Trên
truyền thanh truyền hình, ta thường thấy các nhà sản xuất
quảng cáo là các món điểm tâm cereal của họ đã được tăng
cường đầy đủ các sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần. Rồi
những nước uống thể thao (sports drinks) cũng khoe là chứa
nhiều sinh tố khoáng chất có thể giúp vận động viên biểu
diễn bền bỉ, mạnh mẽ hơn.
Vậy thì các chất
này là gì mà được nhấn mạnh như vậy. Chắc là quý độc giả đã
quá quen thuộc với sinh tố rồi, cho nên trong bài viết sau
đây, xin nói về Khoáng Chất Trong Cơ Thể.
Trước
hết, cần lưu ý sự khác biệt giữa khoáng chất (minerals) và
sinh tố (vitamin), ít nhất là ở hai điểm:
-Vitamin là những chất hữu cơ có phân tử carbon do cây cỏ và
động vật tạo ra còn khoáng chất là các chất vô cơ không có
carbon.
-Cơ
thể có thể tạo ra một vài loại sinh tố nhưng không sản xuất
được một khoáng chất nào.
Khoáng chất rất
cần thiết cho sự hấp thụ các loại vitamin. Dù rất quan trọng
nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ
của khoáng chất.
Khoáng chất
không phải chỉ có trong thực phẩm mà còn thấy trong đất như
là sắt, kẽm…Cây cỏ kết hợp khoáng từ đất vào các tế bào của
chúng. Do đó, trái cây, các loại rau, hạt là nguồn cung cấp
khoáng chất rất phong phú..
Vì là chất vô cơ,
cho nên khoáng chất có sức chịu đựng với nhiệt độ cao và vẫn
hiện diện trong thực phẩm hoặc tế bào bị đốt cháy.
Khoáng chất cần
thiết cho sự tồn tại và phát triển bình thường của cơ thể và
cần phải được cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi
ngày.
Tất cả các loại
tế bào và dung dịch chất lỏng trong cơ thể đều chứa một số
nhiều ít khoáng chất khác nhau. Khoáng chất là thành phần
cấu tạo của xương, răng, tế bào mềm, cơ bắp, máu, tế bào
thần kinh. Nói chung, khoáng có vai trò quan trọng duy trì
tốt tình tạng tinh thần cũng như thể chất của cơ thể.
Phân loại
Về phương diện
dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ
theo nhu cầu của cơ thể:
-Vĩ khoáng (macromineral)
hay khoáng chất đa lượng, là những chất mà cơ thể cần đến
với lượng khá lớn, mỗi ngày có thể trên 250 mg. Đó là calci,
phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor
và kali.
-Vi khoáng (microminerals)
hay khoáng chất vi lượng tuy rất cần thiết nhưng nhu cầu
không nhiều, mỗi ngày chỉ cần dưới 20 mg. Như là sắt, đồng,
bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden,
boron...
Khoáng chất được
ruột non hấp thụ từ thực phẩm, rồi dự trữ và lưu truyền
trong máu, trong các loại tế bào. Phần không dùng đến sẽ
được nước tiểu loại ra ngoài.
Khi số lượng
khoáng chất mang vào cơ thể quá cao và được giữ lại quá lâu
thì chúng có thể gây ra một số tác hại.
Vai trò của khoáng chất
Nói chung, vai
trò của khoáng chất như sau:
-Cần cho sự tăng
trưởng và sự vững chắc của xương;
-Điều hòa hệ
thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;
-Để làm chất xúc
tác chế biến diếu tố ( enzyme);
-Là thành phần
của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;
-Có tác dụng phối
hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của
cơ thể;
-Giữ thăng bằng
các thể dịch lỏng trong cơ thể.
Công dụng của
khoáng chất đã được người đời xưa biết tới và dùng để trị
bệnh, mặc dù họ không giải thích được tại sao.
Trước Công nguyên,
các thầy thuốc Trung Hoa đã khuyên bệnh nhân bướu cổ ăn rong
biển (seaweed) có chứa iod. Các vị lương y Hy Lạp cho bệnh
nhân thiếu máu uống nước nhúng sắt nung.
Kết quả nghiên
cứu của khoa học hiện nay đã tìm ra và chứng minh được vai
trò của khoáng chất. Ngoài công dụng dinh dưỡng, mỗi khoáng
còn có một vai trò khác nữa trong cơ thể.
Gần đây nhiều thí
nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa khoáng chất và các bệnh
kinh niên như bệnh cao huyết áp, bệnh giòn xương, bệnh tim
mạch, thậm chí cả bệnh ung thư. Do đó nhiều người đã vội vã
đi mua khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ (food supplement)
để uống. Họ tin tưởng rằng khoáng chất có thể chữa hết các
chứng bệnh đó.
Trong thực tế, cơ
thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng
không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự
tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các
chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên
một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra
sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh
dưỡng.
Hậu quả thiếu khoáng chất
Khi thiếu khoáng
chất, một số bệnh có thể xẩy ra, như là:
-Gia tăng khả
năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng
-Cao huyết áp
-Trầm cảm, lo âu
-Không tăng
trưởng hoặc xương yếu
-Đau nhức bắp
thịt, khớp xương
-Rối loạn tiêu
hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.
Nhu cầu hàng ngày
Tại Hoa Kỳ, viện
Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia khuyến cáo chỉ nên giữ mức tiêu
thụ bảy khoáng chất hằng ngày như sau đối với những người
tuổi cao :
Calci
(Ca) 800 mg
Phospho
(P) 800 mg
Magnesium
(Mg) 350 mg
Sắt
(Fe) 10 mg
Kẽm
(zinc) 15 mg
Iod (I) 150 mcg
Selen
(Se) 70 mcg.
Với các khoáng
chất khác, viện này chỉ đưa ra những ước lượng về mức an
toàn cho cơ thể với số lượng được hấp thụ.
Cách tốt nhất để
có một lượng vừa phải các khoáng cần thiết là cân đối bữa ăn
với nhiều loại thực phẩm có đầy đủ chất dinh dưỡng.
Vài khoáng chất căn bản
Trong cơ thể có
trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là
cần thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4 % trọng lượng cơ thể.
Sau đây là một số
khoáng chất quan trọng:
1.Calci
Calci đặc biệt có
nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua. Cho
tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự
tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác. Sau đó
thì cơ thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó,
nếu ta không tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng,
dễ gẫy cũng như rụng răng.
2.Phospho
Phopho cần thiết để duy trì tốt sự tiêu hóa, tuần hoàn, nuôi
dưỡng tế bào thần kinh, mắt, cơ bắp, não bộ.
Phospho có nhiều
trong các thực phẩm như sữa, thịt cá, cám, ngô bắp…
Thiếu
phopho sẽ gây ra một số rối loạn như xương ròn dễ gẫy, răng
lung lay, đau nhức cơ bắp…
3.Sắt
Sắt
cần thiết để giúp máu chuyên chở và phân phối dưỡng khí tới
khắp các bộ phận của cơ thể.
Thiếu sắt đưa tới
kém tăng trưởng, tóc và móng tay móng chân ròn, thiếu hồng
cầu, thiếu máu.
Sắt có nhiều
trong thịt, cá, trứng …
4.Magnesium
Magnesium là một trong những khoáng chất mà cơ thể cần. May
mắn là khoáng này hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như
trái cây, sữa, pho mát.
Thiếu Mg có thể
làm cho cơ bắp đau nhức, rối loạn tim và huyết áp.
5.Iodine
Iodine có trong muối được tăng cường i-ốt ( iodized salt),
hải sản, rau spinach, rong biển.
Mặc dù cơ thể chỉ
cần số lượng rất ít, nhưng khi thiếu iod sẽ đưa tới rối loạn
tăng trưởng cả thể chất lẫn tinh thần cũng như tuyến giáp
(thyroid).
6.Kẽm
Kẽm
có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính miễn dịch mạnh
cho cơ thể để chống lại với cảm lạnh, cúm. Thiếu kẽm cũng
gây ra bệnh ngoài da, vết thương chậm lành.
Nguồn cung cấp
chính của kẽm là hải sản như sò hến, thịt, gan, trứng, sữa,
mầm lúa mạch.
7.Selenium
Selenium là một chất chống oxi- hóa giúp cơ thể ngăn chặn
được ung thư, trì hoãn sự hóa già và các bệnh thoái hóa.
Selen rất cần thiết cho hệ thống miễn nhiễm và sự hoạt động
của cơ tim, giúp cân bằng kích thích tố và tạo ra chất
prostaglandin, làm da và tóc khỏe mạnh.
Selenium có nhiều trong cá, sò hến, thịt, ngũ cốc, trứng,
tỏi và gan, cật. Rau và trái cây có rất ít selenium.
Kết Luận
Khoáng chất là
những phần tử cần thiết cho các chức năng của cơ thể, từ hệ
thần kinh cơ bắp tới điều hòa tiêu hóa hấp thụ chất dinh
dưỡng, duy trì cân bằng chất lỏng trong và ngoài tế bào. Mặc
dù cơ thể chỉ cần một số lượng khiêm tốn, nhưng thiếu chúng
là cơ thể trở nên suy yếu, kém hoạt động.
Vậy thì ta nên
tiêu thụ đầy đủ các chất này, có sẵn trong thực phẩm mà tạo
hóa đã dành cho con người.
Bác
sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.