|
|
Khóa Hư Lục
Tác giả: Hoàng Đế Trần Thái Tông
Dịch giả: HT. Thích Thanh Kiểm
Source: Quảng Đức.com
|
-
Đôi nét về HT. Thích Thanh Kiểm Quyển Thượng 01 - Nói về
sắc thân 05 - Văn giới
sắc 14 - Bài tựa kinh
Kim Cương Tam Muội Quyển Hạ 21 - Kệ cảnh
sách chúng giờ Dần |
Bộ
sách này có thể gọi là kinh "Khóa Hư" v́ là cả
một đời thực nghiệm về chân lư sinh
tồn của tác giả. Tác giả là một vị vua khai
sáng ra triều đại nhà Trần, oanh liệt nhất
trong lịch sử dân tộc, ba phen đánh đuổi quân
xâm lăng Mông Nguyên, từng chinh phục thế giới
từ Á sang Âu "đi đến đâu cỏ không
mọc lên được".
Nhà vua đă trải qua cuộc đời
bi kịch, bố mẹ mất sớm, một ḿnh
đối phó với ông chú Phụ-chính, cùng với
Thiên-Cực Công chúa bày mưu lập vợ Hoài-Vương
đang có mang lên thay Lư-Chiêu-Hoàng v́ Chiêu Thánh đă 20 năm
chưa có con. Do đấy mà Trần Liễu (Ân Sinh
Vương) mất vợ, nổi loạn và Trần Thái
Tông bất nhẫn bỏ cung điện trốn vào núi
An-Tử, ḥng cầu Phật giáo để giải thoát.
Đây chính là lời Trần Thái Tông viết:
"Bấy giờ ư chí của Trẫm
đă nhất quyết. Hiệu Thiên-Ứng Chính-B́nh thứ
5 (1245), năm Bính-Thân, đêm 3 tháng 4. Trẫm nhân mặc áo
mỏng thường đi ra cửa cung, bảo tả
hữu "Ta muốn đi chơi, nghe trộm lời dân
để xem nguyện vọng của chúng, họa may
biết được sự khó nhọc của họ. Lúc
ấy đi theo bên trẫm bất quá bảy tám
người. Đến đêm vào giờ hợi, một
ḿnh một ngựa cất lẻn ra đi. Khi đă qua sông
Nhị, liền hướng phiá đông mà tiến mới
thật t́nh bảo cho tả hữu biết. Họ kinh
ngạc, đều ứa nước mắt khóc. Sáng hôm
sau vào giờ măo th́ đến bến Đại-Than chân núi
Phả-Lại. Trẫm e có kẻ nhận biết, nên
phải lấy vạt áo che mặt mà qua sông, rồi theo
đường tắt lên núi. Đến tối, vào
nghỉ trong chùa Giác-Hạnh đợi sáng lại đi.
Trèo lội vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa
mệt không tiến được nữa. Trẫm bèn
bỏ ngựa, vịn vách đá mà đi. Đến
giờ mùi mới tới An-Tử. Qua hôm sau, trèo thẳng
lên đỉnh, vào ra mắt Quốc-Sư Trúc-Lâm là vị
đại Sa-môn ở đây.
Thấy Trẫm Quốc Sư (Phù Vân)
mừng hớn hở thong thả nói: "Lăo tăng ở
núi rừng lâu, xương cứng, thể gầy, ăn
rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối,
vui thú cảnh rừng, nhẹ như mây nổi nên theo gió
đến đây. Nay nhà Vua bỏ địa vị nhân
chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi,
hẳn có ư t́m hỏi điều ǵ mới tới
đây?".
Trẫm nghe Sư nói, hai hàng nước
mắt tự nhiên khôn cầm, nhân mới đáp:
"Trẫm c̣n thơ ấu, sớm mất hai thân; bơ
vơ đứng trên sĩ dân, không nơi nương
tựa. Nghĩ lại sự nghiệp của đế
vương đời trước thịnh suy không
thường, cho nên vào núi chỉ cầu làm Phật không
cầu chi khác!" Sư đáp: "Núi vốn không có
Phật. Phật ở nơi tâm người, tâm lặng mà
biết ấy là chân Phật. Nay nếu nhà vua giác ngộ
được tâm th́ lập tức thành Phật không
phải cầu t́m khó nhọc ở bên ngoài vậy"
(Thiền Tông Chỉ Nam Tự).
Đoạn vấn đáp trên đây
lời nói tự sự chính xác thành khẩn, không cho phép ta
nghi ngờ không phải Trần Thái Tông đă bỏ ngôi
để vào núi cầu Phật t́m giải thoát cho nỗi
ḷng ưu phiền bi đát. Sử gia Ngô thời Sỹ
đă nhận thức:
"Vua Thái-Tông... làm ra sách" Khoá Hư
Lục "mến cảnh sơn lâm, coi sống chết
như như nhau tuy ư tứ gần với đạo Phật
không tịch mà chí th́ rộng xa cao siêu cho nên bỏ ngôi báu
như trút dép nát vậy". (Việt Sử Tiêu Án Q.III).
Thái độ hỷ xả của nhà vua
thực là tinh túy của tôn giáo thực hiện.
V́ Tể tưởng Thủ-Đô và toàn
thể quần thần yêu cầu và nhất là lời khuyên
chính đáng của Quốc Sư: "Phàm làm đấng
nhân quân phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư
muốn và tâm thiên hạ làm tâm. Nay thiên hạ muốn
đón nhà vua về cung, nhà vua không về sao
được?".
Và Trần Thái Tông phải trở về
gượng gắng lên ngôi. Và ngài đă giác ngộ khi
đọc kinh "Kim Cương" đến câu:
"Ưng Vô Sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (Nên có cái
tâm không chấp vào đâu cả). Chính với cái tâm minh
ấy mà nhà vua đă nhất quán tam giáo: "Vị minh nhân
vọng phân tâm giáo, liễu đắc thể đồng
ngộ nhất tâm!" (Chưa giác ngộ th́ lầm phân
biệt có ba giáo lư, hiểu thấu triệt th́ cùng giác
ngộ chỉ có một tâm linh).
Không những Thái-Tông có tinh thần khai
phóng. Ngài c̣n khoan nhân đại độ, đă khoan
thứ cho Trần Liễu nổi loạn, anh em ôm nhau khóc
trước mũi kiếm của Trần Thủ
Độ, nên về sau Dụ-Tông có thơ ca tụng:
Đường
Việt khai cơ lưỡng Thái Tông
Đường
xưng Trinh-Quán, ngă Nguyên Phong
Kiến
Thành chu tử, An Sinh tại
Miếu
hiệu tuy đồng đức bất đồng
(Nhà Đường, nước Việt
mở nước có hai vua Thái Tông, Nhà Đường
xưng là Trinh-Quán, Ta xưng là Nguyên-Phong; Kiến-Thành, em
Thế-Dân bị anh giết c̣n An-Sinh là anh Thái-Tông vẫn
sống và được phong ấp. Tuy, đều
Thái-Tông mở nước nhưng không cùng có nhân
đức).
Sau khi tŕnh bày "Vietnamese Humanism (ở
Đại-Học Hawai năm 1957, có đăng ở Hawai
University Press, October 1959, January 1960) tôi có đưa cho D.T.
SUZUKI danh tiếng về "Zen" Nhật-Bản, ông ta
đă hết sức ca tụng bộ sách "Khóa
Hư" và tác giả của nó nhất lại là một
nhà vua.
Sách "KHÓA HƯ" được
Ḥa-Thượng Thanh-Kiểm chùa Vĩnh-Nghiệm dịch
lại đầy đủ, chú giải minh bạch,
đáng là bộ kinh Phật-Giáo Việt-Nam hiếm hoi
của Tông-giáo thực hiện, một tập
đại-thành triết học tôn giáo thế giới.
Nay
tựa
NGUYỄN ĐĂNG
THỤC
---o0o---
---o0o---
Vi tính: Việt Dũng
Tŕnh bày: Nhị
Tường
Cập nhật: 01-08-2002