Khoa Học và
Phật Giáo: Trước Ngă Tư Đường
[13/06/2006 - Tác giả: admin1
( Trích nguồn :Vietnam Review]

Prof. Trịnh Xuân Thuận
Giáo Sư TS Thiên Văn Học Phân, Đại Học
Tâm Hà Lê Công Đa chuyển ngữ
I. Có những Nền Tảng Nào Cho Một Cuộc
Đối Thoại ?
Khoa Học và Phật Giáo vốn có những phương
thức khác biệt rất cơ bản trong việc nghiên
cứu thực tại. Trên b́nh diện khoa học, tri
thức và luận lư nắm giữ những vai tṛ then chốt.
Khoa học thu lượm những hiểu biết về
thế giới thực tại rồi cô đọng chúng
lại thành những quy luật có thể kiểm chứng
được. Bằng cách phân chia, xếp loại, phân
tích, so sánh, và đo lường, nhà khoa học diễn
giải những quy luật này thông qua một loại ngôn
ngữ khá trừu tượng của toán học. Dĩ
nhiên trong khoa học, trực giác không phải là không có
chỗ đứng, tuy nhiên nó chỉ mang lại kết
quả khi nào được hệ thống hoá trong một
cấu trúc chặt chẽ của toán học mà hiệu
độ được đảm bảo bằng quan sát
và phân tích. Ngược lại, chính trực giác –hay kinh
nghiệm nội tâm- lại đóng vai tṛ chủ yếu
trong phương cách Phật giáo dùng để tiếp
cận thực tại. Trong khi khoa học hướng
ngoại th́ Phật giáo hướng nội, dùng quán
chiếu làm phương thức tiếp cận. Trong khi
khoa học chỉ bận tâm về thế giới khách quan
th́ mối quan tâm chính yếu của Phật giáo là cái ngă
tự thân.Thay v́ chẻ nhỏ thực tại ra thành
từng bộ phận khác biệt như phương pháp
quy giản của khoa học, Phật giáo với
phương thức tiếp cận toàn bộ sự
vật mà mục đích là để hiểu chúng như
một tổng thể nguyên trạng. Phật giáo không
cần đến những thiết bị đo
lường và cũng không cần nương tựa vào
bất cứ phương tiện quan sát tinh vi nào vốn
là xương sống của nền khoa học thực
nghiệm. Nó thiên về định phẩm hơn là
định lượng.
Tuy nhiên sự khác biệt chính yếu giữa sự theo
đuổi kiến thức trong khoa học và Phật giáo
là do ở những mục tiêu rốt ráo của chúng.
Mục tiêu của khoa học là t́m hiểu về thế
giới hiện tượng. Trọng tâm chính yếu
của nó là những kiến thức về vũ trụ
vật lư, được xem như mang tính khách quan và có
thể xác định số lượng, cũng như
nhằm đạt đến việc kiểm soát thế
giới tự nhiên. Ngược lại trong Phật giáo,
kiến thức được thu nhận chủ yếu
chỉ nhằm vào những mục đích trị liệu.
Mục tiêu của Phật giáo v́ thế không phải t́m
hiểu vũ trụ vật lư cho lợi ích của riêng
ḿnh mà chỉ để nhằm giải phóng nhân sinh ra
khỏi những khổ đau hệ lụy gây ra bởi
sự dính mắc thái quá vào cái thực tại biểu
kiến của thế giới ngoại tại. Những
tra vấn mang tinh thần thực nghiệm được
thúc đẩy bởi tính ṭ ṃ tri thức không phải là
mục tiêu chính mà Phật giáo nhắm đến. Thay vào
đó, họ muốn hiểu rơ bản tánh chân thật
của vạn pháp để có thể xóa tan đi đám
mây mờ vô minh và mở ra cánh cửa vào Giác Ngộ và con
đường giải thoát. Thay v́ dùng viễn vọng
kính, hạt gia tốc hay kính hiển vi, Phật giáo dùng tâm
như là một khí cụ để nghiên cứu vũ
trụ. Nó nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng
của sự giải thích bản tánh của tâm thông qua kinh
nghiệm thiền quán trực tiếp. Trải qua hàng
thế kỷ Phật giáo đă đề ra một
phương thức tiếp cận sâu sắc và nghiêm
nhặt liên quan đến những hiểu biết về
những trạng thái tâm linh và bản tánh rốt ráo của
tâm. Tâm đứng đằng sau mỗi một kinh
nghiệm của đời sống. Nó khẳng
định cách thế mà ta nh́n thế giới. Chỉ
một thay đổi cực nhỏ trong tâm thức
của ta, qua cách thức mà ta đối phó với
những trạng thái tâm linh và nhận thức về
người và vật như thế nào cũng đủ
để thế giới của “ta” hoàn toàn đảo
lộn. Như thế, thay v́ chuyên chú hoàn toàn vào
ngôi-thứ-ba, tức là lănh vực của thế giới
khách quan hiện tượng như là nền khoa học
cổ điển, Phật giáo đồng thời cũng
đặt trọng tâm của ḿnh vào lănh vực liên quan
đến ngôi-thứ-nhất.
Với những khác biệt có vẻ cơ bản trong
cả phương pháp và mục tiêu, như vậy có
thể có một nền tảng chung để đối
thoại giữa khoa học và Phật giáo hay không? Phật
giáo có ǵ để nói về bản chất của hiện
tượng khi đây không phải là mối quan tâm chính, mà
là những mối bận tâm của những bộ môn khoa
học? Ta có một câu trả lời dứt khoát cho
những câu hỏi này là có. Một trong những nhiệm
vụ chính của triết học Phật giáo là nghiên
cứu về bản chất của thực tại. Trong
khi khoa học không phải là mối bận tâm chính của
Phật giáo, nó cũng đă từng đặt ra những
câu hỏi tương tự với những vấn
đề được nêu lên bởi nền khoa học
đương đại. Có thể nào những hạt
rời bất khả phân là những khối cấu trúc
cơ bản của thế giới hiện tượng?
Có phải chúng thực sự hiện hữu hay chỉ là
những ư niệm giúp ta hiểu biết về thực
tại? Phải chăng những định luật
vật lư là bất biến, có những hiện hữu
tự thân như những quan niệm lư tưởng
của Plato? Phải chăng có một thực tại
chắc thật đằng sau những sắc
tướng? Đâu là nguồn gốc ban đầu
của thế giới hiện tượng, và cái thế
giới chung quanh mà chúng ta cho là “thực” có thực sự
hiện hữu? Đâu là mối liên hệ giữa
động và tĩnh, giữa chủ thể và khách
thể? Bản chất của không gian và thời gian là ǵ?
Những triết gia Phật giáo trong suốt 2,500 năm qua
đă không ngừng nghiên cứu, trăn trở về
những vấn nạn này. Kinh văn Phật giáo phong phú
với những bộ luận bàn thảo về tri
thức cũng như lư giải về những cấp
độ khác nhau của thế giới hiện
tượng, kể cả những bộ luận về
tâm lư học khám phá những lănh vực khác biệt của
ư thức và bản chất rốt ráo của tâm.
Trong khi những phương pháp nghiên cứu của
Phật giáo và khoa học nhằm khám phá thế giới
hiện tượng thoạt nh́n có vẻ rất khác nhau,
nhưng khi nh́n kỹ hơn người ta thấy rằng
Phật giáo cũng như khoa học đều dựa vào
phương pháp thực nghiệm để khám phá thực
tại. Phương pháp phân tích của Phật giáo thông
thường sử dụng ‘suy nghiệm’ cũng
được dùng rộng răi trong khoa học. Đây là
những thí nghiệm tưởng tượng
được tiến hành trong tâm thức, dẫn
đến những kết luận khó thể bác bỏ
được, cho dù là những thí nghiệm này thực
sự không hề được tiến hành. Kỹ
thuật này thường được sử dụng
bởi những chuyên gia hàng đầu trong khoa học,
cụ thể như Einstein. Thí dụ, khi khảo sát về
bản chất của không gian và thời gian, nhà vật lư
tưởng tượng ra ḿnh đang cưỡi lên
một hạt ánh sáng. Thế là khi nghĩ đến
trọng lực, lập tức y cảm thấy ḿnh
đang ở trong sự vận hành của gia tốc. Cũng
một kiểu cách như vậy, những nhà Phật
học dùng phép suy nghiệm để phân tích mổ xẻ
thực tại. Phật giáo cũng giống với khoa
học ở chỗ khuyến khích tinh thần hoài nghi trong
việc xây dựng niềm tin. Đức Phật đă
từng khuyến khích chúng ta không nên chấp nhận
một cách mù quáng giáo thuyết của ngài nếu như
không tự ḿnh suy nghĩ thấu đáo. Ngài dạy
rằng: “Giống như một người khôn ngoan
biết đâu là vàng thật sau khi đă thử nghiệm
bằng cách cắt ra, nung chảy hay chà xát, những
lời dạy của ta cũng thế, chỉ
được chấp nhận sau khi đă suy xét thấu
đáo chứ không phải là do kính trọng ta.” Nếu chúng
ta xem “khoa học” mang ư nghĩa “một hệ thống
kiến thức chính xác, chặt chẽ và có thể
kiểm chứng được” hoặc như là “một
loạt những quy luật và tiến tŕnh liên hệ
đến sự nhận ra và công thức hoá một
vấn nạn, công thức dựa trên những giả
thiết và dữ kiện được thu thập thông
qua quan sát và thí nghiệm để kiểm chứng
những giả thiết này” ( từ điển Webster), th́
Phật giáo có thể được mô tả như là
một “khoa học quán tưởng” hay nói rơ hơn,
“một khoa học về tâm”. Thế nhưng ở đây,
phạm trù nghiên cứu không phải chỉ đơn
thuần là một thế giới vật chất “khách quan”
mà ta có thể khảo sát, đo lường, tính toán
một cách vật lư, một thế giới chỉ có
thể được mô tả qua ngôn ngữ của
phương pháp định lượng ngôi-thứ-ba,
nhưng là một thế giới được nhân
rộng ra bao gồm toàn thể phạm vi của kinh
nghiệm sống “chủ quan” của con người bao
gồm cả lănh vực tâm thức chỉ có thể
nhận thức được thông qua nội quan
ngôi-thứ-nhất.
Trong những phần tiếp theo, chúng tôi sẽ cố
gắng so sánh những quan điểm về thực
tại được tŕnh bày qua lăng kính của khoa
học lẫn Phật giáo, cũng như bắc lên những
chiếc cầu nối liền giữa khoa học của
thế giới vật lư và khoa học về tâm. Mục
đích của chúng tôi ở đây không nhằm khoác lên khoa
học một chiếc áo thần bí cũng như không
hề biện hộ cho những trụ chống của
Phật giáo trước những khám phá của nền khoa
học đương đại. Khoa học hành xử
chức năng của ḿnh một cách tốt đẹp, nó
mang tính độc lập và hoàn thành những mục tiêu
đă vạch một cách hoàn hảo mà không cần
đến sự hỗ trợ triết học từ
Phật giáo hay bất kỳ tôn giáo nào. Mà thực ra,
một khi tôn giáo nghĩ rằng ḿnh có thể mang “chân lư”
đến cho khoa học th́ đó cũng là lúc vấn
nạn xuất hiện, cụ thể như thảm
kịch mà Giáo Hội lên án Gallileo vào năm 1633. Phật giáo
là khoa học của sự Tỉnh Thức, thế nên cho
dù Quả Đất có quay quanh Mặt Trời hay
ngược lại, điều đó cũng không hề
tạo nên bất kỳ hệ quả nào đối
với nền tảng triết lư của nó. Phật giáo
đă hiện hữu trên hành tinh này 2,500 năm rồi trong
khi nền khoa học hiện đại chỉ mới
bắt đầu từ thế kỷ thứ 16. Tuy nhiên
bởi lẽ cả hai đều khao khát đi t́m chân lư,
và để đạt mục tiêu này đều sử
dụng đến những tiêu chuẩn mang tính chân xác,
chặt chẽ và luận lư, những thế giới quan
tương ứng của họ v́ thế không thể
đưa đến kết quả đối nghịch
không thể vượt qua mà ngược lại cả hai
có thể bổ sung nhau một cách hài hoà. Nhà vật lư Werner
Heisenberg đă phát biểu quan điểm này một cách
đầy thuyết phục như sau: “Tôi xem cái hoài
vọng nhằm khắc phục những đối
nghịch, trong đó một sự tổng hợp bao
gồm cả nhận thức thuần lư lẫn kinh
nghiệm thần bí về nhất thể, là cái ‘mythos’ (*),
dù có được nói ra hay không, của thời
đại chúng ta.”
Chúng tôi sẽ thảo luận và so sánh thế giới
quan của Khoa Học và Phật Giáo bằng cách khảo sát
mỗi một trong ba học thuyết căn bản
của Phật Giáo, trước tiên là ư niệm về “Vô
Thường” trong phần II, tiếp đến là “Duyên
Khởi” và “Tánh Không” trong phần III. Sau đó, chúng tôi
sẽ thảo luận chung quanh vấn đề tại
sao trái ngược với các tôn giáo độc thần,
Phật Giáo bác bỏ quan niệm về sự hiện
hữu của một vị “Thượng Đế” hay là
một “Đấng Sáng Tạo” trong phần IV và cuối
cùng nêu ra một vài nhận xét trong phần V.
II. Vô
Thường giữa ḷng thực tại.
Phật giáo phân chia ra hai loại vô thường, thô và
tế. Thô bao gồm tất cả những đổi thay
hiển nhiên của cả con người và sự vật
mà chúng ta chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày:
sự đổi mùa, núi ṃn sông lở, quá tŕnh biến
đổi từ tuổi trẻ đến tuổi già,
những t́nh cảm luôn biến chuyển trong ta. Thể vi
tế của vô thường cụ thể như: trong
mỗi sát na, bất cứ những ǵ có vẻ hiện
hữu đều thay đổi. Vũ trụ không
phải được tạo thành bởi những
thực thể riêng biệt, rắn chắc mà ngược
lại, giống như một ḍng suối bao la của
những sự kiện, và những ḍng chảy năng
động mà trong đó tất cả đều
được nối kết và liên tục tác động
lẫn nhau. Khái niệm về sự thay đổi không
ngừng và khắp nơi trong Phật giáo tương
ứng với chủ đề quan trọng về
thuyết tiến hoá trong mọi lănh vực khoa học
của thế kỷ 20.
Bây giờ hăy nh́n đến khoa vũ trụ học
đương đại. Khái niệm về những thiên
giới không hề biến đổi của Aristote và
vũ trụ tĩnh lặng của
Thay đổi và tiến hoá cũng đi vào những
lănh vực khác của khoa học. Trong địa chất
học, những đại lục mà chúng ta nghĩ
rằng đă dính chặt vào vỏ Trái Đất bây
giờ được biết là đă di động
khoảng vài cm mỗi năm, tạo nên những núi lửa
và động đất tại những vùng tiếp giáp
của các thềm lục địa. Mặt Trái
Đất luôn luôn thay đổi và tự tu sửa. Trong
lănh vực sinh học cũng thế, khái niệm về
thuyết tiến hoá đă được nhà tự nhiên
học Charles Darwin đưa ra vào năm 1859. Con
người không c̣n là một cái ǵ đó thuộc gịng
giỏi thánh thần. Họ không là những hậu duệ
của Adam và Eve do Thượng Đế sáng tạo ra
như trước đây người ta đă nghĩ mà là
sản phẩm của cả một chuổi dài tiến
hoá được h́nh thành bởi sự lựa chọn
tự nhiên. Đi ngược lại quá khứ, tổ tiên
của con người từng là những động
vật linh trưởng, những loài ḅ sát, cá tôm, những
loài động vật không xương sống và những
sinh thể đơn bào sơ khai.
Định luật vô thường không phải chỉ
có mặt ở trong thế giới vĩ mô mà ngay cả
ở trong những lănh vực nguyên tử và hạ nguyên
tử (subatomic). Những hạt được biết là
có khả năng tự sửa đổi bản chất
của ḿnh: quark có thể tự thay đổi gia hệ
hoặc ‘hương vị’, proton có thể biến thành
nơtron trong khi phát xạ pozitron và neutrino. Vật chất
và phi-vật-chất có thể tiêu diệt lẫn nhau
để trở thành năng lượng thuần
khiết. Năng lượng chuyển động của
một hạt có thể chuyển hoá vào trong một hạt
khác và ngược lại, cụ thể như phẩm tánh
của một vật thể có thể biến thành một
vật thể. Những hạt điện tử trong
những vật thể bao quanh chúng ta không bao giờ
đứng yên một chỗ. Ngay chính trong khoảnh khắc
này đây, có đến hàng tỉ những hạt phù du
neutrinos đi ngang qua thân xác chúng ta trong từng giây một.
Do tính lượng tử bất định của năng
lượng, khoảng không gian chung quanh ta đầy
ắp một số lượng khó tưởng
tượng nổi của những hạt ‘ảo’,
hiện hữu phù du như những bóng ma. Chúng xuất
hiện và biến mất liên miên; và đây chính là h́nh
ảnh tuyệt vời nhất của tính vô thường
v́ chúng có một đời sống cực kỳ ngắn
ngủi. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa: sự ‘vô
thường vi tế’ của Phật giáo có mặt
khắp nơi theo như cách mà nền khoa học
đương đại mô tả về thực tại.
III. Duyên
Khởi và Tính Bất Khả Phân của Hiện
Tượng.
1. Trung Đạo.
Ư niệm về duyên khởi là cái nh́n trung tâm của
Phật giáo về bản chất của thực tại.
Nó chỉ rơ rằng “không có ǵ hiện hữu một cách
tự thân, hoặc do bởi chính nó.” Một vật thể
chỉ có thể được xác định do bởi
những vật thể khác và chỉ hiện hữu trong
mối liên hệ cùng nhau. Nói một cách khác, cái này sanh
bởi v́ cái kia sanh. Duyên khởi là tất yếu trong
sự xuất hiện của hiện tượng
giới. Kinh nghiệm sống hàng ngày khiến chúng ta cho
rằng mọi sự vật đều sở hữu
một cái ǵ đó có thực, độc lập khách quan có
vẻ như là chúng hiện hữu bởi chính nó với
những bản sắc tự thân. Thế nhưng Phật
giáo quan niệm rằng cách nh́n thế giới hiện
tượng như vậy chẳng qua chỉ là do tâm
tạo. Họ gọi sự nhận thức về một
hiện tượng riêng biệt do những nhân và duyên
biệt lập tạo nên là ‘tục đế’ hay
‘huyễn ảo’. Thay vào đó, Phật giáo đưa ra ư
niệm về luật nhân quả hổ tương:
một sự kiện chỉ có thể xảy ra bởi v́
nó nương tựa vào những yếu tố khác. Bởi
v́ tất cả mọi sự vật đều là một
bộ phận của cái toàn thể, thế nên không cái ǵ có
thể xảy ra một cách riêng rẻ. Bất cứ
một sự vật nào trên thế giới này chỉ có
thể xuất hiện bởi v́ nó được nối
kết, duyên sanh và thế rồi trùng trùng duyên khởi, cùng
có mặt, cùng vận hành trong một ḍng chuyển biến
không ngưng nghỉ. Một thực thể hiện
hữu một cách độc lập với tất cả
những cái khác như là một thực thể bất
biến, độc lập đă không thể tác
động lên bất cứ cái ǵ hay ngay cả chính nó.
Phật giáo như thế đă nh́n thế giới này
như là một ḍng chảy mênh mông bao gồm những
sự kiện được nối kết lại và cùng
dự phần tác động lên nhau. Trong khi đó, cách
thế mà chúng ta nhận thức về ḍng chảy này cô
đọng lại trong một vài khía cạnh của cái
vũ trụ bất khả phân từ đó tạo ra
một ảo tưởng rằng đă có những
thực thể độc lập hoàn toàn tách biệt nhau và
tách rời khỏi chúng ta. Những hiện tượng
giới như thế chỉ là những sự kiện
đơn giản chỉ xảy ra trong một vài t́nh
huống nào đó. Khi đưa ra quan điểm này không có
nghĩa là Phật giáo bài bác tục đế -những ǵ
mà người b́nh thường nhận thức
được hay nhà khoa học khám phá ra bằng những
thiết bị của họ-, hoặc không thừa
nhận luật nhân quả, hay là những định
luật vật lư và toán học. Nó chỉ nói lên một
điều đơn giản rằng, nếu chúng ta
đào đủ sâu, sẽ thấy có sự khác biệt
giữa cách mà chúng ta nh́n thế giới hiện
tượng và cái chúng thực sự là.
Cái khía cạnh vi tế nhất của duyên khởi liên
quan đến mối liên hệ giữa ‘danh’ và ‘danh
tướng’ của một sự vật. Danh tướng
của một vật thể bao gồm vị trí, chiều
kích, h́nh dáng, màu sắc hay bất cứ những
đặc tính nào có thể trông thấy được.
Tập hợp lại cùng nhau, chúng tạo nên cái ‘danh’
của vật thể, tức là một sản phẩm tâm
tạo gán cho một thực tại cá biệt của
một vật thể nào đó. Trong đời sống hàng
ngày, khi chúng ta trông thấy một vật thể, chúng ta
không hề bị ấn tượng bởi sự hiện
hữu của nó mà là cái giả danh của vật thể
đó. Bởi v́ chúng ta cảm nghiệm nó, Phật giáo không
hề cho rằng nó không hiện hữu. Tuy nhiên họ
cũng không bảo rằng nó có một thực tại
tự thân. Phật giáo đưa ra quan điểm rằng
vật thể hiện hữu (như thế tránh
được chủ nghĩa hư vô đoạn kiến
mà Tây phương thường nhầm lẫn gán cho
Phật giáo), tuy nhiên hiện hữu này là thuần túy duyên
khởi. Đây là cái mà Đức Phật gọi là Trung
Đạo. Một hiện tượng giới không có
một hiện hữu độc lập thế nhưng
cũng không hoàn toàn phi hữu, có thể hoạt
động và hành xử chức năng đúng theo luật
nhân quả.
2. Tính phi-cục-bộ của
thế giới lượng tử.
Một ư niệm gây ấn tượng tương
tự như duyên khởi của Phật giáo đó là khái
niệm về tính ‘bất khả phân’ hay
‘phi-cục-bộ’ trong Cơ học lượng tử
được khám phá qua một cuộc thí nghiệm tưởng
tượng nổi tiếng do Einstein, Podolsky và Rosen (EPR)
đưa ra vào năm 1935 trong một nỗ lực
muốn chứng tỏ rằng xác suất lư giải
về cơ học lượng tử là sai lầm và
học thuyết này như vậy là chưa hoàn chỉnh.
Thí nghiệm này có thể được mô tả lại
một cách giản dị như sau: Tưởng
tượng ra một hạt phân hủy một cách tự
phát thành ra 2 photon A và B. Luật đối xứng nêu rơ
rằng chúng sẽ di chuyển ngược chiều nhau.
Nếu A đi về hướng Tây, chúng ta sẽ khám phá
ra B đi về hướng Đông. Tất cả có
vẻ như b́nh thường, tuyệt hảo. Thế
nhưng đó là ta đang quên đi tính chất kỳ
lạ của thế giới lượng tử. Cũng
giống như Janus, ánh sáng mang hai mặt khác nhau. Nó có
thể là sóng hay hạt. Trước khi bị khám phá
bởi máy ḍ, lư thuyết lượng tử cho ta biết
rằng A xuất hiện dưới dạng sóng. Luồng
sóng này không được cục bộ hóa, đă không có
một xác suất chothấy rằng A có thể
được t́m thấy ở bất cứ hướng
nào. Chỉ khi bị bắt gặp, A mới ‘biết’ là nó
đang di chuyển về hướng Tây. Thế nhưng,
nếu như A đă không ‘biết’ được
trước khi bị khám phá là ḿnh đi về
hướng nào th́ làm sao B có thể ‘đoán’
được A đang làm ǵ để có thể
điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp
để được bắt gặp vào cùng một
thời điểm ở hướng đối diện
của A? Đây là điều khó có thể xảy ra
trừ phi A thông báo cho B một cách đồng bộ
về phương hướng mà nó đang đi.
Điều này hàm ư rằng có một tín hiệu ánh sáng
được phóng ra ở một tốc độ vô
hạn, và như vậy hoàn toàn trái ngược với
luật tương đối tổng quát. Bởi v́ không
hề có chuyện ‘Thượng Đế phóng ra những
tín hiệu cảm ứng từ xa’ cũng như không thể
có ‘hành động qủy ma nào ở gần’, Einstein
kết luận rằng cơ học lượng tử
đă không cung cấp một sự mô tả hoàn chỉnh
về thực tại, rằng A phải ‘biết’
hướng nào ḿnh sẽ đi đến và ‘báo’ cho B
biết trước khi tách rời nhau. Ông nghĩ rằng
mỗi hạt đều có chứa ‘những ẩn
số’ mà cơ học lượng tử đă không
nắm được điều này, thế nên nó không hoàn
chỉnh.
Trong gần 30 năm, thí nghiệm EPR vẫn
được xem như là một thí nghiệm
tưởng tượng bởi v́ những nhà vật lư
đă không biết phải làm thế nào để thực
hiện nó. Măi cho đến năm 1964 th́ nhà vật lư
học John Bell mới t́m ra một phương cách
để đưa cái ư tưởng chính yếu của
EPR từ nghiên cứu trừu tượng thành một
dự tŕnh có thể kiểm chứng được trong
pḥng thí nghiệm. Ông đưa ra một định lư toán
học, bây giờ được gọi là ‘Bất
đẳng thức Bell’, có thể kiểm chứng
được bằng thí nghiệm nếu như những
hạt thực sự đă có chứa những ẩn
số. Vào đầu thập niên 80, nền khoa học
kỹ thuật cuối cùng đă chín mùi đủ
để cho nhà vật lư Alain Aspect và những người
trong nhóm của ông tại Paris có thể thực hiện
một loạt những thí nghiệm trên một cặp
photon ‘tương tác’ nhau -tức là những photon có
những tác động qua lại với nhau-. Họ khám
phá rằng Bất đẳng thức
3. Thí nghiệm đồng
hồ quả lắc của Foucault và tính duyên khởi
của thế giới vĩ mô.
Một thí
nghiệm vật lư hấp dẫn và nổi tiếng khác cho
thấy tính duyên khởi của hiện tượng không
phải chỉ giới hạn trong thế giới của
các hạt nhưng lan rộng ra đến cả toàn
thể vũ trụ. Đây là thí nghiệm về quả
lắc được thực hiện bởi nhà vật lư
Léon Foucault vào năm 1851 tại điện Panthéon, Paris
nhằm giải thích về việc Trái Đất quay.
Tất cả chúng ta hầu như ai cũng đều
biết đến đặc tính của quả lắc.
Với thời gian trôi, phương hướng của
quả lắc cũng thay đổi theo. Nếu ta bắt
đầu cho nó lắc theo hướng bắc-nam, chỉ
vài giờ sau nó sẽ lắc theo hướng đông-tây.
Nếu cái đồng hồ quả lắc này
được đặt ở Bắc hay
Tuy nhiên vẫn c̣n một vấn đề nan giải mà
măi cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu
được rơ ràng. Cái quả lắc của đồng
hồ được thiết trí cố định trong
một không gian, nhưng mà cố định tương
ứng đối với cái ǵ? Chúng ta biết rằng cái
đồng hồ quả lắc được gắn vào
trong một ṭa nhà và toà nhà này th́ dính vào Trái Đất. Trái
Đất mang chúng ta di chuyển với vận tốc
30km/giây một ṿng chung quanh Mặt Trời và Mặt
Trời th́ cũng đang quay trong không gian với một
vận tốc 230km/giây trên quỹ đạo chung quanh trung
tâm của giải Ngân Hà, mà chính nó cũng đang chuyển
động hướng đến giải thiên hà Andromeda
với vận tốc khoảng chừng 90km/giây. Nhóm
Địa Phương (Local Group) của những thiên hà,
trong đó những quần tụ hùng vĩ nhất như
là Galaxy và Andromeda, cũng đang di chuyển với vận
tốc 600km/giây dưới sức hút trọng lực
của nhóm Virgo và siêu nhóm Hydra-Centaurus. Thế nhưng nhóm
sau này lại cũng đang quay hướng về Great
Attractor, một quần tụ tương đương
với hàng chục ngàn giải thiên hà. Như vậy cái
quả lắc đồng hồ của Foucaults đă
được điều khiển bởi cái nào trong
những cơ cấu này? Để t́m hiểu xem thiên
thể nào đă điều khiển cái quả lắc
của đồng hồ Foucault, việc giản dị là
chúng ta đặt con lắc hướng về phía thiên
thể đó. Nếu như thiên thể đó đang di
động trong bầu trời, mà vẫn luôn luôn nằm
ở trong hướng chỉ của con lắc, ta có
thể kế luận rằng thiên thể đó là tác nhân
chính trong sự vận hành của con lắc. Bây giờ
chúng ta hăy để con lắc hướng về phía
Mặt Trời. Sau một tháng, ngôi tinh cầu này đă
chệch ra khỏi hướng của quả lắc 15
độ. Bây giờ chúng ta quay quả lắc về
hướng ngôi sao gần nhất, Proxima Centauri, cách xa
khảng 4 năm ánh sáng. Ngôi sao này lưu lại trong
hướng chỉ của quả lắc lâu hơn,
nhưng chỉ được vài năm, kết quả
cũng giạt đi. Giải thiên hà Andremoda, cách chúng ta 2.3
triệu năm ánh sáng, cũng đi giạt ra khỏi
hướng nhưng chậm hơn. Thời gian duy tŕ trong
hướng chỉ của con lắc lâu hơn và độ
chệch cũng trở nên nhỏ hơn nếu khoảng
cách đến thiên thể càng lớn hơn. Và rồi
chỉ có những thiên hà có khoảng cách lớn nhất,
tọa lạc tận cùng bờ mép của vũ trụ mà
chúng ta có thể biết được, cách xa ta
đến hàng tỉ năm ánh sáng là không hề đi ra khỏi
hướng chỉ của con lắc.
Kết luận mà chúng ta rút ra được từ thí
nghiệm này rất mực đặc biệt: Hoạt
động của con lắc đồng hồ Foucault không
hề dựa vào thái dương hệ này mà là vào những
giải thiên hà xa nhất, hay nói một cách đúng
đắn hơn, vào toàn thể vũ trụ, điều
này cho thấy rằng hầu như tất cả vật
chất biểu kiến được t́m thấy trong
những giải thiên hà xa xôi nhất mà không phải là
những tinh tú gần ta. Như thế cái ǵ xảy ra
ở đây, trên Trái Đất này, đều
được quyết định bởi cả toàn
thể vũ trụ bao la. Cái ǵ xuất hiện trên ngôi hành
tinh nhỏ bé này đều nương tựa vào toàn
thể cấu trúc của vũ trụ.
Tại sao cái quả lắc đồng hồ lại
ứng xử như vậy? Quả t́nh chúng ta không
biết. Nhà vật lư Ernst Mach nghĩ rằng điều
đó có thể được giải thích là do bởi
một loại vật chất có mặt ở khắp
nơi và tạo ra ảnh hưởng. Theo ông, một
khối lượng của vật thể -tức là
lực quán tính của nó, hay là sức đề kháng
đối với chuyển động- đến từ
ảnh hưởng của toàn vũ trụ thông qua một
sự tương tác bí mật, khác biệt với
trọng lực, mà ông không thể mô tả chính xác. Từ
đó, cũng không có ai đi sâu thêm vào lănh vực này.
Giống như thí nghiệm EPR buộc chúng ta chấp
nhận rằng những tương tác hiện hữu
trong thế giới vi mô vốn khác biệt với
những ǵ được mô tả bởi khoa vật lư mà
ta biết, cái đồng hồ quả lắc Foucault
cũng hành xử tương tự như thế
đối với thế giới vĩ mô. Những
tương tác như thế không hề đặt cơ
sở trên một lực hay một sự trao đổi
năng lượng, và chúng nối kết với toàn
thể vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta lại
đi đến một kết luận rất gần
gũi với ư niệm về duyên khởi của Phật
giáo: mỗi bộ phận đều chứa đựng
cái toàn thể, và mỗi bộ phận đều
nương tựa vào tất cả các bộ phận khác.
4. Tánh Không hay là sự vắng
mặt của một thực tại tự thân.
Ư niệm về duyên khởi dẫn ta đi thẳng
đến một cái ư niệm quan trọng thứ ba
của Phật giáo (hai cái kia là vô thường và duyên
khởi): đó là ‘Tánh Không’ hay ‘trống rỗng’. Một
khi tất cả đều là duyên khởi, không có ǵ có
thể tự xác định và hiện hữu tự thân. Ư
tưởng về những phẩm tính có thể hiện
hữu do và bởi chính ḿnh cần phải được
buông bỏ. Khi Phật giáo cho rằng tánh không là bản tánh
rốt ráo của vạn pháp, điều đó có nghĩa
là mọi sự vật mà chúng ta trông thấy chung quanh ḿnh,
tức là cái thế giới hiện tượng này, không
hề có một hiện hữu độc lập hay
thường hằng. ‘Tánh không’ ở đây không nên
hiểu là ‘trống không’, ‘hư không’ hay ‘vắng mặt
của thế giới hiện tượng’ như các nhà
chú giải Tây phương trước đây quan niệm,
nhưng là một vắng mặt của hiện hữu
tự thân. Phật giáo không hề tán thành bất cứ h́nh
thái nào của chủ nghĩa hư vô. Tánh không chẳng
hề mang ư nghĩa là không hiện hữu. Nếu bạn
đă không thể bàn về thực hữu th́ bạn
cũng không thể nói về phi hữu. Thế nên theo
Phật giáo, t́m hiểu về bản chất phi thực
của vạn pháp là một bộ phận thiết yếu
trên hành tŕnh tâm linh. Tánh không như vậy không phải
chỉ là bản tánh chân thật của thế giới
hiện tượng, mà c̣n ẩn chứa tiềm năng
cho phép sự biểu hiện của cái thế giới
thiên h́nh vạn trạng đó. Thánh giả Long Thọ
của Phật giáo trong thế kỷ thứ hai đă nói:
“Khi đă là không th́ không có ǵ là không có” hay như một câu
kinh nổi tiếng trong Bát Nhă Tâm Kinh: “Sắc tức
thị không, không tức thị sắc”. Nếu thực
tại là thường hằng bất biến th́ tất
cả phẩm tánh của chúng cũng thế, chẳng có ǵ
thay đổi. Như vậy, thế giới hiện tượng
đă không thể hiện bày. Tuy nhiên do bởi vạn pháp
không hề có một thực tại tự thân, chúng có
thể hiện bày ra muôn vẻ.
Về vấn đề vắng mặt của một
thực tại tự thân, khoa vật lư lượng tử
một lần nữa cũng đă có những phát biểu
tương tự khá đậm nét. Theo Bohr và Heisenberg,
những nhân vật nhiệt thành ủng hộ của cái
gọi là “Chú giải Copenhagen” về cơ học
lượng tử, th́ bây giờ chúng ta không c̣n có thể
xem nguyên tử (atoms) và điện tử (electrons) như là
những thực thể với những phẩm tánh xác
định cụ thể, chẳng hạn như tốc độ,
vị trí, vạch ra đồng đều trên những
qũy đạo xác định rơ. Ngược lại
chúng ta phải xem chúng như là bộ phận của
một thế giới được cấu thành bởi
những tiềm lực chứ không phải là những
vật thể hay sự kiện. Ánh sáng và vật chất
có thể được xem là không có thực tại tự
thân bởi v́ chúng mang tính chất lưỡng tánh: có
thể xuất hiện dưới dạng sóng hay hạt
tùy theo thiết bị đo lường. Cái hiện
tượng chúng ta gọi là “photon” sẽ là một
luồng sóng khi chúng ta tắt hết máy đo và không quan sát
nó. Nhưng ngay lập tức khi ta cho thiết bị
hoạt động làm công việc đo lường, nó
lại xuất hiện như là một hạt. Những
mặt của hạt và sóng không thể cách ly
được. Ngược lại, chúng bổ túc lẫn
nhau. Đó là điều mà Bohr gọi là “nguyên lư bổ túc”.
Như thế, ngay trong bản tánh thực sự của ánh
sáng và vật chất cũng đă tùy thuộc vào những
mối liên hệ duyên khởi. Nó không c̣n là một tự
thân mà thay đổi tùy theo sự tương tác giữa
người quan sát và vật thể được quan sát.
Như thế nói đến thực tại tự thân
của một hạt, hay là cái thực tại mà nó sở
hữu khi không được quan sát là điều hoàn toàn
vô nghĩa bởi v́ chúng ta không hề nắm bắt
được nó. Và như vậy, theo Bohr, cái ư niệm
về “nguyên tử” chẳng qua chỉ là một h́nh
ảnh tiện dụng giúp cho những nhà vật lư
tổng hợp những quan sát khác nhau về thế
giới hạt, thành một phối hợp chặt
chẽ, luận lư có hệ thống. Ông nhấn mạnh
đến tính bất khả vượt ra khỏi
những kết quả của những thí nghiệm và
đo lường: “Trong khi mô tả về thế giới
tự nhiên, mục đích của chúng ta không phải là
để khám phá ra bản chất thực của hiện
tượng, mà chỉ nhằm theo dơi mối liên hệ
giữa rất nhiều khía cạnh của cuộc thí
nghiệm, được chừng nào hay chừng nấy.”
Schrodinger cũng đă từng cảnh báo chúng ta chống
lại một cái nh́n thuần tuư vật chất về
nguyên tử và những yếu tố cấu thành của
chúng: “Tốt nhất là không nên nh́n về hạt như là
một thực thể bất biến, mà ngược
lại như là một sự kiện tức thời.
Thỉnh thoảng những sự kiện tức thời
này được nối kết lại cùng nhau và tạo
ra cái ảo tưởng về những thực thể
bất biến.” Ngành cơ học lượng tử
như thế đă duyệt xét lại một cách cơ
bản cái ư niệm của chúng ta về một vật
thể, khi cho nó phụ thuộc vào sự đo lường,
hay nói cách khác, vào một sự kiện. Cũng giống
như trong Phật giáo, vạn pháp không hiện hữu,
chỉ có mối liên hệ của chúng là hiện hữu.
IV. Đi T́m Một Đấng Tối Cao.
1.
Sự ḥa
điệu của vũ trụ.
Ngành vũ trụ học
đương đại đă khám phá rằng những
điều kiện cho phép đời sống và tri thức
xuất hiện trong vũ trụ này có vẻ như
được mả hoá trong các phẩm tính của mỗi
nguyên tử, tinh tú và thiên hà trong vũ trụ, cũng
như có mặt trong tất cả những định
luật vật lư chi phối, vận hành chúng. Vũ trụ
được xuất hiện trong một hoà điệu
lư tưởng như được tạo ra để
dành cho một con người quan sát thông minh có khả
năng thưởng thức cái cấu trúc và sự ḥa
điệu này. Cái ư tưởng vừa nêu chính là cơ
sở của “nhân bản thuyết” vốn phát xuất
từ danh từ “anthropos” có nghĩa là “con người” của
Hy Lạp. Về thuyết lư này, có hai nhận xét cần
được đặt ra. Thứ nhất, cái
định nghĩa mà chúng tôi vừa tŕnh bày chỉ liên
hệ đến cái mặt “mạnh” của nhân bản
thuyết. Đồng thời cũng c̣n có một mặt
“yếu” cho là không giả định trước bất
cứ ư hướng nào trong việc tạo thành thiên nhiên.
Nó có vẽ như rất gần với phép lặp thừa
(**) -những phẩm tánh của vũ trụ phải
được tương xứng với sự có mặt
của con người- và đây là điều mà tôi cũng
sẽ không bàn thảo đến. Thứ hai, cụm từ
“nhân bản thuyết” là không thích đáng bởi v́ nó hàm ư
rằng nhân loại là mục đích mà vũ trụ
được tạo ra. Trong thực tế, những
lập luận về nhân bản thuyết có thể
được áp dụng cho bất kỳ các loài có tri giác
nào ở trong vũ trụ.
Đâu là cơ sở khoa học của nhân bản
thuyết? Cách thế mà vũ trụ của chúng ta
được tạo ra dựa vào hai loại dữ
kiện: 1) những điều kiện sơ khởi,
cụ thể như tổng số khối lượng và
năng lượng mà chúng có, độ trương nở
ban đầu, v.v… và 2) khoảng 15 hằng số vật
lư: hằng số trọng lực, hằng số Plank,
tốc độ ánh sáng, khối lượng của các hạt
cơ bản không phân tách được, v.v… Chúng ta có
thể đo được trị số của những
hằng số này một cách cực kỳ chính xác, tuy nhiên
chúng ta không có bất cứ lư thuyết nào để tiên
đoán chúng. Bằng cách cấu trúc “những mô h́nh vũ
trụ” với những điều kiện sơ khởi
và những hằng số vật lư, những nhà vật lư
không gian đă khám phá ra một điều rằng tất
cả những yếu tố này phải được
phối trí trong một trật tự cực kỳ hoà
điệu: chỉ cần một sai biệt cực
nhỏ trong những hằng số vật lư và những
điều kiện sơ khởi này th́ chúng ta hẵn
đă không có mặt ở đây để nói về chúng.
Cụ thể như, chúng ta hăy xem cái tỷ trọng ban
đầu của vật chất trong vũ trụ.
Vật chất có một lực kéo phản ứng lại
với lực trương giản của vũ trụ gây
ra bởi vụ nổ Big Bang và làm tiết giảm
độ trương nở của vũ trụ. Nếu
cái tỷ trọng ban đầu này quá cao, vũ trụ
sẽ sụp đổ sau một thời gian tương
đối ngắn ngủi -một triệu năm, một
thế kỷ, hoặc một năm không chừng, tùy theo
độ chính xác của tỷ trọng. Với một
sinh mệnh ngắn ngủi như thế rất khó cho
những tinh tú có thể hoàn tất được sự
biến đổi hạt nhân để có thể sản
xuất ra những nguyên tố nặng, cụ thể
như các-bon vốn cần thiết cho đời sống.
Ngược lại, nếu tỷ trọng ban đầu
của vật chất quá thấp, sẽ không có đủ
trọng lực để những v́ sao có thể h́nh thành.
Và không có những v́ sao, tức là không có những nguyên
tố nặng, và không thể có đời sống! Như
vậy, tất cả mọi vật đều
được duy tŕ ở trong một trạng thái quân b́nh
hoàn hảo. Tỷ trọng ban đầu của vũ
trụ phải được cố định ở
một con số thật chính xác là 10^-60. Sự chính xác
tuyệt vời này có thể được đem so sánh
với một tay bắn cung thiện nghệ nhắm trúng
mục tiêu 1centimet vuông (1cm2) được đặt cách
xa 14 tỷ năm ánh sáng, ngay tận đầu bờ
vũ trụ mà khả năng ta có thể quan sát
được! Mức chính xác của sự ḥa
điệu biến đổi tùy theo hằng số
đặc biệt hay điều kiện ban đầu,
thế nhưng trong mỗi trường hợp, chỉ
một thay đổi nhỏ cũng đủ làm cho vũ
trụ khô cằn, trống vắng sự sống và ư
thức.
2.
Có một nguyên lư nào
chi phối cấu trúc vũ trụ?
Chúng ta suy nghĩ như thế nào trước một
sự ḥa điệu tuyệt vời như thế?
Với tôi, h́nh như chúng ta có hai cách thế chọn
lựa khác nhau: Có thể xem sự hoà điệu này là
hệ quả của một t́nh cờ may mắn hoặc
là một tất yếu (nói theo nhan đề một
cuốn sách của nhà sinh vật học Pháp, Jacques Monod,
“Ngẫu Nhiên và Tất Yếu,” Alfred A. Knoff, New York, 1971).
Nếu xem đây chỉ là một ngẫu nhiên, th́ chúng ta
phải mặc nhận một số lượng vô
hạn những vũ trụ khác bên cạnh vũ trụ
của chúng ta cấu thành cái được gọi là
‘đa vũ trụ’. Mỗi một vũ trụ này sẽ
bao gồm một phối hợp của riêng ḿnh với
những hằng số vật lư và điều kiện
sơ khởi. Tuy nhiên chỉ riêng vũ trụ của chúng
ta là được khai sanh ra bởi một tổng hợp
hoàn chỉnh để có thể tạo nên sự sống.
Tất cả đều là những kẻ thua cuộc,
chỉ có chúng ta là người thắng cuộc, giống
như bạn chơi xổ số vô số lần, kết
cuộc có ngày bạn cũng sẽ trúng số.
Ngược lại, nếu chúng ta bác bỏ giả
thiết cho rằng có một cái đa vũ trụ như
thế và mặc nhiên công nhận rằng chỉ có một
vũ trụ đơn lẽ, cái mà chúng ta đang sống,
thế th́ chúng ta phải mặc nhận sự hiện
hữu của một nguyên lư về sáng tạo đă
điều chỉnh sự tiến triển của vũ
trụ một cách tốt đẹp.
Làm thế nào để chọn lựa giữa hai
khả năng này? Khoa học không giúp ích được ǵ
cho chúng ta ở đây bởi v́ nó cho phép cả hai t́nh
huống đều có thể xảy ra. Nếu xem đây là
một t́nh cờ, có rất nhiều cách được
đưa ra để giải thích về sự sáng
tạo một đa vũ trụ. Cụ thể như,
nghiên cứu chung quanh xác suất miêu tả về thế
giới lượng tử, nhà vật lư học Hugh Everett
đă đề xuất rằng vũ trụ tách ra thành vô
số những cái giống hệt nhau tùy theo những
khả năng và chọn lựa được thực
hiện. Một vài vũ trụ chỉ khác nhau bởi
vị trí của một electron trong một nguyên tử,
những cái khác có thể khác biệt căn bản hơn.
Những định luật vật lư và hằng số
cũng như những điều kiện sơ khởi của
chúng có thể không giống nhau. Một giả thuyết
khác cho là trong một chu kỳ tuần hoàn của vũ
trụ, đă có một loạt những vụ nổ Big
Bang và Big Crunch. Bất cứ lúc nào vũ trụ
được tái sanh từ đống tro tàn của ḿnh
để bắt đầu lại trong một vụ
nổ Big Bang mới, nó lại được khởi
đầu với một tổng hợp mới của
những hằng số vật lư và điều kiện
sơ khởi. Cũng c̣n một giả thiết khác nói
về sự sáng tạo vũ trụ, đó là lư thuyết
do nhà vật lư Andrei Linde và một số người khác
đề ra, cho rằng mỗi một trong vô số lượng
những đám bọt lượng tử sơ khai trôi
nổi bập bềnh trong không gian đă cấu thành vũ
trụ. Như thế th́ vũ trụ của chúng ta
chỉ là một cái bong bóng nhỏ trong một cái siêu vũ
trụ được tạo nên bởi vô số những
cái bong bóng khác. Ngoại trừ cái của chúng ta, không có cái
nào trong số những vũ trụ đó nuôi dưỡng
được sự sống bởi v́ những hằng
số vật lư và những định luật của chúng
đă không thích hợp.
3.
Không hề có một
Đấng Sáng Tạo trong Phật Giáo.
Như vậy, thái độ của Phật giáo liên quan
đến sự ḥa điệu phi thường này như thế
nào? Phật giáo có chấp nhận ư niệm có một
Đấng Sáng Tạo toàn tri hay là một nguyên lư sáng
tạo có khả năng điều chỉnh sự
tiến triển của vũ trụ một cách tuyệt
vời? Hay Phật giáo cho rằng sự ḥa điệu
chính xác và tuyệt vời của vũ trụ chẳng qua
chỉ là một t́nh cờ may mắn? Vấn đề có
hay không một Đấng Sáng Tạo là một điểm
then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo
với các truyền thống tín ngưỡng lớn trên
thế giới. Đối với Phật giáo, ư niệm
về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề
được đặt ra để lư giải do bởi
ư niệm về tánh không và duyên khởi đă
được bàn đến trước đây. Phật
giáo xem vấn đề “sáng tạo” là không liên quan bởi
v́ theo họ, thế giới hiện tượng thực
sự không được sinh ra, trong cái ư nghĩa là chúng
trải qua t́nh trạng từ phi hữu trở thành
hiện hữu. Chúng có mặt trong một cách thế
được gọi là “tục đế” và không hề
là một thực tại chân thực. Tục đế hay
thực tại quy ước có mặt do sự cảm
nghiệm của ta về một thế giới mà chúng ta
cho rằng trong đó mọi sự vật hiện hữu
một cách khách quan. Phật giáo quan niệm rằng
những nhận thức như thế là sai lầm bởi
v́ thế giới hiện tượng, nh́n một cách
rốt ráo không phải là những thực tại khách quan, có
nghĩa là chúng không hề là những hiện hữu tự
thân. Đây được gọi là “chân đế”. Trong
những ư nghĩa này, vấn đề sáng tạo trở
thành một vấn nạn giả. Cái vấn nạn về
một “nguồn gốc nguyên thủy” chỉ bắt
nguồn từ sự xác tín vào thực tại tuyệt
đối của thế giới hiện tượng. Cái
ư tưởng về sáng tạo chỉ cần thiết khi
chúng ta tin là có một thế giới khách quan. Nó tan biến
đi khi chúng ta nhận thức rằng thế giới
hiện tượng, cho dù là chúng ta có thể thấy chúng
rơ ràng, không hề có một hiện hữu độc
lập, “khách quan”. Và một khi sự sáng tạo không c̣n là
một vấn đề, ư niệm về Đấng Sáng
Tạo cũng không c̣n là một yêu cầu được
đặt ra.
Tuy nhiên, quan điểm của Phật giáo không hề
loại bỏ cái khả năng về một sự
hiện bày của thế giới hiện tượng.
Một điều hiển nhiên, cái thế giới mà chúng
ta nh́n thấy chung quang ḿnh không phải là phi hữu, tuy
nhiên Phật giáo cho rằng nếu chúng ta khảo xét cách thế
mà chúng hiện hữu, chúng ta sẽ nhận ra ngay là chúng
không thể được xem như bao gồm một
loạt những thực thể độc lập, có
hiện hữu tự thân riêng biệt. Nhà triết học
lớn của Phật giáo Ấn Độ vào thế
kỷ thứ hai, Thánh giả Long Thọ, đă nói: “Bản
tánh của vạn pháp là duyên khởi; tự nó, vạn pháp
không hề có tự tánh”. Như thế sự tiến
triển của chúng không phải do t́nh cờ may mắn mà
cũng không phải bởi một sự can dự thiêng
liêng nào. Thay vào đó chúng bị chi phối bởi luật
nhân quả trong một mối liên hệ duyên khởi và nhân
quả hổ tương bao trùm lên tất cả. Bởi
v́ vạn pháp không hề có thực tại độc
lập, chúng không thể nào ‘bắt đầu’ và ‘kết
thúc’ một cách thực sự như là những thực
thể tách biệt.Và như thế, ư niệm về
một sự khởi đầu và kết thúc của
vũ trụ thuộc về tục đế chứ không
phải chân đế.
Như vậy, quan điểm này phù hợp với
nền khoa học vũ trụ đương đại
như thế nào? Chúng ta thấy duy chỉ có loại vũ
trụ không có khởi điểm và tận cùng là loại
vũ trụ tuần hoàn với một loạt những
vụ nổ vô tận của Big Bang và Big Crunch ở trong
quá khứ và tương lai. Thế nhưng cái trạng
huống mà trong đó vũ trụ của chúng ta tự
sụp đổ vào một ngày nào đó bởi một Big
Crunch có vẻ như không phù hợp với những quan sát
đương đại khi cho rằng mật độ
khối lượng của những quang chất (0.5% trong
tổng số khối lượng và năng lượng
tích chứa trong vũ trụ), vật chất tối
(29.5%) và năng lượng tối (70%) cọng lại
với nhau chỉ là cái tỷ trọng tới hạn.
Điều này có nghĩa rằng cái h́nh học của
vũ trụ là một h́nh học phẳng, tức là nó
sẽ trương giản đến bất tận và
độ gia tốc trương giản này sẽ không
đi đến số không sau một khoảng thời
gian vô tận ở tương lai. Như thế, với
mức độ kiến thức hiện nay có vẻ
như chưa chấp nhận được ư niệm
về một loại vũ trụ tuần hoàn.
4.
Những Suối
Nguồn của Ư Thức Cộng Hữu Với Thế
Giới Vật Chất.
Bây giờ trở lại vấn đề nhân bản
thuyết. Theo như Phật giáo quan niệm, sự hoà
điệu tuyệt vời của vũ trụ đủ
để cho ư thức xuất hiện không hề là công
tŕnh của một Đấng Tối Cao nào cả, bởi
v́ nhân vật này không hề hiện hữu. Đây cũng
không phải là sản phẩm của một t́nh cờ may
mắn mà những người ủng hộ lư thuyết
về một đa vũ trụ đề xuất: chúng ta
có mặt và sống ở đây, trong vũ trụ này,
chỉ là một ngẫu nhiên đầy may mắn do
sự phối hợp chính xác của những hằng
số và điều kiện vật lư. Phật giáo cho
rằng cái vũ trụ vật chất này và ư thức
đă luôn cộng hữu với nhau từ vô thủy.
Để cộng hữu, cái thế giới hiện
tượng này phải phù hợp một cách hổ
tương, và do đó tạo ra sự ḥa điệu
kỳ diệu. Cái sau sinh khởi bởi v́ vật chất
và ư thức không thể loại trừ nhau, và bởi v́
chúng có mối liên hệ duyên khởi. Quan điểm này phù
hợp như thế nào với khoa sinh học thần kinh
đương đại? Khoa sinh vật học quả là
vẫn đang c̣n trên một lộ tŕnh dài lâu mới có
khả năng lư giải được nguồn gốc
của ư thức Tuy nhiên, đại đa số những
nhà sinh vật học quan niệm rằng không cần
thiết giả định rằng những suối
nguồn của ư thức cộng hữu với vật
chất, bởi v́ theo họ, cái sau có thể xuất
hiện từ cái trước, rằng tâm thức có
thể sinh khởi từ vật chất. Tâm thức phát
sinh một khi mà hệ thống của những tế bào
năo bộ trong các sinh vật đạt đến
ngưỡng cửa của một phức hợp. Trên quan
điểm này, ư thức đă xuất hiện, cũng
giống như sự sống, từ sự phức
hợp của những nguyên tử vô sinh.
Đến đây một câu hỏi được
đặt ra: Một khi Phật giáo cho rằng ư thức
được phân ĺa và vượt qua t́nh trạng vật
lư, phải chăng Phật giáo cũng rơi vào chủ
nghĩa nhị nguyên tâm-thân phân ĺa của Descartes, qua đó
cho rằng có hai loại thực tại, một của tâm
(hay tư tưởng) và một của thế giới
vật chất? Câu trả lời là không. Quan điểm
của Phật giáo hoàn toàn khác biệt từ căn bản
với chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes. Chỉ
có một sự khác biệt trên mặt tục đế
giữa vật chất và ư thức, bởi v́ ở
điểm tận cùng, cả hai đều không có một
hiện hữu tự thân. Bởi v́ Phật giáo bác
khước cái thực tại rốt ráo của thế
giới hiện tượng, nó đồng thời cũng
bác khước luôn cái ư tưởng cho rằng ư thức là
độc lập và hiện hữu tự thân.
V. Khoa Học và Tâm Linh: Hai Cửa Sổ Mở Vào
Thực Tại.
Vừa rồi chúng tôi đă cố gắng chứng
tỏ rằng đă có những điểm đồng quy
nổi bật giữa quan điểm về thực
tại của Phật giáo và nền khoa học
đương đại. Ư niệm về “vô
thường”, một ư niệm then chốt trong Phật
giáo, tương ứng với ư niệm về tiến hoá
trong khoa học về vũ trụ, địa chất và
sinh vật. Không có ǵ ở trong thể tĩnh, tất
cả đều thay đổi, chuyển động và
tiến triển, từ một hạt nguyên tử cực
nhỏ cho đến một cấu trúc lớn lao nhất
trong vũ trụ. Vũ trụ tự nó cũng đă có
một lịch sử. Thuyết tiến hoá của
Chúng tôi cũng đă nêu rơ rằng Phật giáo phản
bác cái ư niệm về một sự khởi đầu
của vũ trụ cũng như về một vị
Thượng Đế hay là một nguyên lư sáng tạo có
khả năng ḥa điệu những phẩm tánh của
ḿnh, từ đó tạo điều kiện cho ư thức
xuất hiện. Phật giáo cho rằng ư thức cộng
hữu với vật chất nhưng không hề bắt
nguồn từ vật chất. Bởi v́ cả hai
đều tương tác và duyên khởi nên không cần
thiết phải điều chỉnh thế giới
vật chất để phục vụ cho ư thức trong
một thể hoà điệu.
Những điểm đồng quy nói trên không có ǵ là
đáng ngạc nhiên bởi v́ cả khoa học lẫn
Phật giáo đều đă sử dụng những tiêu chuẩn
nghiêm nhặt và chân xác để vươn đến chân
lư. Bởi v́ mục tiêu của cả hai là mô tả
thực tại, họ phải gặp nhau ở những
mẩu số chung mà không hề loại trừ nhau. Trong
khoa học, những phương pháp cơ bản
để khám phá sự thật là thí nghiệm và lư
thuyết hóa dựa vào phân tích; trong Phật giáo, quán
tưởng là phương pháp chính. Cả hai đều là
những cánh cửa sổ cho phép ta hé nh́n vào thực
tại. Cả hai đều vững vàng trong những
phạm trù chuyên biệt của ḿnh và bổ túc lẫn nhau.
Khoa học khám phá dùm ta những kiến thức “qui
ước”. Mục tiêu của nó là hiểu rơ thế
giới hiện tượng. Những áp dụng kỹ
thuật của nó có thể gây nên những hệ quả
xấu hay tốt đối với đời sống
thể chất của con người. Thế nhưng quán
tưởng, khi giúp ta nh́n rơ bản tánh chân thật của
thực tại, có mục đích cải thiện nội
giới để ta có thể hành động nhằm
cải thiện đời sống của tất cả
mọi người. Những nhà khoa học c̣n sử dụng
đến những thiết bị tối tân hơn
để khám phá thiên nhiên. Trái lại trong h́nh thức
tiếp cận bằng quán tưởng, thiết bị duy
nhất là tâm. Hành giả quán sát những tư tưởng
của ḿnh được đan kết lại cùng nhau
như thế nào và dính mắc vào y ra sao. Y khảo sát cái
cơ chế vận hành của hạnh phúc và đau
khổ để từ đó cố gắng khám phá ra
những tiến tŕnh tâm linh nhằm nâng cao sự an b́nh
nội tâm, làm cho cơi ḷng ḿnh rộng mở hơn
đối với tha nhân để giúp họ cùng phát
triển, cũng như từ đó thấy rơ
được những tiến tŕnh gây ra những hệ
quả độc hại để loại bỏ chúng.
Khoa học cung cấp cho ta những dữ kiện,
nhưng không mang lại sự tiến bộ tâm linh và
chuyển hoá. Trái lại sự tiếp cận tâm linh hay
quán tưởng chắc chắn phải đưa ta
đến một sự chuyển hoá bản thân sâu sắc
trong cách thế mà chúng ta nhận thức về thế
giới để dẫn đến hành động. Hành
giả Phật giáo một khi nhận thức rằng
vật thể không hề có hiện hữu tự thân
sẽ giảm thiểu sự dính mắc vào chúng, từ
đó giảm bớt khổ đau. Nhà khoa học, với
cùng một nhận thức như thế, sẽ xoa tay hài
ḷng, xem đó như là một tiến bộ tri thức
hầu sử dụng vào những công tŕnh nghiên cứu khác,
sự khám phá này không hề làm thay đổi thị kiến
cơ bản của y đối với thế giới và
cách thức mà y hướng dẫn đời sống
của ḿnh.
Khi đối diện với những vấn đề
đạo đức hay luân lư ngày càng có nhiều sức
ép, đặc biệt là trong lănh vực di truyền
học, khoa học cần đến sự trợ giúp
của tâm linh để khỏi bỏ quên đi nhân tính
của ḿnh. Einstein đă phát biểu một câu nói rất
đáng tán thưởng về nhu cầu cần đến
sự hợp nhất giữa khoa học và tâm linh: “Tôn giáo
của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Nó
sẽ phải vượt qua một vị Thượng
Đế có nhân trạng và tránh xa những học
thuyết lẫn giáo điều. Bao gồm cả khoa
học tự nhiên và tâm linh, nó sẽ phải
được đặt căn bản trên một ư
thức tôn giáo phát khởi từ cảm nghiệm về
tất cả mọi sự vật, khoa học tự nhiên
lẫn tâm linh, và đây được xem như một
sự hợp nhất đầy ư nghĩa… Phật giáo là
câu trả lời cho sự mô tả này… Nếu có bất
kỳ một tôn giáp nào có thể đáp ứng
được những nhu cầu của nền khoa
học đương đại, th́ đó chính là Phật
giáo.”
* Đề
nghị tham khảo thêm:
Chủ đề được bàn thảo ở
đây đă được khai triển một cách chi
tiết hơn trong: Ricard, Matthieu, and Thuan, Trinh Xuan, “The
Quantum and the Lotus,”
Trong hơn 20 năm qua, đă có một loạt những
gặp gỡ chung quanh chủ đề ‘Mind and life’
giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và một số
những nhà khoa học nổi tiếng trên các lănh vực
thần kinh sinh vật học, phân tâm học, triết
học và vật lư học.