KHO
TÀNG TÂM CỦA CÁC BẬC GIÁC NGỘ
The Heart Treasure of the Enlightened Ones
Nguyên tác: Patrul Rinpoche - Bản dịch
Anh:Nhóm dịch thuật Padmakara
Bản dịch Việt: An Phong và
Đương Đạo - Thiện Tri Thức, 1999
Source:
Thư viện Hoa Sen

Sự
thực hành
Cái
Thấy, Thiền Định và Hành Động
Một Bài Giảng
Tốt Đẹp trong lúc Bắt Đầu, lúc Giữa và
Kết Thúc bởi Patrul Rinpoche với bình giảng của
Dilgo Khyentse. Dịch từ tiếng Tây Tạng bởi Nhóm
dịch thuật Padmakara. The Heart Treasure of the
Enlightened Ones Shambhala, 1992. Bản dịch Anh
: Nhóm dịch thuật Padmakara. Kho Tàng Tâm của các
Bậc Giác Ngộ Thiện Tri Thức, 1999.
Bản dịch Việt : An Phong và Đương
Đạo. Hình bên: Đức DILGO KHYENTSE RINPOCHE (1910-1991)



31.
Tâm thức không thể đảm đương tất
cả những thực hành quán tưởng ;
Thiền định về một vị
Phật là thiền định về tất cả chư
Phật.
Bất cứ cái gì xuất hiện,
những hình tướng là hình sắc của Quán Thế Âm
;
Trong cảnh giới của thân thể
bổn tôn, xuất hiện nhưng trống không, hãy trì
tụng thần chú sáu âm.
32.
Những trì tụng, công phu và thần chú chỉ là những
rắc rối ;
Thần chú sáu chữ bao gồm tất
cả là âm thanh thực sự của Pháp.
Tất cả âm thanh không gì khác hơn là
lời của Quán Thế Âm ;
Nhận biết chúng như là thần chú,
âm vang nhưng trống không, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
64.
Một bổn tôn, Quán Thế Âm, hiện thân của tất
cả chư Phật ;
Một thần chú, sáu chữ, hiện thân
của mọi thần chú ;
Một Pháp, Bồ đề tâm, hiện
thân của cả thảy thực hành trong hai giai
đoạn phát triển và thành tựu.
Biết cái một nó giải thoát cho
tất cả, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
NỘI DUNG
Lời
mở đầu của Dalai Lama
Lời
nói đầu của những dịch giả
Lời
cám ơn của những dịch giả
Dẫn
nhập
Động Cơ Chân Chánh để
Nhận Lãnh và
Nghiên Cứu những Lời Dạy
Làm thế nào để Nghiên Cứu
những Lời Dạy này
Những Lời Dạy này chứa
đựng điều gì
Những
bài kệ mở đầu
Kính lễ
Động
lực của Tác Giả trong việc Biên Soạn Bản
Văn Này
PHẦN
MỘT
Những
khuyết điểm của thời đại suy thoái
của chúng ta
PHẦN
HAI
Cái
thấy, thiền định và hành động của
đại thừa
Ba
con đường
Con
đường của những kinh điển
Quy
y
Tư
tưởng Giác Ngộ
Tịnh
hóa
Cúng
dường
Guru
Yoga
Con
đường của những tantra
Quán
đảnh
Tri
giác thanh tịnh
Giai
đoạn phát triển
Thân
Kim Cương
Ngữ
Kim Cương
Tâm
Kim Cương
Sau
thiền định
Giai
đoạn thành tựu
Bản
tánh của Tâm thức
Bốn
yoga: Nhất niệm, Đơn giản, Một vị,
Không-thiền-định
Sự
chuyển hóa những Giác quan, Thức tình phiền não và các
Uẩn
Sáu
đối tượng của giác quan
Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Tâm
thức
Năm
thức tình phiền não
Sân hận, Kiêu mạn, Tham lam, Ghen ghét, Vô
minh
Năm
uẩn:Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức
Bốn
điểm chính yếu về Thân, Ngữ, Tâm và Pháp Thân
Kết
luận Bài Giảng Thứ Hai
PHẦN
BA. quyết tâm giải thoát khỏi sanh tử
Buông
bỏ những hoạt động sanh tử
Những hành động
Nói năng
Đi đây đó
Ăn
Suy nghĩ
Những sở hữu
Ngủ
Nhu
Cầu Khẩn Thiết phải Thực Hành
Làm chủ tâm thức
Những
bài kệ kết thúc
Hồi Hướng Công Đức
Lời
Kết
Chú
thích
Về
Patrul Rinpoche
Về
đức Dilgo Khyentse Rinpoch
Tôi sung sướng
biết rằng bản dịch này về một giải
thích ứng khẩu sâu xa do Kyabje Khyentse Dorje Chang về tác
phẩm Thog mtha bar gsum du dge ba’i tam của Za Patrul Rinpoche
đã được ấn hành dưới tiêu đề :
Kho Tàng Tâm của các Bậc Giác Ngộ. Kyabje Khyentse Dorje
Chang là vị trưởng phái của dòng phái Cổ
Truyền.
Za
Patrul Rinpoche, Jigme Chokyi Wangpo, là một Đại Bồ tát
đã đến Xứ Tuyết nhiều lần gần
đây. Vị đại hành giả cao cả và học
rộng ấy đã ban cho lời dạy này,
được biết với tên Giáo Huấn về Cái Gì
là Tốt trong lúc Bắt Đầu, lúc Giữa và lúc
Kết Thúc – Viên Ngọc Tâm của sự Thực Hành Thiêng
Liêng về Cái Thấy, Thiền Định và Đức
Hạnh, cho lợi lạc của những ai mong
ước sự giải thoát. Nó bao gồm tất cả
những giáo huấn chính yếu, và bởi vì ý nghĩa sâu
xa mà nó chứa đựng và ngôn ngữ đẹp
đẽ trong đó nó được tỏ bày, nó thực
sự giống như một phương thuốc
trường sanh làm sống lại người chết.
Tôi
hy vọng và cầu nguyện rằng qua sự xuất
bản lời dạy này và phần giải thích của nó,
người của cả Đông phương và Tây
phương sẽ có thể tìm thấy sự an bình
của tâm thức trong hạnh phúc không gì hơn của tình
thương và bi mẫn.
DALAI
LAMA
8 tháng 2, 1991
LỜI NÓI
ĐẦU CỦA NHỮNG DỊCH GIẢ
Trong
cuốn sách này, hai đại sư của thế kỷ
mười chín và thế kỷ hai mươi trình bày toàn
bộ con đường Phật giáo, bắt đầu
từ động lực căn bản nhất và kết
thúc trong kinh nghiệm trực tiếp về thực
tại tuyệt đối vượt khỏi sự
nắm bắt của tâm thức ý niệm.
Bản
văn gốc là một bài thơ dài viết vào cuối thế
kỷ mười chín bởi Patrul Rinpoche, một trong
những vị thầy Phật giáo lỗi lạc nhất
vào thời ngài. Patrul Rinpoche đã không nhân nhượng trong
sự giải thích của ngài về những giáo lý và
đã sống đúng như ngài dạy, lang thang khắp
miền đông Tây Tạng, tìm chỗ ở trong những
hang núi hay dưới cây rừng, thoát khỏi mọi giàu
có, địa vị và sự tự xem là quan trọng. Ngài
là một người thô lỗ không chịu nổi thói
bịp bợm và đạo đức giả, những
người mới gặp ngài lần đầu đôi khi
bực bội ; nhưng không ai biết khá nhiều về ngài
lại không bị xúc động bởi trí huệ của
ngài, sự học rộng, tính khôi hài và lòng tốt sâu xa
của ngài.
Ngài
viết bài thơ này cho một trong những đệ
tử thân thiết khi đang sống trong một hang
hẻo lánh gần biên giới Hoa-Tạng. Trong đó,
trước tiên ngài trình bày một diễn tả tàn phá và
không thương xót về sự lừa bịp và giả
dối rất thịnh hành trong đời sống bình
thường hàng ngày. Ngài kết luận rằng giải
pháp duy nhất là từ chối tham dự vào bãi lầy
của sự không chân thật này, và tiếp tục cho
một giải thích súc tích về những thực hành chính
yếu của con đường Phật giáo, bắt
đầu với sự nhận ra cái gì là sai lầm trong
thế giới bình thường của vọng
tưởng và vô minh. Ngài diễn tả những thực
hành sơ khởi, những giai đoạn phát triển và
thành tựu, và sự thiền định không ý niệm hóa
của Mahamudra và Đại Toàn Thiện. Cuối cùng, ngài
trở lại với chủ đề ban đầu, thúc
dục chúng ta khảo sát một cách phê phán những mối
bận tâm vật chất của chính chúng ta và suy nghĩ
cẩn thận chúng ta muốn tiêu dùng phần đời
còn lại của chúng ta như thế nào.
Ngôn
ngữ của bản văn là oai vệ. Lấp lánh thông
tuệ, sự lập lại, và thiên tài đích thực
về thi ca, nó không hề mất sự súc tích và sáng
sủa bộc trực. Chúng tôi đã làm hết sức
để truyền đạt thành Anh ngữ vài chỗ
mơ hồ về văn phong của nguyên bản, nhưng
không có sự chuyển dịch nào có thể làm điều
đó hoàn toàn thích đáng (Với những người có
căn bản tiếng Tây Tạng, chúng tôi in bản văn
gốc bằng tiếng Tây Tạng trong phần phụ
lục).
Tuy
nhiên, có cái gì hơn cả sự điêu luyện thi ca
đàng sau những vần thơ sáng chói của Patrul
Rinpoche. Điểm chủ yếu của bản văn là
cung cấp một hệ thống súc tích và trên tất
cả là dễ nhớ, đầy ắp sự chỉ dạy
cá nhân, được dùng để truyền đạt
phần bao la của kinh nghiệm, hiểu biết và trí
huệ tích chứa được, để trao truyền
toàn bộ từ thầy xuống trò trải qua nhiều
thế hệ bằng sự chỉ dạy bằng
lời, sự thực hành được giám sát, và sự
tiếp xúc cá nhân. Chính vì để đáp ứng yêu cầu
này mà Patrul Rinpoche đã viết tám mươi hai
đoạn kệ súc tích và rất đáng nhớ này
tổng kết những giáo lý, rồi ngài truyền cho
những đệ tử với một sự giải
thích chi tiết bằng lời.
Khi
nhiều đoạn kệ này đã trở nên nổi
tiếng như những trích dẫn trong các tác phẩm
của những tác giả sau đó, nó như là một toàn
bộ và một phần của truyền thống
truyền miệng mà chúng giữ lại đầy
đủ giá trị. May mắn thay, những đệ
tử của Patrul Rinpoche đã thực hành, chứng
ngộ, và truyền lại truyền thống một cách cẩn
thận như những vị tiền bối của
họ. Ngày nay, sau hai thế hệ, Dilgo Khyentse Rinpopche
đã có thể truyền lại cho chúng ta di sản của
kinh nghiệm và trí huệ này.
Bởi
thế sự bình giải của Khyentse Rinpoche không phải
chỉ là một mở rộng mang tính giải thích
những đoạn kệ của bản văn gốc. Nó
chứa đựng chính giáo lý nhận được
bởi Patrul Rinpoche từ những vị thầy của
ngài, đi ngược lại đến Jigme Lingpa,
đến Longchenpa, đến những guru vĩ
đại Padmasam-bhava và Vimalamitra.
Dù lời bình giảng được trình bày ở
đây trong hình thức một cuốn sách, không nên quên
rằng nó không phải là một bản văn mà Khyentse
viết ra trong một khoảng thời gian và rồi có suy
nghĩ, sửa chữa, xem lại, chỉnh đốn,
thêm vào và xóa bỏ. Ngài chỉ nói nó ra, đúng như nó là,
không có một chút ngừng nghỉ, hay ngắt đoạn
của tư tưởng. Bất kỳ ai có mặt trong
một buổi giảng dạy của Khyentse Rinpoche sẽ
quen với phong cách đặc biệt này. Hiếm khi
liếc nhìn vào bản gốc, Rinpoche nói không cố gắng
với một nhịp độ đều đặn,
bằng phẳng và không có nhấn mạnh, như đang
đọc từ một cuốn sách vô hình trong trí nhớ
của ngài. Mỗi câu, dầu dài và phức tạp,
đều đầy đủ và văn phạm hoàn
hảo. Bằng cách nào đó, chủ đề luôn luôn
được bao trùm đều đặn từ
đầu cho đến cuối, đúng trong thời gian
được phân phối, nâng lên chính xác với mức
độ thấu hiểu của thính chúng. Hơn nữa,
khả năng phi thường này không bị bó hẹp trong
những giáo lý của một truyền thống riêng
biệt nào ; tính cách chiết trung của Khyentse Rinpoche
đến nỗi, dù ngài đi đâu, ngài cũng có thể
ngồi xuống trong một trung tâm tu viện thuộc
bất kỳ truyền thống nào và giảng dạy chính
xác theo dòng phái riêng biệt đó.
Tháng
Chín năm 1991, khi bản dịch này ở vào những giai
đoạn sửa soạn cuối cùng, cuộc đời
phi thường của Dilgo Khyentse đến chỗ
kết thúc. Ngài thọ tám mươi mốt tuổi
(Giờ đây, ngài đã tái sanh trở lại vào ngày 30
tháng 6 năm 1993, ngày sinh nhật của đức Liên Hoa
Sanh và hiện ở tại Dharam-sala – chú thích thêm của
bản dịch Việt ngữ). Từ tuổi nhỏ, toàn
bộ cuộc đời của ngài đã được
tiêu dùng trong nghiên cứu, thực hành và giảng dạy.
Bất kỳ lúc nào, ngày hay đêm, ngài cũng ở trong
một dòng không đứt đoạn và như nhau của
lòng tốt, hài hước, trí huệ và nghiêm trang, mọi
cố gắng của ngài đều hướng
đến sự giữ gìn và diễn đạt tất
cả những hình thức của giáo lý Phật giáo,
về điều này, không nghi ngờ gì, ngài là một trong
những vị xiển dương vĩ đại
nhất của thời hiện đại.
Trong
thời trẻ, Khyentse Rinpoche đã sống và đã
thực hành nhiều giống như Patrul Rinpoche, trong
những núi non và nơi hoang dã. Cuộc đời về
sau của ngài được đóng vai để chống
lại một số lớn những giả dối phù
phiếm, nhưng ngài không bao giờ mất đi phong cách
giản dị rốt ráo của mình. Cả hai bậc
thầy lỗi lạc này rõ ràng chia xẻ với nhau
đường lối không khoan nhượng trong đó các
ngài sống và thở những giáo lý. Vượt khỏi mọi
bối cảnh văn hóa riêng biệt, cả hai có khả
năng truyền đạt cảm hứng cho mọi
người để tự vấn nạn một cách sâu
xa những chọn lựa của họ trong cuộc
sống, và rồi kinh nghiệm thực hành phong phú và trí
huệ bao la để hướng dẫn họ tìm
thấy con đường thực hành chân chính những
giáo lý của chính họ.
Những
vấn đề mà chúng ta chạm mặt trong cuốn sách
này cũng tươi mới và hiện đại như
bao giờ. Chính Khyentse Rinpoche đã chọn bài dạy này
để xuất bản như là một bản văn nó
có thể gây cảm hứng cho bất kỳ ai để
suy nghĩ về cuộc đời mình và nó đồng
thời trao tặng một cái nhìn toàn bộ về quan
điểm và thực hành của ba thừa vĩ
đại của Phật pháp. Những câu kệ
tươi mát và xuyên thấu của Patrul Rinpoche, cùng
với những bình giải rõ ràng và thực tế của
Khyentse Rinpoche, tạo thành một toàn thể súc tích toàn
vẹn một cách lạ lùng.
Chính
trong tinh thần kiên cường của hai vị thầy
này mà giáo lý được luận giải như một
cái gì để được sống trọn vẹn,
một hơi thở không dứt không khí tươi mát và
mới mẻ, một đường lối để
chứng nghiệm sự vật như chúng thực là, mà
chúng tôi vui mừng đem cho xuất bản với hy
vọng rằng những độc giả sẽ tìm
thấy trong đó sự liên quan và cảm hứng – và
thực sự đặt nó trong lòng.
LỜI CÁM ƠN CỦA NHỮNG
DỊCH GIẢ
Thuận
theo mệnh lệnh tôn quý của Đức Dalai Lama
thứ mười bốn và của Thượng Tọa
Doboom Rinpoche, đức Dilgo Khyentse Rinpoche đã ban cho
những lời dạy này ở Nhà Tây Tạng, Tân Delhi, vào
tháng Hai năm 1984. Về sau, trong dịp trì tụng một
trăm triệu thần chú manÏi vào tháng Tư năm 1986
ở Tu viện Shechen Tennyi Dangyeling xứ Nepal, và lại
nữa vào tháng Bảy năm 1986 trong sửa soạn cho
cuộc ẩn tu ba năm lần thứ ba ở Dordogne,
Pháp, đức ngài ban thêm những lời chỉ dạy
về cùng bản văn ấy, chúng cũng được
gồm trong cuốn sách này.
Những thành viên của Nhóm Dịch Thuật Padmakara làm
việc cho bản văn này gồm Košnchog Tenzin và John Canti,
những dịch giả ; và Micheal Friedman, Charles Hastings,
Mari-lyn Silverstone, Daniel Staffler và Phyllis Taylor, những
người biên tập.
Chúng
tôi rất biết ơn Thượng Tọa Doboom Rinpoche
đã cho phép sử dụng nguyên bản của những
lời dạy này, xuất hiện trong Tinh Túy của
Phật giáo (Tân Delhi : Nhà Tây Tạng, 1986).
Chúng
tôi cũng muốn mở rộng sự cám ơn chân thành
nhất của chúng tôi đến Košnchog Lhadrepa,
người lo về bìa, và đến những
người đã tốt lòng đóng góp vào việc ghi chép
và đánh máy bản văn này : Christine Fondecave, Suzan Foster
đã quá cố, John Petit, Anne Munk và S. Lhamo.
Động
Cơ Chân Chánh để Nhận Lãnh
và Nghiên Cứu những Lời Dạy
Tất
cả vô số chúng sanh khắp pháp giới, mỗi một
ai, dầu xuống đến con côn trùng bé nhất,
đều chỉ muốn được hạnh phúc và
không khổ đau. Nhưng không ai trong họ hiểu
rằng trong cuộc tìm cầu hạnh phúc của họ,
hạnh phúc chỉ đến từ hành động
tốt ; và không ai trong họ có thể thấy rằng trong
những cố gắng để trốn thoát khổ
đau của mình, cái đem lại khổ đau cho họ
là những hành động xấu. Bởi thế, một
cách vô ý thức, họ xoay lưng lại với hạnh
phúc và phóng mình vào khổ đau.
Mong
mỏi hạnh phúc mà không từ bỏ hành động
xấu thì cũng giống như đưa tay vào lửa mà
hy vọng không bị cháy bỏng. Dĩ nhiên, không ai
thực sự muốn khổ đau, bệnh tật,
lạnh hay đói – nhưng chừng nào chúng ta còn buông
thả trong ác hạnh chúng ta sẽ không bao giờ chấm
dứt được khổ. Tương tự, chúng ta
sẽ không bao giờ thành tựu hạnh phúc trừ phi qua
những hành vi, lời nói và tư tưởng tốt. Hành
động tốt là cái gì chúng ta cần tự trau dồi
; nó không thể mua hay lấy trộm, và không ai ngẫu nhiên
may mắn gặp nó.
Bất
cứ cái gì chúng ta làm đều là sự sử dụng
của thân, ngữ và tâm thức. Trong ba cái này, nếu
chỉ có thân và ngữ thì không thể phát động ra
hoạt động nào ; chính ¬tâm thức quyết
định mọi thứ chúng ta làm và nói. Tâm thức,
nếu chúng ta thả lỏng nó, sẽ tiếp tục làm
khởi sanh càng nhiều hành động xấu, và
đấy là vì sao tất cả chúng ta cứ lang thang vô
số đời kiếp trong sanh tử.(1)
Trong
mỗi đời trong vô số đời sanh tử
từ vô thủy này chúng ta phải có cha mẹ. Thật
vậy, chúng sanh đã sanh từ thời này qua thời khác
nhiều đến nỗi mỗi một chúng sanh(2)
phải đã từng là mẹ hay cha của chúng ta. Khi chúng
ta nghĩ đến tất cả những chúng sanh này,
họ đã là cha mẹ của chúng ta đang lang thang không
ai giúp đỡ đã lâu trong sanh tử, như một
người mù lạc mất đường, chúng ta
chỉ có thể cảm thấy thương xót họ vô
vàn. Tuy nhiên lòng bi mẫn tự nó thì không đủ ; họ
cần được giúp đỡ thật sự.
Nhưng chừng nào tâm thức chúng ta còn bị giới
hạn bởi tham chấp, thì sự việc cho họ
thức ăn, áo quần, tiền bạc hay thương
mến chỉ đem đến cho họ một hạnh
phúc giới hạn tạm thời. Điều chúng ta
phải làm là tìm kiếm một cách thức nào để
giải thoát họ khỏi khổ đau. Việc này
chỉ có thể xảy ra bằng cách đem những
lời dạy của Pháp(3) vào thực hành.
Bởi
thế, trước khi nhận lãnh những giáo lý quý báu,
trước tiên chúng ta làm sanh khởi động lực
thích đáng, đó là nghiên cứu và thực hành không chỉ
vì chúng ta mà trước hết để giải thoát
tất cả chúng sanh khỏi biển cả sanh tử và
đưa họ đến giác ngộ hoàn toàn. Đây là
thái độ rộng lớn và hoàn hảo của Bồ
đề tâm.
Bồ
đề tâm, nghĩa là “tư tưởng giác ngộ”, nó
có hai phương diện, một hướng đến
tất cả chúng sanh và một tập trung vào trí huệ.
Phương
diện thứ nhất là lòng bi bình đẳng
hướng đến tất cả chúng sanh, không phân
biệt giữa những ai là bạn, những ai là thù.
Với lòng bi này thường trực trong tâm, chúng ta nên
thực hiện mọi hành động tốt, dù chỉ
dâng một ngọn đèn hay trì tụng chỉ một
thần chú, với ước nguyện nó có thể làm
lợi lạc cho tất cả chúng sanh không sót một ai.
Tuy
nhiên, để thực sự giúp đỡ tất cả
chúng sanh, thì cảm thấy bi mẫn với họ là không
đủ. Một câu chuyện thường
được kể để minh họa điều này
nói rằng một người mẹ hai cánh tay bị tê
liệt không làm gì được khi trông chừng
đứa con bà khỏi bị dòng sông cuốn trôi ; dầu
lòng thương xót tràn ngập, bà không thể nào cứu con
bà khỏi bị chết đuối. Bất cứ cái gì
phải làm để cứu thoát chúng sanh khỏi khổ và
đưa họ đến giác ngộ, chúng ta phải
thực sự làm. Chúng ta cần hiểu rằng chúng ta
đã có phước đức được sanh trong
một thế giới nơi đã có một đức
Phật đến và dạy Pháp, và chúng ta đã gặp
một vị thầy tâm linh và nhận những giáo
huấn của ngài. Bây giờ là lúc chúng ta phải dùng
cuộc đời làm người quý báu này để
tiến bộ trên con đường giải thoát.
Có
nói, “Đời người có thể dẫn bạn
đến giác ngộ ; đời người có thể
đưa bạn đến địa ngục.” Dựa
vào động lực và hướng đi của chúng ta,
chúng ta có thể thành những thánh nhân vĩ đại và
đạt đến Phật tánh, hay chúng ta cũng có
thể trở nên rất xấu xa và khi chết thì đi
thẳng vào địa ngục. Những giáo lý của Pháp
cho phép chúng ta phân biệt hai hướng đi này, chỉ
rõ cho chúng ta điều cần làm và điều cần
tránh.
Hiện
giờ chúng ta thiếu rất nhiều khả năng giúp
đỡ những người khác. Nhưng nếu
việc gì chúng ta làm đều được điều
động bởi ý muốn làm giảm nhẹ sự
khổ đau của họ, ước vọng
thường trực này cuối cùng sẽ thành tựu.
Động lực dẫn vào kinh những năng lực
của những hành động của chúng ta, như là
một kinh dẫn nước đem nước đi
đến nơi nào cần. Mọi sự đều tùy
thuộc vào động lực của chúng ta. Nếu
tất cả điều chúng ta muốn là một
đời sống thọ và giàu, thì cùng lắm chúng ta
chỉ thành tựu được tương tự
như thế ; nhưng nếu chúng ta khát khao giải thoát
tất cả chúng sanh thoát hẳn sanh tử, cuối cùng
chúng ta sẽ có thể hoàn thành ý định cao cả
nhất đó. Bởi thế rất quan trọng là không
hướng nguyện vọng của mình vào những
mục tiêu thấp hơn.
Một
lần, một người mẹ và đứa con nhỏ
vượt qua một dòng sông rộng và chảy mạnh
trong một chiếc thuyền nhỏ. Giữa dòng, sức
chảy mạnh đến nỗi thuyền sắp lật
úp. Cảm thấy tai họa sắp đến,
người mẹ nghĩ “Mong cho con tôi được
cứu thoát !” trong khi ấy, đứa con cũng nghĩ
“Mong cho mẹ tôi được cứu thoát !” Dù thuyền
chìm và cả hai chết đuối, năng lực và
sự trong sạch của những mong muốn của
họ khiến cho cả mẹ và con đều được
tức thì tái sanh trong cõi Phật.(4)
Phương
diện thứ hai của Bồ đề tâm, phương
diện nhắm vào trí huệ, là sự chứng ngộ tánh
Không để thành tựu giác ngộ vì lợi lạc cho
những người khác. Hai Bồ đề tâm này –
phương diện thiện xảo của đại bi
và trí huệ của tánh Không – không bao giờ tách rời
nhau. Chúng giống như hai cánh của một con chim,
cả hai đều cần thiết để chim bay ; các
bạn không thể thành tựu giác ngộ chỉ bằng
đại bi, cũng không thể bằng chỉ sự
chứng ngộ tánh Không.
Làm
một điều gì đức hạnh với một
động cơ tầm thường chắc chắn
sẽ đem lại cho chúng ta một số hạnh phúc,
nhưng chỉ là nhất thời. Hạnh phúc ấy
sớm qua đi, và cuộc lạc lõng vô vọng trong sanh
tử của chúng ta sẽ tiếp tục. Nếu mặt
khác, mọi thứ chúng ta làm, nói và nghĩ được
chuyển hóa bởi Bồ đề tâm, hạnh phúc
của chúng ta sẽ tiếp tục và tăng trưởng
không hề cạn kiệt. Kết quả của những
hành động được vận hành bởi Bồ
đề tâm, khác với những hành động tốt
được làm do những động lực kém cao
cả, không bao giờ có thể bị hủy diệt
bởi sân hận hay những tình thức tiêu cực khác.
Bởi
thế, bất cứ việc gì chúng ta làm, chính tâm thức
là cái quan trọng nhất. Đấy là tại sao những
giáo lý Phật giáo tập trung vào sự hoàn thiện hóa tâm
thức. Tâm là vua, còn thân và ngữ là những hầu
cận phải làm theo mệnh lệnh của nó. Chính cái tâm
nảy sinh ra niềm tin và cái tâm sinh ra nghi ngờ ; chính cái
tâm khởi phát tình thương và cái tâm tạo ra thù
hận.
Thế
nên hãy nhìn vào bên trong và xét nghiệm động cơ
của các bạn, vì nó là cái định đoạt
điều bạn làm là tốt hay xấu. Tâm thức
giống như một viên pha lê trong suốt nhận
lấy màu của tấm vải nào nó đặt lên – vàng
trên vải màu vàng, xanh trên vải màu xanh... Cũng thế,
thái độ của các bạn nhuộm màu cho tâm thức,
và thái độ đó xác định tính chất thật
sự của những hành động của các bạn,
bất kể chúng có vẻ như thế nào. Bản
chất của tâm thức này không phải là cái gì xa xôi và
không thể hiểu ; nó luôn luôn trực tiếp hiện
diện. Tuy nhiên, nếu các bạn nhìn vào xem nó là gì, các
bạn không tìm thấy cái gì là đỏ, vàng, xanh, trắng
hay lục ; nó không vuông hay tròn, cũng không có hình dáng như
một con chim hay một con khỉ, hay cái gì khác. Tâm chỉ
đơn giản là cái tưởng ra và ghi nhớ vô
số tư tưởng. Nếu dòng những tư
tưởng là đức hạnh, tức là các bạn
đã thuần hóa tâm thức ; nếu nó là xấu, tức
là bạn đã không thuần hóa.
Thuần
hóa tâm thức và làm cho nó thành tốt, tích cực cần
phải có sự kiên trì. Chớ có nghĩ, “Phật đã
giác ngộ hoàn toàn, và Quán Thế Âm(5) là hiện thân thực
sự của đại bi ; nhưng làm sao một
người tầm thường như tôi có thể giúp
đỡ những người khác ?” Chớ ngã lòng. Khi
động lực của các bạn càng ngày càng rộng
lớn, khả năng của các bạn cho hành động
tốt cũng sẽ lớn rộng theo. Các bạn có
thể không có khả năng như Quán Thế Âm ngay bây
giờ, nhưng cách phát triển nó là sự thực hành
Pháp. Nếu các bạn duy trì ý muốn thường trực
làm lợi lạc cho những người khác, năng
lực để hiện thực hóa điều đó
sẽ tự đến, cũng tự nhiên như
nước chảy xuống chỗ thấp.
Mọi
sự khó khăn đến từ việc không nghĩ
đến những người khác. Bất cứ
điều gì bạn làm, hãy thường trực nhìn vào
tấm gương của tâm bạn và xem xét động
lực của các bạn là vì mình hay vì người khác.
Dần dần các bạn sẽ phát triển khả năng
làm chủ tâm thức các bạn trong mọi trường
hợp ; và bằng cách đi theo những bước chân
của những bậc thầy đã thành tựu của
quá khứ, các bạn sẽ đạt đến giác
ngộ trong chỉ một đời. Một tâm thức
tốt giống như một miếng đất có
nhiều vàng lấp lánh, chiếu sáng cả bầu trời
với ánh sáng vàng chói. Nhưng nếu thân, ngữ và tâm
thức không được tu hành, rất ít cơ may
bạn có thể thành tựu được bất cứ
chứng ngộ nào. Hãy tỉnh giác với những tư
tưởng, lời nói và hành động của các bạn
trong mọi lúc. Nếu chúng đi lạc hướng,
sự nghiên cứu và thực hành Pháp của các bạn
sẽ không ích lợi gì.
Sanh
tử là hoàn cảnh của những chúng sanh kéo dài nỗi
khổ của mình do hành động dưới ảnh
hưởng của những thức tình che ám ; niết bàn
là trạng thái vượt khỏi mọi khổ não, hay nói
cách khác, là Phật tánh. Nếu chúng ta để cho tâm
thức theo mọi vọng tưởng tiêu cực của
nó, dĩ nhiên nó sẽ đi vào con đường sanh
tử. Giờ đây chúng ta đang ở ngã tư
đường. Chúng ta đã có phước
được sanh làm một con người trong một
thế giới nơi có một vị Phật đã
đến và dạy Pháp ; chúng ta đã gặp một
vị thầy có thể truyền Pháp cho chúng ta, và chúng ta
đã nhận sự chỉ dạy của vị thầy ;
và về thể chất và tinh thần, chúng ta có khả
năng đưa những lời dạy ấy vào thực
hành. Bởi thế giờ đây là lúc chúng ta quyết định
: Chúng ta có bước lên con đường giải thoát
với sự cương quyết đưa tất cả
chúng sanh đến mức độ tối thượng của
giác ngộ không ? Hay chúng ta sẽ đi xuống sâu hơn
vào mê cung của sanh tử rất khó thoát ra khỏi ?
Làm
thế nào để Nghiên Cứu những Lời Dạy
này
Nhờ
những lời dạy của Pháp chúng ta có thể đem
tất cả chúng sanh đến Phật tánh viên mãn.
Bởi thế, khi chúng ta nhận những lời dạy
này, cần yếu là chúng ta thoát khỏi những hậu
quả của thói quen chúng ngăn chặn chúng ta không
hiểu được rõ ràng – ba khuyết điểm, sáu
cái dơ nhiễm, và năm cách sai lầm khi giữ lại
những lời dạy.(6) Nếu khác đi, nghiên cứu
bản văn này chỉ là mất thì giờ. Xin hãy chuyên tâm
vào lời dạy ở sau với một chánh niệm hoàn
hảo và áp dụng sáu cái hoàn thiện.(7)
Những
Lời Dạy này chứa đựng điều gì
Lời
dạy chúng ta sẽ nghiên cứu ở đây có tên là Bài
Giảng Đức Hạnh trong lúc Bắt Đầu, lúc
Giữa, và lúc Kết Thúc. Nó cũng có tên phụ thêm là
Sự Thực Hành Cái Thấy, Thiền Định và Hành
Động, Là Kho Tàng Tâm của các Bậc Giác Ngộ.
Bản văn này được Dza Patrul Rinpoche, Orgyen Jigme
Choškyi Wangpo viết ra, ngài là một hóa thân của
Đại Bồ tát Shanti-deva.(8) Suốt đời, Patrul
Rinpoche biểu lộ một giới hạnh không lỗi
lầm, lòng bi không giới hạn, hiểu biết sâu xa và
một sự từ bỏ toàn triệt những quan tâm
thường tục của thế gian.
Tất
cả những giáo huấn sâu và rộng do đức
Phật dạy với sự khéo léo hoàn hảo và lòng bi bao
la của ngài, được kết tập trong Ba
Tạng.(9) Những lời dạy này được
giải thích trong Luận,(10) những bản văn không do
chính đức Phật tạo ra mà do những thế
hệ đạo sư Phật giáo kế tiếp nhau sau
đó – những pandita của Ấn Độ và những
hiền triết bác học và thành tựu của Tây
Tạng. Bản văn này của Patrul Rinpoche là một
kiểu mẫu của một luận, hay bình giải.
Tất
cả những giáo lý Phật giáo khác nhau đều
cuối cùng dẫn đến giải thoát. Sự khác
biệt và con số lớn lao của chúng phản ánh
những khả năng và khuynh hướng sai biệt
đa thù của những hành giả. Bài Giảng
Đức Hạnh trong lúc Bắt Đầu, lúc Giữa và
lúc Kết Thúc được tạo theo một cách dễ
dàng đặc biệt để hiểu và thực hành ;
tuy nhiên nó chứa đựng tinh yếu của những
giáo lý Tiểu thừa và Đại thừa(11) trong toàn
bộ.
Như
truyền thống, lời dạy này được chia làm
ba phần : nhập đề, phần chính và phần
kết luận. Mỗi phần tập trung vào một
chủ đề đặc biệt. Phần thứ
nhất nói đến những đường lối
hư hỏng và sự khổ sở mãnh liệt của
chúng sanh trong thời đại tối tăm ; phần hai
đến cái thấy (tri kiến), thiền định và
hành động (hạnh) của Kinh thừa và Mật
thừa(12) ; và phần ba đến giải thoát khỏi
những mối bận tâm thế gian.
Phần
thứ nhất cổ vũ chúng ta suy nghĩ về
những khuyết điểm của chúng ta và những
hậu quả của cuộc đời trong sanh tử. Qua
phần này chúng ta sẽ nhận ra sự tự lừa
dối của mình và sự tự lừa dối của
những người khác, chúng là tính cách của những
nỗ lực của chúng ta trong công việc và là tính cách
của những hoạt động vị kỷ của
những người khác, cũng như chúng ta họ
bị giam nhốt trong thích và không thích, luyến ái với
bạn bè và ghét bỏ với kẻ thù. Thấy ra sự vô
nghĩa biết bao trong mọi thứ đó, tự nhiên
chúng ta mệt mỏi chán ngán và bắt đầu cảm
thấy một ước ao giải thoát khỏi tất
cả chúng. Quyết tâm này để giải thoát là nền
tảng của mọi sự thực hành Pháp, bởi vì
chỉ khi chúng ta hoàn toàn nhận ra cái gì là sai lầm trong
sanh tử chúng ta mới cảm thấy sự khẩn
thiết không cưỡng lại nổi hiến mình
trọn vẹn cho sự thực hành.
Trong
lần chuyển bánh xe Pháp thứ nhất, đức
Phật dạy rằng không có gì ngoài khổ đau trong sanh
tử. Đây là cái đầu tiên của Bốn Chân Lý Cao
Cả.(13) Mọi chúng sanh đang cố gắng tìm cầu
hạnh phúc, nhưng vì vô minh của họ, cái họ
đang làm là ngược lại với cái thực sự
đưa lại hạnh phúc cho họ. Họ không hiểu
rằng hạnh phúc thực sự chỉ đến
từ sự thực hiện Pháp, và họ bị lọt
vào những tham đắm và ghét bỏ tạo ra từ tâm
thức của họ. Vướng mắc vào mạng
lưới lầm lẫn vọng tưởng, họ
lần mò từ khổ này đến khổ khác không
ngừng nghỉ.
Thời
đại này được biết như là thời thoái
hóa,(14) hay là thời đại cặn bã, vì nó chỉ
chứa những cặn bã của những phẩm tính và
những hoàn thiện của thời hoàng kim vĩ
đại của quá khứ xa xôi. Người của ngày
nay quay lưng với những lời dạy của
đức Phật, và chỉ có một số rất ít
những người vĩ đại thực sự sống
tùy thuận với Pháp. Ai ai cũng khao khát một cách
tuyệt vọng hạnh phúc, nhưng những quan kiến
và lối sống đang thịnh hành của thời
đại chúng ta chỉ dẫn đến nhiều
khổ đau hơn nữa.
Sự
thống khổ của ba cõi thấp thì quá lớn lao
đến nỗi chúng ta cũng khó tưởng
tượng ra. Trong những cõi địa ngục, chúng
sanh bị hành hạ bởi nóng và lạnh làm cho hấp
hối ; trong những cõi quỷ đói, bởi đói và
khát không thể hình dung. Những thú vật, trong sự ngu
dốt mù lòa, bị bắt làm nô lệ và khai thác hay hành
hạ bởi sợ hãi. Dầu chúng ta không thể hiểu
trọn vẹn những gì chúng sanh trong những cõi ấy
trải nghiệm, ít ra tại sao chúng ta không nghĩ về
khổ mà những hành động của chúng ta gây ra trong
cuộc đời đang sống này ?
Như
những vị thầy vĩ đại phái Kadam
thường nói, “Lời dạy tốt nhất trong
tất cả là lời dạy soi sáng vào những lỗi
lầm còn chưa thấy của chúng ta.” Trước tiên
chúng ta phải nhận thức rằng sanh tử luân
hồi này không có gì ngoài khổ đau. Bấy giờ,
nhận ra những sai lầm của chúng ta, chúng ta có
thể tìm kiếm đâu là nguyên nhân. Nguyên nhân gốc
rễ của khổ là vô minh, và nguyên nhân gốc rễ
của vô minh là sự tin tưởng sai lầm vào một
cái “tôi”. Như Chandrakirti(15) vinh quang đã nói :
Đầu
tiên tưởng tượng ra một cái Tôi, chúng ta bám vào
một bản ngã.
Rồi vọng tưởng ra một cái
của tôi, chúng ta bám vào một thế giới bên ngoài.
Như nước trong guồng bánh xe quay
nước, chúng ta quay vòng một cách vô vọng ;
Con kính lạy lòng đại bi khởi ra
cho tất cả chúng sanh.
Bám
chấp vào thân tôi, tâm tôi, và tên tuổi tôi, chúng ta cố
gắng xua đuổi cái gì không thích và chụp bắt cái
gì mình thích. Đây là tiến trình căn bản của bám
chấp, và cái ta là gốc rễ thực sự của
khổ đau.
Bằng
cách làm cho chúng ta suy nghĩ con người cư xử
như thế nào trong thời đại suy thoái này,
phần đầu có ý định làm rõ sự hiểu
biết của chúng ta về sanh tử và gợi ra trong
chúng ta một sự buồn chán sâu xa với nó.
Điều này cho chúng ta một động lực mạnh
mẽ để giải thoát chúng ta khỏi những khuôn
khổ thói quen và vô minh chúng kéo dài nỗi khổ. Tuy nhiên, dù
mạnh mẽ, tự bản thân động lực thì
không đủ. Bấy giờ điều chúng ta cần là
biết làm thế nào để chúng ta có thể thực
sự thoát khỏi sanh tử – nói cách khác, làm sao chúng ta có
thể thực hành Pháp.
Phần
hai giải thích Pháp, cái đối trị với mọi sai
lầm của sanh tử, được đưa vào
thực hành như thế nào. Nó giải thích cái thấy,
thiền định và hành động của Đại
thừa, cái này tạo thành cốt lõi của những
lời dạy của đức Phật. Qua thực hành
những lời chỉ dạy này, những che
chướng và nghiệp tạo ra từ những hành
động sai lầm của chúng ta trong quá khứ sẽ
được tịnh hóa, và mọi phẩm tính của
giải thoát và giác ngộ tiềm ẩn nội tại
trong chúng ta sẽ hiển lộ. Trong bản văn này,
những chỉ dạy được đưa ra trong
bối cảnh đặc biệt của thiền
định về Quán Thế Âm, vị Phật của lòng
Đại Bi.
Trước
hết, tuyệt đối cần thiết là thiết
lập cái thấy đúng. Thiết lập cái thấy
nghĩa là nắm được sự chắc chắn
hoàn toàn về chân lý tuyệt đối, đó là thế
giới hiện tượng, dù rõ ràng có xuất hiện và
đang vận hành, thì không có một thực tại tối
hậu nào. Cái thấy tất cả những hiện
tượng tuy xuất hiện nhưng trống không là
hạt giống từ đó quả trọn vẹn của
giác ngộ sẽ lớn lên. Bước đầu tiên
trong thiết lập cái thấy là nắm được
sự hiểu biết đúng về những lời
dạy về cái thấy ấy. Bây giờ, đem cái
thấy vào kinh nghiệm bên trong của chúng ta, chúng ta
đưa nó vào thực hành trở đi trở lại càng
lúc càng hơn ; đây là thiền định. Duy trì kinh
nghiệm chúng ta về cái thấy trong mọi lúc và trong
mọi hoàn cảnh là hành động (hạnh). Qua sự
kết hợp thường trực của ba cái này – cái
thấy, thiền định và hành động – quả
của sự thực hành Pháp sẽ chín trọn vẹn.
Như câu nói, “Khi sữa được quậy cẩn
thận, bơ được tạo thành.”
Những
kết quả của thực hành là gì ? Hòa nhã và tự
chế là những chỉ dẫn của sự thông
hiểu ; thoát khỏi những cảm xúc tối tăm, là
dấu hiệu của thiền định. Những cái này
và mọi phẩm tính tâm linh của giải thoát sẽ
bắt rễ trong hiện thể của chúng ta và sẽ
được hiển lộ không phải cố gắng
trong những hoạt động của chúng ta. Thiết
lập cái thấy thì giống như nhận ra những
phẩm tính và sự ích dụng của một dụng
cụ đặc biệt. Thiền định giống
như mua dụng cụ ấy, sở đắc nó và
học cách sử dụng nó. Hành động giống
như đưa nó vào sự sử dụng khéo léo trong
tất cả mọi thời. Quả tương
đương với những công việc được
hoàn thành hay những sản phẩm hoàn tất đến
từ sự sử dụng nó.
Phần
ba của bản văn chỉ ra những kết quả
của thực hành biểu lộ như thế nào trong
đời sống hàng ngày thoát khỏi sự bận tâm
với những chuyện thế gian và trong sự hòa
hợp với những giáo lý. Khi chúng ta khai triển
một cảm giác ghê sợ đối với sanh tử,
vượt qua vọng tưởng rằng sanh tử
sẽ đem lại hạnh phúc, và trầm mình vào sự
thực hành Pháp, một cảm thức lớn dần
của tự do sẽ tự nhiên sanh ra : chúng ta không còn
bị lôi kéo đến những sự vật gây ra khổ
đau. Chỉ bằng xoay tâm thức khỏi những
mục tiêu thế gian và khai triển một quyết
định chân thật phải giải thoát mà mục tiêu
giải thoát có thể được đạt
đến.
Kính
lễ
Bản
văn mở đầu với sự kính lễ :
NAMO
LOKESHVARAYA
Câu
tiếng Sanskrit này nghĩa là “Con kính lễ Bậc Tối
Cao của Vũ Trụ”, chỉ Đại Bồ tát Quán
Thế Âm, hay Chenrezi.
Đại
bi khắp vũ trụ của Quán Thế Âm bao trùm mọi
chúng sanh, từ người bình thường đến vua
chúa, từ Thanh Văn và Bích Chi Phật đến Bồ
tát trong mười địa.(16) Quán Thế Âm hiện thân
của lòng đại bi không tách lìa với cảnh giới
bao la của tâm Phật. Lòng bi có một vị trí trung tâm
trong giáo lý Phật bởi vì chính từ lòng bi mà tất
cả sự rộng lớn và sâu xa của con
đường Bồ tát sanh khởi ; lòng bi là bản thân
tâm giác ngộ. Trong phương diện tương
đối, Quán Thế Âm xuất hiện trong vũ trụ
vì tất cả chúng sanh trong hình thể một Đại
Bồ tát của địa thứ mười, một
người con ruột của tất cả chư
Phật. Trong phương diện tuyệt đối, ngài
chính là nền tảng từ đó xuất sanh tất
cả chư Phật và các cõi Phật của chư Phật,
cũng như tất cả chuyển luân vương
của kiếp này. Bởi thế ngài được
biết như là Bậc Tối Cao của Vũ Trụ,
nghĩa là ngài không chỉ là một vị vua trong nghĩa
thông thường mà là Vua của Pháp, bậc tối cao
của trí huệ và đại bi, hoàn toàn giải thoát
khỏi ba cõi sanh tử,(17) vĩnh viễn vượt ngoài
sự chạm đến của sanh, già, bệnh, chết.
Để gặp gỡ mọi nhu cầu của chúng sanh,
ngài biểu lộ trong vô số hình thể, từ những
bậc cai trị thế giới đến người
dân thường và thú vật. Ngài tiêu biểu cho sự
giải thoát hoàn hảo hồi hướng về phúc
lợi của tất cả.
Đây
là tại sao dòng mở đầu để dành cho sự
kính lễ Quán Thế Âm, với sự sùng mộ không
bờ. Rồi tiếp theo một sự kính lễ mở
rộng hơn :
1.
Nếu như chỉ một giọt cam lồ của
danh hiệu ngài lọt vào tai tôi,
Chúng sẽ ngập đầy âm thanh
của Pháp cho vô số kiếp.
Tam Bảo thần diệu, nguyện
sự sáng chói của danh ngài
Đem đến hạnh phúc hoàn hảo
cho khắp cả !
Ở
đây, sự kính lễ mở rộng đến Tam
Bảo : Phật, Pháp và Tăng. Những danh hiệu
của Tam Bảo, cực kỳ dễ nói lên, tuy nhiên có
năng lực vô biên để ban phước cho chúng sanh
và giải thoát họ khỏi sanh tử. Những danh
hiệu này giống như nước cam lồ của
sự bất tử, amrita, chỉ một giọt cũng
có thể làm dịu những thống khổ của sanh
tử. Chỉ nghe được chúng là đã gieo trồng
trong chúng ta hạt giống của giải thoát và bảo
đảm một sự tái sanh vào một nơi có Phật
pháp được chỉ dạy và ở đó sự
tiến bộ đến giác ngộ là khả thi.
Chúng
ta phải xem Phật là vị thầy, Pháp là con
đường, và Tăng là những bạn đồng
hành trên con đường.
Ở
cấp độ tuyệt đối, Pháp thân, tâm của
Phật là cảnh giới bao la của toàn trí, nó biết
mọi sự đúng như chúng là. Ở cấp độ
Báo thân, siêu vượt khỏi sanh tử, lời của
Phật tương tục thuyết pháp. Ở cấp
độ Hóa thân, có thể thấy biết được
cho những người bình thường như chúng ta, thân
của Phật mang hình tướng là Phật Thích Ca Mâu Ni,
vị thứ tư trong một ngàn vị Phật xuất
hiện trong kiếp này.
Phật
Thích Ca Mâu Ni sinh tại Ấn Độ như là hoàng
tử Siddhartha của Vua Shuddhodana và hoàng hậu Mahamaya
thuộc giai cấp Shakya. Khi còn trẻ, ngài hưởng
những thú vui của cuộc đời một hoàng
tử, nhưng về sau ngài từ bỏ những quan tâm
thế gian và hiến mình thực hành khổ hạnh trong
sáu năm. Cuối cùng, từ bỏ ngay cả những
khổ hạnh này, ngài thành tựu giác ngộ trọn
vẹn dưới cội cây bồ đề ở
Vajrasana.(18) Trong bốn mươi năm ngài dạy Pháp cho
sự lợi lạc của chúng sanh. Sau chót, khi
phước lành của họ đã cạn kiệt, ngài
đi vào đại thanh bình của đại niết bàn.(19)
Qua
năng lực của toàn giác, đức Phật thấy
rõ những tính khí và khuynh hướng khác biệt nơi
những người ngài chỉ dạy. Để cho
mỗi người một phương cách đạt
đến giác ngộ, ngài chỉ bày tám mươi bốn
ngàn phần khác nhau của Pháp. Giáo lý này, Pháp, là Viên Ngọc
Quý thứ hai.
Ba
chu kỳ chỉ dạy của ngài được biết
như là ba lần chuyển bánh xe Pháp. Trong lần
chuyển bánh xe Pháp thứ nhất, ngài dạy Bốn Chân
Lý Cao Cả chung cho cả Tiểu thừa và Đại
thừa. Trong lần thứ hai ở Rajagriha hay Núi Linh
Thứu, ngài trình bày những giáo lý Đại thừa
về chân lý tuyệt đối – chân lý không có những tính
chất và vượt khỏi phạm trù ý niệm.
Những giáo lý này được chứa đựng trong
Kinh Bát Nhã Ba La Mật trong Một Trăm Ngàn Bài Kệ.
Lần chuyển bánh xe Pháp thứ ba, ở những
thời điểm và nơi chốn khác biệt,
được dành cho những giáo lý tối hậu của
Kim Cương thừa.
Pháp
gồm có Pháp Trao Truyền và Pháp Thực Chứng. Pháp Trao
Truyền là lời của Phật được kết
tập thành Ba Tạng : Luật, Kinh và Luận. Pháp Thực
Chứng là sự chứng ngộ thực sự những
giáo lý này, được tu hành qua giới, định và
huệ.
Viên
Ngọc Quý thứ ba là Tăng, dịch ra tiếng Tây
Tạng là Gendun có nghĩa đen là “cộng đồng
đức hạnh”. Theo truyền thống những Bồ
tát là Tăng già của Đại thừa, và những Thanh
Văn và Bích Chi Phật là Tăng già của Tiểu
thừa. Tuy nhiên, nói chung, tất cả những
người nghe Pháp, suy nghĩ về nó, và thiền
định về nó tạo nên Tăng già.
Tam
Bảo là chỗ quy y tối thượng và tạo thành
nền tảng của mọi thực hành Pháp. Kính lễ
Tam Bảo là đồng thời kính lễ tất cả
các bậc thầy, chư Phật và chư Bồ tát.
Động lực của Tác Giả trong
việc
Biên Soạn Bản Văn Này
Bởi
vì chính Patrul Rinpoche xem Tam Bảo là vị thầy tối
thượng của mình, tâm ngài hoàn toàn thấm nhuần
Pháp, và ngài sống một cuộc đời hoàn toàn thanh
tịnh. Bởi thế những lời dạy của ngài
hoàn toàn thanh tịnh và xác thực, và bản văn này ngài
tạo ra từ lòng bi tròn đầy, không chút kiêu căng hay
ngạo mạn. Tuy nhiên ngài nói với sự khiêm hạ
lớn lao :
2.
Giống như vài quả hồng vàng trong mùa thu
Chúng dù bên trong chưa chín, mà bên ngoài
thấy chín vàng,
Bản thân tôi chỉ có vẻ giống
như một người thực hành Pháp,
Và bởi vì tâm tôi và Pháp chưa hòa lẫn,
sự giảng dạy Pháp của tôi chẳng đáng gì
nhiều.
Khi
hè chuyển sang thu, những quả hồng vàng có những
độ chín khác nhau. Một số quả hồng vàng
thấy đã chín, nhưng bên trong chúng còn xanh. Chúng giống
như những người làm ra vẻ những hành
giả kiểu mẫu nhưng đầy những tư
tưởng độc hại, thật ra họ bận tâm
với việc tích tập giàu có, thực hiện những
lễ lạc thôn làng và gây danh tiếng cho bản thân mình.
Ngược
lại, những quả khác trông thì xanh ở bên ngoài,
nhưng bên trong đã chín. Chúng giống như những người,
dù có vẻ như ngu dốt, những người khất
thực tầm thường, nhưng hoàn toàn thoát khỏi
những bận tâm của sanh tử, đầy
đức tin, và đã thành tựu kinh nghiệm
định và chứng ngộ chân thật.
Những
quả hồng vàng khác, cả ngoài lẫn trong đều
xanh và chưa chín. Chúng giống như những người
chưa từng đi vào Pháp, không biết gì về nó và không
có niềm tin vào nó.
Cuối
cùng, có vài trái hồng vàng trông đã chín và cũng thực
sự chín. Chúng giống như những Đại Bồ
tát, bên trong tràn đầy trí huệ và đại bi và bên
ngoài trình diễn vô số cách thức để cứu giúp
chúng sanh. Thật ra, không nghi ngờ gì, Patrul Rinpoche là
một trong những Bồ tát hoàn hảo này. Jamyang Khyentse
Wangpo(20) đã nói về ngài như thế này :
Tôi
cầu nguyện ngài Jigme Choškyi Wangpo, bậc Vô Úy của
Pháp ;
Bên ngoài ngài là Bồ tát Shantideva,
Bên trong ngài là đại thành tựu giả Shavaripa,
Và trong bản tánh tuyệt đối ngài là Giải Thoát
Tự Nhiên Khỏi Khổ.(21)
Đây
không phải là xưng tán chiếu lệ. Như câu
chuyện cuộc đời ngài đã chứng tỏ,
mọi sự Patrul Rinpoche nghĩ, nói và làm đều hoàn
toàn tương ưng với Pháp. Thật vậy chính
từ quan điểm này mà ngài có một lời từ
chối khiêm nhường như thế.
Bất
cứ ai muốn giảng dạy Pháp trước tiên
phải biến nó thành một phần toàn vẹn của
cuộc sống mình ; không tốt nếu chỉ lập lại
những lời, giống như một người
điếc đàn những âm điệu dầu
đẹp đẽ du dương, nhưng chính
người ấy lại không nghe. Để nhận
những giáo lý, động lực của chúng ta phải là
một nguyện vọng thành thật muốn áp dụng
chúng cho chính chúng ta ; nếu chúng ta chỉ cố gắng có
được một cái gì mà chúng ta có thể dạy
lại cho người khác, như bài nhạc một
người ăn xin chơi để xin tiền, thì
sự nhận lãnh những lời dạy sẽ không ích
lợi cho bản thân chúng ta cũng như cho những
người khác. Cũng sai lầm khi góp nhặt kiến
thức về Pháp vì danh tiếng và thế lực cho chúng
ta. Như có nói, “Càng lớn kiến thức, càng nhiều
kiêu mạn ; càng xa khỏi nhà, càng xa trung thực.” Làm sao
chúng ta có thể giúp đỡ những người khác
trước khi chúng ta đã thuần hóa những năng
lực tiêu cực ẩn nấp trong bản thân chúng ta ?
Đấy chỉ là một chuyện đùa, giống
như một người ăn xin không có xu teng nói
đến việc nuôi cả làng. Để bảo trợ
cho phúc lợi thật sự của những người
khác, trước tiên chúng ta phải tự hoàn thiện mình
cho đến khi chúng ta có thể thi đua với Patrul
Rinpoche, ngài khiêm hạ tuyên bố rằng mình chẳng có
chứng ngộ nào, tuy nhiên toàn thể hiện sinh ngài
thấm đẫm ý nghĩa của Pháp.
3.
Nhưng vì con, người bạn xứng đáng,
khăng khăng nài nỉ ta,
Ta không thể từ chối – Ta sẽ nói
thẳng thắn.
Nhất là trong thời đại suy
đồi này,
Ta trao tặng con những lời không
lừa dối, thế nên hãy cẩn thận lắng nghe.
Nếu
các bạn chỉ ra những lỗi lầm của một
ai, nó sẽ trở nên hoàn toàn đảo lộn – ngay
cả với con bạn hay học trò bạn. Nhưng
nếu các bạn tâng bốc nó, gán cho nó những phẩm
tính nó không có, thì nó sẽ thích thú. Nhưng như một châm
ngôn nói, “Dù gây chấn động, tiếng sấm sét
thực là âm thanh chân chánh.” Nếu người ta luôn luôn đồng
ý và tâng bốc chúng ta điều ấy làm cho chúng ta
cảm thấy tốt đẹp nhưng sẽ chẳng
giúp gì cho chúng ta để khai triển những phẩm tính
của một người thực hành Pháp. Cái thực
sự giúp chúng ta nhiều nhất là chỉ ra những
lỗi lầm của chúng ta và chỉ bày cách thức
đúng để chúng ta xử lý với chúng. Vàng nhờ
đập và nấu chảy liên tục, trở nên càng ngày
càng tinh sáng. Cùng cách đó, nhờ nhận ra liên tục
những lỗi lầm của chúng ta và áp dụng những
giáo huấn của thầy, chúng ta sẽ có thể
chuyển hóa những phẩm tính tiêu cực, xấu xa
của chúng ta thành con đường giải thoát.
Khi
một kẻ phá rối được nhận ra và tóm
lấy, bình an trở lại trong làng ; tương tự,
khi những lỗi lầm của chúng ta được
một vị thầy từ ái khai quật, cho phép chúng ta
nhận ra và nhổ gốc chúng, bình an trở lại thân
tâm chúng ta. Ở đây, như trong tác phẩm Kunzang La-me
Shelung(22) nổi tiếng của mình, Patrul Rinpoche nói một
cách thẳng thắn, đánh vào cốt lõi của những
khuyết điểm của chúng ta để dẫn
dắt chúng ta vào đường chánh. Ngài chỉ khai
thị cái tinh yếu của Pháp, vì chúng ta không cần
biết nhiều chi tiết ; điều tất cả
chúng ta cần là tâm của những lời dạy dẫn
đến giác ngộ.
Trong
những bài kệ này, Patrul Rinpoche nói rằng dù ngài không có
một đại chứng ngộ nào, ít nhất nếu
ngài có thể khiêu gợi trong chúng ta quyết tâm giải
thoát khỏi sanh tử và kích thích một thái độ
của lòng bi, thì viết ra bản văn này không phải là
điều vô ích.