định nhưng ư không
thừa. Trên dựa theo Thanh Văn mà có hữu học hay vô
học, tiến từ hữu học đạt
đến vô học đều phải như thế,
ở đây nói rơ Bồ Tát có liên hệ với Biệt-Viên
giáo nên c̣n phẩm vị chót để mong đạt. Theo
chỗ đúng hay gần đúng mà luận th́ có thâu, có
chọn lọc, phần giải không lược giản
như thế. Theo câu hỏi, phần giải đáp
lặp lại nguyên nhân hay duyên cớ. V́ thế nay nói rơ
Bồ Tát về h́nh thức y phục lẫn lộn
giống như người phàm, nhưng không hề
nhầm lẫn. V́ đó lại phải nói rơ cho biết
tốt xấu quyện trong nhau để quí trọng
Tiểu Thừa. Nên biết rằng Đại
Thừa-Tiểu Thừa đức bằng nhau, nên nói
tốt là nói Tiểu Thừa; do chấp danh
tướng, hễ ngộ th́ phàm thánh vượt qua, v́
xấu là phàm phu nên phải nhấn mạnh rơ ràng. Sau nêu ư
thêm về công đức thật trí gồm có 11
mục mà trong đó trước nhất tán thán trí
đức, có thật trí, phương tiện trí. Thật
trí chiếu không là thể Bát Nhă; phương tiện trí
chiếu hữu là dụng Bát Nhă. Kinh Duy Ma Cật nêu rơ
thật huệ, phương tiện mở tứ cú
(bốn câu) cũng rất gần với cách giải thích
ở đây. Bậc hướng quả tức nói rơ
phẩm vị, đưa ra lặp lại rơ hơn
để ca ngợi đức chung riêng có nguyên nhân. Nay
dựa theo Thông giáo đệ thất, đệ bát
địa luận về nhị trí đệ thất
địa đạt vô sanh nhẫn nên phải là thật
trí; qua khỏi đây là quyền trí; không dựa theo mà
chấp nhận nghĩa quả thật là nguy! Hành giả
Đại Thừa chỉ ca ngợi riêng hàng thực hành
Bồ Tát, hàng nhị thừa không phân chia nên gọi là Độc
giác Đại Tiên v.v...
Ca ngợi
tán thán pháp nhăn. Nói đầy đủ phải có 5 loại
mắt pháp và có thấp cao khác nhau. Bồ
Tát do nhơn tu tập phẩm vị chưa viên thành nên
chỉ đạt tứ nhăn; v́ chưa đạt quả
cuối cùng nên chưa được Phật nhăn. Nhưng
theo nghĩa Phật để nh́n chung Bồ Tát cũng
hội đủ ngũ nhăn. Như Viên giáo, Đốn giáo
sơ tâm tuy c̣n là nhục nhăn mà đă hiểu cao hơn nên
gọi là Phật nhăn. Ở đây luận hàng Thập Tín
lại dùng chứng ngộ tương đương làm
chuẩn. Sau tán thán Thông giáo lấy mắt pháp làm thí dụ
nên chỉ đạt 5 phép thông phải nhường
quả cuối cùng mà không đạt được sáu phép
thần thông.
Sau nói
về tam minh với người chứng
ngộ. Người chứng ngộ 6 phép thần thông
phải thông suốt ba minh trong ba đời, do viết sai
một chữ nên lầm. Về thập lực có giải rơ như trong Trí
Độ luận mà trong số cho dù không che dấu sanh tử
lực và ngoài ra có đủ 9 lực c̣n lại. Do đè
nén vô ngă nên dù trong sanh tử nhưng không dấu
được lực tác dụng vô cùng. Hàng nhị
thừa không đủ lực nên không khỏi lo sợ mong
thoát ly sanh tử.
Về
tứ vô lượng tâm hay bốn tâm lượng quảng đại vốn
nhờ tu phạm hạnh, tức là do giữ giới mà
được. Ở đây tán thán Bồ Tát cũng chính là
ca ngợi hạnh đức Bồ Tát. Nói rộng
đủ như ba đức nêu trên nhưng chưa xả
vẫn chưa hoàn toàn, chỉ có thể Bồ Tát xả
không chấp và đây là việc làm cốt thiết nên chú
tâm v.v... Ngoài ra, danh nghĩa các pháp khác như trật tự
lớp lang của pháp giới cần phải biết; từ
Kim Cang diệt định để tán thán đoạn
đức. Đối với các mục trước thuộc
về trí, đó là trí đoạn nhị đức. Nói dùng
trí dứt mê; đoạn dứt nhân được
ngộ. V́ thế nên nói vô ngại đạo đoạn là
trí đức, giải thoát đạt ngộ là đoạn
đức. Ngoài ra, cũng nói rằng, trí đức
thật đă đoạn dứt, có nghĩa là dùng trí
thật có chỗ đoạn, trong khi đoạn
đức không chỗ đoạn. Nói không đoạn là
đoạn ắt phải có ngộ và cũng do
đoạn mới ngộ. Lư này thật khó rơ ràng. Hơn
nữa, nó dây dưa măi ấy mới đúng nghĩa
đoạn dứt, cũng có nghĩa không c̣n năng sở
mới đạt viên giác hoàn
toàn. V́ thế trước nói đoạn nên không c̣n năng
đoạn ví như kim cương rắn chắc có
thể làm tiêu phiền năo nhưng tự thể không
động, đó là nói về phần lư của
đoạn vậy. Như kinh Thủ Lăng Nghiêm, Trung Hoa
dịch là Dũng Kiện, ư nói tánh mănh liệt có khả
năng trừ ma ngăn địch. Lại nói tới
số ngàn vạn ức nêu ba thí dụ số chúng
phức tạp đủ hạng. Phàm phu có 4 chúng: 1)
người, 2) người có học, 3) trời 4) bậc
hiền. Chia hạng giải thích, bậc hiền có thể
dễ lẫn lộn. Được làm người việc
chính là phải giữ năm giới, có nghĩa phải
tránh sát sanh, trộm cắp, tà dâm v.v... Chỉ pḥng thân,
khẩu, mà không nói ư nghiệp. Đây chỉ nêu cái ngọn
cần phải biết gốc. Chỉ nội một
giới rượu nói chung ngăn hai nghiệp,
lược bớt không nói hết ư. Như trên nói như
thế cũng có nghĩa như trước đă giải
thích. Ở đây phải chú trọng tới nhơn
thừa, chưa luận Tiểu Thừa, Đại Thừa
để phải dè dặt hay chẳng dè dặt về
ư nghĩa. Nếu nhắm đối tượng 10
điều thiện là chư thiên. Do dẫn dụng theo
văn Pali, đức Phật lúc mới thành đạo
chưa chuyển bánh xe pháp (chưa vận dụng
truyền bá giáo pháp). Song nhờ hai người ủng
hộ Phật tu tập, là điểm chính Phật chế
5 giới nên ngày nay mới có phần hỏi đáp. Đầy
đủ rơ ràng chỉ 5 giới mà không bốn cũng không
phải sáu giới, nhưng bao hàm sâu rộng. Phần nào
không nằm trong 5 giới cơ hồ không tồn tại,
v́ có 5 v́ sao trên trời và 8 việc nhân gian mỗi mỗi
rành rơ phân minh do giới không sát sanh. Lấy ngũ giới
phân ra 5 hướng như phương đông thuộc
mộc, mộc (cây cối, cỏ cây) chủ yếu
thuộc nhân (nhân đức-hiền lành). Nhân lấy
dưỡng sanh làm căn bản, nên giới không giết
hại mạng sống hợp với hướng đông.
Ngoài ra các giới khác hợp các phương khác phải
biết, như kinh có giải thích rơ. Nếu y cứ theo
Viên giáo hay Đốn giáo dạy nắm rơ ư tŕ (giữ
ǵn), phạm hẳn chỉ nhứt thừa Viên giáo. Có
giải thích đầy đủ trong kinh Quang Minh sớ. Song
bộ kinh này lúc Phật nói đầu tiên nhưng không
phải lời dạy ban đầu. Do lúc bấy giờ
chưa đủ ngôi Tam Bảo nên Phật chưa dạy
pháp xuất thế mà cũng đă thu nhận bao dung cho nhóm
nhỏ. Người xưa chưa lănh hội hết
lời Phật dạy ban đầu để làm
người trời; măi cho tới nay các nhà nghiên cứu
mới khám phá ra ư nghĩa đó hàm đủ trong nghĩa
kinh, cũng như nói rơ trong các chương riêng v.v...
Gần bậc Thánh là hiền, hay cũng gọi là hạnh.
Phải qua một đời là bậc hiền rồi
mới đạt đến Thánh nên nói gần bậc
Thánh. Nhưng nói theo chân bậc thánh phải gần gủi
việc Thánh c̣n chưa được là người
quán hạnh nên tạm dùng giả danh để gọi. Do
danh xưng mà có người hành A La Hán , nhân đây liên quan đến
hành giả hành phẩm vị vô học và thập
địa v.v... đều c̣n phải nương vào pháp
tu, nên biết tuy theo dấu chân Thánh, nhưng giống phàm
phu. Họ vốn là bậc La Hán hay Bồ Tát, nếu
cứ lấp lững như thế thật cũng không
dễ lượng giá được tầm quan trọng,
chỉ có Phật mới biết được mà thôi.
Ngoại trừ dựa vào bổn môn, tích môn để bàn mới tạm
ổn. Thập địa có ba hạng, kinh luận dẫn
không giống nhau. Điều dễ hiểu là không phải
một nhà lập giáo mà do nhiều nhà nên có sự khác nhau,
suy nghĩ kỹ ta thấy chỗ dụng của mỗi
phái cùng chỗ cạn sâu không đồng nên có ba: 1) hàng Tam
Thừa cùng thực hành thập địa. Đây phải
nói là phẩm vị chung như thông thường giải
thích 2) Đại Luận nêu rơ Càn Huệ Địa có hai loại:
Một là Thanh Văn Càn Huệ Địa, như trước
là thực hành chung, cộng tu công đức phẩm vị
hoàn toàn giống như Tam Tạng kinh dẫn. Gọi Thanh Văn
riêng đạt Niết Bàn mà chỗ thực hành của
họ đều nhắm tới tự độ (giải
thoát cho ḿnh) nên phân ra chung riêng. Như tu quán Phật tam
muội là chánh quán hay quán bất tịnh v.v... là trợ
quán. Dù quán pháp nào cũng đều do sơ tâm cạn
mỏng nên việc tu tập chưa đạt đến
lư mầu của thiền định. Tuy trí huệ c̣n
cạn mỏng chưa thể thích ứng để
gọi là Càn Huệ Địa v.v... nên phần sau về
Bồ Tát Địa sẽ đề cập. 3) Bồ Tát Càn
Huệ Địa tu thập địa, như kinh đă
giải thích đối với Bồ Tát sơ phát tâm;
nhẫn đến chưa đạt đến thuận
nhẫn. Nói cách khác hàng thập tín ngoài phàm phu. Hai hạng
sau chỉ tướng chung riêng xen nhau xem văn kinh có
thể dễ nhận thấy. Cho đến Bồ Tát
địa, trước tiên Hoan Hỷ địa
đến Pháp Vân địa đều gọi Bồ Tát,
mượn riêng gọi chung là vậy. Do đó, có thể
nói rằng, biệt lập nhẫn hạnh nên phải có
phẩm vị riêng, nhưng mượn gọi chung là
vậy. Do phẩm vị Bồ Tát nên mỗi vị có
đức nhẫn hơn Nhị thừa. Đó cũng do cách
thực hành mà có chọn lọc, đào thải. Giả
sử không mượn phẩm vị để
gọi tên th́ rất phức tạp, lại không biện
giải được, trừ trường hợp ư
nghĩa của phép tu chỉ quán , nên các nhà lập giáo tạm
mượn nghĩa nêu lên như vậy. Phật
địa cũng do nhân địa Bồ Tát như nói trên,
đầy đủ công đức tự lợi lợi
tha, đến khi thành tựu chủng trí đạt đến Phật
địa. Như thập địa của Biệt-Viên
giáo trước sau gốc là Bồ Tát không chung với hàng
nhị thừa; phẩm vị hẳn nhiên là không phải
vay mượn. Chỉ dựa vào Biệt giáo để
luận vẫn phải giáo hóa nên có thuyết có ngăn cách.
Chỉ Viên giáo nhứt hướng đạt đạo
viên măn nên chủ ư lấy Biệt giáo ví dụ. Nhưng
cũng nhờ pháp hồi hướng của năm
phần pháp thân, như hồi hướng chính ở địa
tiền. Đây ngược lại nêu trước ra sau
để tán thán đức hồi hướng. Giải
thích dựa theo Biệt giáo làm rơ hơn, làm cho không bị
ngưng trệ ở Không khiến quy về Trung, là
nghĩa hồi hướng vậy. Nói đầy
đủ như sau, như trên luận năm phần
chưa đủ, do đó ở đây phải nói rơ.
Năm phần pháp thân không từ ba thân như trên nói
phần pháp thân công đức. Tri kiến thân cũng chính
là cùng trang nghiêm tánh đức pháp thân nên đủ ba thân -
mà các phái lấy đó làm tôn chỉ. Hồi hướng là
điều lợi lành có hai loại: 1) phản ảnh
tự thân hướng về người khác hay suy nhân
hướng tới quả. 2) Quả hẳn phải
đến sau nên cũng có nghĩa là hồi sự
hướng lư nói chung. Ca ngợi người tín nữ tu
nhân cũng đầy đủ công đức của hàng
thập địa. Đối với đây mới nói rơ
thập địa của ba đời không đến
từ đầu-giữa-cuối mà trải qua 30
đời đạt thành thập địa. Do vậy
mới nói tăng đạo giảm đời là thế.
Hể luận một địa là luận đủ công
đức các địa khác. Cũng có thể nói cơi sơ
địa không biết cơi nhị địa đi lại
giở chân cất bước ra sao. Nên nay khéo chỉ
dẫn nhập: vào-ra có nghĩa là không phải một
hướng. V́ thế mà biết pháp môn tu của
Viên-Đốn lư vô cùng tận. Trở lên để tán thán công
đức hàng Phật tử tại gia. Sau luận
thất hiền có hai thành phần như kinh dẫn
giải. Song ở địa tiền phàm phu có chỗ
sở hành chưa điều phục tâm hợp lư
đạo. Tâm không điều phục không thuận
đạo; đạo không thuận nên Thánh không thành. Ở
đây dùng ngôn từ không thể diễn tả hết
được. Thất hiền của Đại Thừa danh
xưng hơi khác chưa kiểm chứng hết
được. Danh từ ngoại quốc gọi là Tích
tài chỉ người Phật tử. Luận như kinh
Tịnh Danh về sự giàu có phú hữu của bảy
loại tịnh tài ngày một xa dần. Ngày nay
người đời phần nhiều c̣n gọi như
thế, không hiểu là có sự lạm xưng chăng?
Người đủ đức hạnh là người có
đức tức cũng có hạnh, là thành hạnh
đức. Ở đây giải thích theo nghĩa
đầu tiên cũng có thể lấy câu nầy làm
chuẩn: các công đức nói riêng nơi hai mươi hai
phẩm trợ đạo; trong 8 mục mà bát chánh
đạo gồm bốn, đối với từng
phẩm loại, trừ bảy giác chi và tám chánh đạo
thuộc kiến đạo, các phẩm khác như đă nói
trước nên ở đây chỉ c̣n 22 phẩm. Nói
Nhứt thiết nhập v.v... luận về tướng
các mục có đầy đủ thứ tự như pháp
giới.
Hỏi: Phần tám môn giải thoát cho
rằng có quán có chứng; ở đây theo bậc hiền
quán nhưng chưa đạt; căn cứ vào đâu tán
thán?
- Đáp: Thất hiền nói trên do tu
quán tuy chưa đạt ngộ hoàn toàn, nên đa phần
nói như vậy.
Ngoài ra,
cũng c̣n thắc mắc: giải thoát là ǵ?
-Ấy là
trừ bỏ không trở lại, hay cũng có nghĩa xa
ĺa là giải thoát. Mới đầu ĺa sắc đạt
vô sắc, ĺa tâm đạt đến vô tâm; cả hai
phần tâm-sắc đều quên là hoàn toàn giải thoát, cho
dù tâm có buộc cũng phải bỏ. Đáng tiếc giáo lư
Tiểu Thừa dạy quán như vầy: thậm chí cái vô
cũng phải xả, ai là người xả đây?
Cả hai (người-vật) đều toàn không pháp nào
lưu trụ nên hoàn toàn không có y cứ.
Hỏi: Thế nhưng khắp cùng ba
cơi có ǵ khác biệt?
- Đáp : V́ thấy Có phải bỏ,
bỏ được chỗ kiến chấp đó là
giải thoát. Nếu c̣n thấy có các cảnh giới
hơn liền nhận cơi ḿnh hơn, chẳng c̣n hơn
nữa mà tất cả do tâm biến hiện. Nếu
hết thảy cảnh giới hoàn toàn trong suốt chính
nơi đó sẽ ra sao ? Có an hay bất an để
gọi là hơn mà bậc Thánh phải thoát khỏi?
Vượt ư niệm này là toàn thiện vậy.
Tam huệ
là ǵ? Đó là do nghe, suy xét và tu tập tuần tự
trước sau, ngỏ hầu dần dần thâm nhập
đạo. Do tu tập phát huệ nên gọi chung như
thế. V́ có thứ bậc theo từng phẩm loại,
như ta biết Bồ Tát Quán Thế Âm do nghe-suy xét-tu
tập mà nhập tam ma địa có khác thường vậy.
Tứ đế mỗi pháp c̣n có 4 nhân thành 16 pháp, dựa
theo các pháp chân ấy quán xét để tán dương. Trong
đó có pháp chung pháp riêng, gồm nhân quả của thế
hay xuất thế thành bốn pháp. Đó là bốn pháp: khổ,
tập, diệt, đạo mà trong mỗi pháp tách riêng có
bốn loại thành có sanh diệt, vô sanh, vô tướng, vô
tác dựa pháp chân nghiên cứu dẫn luận. Chỉ
luận xét một pháp cũng thấu rơ lẽ thật nên
gọi là chân. Nếu đem phân tích ư nghĩa sẽ không
cùng tận. Ở đây chỉ giải lược, v́
ở Nhẫn vị c̣n chia thành thượng, trung, hạ
quán xét điểm khác biệt. Đơn cử quán 16 pháp chân,
xét riêng chỗ thực hành mà nói đó là quán môn; cảnh
để quán là đế môn, như trên nói khá đầy
đủ. Quán xuôi hoặc quán ngược bốn, ba,
hai, một pháp, không do bốn thiện căn để tán thán đức
của hàng Phật tử. Từ Noăn vị đến
Thế đệ nhứt phải quán nghịch quán
thuận khác nhau. Quán nghịch là quán trước ra sau quán
sau ra trước; quán thuận là quán theo thứ tự
trước sau tức có nghĩa quán hết một pháp lại
quán pháp khác như ta biết. Hay dựa theo quả quán
từ sau tới trước tức quán ngược.
Như trên giải thích có 90 pháp nhẫn. Ở đây theo ư
kinh riêng quán 22 phẩm, từ 22 phẩm quán các pháp hợp
thành 81 phẩm. Cơi tứ thiền mỗi cơi có 9 phẩm
họp lại là 90 nhẫn. May thay kinh có nêu rơ đủ
số dẫn dụng hà tất phải thêm nữa, gọi
chung là nhẫn. Để an tâm không ai khác được an tâm
hơn chính ḿnh gọi là phương pháp điều tâm,
đâu có pháp nào chẳng do nhẫn ư? Ví dụ số các
trời có tới vạn trên vạn; đem nhân vạn
với vạn thành số ức vậy. Ngoài ra, ba
đế khác vốn khác nhau, chung riêng, mở hiệp,
đầy đủ giản lược khác nhau, dựa
chỗ chứng đắc để biết. Cơi trời
thứ năm Hỷ Lạc thiên gồm có hai cách nói: a)
Năm phần tức là các phần công đức làm phát
sanh từ tứ thiền mà không liên hệ ǵ tới số
chúng trời. b) C̣n gọi là Ngũ Tịnh cư thiên,
chính là Ngũ Na Hàm thiên vậy. Nhưng nói Hỷ Lạc
đồng nghĩa như đây vậy. Đây dùng ba quả
Thánh theo dấu chư thiên vốn thật vô định.
Như kinh Lăng Nghiêm nói rằng cơi thế gian đây
cũng giống đồng trống, núi sâu, đại
địa thiết lập đạo tràng đều là chỗ cư trú
của các bậc A La Hán người phàm không thể
thấy được là vậy. Sau nêu Tứ Thiền
bổ túc thêm ví dụ này; nói rộng như luận Câu Xá
v.v... Định cơi thiên là công đức định như
giải sơ lược là tu tập hai báo
(phước-đức). Nói vị đắm trước
thiền định mà chỉ có căn bản định
mới có vị đắm trước. Nếu như
với thiền vô chấp gọi là Bạch Tịnh
thiền như sáu quán hạnh, tám thánh chủng v.v... Hành
giả c̣n bị ngũ dục làm mê chấp mà nói ư nghĩa
định thật khôi hài. Tùy nơi để nói như
lục dục, bốn tín thành tựu là tin Tam Bảo :
Phật-Pháp-Tăng và giữ giới, đó là bốn
niềm tin không hư hoại hay cũng gọi là tịnh
tín (niềm tin thanh tịnh). Cũng y cứ ngũ
đạo (năm cơi, đường) nêu ví dụ chung
trong 5 cơi hoặc chỉ nêu ra cơi nhơn, thiên là cơi thọ
vật dụng; hoặc loại thông minh trong số đó
chết thành A Tu La. Đến loài quỉ, súc sanh h́nh thù bất
nhất nên nói 3 thiện, ác và bốn thú có đủ trong
lục đạo vậy. Ngoài ra, trong lục đạo có
trước sau: trước gồm có trời, người
và ba ác thú, và sau A Tu La hoặc hữu h́nh hoặc vô h́nh. Hay
trước sau bất định như kinh này nói là loài vô
duyên không có trong số nêu trên. Ví dụ số chúng sanh
phương khác mà đă gọi phương khác hẳn
không trông thấy. Gọi chúng ở cơi khác gặp tuy
thấy nhưng khác, tuy cũng thấy có tới lui mà không
để lại tông tích tới lui. Hay thấy họ không
di động vẫn an tọa mà đến cơi này hoàn toàn
do biến hóa. Việc đó tùy duyên thấy khác nhau; tựu
trung không khác do biến hóa. Cũng như việc biến
hóa trong 10 phương tịnh độ. Biến hóa theo kinh
Pháp Hoa là hóa uế thành tịnh tức làm cho 3 cơi thành
Tịnh Độ. Theo chỗ hiện thành tướng tịnh,
tuy không phân biệt những việc của một
đời. Hơn nữa, theo sự thị hiện cơi y
báo mà nói nên gọi là cơi Tịnh
không vắng lặng. Vă luận về h́nh tướng cơi
Tịch Quang chỉ phải dùng trí mới thấy
được, không phải chúng sanh dưới
đất và chúng biến hóa đạt đến
được. Nhưng cũng nói rằng họ có thể
hóa hiện trăm ức ṭa cao như kinh Hoa Nghiêm nói là
hiện tướng cao ṭa. Và trên hoa tức dưới cây
báu có trăm ngh́n vạn ức hóa thân Phật. Nhưng
thật ra do cảnh giới hoa tạng bất động không ĺa mà có
thăng lên cao, có vui chơi như kinh mô tả v.v...
Tám bộ
chúng mỗi loài đều ngồi trên bảo hoa nói chung
giữa chủ khách không thể phân biệt được
sự biến hóa. Phật và đại chúng mỗi
người đều có bát nhă. Luận về Bát Nhă (trí
huệ) có hai loại: tuệ giác chung và tuệ giác không
chung (chỉ Phật có). Cộng bát nhă (trí tuệ chung)
như kinh này; bất cộng tức tuệ giác không chung
như kinh Hoa Nghiêm. Dù cộng hay bất cộng (chung hay
không chung) cũng vẫn là tuệ giác (bát nhă). Đă là tuệ
giác giống như kinh Hoa Nghiêm nói vậy. Do đó nên
biết rằng Phật dung thông tất cả mọi
dị biệt hoàn toàn không c̣n bỉ thử mà do ḷng
người sanh kiến chấp thấy có khác nhau. Trong
phần chú giải nêu lên tám bộ chúng mà tứ thiên
vương mỗi vua thống lănh hai chúng
tất cả là 8 bộ chúng, nhưng các kinh lại tính
số thiên long là 8 chúng. Dù nói theo cách nào đi nữa kỳ
thật họ đều là chúng hộ pháp (duy tŕ ủng
hộ Phật pháp) cả.
Ngồi ṭa
chín bậc như phần chú giải chỉ hợp với
sự thay đổi kiếp (đời sống) tạo
cấp bậc hay từng bậc. Ở đây bản kinh đă
hiệu chánh nên tự thể không cần phải sửa
đổi nữa, huống nữa chữ
‘kiếp’ chưa hẳn chính xác, v́ chỉ nói sơ
lược. Nhưng đây là nơi số chúng qui tụ
mỗi hạng số nhiều không thể nghĩ bàn
được, huống nữa số chúng hội họp
mỗi vị ngồi vào ṭa ngồi như thế cao
rộng đến 950 dặm, cũng chỉ mới dựa
theo thế tục để nói thôi. Với niệm không
thể nghĩ bàn đâu dùng số lượng thông
thường sánh ví được. Chẳng hạn,
nhà ông Duy Ma Cật có sức dung chứa tới 32,000 ṭa
sư tử (ba vạn hai ngh́n chỗ ngồi). Phỏng
theo ư này sợ không đủ chỗ dung nạp như quan
niệm rộng hẹp, hơn kém thông thường. Nhân
đây nên biết Phật hóa hiện có thể tạo thành
vô số chúng. Nếu đem tâm lượng phàm phu phân
biệt lại chẳng hóa ra lầm lắm sao! Tuy nhiên,
điều quan trọng chưa kể là người say mê
trong mộng. Các kinh nêu nghi vấn hỏi số chúng. Câu
trả lời là quả báo trong ba cơi đều do
nghiệp tạo tác; người nào được gặp
Phật là do hữu duyên hay vô duyên có khác. Chưa hẳn
chỉ căn cứ một chiều theo thiện ác mà
được. Thử lấy thí dụ như có nghe pháp
hay không nghe pháp v.v... đủ để nhận xét vấn
đề. Ở đây lấy câu trong Đại Kinh làm thí
dụ người giữ giới ḥa huởn chưa
hẳn làm chướng ngại đạo mà chuyên chở
chậm mới làm ngăn trở. Dựa hai ư sau đây
về hữu duyên hay vô duyên mới diễn đạt
được ư chánh. Tưởng cần phân biệt
thừa, giới mỗi phần có ba phẩm bổ sung vào
việc luận về huởn gấp của tứ cú
như kinh văn đều nói thế.
Hết
cuốn hai (^)
Phần 2, tựa phát khởi có
5 ư: Lúc bấy giờ... phần sau nêu 10 hiệu. Nói lúc
bấy giờ là nói ngay trong lúc đại chúng đang nhóm
họp. Trước khi nêu vấn đề hợp ngay lúc
đó.
Mười
hiệu đó là tôn hiệu xưng tán đức giáo
chủ (Phật Thích Ca Mâu Ni) đầy đủ nhiều
đức tướng. V́ thế lúc mới đầu
chúng đem ḷng khát ngưỡng Phật là bậc chí
đức. Nói lược gồm bốn đức: 1)
Phật đủ 10 hiệu 2) đủ ba món minh 3) trí
đức 4) đoạn đức . Phàm hễ nói tới
đức không thể nói hết được, cũng do
mỗi vị đầy đủ đức để
nói. Về mười hiệu Phật sẽ giải thích
ở đoạn khác; c̣n về trí đức, đoạn
đức như trên đă giải thích. Thích Ca Mâu Ni
về trước là danh hiệu gọi thông dụng, song
ở đây (Trung Hoa) có cách gọi khác. Từ Thích Ca là
họ, Trung Hoa dịch là Năng Nhân; Mâu Ni là tên, dịch là
Tịch Mặc (Năng Nhân: nhân từ và vắng lặng).
Người nhân từ mà c̣n trầm tĩnh vắng
lặng là nhân đức lại là người suy tư.
Suy rộng đến chỗ cùng cực con
đường của Phật đi có thể đạt
đến, là hàng đệ tử (học tṛ) của
Phật, đó há không phải trách vụ đó sao?
Nước Tây Trúc (Ấn Độ ngày trước) gồm có
bốn chủng tộc: a) Thích Ca b) Ḍng Kim Luân c) Sát
Đế Lợi và d) Bà La Môn. Bốn chủng tộc sẽ
giải thích ở một đoạn khác. Nếu luận
chủng tộc là thuộc ḍng giống hoặc Phật thuộc
họ Thích hoặc gọi là Cồ Đàm hoặc Cam Giá v.v...
Tùy mỗi thế hệ mà ḍng họ Thích khác nhau. Do sách ghi
nhận, dân quy tụ về đông đúc, trước kia
là nơi đại vương chiếm ngự, bị quân
Rợ địch xâm chiếm dồn đến
Kỳ Sơn. Từ đó đều quy về một
đô thị. Vào tháng 8 năm đầu Phật nói kinh này,
chính là thời điểm khởi sự nói kinh Nhân
Vương.
Chú giải
dẫn lời b́nh luận của ngài Chân Đế tam tạng
dẫn có 3 phần: 1)
đức Phật trụ thế thuyết pháp 45 năm 2)
Ba lần Phật chuyển pháp luân trải đều thời gian
45 năm 3) V́ hai phần Hiển-Mật giáo lấy
đó suy luận là thời gian trước sau đầy
đủ. Ở đây do một nhà nói ba thời kỳ
không sai khác, chỉ nh́n h́nh thức để thấy có
diệt hay không. V́ sau khi đức Phật thành đạo
trải qua 50 năm Ngài thuyết pháp các kinh luận nói
giống nhau. Một, không thể nói khác, chỉ có
thuyết cho rằng Ngài du hành năm 12 tuổi, 35 tuổi
thành đạo v.v... là có phần hơi khác. Hai, do 12 năm
đầu Phật thuyết bốn kinh A Hàm là hai điểm không thể
khác. Ba, sau thời thuyết kinh Bát Nhă và kinh Pháp Hoa là 8
năm tại núi Linh Thứu, là ba điểm không thể
khác. Lấy khoảng cách số năm đó tính gia giảm
đôi chút hẳn rơ cuộc đời đức Phật.
Nay nói năm đầu tiên ngày mồng tám phải là sau khi
Phật giảng các bộ kinh Bát Nhă, tiếp theo nói kinh Nhân
Vương cũng trong thời gian đó, nhưng cho
biết ngày 8 của tháng chính là ngày mồng 8 tháng giêng mà
kinh lược không nói rơ. Phật vốn an trụ và
tự chứng ngộ nên Ngài trụ lâu ngồi ngay
ngắn như chỗ ngồi ban đầu cũng
đúng; nhưng gọi ngồi ngay ngắn do nhờ
đức tu hiển lộ nơi bản tánh vậy. Hàng
thập địa không như thập địa nói trên,
như kinh nêu dẫn đồng Phật. Nhưng nơi
trụ địa của Phật cũng chính trụ
Lăng già không do thứ lớp thập
trụ nên không theo thứ tự thập địa, trong
khi phần chú giải lấy riêng nhập chung để
giải thích. Tuy không trái lư nhưng rốt lại không
thể luận chung nên để riêng. Ngoài ra c̣n nói
rằng, Phật nhập đại Tam Muội hoàn toàn
vắng lặng. Trước nói chỗ trụ địa
đâu có trái với lư vắng lặng, lấy một
đời tu luận chỗ trụ địa là bậc
trí. Nay Phật nhập định hướng đến
thuyết pháp hẳn c̣n do dự; vào định sau đó
quán căn cơ mỗi hạng, quán cơ rồi mới
thuyết pháp. Muốn thuyết pháp phải theo tŕnh tự
như vậy. V́ thế nói nhập định mà nói
rộng gồm có bốn ư:
1) Quán
căn cơ cho hợp thuốc 2) Nhân định tâm mà phát
trí huệ 3) Thuyết pháp đúng phép 4) Lấy Thánh sánh
với phàm là đạt bốn ư đó; cũng có thể
đối trị bốn tất đàn tức do nhân duyên vậy. Ngoài
ra, nói đại vắng lặng có hai nghĩa : a)
Trước dựa lư giải thích. Lư luận đưa
tới nghĩa rốt ráo là Niết Bàn hay tịch diệt.
Nên dùng 3 đức đại Niết Bàn để phân
tích. Gọi là đại chỉ pháp thân (rộng lớn),
tịch là Bát Nhă (trí tuệ, tuệ giác), diệt là giải
thoát. Có đầy đủ ba đức ấy mới
gọi là vào sâu thiền định. Nương theo đó
trụ c̣n đâu hơn nữa? Nên lấy nhà làm ví dụ,
đào xới cũng là nhà dẫn tới thông tỏ vào nhà
là ngộ đạo. Phẩm Pháp Sư kinh Pháp Hoa nói:
‘từ bi là nhà’ cũng hữu lư lắm chứ! Nhưng
đại vắng lặng cũng có nghĩa chiếu
soi. Đại vắng lặng tức là chiếu soi, chiếu
soi nhưng luôn vắng lặng. Vừa chiếu soi vừa
luôn vắng lặng, tuy động mà vẫn vắng
lặng là soi sáng đến vô tận. Vắng lặng mà
thường chiếu soi nên thuần tịnh. Dùng lời
chiếu soi hợp với vô ngại; cũng v́ vậy mà
căn nhà trống đủ sức dung chứa, cũng
như Bát Nhă chiếu soi vậy. b) Kế nương pháp
quán làm lộ hiện trí tuệ nghĩa là phải quán tâm.
Trước tiên kinh dẫn phải quán cảnh mà bốn
câu (Kinh Kim Cang) gọi căn nhà trống chính là một
cảnh, tối sáng tự chiếu. Với căn nhà
tối phải dùng ánh sáng để quán, tuy sáng-tối khác
nhau mà cảnh luôn ẩn khuất. Bốn câu kế nêu
rơ pháp để thí dụ như mặt trời hiện.
Bốn câu ứng hợp trí sanh nên cảnh hiện,
cũng như do mặt trời lên mọi vật
được soi sáng. Nếu vẫn c̣n tối là do tâm mê
mờ, như mặt trời lặn mọi vật
đều tối tăm. Cũng như hư không chẳng
sáng chẳng tối, chỉ do mặt trời mà có tối
sáng. Do mê che mờ trí nhưng thật ra theo lư tánh vẫn
thường hằng, cũng đồng nghĩa viên
tức tṛn đầy. Luận tối sáng tuy khác
nhưng tánh nó hằng thanh tịnh, nhưng ngay như
đưa vào thể bất tư ngh́ để chỉ
chỗ viên cực nên nói tối sáng không đồng
điểm tế vi hiển bày tuệ giác Phật như
kinh dẫn giải v.v... Vô minh tuy nhiễm nhưng tánh nó soi
không thiếu một việc ǵ cả. Bởi thế nên
hết thảy chúng sanh có tuệ giác không thể làm phai
mờ mất được. V́ sợ nhầm lẫn nên
cần phải giải thích, cũng chỉ có thể tóm
lược rơ ở mặt văn thể. Sau lấy
thể tánh thí dụ hoàn toàn không một mảy may nào
có thể làm tăng giảm. Thử suy nghĩ việc
đức Phật phóng hào quang, nếu cứ theo việc
mà hiểu cũng chỉ do ta suy nghĩ; c̣n phóng quang hóa
độ từ Phật phát khởi, ư nghĩa gần
giống (nhưng khác nhau). Phần luận ở đây
dựa lư giải thích nên nói như vậy. Thế là không
nghĩ mà suy nghĩ; suy nghĩ nơi vô tướng ; vô duyên mà duyên, duyên nơi pháp tánh ; làm được như
thế là tự đạt được đại
lạc (Niết Bàn an lạc). Nhưng pháp vốn vô
tướng, nghĩ về nó là tướng sanh; tánh
vốn vô duyên duyên vào đó là tánh khởi. Luận suy
như thế làm ǵ! Trường hợp đặc
biệt do nhân duyên không suy nghĩ nhưng thấy hào
quang hiện ra sáu loại làm rung động khiến
chúng nghi ngờ.
Vua Ba Tư
Nặc biết chắc chỉ có Phật quyết
định, nhưng Phật c̣n trong định chưa
chấp thuận được việc đại chúng
thỉnh cầu. Ngay lúc ấy có nhiều thứ âm nhạc
hay trổi lên báo cho chúng biết. Do đó đức
Phật từ trong định dậy bước lên pháp
ṭa rồi sau đó tuyên thuyết phần chánh tông như
kinh nói.
Hỏi: Về cơi vô sắc như:
nếu che khuất ánh sáng hẳn vẫn c̣n sắc, đă
vô sắc lấy ǵ chiếu soi?
- Đáp : Trong tuy không c̣n sắc thô
nhưng có sắc tế, và điều đó cũng
hợp với câu hỏi. Nếu luận hào quang Phật
hữu vô đều chiếu, ấn hào quang xuống
hiện vô tướng soi rọi cơi sắc, vô sắc không
c̣n nghi ngờ nữa. Nhưng với sắc tế chỉ
thiên nhăn thấy được c̣n nhục nhăn nh́n không
thấu suốt. Phần nhận xét đây kể luôn
chỗ thấy không thấu đạt của nhị
thừa, v́ huệ nhăn nhị thừa soi chiếu KHÔNG
cũng không thể thấy suốt, hẳn phải
đạt thiên nhăn mới thấy được. Kinh
cũng nói rằng cơi sắc, vô sắc không phải hàng
Thanh Văn, Duyên Giác phải biết. V́ các pháp đều
nói theo diệu ngôn; luận cơi sắc, cơi vô sắc rơ
thật quả không giống nhau. Hữu và Vô bất
định theo các tông thuyết minh không thể nói một
cách tổng quát được. Phóng quang trí huệ phải
biết là việc chính mà biểu hiện hay thi triển là
có thật. Hào quang vốn do nơi trí, cũng chính từ
trí sau đó phát ra ánh sáng, nên lấy huệ làm gốc.
Hoa nở do cây, nhờ cây nên sau đó mới kết
trái. Lấy đạo làm nhân, lại lấy ánh sáng làm
duyên kết hợp nhau cho thấy, như phần giải
thích cần biết. Ở đây lấy cái phi tưởng
thấy hoa, v́ có tướng nên có tưởng, không dựa
hai điểm khác nhau này phân tích nên cần theo văn
để khảo cứu. Như trên nói rơ đức
giáo chủ hiện thân tướng là ứng thân, nhưng
nói có cảm là có ứng: ư cần suy nghĩ.
Kế nói
về mưa hoa là hiện vô số hoa có biến
đổi hay không; biến đổi là tâm hoa, không
biến đổi là ngoại hoa. Chỉ trời cơi
sắc hay cơi vô sắc dùng định lực nhiều
hơn nên mới biến hóa. Các trời dục giới
không như thế nên không nói biến hóa, xét trên lư là như
vậy. Nói về cơi đất chấn động;
chấn phải làm rung rinh, động là chuyển
động; chấn phải làm đảo lộn,
động phải có nguyên nhân, có cớ, có ư thức; có ít
nhất 6 nhân duyên làm mặt đất chấn
động. Theo kinh Tăng Nhất A Hàm nguyên nhân mặt
đất chấn động có 8 duyên. Sau đây dẫn ư
làm tâm động; những việc như thế không
những chỉ hợp sự mà c̣n phải hợp lư
nữa như thiền gia có câu chuyện phướn
động, gió động. Cũng có sự tích nói thể
đất vốn tịnh; động ắt hẳn có
sự thay đổi bên ngoài. Việc này rất
hợp với câu chuyện trên. Kinh A Hàm nói có 8 duyên
để dạy dừng các duyên, để quy chân là
thường biến hiện. Song dừng biến hiện
chưa chắc trở về chân mà quy chân hẳn dừng
mọi duyên, ngoài ra các việc khác nên biết. Kinh Tăng
Nhứt A Hàm nói trong 8 duyên do tầng thượng hạ
phong luân gây ra; chẳng qua từng phong luân hợp với
bốn đại tạo ra gió, trên dưới chạm vào
nhau đưa tới việc chấn động. Động
hẳn phát ra thành tiếng, tiếng tạo ra sấm,
đó là một thuyết. Câu dẫn trên bị thiếu
mất một chữ, mà kinh A Hàm đề xuất
trước có sự bất nhất giữa đồng và
dị, về ư nghĩa của động để trị
ba món phiền năo: 1) tham 2) si 3) mạn, tái sanh lên cơi
trời. Tiếp theo giải thích rơ hơn. Thánh nhân có
bốn đức: 1) Lấy Phật để dụ
bậc nhất thiết trí là trí vô úy. Nếu nói
người, Phật cũng là người, v́ thế
Phật là người vô thượng trong chúng sanh 2)
Mười tám pháp bất cộng mà Đại Tiểu
Thừa nói khác nhau về pháp tướng, song cùng trong
một pháp bất cộng 3) Như ở đây luận
giải không phân nhị thừa cũng lấy cộng hay
bất cộng bát nhă để nói. 4) Cùng lư cũng nói không
cùng hay như phàm phu nơi trần thế.
Về pháp
thân nói ba loại gồm chung Đại Thừa, Tiểu
Thừa song cũng chỉ một loại mà thôi; ngoài ra các
thân khác như ta thường thấy giải thích, nên
hiểu những ǵ kinh nói để đạt đạo
mà ở đây lược bớt.
Phải
hiểu rằng từ thời thuyết kinh A Hàm về sau,
Phật nói kinh thời gian cộng là 41 năm, tính chung
một năm sau thuyết kinh Nhân Vương này là đúng
vào năm Phật 72 tuổi; cộng 8 năm sau cùng
Phật nói kinh Pháp Hoa, là 50 năm thuyết pháp ṛng ră.
Nếu có thuyết nói khác chính đó thấy có sai lầm.
Ở đây hồ nghi hai việc: 1) Số nghi vấn
tăng có 2 điểm: a) y theo chỗ chỉ người
v.v... b) Nêu danh ca ngợi đức. Vua Nguyệt Quang
tên họ như thế chưa hẳn đúng, v́ nguyên
tên ông là Ba Tư Nặc. Sau khi nhập đạo ông có pháp
danh là Nguyệt Quang, cũng như vua Gia Tấn hiệu
Tổng Tŕ của Thiên Thai v.v... tất cả đều ca
ngợi công đức hàng thập địa vậy.
Việc giải thích phần nhiều theo Thông giáo cũng là
một điều hiển nhiên. Đă nói hành đại pháp
phải lấy Đại Thừa trị quốc, há không
đề cập tới ba phái khác ư ? 2) Tuần tự
hỏi theo trong số người tại gia, nhưng
chỉ nêu 2 người phần nhiều là một pháp
tự, khác nhau là điều tiện lợi. Lại
hỏi ông Tu Bồ Đề một việc gồm những
việc đại chúng chưa sẵn sàng hiểu,
chẳng hạn Như Lai giác ngộ; chữ Ngộ
phải viết như thế này, thế này mới
đúng. Đề nghị nên sửa cách viết, nhưng
Phật vắng lặng mà hằng chiếu soi, đâu có
đợi giác rồi sau mới ngộ chứ? Ở
đây thử nêu điểm đặc thù như thế là
biểu tỏ nghi cách nói vậy. Ở cơi này trỗi
nhạc mà trong mười phương Phật đều
nghe. Cũng giống như một hóa thân có duyên hiện
ở cơi này hoàn toàn không có khoảng cách, đây kia nữa.
Giả sử có Bồ Tát trong 10 phương tập
họp lại để tấu nhạc cũng giống
như vậy. Phật dự biết trước thời
khắc nhân duyên, tức nghĩ biết trước
việc xảy ra mà tùy cơ ứng biến nên nay đă
đúng lúc thuyết kinh Bát Nhă Nhân Vương này. Như
vị lương y chẩn bịnh cho toa hợp ba nghiệp,
thuận ba ṿng (kẻ cho, người nhận và vật
đưa ra) hợp thời đúng lúc. Kinh nói ṭa sư
tử là ṭa ngồi như đă giải thích. Cũng nên
biết rằng sư tử là vua trong loài thú dùng để
thí dụ oai lực Phật vô úy cũng như sư tử
trong loài người. Ngoài ra, cũng ví Phật như núi
chúa Kim Cương mô tả h́nh dạng Ngài oai dũng
bất động như núi chúa vậy. Lại cũng
chứng tỏ pháp thân Phật đủ bốn
đức mà 8 ngọn gió không thể lay động
nổi, vững như núi Tu Di không khác. Hễ dung nghi không
phải cơi Thật báo thân tướng hiện ra rất
đặc dị nên dùng núi chúa thí dụ.
Lấy giáo
trùm lên tông nghĩa lư khác nhau; văn tuy đồng song ư
không giống mà nghĩa hẳn phải chung. Như quả
đất và hư không là hai mô tả cái rất thực
tế, đó là chỗ nương của tịch quang
(vắng lặng soi chiếu) vậy, hay cũng có thể
nói có 6 thông là thăng hư không mà không có thần thông
là ở dưới đất, sự lư đă định như
vậy. (^)
Kinh này
lấy Bát Nhă làm chính nên phần chánh tông thuyết minh
phẩm quán không. Căn cứ phần sau hợp với
phần trước phân làm hai điểm: quán không thế
nào và phân tích nội dung.
Trước
nói về quán không và sau lần lượt phân tích nội
dung. Ư phẩm này thừa trên tiếp dưới làm thông
một mạch không gián đoạn nên tên phẩm danh
thường được giải thích trước, phân
thành bốn điểm: một điểm chung và 3
điểm riêng. Điểm chung y bát nhă vô tướng do
Dụng mà ba phái có khác nên nói như thế nọ thế kia
v.v... Nói vô tướng v́ diệu trí bát nhă chiếu soi
đến tận cùng vô tướng. Đă vô tướng th́
nội ngoại đều vắng lặng; trong vắng
lặng 6 căn , sáu trần bên ngoài cũng
đều vắng lặng. Cảnh bị duyên và
người quán toàn là Không nên có tên Quán Không. Ngoài ra, nh́n
ở khía cạnh phàm phu lấy chủ động
đối với bị động; phàm phu do không
biết, ngoại đạo vọng chấp, nhị
thừa rơi vào chấp Không đều thuộc ba tàng
cần phải phá trừ. Nhưng Bồ Tát dùng chánh
trí quán xét Không chẳng không, năng-sở bổ sung
nghĩa nhau, nên phải dựa nơi trí mới hiểu rơ
vậy. 1) Luận về phàm phu, phàm phu chấp có, nhị
thừa chấp không. Tiểu Thừa thuộc hai bên,
chấp một bên dù không thuộc nhị thừa, nhưng
dựa theo so sánh phẩm vị chỉ riêng thập trụ
c̣n chấp. C̣n đối với hàng Bồ Tát không c̣n
chấp hai bên và giữ trung đạo. Đây thuộc
biệt quán. Nhưng luận về quán phải nêu rơ hai
chữ quán Không. Quán thuộc người, cảnh là duyên
để quán, năng-sở đều không là vô
tướng. Chủ yếu nơi đệ nhứt
nghĩa Không là trung đạo. Quán Không
như vậy làm sao gọi tri kiến Phật chân
thật được? Đoạn dẫn chứng sau
chứng minh ngược lại dùng cái thấy của không
thấy mới là thấy đúng. Nhân đây giải
rộng điểm chung, điểm riêng rơ ràng có 6 phẩm
như văn bên dưới.
Trước
hết mong chư vị hiểu ư, ư nói đây là việc
hộ quốc. Căn cứ lời tán dương trên
chủ yếu chỉ nhắm vào vua Ba Tư Nặc. Ở
đây thỉnh ư nhắm chung đến 16 quốc gia khác
nhau. Vấn đề không phải do nhiều người,
lời thỉnh cầu hẳn có chủ tâm mà Ba Tư
Nặc là nhân vật chính. Phật biết ư thỉnh
vấn không thuộc một người, pháp hỏi
phải đúng như vậy. Nhân thể mở rộng hai
phần hộ quốc, như lời thưa thỉnh
cũng nằm trong 2 phẩm sau nơi các trang kinh v.v... Qua
khỏi thập địa nhân chính là phẩm Ứng Sanh
giáo hóa mà nói phẩm Tán Hoa là không đúng. Các vị quốc
vương dù có ư này cũng là thiện cảm đối
với Phật, nhưng Phật mở rộng hai việc
hộ quốc các vị bị dội lại cũng là
việc tế nhị sâu sắc. Ư này sẽ tŕnh bày sau, vua
mong Phật giải bày hai sự hộ quốc như
thế nào. Câu trả lời Phật dựa ư chung chung tŕnh
bày. Mới đầu Ngài dùng lời thô nhuyễn, khó
dễ nói, vua chỉ biết một mà không biết hai. Phật
biết rơ điều đó. Hai bên phải trải qua
chỗ loại bỏ này. Nhưng đem thế, xuất
thế, chân đế, tục đế để luận
khiến đất nước bất an mà sanh ra kiêu
mạn; không bằng nêu rơ nhân quả xuất thế gian th́
chân-tục đều bao hàm, nhưng vẫn theo nhu cầu
trả lời nhiều ít. Nếu đ̣i ít ban cho nhiều
là đúng cách của thầy tṛ. Như kinh Pháp Hoa dẫn
thí dụ con đ̣i ba thứ xe mà cha ban cho một loại,
đâu chẳng khoái lắm sao! Nhưng dựa theo ư không
tham, không keo kiệt để hiểu ư người
dẫn đạo từ bi; do từ bi mới có khả
năng hướng dẫn. Điều này chỉ có Phật,
do ư tác động, song phân biệt để nói. Nếu
dùng tướng để nói pḥng quả tức pḥng
hộ; tin thực hành Đại Thừa làm ǵ có việc
quốc gia bất an ư? Vua nghe giải thích hai cách pḥng
hộ như thế là lời khuyên nhắc về ba
huệ (văn-tư-tu) tán dương điều thiện
đến chỗ tuyệt mỹ vậy. Nói đại
sự nhân duyên nêu cái đẹp đến cùng như
thế; không phải đặc biệt bát nhă song một
đời đều dùng lời để diễn tả.
Do đó, giải thích đưa ra nhiều nhằm
thuyết minh ở phẩm Tán Hoa sau. Phàm cung cấp sự
kiện phải biểu hiện bằng pháp và đây
cũng là phương pháp giải kinh. Nếu đi
thẳng việc để giải làm sao đầy
đủ chỗ thấy để thực hành nhân
quả. Nghĩa bắt đầu thay đổi nên
lấy sự biểu lộ lư song hành với nhau.
Giải rơ hai việc pḥng hộ chia hai: a) Từ "lúc
bấy giờ..." trở lên lời thưa
thỉnh Phật giải thích hai việc pḥng hộ. Câu
trả lời gồm thế nào là pḥng hộ quả và
hộ nhân, nói chung. Đó là việc độ bốn loài chúng
sanh , nên biết việc pḥng
hộ tuy luận nhân quả nhưng điểm chính là hóa
độ chúng sanh. Dùng Phật quả độ sanh và
lấy hộ nhân độ chúng sanh, chỉ Phật
ngộ bản tánh ĺa cả hai (nhân quả) mới không có
việc pḥng hộ. Nên dựa nhân làm rơ quả, nhắm
thẳng sự tu hành để giải thích. Ví thử
đối với thực hành không chấp lư nên tự sáng
tỏ; văn tóm gọn để nói Bồ Tát đạt
Phật quả như thế, như thế... Nên biết
dựa nhân rơ quả hiện lư, là cảnh được
chuyển hóa. Nếu giải thích hết thảy
đều như huyễn, năm đường đều do huyễn mà ra.
Nếu luận chúng sanh được giáo hóa chính là 9 cơi;
c̣n ở đây căn cứ giới nội nên nói như
thế; 2) Về trí hay giáo hóa, không quán sắc Như v.v...
Có 5 việc nay tóm tắt thành bốn: ngũ ấm , ngă, nhơn, tri kiến là chúng
sanh được giáo hóa. Như kinh lấy bốn
đức: Thường-Lạc-Ngă-Tịnh để
trừ dứt nhân-ngă v́ sợ lầm lạc. Thấy có
hai: nhơn, pháp là người giáo hóa. 3) Phật quả là
giữ ǵn pḥng hộ bốn đức (thường,
lạc...) có thể gồm ư nghĩa thấy pḥng hộ
quả. 4) Nhị đế là chỗ nương hai
việc pḥng hộ, nhưng nói không quán để che
lấp chỗ sai quấy. Như nói bát nhă hay quán để
quán trí, lấy không tuệ làm gốc, lấy không quán
sắc là che Hữu; Không quán như thế là che Không.
Chỉ quán pháp tánh khác không như kinh giải
thích... thấy một bên là không quán vậy. Nếu hoàn
toàn biết pháp tánh, không dính mắc tới ư đoạn
văn đề cập, đó là viên trí th́ chỗ nào
chẳng quán, chỗ nào chẳng nhiếp". Tuy không
đề cập nhưng lư đă có bên trong, nên nói tóm
lại cũng giống hư không, ấy chính là không
của chân không; không chướng ngại hữu của
diệu hữu. Nêu điểm này để tả trạng
thái cái Một đều vô ngă vô tướng, ấy là hàng
Bồ Tát vậy. Tóm lại nên dè dặt pḥng hộ
"nhân" là điểm chính sẽ giải thích trong
phẩm sau. Bây giờ, tóm kết như thế này: nhấn
mạnh việc pḥng hộ quả, không phải ngăn
ngừa nhân, đều nhất quán với đoạn nói
trên. Nếu Như tức sắc là thấy riêng biệt,
không xuất phát từ nghĩa Không đến từ
giả, như bốn đức: Thường-Lạc-Ngă-Tịnh.
Nếu đổi vị trí nhứt thiết "hành"
văn nghĩa thật tiện vô cùng. Song v́ kinh không thể
tự quyết đoán mà phải tùy thuộc lâu dài.
Hiểu năm ấm tạo ra điên đảo hay không
giải thích đúng lư như ở đây. Nhưng nói tùy
phiền năo diệt v.v... đối lại chỗ diệt
năm ấm có trong 9 cơi. Việc diệt tùy phiền năo có cấp độ sâu cạn
khác nhau, nhưng bản chất cũng chỉ có một,
cũng như nước dung chứa được
mọi vật. Tri kiến và người thọ tŕ như
kinh dẫn trên; chúng sanh nhơn, ngă nên cũng liên hệ
tới những câu trước làm cho bị trở
ngại nên phải dùng đối tác giải thích thứ
tự phải rơ ràng minh bạch. Bồ tát hiểu
đơn giản là tịnh danh, tức là thanh tịnh -
đều Như - giống Như đề cập ở
đây không khác. Câu trả lời Phật lờ ư niệm
thọ kư, dùng chân không bác bỏ; nay đă rơ các pháp
đều Như nên dùng diệu hữu để nói. Ngoài
ra, do động, tĩnh đối nhau như ở
phần giải thích đă rơ. Nhưng đoạn
Thường hiển trung đạo chưa phải ở
giữa phải ĺa như kinh A Hàm, nên lấy chỗ
Diệu giải thích chỗ ĺa, tuy gần có thể ĺa mà
vẫn thành xa. Nhưng dùng tịnh danh Hữu cho rằng
không quán sắc, v́ bản chất sắc là Như Như.
Chỉ v́ t́nh chấp chưa rời, cảm thọ chưa
quên, quán pháp chưa thông, lư tánh chưa hiển lộ nên
phải từ bỏ, cũng như phải pḥng hộ
như các phần khác ở trên đă giải thích.
Đoạn
từ:"Bạch Phật rằng:..." trở đi:
nói rộng pháp không quán dẫn tới phần Bồ Tát
phải hộ tŕ Phật quả làm rơ ba nghĩa bát nhă : 1)
dựa vô trụ nêu rơ thật tướng bát nhă. Đầu
tiên chú tâm phần trên để hỏi: nếu tất
cả các pháp đều như trước nói th́ Bồ Tát
hộ tŕ giáo hóa chúng sanh, không có chúng sanh để giáo hóa,
chẳng hóa ra rơi vào lối tà hữu-vô.
Hỏi: Như vậy, phải
chăng đă nói lược ẩn dụ?
- Đáp: Thật cũng khó xác
định rơ, có hai ư như sau:
a) Chân không
giáo hóa b) Tục có giáo hóa, v́ pháp tánh trong ngũ ấm,
tức là Thường-Lạc-Ngă-Tịnh, đều không
trụ trong pháp quán. Kinh cựu dịch phần nhiều
giải ba câu chính, kinh tân dịch đây thêm vào thành bốn
câu. Bốn câu ba pháp quán đều vô trụ không trụ
cũng chẳng trụ, v́ hết thảy đều
Như, tức thể thật tướng trung đạo
là minh, nên lấy thật để nói; giá có chúng sanh
giả thật nhưng tà. Sau nêu rơ tục có giáo hóa
để nói thế tục đế dùng ba pháp giả nên
thấy có cái gọi là chúng sanh. Nhưng thật ra tất
cả pháp tánh đều thật. V́ nhận thật
thấy nên không có một chúng sanh để thấy. Như
thế cho đến chư Phật, thánh hiền cũng
đều thấy, và cũng đều không thấy.
Như thí dụ đă nêu trên thấy có chánh tà. Nói chánh
kiến thấy đúng; tà kiến thấy sai. Nay dùng
giả danh làm danh cho rằng thấy tất cả các pháp
là biết chư Phật, phàm thánh v.v... đều dùng cái
không thấy mà thấy là thấy thật thể các pháp. Đó
là pháp nhị đế tuy khác do giáo hóa nên cần pḥng
hộ quả, ngăn dứt nhân, chưa từng bỏ
một bên. Trong ba pháp giả đây không phải có thật
nhân tạo thành ba pháp, v́ ở đây không nói tiểu giáo
vậy. Song hoặc dẫn giải đoạn về
nhị không để sau lấy tiểu giáo đạt
đại giáo v.v... 2) dựa nghĩa quán chiếu
để chiếu soi bát nhă, nhưng nói có pháp, không nói phi
pháp Đại thừa như trong phần giải thích câu
hỏi... 3) Nay nói có pháp soi sáng cảnh, nói không phi pháp là
để tóm tắt, đúng ra phải nói pháp, phi pháp
đều chẳng phi pháp. Nói pháp là không là có, phi pháp là
không. Chẳng phi pháp cũng là đệ nhất nghĩa
trung đạo rốt ráo không. Dựa theo văn giải
đáp phải hiểu rơ ràng đúng như vậy. V́ phàm
phu chưa rơ không thể thấu đạt, nên nói pháp
Đại thừa làm sao chiếu soi. V́ lẽ đó nên dẫn
đoạn trên để lấy ư mà giải đáp. Ma ha
diễn Trung Hoa dịch là Đại Thừa cũng như bát
nhă nói đây cùng nghĩa mà khác tên vậy.
Phật
trả lời lấy tự tánh bát nhă soi sáng chẳng phi
pháp, tạm có thể quán chiếu chính cái Không vốn
thật không. Nói pháp Không đây chẳng phải không pháp nên
bảo Không không phải phi pháp; đă nói pháp không mà là pháp
tánh không. V́ pháp Không này chẳng soi chiếu mới thành
Không, chẳng tác dụng nên Không. Ngay như bát nhă tánh ĺa vô
tự tánh nên lư vốn Không. V́ thế nên thọ,
tưởng, hành, thức không cho chí mười hai nhân duyên
không đều y theo lư bát nhă vậy.
Sau nêu rơ pháp
Không dẫn theo đại luận có 6 pháp chứng minh. V́
quả báo không, so không tuy một nhưng lại khác. Năm
ấm vốn xoay quanh (quả báo) không; Do v́ các pháp theo
quả báo nên mười hai nhập thọ dụng Không. Do văn,
cảnh thọ dụng tương đối mỗi bên có
khác nên 18 giới mang tánh chất riêng không.
Thậm chí sáu thức chỉ lưu một điểm tinh
minh hợp thành sáu ḥa hợp tánh thành kiến văn giác tri
(thấy-nghe-nhận thức-biết) riêng biệt. Sở
dĩ chỉ một sắc tâm nhưng có ấm (5 ấm),
nhập (12 nhập), giới (18 giới) mở hiệp
không giống nhau, là do bịnh chấp không đồng, cho
nên nói như thế, như thế... Ngoài các điểm
trên bàn nghi vấn do mê lầm, bởi mê nên cần phải
làm cho sáng tỏ. Sáu đại đều dẫn đến
Không. Sở dĩ gọi đại, v́ mỗi thứ có
cùng khắp tất cả nhưng có tướng ẩn,
tướng hiện, tướng diệt; phần này
như kinh Lăng Nghiêm có giải thích rơ. Ngoài ra, cũng
dẫn chứng kinh A Hàm về sáu ông vua tranh luận
(lục thức), v́ năm thức trước (nhăn,
nhỉ, tỉ, thiệt, thân) mỗi thức tự làm
chủ phần ḿnh nên cứ muốn lănh phần hơn.
Nhân duyên nghĩa là vốn không, do ba đời nhân quả
mà có sanh có diệt, nhưng so chân lư cảnh có chung riêng, có
hơn kém v.v...
Sau phân
biệt giải ba nghĩa chữ duyên sanh: v́ sanh diệt
bản chất nó chẳng phải Không. Nay lấy
điểm nhanh gấp của không không dừng nghỉ làm
rơ nghĩa Không là không. V́ muốn làm sáng tỏ nghĩa Không
nên nói tức có tức không v.v... Nói tóm lại các pháp
hữu đều quy về nghĩa Không, có khác đôi chút
với phần chú giải. Các phái Tiểu Thừa luận
dẫn chứng minh pháp sanh diệt trước sau phần
giống điểm khác mỗi mỗi đều phân minh.
Song tất cả không khỏi có sự nhầm lẫn.
Ngọn lửa lan nhanh khí thế dữ dội; đúng ra
phải gọi lửa quá nhanh lan tràn cháy trong tích tắc
mănh liệt; nhanh đến độ không theo kịp
để thí dụ, nghĩa Không cũng thế. Bên trên dùng
các pháp để chỉ rơ nên biết các pháp liền sanh
liền diệt. Kế dùng tâm chứng minh gọi sát na hay
tích tắc; nhưng ư lại khó hiểu nên phải
giải thích như trong một niệm có 90 sát na. Luận
một sát na là thời gian rất ngắn mà phải
trải qua 900 lần sanh diệt; giả sử lấy t́nh
đo lường phân biệt hoàn toàn không thể giải
được nên phải dùng ư niệm bất tư ngh́
(không thể nghĩ bàn) để mới có thể lănh
hội. Như Viên giáo - Đốn giáo chỉ rơ ràng cho rằng
một niệm quán khắp vô lượng kiếp th́ 900 lần sanh diệt
thật chẳng đủ vào đâu, nên phải dùng lư
hiểu, khó có thể dùng lời tả hết
được.
Sau giải
thích 90 sát na nh́n chung theo hai khía cạnh: phàm và không. Nếu
tính từ một tới nhiều th́ một niệm bao hàm
90 sát na, một sát na có 900 lần sanh diệt. Chín
mươi sát na phải là ngàn lần sanh diệt. Muốn
xác định thật không thể được, v́ tâm
vốn Không. Nhưng nếu tính từ nhiều tới ít
sanh diệt không hiện ở sát na; sát na không hiện
nơi nhứt niệm. Trong niệm muốn xác định
thật cũng không thể được, v́ chính
niệm ấy là Không. Cho nên nói rằng tâm-pháp như
bất khả đắc, đây là tâm Không. Tâm-pháp không
rơi vào không đó là ai. Và đem tứ đại phân tích
phải h́nh thành bởi các căn. Đem chia chẻ tứ
đại đến điểm cực nhỏ phân
phân cũng bất khả đắc; như thế phân tích
đến lân hư (vi trần lượng tử) là phân
tích đúng, không như lối phân tích của ngoại
đạo. Sắc diệt tâm không hẳn nhiên vô trụ có
thể đạt đến vậy. Nhưng do dừng
ở sanh diệt là duy tŕ tam tạng Phật quả,
nhưng mong đạt vô sanh, vô lượng, vô tác là xa
vời không thực tế. Cớ sao người
đời nay muốn đem cái tâm thô thiển luận bàn
chỗ uyên thâm của Phật Pháp? Ta chưa thấy
khả năng con người phản ảnh nhưng
chỉ thấy sắc - không; suy bàn rộng lời
dạy tuy lược mà lư lại đạt. Như Thông
giáo cho rằng Thể Không nên không nói khác được.
Riêng giải rơ tâm-sắc có một có khác, do tâm hay tạo
tác v́ thế nên không khác; pháp được tạo tác nên
không phải một. Ngoài ra do quyền giáo nên không
một, thật lư nên không khác. Đây chính là tôn chỉ của
Biệt giáo. Nhưng sắc-tâm luôn tṛn sáng, bản lai
(bộ mặt thật) luôn vắng lặng. Khéo bàn ư
đầy đủ bên trong. V́ duy tŕ Phật quả
Phật quả được thành tựu; muốn dùng trí
bát nhă (trí tuệ), bát nhă sáng soi, muốn hóa độ chúng
sanh chúng sanh được độ. Không những chỉ
Bồ Tát hộ tŕ mà chư Phật cũng trợ lực
hộ tŕ. Tại sao thế? V́ theo lư tất cả
điểm đề cập đều giống nhau,
nếu không như thế th́ tổn thương
đến huệ mạng làm mất pháp thân giả hữu
làm sao giữ được cái vô úy? Kinh cũng dùng tâm nêu
sắc để trở lại được soi sáng, cho
nên biết sắc cũng vậy.
Sau dùng trí
bát nhă soi sáng thành hai pháp quán chiếu để chỉ rơ
trung đạo không. V́ bát nhă Không nên vô tướng, v́ vô
tướng nên chiếu soi; chỗ được
chiếu soi hoàn toàn vắng lặng. Kinh Đại Phẩm
gọi đó là Ba nhược cũng là Bát nhă nói lệch
đi. Song bát nhă phải hiểu rơ không có một pháp
nhỏ nào có thể đắc cả. V́ thế, không các
duyên các pháp đều Không gọi là Không kiến, nhưng
không phải không thấy. Không thấy v́ câu thiếu
một chữ chỉ cái vô tướng, ấy là chân
thật bát nhă, tức chứng đạt địa
trụ. Như trên nói vô lượng pháp môn của Thông giáo
- Biệt giáo để đạt chánh đẳng
tương tợ trí bát nhă cho chí các pháp Không cũng hoàn toàn
không. Nói gọn gồm 12 pháp như đề cập ở
đây hoặc 18 pháp Không như Đại Luận giải
thích v.v... Nhưng lấy Không phá Hữu, Hữu thành Không;
Hữu tái lập lại được bất cứ ǵ
nhưng vẫn là thế tục. V́ pháp hiệp nên có; v́ có
pháp nên có hợp tan. Tan là Không, là chân; hiệp là có, là
tục. Tập (chứa nhóm) cũng là hiệp cả hai
chân-tục luận mỗi pháp một bên. Một bên là hai
bên nhưng không phải trung đạo. Cả hai
đều sáng là viên (tṛn đầy). Tṛn đầy là trung
(ở giữa) là diệu. Mượn ba pháp đối
chiếu để giải thích cần phải biết.
Kế nêu rơ được và mất. Kinh Kim Cang Bát Nhă cho
rằng nếu thấy có pháp đạt được là
c̣n bị vướng chấp tướng: ngă, nhơn,
chúng sanh, thọ giả đều vướng chấp
thấy. Thấy tạm bợ như thế chưa
dứt vẫn có pháp chứ không phải không pháp nên không
thể khai nhăn được. Vướng chấp hợp
với mắt; nếu không cái thấy hữu vi ở
đây đều đúng. V́ không khác thế gian nên chỗ
thấy như phàm nhơn không phải do chánh quán. Cùng phàm
phu mà Phật xuất thế gian hiểu rơ tướng
thế gian hiển nhiên có khác. Tuy nhiên nếu thấy pháp
thế gian không hiệp không tan ấy là thánh pháp; c̣n
cảnh giới phàm chưa từng khác cũng chưa
từng không khác, thế nên chấp chỗ tu chứng
thế nào được.
Phần sau
luận về các pháp, nêu tôn chỉ rơ pháp quán, nhận xét
rằng sắc tức không; lư cùng biến nên bất
động. Pháp ấy b́nh đẳng không hai không khác nên
không thể đạt được.
V́ không sanh
nên cũng không diệt; vô tướng cũng không vô
tướng nên các pháp đều Như. Những phần
luận khác như kinh giải thích là sơ địa. Rơ
ràng tâm có đầy đủ 84,000 sát na trong mỗi
niệm, chỉ một việc thật lư đồng
nhất nầy nên dịch lầm là trí. V́ thế, phá
tục ngoài kinh trong nhứt tâm phải hiểu là tất
cả pháp. V́ nơi mỗi địa cũng có đủ
công đức các địa khác như ở phần
giải nêu rơ. Do nghĩa chuyển tải, diệt chính là
nghĩa năng đoạn như kinh Kim Cang song tùy theo
nghĩa gọi tên; tên tuy khác nhưng lư đồng. Dựa
theo danh tự, ư nghĩa văn để biểu hiện
công đức bát nhă sâu rộng không thể nghĩ bàn. Kinh
trước tŕnh bày lời Phật dạy, sau nêu rơ công
đức rộng lớn. Trước nói về kinh
văn là giáo pháp chư Phật dạy không hiện ra
nơi ba phần: danh tự, ư nghĩa và câu văn hay
cũng gọi là danh thân, cú thân, văn thân, chính là ba
đoạn, bao hàm thanh lẫn sắc chung làm một
hợp thành giáo thể, như kinh dẫn dụng giải
thích v.v... Đây là điểm tựa của văn tự bát
nhă. Văn tự gồm đủ hai phần: tài và pháp thí;
dùng thất bảo bố thí là tài thí; khiến
đạt được bốn quả (59) là pháp thí. Không
giống như kinh đây nói khởi một niệm tin là
hơn cả việc bố thí pháp nữa. Lấy niềm
tin để hiểu phải hiểu sâu mới tin mà qua
nhiều lần so sánh để biết được.
Sau luận
câu không phải câu văn mà chính là làm rơ văn tự bát nhă
cũng như tin hiểu các pháp. Cho rằng câu không phải
câu là dựa theo nghĩa đối câu như văn dẫn
trên. Tuy chứa đựng bốn câu nằm trong ư nghĩa
của ba đế hợp với nghĩa bát nhă, song
hết thảy đều không. Như vậy, ba câu cũng
tức là một câu; một câu cũng tức là ba câu hay
cũng chẳng ba, cũng không phải một mà vi diệu
sâu xa không thể nghĩ bàn. Nhưng câu cũng có thể
hiểu là văn; không có câu văn tự bất thành.
Cũng có thể văn tự hội đủ ba
đế đều mất ư nghĩa, do ĺa tánh. Chỉ có
ĺa tánh là giải thoát, giải thoát là bát nhă, và cũng chính
là văn tự bát nhă này. V́ vậy luận Chỉ quán nói
rằng đạt văn chẳng phải văn; văn chẳng
phải không văn, ư này ứng hợp nhau vậy.
Nhưng bát nhă không phải câu mà làm rơ nghĩa câu là Không.
Chỉ bát nhă luận Câu hay Không Câu là dựa theo tánh ĺa
thể. Nếu nội ngoại, tự tha ĺa hết
mỗi mỗi muốn đạt đến
đều bất khả đắc; chỗ bất
khả đắc ấy mới chân thật bát nhă ở
ngay bên trong. V́ thế nói rằng bát nhă chẳng phải câu,
câu chẳng phải bát nhă, đều ĺa tánh và hoàn toàn
bất khả đắc. Ngoài ra, cũng nói bát nhă chẳng
phải Bồ Tát để chỉ rơ nhơn-pháp
đều không. V́ bát nhă là pháp mà Bồ Tát là nguời hành
pháp bát nhă. Pháp thực hành Không nên người hành
cũng không. V́ thế, trong bát nhă Bồ Tát bất khả
đắc, đây nói rơ nhơn không; y cứ theo lư chân nêu rơ
pháp Không. Hồ nghi câu như trên có nhiều nên lược
bớt. Luận rơ nhơn không, văn tóm lược không thể
có sự lầm lẫn được. Ở đây bàn
chính là làm rơ ư nghĩa thực hành bát nhă, v́ thế nói Bồ
Tát cũng Không mà lược bớt vậy. Song cái KHÔNG
tồn tại đó, không phải Hữu, nên rơ như
thế.
Tại sao
thế? Theo giải thích trên chẳng phải nghĩa
Bồ Tát nên ở Thập địa có 13 lần sanh
đều cho rằng bất khả đắc,
đâu chẳng nói đúng nhơn không ư? Ai nói trái
lại là tà không phải tát bà nhă cũng không phải Đại
thừa. Cái Không đây lấy nhơn nêu pháp cho thấy rơ
nhân quả đều không. V́ tát bà nhă là quả, ma ha
diễn (đại thừa) là cổ xe, thừa (cổ xe)
đồng thời cũng là nhân. Nhân quả đều
không là nghĩa pháp không; há chẳng đúng lấy nhơn
không nêu rơ pháp không ư?
"Nếu
thấy cảnh..." dùng phần này giải thích y lời
dạy tu pháp quán, quán xét có tà chánh v.v...Tuy nghĩa không
phải Không dùng điệp văn giải thích cho lời
nói thêm mạnh mà cách đơn giản phải hiểu
ngược lại. Nếu cho rằng thật có cảnh
có thể thấy lại rơi vào vọng tưởng không
phải chỗ thấy sâu bậc thánh. Thế nên
đơn giản giải thích rằng thấy Hữu ba
cơi, nhưng lấy chỗ thấy cảnh v.v. đối
chiếu ba loại bát nhă. V́ nơi cảnh-trí nói có thọ,
tuy Không chẳng phải bát nhă, nếu lấy kiến
chấp cố giữ đó đều là vọng
tưởng. Đó chính là quả báo của chúng sanh như kinh
nói rơ. Sau nói về sáu thức. Do v́ chấp tướng
thấy có nên khởi vô minh phiền năo thành nghiệp
quả trong ba cơi. Trong kinh phần nhiều có 3 chữ: ba
cơi Không, trong căn bản vô minh đối với
nghiệp quả trước tạo thành ba
đường, cùng với vô minh tập khí c̣n thừa sót
cũng h́nh thành ba cơi như thế. Nhưng mỗi cơi
đều hàm chứa nghĩa Không, chứa có nghĩa là
tích tập, lấy Không nói để giải thoát, nơi ba
cơi đều mắc ṿng chấp thủ, nên chấp ba
đức Không chẳng phải bát nhă; do đó hết
thảy đều không. Ngài Tịnh Danh nói: trừ bịnh
không trừ pháp, ở đây nên lấy câu nói đó mà suy
nghiệm. Ba cơi 9 loài sanh diệt trong phần giải thích
có hai là phàm-thánh. Trước làm rơ điểm hơn là Kim
Cang tạng dẫn lối dắt người chứng pháp
Không và cũng cho biết rơ không cả nguyên nhân. Như Kinh
Hoa Nghiêm phần sau nêu tâm kim cương dùng lư vi tế,
nhập vào cửa huyền môn. Đảo ngược chữ
tàng (chứa nhóm, tàng trử) nhưng bỏ mất trật
tự lớp lang đối chiếu với kinh. Phật
thấu đạt ba pháp vô vi chỉ rơ quả cực cao
đạt pháp Không. Ba pháp vô vi không có trong hệ Tiểu
Thừa là hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi
trạch diệt vô vi. Nay dùng lời thật để
giải thích: hư không như nói vô sắc mà vẫn
hiện hữu. Luận Khởi Tín nói đó là hư không
đổi lại sắc hữu có thể thấy
tướng; không sắc mà hiện thấy cũng là Không.
Nếu có tu tập như nghe thuyết pháp như không nghe
để quy về bát nhă, thấy hết thảy pháp
đều Như. Sau nói về tu tập giữ ǵn Phật
quả như đă xác minh. Đó chính là duy tŕ Phật quả
và cũng là hộ tŕ tát bà nhă; hết thảy quả
đức mười lực v.v... là như thế. Đây nói
rơ hai điểm thời gian và số chúng được
lợi ích như đă giải thích. (^)
Việc giáo hóa lấy lợi tha làm căn bản. Nếu chẳng lợi người, vật lấy ǵ gọi là giáo hóa? Để giáo hóa người phải tự giáo hóa ḿnh trước. Nếu không tự chế chuyên tu lấy ǵ để giáo hóa? Cho nên trước nói rơ việc quán Không, nay trở thành pháp để tự thực hành. Đây nói rơ việc giáo hóa làm lợi tha cho đời sau. Phẩm này chính là để giải đáp phần Nội hộ hỏi ở trước, đem ḿnh và người ra để nói. Không phân biệt mà phân biệt, tức là hành lợi tha, trước hết giải thích phẩm danh có 3 mục :
a)
Nói về giáo hóa; giáo là dạy bảo chỉ cho chúng sanh xa
ĺa hết thảy mọi điều ác; hóa là hoán chuyển
căn cơ tu theo thiện pháp. Phật giáo hóa chúng sanh
bằng pháp thiện ác tương đối này để
đạt thành Bồ Tát. Đây là Thánh phàm tương
đối. Ngoài ra, Phật cũng dùng pháp này giáo hóa các
vị quốc vương làm cho họ hiểu trí tuệ
(tuệ giác). Đây là chân-tục tương đối. Phàm
nêu rơ việc giáo hóa là làm thay đổi có ba nghĩa như
kinh dẫn rơ v.v... song phẩm này phần chính tuy nói về
Nội hộ mà đề cập tới giáo hóa các vị quốc
vương, là đă bao hàm phần Ngoại hộ. Tuy
dựa tục-đế làm cho ta hiểu tuệ giác
để đạt pháp Không, nhưng trên thực tế có
cả chân-đế ở trong. Ở đây lư giải thích
chỉ một mà nghĩa quán thông rơ sự vậy.
b)
Thuận duyên giải: "Bạch Phật rằng..."
lại chia hai ư : trước nêu hỏi, nói rằng ủng
hộ thập địa hành Bồ Tát, đây phải bao
trùm hai lớp năng sở; có nghĩa một, lấy bát
nhă làm năng hộ và hai lấy các pháp làm sở hộ. Sau
lấy việc tu thập địa làm sở hộ,
Bồ Tát làm năng hộ. Ủng hộ duy tŕ những ǵ
đáng ủng hộ, là ủng hộ cái không rơi vào tà
kiến. Đây là điểm đáng nói vậy. Tại sao nói
làm những ǵ có thể làm rồi đặt thành 3 nghi
vấn: cho rằng Bồ Tát hạnh thực hành thật
thông suốt. Trong chỗ thực hành đó làm thế nào
hành cái có thể thực hành; và trong chỗ thực hành có
tự có tha, là hai việc nương theo phẩm vị nào
để thực hành và hóa độ chúng sanh? Luận
về thấy chúng sanh có chấp có ĺa, nay lấy
tướng nào thấy chúng sanh kham chịu giáo hóa? Căn
cứ theo phần luận đáp sau về năm pháp
nhẫn Bồ Tát thực hành mà
thập địa là phẩm vị tu tập. Tự và tha
(ḿnh và người) đều là tướng huyễn mà
Bồ Tát hiểu rơ như thế. Nhưng kinh cũng
luận lại tự và tha để nêu rơ mục tiêu, không
phân biệt mà phân biệt tức hành hạnh lợi tha.
c) Câu: Phật dạy... phần trả lời 2 điểm lấy năm pháp nhẫn trả lời câu hỏi trước. V́ phục nhẫn v.v... là một trong năm pháp nhẫn của Bồ Tát, dựa phẩm vị trước sau mỗi pháp có phân ba phẩm; mỗi phẩm có tăng, nhưng vị trí bất định hợp thành pháp Không, dựa theo lư chân, nên gọi chung là nhẫn. Đó là chỗ nương theo tu tập của Bồ Tát tức hành cái có thể hành như trong phần giải thích. Giải thích dùng năm nhẫn cùng với sáu loại chủng tánh để đoạn dứt mê lầm; văn từ có thay đổi có thể không được rơ nét, nên trước phải đưa ra điểm khác rồi sau mới hợp chung lại. Sở dĩ nói tướng khác v́ căn cứ theo thông thường để giải thích, Sơ địa của Biệt giáo chứng nhập như Viên giáo, đă phá trừ được vô minh, có thể phân thân làm Phật ở hàng trăm cơi khác nhau, nhưng kinh này chỉ nêu thập địa rồi phân thành bốn nhẫn, đó là trước ba, sau một; đối với thập địa trước hai nhẫn: tín, thuận; sau ba nhẫn mới phá trừ được vô minh. Nếu như vậy cũng giống sơ địa chứng nhập như Viên-Biệt giáo không khác. Nhưng chỗ đoạn mê lầm của hai pháp nhẫn tín-thuận có khác, chỉ đoạn sắc tâm thô, phiền năo dày ở ba cơi. Đây là hai điểm khác với thông thường. Việc này cần phải biết phân biệt hai đường dựa theo việc tu chứng để luận hướng tới như Viên giáo vậy. Nay theo lời dạy làm chuẩn, không dựa theo phẩm hơn của thập địa nên chỗ đoạn mê lầm có phần khá hơn. Điều đó phải hợp ư nghĩa thành lập; vô sanh nhẫn phân thành 3 phẩm: thượng-trung-hạ, như kinh này dẫn giải. V́ căn tánh chúng sanh có lợi, có độn không giống nhau. Người lanh lợi ở ba phẩm đầu đă phá được vô minh, rồi ba phẩm sau mới trừ hết chúng dù đă dựa phẩm đầu để phá, nhưng không theo như Viên giáo. Người độn căn chưa đoạn dứt vô minh ở tín - thuận nhẫn nên c̣n chịu ảnh hưởng hổ tương. Đạt đến ba nhẫn sau dứt vô minh mới định vị được, do căn tánh thấp kém phải tiếp cận mới xác định được phẩm vị vậy. Nhưng chỗ phá trừ phiền năo (mê lầm) tuy phân sắc-tâm khác nhau chỗ thô tế như đối với kẻ lợi căn là vô minh, người độn căn là kiến-tư hoặc (mê lầm), chưa chắc chắn huống là c̣n pháp tất đàn chi phối. Trước hết pháp vô định nêu có đường hướng, mỗi pháp dùng danh tướng đều bị sai lầm. Bậc hữu học có chí phải tận tâm, nếu quả thật đặt họ ở chỗ Không như vậy. Kinh nói phát tướng tin hiểu đồng nghĩa với tin thọ, tức phát tín tâm trước nhất. Kinh cũng gọi đó là tưởng, bởi v́ đúng lư là tưởng. Dựa lư khởi xướng cũng trong ư nghĩa đó, do vậy ở đây phân biệt Viên-Biệt khác nhau. Phục nhẫn ở đầu thập trụ dựa theo phẩm vị so sánh; nói theo nhị thừa nhưng cao hơn trí hiểu biết có thể chế phục vô minh. Giải thích cũng dựa tín Viên-giáo để giải, nhưng sợ chấp như trừ bốn trụ chấp ở đây văn giống nhau. Nhưng v́ vô minh lầm lạc, nên nói đoạn tức đoạn mê lầm. Nghĩa đă thông suốt th́ tiến thoái không lầm để tiếp tục trưởng dưỡng hạt giống Thánh. Dung hợp điểm này hoặc lư luận xuất thánh thai hợp phần đúng, hoặc riêng biệt. Giải điểm hồ nghi phần nhiều chú ư tới một vài từ, cuối cùng cũng đề cập xuất thánh thai. Khởi đi từ Càn Huệ địa chưa có lư sâu nhưng gốc phải là Văn Huệ nên nói Càn Huệ. Nay dùng tu huệ sợ lầm như trên, nên khởi đi từ Càn Huệ địa, nhưng thật ra đúng phải nói ở Phục Nhẫn. Giải thích đúng nên chỉ giải tên khác nhau giữa mỗi phẩm vị mà thôi. Nghi vấn phần nhiều chỉ một câu, dù một ngàn từ không đúng kinh vẫn phủ nhận chỗ vô dụng đó; cũng như lấy 10 tâm nói chung ư vậy. V́ thế lấy bốn ư dứt bốn niệm xứ, nơi thân tâm thọ pháp khiến không khởi điên đảo. Dứt ba nghiệp phát ra thiện căn làm cho ba độc (tham-sân-si) lắng yên. Dừng ba nghiệp phát ba nhẫn làm dứt ư niệm nhân quả ba đời. Lại nêu rơ thập hồi hướng là phẩm vị đạo chủng tánh cũng do tu phục nhẫn tiến đến b́nh đẳng, cùng với thánh đạo sơ địa làm nhân, đều nhắm trước trông sau c̣n có 10 nhẫn để tu quán nhẫn thứ tự cần phải biết. Trước quán sắc ấm do giới nhẫn, có nghĩa tạo tác hay không, gốc giới, sắc ấm vẫn bao hàm chung. Quán sắc ấm phát sinh giới nhẫn, nhưng không nói sắc bao hàm nguyên nhân. Phần nầy có luận riêng. Quán như thế mà biết phẩm nhẫn như đă giải thích. Cũng như do tưởng nghĩ trong định mà đạt huệ tức hành pháp Không, giải thoát. Thức tâm vương nhưng có thể thọ nhận trước sau không nhất định. Quán sát nhân quả ba đời Không nên đạt pháp Không nơi ba pháp nhẫn như đă biết. Quán chung nhị đế (chân đế-tục đế) hiểu rơ pháp vô thường là vô thường nhẫn, đạt đến vạn pháp không là vô sanh nhẫn. Nhưng thập hồi hướng do vậy là đạo chủng tánh, tuy chưa đạt vô sanh vẫn nhập nơi bất sanh; song pháp nhẫn vẫn theo một chiều hướng. Tách riêng mỗi pháp để bàn như quán vô thường trụ ở vô thường; quán vô sanh trụ nơi vô sanh. Trước quán pháp định Bồ Tát do 10 tâm kiên cố mà không đến từ 10 nhẫn thành đức nhẫn như đă nói. Ngoài ra, cũng bàn về tín nhẫn mà tiêu biểu là hạnh nhẫn, lấy ba tín chứng minh. Đó là ba pháp chứng tín chứng thật phẩm vị ở sơ địa. V́ thế nêu rơ trong pháp hành theo từng phẩm vị mà trước nhất ba vị đầu trong thập địa, và sau với các địa c̣n lại như kinh nêu rơ. Nói trong pháp hành là cách nhẫn trong thực hành để dứt trừ phiền năo ba cơi, như trước tam hiền dứt sạch phiền năo thô; không giống như sơ địa chỉ mới dứt được một phần. Nếu theo chỗ tu chứng viên măn đều giống nhau, là cùng dứt căn bản vô minh ngoại (ngoại giới) như đă rơ. Nhưng ở đây nói tâm phiền năo như trên gọi sắc v.v... nên dựa sắc-tâm để nói. Nay nói sắc-tâm đều chỉ tâm nên phải luận chung về tâm.
Đoạn
sau đề cập phiền năo tập nhiễm, nói
tập là do vô minh sai sử, cho chí sau khi vô minh diệt
mới phân biệt rơ tập nhiễm. Nói mỗi phiền
năo đương nhiên phải nêu thói quen cố hữu
thật cũng khó dứt, như phần luận riêng. Trong
việc nhiếp hóa Phật một thân hay nhiều thân;
như hóa thân khác thân hiện hữu; nhưng theo thông
thường chỉ sự phân thân của Phật ở
trăm ngh́n cơi khác nhau. Đă phân thân do nhiều thân từ
một thân; một phân thân thành nhiều thân, song chỉ khác
nhau ở chỗ cạn sâu mà thôi. Suy gốc từ ngọn
một thân hiện vô số thân; suy ngọn từ gốc
nhiều thân từ một thân cũng do lời nói nên có
khác. Như một thân đă Không th́ nhiều thân cũng
không; chẳng một cũng chẳng nhiều mà ở
giữa. Nếu dùng 15 tâm phân tích đến cùng hết
thảy căn bản hành Bồ Tát do bốn pháp để
nhiếp hóa. Mười lăm tâm khởi
từ đây là đầu mối khởi sanh các pháp hành nên
gọi chúng là chủng tử (hạt mầm). Nói
đoạn dứt tâm ba cơi là dứt phiền năo trói
buộc trước sau, ư nghĩa có hai mặt: sắc tâm
nên chỗ đồng chỗ dị khác nhau như
trước đă luận. Sắc-tâm chưa nhóm phiền
năo không phải mê lầm thô nên đều cần phải
đoạn. Phần nầy do phẩm vị cao mà
phiền năo chi li vi tế, không thể phân sắc tâm
cũng không phân được đúng chỗ nào nhiễm,
nên không biết nhiễm nào để đoạn trừ.
Nhưng nếu sau tâm đẳng giác hướng
đến sự tu tiến cũng đoạn
được vi tế hoặc c̣n vô minh để đoạn
dứt, nhưng sau đó nói đoạn cả hai chính là
dứt trừ mê lầm không hàm nghĩa Hữu đề
cập ở đây. Trước nói nghĩa Không nên
biết rằng từ bậc Thánh hiền lên
đến chư Phật trọn không thể lấy
lư luận suy được. Phần 5 nói rơ tịch
diệt nhẫn, phải xem bốn pháp nhẫn
trước có khác nhau ở điểm có cùng hay vô tận.
Phần 4 nói rơ nhân địa tuy dứt nhưng chưa
sạch tới cùng hoặc nói đúng hoặc c̣n thói
nhiễm mà chỉ Phật mới hoàn toàn dứt sạch;
sợ có sự lẫn lộn như đoạn nầy,
dùng nghĩa tịch diệt làm tâm; sắc, tưởng,
tập đều trừ, là do năng (tác động) -
sở (bị động) đối đăi nhau nên với
danh tướng chưa thể bỏ được.
Nếu luận nhẫn đến cùng, đến vô sanh
cũng như vô diệt không có tâm nào mà chẳng tịnh,
không tưởng nào chẳng diệt. Không diệt chỗ
diệt là chân tánh tịch diệt (vắng lặng). Chư
Phật, Bồ Tát chỗ chứng đắc giống nhau.
Nên nói cũng giống chỗ dụng công của Nhẫn
nhập vào định Kim Cang dựa theo pháp tu đạt
để hiểu ư nghĩa, rằng dụng công thâm
hậu không c̣n pháp nào riêng khác để chứng. Dù không
theo lớp lang nhưng vẫn phân thứ tự nhân quả
mà điểm khác nhau là chỗ phân cực. Cho nên có ư
rằng hành trong nhẫn, do dựa theo nhẫn phân chia
thứ tự nhân là Bồ Tát, quả là Tát Bà Nhă; cùng
quán đệ nhất nghĩa đế (vô tướng
phân biệt) nói có tướng là do vọng nhưng nói Kim
Cang là tâm. Tướng, vô tướng gồm phần sau
để nói quả cao tột là Tát Bà Nhă. Thậm chí
vượt lên cả nhị đế lấy quả
Đẳng giác so sánh Diệu Giác địa mười
một là Tát Vân Nhă, dịch là nhứt thiết trí, chính là
quả Đẳng giác. Giác chẳng hữu chẳng vô,
phải là quả Diệu Giác-Tát Bà Nhă. Theo giải thích
dịch nhứt thiết chủng trí như đă có ở
quyển trung. Đầu tiên hai chữ "Nhă" nêu trên
cũng làm phân vân không ít người, nên cựu dịch
đơn giản phần giống điểm khác và
dịch đảo ngược. Theo đó suy th́ Tát Vân Nhă
chưa đạt đích nên dựa theo thể để
nói; c̣n Tát Bà Nhă là quả vị tối cao dựa theo
dụng mà nói. V́ thế nói Tát Bà Nhă như cổ xe chuyên
chở giáo hóa ba cơi vậy. Như thế phần giải
thích có hai điểm dị đồng đương
nhiên cần phải biết. Do đó ở đây nêu cả
hai để bàn và theo như giải thích trên đều
dung hợp cũng như nói bất định. Kim Cang thí
dụ cho định dẫn theo lối cựu dịch có
hai ư: lời giải tuy không phủ bác; song nói hai loại
Kim Cang không giống như thí dụ của Đại kinh, có
thể ví kinh Kim Cang này là định, hay phá phiền năo
nhưng tự thể không hư hoại như đă
chứng minh. Như Đại Luận nói: đem lông rùa
sừng thỏ có thể nghiền vụn so với vật
đồng loại cảm nhau như đá quí kim
cương. Điểm chính phát xuất từ Đại
Luận, ở đây nói Đại kinh sợ lầm lẫn
nên nói không phá diệt âm thanh là vậy. Kinh Lăng Già ví
như vàng, vật bằng vàng rắn chắc không ǵ phá
hoại được như ở đây có thể
chứng minh hai nghĩa khác nhau. Xưa nay phần nhiều
không luận điểm đó, nên phải nêu ra cho rơ.
Nhưng trong lúc tu hạnh nhẫn phải theo thứ
tự có ba điểm: a) thứ tự dưới trên b)
tuân theo nhân quả c) nhập phẩm vị phải có
trước sau.
Tát Bà Nhă như trên dịch là nhứt thiết chủng trí; ở đây dịch là nhứt thiết trí; hai cách dịch này sẽ lẫn lộn với nhau. Quả Đẳng giác hoặc hữu hoặc vô, nay Bát Nhă chỉ chung nên không như Biệt giáo. Dẫn chứng hai câu chứng minh song chẳng nói tới Đẳng giác. Tâm tập nhiễm vô minh hoàn toàn vô tướng để bàn tới chỗ rốt ráo cùng cực, nên hành giả phải gia tâm nỗ lực hiểu, song trí để bàn tuy có thể rơ tướng nhưng chưa đạt được vô tướng do trí hữu hạn. Trí không tự đánh mất Bát Nhă không tự chiếu soi được. Ngoài việc thấy tướng như ở đây phải biết rơ chỗ rốt ráo của tướng mới gọi là Tát Bà Nhă. Nếu gọi Tát Vân Nhă do trí chưa đủ đạt đến chỗ cao tột; đạt đến cùng đích th́ tướng, vô tướng đều dứt sạch. Do đó vượt qua khỏi nhị đế c̣n cảnh nào hiện hữu? Giác chẳng c̣n hữu vô mà xuất phát nơi trí. Do vậy đến chỗ tận cùng của pháp tánh cũng chỉ là giả danh; hẳn từ đó khởi sanh không có hữu vô; không kia đây nên năng sở đều dứt, muốn không sáng cũng không thể được liệu vô minh c̣n sao? Đạt đến đây là ngộ được tướng ngă, nhưng chính nó hoàn toàn vô tướng, khi dứt sạch vô minh mới hoàn toàn vô tướng. Cũng có thể nói vô minh chưa dứt chưa thấy được vô tướng. Nếu giải thích như vậy cũng chưa được thoả đáng, v́ ở đây nói diệt hết hay không hết tướng. Tạm hay ở một nhưng không hay ở hai, nhưng làm cho cả hai không hay th́ cái một cũng chưa hoàn toàn. Có thể dùng lư hiểu khó nên phải dùng lời mới diễn đạt hết mà địa mười một Tát Vân Nhă phải là quả vị Đẳng giác; lư nói Hữu chưa dứt nên phải giải thích trước. Như nói Hữu nhằm ám chỉ quả vị Đẳng giác, sợ lầm lẫn với trên, nên đoạn sau giải thích chỗ lầm đó. Hai ư trước đều nói chữ "Nhă" - Tát Bà Nhă đương nhiên phải là quả Diệu giác; đạt đến chỗ cao tột là đạt Tát Vân Nhă cũng như mặt trời chiếu sáng, nên biết Tát Bà Nhă biểu lộ sự nghĩ ngợi quy về nhứt như. Lấy đây giáo hóa như cổ xe để hóa độ ba cơi; như xe vua cũng là cỗ xe chuyên chở. Tin những điểm sâu xa kinh nêu rơ như ở đây mới có thể đo lường được các địa...
Sau
luận về vô duyên đại bi , nói rơ phần nhiếp hóa, là
quả giác ngộ đạt đến rốt ráo viên măn.
Chuyên chở do trí lấy vô duyên làm duyên, do cảnh khổ
chúng sanh trong ba cơi mà hành hạnh bi để giáo hóa; nên v́
hết thảy chúng sanh trải tâm từ ba mặt mà bi
phải biểu lộ như đă nói.
Đoạn
:"Này Thiện nam tử, lại nêu rơ tôn chỉ
đưa đến kết luận: "V́ Phật giáo hóa
và chúng sanh được giáo hóa do cơ duyên có cảm hóa
nhau. Nhận xét gần, nh́n chung không đến từ
một trong ba cơi mà có sự dung hợp như ba cơi duy tâm
nên lấy đây làm tôn chỉ. Giải thích phần lớn
tuy nói về tự hành nhưng cũng gồm cả
phần lợi tha. Cho dù cần diệt khổ
nhưng cũng làm trong an lạc nên điều quan trọng
không đến từ các phần trên. Nên nói hết thảy
phiền năo chúng sanh không phát nguồn từ chỗ ẩn
tàng trong ba cơi. Như trên nói nghĩa bí tàng của ba cơi,
cũng chỉ rơ chỗ ẩn Không. Ở đây nói
cảnh được giáo hóa lại khác, hai mươi hai
căn nói chung thành chẳng phải không có lư như
đoạn nói rơ các quả báo. Nhưng không phát xuất
từ ba cơi, như nghi vấn KHÔNG, giáo hóa không từ ba cơi.
Nơi sáu căn th́ mười có tám gồm luôn thức
ấm, hơi thở, thân mạng chung riêng đều thành
cũng trong hai mươi hai căn. Lư đă rơ ràng
đều từ căn này sinh Pháp thân chư Phật hóa
hiện cũng không đến từ ba cơi. Nhưng do
Phật đă phá diệt bốn ma nên không c̣n trong ba cơi. Nay do pháp
thân an nhiên tự tại; ứng hóa thân thị hiện
khắp đó đây. Ứng hóa thân tức là pháp thân nên
không ở ba cơi; pháp thân cũng là ứng thân nên không ở
trong ba cơi. Kinh giải chung hai ư nên nói ứng hóa, pháp thân.
Căn cứ đoạn sau giải thích nói ngoài ba cơi không
có chúng sanh, tức không có chúng sanh riêng khác, Phật không giáo
hóa ai nên nói ngoài ba cơi không có chúng sanh. V́ thế... phần
giải thích lấy nghe, nói để bàn; nghe phải b́nh
tâm suy xét. Các kinh ngoại đạo nói cũng có nghe
tựa như kinh Phật, song chưa đạt
đến lư liễu nghĩa (rốt ráo hoàn toàn) nên đó
không phải do bảy đức Phật nói. Có kinh giải thích như
Đại kinh, dẫn các kinh phổ thông chứng minh ba thân
Phật ở khắp bốn quốc độ không khác nhau.
Nên biết ngoài ba cơi không có ba quốc độ riêng
biệt, giới nội, ngoại chỉ là một ở
đây đă nói rơ. Kế hỏi giới ngoại sự
thật có hữu vô không? Câu trả lời là hữu vô
đều không nhất định mà phát xuất từ
thánh giáo mới làm sáng tỏ hữu vô. Như kinh Pháp Hoa nói
rằng, ngoài 300 do tuần biến lập hóa thành ngoài ba
cơi có các phương tiện riêng. Dựa theo giới
nội-ngoại để nói hữu-vô, tức có phân
biệt phần pháp tánh. Như ngài Tịnh Danh nói: 10
phương quốc độ hữu vô không cùng tận,
đâu thể lấy một hướng định
được hữu vô. Nhưng hỏi rằng, dựa
vào Thánh giáo có hữu vô như thế há không mâu thuẩn sao?
Đáp: Trong đó đă hợp thông ư nhau như chúng sanh có hai
loại: 1) giới nội là chúng sanh thật có quả báo
có sanh tử 2) giới ngoại là chúng sanh biến dịch
nhân quả có pháp tánh, nhưng kinh này nói không là không chúng sanh
phần đoạn (sanh tử); các kinh khác nói có, là có chúng
sanh biến dịch. Thành ra hữu vô đề cập
đây khác nhau khá nhiều. Nay nói không có chúng sanh biến
dịch, sợ nhầm lẫn nên nói nhằm ư riêng.
Muốn hiểu tường tận cũng phải nêu cho
biết. Giới nội nói có tức có chúng sanh phần
đoạn, nói không tức không có chúng sanh biến dịch
tùy theo nghĩa. Cho nên lấy Thanh Văn sanh ở giới
ngoại nêu làm thí dụ cho rơ. Chúng sanh cơi Bạch Ngân không
có phiền năo ô nhiễm, v́ không phiền năo nên vô sanh. Đó
cũng c̣n một lần sanh, nhưng sự thật Thanh
Văn vô minh vẫn c̣n nguyên vẹn, đâu đă
đạt được vô sanh ư? Các bậc Thầy
Vệ Thế Sư ngoại đạo tức là thầy
phái Đại Hữu cho rằng ngoài ba cơi c̣n có thế
giới riêng. Họ lấy đó thí dụ và cho rằng c̣n
có chúng sanh khác nữa. Nếu không phân biệt chỗ khác
nhau ấy tức giống như tà thuyết ngoại
đạo chủ trương. Luận Khởi Tín nói,
nếu cho rằng ngoài ba cơi có chúng sanh nào tức là Kinh
ngoại đạo nói mà chính để chỉ chủ
trương của phái Vệ Thế Sư như ở
đây đề cập. Phái ấy chỉ toàn xác minh như
lai tạng là vô thỉ vô chung nên không nói chúng sanh có khởi
thủy; và đây là điểm khác nhau. Đúng vậy, nếu
y cứ sự thật bàn ư chính không nói đến hữu
vô. Nói hữu vô theo nghĩa tất đàn cũng phá
đối trị chấp. Nên nói hữu giống phàm phu
ngoại đạo; nói vô cũng giống Nhị Thừa.
Như Phật, Bồ Tát biết thật thấy đúng
nên không hữu không vô, chẳng như, chẳng khác, trung
thật đúng lư không giống t́nh tưởng phân biệt
của ba cơi. Đây chỉ kinh Pháp Hoa mới làm sáng tỏ
điểm rốt ráo này.
‘Thưa Đại vương như tôi thường nói ...’ là dẫn việc xưa chứng minh việc nay, hết thảy chúng sanh đoạn dứt sạch quả báo nghiệp mê lầm trong ba cơi là thành Phật hay cũng gọi là giác; khoảng giữa chẳng c̣n phiền năo, đâu c̣n dung chúng sanh tham đắm trong đó ư? Trong ư đây phần nhiều nghi từ "giác" cho nên đă chuyển nghiệp ba cơi là Phật, là trí là bản lai mà trong năm nhẫn ắt hẳn đầy đủ. Không c̣n con đường nào khác đâu c̣n chúng sanh nào ngoài cơi ư? Nghiệp gốc của chúng sanh là chỗ tu tập của Phật, Bồ Tát, v́ tất cả chúng sanh từ vô thỉ tới nay vốn theo nghiệp nên không phải tánh đức rốt ráo, đem so với năm nhẫn bậc chánh giác (Phật) nói đây đều không khác. Kinh Tịnh Danh gọi đó là không ĺa si ái làm hiển phát các đức giải thoát; cũng nói từ chỗ trọng yếu nêu ra. Nên nói trong năm nhẫn có đủ cả 14 nhẫn ba cơi không ngoài một cái tâm, một tâm không ngoài tự tánh, cho nên biết rằng tự tánh thanh tịnh vậy. Lời giải rằng, do phiền năo nên cần phải tu hành, do tu hành nên mới đạt đức; đạt đức kết quả viên măn, suy tới gốc để nói lư nó là một. Câu: Bạch Phật rằng... Phật đáp câu hỏi thứ hai trong câu hỏi trước lặp lại. Câu giải đáp thứ hai trước nêu rơ thập địa và làm sáng tỏ chỗ Phật thực hành. Đó chính là quá tŕnh chư Bồ Tát tu tập thanh tịnh, là quả vị cứu cánh, đạt đến tri kiến Phật trong cảnh giới vi diệu. Bồ Tát trở lại nương pháp nầy giáo hóa chúng sanh giữ ǵn bản tánh thanh tịnh bên trong để làm cho không mất như đă đề cập. Kinh lấy hai bộ Pháp Hoa và Tịnh Danh để giải nghĩa thêm, một mặt trông giống mà ư khác nhau. Sau giản lược thập địa như trên có giải thích và cũng giảng rộng gốc nghiệp. Kinh giải gốc nghiệp có 5: qua trăm ngàn vạn ức quốc độ gồm ba: trí tuệ trên hết, thần thông tiếp theo và thuyết pháp dưới cùng; cũng có thể lấy đây phân đều ba cơi đồng cư giống nhau một ṿng thuyết pháp thứ ba, thần thông thứ nh́ và trí tuệ thứ nhất. Phân biệt tuy thế mà nói chung cũng gồm đủ, an trú; cơi thấp không có thần thông, có ánh quang minh không thuyết pháp được sao? Xem cơi trời Tứ Thiên Vương cũng có thể hiện rơ thân tướng tu tập hằng trăm pháp môn v.v...Tu tập các pháp môn trong ṿng nhị đế thực hành riêng nơi các cơi mà giáo hóa chúng sanh là pháp thực hành chung. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói mỗi câu theo thứ tự gia tăng tùy phần tùy lực. Các kinh: Địa Kinh, kinh Anh Lạc và kinh này đều nói để giáo hóa. Tướng ba cơi có chỗ giống chỗ khác hẳn có nguyên nhân giải chưa rơ v́ giản lược nên khó lănh hội được hết. Sau giải thích Phiêu Tán Vương tức là Tiểu Vương mà đa số quen gọi Phiêu Tán. Địa vị đó trong hạ phẩm thiện, bởi ngày nay các nước thêm vào nhưng dùng theo thứ bậc trên nhân vương e câu văn đảo ngược khó hiểu. Kinh Anh Lạc giải thích là vua Thiết Luân Vương, tương đương phẩm thượng của Thập Tín; Địa Kinh dùng tương đương như quả Sơ Địa. Dựa theo cách giải thích của Biệt - Viên giáo nói ư khác nhau cũng chưa rơ ràng dứt khoát. Trong Thập Thiện mỗi pháp c̣n nhân 10 là 100 pháp, căn cứ 10 điều lành nói cách nghiêm túc chỉ một điều lành hẳn chứa đủ 10 việc lành. Đem 10 điều thiện nhân thành 100 việc thiện. Chỉ cần làm hai việc lành để nghiệm xem, chẳng hạn như không sát sanh cũng chứa đủ 10 hành động thiện. Nhân một hành động thiện mà đủ cả 10 việc lành đó cũng là ư nghĩa thập thiện vậy. Kinh cũng nói cội gốc ba cơi là gốc mê lầm; gốc mê lầm tạo rừng mê gọi là tội tánh.
Bài
kệ Thủ Lư gói ghém trong 32 chữ có những câu 3,5,7
hoặc 9 chữ cũng chưa diễn được
hết ư, do chưa được kiểm chứng
lại. Chỉ diễn ư v́ sợ nghĩa quá tổng quát,
do vậy nên nói Thủ Lư như trong bài kệ. Phàm Tam
Bảo có nhiều nghĩa, nhưng ở đây chỉ tán
thán hai nghĩa đó là biệt tướng Tam Bảo là tướng
riêng và đồng thể Tam Bảo là đứng mặt
lư tánh. Do hai phái Đại, Tiểu Thừa khác nhau nên Tam
bảo không giống nhau như do nơi quy y gọi là
Trụ Tŕ Tam bảo. Dù chỉ tán thán hai loại Tam Bảo
tưởng cũng đầy đủ. Lời thông
thường gọi Bảo là nghĩa đáng tôn kính;
Thế Tôn là thầy dẫn đạo, Phật là danh
hiệu chung. Thể rắn kim cương chỉ pháp thân
không hoại. Phật tu chứng tâm hạnh bằng tám âm
thanh thuyết pháp làm lợi lạc quần sanh; tuy Phật
nói đồng nhau. Phật v́ chúng thuyết pháp là muốn
cho đạt đạo nên có hàng vạn ức chúng sanh
nhưng thành một, phải có tăng bảo. Sáu trời
dục giới và bốn chúng cơi người lúc đó
gồm 6 chúng nhơn thiên. Trời tuy không xuất gia
nhưng tâm họ như người tu xuất thế có
thể làm đạo của người xuất gia nên
cũng gọi họ là Bồ Tát tăng, và được
chứng quả Tam Thừa vậy.
Sau
tán thán ngũ nhẫn riêng hàng Bồ Tát với 14 vị
đại sĩ vận dụng khả năng
thấu triệt chân lư đầu mối nhân quả
không thể nhầm lẫn. Do vậy Tam hiền,
thập thánh không rời ngũ nhẫn mà 14
đại sĩ ứng dụng khác, nhưng công dụng
chỉ là một. Chỉ Phật là một nhân vật
biết tận gốc, hiểu mọi lẽ rốt ráo
độc nhất. Quy về nhất thể cũng là
nghĩa cứu cánh của Tăng bảo. Như đă nói
tam bảo tạng nhưng cũng gọi là vô lượng
công đức tạng để giải thích chung nghĩa
chữ "tạng". Như thế nên biết Tam
bảo tuy riêng mà hàm vô lượng công đức ẩn
tàng bên trong; cũng vậy Tam Bảo mỗi ngôi có vô lượng
công đức nên một đă bao hàm cả ba. Kinh Thập
Thiện Bồ Tát khuyến phát đại bi tâm ca ngợi
phục nhẫn các phẩm vị, bỏ qua phần công
đức trong đó trước dẫn giải theo
lối cổ, bây giờ không theo như vậy. Cho nên
theo Biệt, Viên giáo b́nh luận, nếu Biệt giáo Thập
Tín g̣ bó không hợp; nay phê b́nh phải lấy Thập Tín
Viên giáo có thể giống nhau trừ bốn trụ xứ
tṛn đủ; nếu trừ vô minh th́ nhị tạng
yếu kém. Ngoài ra dẫn kinh Pháp Hoa chứng minh chúng sanh có
cơi hữu dư mà nói thứ tự phải ở nơi
Viên giáo mới có thứ lớp như vậy. Nên biết
là tâm đại bi nhưng không thật viên măn ở
Thập Tín mới đạt được đó là
nổi khổ lâu dài. Nhưng pháp liệu giản so sánh ba
phái trên có thể bàn rộng hơn cần phải biết.
Các phẩm thiện bậc trung, hạ Phiêu Tán Vương
cho Thập Thiện là chính được nêu làm thí dụ.
Thiết Luân Vương có lục luân vị, Tập
Chủng với sáu chủng tánh; hai vị Đẳng Luân
Vương - vua cai trị hai cơi thiên hạ. Câu văn có
thể gây hiểu lầm là điều cần phải suy
nghĩ.
Nói
Thất Bảo - bảy món đồ quí báu - chỉ
đồ trang sức của phụ nữ có nơi Luân
Vương nên không giải thích thất bảo. Trong số
thí dụ đưa ra, chữ Tín giống chữ Trụ
nên dễ lầm. Ba đời chư Phật khó chính là công
đức phục nhẫn; phục là hàng phục, có
nghĩa điều phục, lấy nhẫn hàng phục
vọng tâm. Thế nên trước tiên phải hàng phục
tâm mới sanh ba đời chư Phật, suy chỗ
gốc để nói trước tiên ở chỗ thực
hành khoảng giữa là t́m nguồn gốc thành khó phát tâm
nên nói khoảng giữa là giai đoạn thực hành. Hành
là người thực hành, người phải thật
kiên cố không lui sụt đạt chỗ vô sanh, đó là
chung điểm của hành vậy. Ở đây hiểu Tín
là Trụ, độc giả xem xác định quả
đúng là lư này. Chỉ đọc kinh suy ra tín tâm, song
cũng chưa hẳn không phải là thập tín cho nên duy
tŕ cả hai. Vô minh bàng bạc nên lầm lạc khó dứt
cũng như đá tản mác không đủ lực
nhấc lên nổi, nếu không phải trí bát nhă (tuệ
giác) không thể thắng phiền năo. Nói rơ công đức
tin hàm hai ư: không ngoài Biệt giáo lấy Thập Tín thứ
tự dần vào đến sơ địa; nếu
thập tín Viên giáo là vào sơ trụ. Ở đây cũng
đại khái nói vậy. Nếu muốn đầy
đủ phải xét ba vị bất thoái để
hiểu mỗi vị như thường t́nh.
Hỏi
về gốc nghiệp mà đơn giản ở thập
trụ sáu tâm thoái lui có hai phần: trước là dẫn
chứng kinh, và sau theo lối hỏi đáp của kinh
nầy: Trong câu trả lời có hai điểm cần nêu
rơ: trước hết nêu thí dụ phủ định
hỏi; tiếp đến dựa theo lời Phật
dạy giải đáp có suy xét, là chung cho bốn giáo
(Tiệm, Biệt, Viên, Đốn) đều hàm nghĩa thoái
hay lui sụt. Như kinh không nói nguyên nhân sáu tâm bị lui
sụt. Nếu dựa theo kinh này c̣n thập hướng
thoái nữa th́ 6 tâm trong thập trụ không phải là việc
khó khăn. Đây phê b́nh thoái tâm ở sơ kỳ để
tự theo đuổi một đường; c̣n sau
luận ba việc thoái tâm dựa theo vị sâu cạn
chỉ vị đối vị hoàn toàn không đem chỗ
giống tấn thoái giữa phẩm vị so sánh. Nhưng
theo các sư Nhật gặp khó khăn ở
chỗ dựa sáu trụ, đă đoạn kiến
hoặc không sanh vào bốn ác thú tại sao c̣n thoái lui?
Thường th́ lấy bốn minh giải đáp mà kinh
tịch phần nhiều bị thất lạc nên ngày
nay không t́m thấy kinh chú giải. V́ thế phải dựa
cách riêng để nói mỗi cách đoạn mê lầm
đến cùng. Mẫu chung rơi vào chỗ vô cùng, việc
phát tâm và chỗ cứu cánh tuy hai nhưng không khác nhau.
Như nói sơ phát tâm cũng tức là cứu cánh, tuy có
phân biệt khác nhưng chỗ tu chứng giống nhau, cho
nên nói tuy hai mà không khác là vậy. Tuy lư chứng chỉ
một, nhưng sơ phát tâm không dễ nên tâm ban
đầu thật là quan trọng. Sau nêu rơ Bồ Tát
Thiện Giác, trên tán dương hàng sơ địa dùng
thân tướng trời Tứ Thiên Vương tu tập
đến hàng trăm pháp môn, đem tâm b́nh đẳng
của nhị đế hóa độ chúng sanh. Cho nên
thấy cơi tục như huyễn hóa (hư huyễn)
hay cũng có thể nói rằng quán xét đó thấy như
Không. Quán thật và huyễn thấy chân và tục không hai,
cho nên cả hai b́nh đẳng mới đạt
đến nhứt thừa, gốc đă viên măn ở
bậc sơ trụ là nhân ban đầu. Nay gọi
nhập địa mà ư gồm chung Biệt - Viên giáo;
địa cũng c̣n gọi là trụ vậy. Kinh Pháp Hoa
gọi Thừa (cổ xe) lên cổ xe báu dạo khắp
bốn phương; thung dung trong 40 phẩm vị. Nhưng
Bát Nhă cũng gọi là chữ có chứa đủ công
đức các địa; nhẫn đến dùng vô tự
thuyết tức nói đạo vô tướng. Trụ nói
đúng theo lư gọi thủy - khởi đầu;
địa có nghĩa là chung - chung cục. Do có thủy chung
nên tên gọi có khác nhưng thật tế công đức
nói chung đều gọi như thế, v́ nơi
đệ nhất nghĩa vẫn bất động. Theo
kinh Tịnh Danh đối thiện nói pháp riêng. Riêng kinh này
lư cùng sự biến, trước sau (thủy chung) như
nhứt nên đệ nhất nghĩa bất động là
vậy. Nhưng phần chú giải lại lấy thật,
giống thật đối h́nh tướng để nói,
đó là một cách nói. Nay đem Viên-Đốn luận nên không
thể luận. Bậc khai sĩ vua cơi trời Đao Lợi
không xuất hiện vương vị mà hiện
tướng minh vương hóa độ kẻ vô duyên
đạt minh trí. Kinh nêu rơ cũng gọi vô duyên là phi
hữu, vô tướng là phi vô. Phi hữu vô là trung
đạo - diệt đế - đế thứ ba trong
tứ đế, cũng gọi là sự thật của
tâm. Bao hàm pháp không, chẳng tâm tánh là nghĩa trung
đạo; và cũng dùng Không không để sánh ví. Như
kinh giải cũng có thể nói vô hữu là không duyên
tướng, Không không hoàn toàn vô tướng là vô sanh.
Tuy phân biệt pháp như thế song sự thật không khác
nên không song chiếu. Kinh Viên Giác nói rằng năng chiếu
sở chiếu đồng thời vắng lặng,
cần nhất ở chỗ quên t́nh thấu lư là một.
Tuệ Không chiếu sáng dùng trí tuệ soi sáng; chiếu soi
nhơn và pháp. Tất cả đều không, có nghĩa không
nhưng chiếu sáng nên nói không chiếu. Tâm nhẫn không
phân hai hễ nói nhẫn không c̣n phân biệt năng sở.
Đó cũng là Diệt hoàn toàn không c̣n trong ṿng đối
đăi là trung đạo. Khởi sự do Hữu đi vào
Vô, nhất như theo kinh giải chưa hoàn toàn, v́ văn
lược, nên phải nói rằng xuất Không vào Hữu;
ra Hữu vào Không biến hóa; chỉ ở khoảng
giữa không có hữu-vô. Sau nêu rơ nếu khó biết ĺa sáng
đến Tín nhẫn; có ba pháp có thể dùng không nhẫn,
đoạn kiến hoặc, tư hoặc trong ba cơi, là
những phiền năo do ngoại giới sắc tâm vô tri, nên
lại dùng giả quán để quán sát đó. Đệ
nhất nghĩa không dùng hai pháp phương tiện
để quán mà ở đệ tam đế - diệt
đế - không tự chiếu. Thật trí duyên vắng
lặng v́ chính nó Không mà không là vắng lặng.
Phương tiện là quyền trí tự chiếu; v́
vắng lặng nên rơ vô sanh. Tự chiếu nên không -
hữu đều rỗng suốt như kinh dẫn
giải. Pháp Không trong không quán là lấy Không soi sáng chân
đế. Do duy tŕ các tướng như thế nên nói không
hai tướng, và do giả nên biến hóa trong 6
đường. Lấy không gian để vào không tách
rời lư của tam đế. Nói không hai không chiếu
như đă đề cập chỗ sáng không hai
tướng; không chiếu mà chiếu, tuy chiếu vẫn
thuộc lư không. Ba địa Cực Nan Thắng, Diệm
Huệ, Hiện Tiền như bài tụng trước
thuộc về định vô tướng. Gọi
định v́ có thể dứt sạch tâm mê vọng ba cơi,
tuy không tuệ vắng lặng rỗng suốt không có
chỗ duyên. Quán sát thấy vắng lặng nhưng soi
chiếu; trở lại quán chiếu quả báo có muôn ngàn
sai biệt. Kinh Tịnh Danh gọi đó là vô ngă, không
tạo tác, không người thọ; nghiệp thiện ác
đều không mất. Bài tụng Vô Sanh Nhẫn nói
rằng, người đạt đạo tới đệ
thất địa đă thâm nhập pháp vô sanh; nh́n
trước trông sau nên gọi là "viễn
đạt". Dù chưa được báo thân đủ
nhưng đối với 21 sanh thân ở thất
địa Bồ Tát vẫn phải c̣n thọ một
lần sanh nữa mới chấm dứt. Cho nên ở
phần đoạn sanh tử phải chấm dứt một
thân này rồi mới vào biến dịch được,
nên nói vào ḍng pháp lưu là vậy. Nói qua hai mươi
mốt sanh thân trong thất địa, mỗi địa
có 3 phẩm thành 21 lần; dùng pháp chánh quán trung đạo
nhập ḍng pháp lưu không c̣n bị trở ngại.
Trở ngại căn bản từ sơ địa, nay
nói ở bát địa mới đạt ngộ là ư
tiếp theo của Thông giáo. Khởi thủy đầu tiên
nhập vô duyên từ đă vào ḍng pháp lưu đến bát
địa là đạt vô duyên Kim Cang nhẫn. Nếu
dựa theo Biệt giáo luận cũng có nói tâm kim cang.
Dựa nhân nói quả đây không sanh vào ba cơi thọ quả
báo nữa mà đă dứt ái nhiễm ba cơi. V́ ở
thất địa tuy đă dứt mê lầm ba cơi nhưng
do chưa đủ trí, vẫn tham đắm Phật trí,
là theo con đường của nhiễm ô. Dù c̣n một -
đạo đế - để đạt mà chưa có
thể, đến bát địa đạt vô sanh mới
dứt sạch thói nhiễm. Viên giáo quán chiếu ba
đời là phản chiếu, v́ tới đệ bát
địa Bồ Tát soi sáng những việc trong ba
đời như mặt trời phản chiếu những
việc đă qua. Ưa thích những việc hiện
tại mà gốc sâu ở vị lai chỉ cần nghĩ
ngợi có thể biết, như luận Khởi Tín nói quán
sát ba đời giống như ư đây. Do quán như
thế nên thấy diệu lư bên trong, đúng là mượn
sự hiển lư nơi kinh này, không đủ để suy
nghĩ sao?
Pháp
quán đảnh tán thán tịch diệt nhẫn
đề cập trong đoạn 12 pháp ở trước,
v́ tín nhẫn trước 30 tâm, cùng với thập
địa chín cộng ba là mười hai, hàng đầu
trên cùng là trên của mười hai pháp sư. Tịch
diệt nhẫn cũng có ba phẩm; phẩm hạ bậc
thấp, phẩm trung quán đảnh ở thập
địa, phẩm thượng bậc cao tột diệu
giác mới là pháp chính. Có thể một lần chuyển vào
Diệu Giác phẩm cao tột thường hằng, v́
đó là vị cuối cùng của pháp thân rốt ráo. Kinh Hoa
Nghiêm gọi đó là pháp thân mầu thanh tịnh
thường vắng lặng ứng hợp với
tất cả. Đối với quả Diệu Giác đây khác
phân cực ngoài ba phẩm như đă giải. Cũng có
thể lặp lại tóm tắt các vị ở
trước để hiển lộ chỗ viên minh. Ở
đây nói đoạn tức là trước đoạn những
ràng buộc sai sử; tới tận cùng của vô minh,
nếu không do trí diệu không thể đoạn diệt
được, tất cả đều từ gốc vô
minh ra. Nói tướng huân tập khác với tân huân là nhiễm ô
mới huân vào sau. Cũng như nói cảm được
chỗ tận cùng của nhị đế là gốc trung
đạo mới đạt tới cứu cánh rốt ráo.
Phần sau về vô tướng viên minh gồm trong sáu câu,
mỗi câu đều do chữ "đức" hiển
lộ, ngoài ba đức tùy cách gọi như kinh giải
thích nên biết. Thập địa Diệu giác, Bồ Tát
cũng gọi giống như Phật. Có thể nói
rằng nhân hết quả măn; quả hết nhân tṛn là ư
nghĩa nói trên. Nhưng cũng nói ngũ nhẫn bổ sung
soi chiếu; v́ văn xuôi nên ngũ nhẫn lời giản
lược cùng hợp lực đủ trong 40 vị. Nay
tán thán ngũ nhẫn, nói nhẫn quả thật rộng
lớn mà 40 vị đều có trong nhẫn. Thập
địa quả Diệu giác không giống v́ quả này là
Bồ Tát nên sanh tử khác nhau. Nếu nói quả thập
địa th́ nhân sanh quả diệt; c̣n quả Diệu
giác ngược lại. Nên nói bậc đại thánh tùy
căn cơ hàng sơ cơ mà chuyển làm cho ngộ. Hàng
tam hiền, thập thánh tán thán pháp thân Phật, nên lấy
cơi nầy làm nơi nương thân để nêu nhân sánh
quả đạt được pháp thân phẩm tối
cao là viên minh vắng lặng. Đây đứng về lư, c̣n
về sự là cơi vô thượng báo thân, là cứu cánh
Phật quả. Lư hay sự cũng là hai cơi, đến
Biệt-Viên giáo có giáo thuyết, có tu chứng. Dùng giáo
thuyết thập địa Biệt giáo sanh nơi báo
độ; lấy tu chứng Viên giáo sơ trụ sanh vào
cơi hoa tạng. Nên nói đạt đến chỗ không
chướng ngại, v́ nghi c̣n một thân sau chót. Từ
đoạn này trở đi kinh bổ túc nên cũng từ
đây trở đi thuộc quả Diệu Giác cuối
cùng chỉ cơi Tịch Quang Tịnh Độ. Kế tiếp
nói hết thảy chúng sanh tạm ở cơi báo độ nên
nhập chung một đoạn. Đem ba câu hỏi đáp
trước đưa vào đây câu thuận dễ nghe, do
tất cả chúng sanh tạm trụ nơi báo thân theo
văn cựu dịch. V́ câu nghi vấn thiếu từ nên
đây giải chỗ không chấp thủ. Đúng ra phải
nói Phật đem chỗ tu chứng rốt ráo nhập
kim cang địa bổn nguyên vô vi; hoàn toàn v́ hết
thảy chúng sanh nên việc hóa độ có dài ngắn khác
nhau như trong lời đáp rơ gọn. Trước tiên câu
trả lời về Viên giáo nói rằng Thánh hiền do có
sanh nên chỉ nói viên mà không nói tịch quang. Để
nhường cho quả vị, nếu lấy ba phẩm
luận th́ Đẳng giác đă đủ sanh được
vào phẩm trung, phẩm hạ, c̣n gọi hiền thánh nên mượn
nói khác là Viên cực vậy. Song trong ba cơi sau cũng có
Tịnh Độ như kinh giải, ở đây chỉ
nêu lên chỗ viên cực. Nó dựa chỗ tâm diệu quán
thông suốt gọi là tịnh, không giống như đây
luận nhân quả tương đối để nói cái
vô cùng tịch quang, là ba việc tán thán giáo hóa người
khác, h́nh thức, âm thanh cần phải biết. Ngoại
đạo hoàn toàn không có nghĩa đó, v́ như trên nói
hư vọng tà kiến nên không mang ư nghĩa đích thật.
Có thể nói thế tục đế nghĩa là hữu danh
vô thật, cũng như chấp một bên tiểu giáo nêu
làm thí dụ. Bàn tâm và trí e hiểu lầm nên phải dùng tâm
trí quán xét, tịch diệt không c̣n các duyên. Quán vắng
lặng duyên không gọi là không duyên chiếu soi mới
ứng hợp với hai câu, sáu pháp động như
trước đă giải.
Loài
hàm thức sanh ra gốc do mê muội mà đạt diệu
báo thân đoan nghiêm do thấy nghe pháp mà được
lợi ích như vậy. (^)
... Lúc bấy giờ đại chúng, là số chúng đến nghe pháp rất đông và tất cả đều lợi ích nhiều nơi pháp Phật dạy. Kinh nói số chúng là phân loại sáu loài , tám bộ chúng khác nhau. V́ lợi ích chung không loài nào hơn loài nào, nhưng đạt đạo c̣n lâu, phải trải qua các đời lâu hay chóng vào mỗi phẩm vị khác nhau. Kinh nói rằng ở ác đạo cũng nhẫn được; đạt đến vô sanh pháp nhẫn phải qua các phẩm vị tu chứng chân chánh; căn cứ đại loại cũng không khác nhau. Như phẩm Quán Phổ Hiền quán sát vô sanh nhập vào chánh vị. Căn cứ lời giải thích này rơ ràng giống nhau không khác. Một lấy nhị Không để nói, hai dựa chân giả luận bàn, chánh vị chưa biết phải nương vào đâu y cứ, song lấy chỗ tu chứng bậc Thánh nhơn làm chánh vị, nghĩa cũng tương đương với quả thánh. Lời tuy chưa thật sự suy xét nhưng thứ tự chứng nhập phẩm vị đạt được, đâu hẳn cần suy xét ư? Đạt nhị Không cũng tùy theo câu xử dụng như thế nào; hoặc một đời, hai đời do dựa theo việc phá vô minh được một hoặc hai phẩm. Đại kinh nói rằng, phải theo ṿng đầu thai thọ sanh như kinh này nêu rơ thí dụ.
‘...
Này các thiện nam tử, Như Lai chỉ thuật lại
hợp giáo lư hàm cả bổn môn tích môn sâu xa vi diệu’.
Như vậy trước phải chỉ chỗ phát
khởi; căn cứ kinh ứng hợp chỗ đạt
đạo quả tối thượng, về bổn môn là
phẩm vị có tương quan với Phật; xem thế
đủ biết nay bàn tích môn cũng không cách Phật. Pháp
Vân địa trong thập địa có thể là tiếng
sư tử gầm đâu dối dạy trao mà v́ trí
tuệ ở địa này phát khởi niệm tin không gian
dối. Phần thuật không nói rơ ba nghĩa, giải thích
chỉ có Phật với Phật mới biết rơ hợp
tác nhau cùng làm, như kinh đề cập nghĩa này,
lấy kinh Pháp Hoa là chính không vọng trao truyền. Không
phải hàng Bồ Tát v́ sợ lầm, phát nghi nêu hỏi
từ đầu. Theo nghĩa rộng giải tất
cả chư Phật từ trung đạo sanh; chữ
trung hợp với hai cách hiểu: Trung là ở giữa, v́
chư Phật tuy có sanh diệt hóa hiện ba thân nhưng
không ĺa giữa; và nghĩa thứ hai là trung đạo.
Hễ c̣n sanh diệt không phải trung đạo như
Phật thường hay dùng tiếng trung này. Nói về
nghĩa Không có ba: do thân biến hóa Không là không sanh, không
diệt, không dời đổi. V́ chỗ rộng
để nói pháp thân gốc vô tướng, vật thể
hữu h́nh. Do đó, Phật sanh nơi cung vua, nhập
diệt tại rừng Ta La song thọ; dùng sanh diệt hóa
độ chúng sanh, xác lập cái vô cùng tận. Trung
đạo là ở đó, không ta không người, cũng
khó giải thích lặp lại, đó là nói theo tương
đối. Nay y theo nghĩa trên giải thích; phàm nói giáo hóa
phải có ta người mà đă có tự tha phải có
một, hai nên bị ngăn ngại. Lời giải không
tự không tha, không một không hai mà thứ tự hợp
với không giáo hóa, cho dù có giáo hóa cũng chẳng phải
giáo hóa, như vậy giáo hóa hay không cả hai giống nhau.
Không tướng là vô tướng như trên nói; nhưng
không nói chẳng phải. Đă gọi không, vô tướng
nhưng vô tướng chẳng phải không khứ lai.
Sở dĩ nói không đến mà đến, không thấy
mà thấy, không phải là không đến đi. Quên dấu
vết nên nói như hư không có 3 nghĩa không, chung qui
đưa về rốt ráo không. Cho nên nay dựa theo 3
nghĩa không ấy cho rơ ràng. Thứ hai, do nhơn pháp làm rơ
nghĩa không, v́ hết thảy chúng sanh có sanh diệt, nói
chung là nhơn-pháp đều không nên sanh diệt cũng
không Không. Chẳng phải không nhân quả như
trước lấy chỗ rộng thành lập để
biết. Như nơi phần dẫn giải có dẫn kinh
Đại phẩm rơ ràng đầy đủ, nên ở đây
không giải thêm. Sau nói về phiền năo để làm sáng
tỏ nhị không; ngă nhơn vốn thuộc kiến
chấp nên do phiền năo sai sử, như nói ngă sở (cái
thuộc về Ta) tức giả danh mượn
tạm vốn không phải thật. Ở đây
phải dùng chữ "giả" là theo tính toán do hai
chấp nhơn-pháp thành.
Lấy
pháp chân làm rơ nghĩa Không như hết thảy pháp tích
chứa; vốn thật không phải giả để thành
nghĩa Không, nên dùng danh nói ba giả: pháp - cảnh giới
- không, đúng là nhơn-pháp hiển lộ toàn không. Không
đề cập ở đây vô tướng nên không thể
chuyển di; cái Không này không điên đảo nên không theo
chiều huyễn hóa. V́ thế kinh Viên Giác nói rằng,
biết huyễn là xa ĺa; ĺa huyễn là giác, không theo các pháp
huyễn; cũng có nghĩa là không thuận theo ngay cả
không tam bảo. Phàm nói danh tướng để
đối trị gốc; nếu không đối trị
danh cũng không lập thành. Ở đây muốn làm rơ
nghĩa Không nên nói như vậy. Ngoài ra, cũng nói không
Thánh nhơn, không lục đạo; cũng gọi không
cả cảnh giới tức không khác với thế gian và
xuất thế gian. Như vậy c̣n ai Thánh ai phàm để
lập? Cho nên nói phàm Thánh đều hoàn toàn giả danh
cả. Ba loại Bát Nhă không thể không biết; hay
nương bát nhă nên thể nó soi sáng Không. Có nghĩa là
cả Thánh phàm, nhơn pháp Không chỉ có bát nhă, nhưng bát
nhă cũng Không, để nói bát nhă Không nên phải biết.
V́ Bát Nhă lấy trí làm danh, lấy Không làm thể; lấy
không trí, không kiến làm tướng; do vậy biết
dừng lại ở chỗ không biết, nên nói
điều đáng nói. Triệu pháp sư nhân đó viết
sách Bát Nhă Vô Trí Luận để luận giải, nhưng
kinh nói pháp không hành, đạo tâm dứt không duyên, không
nhơn, không như các pháp do nhân duyên hợp thành. Nhắm
thẳng Không mà có nên không thọ các pháp; kể cả không
thọ cũng không mới gọi là không thọ. Không
đạt tới các pháp tướng soi sáng; pháp tự soi
sáng đă mất nên pháp được soi sáng cũng
vắng lặng không c̣n, ngay cả tướng hành
đạo cũng vậy. Pháp hành ấy chính là hành pháp bát
nhă sâu xa, như thế mới thật là tướng hành
đạo, mà kinh gọi pháp vô tướng vậy. Nên
biết rằng tướng các pháp là Như Thị (như
vậy đó), tóm tắt ư trên nói tướng các pháp Như
cũng như hư không. Không đây chẳng phải bát nhă
Như Như, không thể lấy hữu tâm đạt
được nên không thiết lập; v́ hết thảy
pháp đều Như nên không thể do vô tâm đạt
được nên không thể bỏ. V́ hết thảy pháp
đều chân (thật) nên công đức bát nhă tâm không
bỏ chúng sanh không theo kịp, nên không thể lấy
giả, thật của ngũ ấm hành xử, cùng
cảnh giới thô phù mà hiểu được v́
đều ngoài khả năng, cho nên chỉ thuận Không
hợp vô tướng, nhưng có thể làm
được. Bát Nhă do đó bất khả tư ngh́ không
thể dùng ngôn ngữ, tâm hành diễn đạt hết
được. Chỉ v́ bát nhă không thể nghĩ bàn nên
Bồ Tát cần phải thực hành, đó là tất
cả hạnh sâu kín như trên nói 30 hạnh nhẫn.
Chư Phật ở trung đạo giáo hóa v́ hết
thảy Phật tánh vắng lặng tối thượng,
diệu trí soi chiếu cảnh nên không thể dùng lời mà
chỉ do thức nhận biết. "Này thiện nam
tử..." câu để tán dương công đức
không thể nghĩ bàn, cũng như không thể đo
lường, là tán dương điểm nổi bật
hơn hết của quốc vương. Chỉ tóm
lược lời vua như giọt nước biển
cũng đủ rơ công đức như thế nào. Như
sợ có người hiểu trái ngược nên buộc
phải giải thích rộng hỏi đáp để làm
sáng tỏ lời vua hơn, đó là vấn đề
căn bản. Việc hỏi vua không cần bản văn
mà chỉ lấy ư chính theo như giải thích ban
đầu. Nếu hiểu theo cách khác, cách nào cũng
phải hợp với qui định của Thánh hiền
mới có thể chấp nhận được. Phân tích ư
nghĩa công đức trong đó hàm vô số nghĩa,
ở đây chỉ đề cập một phần,
như lấy ánh sáng trăng sánh với công đức
thật nhiều vô lượng. Ví dụ tuy tóm lược
nhưng đầy đủ, cũng không phải là
điều không hợp lư. Hoặc giả chỉ bát nhă
để nói nghĩa thích hợp nên phải thật rơ ràng
từ quá khứ đến hiện tại; thích hợp
như nguyệt quang do thuật lại hoặc do nhớ
rơ.
Phật
nêu rơ 14 pháp nhẫn để khuyến tu, do những pháp
này mà đạt nhứt thiết chủng trí (Tát bà nhă), và
Phật chỉ khuyên nhắc tới điểm trọng
yếu ấy.
Tại
sao? V́ như giải thích nhắc đi lặp lại
chứng tỏ không có sự đổi khác. Kinh
Lăng Nghiêm nói rằng mười phương chư
Phật đều nhắm hướng Niết Bàn. Kinh
cũng nói rằng, phương tiện có nhiều môn mà quy
về tánh giác không hai khác. Nhưng cũng dùng pháp giải
thoát luận có thể hiểu thông suốt tới một
hướng duy nhứt. Như cửa làm thông suốt không
cửa nào không thông cả. Do môn bát nhă đạt
đến nhứt thiết chủng trí, nên cửa (môn)
không ngăn ngại có phải độc lộ giải
thoát không? Thừa tiếp pháp tu nếu không phải 14 pháp
nhẫn này thực hiện trước sau đầy
đủ do đâu hành đúng đại đạo;
trải qua trăm ngàn kiếp khó được lại
thân, huống ǵ diệu báo thân dễ ǵ đạt
được.
Phật bảo vua rằng dùng đề mục lớn mới giải đáp được câu hỏi thứ hai, v́ kinh gồm ba nghi vấn. Ở đây phải trả lời câu hỏi thứ ba rằng, Bồ Tát dùng thêm tướng ǵ thấy chúng sanh để làm cho chúng sanh được độ? Mặc dù hỏi chúng sanh được giáo hóa mà kỳ thật là cả Bồ Tát giáo hóa. Như câu trả lời sau gồm hai ư: a) Bồ Tát tự quán thân như huyễn hóa và b) thấy chúng sanh được giáo hóa cũng huyễn hóa như vậy nên lấy đó để giáo hóa. Nếu không quán như thế cho dù tự hay tha cũng đều chấp ngă, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Theo tinh thần bát nhă chẳng có chúng sanh nào được giáo hóa. V́ vậy nên biết chúng sanh không có sở hữu như nói có thể độ vô số chúng sanh. Các thuyết sau được đề cập: V́ chưa rơ nên khai triển thêm cũng chính là để giải đáp rộng câu hỏi. Tánh biết chúng sanh ban sơ do một niệm không như gỗ đá, hễ gặp điều thiện là thiện, gặp ác là ác. Do đó, nên biết nguyên nhân thiện ác do tâm chúng sanh tạo trong ba cơi sáu đường mà gốc do một niệm ban đầu thể rắn như kim cương. Kim cương sánh tâm sau khi ngộ có bắt đầu không bắt đầu, có mê ngộ, có nhân quả thiện ác rơ ràng. Hữu lậu (có phiền năo), vô lậu (không phiền năo), giải thoát hơn kém do tâm hiện khởi sanh. Không thể biết nó mà có thể hiểu sắc tâm chúng sanh bất khả tư ngh́ đều do nơi một tâm mà c̣n biết tâm như huyễn nên sắc cũng giả dối; người giáo hóa, kẻ được giáo hóa cũng đều như thế cả! Đây là lư do dùng thân huyễn thấy vật huyễn mới thật là giáo hóa chúng sanh; hiểu đó là bổn thức tức chánh nhơn Phật tánh để chỉ thức, mà luận tâm có thể làm Phật vậy. Chẳng có chẳng không, chẳng có hai bên được độ. V́ chúng sanh nói hữu mà không h́nh tướng, sắc chất, không nhớ không quên đúng là thể nó không ghi chẳng nhớ. Như tánh nước vốn thấm nhuần, đượm ướt. Do mọi pháp đều có tính chất riêng không cùng một tính chất. Tùy theo việc thiện ác mà có khác nên tánh tập nhiễm không giống nhau. Kinh dẫn chứng Đại kinh chứng minh không hẳn giống nhau mà cũng dẫn điểm khác nhau. Như trên lấy tánh nước, lửa để dụ, v́ những thứ đó tánh chúng là tập tánh đă có sẵn. Ở đây lấy một ḍng nước để nói nó chảy tới nhiều nơi khác nhau nhưng tánh nước vẫn giống nhau. Nói cách dễ hiểu bản tánh chúng sanh có hữu vô, nương vào gốc cho là không Hữu. Nếu nói bản tánh không đắc là không, cũng hợp với lấy có đối không, chỉ v́ câu văn giản lược nên nói như vậy. Câu trả lời tóm tắt có hai ư: 1) dựa lư làm rơ Không trước sau không chấp nhận Hữu, nghi đa phần một chữ KHÔNG 2) dựa sự làm rơ Hữu một niệm sanh thức nên phân biệt Có; song không phải chỗ đó là điểm tiếp giao của chân tế. Nếu luận theo đại giáo để làm sáng tỏ điểm gặp nhau vẫn không tiếp giao; không tiếp giao nhưng gặp nhau. Gặp nhau và không tiếp giao cả hai đều có, cũng chưa thật sự thành định thuyết. Như thường luận cho rằng biết phân biệt để trả lời chúng sanh được giáo hóa như huyễn hóa; luận huyễn lấy hư dối không thật để nói. Kinh giải thích có ít ra 6 mục giả để tŕnh bày như: 1) trong pháp giả biết được nhứt niệm sanh sắc - tâm năm ấm. Trong một sắc sanh vô số sắc như trong 12 nhập (6 căn và 6 trần). Do bốn đại tạo tác sanh 5 thức; thức phó cho căn tức 5 căn mà biến khắp 18 giới (12 nhập cùng với 6 thức). Song tất cả từ một mà xuất phát ra nhiều, từ không giả có, tức là tướng của hư dối. Đă rơ căn thức, bốn đại nên biết bốn pháp không cũng đều như thế, nhưng kinh giản lược. Cho nên tóm lại nên hiểu tổng quát không nói rơ pháp nhập sắc mà sắc tâm nhập thành thiểu phần như văn lược. 2) Thánh phàm thấy khác nhau cũng là pháp không có tự tánh hoặc thấy giả hoặc thấy chân. V́ sáu thức của phàm nhơn thô kệch, biết cái thô thấy việc giả nhưng lầm tưởng thật, cho hương, vị, xúc, pháp là thật, nhưng thánh nhân biết tế thấy đúng không lầm giả. V́ thế chỗ thấy Thánh phàm khác nhau, thậm chí đối bậc thánh có lớn nhỏ, sâu cạn khác nhau nên thấy có thường, vô thường, như sắc diệt hiện thường hoặc thấy lư chân. Do vậy các pháp đâu thể tự cho là đồng là dị mà hết thảy đều do tâm phân biệt thành. Chúng sanh nơi thế tục đế nhận lầm cái không thọ nhận, nhưng kinh không nói rơ, chỉ hợp với phần giống giả danh. Đối với năm ấm nói trên là pháp có thật mà thành hai phần: nhơn và pháp. 3) Tiếp theo cái ǵ giả đều mang danh huyễn. Văn tuy có khác nhưng cũng có chỗ giống mà giải điểm tinh tế này phải nói rằng hoặc Hữu hoặc Vô; v́ đối với pháp thế tục c̣n giả danh trong Hữu hoặc Vô. Do chúng sanh nghĩ tưởng là thế đế, không phải chân đế. Lại nữa đời không chân thật nên gọi là thế đế. Giả trá huyễn hóa nên có mà thật ra chẳng có; chẳng có mà có là có giả hay gọi là huyễn. Cũng v́ huyễn nên giả dối mà thành danh. 4) Thế tục đế đối với phi đế mà nói mỗi bên phải có lư của nó nhưng tùy nghĩa có sâu cạn. 5) Cũng nói nhẫn đến lục đạo chúng sanh huyễn hóa, tức về hai mặt năng sở: một lấy lục đạo hư giả làm năng kiến, thấy không thật làm sở kiến (chỗ bị thấy). Hai lấy huyễn hóa làm năng kiến, thấy bốn đại không thật làm sở kiến. Do câu lược bớt nên ảnh hưởng tới nghĩa lư. Lời giải không nói cái khác mà đề cập cái thấy để nhấn mạnh rơ nghĩa thấy nói trên; không phải trực tiếp thấy như thế mà cũng đề cập hay quán xét biết người giáo hóa - chúng sanh được giáo hóa như nhau, đều huyễn hóa. 6) Nói thật huyễn chỉ hàng Bồ Tát Biệt giáo năng giáo hóa, nên biết cũng giống Viên giáo, ở đây kinh lược bớt. Phật dạy pháp thật huyễn cho hàng phàm phu trong sáu đường mà người dạy và kẻ được dạy đều thấy rơ; v́ thế mà biết như trên nói thật huyễn. Pháp huyễn không thật này từ lịch kiếp trở lại cho đến trước thời Phật xuất thế, vốn không có tên gọi; giá như có tên cũng không đúng nghĩa thật, nên nói nó vô nghĩa là pháp huyễn. Do vậy thế tục đế có tên mà không đúng nghĩa thật là vậy, nên biết chúng hư huyễn vốn có trên danh tự mà thôi. Đă không thật, không tướng trạng, nên không lục đạo không hết thảy danh. Song nếu chỉ nhất loạt vô danh chúng sanh cũng không có thật đạo để hướng đến, chư Phật cũng không có phương tiện - cách hay bố thí - chúng sanh làm sao ra khỏi sanh tử? Do đó chư Phật lần lượt ra đời, v́ chúng sanh mà lập giả danh khiến hết thảy nhờ đó biết được pháp, và pháp không thật. Do nơi ánh sáng kiếp ban sơ thoạt nhiên vạn vật trống trơn; Thánh nhơn ngước lên là bậc thánh, cúi xuống thành phàm phu, là pháp Không.
Tóm
lại từ xưa nay bao hàm các pháp trong ba cơi, gọi
bằng vô số danh từ vẫn là pháp Không, tức
như huyễn hóa Không chẳng phải khoảng thời
gian: tương tục, đối đăi, vô định
pháp nhẫn như huyễn hóa, nên nói chẳng một
chẳng khác. V́ các pháp liên tục giả nên suy ra
rằng nhơn và pháp cả hai Không chưa có khả
năng thâm nhập, nên phải làm cho nhập Không mà sau
trở thành hoàn toàn. Như luận Chỉ Quán nói
luận về tính liên tục phải lấy trước
sau tiếp nối nhau không gián đoạn. Để xác
định một cái khác không phải là liên tục; chẳng
phải một chẳng phải khác đó mới gọi là
liên tục. Như mầm thân cây chẳng phải một
cái khác mà từ từ sanh trưởng, là cái giả liên
tục từ đó sinh ra vật khác. Nhất định
không thật pháp là pháp Không. Nhưng tương tục
cũng là giả, v́ hết thảy danh tướng nối
tiếp nhau, như năm sắc có - không cũng là bất
định liên tục. Cho nên lấy hai ư giải thích:
tướng đối đăi là tướng hợp nhau,
lại nói tướng ĺa đăi là tướng lánh xa nhau;
do lời nói nên không thành hai nghĩa như luận dẫn.
Ngoài ra pháp do duyên hợp thành giả cũng gọi từ
nhân sanh, do ngũ ấm, mười hai nhân duyên giả
hợp thành chúng sanh, nên phải đủ thời kỳ
nhân quả. Lời nói liên quan tới việc thấy
phải có đủ thời gian; thấy hợp với âm
cùng lúc. Do quán sát hiện tại đồng lúc là đủ
thời. Nếu suy xét quán sát là khác thời, cũng như
cây cột làm thành cái nhà là đồng thời, nhưng theo
thứ lớp là khác thời. Như 12 tiếng đồng
hồ có trước sau là khác thời mà cùng trong một
ngày là đồng thời; có thể ví ngọn đèn và ánh
sáng cũng vậy. Song lấy nhân quả t́m ra pháp thật
không thể được, đó toàn là không thật. Chúng
sanh ở trong hư dối không phải chân thật tức
là huyễn. Hư mà thật nên gọi là thật hư
dối; thật hư dối là không. Nếu Bồ Tát
thấy chúng sanh huyễn hóa như thế là nh́n theo cách
thông thường. Từ đây trở xuống hàng
thập trụ Bồ Tát khởi đầu là chỗ
thấy mà trong sự giáo hóa như thật hư dối,
nhưng thấy Bồ Tát giáo hóa chúng sanh có thật
để kết luận câu hỏi trên.
Tiếp theo phẩm giáo hóa nói về nhị đế. Nhị đế phân tích kỹ có hai ư nghĩa như sau: thứ nhất, lấy trong đối ngoài là nội hộ giữ ǵn bên trong có ba ư, đó là nhân quả, tự tha và y chánh báo nói chung; thứ nh́, lấy nhị đế đây đối nhị hộ ở trên khác nhau giữa năng và sở tức là khác chỗ thấy huyễn ở trước. Dựa theo chân tục không thể rơ biết hết nên tiếp dùng nhị đế để làm sáng tỏ.
Có thể nói nhị đế là tối quan trọng của lời Phật dạy, v́ theo gốc để nói Phật thuyết pháp thường dựa theo đó và suốt một đời để nói cũng chưa thể hết hai pháp nầy. Ngoài ra bảy pháp bao hàm cả nhị đế một đời Phật giáo hóa trong năm thời thuyết giáo cũng không hết, suy ra chỗ cùng tận, có pháp nào chẳng nằm trong chân tục đế ư? Nếu gượng bảo Có-Không là hoàn toàn không hiểu, chỉ có người nào biết rơ nguyên nhân Có-Không rốt ráo mới thấu rơ lư để phê b́nh chân lư; nhẫn đến có trải qua sự giáo hóa sâu cạn mới biết rơ nghĩa; có tiếp cận, có chia xẻ để biết thông tỏ, đây chính là việc khó. Luận về chân chính là lư; lư nhất chưa có làm ǵ có nhị; huống ǵ có nhiều loại khác? Cũng có thể nói rằng người phàm phu thấy cạn là tục, bậc Thánh thấy sâu là chân. Do vậy có thể nói chỉ v́ chân tục mà thành thứ tự pháp chung ở phẩm trước. Câu hỏi lặp lại làm cho rơ để nhấn mạnh nghĩa bất nhị. Trước kinh nêu hỏi nhị đế bất nhị (không hai), hay cũng hỏi trong thế tục đế có đệ nhất nghĩa đế không? V́ văn giản lược nói như vậy, như trên nêu đầy đủ. Như pháp Không xưa nay có hai cách hiểu : a) theo cựu dịch b) theo tân dịch tức là giải theo văn hiện đại. Căn cứ theo lư cách hiểu nào cũng vẫn có lư của nó và do vậy mà cả hai vẫn tồn tại. Do mới đầu dựa theo trí phàm thánh đối chiếu để nói, một phàm đối với một thánh là không c̣n nghĩa chân đế. Theo văn dịch hiện đại chân đế bao hàm cả trí thông đạt nên mỗi mỗi lời nói hữu-vô là chân đế; nói Không v.v... là trí hiểu biết, nên biết có thể dùng cả hai đều được. Ư hỏi cũng khó thấy rơ như bốn câu kệ sau:
Chỉ Không Một
chẳng phải khác là vậy
Nay đem chẳng một chẳng hai bàn luận
Tức là bát nhă trí
tuệ hiển hiện.
Đó là sự phê b́nh của các nhà học giả không thể nghĩ bàn được.
Bài kệ trả lời văn xuôi dẫn tích Ngài Nguyệt Quang do nhân xưa phải trả nên ở đây cần mượn bài kệ của bảy đức Phật quá khứ đă nói trả lời như trong phần giải thích. Không phải chỉ các tiết mục hợp lư, cũng không luận ở phẩm lượng nhiều ít; song dùng chân - tục nhị đế đi thẳng vào diệu lư Không để phân biệt. Chỉ một lời nói không đó là không tánh, không tướng, không tự, không tha, không hữu, không vô, không hai, chẳng hai, không tác giả, không tạo tác v.v... đều là Không cả. Lấy gốc Hữu để nói đệ nhất nghĩa pháp hữu tánh vốn có. Nhân duyên vốn sanh nên các pháp vốn có; hữu-vô vốn có, nhị đế vốn có, trăm pháp giả vốn có, không nhưng vốn có. Lấy Không nói đệ nhất nghĩa không, chân đế cũng không, tịch diệt không, nhị bất nhị cũng không. Giả dối như hoa đốm giữa hư không, như h́nh người có ba tay cũng đều không, nhẫn đến đệ nhất đế. Dùng Một đủ Một, dùng Hai đủ Hai, dùng Hữu có hữu, dùng Không đều không; cho phải là phải, cho trái là trái. Dùng tất cả tên riêng thuyết khác đều có thuyết khác đều có tên riêng, lấy lời thô nói ngọt đều có lời ngọt tiếng thô. Dùng mấy câu trong bài kệ trên nêu tổng quát chỗ lầm đó, hầu như không dung hợp được luận lư để làm cho rơ nghĩa, do ảnh hưởng trực tiếp tự tánh bát nhă, lư mầu vô cùng. Sau nói về hữu-vô gốc vốn hai là để trả lời câu hỏi trước. Trong ḍng đầu (bài kệ) giải h́nh như lầm vài ba chữ, ở đây lại cũng dùng bài kệ phối hợp giải thích. Hữu-Vô gốc có hai đó là lẽ tự nhiên như con trâu có hai sừng không thể thiếu một. Tâm giải thoát thấy không thể thiếu một. Tâm giải thoát thấy không hai, trong hai vẫn thấy không hai; mà thật không có hai. Nhị đế, thường chẳng sát gần; chẳng sát gần cũng chẳng ĺa nhau nhưng do trí hiểu rơ; muốn hai không ĺa nhau nhưng trí hiểu; muốn hai không thể được. Lại lấy lư che t́nh, nhị đế không phải một, rồi trở lại lấy trí soi lư biết hai cũng không hai. Chẳng phải hai làm sao có thể hiểu nó là một? Lư không ngăn trí nên lư thường là hai; trí không ngăn lư, trí cùng hiển bày, không một cũng không hai; hiểu rơ không hai đường, đó mới thật hiểu pháp bất nhị. Quan trọng biết không phải nghe, tức là nghe như thế, biết rơ thế tục đế trong hữu-vô. Như người ba tay, tuy chỉ có hai, nhưng nói ba thành không có việc đó; cũng như ngài Tịnh Danh (Duy Ma Cật) nói đại thứ năm, t́nh thứ bảy v.v... Đại Vương Bồ Tát là giải thích từ Bồ Tát theo nghĩa soi sáng nhị đế để hóa độ chúng sanh nên có hai ư: trước lược, sau giải rộng. Do cách giải trước không định một hai nên không tạo thành hai nghĩa hay một nghĩa. Trước giải lược đệ nhất nghĩa không, thường soi sáng nhị đế không ĺa chân trí mà hóa độ trong thế tục nên biết Phật và chúng sanh thường là một. Nhưng cho rằng chiếu tục là giáo hóa phàm phu, chiếu chân độ hàng nhị thừa. Dựa chỗ được soi sáng phân thành chân đế - tục đế mà không phải chân của năng chiếu cũng được giáo hóa. Nếu dùng chân vọng của năng chiếu, được giáo hóa chân-tục đều chân; năng hóa là chân, sở hóa (chúng sanh được giáo hóa) là vọng th́ chân tục đều tục. Văn mỗi ư không theo một tiêu chuẩn nhất định tại sao? V́ hai điểm sau: trước trưng dẫn lặp lại phần trên; sau giải rộng. Phần giải rộng có ba ư:
a) Năng-sở đối nhau để làm rơ pháp bất nhị nên nói Phật và chúng sanh chỉ là Một không hai. Chỉ v́ không hai nên đem chúng sanh không đặt nơi Bồ Đề không, tức sở hóa - năng hóa trở về không. V́ Bồ Đề không, chúng sanh không tức năng hóa trở về sở hóa. Đặt cũng chính là an trí các thứ để vào một nơi kín đáo như nước ném vào nước không hề hấn ǵ cả, không nhập không, vẫn hoàn không. Lại cũng nói do hết thảy pháp không nên không cũng không. Lời nói này có hai ư: nếu tiếp ư trên tóm kết phần trước năng hóa - sở hóa đồng nhất Không, lấy đó hợp nhau lại. Nếu tạo tác sau khi sanh là hết thảy các pháp không, cảnh không, không cũng không. Do cảnh không nên trí cũng không; cũng như do trí không nên cảnh không. Nên biết rằng bát nhă vô tướng, v́ vô tướng nên thể nó cũng không; cũng v́ Không vô tướng nên dù chân dù tục như hư không cũng không. Không trong vô minh là không tha tướng, cũng như hết thảy chủng trí là không tự tướng. Tạm không có tướng mà thấy đó là ai; người nhận đó là ai? Nhân quả ư? không mà có đó; thậm chí cho rằng ngũ nhăn thành tựu thấy chỗ không thấy Phật quả cũng không. Có thể nói ngũ nhăn đầy đủ là thành Bồ Tát như kinh dẫn cho thấy. Hành cũng chính là thực hành pháp bát nhă thâm diệu; hành hay không đều chẳng thọ; chẳng nhận cũng chẳng phải không thọ; không thọ là tự tánh bát nhă.
b) Dùng pháp nhiễm đối tịnh để phân biệt phiền năo, Bồ Đề giữa mê và ngộ, nhiễm và tịnh khác nhau nhưng ở đệ nhất nghĩa nguyên là một thể, không hai. Nhân khi chưa thành Phật tánh tịnh làm cho nhiễm; sau khi thành Phật chuyển mê thành ngộ mà kỳ thật không khác nhau, như đoạn trước lặp lại câu: "bạch Phật rằng..."
c) Nghĩa tương đối, cách tổng quát không đến từ các pháp không tướng mà có hữu-vô, làm thế nào Phật - Bồ Tát đạt thành mà không ĺa văn tự hành các pháp không tướng, lấy bát nhă giáo hóa chúng sanh. Nói hành các pháp không tướng nên nảy sanh một nghi vấn về Không. Có thể giải thích; nếu các pháp Không như nghi vấn lại sinh ra một chữ Pháp. Tiếp theo trả lời rằng pháp luân (xe pháp), bao gồm hết mười hai bộ kinh mà nói do một chữ Như không văn tự không ĺa văn tự. Chỉ v́ không ĺa nên pháp đều Như mà hành được pháp không tướng. Dùng tên 12 bộ kinh giải thích, căn cứ theo lư trước phải nêu rơ tiếng Phạn, giải dùng tiếng Trung Hoa. Ở đây ngược lại theo kinh giải cho tiện phải là câu. Như ví dụ thể kinh có giả có thật: danh-vị-cú là ba pháp giả; thanh sắc làm một có thật. Ba giả hiệp với một thật thành thể kinh. Thanh tuy chẳng đối nhưng trông hưởng ứng nên cũng gọi là quả. Khéo luận từ tuy không phải hay dở, nhưng v́ bàn pháp Không chẳng bàn hay dở nên cũng tạm chấp nhận. Luận đến chỗ rốt ráo cũng Không tức là ĺa. Trước nói vô định tánh cũng không; v́ Không nên hết thảy đều Như, là không chấp văn tự mà hành không tướng, nghĩa hàm súc như thế; cho nên nếu chấp văn tự không theo pháp Không; hiểu ngược lại không rơ ràng nhưng hành pháp Không không phải là pháp chánh quán. Nghi ngờ đó và ở đây không giống nên cũng chưa xác định được. Đại vương nói Như theo văn tự, lại nêu rơ nhơn hạnh các tướng, nhưng Như ở đây khác ư nói trước, Như phải hiểu như văn tự để biết trí mẫu của chư Phật hay sanh quả hiện tại, nên gọi là trí mẫu. Tánh gồm lư tánh, hạnh tánh khác nhau, đó cũng là căn bản tánh của hết thảy chúng sanh. Lư tánh tức là tánh thành trí, là thể của tát bà nhă - nhứt thiết chủng trí - nên dùng ba đời để nói phải đạt được tát bà nhă mà thật ra đó là một. Như bát nhă của tam thừa hạnh tánh là bổn tánh. Do dựa theo tam thừa hạnh tánh là bổn tánh, v́ dựa theo tam thừa hành một tánh thù thắng gọi là hạnh tánh, không sanh, không diệt mà tự tánh thường trụ. Lại cũng nói tất cả chúng sanh lấy đây làm tánh giác dùng tánh chung ngộ tánh riêng. Do trước nêu rơ lư tánh nên nói là căn bổn; c̣n đây do nơi thực hành nên gọi là tánh giác, đại khái không khác. Câu "Nếu Bồ Tát không thọ... tổng kết nói hành pháp không chẳng phải bát nhă, nhưng lại bàn về ba nghĩa hộ vệ ở trên. Nếu như vậy trong đó tránh khỏi có sự lầm lẫn nên ở đây xác định lại cho đúng. V́ tâm Bồ Tát không vướng đắm bên ngoài không cần văn tự; v́ không thọ nên không văn tự. Không văn tự chẳng phải là vô chữ nghĩa; văn tự tánh vốn ĺa tức ĺa chữ nghĩa. Luận Chỉ Quán nói rằng đạt văn không phải văn; không phải văn chẳng phải không văn c̣n văn nào biểu hiện? Cho nên nói ĺa văn tự là phi văn tự; văn nhiều chẳng phải l2 bộ. Tu chỗ vô tu, cũng như thí dụ trên hành là tu mà vô tu. Câu tu vô tu không giải thích rơ dễ lầm nên sửa văn tự đến độ khó hiểu. Làm sao cho văn đúng lư rơ dù có chút ít dị đồng cũng đâu có sao miễn hiểu tường tận là được.
"Lại
bạch Phật rằng..." để lặp lại
căn hành chúng sanh, hỏi pháp môn có một, hai hay nhiều
vô số? Giải có hai ư : a) theo như phần giải
căn là căn tánh, có bén nhạy chậm lụt khác nhau;
hành là chỗ tu sâu cạn không giống. Căn hành bị
động, pháp môn năng động. Kinh lấy cái
bị động từ tác động nêu nghi vấn
hỏi rằng pháp môn cũng có một, hai và nhiều vô
số ư? Câu trả lời hết thảy pháp là quán môn,
văn lược nói như vậy. Phải nói thế này:
hết thảy các pháp vốn chẳng một không hai mà do
quán môn nên có nhiều. Lại bắt buộc dùng quán từ
đế lư vốn chẳng một hai dùng đế quán
nên có hữu-vô, nhiều pháp do cảnh, quán do trí; Quán
cảnh hiện tướng do vậy khác nhau. Cũng nói
rằng hết thảy pháp chẳng phải ở
tương lai mà hiện rơ chẳng một chẳng hai. b)
Cũng không có các tướng cần phải hợp
với bốn câu: chẳng hữu tướng, chẳng vô
tướng, không phải chẳng hữu tướng,
không phải chẳng vô tướng. Văn lược c̣n
lại hai câu tùy theo đơn giản hay phức tạp
để luận. Câu trên nói gọn là vô tướng, câu
dưới phức tạp hơn nói hữu tướng.
Suy rộng mà nói không phải tất cả tướng là
thật tướng nên Bồ Tát chẳng thấy
tướng chúng sanh; chẳng thấy có một pháp hai pháp
có thể đạt. Nếu Bồ Tát c̣n thấy có
tướng chúng sanh, có một pháp hai pháp có thể
đạt được th́ chẳng thấy một hai
của đệ nhứt nghĩa đế. Cho nên cũng
nói rằng nhứt-nhị là đệ nhứt nghĩa
đế. Nhưng cũng nói hoặc Hữu hoặc Vô là
thế tục đế, phải xem giải chữ
kiến nơi bốn đế rơ hơn, c̣n nghĩa ở
đây rất giới hạn. Nay nói các pháp bổn
(gốc) dùng chân lư quán Có - Không từ ba đế mà gồm
hết thảy các pháp, nên gọi không đế tức là
Không, sắc đế là giả, tâm đế ở
giữa. Không chẳng phải tâm là ba cùng với phần
tŕnh bày rơ như: chân tục và trung đạo cùng hiện
hữu với tên khác. V́ chỗ rộng hẹp khác nhau
như trong cùng một nhà được truyền trao ba
pháp quán. Một nhà được truyền trao ba pháp quán,
thật ra tôn chỉ là một mà do giải thích nên có sự
- lư đầy đủ như thế. Đối với lư
không phải Vô là có nghĩa mà do chân tục phân biệt có ba
nên chưa thấy chỗ diệu của pháp này. Nay đem
chỗ diệu tŕnh bày cho thấy sự lư đầy
đủ viên măn, nhứt niệm hoàn toàn đạt
đến rốt ráo. Chỉ cần luận điểm
nhứt niệm này không khác, không có trước sau. Pháp
vốn tự nhiên khởi đầu chưa từng có
tăng giảm mà tựa hồ do nơi thiên chân diệu
tánh, trước sau bao hàm rơ ràng hiển nhiên như thế.
Một mặt đă quán pháp c̣n có thêm phần này làm ǵ? V́ sau
ba chân (ba sự thật chân chính) nêu rơ ba pháp giả, lại
dựa tôn chỉ của nhị đế để cho
thấy Không nên không ĺa sắc - tâm, Không chẳng phải
bát nhă, mỗi một căn hành chẳng do đây là ǵ?
Ấy là không xa sự thật, cho nên nói rằng chẳng
một, chẳng phải hai pháp. Ngoài ra phần giải
thích khác để tán thán lời Phật dạy khuyến
tấn hành tŕ v.v... xem các mục trên để biết
rơ.
Kinh lấy Hộ Quốc làm tên, giáo lấy pháp làm chính, đó là lư do lập nên phẩm này, nhưng hộ cũng có hai phần: nội hộ và ngoại hộ.
-
Nội hộ với mục đích hộ pháp c̣n phân ra
hộ quả, hộ nhân, hộ giáo, hộ chúng sanh v.v...
nói theo chân đế.
-
Ngoại hộ để ủng hộ người
lại có hộ quốc (ủng hộ đất
nước), hộ dân (ủng hộ dân chúng), hộ
nạn (cứu hộ các hoạn nạn) v.v... đó là nói
theo thế tục.
Tiếp
theo phẩm nhị đế lại có phẩm này, giải
có hai ư:
a)
Trước tiên, theo văn phân nội ngoại hộ
như trên đă giải rơ
b)
Giải đề mục lại phân làm hai: a) nếu dùng
từ trước phải giải từ "hộ"
và sau giải chữ "quốc". Ở đây theo
nghĩa nếu không phải trước hộ quốc làm
sao có thể giúp đỡ được, nên trước
hết nói về quốc thổ (đất nước) và
sau nêu lư do hộ quốc. b) Về thế gian có ba cơi mà phàm
phu, nhị thừa nương ở đó. Phàm phu bao
gồm người, trời mà không gồm bốn loài, v́
bốn loài không phải phần chính của hộ vệ.
Như dựa theo ư Phật chỗ nào lại chẳng thông
suốt rơ. Về xuất thế gian khắp cùng ba cơi, là
chỗ nương ở của bốn quả thánh; đây
tính từ thập tín đến thập địa, v́
dựa theo chỗ đoạn mê lầm ra khỏi cơi
tục. Hàng nhị thừa chưa dứt sạch mê
lầm nên kết buộc vẫn c̣n, do c̣n đang
ở trong dục giới. Ngoài ra hàng Bồ Tát cũng
chưa dứt mê lầm giống nhị thừa nên ở
đây lược bớt không nêu hết. Tiếp nói nguyên
nhân hộ quốc cũng có hai phần: giặc ngoài và trong
như trộm cắp, phiền năo kết chặc v.v... v́
để ngăn hai thế giặc ấy nên lập
nội ngoại hộ mới có năng và sở; năng
hộ là các loại quỉ thần ủng hộ mặt
ngoài; bát nhă- trí tuệ là nội hộ - (sở hộ)
giữ ǵn bên trong. Suy tận gốc để nói nhờ
thần lực hộ tŕ chư Thánh góp công đức, không
phải nhơn lực có khả năng làm được
như vậy, tất cả cũng do nơi con
người mà ra. Nên nói rằng, dù nội, ngoại hộ
phải dựa theo phần giáo quán sau để giải
thích. Quốc thổ được bảo vệ không
phải chỉ bốn là tứ phương mà người
bảo vệ quán các pháp có sanh, có diệt tùy theo pháp quán
riêng theo từng nghĩa cần phải biết. Nhờ
lực quán chiếu nên ba thứ mê lầm (tham-sân-si) không
khởi; ba mê lầm không khởi tứ phương
quốc độ an ổn và, kế nêu rơ trăm bộ
chúng như bách thần hộ vệ đất
nước, không theo kịp chánh là y báo. Điểm chính quan
trọng dùng trí tuệ duy tŕ chánh pháp cũng như
đất nước là chánh báo; ở một khía cạnh
nào đó ư nghĩa vẫn chung. Nhưng bảo vệ sinh mạng
c̣n tùy theo cách giải thích sao cho phù hợp như: "tôi
nay đang nói..." dựa theo lời thưa thỉnh
giải đáp. Nhưng giáo pháp sâu mầu nên trước
phải bảo vệ khi đất nước có loạn,
là chỉ chận cái ngọn mà không trừ tận gốc.
Luận việc trị quốc phải có thời gian
cũng như có chính sách trong mọi lúc hưng-suy. Có
thời gian để biết các biến chuyển xảy
ra, có chính sách đề pḥng ngăn chặn. Lúc đất
nước loạn mà sợ là họa nạn có khác ǵ? Có
thể đất nước không mất, nhưng do
bất an khó tránh khỏi hiểm nguy. Cũng như
người kêu lên: nguy thay, nguy thay! Lời kêu khẩn
cấp ấy báo động cho biết nạn gấp
sắp xảy đến. Nạn đây là cái hại
bị lửa cháy mà chỉ khi thật sự bị hại
mới biết hại của lửa cháy. Hẳn không
phải lửa của tam tai mà lửa của kiếp thiêu;
Lửa nói đây cũng thật là tinh tế, lửa
của tam độc (tham-sân-si). Nếu quả thật có
kiếp thiêu không thể nào trốn tránh được,
chỉ c̣n cách nhờ cứu hộ, c̣n việc pḥng bị
chưa chắc đủ hiệu quả. Nếu luận
đại hỏa tai khi bị thiêu đốt cơi ta đang
ở an ổn đây, tuy vậy lửa vẫn thiêu
rụi. Nghĩ tới đó phải thỉnh tượng
Phật tôn thờ trang nghiêm bảo vệ giáo pháp là
việc quan trọng. Thiết lập thờ tự đúng
theo qui cách lễ nghi như: 1) thỉnh một tôn
tượng thờ 2) mời số chúng tới dự
3) thỉnh thầy thuyết pháp 4) cúng dường Tam
Bảo 5) cúng dường pháp sư 6) mỗi ngày hai buổi
đọc tụng (giảng) kinh bát nhă 7) nên có chúng quỉ
thần thích nghe pháp nhóm đến nghe, nhờ đó hộ
vệ đất nước. Nhưng các điểm trên
đây cao quí nhất phải do ḷng thành thanh khiết
của chủ nhân mà không phải do một ai khác. Sau nói
về được che chở nạn có hai hạng:
người và thần. Nạn lửa có ba mà trong đó
phải kể tới trời, đất và những
sự quái dị. Cũng có thể nói trong nhơn nạn,
có thiên, địa nạn - ba linh quang - vốn không có
sự quái dị, mà do con người mất kiểm
soát nên cũng chính người lănh nạn. Như các tai
nạn nước, gió, lửa v.v... mỗi thứ theo
nghiệp tạo tác mà đưa lại kết quả. Làm
thế nào đem kinh này giảng mà có thể khỏi
nạn, đó cũng do đạo đức, có tu tập,
ở đây không bàn tới. V́ người khác thỉnh
vấn, v́ danh dự đem lời giáo huấn như có
người cho rằng "thiên thời không bằng
địa lợi; địa lợi không bằng nhơn
ḥa" th́ mầm họa của đất nước
ở đâu? Không thuận lẽ trời, không hợp
với đất, không ḥa với người là lẽ
đương nhiên nên phải lấy kinh này giảng
đạo lư. Am tường rơ manh mối thiên lư, sửa
đổi mối giềng nhơn luân đầy
đủ tam tài (thiên-địa-nhơn) làm ǵ có quốc
nạn? Lại nói rằng lănh vực dân cư không bị
cơi giới bao vây nên biết việc duy tŕ đất
nước nếu không phải tại ba mối kia là do
đâu? Điều này làm cho thiên hạ không đủ sức
thuận tin hướng về, trong quốc thổ bao
bọc bởi núi non hiểm trở, quân binh lợi
thế; như thế cần ǵ người đạt
đạo giúp sức thêm chỗ thật đạo
để cứu giúp? Chỉ lấy giáo dục bên trong giúp
sức hợp với đức trị mà c̣n
được hiệu quả như thế, huống ǵ
lấy trí tuệ trợ giúp công đức lớn
đến ngần nào! Sự an ổn không phải do
được cứu giúp c̣n nghi ngờ ǵ nữa? Do
đây suy luận lư thật dễ thấy, nhưng
người thiếu khả năng phải dốc một
ḷng tin toàn lực, cần nhờ người kinh nghiệm
giảng giải thêm. Kinh nêu rơ cách thức không phải
một, không những chỉ việc hộ quốc mà
cũng hộ phước, cứu nạn nữa v.v... v́
rằng hộ quốc chính là cứu nạn và đồng
thời cũng hộ dân; hộ phước để
cầu nguyện, tuy được đa số ủng
hộ, nhưng thật sự chỉ nhắm hai việc:
như trong cầu nguyện cũng có việc cầu trí
huệ sáng suốt đồng thời cũng cầu
phước báu. Đối lại trí bát nhă nói đây là thế
trí thuộc về phước. Người trong chín loài
muốn cầu phước báu giàu sang quan vị phải do
nơi chín phẩm quan. Lại nói rằng trải trăm
ṭa cao là phân biệt có chỗ giàu nghèo, nếu lấy kinh
này làm chuẩn việc giảng pháp là chính, tuy không rơ
chỗ hỏi cũng phải nói tới chỗ rốt ráo.
Như phân biệt giàu nghèo phải tùy khả năng hay
lực (nghiệp) của chính ta không bị trở
ngại. Dẫn tích xưa vua tên Đảnh Sanh qua hai giai
đoạn: sanh lên trời và hộ quốc 1) Lúc sanh
được tướng tốt trang nghiêm 2) Sau
đọa xuống làm quỉ dạ xoa trong
đường ác từ ḷng đất vọt ra.
Do
theo sự tích vua trời Đế Thích dựa kinh Nhân
Vương Hộ Quốc mà bảy đức Phật
thường nói pháp đề cập vua Đảnh Sanh bị
thoái tâm; v́ thoái tâm nên bị đọa. Song lúc mới sanh
được tướng hảo, Đảnh Sanh tin không
phải như người thường mà sau c̣n mắc
quả báo như thế, nên biết phước báo có lúc
cũng phải hết. Ví thử không do tuệ giác không
đủ sáng suốt để tin. "Lại này
đại vương..." dẫn bậc nhân
vương hộ thân, lại phân hai ư: a) nói rơ nạn duyên
như câu chuyện: Thiên La là cha Ban Túc, nhân trước kia
có cúng dường một vị tiên nhơn tu hạnh
nhẫn nhục. Do nguyện lực đó mà được
thoát khỏi kiếp loài quỉ vương la sát; sau đó
các quỉ la sát đề nghị thiết lễ hội
thí... Lúc bấy giờ vua Tu Đà theo đề nghị xưa
nên lập lễ hội. Lúc đó vào thời vua Phổ
Minh. b) Điểm chính lễ hội cứu nạn ghi trong
phần văn xuôi và kệ tụng. Căn cứ theo kinh
giải thích đưa ra bốn nghĩa: vô thường,
khổ, không, vô ngă cốt yếu nói pháp Tiểu thừa mà
không dùng pháp bát nhă. Song do người nghe đạt
được các pháp không - b́nh đẳng - tam muội
nếu không phải bát nhă là ǵ? Huống nữa một nhà
phê b́nh lại nói chưa quán xem các kinh mà đạt
đạo, tức biết ư riêng của lời thuyết
giáo, cũng như đă thông suốt những điểm
khác. Nghiệm xét không phải chỉ một mà xét các
tiết mục kinh mỗi ngày hai thời giảng
(đọc) bát nhă, mà ở đây nói trải qua tám ngh́n
ức kiếp (đọc giảng kinh bát nhă). Nên biết ư
kinh không hạn cuộc dùng mấy câu kệ phê phán; mà tŕnh
bày tu hành là cách giúp đạo lớn lao, gồm việc
khuyên người khác phát tâm rộng lớn, cũng như
không nhắm riêng Tiểu Thừa. V́ lợi ích qua kinh
nghiệm tu tập thuyết minh - tŕnh bày - rơ ư nghĩa. Quán
xét câu kệ nghĩa lư thấu đáo thuyết minh
những điểm khác thường. Nay ngoài chú giải
nhưng phải giải thích thêm; câu kệ 1 nói rằng:
"Thành, trụ, hoại, không mỗi thời kỳ có 20
tiểu kiếp . Đây nói về cuối kiếp
trước, bắt đầu kiếp sau là chung
điểm (chung cục). Về càn khôn sức mạnh là
càn; thuận theo là khôn; càn chỉ trời, khôn chỉ
đất nên lấy càn khôn gọi tên trời đất.
Do kiếp thiêu nên nước sôi sùng sục hang động
trống không, núi Tu Di, đại hải cho đến
chỗ tận cùng núi, biển, đất liền. Luận
về thế giới có thành, hoại do nghiệp báo chúng
sanh cảm vời như vậy nên con người phải
ch́m trong thời kỳ hoại diệt của ba tai.
Lại nói đến trời, rồng hết phước
trong thời kỳ tan hoại; hai loài tiêu biểu này c̣n
hết phước huống loài khác cần phải
biết. Mất là ch́m mất, tan ră trong hư không. Đó là câu
thứ nhất. Câu kệ 2 nói rằng: sanh, già, bịnh,
chết là bốn tướng trạng của con
người, chúng luôn luôn thay đổi không ngừng; dù
luân chuyển đổi thay song không biết đâu ngằn
mé (bờ bến). Ư nguyện con người vốn ham
ưa an lạc mà bốn tướng chỉ làm thêm khổ
đau. Cho nên tướng và nguyện trái nhau thành lo
buồn đưa tới tổn hại. Tai họa lớn
nhất là ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), có
thể kết luận rằng dục càng mạnh họa
càng sâu, và khổ do đó sanh ra càng nhiều. Nguyên nhân không
do bên ngoài như vết thương, như Trang Tử
đă nói rằng: "Sống là mang theo vết
thương ḷng băng bó; chết là quyết làm vỡ
toang ung nhọt", nên suy nghĩ lời nói nầy.
Chỉ v́ ba cơi đều ở trong ṿng luân hồi nên
rốt cuộc đều là khổ. Cơi nước làm sao
tin tưởng? Câu thứ 3 nói rằng, vạn hữu
gốc từ Không, cho nên bản chất chúng là không mà
thật ra vô hữu (không mà có) huống ǵ khởi đi
từ không không ư? Chỉ do nhân trong duyên ngoài ḥa hợp
sanh ra sáu đường do vậy mới thành lục
đạo. Do những từ ngữ như thạnh suy,
thật hư... đối đăi nhau mà tồn tại. Con
người có lúc thạnh măn nhưng không có lúc kiệt
quệ hay sao? Chúng sanh trong ba cơi vẫy vùng (cựa
động) như trong một cơn mộng chưa
hề có lúc được an lành. Như tiếng vang theo
hư không mà hiện không thật hữu, cơi quốc
độ h́nh thành cũng như thế.
Câu
thứ 4 nói rằng, người lấy thần thức
làm chủ tể gọi "thần ngă" nhưng vô h́nh;
mượn nương bốn đại ḥa hợp làm nhà
có thức ở trong đó. Luận về bốn
đại bản chất không ḥa hợp, cùng tàn hại
lẫn nhau; lại thêm bản chất thức năng
động, đâu có thể ở yên một chỗ ư?
V́ vô minh phiền năo bao vây nên không lấy làm khổ mà
lấy đó làm vui; tha hồ lao theo trong ngụp lặn vui
chơi không thấy mệt nhọc mà lấy đó làm
sức mạnh. H́nh vóc ch́u theo nội thể hoặc đi
nơi này chỗ kia vô định là căn nhà vô
thường; thức nương theo h́nh tồn tại
thành ra có sống hoặc chết là vô thường chủ.
Thậm chí h́nh thể không tự có lại cho đó là
thật; thần thức không tự sanh lại lấy
đó cho là thức. H́nh hài, thần thức c̣n ĺa nhau
huống ǵ núi sông, đất nước nương
sắc-tâm lại có thể tồn tại lâu
được ư? Đó chỉ là bề ngoài của
ngoại vật mà thôi.
Nói
lúc bấy giờ pháp sư (thầy giảng pháp), là
để xác định rơ thời gian và chúng nghe pháp
được lợi lạc. Thời gian thường có
bốn điểm (sáng, trưa, chiều, tối) mỗi
thời đều lợi lạc khác nhau, nói chung ngày có 6
thời không phải đều lợi lạc hết nên
ở đây không giải thích thêm.
Có thể nói rải hoa là một h́nh thức báo ân và là một cách cúng dường nghiêm túc. Bên trên nói hộ quốc là việc làm vô cùng cao thượng với ân đức sâu, cho nên tiếp theo, sau rải hoa cúng dường phải nhớ ân mà lo đền đáp. Người Thiên Trúc (Ấn Độ) phần nhiều lấy hoa bày tỏ sự cung kính. Chư Phật, chư Bồ Tát không như vậy, chỉ cần trang nghiêm thanh tịnh là đủ.
Dâng
lên bày tỏ ḷng thành kính mà hoa là kết quả của
việc làm đó; cúng để tự trang nghiêm và trang
nghiêm Phật, Bồ Tát. Dâng hoa cúng Phật chứng tỏ
do nhân đưa tới quả. Lời giải
chứng minh ba phẩm kệ Phật dạy khác nhau không
phát xuất từ sự mơ hồ mà luận về quá
khứ, hiện tại có khác, nhưng văn kinh phần
nhiều dựa theo nghĩa tất đàn dẫn sự
việc làm tâm ư hân hoan. Luận đúng sự thật,
những ǵ thánh nhân nói phàm phu khó biết hết
được, nên không thể luận một chiều
nhất định rơ được. Lại rải hoa
mang ba ư nghĩa: hai ư nói trên thuộc nhân và ư sau thuộc
quả, hoa vốn không phân ba. Tùy theo tâm thành người
dâng sâu cạn bày tỏ mà hoa được rải lên trên
ṭa ngồi, trên đài cao, trên bục, trên lọng...
cũng như tùy thứ bậc cao thấp. Ba thái
độ rải hoa đó biểu hiện theo cung cách
thứ lớp mà Bồ Tát Viên giáo đề cập trong
Biệt giáo, nên ở đây cũng không nói khác hơn. Dùng
Biệt giáo nói Viên giáo khó; lấy Viên nói Biệt giáo có ǵ
chẳng được? Phải nghiệm xét mới rơ
tường hơn. Phật dạy rơ, bảo thần thông
do sáng tạo mà bát nhă (trí tuệ) là một phần do
người tạo không giống nhau; bát nhă là mẹ chư
Phật, là Phật tướng sanh. Bát Nhă là mẹ Bồ
Tát, do quán chiếu sanh; bát nhă là văn tự, thần thông
sanh tức là giải thoát. Trong lúc Phật hiện thần
thông... câu này có hai ư: a) trước nêu danh chỉ rơ, nói
thần biến, do âm dương không thể đo
lường nên gọi là thần, b) lấy người
biểu lộ; như thần lực của Phật trong
đó cho thấy rơ 5 loại thần thông. V́ bổ sung nhau
mỗi phép đều dung thông khắp pháp giới. Nên
bản chất của ba đế là dung thông, dung thông nên
vô ngại, vô ngại nên nương nhau. Đây là yếu
tố hoàn toàn không thể nghĩ bàn. Tánh chất chúng do
nhất niệm, tức tâm là pháp, pháp là tâm. Tâm pháp cả
hai dung thông; pháp do tâm hiện. Đây là chỗ chư Phật, Bồ
Tát nhân đó chứng ngộ lư tánh, nên gọi là chân tánh
giải thoát bất tư ngh́; do tánh mà có không phải bên
ngoài. Kinh này nói lực thần túc nên tin hơn nghĩ
thần thông soi sáng. Cho nên trải qua vô số thân, hết
thảy thân không phải chỉ dừng lại ở
không-giả-trung nơi ba ngh́n cơi mà lực thần thông an
nhiên qua lại tự tại, là nói theo lư. Do đó nói
rằng không-trung đạo là lư nhập tướng; vi
diệu là tướng nhập tướng. Nếu không do
Không-trung đạo th́ không dung thông; không do cái diệu không
thể thấy một là tất cả, tất cả là
một Như Thị. Tuy nhiên, cần phải hiểu cho rơ
ràng; t́nh hại làm trái nghịch. Sau giải đáp các nghi
vấn. Như hiểu những ǵ bên trên kinh ghi nên ở
đây cũng không nêu nghi vấn. Do vậy không cần
phải giải thích nghi vấn theo bản cựu dịch.
Nếu theo bản tân dịch có hai ư:
1)
Nay hơn xưa bốn điểm: a) Nay hơn xưa mà
chỉ đoạt một bên; đoạt th́ hiểu mà
không cho biết nguyên do. b) Nay nói một cái Không là tất
cả đều không, hẳn pháp pháp Không-giả-trung không.
V́ các pháp không nên thể nó hư dối; thể hư
dối nên diệu, diệu nên dung nhập mà Đại,
Tiểu một, nhiều không bị trở ngại; đây
không do lư tánh hiển bày. c) Tuy nhiên, đây do hiểu
biết đặc biệt mà thôi, nếu mê lầm chưa
dứt do đâu được nhứt niệm
tương ưng để chân tánh phát hiện? d) Nên
lấy Không trừ tà kiến, tư hoặc v.v...
2)
Đây trong một cửa giáo môn soi sáng luận về tu, tánh trí,
đoạn, chứng nhập như thế, không như các
phái khác tự cho Mẫu (mẹ) hàm chứa cái bao la
rộng lớn.
Chư Phật v́ giáo pháp vô thượng mà hóa hiện vô số thần lực; Bồ Tát nhờ bát nhă (trí tuệ) nên làm nơi để chúng nương tựa. Bồ Tát Nguyệt Quang lại được thưa thỉnh cho thấy hiện thần thông. Bồ Tát khai mở tuệ giác v́ muốn hậu thế noi theo, nên nay có phẩm thọ tŕ này.
Thọ
tŕ giải thích có hai nghĩa mà quan trọng phải
thấy rơ ba thân Phật . Giải nêu ba ṿng vấn
đáp: ṿng đầu hỏi lấy ǵ để biết
được thấy ba thân Phật là ba thân?
Đáp: Lấy ba kinh mà biết
được.
Ṿng
nh́ hỏi: chính hai thân Phật không đồng nhau, văn
nói vốn vô vi, nhưng chỉ đầy đủ hóa
thân, hóa thân là chính. Nên nghi vấn Phật Xá Na là chính. Ngoài
ra, Giới kinh giải rơ hai ṿng: bổn (môn) tích (môn). Nay
ở đây lấy đức Phật Thích Ca làm gốc.
Lời nói tuy giống mà Phật với Phật không
giống. Cho nên câu trả lời kinh Phạm Vơng nêu rơ
Phật bổn môn và tích môn; v́ tích môn trong bổn môn, không
phải bổn môn vĩnh cửu. Khác chăng là ở kinh
này, dựa thể dụng để nói pháp thân là bổn
môn; ứng hóa thân là tích môn. Có thể nói bổn-tích dù
hơn kém vẫn một không thể nghĩ bàn. Ṿng ba
lấy phẩm Bảo Tháp (kinh Pháp Hoa) nêu nghi vấn. Do
phẩm kinh này chỉ rơ Phật Thích Ca là bổn môn phân thân
là tích môn nên nói như thế... Nói đồng là chỉ
một gốc không khác; c̣n khác là riêng có sự hơn kém v.v...
Tuy chỗ chỉ bày không giống mà cả hai thuyết, nói
về bát nhă, tuệ không đều là một. Lời
thưa thỉnh, trong câu trả lời có phần khai
đạo. Như câu sau khai mở về tuệ không; không
phải lấy không huệ bằng lời nói suông khai đạo
chúng sanh ư nghĩa khác nhau. Trong phần giải đáp
đưa ra 13 pháp quán, chú trọng đến công
đức nhẫn và lấy đó làm pháp khai mở tánh giác
cho chúng sanh. Lời giải chỉ nói khai không, c̣n ư nghĩa
rơ ràng là khai thông-mở tỏ. Cùng với câu
"đại mâu ni" ở trên ư nghĩa có khác, Phật
là đấng đại pháp vương, v́ ta khai mở
tuệ giác; pháp sư v́ ta truyền trao hiểu biết
(kiến thức). Pháp vương (Phật) là bậc
thầy dẫn đường cho ta; thầy dạy là
thiện tri thức cho ta y chỉ, tạo dựng nên
người, v́ thế phải cung dưỡng thầy
như Phật. Trong pháp nhẫn trên không đề cập
đến tịch nhẫn, v́ đây là lời do Phật
nói không phải tự ta nói, cũng như chỉ nêu lên cái
nhân để biết được quả, không nói hàng
Đẳng giác hợp với thập địa, nên chỉ
nêu 13 pháp nhẫn; thứ nhất là tập chủng tánh
như đă giải rơ lấy từ tập nhẫn
trở về trước. Giải nêu phần kém phần
hơn nằm ở vấn nạn thành ra sợ chưa
bảo đảm. Nay giải trực tiếp mà có tiến
thoái, do hàng sơ cơ đạo tâm mỏng cạn như
chiếc lông nhẹ lao theo chiều gió bất định.
Dù trải qua mười ngàn kiếp như vẫn khó
hiểu; nên đối chiếu câu giải thích sau hẳn
rơ. Chư Bồ Tát dù trải qua nhiều kiếp tu hành,
không phải chẳng lâu dài chưa măn một a tăng
kỳ kiếp đầu tiên. Dù đang ở nhẫn
vị nhưng không phải đă vào hẳn nên cũng
thường học pháp phục nhẫn mà không sống
đạo lâu nên không thể gọi là người tu
định. C̣n như gọi người tu định
phải lấy cả pháp và nhơn làm hiển định.
Nghĩa lư rơ ràng, nếu như xoay đúng một vài từ
là hiểu được ngay. Thứ nh́ tánh chủng tánh
như phần bốn niệm xứ nói rơ, đó vốn là
pháp quán Tiểu Thừa. Ở đây dựa theo sự tu
hành của Biệt-Viên giáo; về thực hành tuy giới
hạn nhưng lư quán thường chung nhất. Giải
từ vô định tướng, v́ ngă-pháp tướng
trạng chỗ trụ vô định. Đây là lời thật
chí lư vậy. Cớ sao người đời nay lại
nói xác định đâu đă đúng sao? Ngoài ra, cũng nói
không có tự tướng không tha tướng, gồm chung
tánh tướng, v́ vô ngă, không tự, tha nên thể tánh không,
tướng trên tướng cũng vô tướng không.
Nhưng nói rằng phải giữ pháp không quán, v́ nếu
chẳng được ḷng người sợ rơi tà
kiến nên phải giữ ǵn. Thứ ba đạo
chủng tánh quán hết thảy pháp không sanh diệt là quán
chung; quán ngũ ấm v.v... là quán riêng, nhưng tâm
thường nhập đệ nhất nghĩa, quán pháp
ngộ nhập. Tuy tâm được vắng lặng,
nhưng vẫn c̣n thọ sanh nên phải tự tu
để thoát ra. Nói bị nhiễm là ái kiến vẫn c̣n
tiềm phục nên ở đây nói có khác lời giải
thích thường. Nay xét vô minh là năng huân, ái kiến là
sở huân hay có thể nói khác ái kiến là năng huân,
chỗ biết là sở huân; mỗi lănh vực tùy đó có
khác nhau. Thứ tư về vô vi có hai h́nh thức như
trong kinh giải thích ở phần đệ nhất
nghĩa đế tạo thành ba pháp vô vi, phần này
cần luận giải riêng. Kinh này luận danh
tướng tiểu giáo mới nêu lời này, theo nghĩa
giống mà lời lại không giới hạn như kinh nêu
ví dụ. Vô tự tướng, đó chính là thật trí ĺa
tướng, là trí phương tiện hiện tiền.
Gọi thật tướng phương tiện tức là
phương tiện của thật tướng. Nên nơi
đệ nhất nghĩa đế không mất chẳng
hiện v.v... đó là sáu pháp phương tiện, nhưng
thật trí là tướng ẩn hiện tức là chẳng
phải, chẳng ĺa, chẳng buộc, chẳng
mở, vi diệu không tăng giảm, như kinh lặp
đi lặp lại nhiều lần. Trước hết
nói giác-trí nhấn mạnh điểm giống điểm
khác của như trí; ví dụ như nước và sóng không
phải một cũng chẳng khác để ví trí
phương tiện cũng như thế. Ngoài ra, trí cùng
khắp tất cả hạnh, cùng với thật trí không
phải một cũng chẳng khác; cho chí nói không có
nghiệp sanh ba cơi nên được tự tại vô
ngại. Nhẫn đến nói cơi Phật thanh tịnh do
biến hóa sanh cũng lại như thế, nhưng nêu thí
dụ chỉ rơ điểm trái v́ sợ lầm lẫn.
Phải nói rơ tánh cũng có nghĩa là không phải một
cũng chẳng khác mà rơ ràng.
Tam
Tạng kinh điển mà Ngài Tịnh Danh gọi là bốn
bảo tạng nhưng không sai ư nghĩa chung. Thứ
năm về pháp sư không có giải thích nào khác, chỉ
nói rơ diệt cái điên đảo ba cơi lược nêu
điểm khác, kể cả dẫn kinh Pháp Hoa chỉ
phần Thật giáo. Thứ sáu, lục độ phiên
dịch là cập bến, v́ 6 pháp mỗi pháp có bờ mé
để đạt đến bờ bên kia nên gọi
như thế. Thứ bảy ví như ngọn lửa
bốc cháy nên dịch âm là trí chướng. Vị trí
bị che lấp tai nghe khác đi nên dịch là
chướng. Nhưng soi sáng có năng và sở; bị
che là chướng, không bị che là trí. Nay nói soi sáng
không bị ngăn che đó chẳng phải trí là ǵ? Ở
đây dịch âm trí mẫu không phải dịch đúng,
cũng chỉ dựa nghĩa để nói cho tiện thôi.
Nói Tu Đà Hoàn là mượn nhỏ nêu lớn, do đó
mượn quả chứng nhỏ nói đến pháp
đoạn dứt, lưu - thấy ḍng pháp lưu, lấy
danh đại pháp đoạn dứt kiến chấp mê
lầm. Như 13 pháp quán Không chẳng phải là đại
hạnh, Không nương mượn quả vị làm ǵ có
tên? Nhưng cũng nói đó là ư Biệt giáo lồng vào Thông
giáo, v́ lấy chỗ đoạn chấp của Biệt
giáo nhập với kiến địa của Thông giáo, nên
phải nương quả vị tiếp tục. Năm tướng
không có trong nội đạo luận nói về năm
loại chủng tướng, nhưng luận rằng Ngă
là một trong nhứt thiết trí đoạn dứt
gốc nghi ba cơi mà diệt ngă tướng là bỏ kiến
chấp của ngoại đạo. Luận rằng,
chỗ biết mà biết đó là đạo hiện bày,
c̣n đâu không là cửa giải thoát? Chỗ biết đó
bị chướng ngại không hiện rơ làm sao thích
hợp mà không bị trở ngại đạo ư? Thông
chỗ bị tắt nghẽn do con người chứ
không phải do pháp. Phiền năo là nguyên nhân; căn cứ
theo đó để luận nghiệp cũng là nhân tố
vô cùng lợi hại. Nay đối riêng cái khổ
để luận nên chỉ có phiền năo là tập nhân;
tập là tập họp tích tụ các nghiệp lại
với nhau. Trong tĩnh thức quán chiếu tâm, tâm vắng
lặng không c̣n các tướng. Cứ theo giải thích
sự hợp tác tạo vắng lặng là tướng.
Tướng vốn do tâm, tâm do tướng khởi. Tâm
đă vắng lặng, tướng do đâu sanh? Huống
ǵ c̣n tâm tâm tướng tướng nữa sao? Lấy
chỗ dụng không c̣n các tướng, do đó dùng tâm chuyên
chở các phương tiện không chỗ nào tướng
tồn tại. Sống đơn giản nơi vô trụ,
không có nơi nào không vắng lặng an nhiên. Cho nên ở
chỗ có mà tu Không, chỗ Không mà thường hóa
độ ấy mới là song chiếu cả hai hữu-vô
đều vắng lặng vô ngại; tâm tâm, tướng
tướng thảy đều dứt sạch. Giải có
thêm một số từ ngữ như diệt tâm, diệt
tướng, không, bất khả v.v... để giải
thích. Giải chung, riêng nghĩa ba con mắt pháp thấy rơ
tất cả mà kinh giải thích tam muội là lầm.
Cũng có thể nói pháp nhăn thấy tất cả pháp
Bồ Tát cũng giả, tam nhăn thấy sắc quán
không; nhị nhăn là nhục nhăn và thiên nhăn chỉ thấy
sắc, huệ nhăn thấy không, nên gọi là sắc, không
kiến. Văn đặc biệt đảo ngược
không nói Phật nhăn, v́ đối với quả nầy,
Kinh không đề cập tới chỗ thấy phải hiểu
như thế. Như cảnh chỉ một mà thấy qua
tam Nhăn đều do một ư này mà ra. Cũng nhân con mắt
thấy rơ tam đế qua ngũ nhăn, dựa theo giáo nghĩa
có nói đầy đủ trong kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa.
Nhưng dùng vấn đáp làm sáng tỏ Phật nhăn có
được không? Kinh này lấy chỗ rơ chỉ do nhân,
đây nói theo thông thường phải phân tích rơ không
cần quan tâm hai con mắt c̣n lại.
Đoạn
kế, nói rơ pháp tịch diệt nhẫn: "lại
nữa, quán Phật, chư Bồ Tát ..." tức
luận về tịch diệt nhẫn, chính là phẩm
vị tối cao nên quán Phật. V́ pháp tịch diệt
nhẫn có ba: a) Biệt giáo chỉ mới tương
đương thập địa. b) Nếu nh́n sang
Đẳng - Diệu giác đây chỉ mới là phẩm
hạ. c) Xa hơn Viên giáo do c̣n sót lại một phần vô
minh nên phải quán Phật làm gia tăng đạo lực
nhập vào phẩm vị; phải tự tu nhẫn,
đảnh và thiền định (tam muội). Dựa theo
chú giải để giải thích do tu đạt sâu
cạn khác nhau mà phân thành 5 vị: phục đoạn, tín
kiến, đốn tiệm, thường bất
thường, đẳng vô đẳng v.v... tùy mỗi
vị giải thích không khỏi có chỗ tiểu dị.
Kinh xử dụng hai chữ "Năng" sợ lầm
lẫn nên phải giải thích: 1) Phục đoạn:
như đă nói từ nhẫn đến đảnh
gọi là phục; phục trước đoạn sau
đều y cứ theo chỗ luận rộng, có nghĩa
là trên đảnh của người đă chế phục
2) Tín kiến : v́ tin tưởng tuy đoạn mê hoặc
sanh trí nhưng không phải chứng trí, nên không gọi
kiến; v́ có kiến (thấy) mới đạt
được trí. Do vậy để biết những ǵ
muốn biết là nhắm chỗ không biết như kinh
nói. 3) Đốn tiệm (mau chậm) chỉ Phật hiểu
ngay không gọi là tin; nếu nói tin phải là người
hiểu chậm 4) Thường bất thường: v́
trong giai đoạn tiệm-phục (nhẫn) th́ huệ có
khởi diệt; có khởi diệt là bất thường.
5) Đẳng vô đẳng: v́ thường nên hay so sánh mà so
sánh phải có năng-sở chưa là vô đẳng; so sánh
của so sánh là không so sánh như thí dụ sau đây.
Chẳng hạn lên cao thấy rơ hết mọi vật mà
những vật bên dưới không vật nào chẳng
thấy cả. Ư nghĩa nói đây cũng như thế, có
nghĩa là đạt đến vị Bà Dà Độ là vị cực cao nhờ
đủ tánh đức cũng như quá tŕnh tu tập,
nên gọi thọ tu. V́ vậy trong phần khuyến
tấn Phật không nhắc tứ chúng mà chỉ giao các
vị quốc vương. Do quốc vương mới
đủ sức mạnh đảm đương
được nhiều việc trọng đại,
kể cả cúng dường nhiều ít; trừ lực nhà
vua không ai đương nổi. Trong phần này
đặc biệt đề cập hai ư nghĩa, nếu
nói đủ phải nhiều hơn mới sâu rộng.
Như kinh Niết Bàn phẩm Phó Chúc chư quốc
vương, đại thần cũng cùng ư nghĩa,
nhưng phẩm An Lạc dạy chớ thân cận,
nhưng nói đây là để hộ pháp, nhắc nhở
sự hành tŕ. Bảy sự khó căn cứ theo kinh
phải đến từ một tiếng "sợ",
v́ sợ nên cần giới răn. Trong phần tán
dương khuyến tu lấy ba kinh Bát Nhă hợp nhau
giải thích như vẫn nói về tất cả tâm
thức chúng sanh. Tâm thức theo thứ lớp phân ra năm
gốc khác nhau: a) Người lấy thức làm gốc b)
Thức lấy tâm làm gốc c) Tâm lấy thần làm
gốc d) Thần lấy bát nhă (trí tuệ) làm gốc e) Bát
nhă lấy pháp thân làm gốc. Do vậy đây lấy
thần thức chúng sanh làm gốc, mà tất cả
quốc vương là cha mẹ. Cũng theo thứ tự
phân biệt năm lănh vực hay sanh thức là: a) lư sanh
hiểu b) hiểu sanh trí c) trí hay lập đức d)
đức có thể thành thánh e) v́ thế đây gọi vua
là cha mẹ, cũng gọi là thần phù hộ. Gọi
bằng sáu danh xưng như Văn Tự Bát Nhă, lấy ba
đức trong đó có đức giải thoát. Chỉ có
bát nhă tức là giải thoát nên gọi đó là thần
đức diệu dụng bên trong. V́ do công năng mà
được nên cũng gọi là thần phù hộ,
chỉ thần ấn chứng; được ấn
chứng nên trừ ác giữ ǵn điều lành. Thần phù
(bùa chú) không thích hợp nhưng có lợi nên cũng
gọi là tích quỉ châu, vua các loài quỉ thần tà ác. Nó
làm cho tai họa năo loạn không sanh nên cũng gọi là
ngọc như ư. Loại ngọc chính do tinh khí của loài
Kim Súy Điểu vương tạo thành nên có thể mưa
xuống đủ các thứ báu không ngớt. Gọi đó
là Như Ư Bảo hay cũng là Hộ Quốc Châu (ngọc
hộ quốc). Là do tác dụng của ngọc,
trước sau mỗi cạnh soi khắp 12 thừa giáo.
Người nào giữ được viên ngọc này
đất nước không bị xâm lăng tổn
hại; dự đoán được thời tiết bốn
mùa nên cũng gọi là kiếng soi nhật nguyệt. Có
thể soi chiếu mọi vật, như lấy trời
đất làm gương soi làm điểm tựa
chiếu không. Do tâm của Thánh nhân thanh tịnh đối
với trời đất là gương phản chiếu
vạn vật. Gọi đó là Long Bảo thần
vương, hợp với hai cách hiểu, nhưng cùng
một nghĩa. Chỉ Phật hiểu đó là thần
hộ pháp, có đủ đức hộ tŕ. Nếu
hiểu theo nghĩa khác là món báu thần của vua loài
rồng đủ thần lực vô giá. Món châu này có thể
ủng hộ Phật pháp và duy tŕ đất nước.
Ở đây dùng hai nghĩa để luận bậc luân
vương ra đời có món ngọc thần hộ
vệ thích hợp đó. Lấy mắt ghi nhận ư
nghĩa hiểu không phóng đại. Biểu hiện cúng
dường pháp nên tạo 9 sắc cờ, đốc
suất lấy 95 cấp làm số; ngoại giáo đa
phần lấy âm dương phân chia số; không phải
như ư đây. Kinh này để trang nghiêm nên lấy 9
nơi trong 9 đường thuyết minh, cũng có
nghĩa là lấy vọng hiển chân, mỗi mỗi
số đều có giải thích rơ. Con số một ngh́n
đèn chỉ 10 điều thiện cũng như dùng hai
món ngọc sương, ngọc cân. Cân là chiếc
khăn dùng để phụng hiến món pháp bảo
bát nhă. Bậc minh vương lúc đi, đứng
đều tôn kính bát nhă. Ở đây nói "giá
đầu" là thấy sử tích tăng, hành nghi đáng
khảo cứu mà hậu thế không biết điển
tích. Thật đáng tiếc kẻ không hiểu nên cần
giải thích nguyên do như trong kinh. Ôi thôi! làm sao không tin
lời như thế! Ví như lời đắc ư không có
nên phải có phần phó chúc này. Phó chúc cho ba thành phần
như: quốc vương, đại thần, bốn
chúng đệ tử, nhưng ở đây Phật không giao
cho chúng đệ tử mà chỉ giao cho quốc
vương, tại sao?
Đáp
nghi vấn này cũng có 3 ư: 1) đất nước gặp
loạn, trừ vua không ai cử binh đánh dẹp. 2) công
cuộc kiến thiết rộng lớn đất
nước nếu không do vua không ai làm được 3)
công đức tạo dựng do tin Phật pháp nếu không
phải vua ai có thể thực hiện nổi? Nhưng
phải đồng ḷng từ vua đến quần
thần nhất loạt rồi sau mới thi hành, cho nên
đây Phật cũng giao cho các quốc vương
đại thần trách nhiệm trọng đại.
Trước
hết xác minh rơ Phật giáo hóa thời gian hữu hạn
80 năm như kinh giải thích cũng chưa rơ ràng, v́
thế cũng có nghi vấn. Ở đây không luận
tại sao như vậy mà chỉ nói tuần tự
đại khái như luận Cô Khởi. V́ 80 năm
đầu là thời kỳ đầu của chánh
pháp. Trải qua thời gian Phật nhập diệt ở
thế gian không có Phật. Đến 800 năm sau chánh pháp là
thời tượng pháp, sau thời kỳ này là thời
mạt pháp. Tà pháp gia tăng nhanh dùng tà đoạt chánh là
thời kỳ Phật pháp không c̣n nữa; đó là vào
khoảng 8000 năm sau thời kỳ cuối cùng mạt
pháp.
Lúc
bấy giờ h́nh bóng giống như tỳ kheo cũng
không c̣n nên không có tăng sĩ. Thời kỳ này Phật
Pháp Tăng bảo hoàn toàn diệt mất không c̣n một
mảy may. Như Lai v́ thế ân cần tha thiết trao cho
các vị quốc vương, răn dạy nhắc khuyên
bốn chúng hoằng dương Phật Pháp, hộ tŕ tam
bảo khiến không bị đoạn diệt; cũng làm
cho chúng sanh hiểu được Tuệ bát nhă là hành
hạnh thánh hiền; tu mười điều thiện là
trở lại cơi người, trời. Đây lời dạy
trong ba tạng giáo pháp hoàn toàn rơ ràng. Sở dĩ giữ
giới bàn luân thường làm cho pháp thân huệ mạng
của Phật được tồn tại ở
đời, là ư chính vậy. Về đời ngũ
trược , lúc đức Phật
đối trước vua Nguyệt Quang nói rộng 7
lời dạy bảo: 1) Giáo pháp hoại diệt 2) bốn
chúng tan ră 3) cấm không y pháp 4) tự hủy ḿnh 5)
đi sứ 6) tự tạo lỗi lầm 7) tin sai
nhầm. Thứ tự giải như sau: V́ giáo pháp diệt
nên bốn chúng tan ră. Đă không pháp nương tựa th́
phi pháp hoành hành; do phi pháp nên pháp phải hủy diệt, v́
không có khả năng đứng vững tồn tại.
C̣n riêng việc đi sứ là theo mệnh lệnh phải
nghe theo. Nói theo nghĩa bóng đây là hai chúng xuất gia và
tại gia v́ chưa thoát khỏi sự giao hảo nên
đáp ứng. Đến như đệ tử xuất gia v́
cầu danh lợi nơi vua quan nên nói pháp chế
luật chẳng kiêng phải trái. Nghe sai nên việc làm trái,
đời mạt pháp bẩn nhơ khiến như
thế, làm che mất phong cách con người chân thật.
Lỗi lầm ai tạo hướng theo đường
tà? Ôi thôi! Nghe bảy lời dạy bảo ấy mà không
động ḷng trắc ẩn hay sao?
Dịch xong ngày mồng 6 tháng
10 năm Nhâm Ngọ.
Pháp Bảo Tự ngày 12 tháng 11
năm 2002
Tỳ kheo Thích
Bảo Lạc
Bốn quả: là bốn thánh quả của
Thanh Văn: a- Tu Đà Hoàn: nhập lưu hay dự lưu:
mới dự vào ḍng Thánh; Tư Đà Hàm: dịch là Nhứt
Lai: c̣n trở lại một lần sanh tử nữa
mới được giải thoát rốt ráo; c- A Na Hàm:
dịch là bất lai hay bất hoàn: không c̣n trở lại
nhân gian nữa; d- A La Hán, dịch là vô sanh: được
giải thoát hoàn toàn ra khỏi sanh tử.
Kiến hoặc, tư hoặc: sai lầm
về quan điểm hay kiến chấp lệch lạc
không đúng; tư hoặc: sự mê lầm tiềm tàng
nơi tâm thức rất khó diệt trừ do bốn món
phiền năo gốc tham, sân, si và mạn gây nên. V́ bốn
phiền năo này khi ta sinh ra đă có sẵn rồi, nên
gọi chúng là câu sanh phiền năo hay câu sanh hoặc. Câu sanh
là đồng thời sanh ra, vừa lọt ḷng mẹ
đă có tiềm tàng, nên c̣n gọi là bẩm sinh. Chúng ràng
buộc và chi phối, sai khiến dẫn lôi người
nên cũng gọi là kiết sử, tức ràng buộc hay
trói buộc và sai khiến hoặc chi phối.
Thập địa: mười địa
vị của hàng Đại Thừa Bồ Tát tu chứng. Đó
là: 1) hoan hỷ, 2) ly cấu (ĺa hết mọi nhiễm
uế), 3) phát quang, 4) diệm huệ, 5) cực nan
thắng, 6) hiện tiền, 7) viễn hành, 8) bất
động địa, 9) thiện huệ, 10) pháp vân.
Tam muội: cũng gọi là tam ma địa hay
tam ma đề (sammadhi), Trung Hoa dịch là chỉ quán,
thiền định, đại định, giải thoát.
Tu thiền đạt đến tŕnh độ cao, thân tâm
hành giả không giao động mà ĺa hết mọi sự
rối loạn, tà mị. Chư Phật, Bồ tát, A La Hán
đạt được pháp định sâu này.
Lợi căn, độn căn: lợi là
sắc bén nhanh lẹ, độn là chậm lụt, tŕ
trệ. Người lợi căn là người gặp
việc phản ứng mau lẹ, nhanh chóng, tốt;
độn căn là căn tánh si ám, mù mờ quyết
định không sáng suốt rơ ràng.
Thập trí: mười trí hiểu biết theo như Tiểu thừa là: 1- Thế tục trí: trí thông thường 2- Pháp trí: trí hiểu bốn chân lư, 3- Loại trí: ở hai cơi: thượng (trời) 4,5,6,7 Khổ trí: trí hiểu biết bốn chân lư chung, riêng ở cơi trời và cơi thấp hơn. 8- Tha tâm trí: biết tâm niệm người khác 9- Tận trí: trí biết hết niềm tin đời trước của ḿnh nên cũng gọi là tự tín trí 10- Vô sanh trí: trí giải thoát - Niết bàn tự tại (theo Câu Xá luận q.26). Thập trí theo Đại Thừa là 1-Trí biết khắp ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai 2- Phật trí 3- Trí biết khắp không ngăn ngại 4- Trí biết khắp vô số các cơi pháp giới 5- Trí biết trọn vẹn đầy đủ 6- Trí biết khắp cơi thế gian 7- Trí kiểm soát được các thế giới 8- Trí biết khắp tất cả chúng sanh 9- trí biết cùng các pháp 10- Trí biết hết thảy chư Phật. (theo kinh Hoa Nghiêm q.16)
Chấp đoạn, chấp thường:
(đoạn kiến, thường kiến): cho rằng loài
hữu t́nh sau khi chết mất hẳn là chấp
đoạn. Ngược lại cho thân tâm c̣n hoài bất
diệt là thường kiến. Cả hai lối chấp
đều sai lầm, tai hại cho tiến tŕnh tu tập
giải thoát.
Vô học: bốn thánh quả hàng Thanh Văn, ba quả trước là hữu học. Quả A La Hán thứ tư Vô học. Công hạnh viên dung không c̣n phải học nữa.
Tam thừa: ba cổ xe chuyên chở đạo giải thoát là: Thanh Văn (Tu quán pháp Tứ Đế), Duyên Giác (tu quán pháp 12 nhân duyên) và Bồ Tát ( tu pháp Lục Độ)
Tùy cơ: tùy tŕnh độ căn cơ đem pháp chuyển hóa độ chúng sanh.
Thật trí: thông đạt về thực
tướng của các pháp, đó là thực trí của
Như Lai, c̣n quyền trí của Phật thông đạt
về các loại sai biệt. Thực trí là thể, c̣n
Quyền trí là Dụng. Bản thể của Như Lai thành
Phật là do thực trí, c̣n diệu dụng giáo hóa ở
đời là do quyền trí
Phương tiện trí: hay c̣n gọi là
quyền trí (xem chú thích 11) thông đạt về pháp
phương tiện, hành phương tiện.
Nhị thừa: giáo pháp được ví như cổ xe chở người đến được quả địa gọi là Thừa. Đó là: 1/ Thanh Văn thừa: nghe thanh giáo của đức Phật, quán tứ đế mà đoạn trừ được phiền năo 2/ Duyên Giác thừa: quán pháp 12 nhân duyên mà sinh Không trí, nhờ đó đoạn trừ phiền năo.
Ngũ nhăn: năm loại mắt pháp tính từ
phàm phu đến chư Phật là: 1) Nhục nhăn: mắt
của thân xác phàm. 2) Thiên nhăn: mắt của chư thiên cơi
sắc hay mắt của những người tu thiền
đạt được. 3) Huệ nhăn: mắt của
hàng Thanh văn và Duyên giác đă đắc đạo,
nhờ trí tuệ quán chiếu chân không vô tướng
của vạn hữu vũ trụ. 4) Pháp nhăn: mắt trí
tuệ của hàng Bồ Tát; v́ phát nguyện cứu
độ chúng sanh nên quán tất cả đều là pháp. 5)
Phật nhăn: mắt của Phật nh́n khắp cả 3000
đại thiên thế giới. Chư Phật đạt
được đầy đủ ngũ nhăn.
Tam minh: 3 trí biết pháp rơ ràng phân minh hay trí
nhận biết rơ mọi sự mọi vật. Đó là: 1) Túc
mạng minh: biết rơ tự thân, tha thân trong đời
trước của ḿnh. 2) Thiên nhăn minh: biết
tướng sanh tử đời vị lai của tự
thân và tha thân. 3) Lậu tận minh: biết khổ
tướng hiện tại, đoạn mọi phiền
năo (đoạn dứt phiền năo (lậu). Như thế
Tam Minh chính là Túc Mạng thông, Thiên Nhăn thông và Lậu Tận
thông trong lục thông.
Thập lực: chỉ mười lực
về trí đức của Như Lai, đó là:
1- Trí lực biết sự vật nào là có
đạo lư hay phi đạo lư
2- biết rơ nhân quả nghiệp báo ba
đời của tất cả chúng sanh
3- biết các Thiền định, tám giải
thoát, ba tam muội
4- biết rơ tâm tánh của tất cả chúng
sanh
5- biết mọi loại trí giải của
tất cả chúng sanh
6- biết khắp và đúng thực các cảnh
giới khác nhau của chúng sanh
7- biết hết các đạo mà người
tu hành đạt tới.
8- thấy biết sanh tử nghiệp thiện
ác của chúng sanh không bị ngăn ngại
9- biết đời trước của chúng
sanh, rơ về Niết Bàn.
10- biết rơ như thực đối với
mọi tàn dư tập khí, đoạn dứt hẳn
chẳng sinh (Luận Trí Độ q.25 và Luận Câu Xá q.29)
Bốn vô lượng tâm: bốn tâm từ
rộng lượng bao dung là:
1- Từ vô lượng: ban sự an vui
đến với mọi người, mọi loài
2- Bi vô lượng: đem đến
người và vật sự lợi lạc dứt khổ
3- Hỷ vô lượng: ḷng hoan hỷ thân
cận trong mọi hoàn cảnh, trường hợp.
4- Xă vô lượng: tâm xă rộng dung mọi dị biệt với hết thảy chúng sanh
Pháp giới: pháp giới có nhiều nghĩa, có sự có lư. Pháp là vạn pháp, giới là cơi; cơi pháp giới rộng lớn bao hàm là về sự. Hoa Nghiêm chủ trương lư tánh chơn như là pháp giới, cũng gọi là chơn như pháp tánh, thực tướng, thực tế.
Năng - sở: năng là người tác
động; sở là kẻ bị động; năng là
chủ động, sở là đối tác bị
động. Câu năng lễ, sỡ lễ: chỉ
người đang lạy là ta, đức Phật
được lễ lạy là sở (lễ)
Đốn giáo: giáo pháp nhanh chóng chứng đắc
Phật quả, thành tựu Bồ Đề giải thoát
gọi là đốn giáo. Đối với hạng người
căn cơ nhanh nhẹn ngay từ đầu Phật nói
thẳng pháp Đại Thừa là ngộ được
ngay.
A La Hán dịch có 3 nghĩa: ứng cúng (thọ
của trời, người cúng dường, sát tặc
(diệt giặc phiền năo), vô sanh (không thọ sanh
lại nữa)
Tích môn: chỉ việc đức Phật Thích
Ca sau khi thành đạo thuyết pháp cho tới hội Pháp
Hoa, những điều thuyết trong các kinh suốt 49
năm mà Tam thừa pháp là phương tiện; Nhất
thừa pháp là chân thật. Đó là sự khai quyền hiển
thực về giáo lư. Bộ kinh Pháp Hoa gồm có 28 phẩm,
14 phẩm đầu là phần Tự, Chính, Lưu Thông
của Tích Môn; 14 phẩm sau thuộc Bổn Môn.
Chỉ quán: chấm dứt (chỉ), quán xét làm dứt hết vọng niệm trong pháp Thiền quán Samatha, Vipassana, đ́nh chỉ ở đế lư bất động.
Chủng trí: tức nhứt thiết chủng
trí của Phật. Trí Phật biết hết thảy
mọi pháp nên thường cuối lời phục
nguyện có câu: "nhứt thiết chúng sanh đồng
thành chủng trí" (Hết thảy chúng sanh đồng
đạt thành Phật trí)
Pháp thân: chân thân của Phật, là một trong 3
thân. Thân này duy chỉ chân như trong pháp giới thanh
tịnh. Chân như này có đầy đủ công
đức chân thường, là chỗ sở y của
hết thảy các pháp công đức hữu vi và vô vi.
Tam ma địa: cũng gọi là Tam muội, có nhiều tên gọi, theo luận Thập Địa gọi đó là tam trị, căn cứ vào chướng đă đoạn mà gọi tên. Tam muội này có hai loại: hữu lậu và vô lậu. Hữu lậu định gọi là tam tam muội, vô lậu định là tam giải thoát môn.
Bốn thiện căn: theo ba tông: Câu Xá, Thành
Thật, Pháp Tướng quan niệm có khác nhau. Đó là sự
tu hành kiến đạo cũng gọi là tứ gia
hạnh vị: Noăn, đảnh, nhẫn, thế đệ
nhất. Theo luận Câu Xá: 1/ noăn pháp: sinh từ hậu
niệm của tổng tướng niệm trụ có 3
phẩm: thượng, trung, hạ đều quán
đủ bốn thánh đế khổ, tập v.v... Noăn là
tiền tướng của Thánh hỏa. Thánh hỏa ví
với vô lậu trí kiến đạo. Tiền
tướng của kiến hỏa sắp sinh là vị
hơi có triệu chứng ám áp (Noăn). 2/ Đảnh pháp:
thiện pháp được sinh ra từ hậu niệm
của Thượng phẩm Noăn pháp, cũng có 3 phẩm:
hạ, trung, thượng đều quán đủ tứ
đế, tu 16 hành tướng. Đảnh ví với
đỉnh núi. Đỉnh núi ở ranh giới giữa hai ngă
tiến và thoái. Hoặc tiến lên nhẫn vị, không c̣n
bị thoái đọa nữa; hoặc thoái xuống ở
Noăn vị, hoặc có gây nghiệp vô gián đọa vào
địa ngục. ( Ở lưng chừng giữa
tiến và thoái như vậy nên ví với đỉnh núi.
Đỉnh cũng là đỉnh đầu của
người). 3/ Nhẫn: thiện căn sinh ở hậu
niệm của đảnh pháp gọi là Nhẫn pháp
cũng có 3 phẩm: Hạ nhẫn quán đủ bốn
đế, tu 16 hành tướng như trên. Ở vị này
không đọa vào 3 đường ác nữa. Trung nhẫn
do đó mà diệt dần đế sở (bị) duyên, diệt
hành tướng năng duyên, tới cực độ th́
lưu thuộc ở một hành tướng khổ
của khổ đế dục giới: đó gọi là
giảm duyên, giảm hành. Thượng nhẫn quán một
hành tướng khổ của khổ đế
trước đây c̣n sót lại. Nên vị của
thượng nhẫn chỉ là trong khoảng thời gian
một sát na. Đến vị này ắt không c̣n thoái
đọa nhẫn pháp, hơn nữa không đọa
đường ác. 4/ thế đệ nhất: là thiện
căn sinh ở hậu niệm của Nhẫn pháp. Đó là
một sát na nên không có 3 phẩm thượng, trung, hạ
giống như thượng nhẫn quán hành tướng
khổ của khổ đế. Gọi thế là v́ pháp
hữu lậu thế gian. Trong pháp hữu lậu, không có
pháp nào vượt qua được quán trí này. Xem đó là
pháp tối thắng, nên gọi là thế đệ
nhất, cũng ở trong một sát na. Vị này không gián
đoạn ắt sinh vô lậu trí nhập vào kiến
đạo, chân chính chứng ngộ thắng đế là
thánh giả mà ĺa sự sinh của kẻ phàm phu.
Thế đệ nhất: gia hạnh thứ
tư trong bốn loại gia hạnh. Đó là mức cao
nhất của hữu lậu trí, là nhất trong thế
tục pháp, nên gọi là thế đệ nhất.
Đạo tràng: nơi trang nghiêm giảng kinh,
thuyết pháp, nơi tu tập hành lễ cho nhiều
người tham dự để tăng trưởng
đạo tâm, thực hành thiện pháp.
Ngũ dục: năm món ham muốn làm cho con
người phải lao đao lận đận trong
đời sống là: 1/ của cải (tài sản, tiền
tài) 2/ sắc 3/ danh 4/ ăn uống 5/ ngủ nghỉ
Y báo: hoàn cảnh sinh sống của ta như gia đ́nh, nhà cửa, công ăn việc làm, chế độ chính trị... Nói chung, tất cả mọi phương tiện trang bị cho đời sống.
Hoa tạng: là thế giới hay cơi Tịnh
Độ của chư Phật trong báo thân các Ngài
Tứ thiên vương: là ngoại tướng
của trời Đế Thích. Lưng chừng núi Tu Di, có
một ngọn núi là La Kiền Đà La. Núi này có 4 đầu,
bốn vị Thiên vương mỗi vị ở
mỗi đầu bảo hộ cho một cơi thiên
hạ, v́ thế mà gọi là Hộ quốc tứ thiên
vương. Đó là cơi trời thứ nhất của lục
dục thiên, là cảnh đầu tiên của Thiên Xứ. Tứ
Thiên Vương là: 1- Phương đông: Tŕ Quốc Thiên
2- Nam: Tăng Trưởng Thiên 3- Tây: Quảng Mục Thiên
4- Bắc: Đa Văn Thiên.
Thập hiệu Như Lai: Phật đủ mười hiệu là: 1- Như Lai 2- Ứng Cúng 3- Chánh Biến Tri 4- Minh Hạnh Túc 5- Thiện Thệ 6- Thế Gian Giải 7- Vô Thượng Sĩ 8- Điều Ngự Trượng Phu 9- Thiên Nhơn sư 10- Phật Thế Tôn.
Đoạn đức: Là một trong ba đức tự lợi lợi tha của chư Phật: 1) Trí đức: dứt sạch hết vô tri đủ vô thượng Bồ Đề 2) Đoạn đức: đoạn hết phiền năo có dư vô thượng Niết Bàn (hai đức này thuộc về tự lợi). 3) Ân đức: có dư đức đại bi cứu giúp tất cả chúng sanh. Đó là đức lợi tha đem lợi lạc cho người khác, mọi loài.
Chân đế tam tạng: Thiền sư,
người nước Ưu Thiền Ni - Tây Ấn
Độ. Năm Đại Đồng thứ 13 đời
Lương, Ngài hơn 30 tuổi sang Trung Quốc
được vua Vũ Đế tri ngộ. Sau gặp
quốc nạn bỏ sang Bắc Tề, rồi sang Đông
Ngụy, trong lúc lưu lạc bôn ba, Ngài đă soạn
thuật phiên dịch các bộ kinh Kim Quang Minh, Luận
Nhiếp Đại Thừa, luận Duy Thức và Thế
Thân truyện gồm 278 quyển. Ngài viên tịch ngày 11 tháng
1 năm Đại Kiến thứ nhất, thọ 71
tuổi.
Tam chuyển pháp luân: ba lần đức Phật chuyển pháp luân. Phật giảng pháp Tứ Diệu Đế cho hàng Thanh Văn tại vườn Lộc Uyển có ba lần chuyển: 1- Thị chuyển: Đây là Khổ. Đây là Tập. Đây là Diệt. Đây là Đạo. Đây là chỉ rơ bốn tướng của Tứ đế 2- Khuyến chuyển: Khổ nên biết. Tập nên đoạn. Diệt nên chứng. Đạo nên tu. Đó là khuyên tu về Tứ đế. 3- Chứng chuyển: Khổ ta đă biết. Tập ta đă đoạn. Diệt ta đă chứng. Đạo ta đă tu. Đó là Phật tự nêu ḿnh ra để làm chứng. Hạng thượng căn nhờ Phật chuyển pháp lần thứ nhất, Hạng trung căn nhờ Phật chuyển pháp lần thứ hai, hạng hạ căn nhờ Phật chuyển pháp lần thứ ba và tất cả đều ngộ đạo.
Bốn kinh A hàm: bốn bộ kinh thuộc
tiểu bộ là: Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A
Hàm, Tăng Nhất A Hàm.
Trụ Lăng Già: Lăng Già là tên núi ở nước Sư Tử. Núi lấy tên ngọc báu Lăng Già để gọi, có nghĩa là hiểm trở vô cùng khó mà lên được. Đức Phật trụ ở núi đó thuyết kinh.
Tứ tất đàn: bốn pháp phổ thí cho chúng sanh, nên gọi là tất đàn hay cũng gọi là bốn pháp thành tựu: 1- Thế giới tất đàn 2- Vị nhân tất đàn 3- Đối trị tất đàn 4- Đệ nhất nghĩa tất đàn. Trong 4 nghĩa tất đàn bao quát hết 12 bộ kinh, tám vạn bốn ngàn pháp tạng, đều là thực tướng không trái ngược nhau (theo Luận Trí Độ q.1)
Vô tướng: chỉ chân lư dứt
tướng trạng, một trong ba pháp ấn: Không, Vô
tướng, Vô nguyện (vô tác) đạt đến
Niết Bàn giải thoát.
Vô duyên: không có quan hệ ràng buộc. Không có
sự vin theo của tâm thức. Nói cách khác là không duyên theo
với các pháp nhiễm thế tục.
Pháp tánh: cũng gọi là thực tướng chơn như, pháp giới, Niết Bàn v.v... Tánh hay tính là nói về thể, cái thể không đổi. Chân như là thể của muôn pháp; trong nhơ, sạch ở loài hữu t́nh, ở loài phi t́nh, tánh nó không thay đổi nên gọi là pháp tánh.
Nhất thiết trí: tức là Phật trí,
biết rơ hết thảy mọi pháp. Cho nên gọi Phật
là bậc nhứt thiết hay nhứt thiết chủng trí,
tiếng phạn là Tát Bà Nhă. Trí của bậc Thánh biết
tất cả các cơi thế giới, chúng sanh, biết
tất cả các pháp hữu vi, vô vi, biết tất cả
mọi việc quá khứ, hiện tại và vị lai.
Bốn đức: tức là bốn đức
của Niết Bàn: chân thường - chân lạc - chân ngă -
chân tịnh. Chân thường hay là Thường
đức: thể của Niết bàn là vĩnh hằng,
bất biến và không sanh diệt nên gọi là
Thường; Lạc, Ngă, Tịnh cái thể cũng
vắng lặng giải thoát, hoàn toàn an lạc không c̣n
bị nhiễm ô chi phối.
Bát phong: Tám gió hay c̣n gọi tám pháp là những thứ mà thế gian yêu hay ghét. Tám thứ này làm lay động được ḷng người như:1- lợi, 2- suy, 3- hủy (chê), 4- dự (khen) 5- xưng (ca ngợi) 6- cơ (chế nhạo), 7- khổ, 8- lạc.
Sáu căn, sáu trần: sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư căn; sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần. Căn tiếp xúc với trần sinh ra thức (nhận thức, phân biệt). Ví dụ: mắt tiếp xúc sắc phân biệt, nhận định rơ mọi vật xung quanh.
Đệ nhứt nghĩa: tức có nghĩa là
đệ nhứt nghĩa đế, là chân lư có nghĩa
bậc nhất, Phật Pháp có phân hai mặt: 1- tục
đế là pháp thế gian nên cũng gọi là thế
đế để hàng phàm phu tu học thuộc về
pháp hữu vi; 2- chân đế là pháp xuất thế gian
để cho hàng thánh giả hay người xuất gia xét
nét, ghi tâm. Do ư nghĩa cao siêu huyền diệu nên gọi là
đệ nhứt nghĩa đế hay cũng gọi là
thắng nghĩa đế.
Bốn loài chúng sanh: tất cả chủng
loại chúng sanh có t́nh thức đều nằm trong 4 loài:
thai sanh, noăn sanh, thấp sanh, hóa sanh. 1- thai sanh: loài sanh
bằng bào thai 2- noăn sanh: loài đẻ trứng 3- thấp
sanh: loài sanh nơi ẩm thấp 4- hoá sanh: loài biến
hóa h́nh như bướm, muỗi, lăng quăng
v.v...
Năm đường: hay 5 cơi chúng sanh lưu chuyển: trời, nguời, a tu la, ngạ quỉ, súc sanh.
Ngũ ấm: c̣n gọi là ngũ uẩn;
uẩn hay ấm là tích tụ, chứa nhóm, ḥa hợp
tạo thành thân tâm của chúng sanh. Năm món này che lấp
chân lư khiến chúng sanh luân hồi thọ khổ. Đó là
sắc, thọ, tưởng, hành, thức
1- Sắc: cũng tức là thân, những vật
hữu h́nh tạo thành bởi sáu căn và sáu trần.
2- Thọ: thọ nhận mọi thứ vui
sướng hoặc buồn khổ, hay không vui không
khổ.
3- Tưởng: nhận ra màu sắc, chủng
loại, tánh phái ...
4- Hành: đối cảnh vật đem ḷng ham
muốn
5- Thức: hiểu biết sự vật,
nhận định đúng sai ...
Pháp tánh: c̣n gọi là thực tướng
chơn như, pháp giới, Niết Bàn. Cái thể của
vạn pháp ở loài hữu t́nh, phi t́nh, tính nó không
đổi gọi là pháp tánh.
Tùy phiền năo: phiền năo phụ thuộc
của tham, sân, si, mạn như ăn năn, chừa
lỗi, t́m ṭi, xét nét . . .
Thập nhị nhập: hay c̣n gọi là thập
nhị xứ. Nhập tức là vào, xứ là nơi,
chỗ. Đó là sáu căn: nhăn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ư
tiếp xúcsáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp để phân biệt màu sắc tốt, xấu
v.v...
Thập bát giới: mười tám giới gồm 6 căn, 6 trần như trên giải thích và 6 thức: nhăn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ư thức, tức là cái biết của mỗi căn phân biệt ngoại cảnh đúng sai ra sao.
Sáu đại: gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Sáu pháp này đầy dẫy khắp tất cả pháp giới tạo nên loài hữu t́nh hay phi t́nh. Nên gọi là đại, v́ phi t́nh do ngũ đại tạo thành, c̣n hữu t́nh do lục đại tạo thành.
Vô lượng kiếp: trải qua nhiều đời, nhiều kiếp không thể tính hết được
Thất bảo: bảy món quí báu như: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mă năo.
Tát Bà Nhă: c̣n gọi là Tát Vân Nhă. Dịch là
Nhứt Thiết Trí. Tát Bà Nhă c̣n gọi là nhứt thiết
chủng trí, tức là trí tuệ quả vị rốt ráo
viên măn của chư Phật; chủng là chủng loại,
có nghĩa là chẳng pháp nào là không thông đạt. V́ vô
số phẩm loại thế gian và xuất thế gian
đều hiểu suốt cho nên gọi là nhứt
thiết chủng trí.
Ba pháp vô vi: vô vi có nghĩa là không sanh diệt,
không biến đổi. Đây là 3 trong 6 pháp vô vi theo Duy
Thức.
1- Hư không vô vi: chơn như hay pháp tánh, không
thể dùng ư thức suy nghĩ hay lời luận bàn
được. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không
cấu tịnh, không tăng giảm. Bởi v́ không ngă, không
pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư
không.
2- Trạch diệt vô vi: do dùng trí tuệ vô
lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm
ô, nên chơn như vô vi mới hiện. V́ thế nên
gọi là trạch diệt vô vi
3- Phi trạch diệt vô vi: vô vi không cần
lựa chọn diệt trừ các phiền năo. Tánh chơn
như vốn thanh tịnh; các pháp hữu vi tạp
nhiễm, v́ thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi
được hiện. Gọi đó là "phi trạch
diệt vô vi" (tu chứng đệ tam thiền
đạt được ba pháp vô vi này)
Năm pháp nhẫn: 1/ Phục nhẫn 2/ Tính
nhẫn 3/ Thuận nhẫn 4/ Vô sinh nhẫn 5/ Tịch
diệt nhẫn
Sáu chủng tánh: 6 giống có thể sanh sản thân phận không thay đổi là: 1/ Tập chủng tánh: ở địa vị thập trụ tu tập pháp không quán, phá bỏ mê lầm về kiến thức và về tư tưởng. 2/ Tánh chủng tánh: ở thập hạnh trụ nơi pháp không, giáo hóa được chúng sanh, phân biệt hết thảy pháp tánh. 3/ Đạo chủng tánh: ở địa vị thập hồi hướng, tu diệu quán trung đạo, nhân đó thông đạt hết thảy Phật Pháp. 4/ Thánh chủng tánh: trở lên ba bực trên gọi là Hiền. Hiền vị nương theo Thập địa của Bồ Tát tu pháp diệu quán trung đạo, phá một phần vô minh, chứng nhập địa vị Thánh. 5/ Đẳng giác tánh: ở địa vị này Bồ Tát trông mong được diệu giác về sau, chỉ c̣n có một bậc nữa, nhưng cao hơn bốn địa vị trước. 6/ Diệu giác tánh: địa vị linh diệu cao hơn hết, giác ngộ trọn vẹn.
Thập hồi hướng: mười tâm
đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh gọi là
hồi hướng. Đó là: 1- Cứu hộ tất cả
chúng ĺa tướng chúng sanh. 2- Hồi hướng bất
hoại 3- Hồi hướng tâm đồng như chư
Phật 4- Hồi hướng đến khắp mọi
nơi chốn. 5- Hồi hướng vô tận công
đức cho tất cả 6- Hồi hướng theo
thiện căn b́nh đẳng 7- Tùy theo quán chúng sanh hồi
hướng 8- Hồi hướng chân như tướng
9- Hồi hướng giải thoát không trói buộc 10-
Hồi hướng đến vô lượng pháp
giới.
Thập kiên tâm: 10 tâm kiên cố, mười tâm
không hoại hay 10 tâm Kim Cang đó là: 1- hiểu rơ pháp tánh 2-
hóa độ chúng sanh 3- trang nghiêm thế giới 4-
thiện căn hồi hướng 5-phụng sự
đại sư 6- thực chứng cao pháp 7- rộng
tu nhẫn nhục 8- trường kỳ tu hành 9- tự hành
đầy đủ 10- khiến thân nhân măn nguyện.
Tứ nhiếp pháp: bốn pháp nhiếp hóa chúng
sanh. Đó là: 1/ Bố thí: Bố thí có 3 h́nh thức: a) của
cải b) giáo pháp c) ban sự không sợ sệt đến
người, vật. 2/ Ái ngữ: nói lời ḥa diệu thân
thương trong tinh thần xây dựng để đem
tin yêu, lợi lạc đến người, vật khác.
3/ Lợi hành: làm việc lành bằng thân, khẩu, ư giúp ích
cho chúng sanh. 4/ Đồng sự: cùng làm trong một ngành
nghề, cùng chia xẻ kinh nghiệm với nhau. Ở
một góc cạnh khác, dùng pháp nhăn thấy căn tánh
của chúng sanh, bèn tùy sở thích của họ mà phân h́nh thị
hiện ra, để làm chung công việc với họ, giúp
đỡ cho họ thân ái với ḿnh mà thọ giáo lư.
Vi tế hoặc: phiền năo chi li khó thấy.
Những bậc trí tuệ sắc bén, phiền năo thô trọng
đă hết, nhưng c̣n nhiễm những mối phiền
năo tế.
Vô duyên đại bi: ḷng từ bi chỉ có
ở chư Phật. Đó là ḷng từ bi tuyệt đối
b́nh đẳng khởi lên nhờ kiến giải xa ĺa sai
biệt và không tâm phân biệt. Hàng phàm phu và nhị thừa
không thể có được như vậy.
Tứ ma: bốn loại ma 1- Ma phiền năo
2- Ngũ ấm ma 3- Ma ba tuần hay thiên ma và 4- Tử
ma (ma chết chỉ là một trong các loài ma).
Thất Phật: bảy vị Phật là 1-
Tỳ Bà Thi 2- Thi Khí 3- Tỳ Xá Phù 4- Câu Lưu Tôn 5- Câu Na Hàm
Mâu Ni 6- Phật Ca Diếp 7- Phật Thích Ca Mâu Ni (đó là 7
vị Phật trong hiền kiếp). Bảy vị Phật
thời Quá Khứ Trang Nghiêm kiếp là: 1- Đa Bảo Như
Lai 2- Bảo Thắng 3- Diệu Sắc Thân 4- Quảng Bác
Thân 5- Ly Bố Úy 6- Cam Lồ Vương 7- A Di Đà Như
Lai.
Do tuần: đọc là do diên hoặc du thiên hay
du thiên na hoặc yojana, tên số mục để đo
lường của Ấn Độ thời xưa. Một do
tuần bằng 10 dặm (lư) của Tàu mà một dặm
bằng 576m th́ một do tuần tương
đương 6km.
Đại sĩ: tiếng gọi chung Bồ Tát,
hoặc để gọi Thanh Văn và Phật. Sĩ là
từ chỉ chung hạng phàm phu, để phân biệt
với phàm phu nên gọi là Đại. Người làm việc
trọng đại lợi lạc khắp mọi loài
chúng sanh là Đại Sĩ hay Khai Sĩ.
Thập thánh: Ba địa trước trong
Thập địa là tam hiền, 10 vị trong thập
địa là Thập Thánh
Quán đảnh: bên Ấn Độ khi một
vị tân vương lên ngôi th́ vị trưởng
thượng trong tôn giáo dùng nước bốn biển mà
rưới lên đầu của vị tân vương ban
phép lành. Ấy là phép quán đảnh. Do đó, đệ
tử được truyền giới, truyền pháp,
truyền Phật quả đều có lễ rưới
nước lên đỉnh đầu gọi là lễ quán
đảnh.
Huân tập: các hành vi thiện, ác, biểu
hiện nơi thân, khẩu, ư, thức như xông
hương vào quần áo. Hiện ra ở thân, miệng, ư
gọi là pháp hiện hành. Khi phân ra ở chân như
hoặc A lại Da Thức của pháp hiện hành,
gọi là huân tập.
Sáu loài hay sáu đạo: thiên, nhơn, a tu la,
địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh.
Tám bộ chúng: Đó là: 1- Càn Thát Bà 2- Tỳ Xá Xà 3-
Cưu Bàn Trà 4- Tiết Lệ Đa (Ngạ quỉ) 5- Loài
rồng 6- Phú Đan Na (quỉ hôi hám) 7- Dạ xoa (quỉ
dũng kiện) 8- Quỉ La Sát.
12 bộ kinh hay 12 phần giáo là: Trường
hàng hay kinh thể văn xuôi 2/ Trùng tụng: thể văn
vần hay thể kệ 3/ Thọ kư 4/ Cô khởi: bài kệ
không lặp lại nghĩa của trường hàng mà là
những kệ tự lập ư nghĩa riêng 5/ Vô vấn
tự thuyết: Phật tự nói không có ai thỉnh
thưa như kinh Pháp Hoa phẩm Phương Tiện 6/
Nhơn Duyên: như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói duyên khởi
của Phật Đại Thông Trí Thắng 7/ Thí Dụ 8/ Bổn
sự: mô tả việc các thế giới trước kia
của chư Phật 9/ Bổn sanh: việc thọ sanh
về những đời quá khứ 10/ Phương
quảng: nói rơ thật tướng Trung Đạo. 11/ Vị
tằng hữu: pháp lạ chưa từng nghe. 12/ Luận
nghị : vấn đáp giữa Phật và các đệ
tử.
Tam tai: Ba tai họa lớn là hỏa tai (tai
nạn lửa dữ), thủy tai (nạn ngập lụt,
hồng thủy) và phong tai (gió băo). Đó là đại tam tai,
c̣n cách giải thích khác thuộc tiểu tam tai như: 1-
đao binh (chém giết nhau) 2- ôn dịch (bịnh dịch)
3- cơ cẩn (nạn đói).
Tiểu kiếp: kiếp sống tăng
giảm số tuổi. Theo luận Câu Xá, con người
thọ mạng cao nhất là 84,000 tuổi. Sau đó cứ
qua 100 năm lại giảm một tuổi, giảm cho
tới khi người chỉ c̣n 10 tuổi. Đó gọi
là giai đoạn giảm kiếp. Sau đó bắt đầu
giai đoạn tăng kiếp. Qua 100 năm tăng 1
tuổi, cho đến khi đạt tới mức thọ
mạng cao nhất là 84,000 tuổi. Rồi một giai
đoạn giảm kiếp khác lại bắt đầu.
Một giảm kiếp cộng với một tăng
kiếp gọi là tiểu kiếp.
Ba thân Phật: Phật có đủ ba thân là: báo
thân, ứng thân và pháp thân. 1/ Báo thân là thân hiện hữu
của Phật, chỉ các bậc Thánh mới tiếp xúc
được. 2/ Ứng thân c̣n gọi hóa thân, thân ứng
hiện của Phật tùy loại chúng sanh mà
được tiếp xúc, giáo hóa. 3/ Pháp thân là chân thân,
tự tánh sáng suốt trong lặng của Phật.
Bà Già Độ: cũng gọi là Bà Già Phạm, Bạc Già Phạm, Bạc A Phạm, Bà Già Bạn là một trong các danh hiệu của chư Phật. Theo Phật Địa luận phân tích có sáu nghĩa: Tự Tại, Thịnh Vượng, Đoan Nghiêm, Xứng Danh, Cát Tường, Tôn Quí. Trí Độ luận phân biệt bốn nghĩa: có công đức, khéo phân biệt, có thanh danh, có thể phá phiền năo; có nghĩa là Phật.
Ngũ trược: năm thứ uế bẩn
không tinh sạch.
Đó
là: kiếp trược, kiến trược, phiền năo
trược, chúng sanh trược, mạng trược
1. Kiếp trược: tuổi thọ
giảm dần theo kiếp số, và con người
phải chịu đựng mọi phiền năo trong
thời gian thọ thân này. Kiếp tăng, con người
thọ đến 84,000 tuổi và kiếp giảm xuống
c̣n 10 tuổi.
2. Kiến trược: nhận
định thấy biết sai lầm, kể cả
kiến chấp lệch lạc dù bằng mắt hay suy
nghĩ tà vạy nên tạo nhiều điều tội
lỗi, xấu ác.
3. Phiền năo trược: những
việc bất như ư gây buồn phiền, hờn
giận, ganh ghét, thù oán v.v... làm tổn hại ḿnh và
người.
4. Chúng sanh trược: chúng sanh có nhiều loại mang thân h́nh xấu xí dị kỳ, tanh hôi, vi, vảy, sừng lông; có hai chân, 4 chân, nhiều chân hoặc không chân.
5. Mạng trược: mạng
sống ngắn ngủi như sợi chỉ mành treo chuông;
chỉ cần một cơn gió nhẹ là chỉ
đứt, mạng sống kết liễu trong tích
tắc.
--- o0o ---
Vi tính: Giác Anh ; Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật: 7-2003