|
|
|
|
Mục Lục
|
|
[00] |
Dẫn nhập
Lời bạt
Cảm niệm
Lời người dịch
Về tác giả |
|
[01] |
1. Lý
Do Và Phương Pháp Tu Thiền
2. Bản Chất Tâm
3. Quán Từ Bi
4. Nhân Quả Duyên Sanh
5. Duyên khởi Siêu Việt |
|
[02] |
6. Tự
Tin & Tín Tâm
7. Quán Cảm Thọ
8. Hỷ
9. Thiền Định
10. Một Phương Pháp Thiền
|
|
[03] |
11.
Những Bước Kế Tiếp
12. Các Tầng Thiền
Định Vô Sắc
13. Bản Tâm Chân Thật Của Mọi Vật
14. Sự Tỉnh Ngộ
15. Buông Xả Và Giải Thoát
16. Ngày Qua Ngày |
-ooOoo-
Dẫn Nhập
Tựa quyển sách nầy được lấy
ra từ một lời tiên tri của Padmasambhava, một
nhà thông thái An Độ, ở thế kỷ
thứ 8 sau Công nguyên, người
đã du hành
đến Tây Tạng để thiết lập nền
tảng Phật giáo.
Nguyên câu tiên tri như sau: "Chừng nào chim sắt bay,
ngựa chạy trên bánh xe, người Tây Tạng phải lang thang khắp
cùng trái đất, lúc đó Phật pháp
sẽ được truyền đến đất nước của người da đỏ." (‘Đất
nước của người da đỏ’, được xem là Tây phương, vì
đối với người Á châu, da người
Tây phương đỏ hồng).
Mã lực của các xe hơi, "con chim sắt" máy bay là một phần
của đời sống chúng ta hôm nay,
và người dân Tây Tạng
đúng là đã tản
mác khắp nơi trên thế giới. Các vị thầy Phật giáo và những
lời dạy của Đức Phật (Pháp) đã
truyền lan từ những ngọn núi hùng vĩ của Tây Tạng, từ những
tu viện trong rừng ở Miến Điện,
Thái Lan, Tích Lan, để hội nhập, hoà hợp, thăng
hoa ở phương Tây. Từ đó, mang đến cho các tôn giáo Tây
phương, một nguồn sinh lực, sức sống mới.
-ooOoo-
Lời Bạt
Sau khi đạt được đạo giải
thoát giác ngộ, Đức Phật đã có nhiều năm
truyền bá Phật pháp ở miền bắc An độ. Đức Phật đã
khuyên các hàng đệ tử không nên
chỉ nghe, hành theo lời dạy của Ngài dựa vào lòng tin, mà
phải suy tư về những lời dạy đó.
Rồi khi thấy chúng hợp lý, đúng thì phải
đem những lời dạy đó ra thực hành.
Vì thế, những lời dạy của Đức
Phật được truyền tụng vì chúng khiến người nghe thức
tỉnh, đem lại lợi ích trong
cuộc sống của họ, do đó, họ lại truyền tụng cho người khác.
Qua thời gian Phật giáo được lan truyền khắp Á châu.
Tuy nhiên những lời dạy quan trọng của
Đức Phật không chỉ hạn chế ở
một không gian địa lý nào, vì những lời dạy
đó có thể áp dụng cho tất cả
nhân loại. Những năm gần đây người Tây phương có nhiều cơ
hội tiếp xúc với những truyền thống sinh động của Phật giáo.
Họ trở nên quan tâm về Phật giáo; có người còn trở
thành Phật tử. Một trong những người
đó là Ni Sư Ayya Khema.
Ở đây Ni Sư trình bày
lại những bài giảng trong một khóa tu thiền do Ni Sư hướng
dẫn ở Canada, dựa vào những kinh nghiệm tu chứng của chính
bản thân. Những nỗ lực nầy thật
đáng tán thán, tôi mong rằng qua những lời giảng dạy nầy,
tất cả chúng sanh sẽ được tâm bình an.
Tenzin Gyatso
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
-ooOoo-
Cảm Niệm
Quyển sách nầy dành tặng cho cha mẹ tôi, cho tất cả các
vị thầy, các đệ tử, các bạn bè
của tôi, và tất cả những ai luôn bảo vệ, hướng về Phật pháp
ở thời quá khứ, cũng như trong hiện tại.
Lòng biết ơn sâu xa của tôi
đặc biệt dành cho Ni sư Pema Chodron, người
đã có lời mời tôi
đến đây thuyết giảng, và
Ane Trime Lhamo, người đã
viết lại từ băng cassette các bài
thuyết pháp tôi đã xử
dụng trong quyển sách nầy, cũng như xin cảm ơn Claudia Klump,
người đã nhiệt tình giúp
đỡ trong công tác đánh máy.
Nguyện cho chúng sanh ở khắp nơi
được an vui, lợi ích từ những bài
giảng nầy.
Ayya Khema
Buddha-Haus,
Đức, tháng 9-1989
-ooOoo-
Lời Người Dịch
Lần nữa, nhờ sự gia hộ của Ni Sư Ayya Khema, tôi lại có
đủ duyên lành
để hoàn tất việc chuyển
ra Việt ngữ quyển When The Iron Eagle Flies của Ni Sư.
Bắt đầu dịch những trang đầu tiên
của quyển When The Iron Eagle Flies (Khi Nào Chim Sắt Bay)
từ năm 2002, nhiều lúc tôi
tưởng chừng phải bỏ cuộc, vì sự yếu kém của mình.
Nhưng tôi đã cầu nguyện
đến giác linh của Ni Sư. Tôi đã
tự nguyện sẽ cố hết sức mình để
hoàn tất, dầu quyển sách dịch nầy chắc chắn sẽ có
nhiều sai sót. Chỉ mong rằng nó sẽ là viên
đá lót đầu tiên cho một
đường hoàn hảo, tốt
đẹp hơn sau nầy.
Mong bạn đọc đón nhận bản
dịch nầy với lòng từ bi, hỷ xả. Xin hiểu rằng mọi sai
sót là do sự hiểu biết hạn hẹp của người dịch, hoàn toàn
không liên quan đến trí tuệ uyên
thâm của Ni Sư Ayya Khema. Cầu xin Ni Sư lượng thứ cho sự
mạo muội nầy. Mong nhận được sự
chỉ dẫn, góp ý của các bậc tôn sư, các dịch giả uyên
bác, cũng như bạn đọc khắp nơi
để quyển sách được hoàn thiện hơn trong những lần in
sau, qua email: ltl3107@yahoo.com
Xin tri ân sâu xa Ni Sư Ayya Khema
đã
để lại cho đời nhiều quyển sách
về Phật giáo rất hữu ích.
Xin chân thành cảm ơn NXB Wisdom Publications, MA, USA,
đã chấp nhận cho chúng
tôi được chuyển dịch và
ấn tống quyển sách hữu ích nầy.
Nguyện đem
công đức nầy,
Hướng về khắp tất cả,
đệ tử và chúng sanh
Nguyện trọn thành Phật đạo.
Hiệu Đính
Tháng 6, 2005
Diệu Liên-Lý Thu Linh
-ooOoo-
Về Tác Giả
Ayya Khema sinh năm 1923,
cha mẹ theo đạo Do Thái. Thời thơ ấu sống ở Bá Linh cho đến
khi cuộc chiến bắt đầu, bà trốn chạy sang Ai Nhĩ Lan.
Sau đến sống ở Thượng Hải, ở đó
bà và gia đình bị
quân đội Nhật giam giữ trong
các trại dành cho tù nhân chiến tranh. Cha bà
đã mất trong lúc bị giam
cầm. Sau chiến tranh, bà chu du khắp nơi ở châu Á, nhất là
các nước vùng Hy Mã Lập Sơn, và tu Thiền.
Năm 1964 Bà di cư
sang Mỹ cùng chồng và hai con. Sau một thời gian nghiên cứu,
thực hành thiền Phật giáo, bà bắt
đầu truyền dạy Thiền khắp thế
giới. Năm 1978, Ni sư thành lập tu viện Theravada Wat
Buddha Dhamma, nằm trong một khu rừng, gần Sydney, Úc. Ni sư
cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật tử Quốc Tế (International
Buddhist Women’s Center) và Đảo
Parappuduwa dành cho các Nữ tu (Parappuduwa Nun’s
Island), tại Tích Lan.
Ni sư thọ đại giới ở Tích
Lan vào năm 1979 và
là một trong những người tiên phong trong việc tranh
đấu cho ni giới.
Vào năm 1987, Ni sư tham gia
tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên dành cho Ni giới,
mà kết quả là việc thành hình của Sakyadhita, một tổ chức
của nữ Phật tử khắp nơi trên thế giới.
Ni Sư đã viết hơn 20
đầu sách về Thiền và
Phật giáo bằng tiếng Anh và tiếng
Đức. Quyển nổi tiếng nhất là
Being Nobody, Going Nowhere (Việt dịch: Vô Ngã, Vô Ưu),
được giải thưởng Christmas
Humphreys Memorial Award. Các sách của Ni Sư được thể hiện
bằng một sự hiểu biết sâu xa về các công phu tu hành,
thành quả của việc hành thiền, là lời kêu gọi mọi người hãy
đơn giản hoá cuộc sống và
thanh lọc tâm trí bằng cách ứng dụng những lời Phật dạy.
Ni Sư Ayya Khema còn là giám
đốc tinh thần của Buddha-Haus (Ngôi Nhà Phật) ở
Đức, nơi Ni Sư mất năm 1997 do
bệnh ung thư.
-ooOoo-
Lời Giới Thiệu
Trước khi bắt đầu, tôi muốn
giải thích về nguồn gốc của các bài thuyết pháp của
Đức Phật. Ba tháng sau khi Đức
Phật nhập diệt (parinibbàna), kết tập
đầu tiên của các vị
a-la-hán (những vị đã
đắc đạo) được thành hình.
Lúc đó các bài thuyết
pháp của Đức Phật được phân
loại và xếp đặt lại một
cách hệ thống. Khi còn tại thế,
Đức Phật thường thuyết giảng
các đề tài tùy duyên, thường là
để trả lời các câu hỏi. Lúc đó,
các bài thuyết giảng của các tôn giáo
đều được truyền giảng bằng
miệng.
Ở lần kết tập nầy của các vị a-la-hán, tôn giả Ananda,
người đã làm thị giả cho
Đức Phật trong hai mươi lăm năm
đã tụng các kinh và Ngài Upali
đã truyền khẩu các giới
luật cho tăng ni. Có khỏang
17,500 bài thuyết pháp của
Đức Phật đã
được lưu truyền bằng hình
thức đó. Khoảng một trăm năm
sau, các vị A-la-hán lại được kết tập lần nữa. Vì có
nhiều ý kiến rất khác nhau, đặc
biệt là về các giới luật, nên
đại chúng (của các tăng và
ni) đã có khuynh hướng
chia rẽ. Vì thế việc cần hoàn chỉnh tất cả các kinh luật của
Đức Phật để có cơ bản dựa vào,
là điều thiết yếu.
Hai trăm năm mươi năm sau ngày
Đức Phật diệt độ, một kết tập
thứ ba của các vị A-la-hán lại được thiết lập. Lúc đó các vị
đại đệ tử của Đức Phật là các ngài Ananda,
Mục-Kiền-Liên và Xá-lợi-phất, mỗi vị
đều có một đệ tử còn
sống. Dĩ nhiên, các vị nầy đều
đã hơn trăm tuổi, nhưng
sự có mặt của các vị là
để chứng minh cho các kinh điển được truyền thừa. Ở thời
điểm đó, các kinh điển, giới luật được viết bằng ký tự
Sinhalese trong Pali ngữ. Ngày nay chúng ta có thể
đọc được tiếng Pali bằng ký tự
La mã.
Lúc đó vua A Dục, vị đại
vương Phật giáo của An độ, đã phái con, là thầy
Mahindra, đến Tích Lan để
truyền bá Phật giáo. Vua Tích Lan hoan hỉ đón nhận giáo lý
mới mẻ nầy, nhiều hàng quý tộc cũng trở thành tỳ-kheo
(bhikkhus). Các vị tỳ-kheo
đã
đảm nhiệm trách vụ chuyển tàng
kinh Pali sang chữ viết. Tiếng Pali gọi các kinh
điển nầy là Tipitaka (ti
có nghĩa là ba, và pitaka là giỏ). Tại sao gọi
như thế cũng có lý do của nó. Nguyên cảo của kinh
được viết trên lá bối
(lá cây cọ) bằng những mũi dao găm
nhọn như ngòi viết. Mực
được tạo ra bằng những quả dâu được chà lên khắp mặt
lá, sau đó được lau nhẹ,
chỉ để lại màu trên những chữ đã được khắc sâu. Lá bối không
đóng lại được thành sách, mà phải mang trong những giỏ xách.
Ba giỏ xách riêng biệt được xủ dụng: một cho Kinh (suttas),
một cho giới Luật (Vinaya) và một cho Luận (Abhidhamma
- Vi Diệu Pháp). Kể từ đó,
các vị tỳ-kheo người Tích Lan đã sao chép lại các bản
chính trên lá bối cũng bằng cách trên, vì dần dần các
lá cây bị khô nát. Việc làm đó
đã tạo thành truyền thống lâu
đời cũng như là niềm tự
hào của các tỳ-kheo sống trong các tu viện xây quanh tảng
đá nơi thầy Mahindra lần đầu
đến đây giảng pháp.
Kinh điển luôn đi kèm
với truyền khẩu; vì đọc sách
không thể nào giống với việc nghe giảng Pháp từ các
bậc thầy. Kinh điển, do đó,
được truyền khẩu từ thời Đức Phật cho các vị Thầy rồi đến đệ
tử, trải qua bao thăng trầm, bao biến động, và vẫn
còn tiếp tục như thế cho đến ngày
nay.
Để được lợi ích từ một buổi thuyết pháp, ta phải lắng
nghe với cả tâm trí. Trí tư duy; tâm tin tưởng dầu có thể ta
chưa hoàn toàn hiểu hết lời giảng. Nhưng tâm trí kết hợp như
thế sẽ giúp ta dễ nắm bắt được những ý nghĩa ở đằng sau lời
giảng. Lời nói rất trừu tượng, có thể bị bóp méo. Tâm chúng
ta giống như các nhà ảo thuật, có khả năng
biến hoá việc nầy thành việc kia.
Giáo lý của Đức Phật như một
tấm bản đồ khổng lồ với bao nơi chốn và con
đường dẫn ta đi từ nơi nầy đến
nơi kia. Đây là món quà
đặc biệt của Đức Phật, dành cho tất cả những ai cần
đến nó. Tuy nhiên vì
chưa đi hết con đường, không ai
có thể chắc rằng con đường còn ở phía trước
đã
được vạch ra đúng hướng. Trong
trường hợp đó chỉ có một cách giải quyết duy nhất là
rộng mở tâm trí mình để xem sự
thật có được phơi bày ra không. Tâm phải có
đủ lòng tin
để bước tới, nếu không các chấp
kiến, những quan điểm, lý luận sẽ là vật cản
đường.
Giáo lý của Đức Phật, đã
được thực chứng qua các thế kỷ,
là một trong những báu vật mà nhân loại sở hữu
được. Các lời dạy của bậc đạo
sư có hiệu lực mạnh mẽ trong việc chuyển đổi từ đau khổ (dukkha)
đến hạnh phúc (sukkha).
Qua cửa ngỏ tâm trí, Đức
Phật khuyên chúng ta phải học lẫn hành. Với trí tuệ
dẫn lối, sự thực hành thực sự
đưa ta đến đích.
Bài kinh các bạn sẽ nghe, gọi là kinh Upanita
trích từ Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh -
Connected Discourses), chỉ cho ta con
đường đi từ những phiền não,
khổ đau hiện tại đến giải thoát.
Chúng ta có thể làm được
điều đó trong khóa tu thiền bảy ngày nầy không?
Đức Phật nói chúng ta có thể làm
được. Trong kinh
Satipatthana Sutta (Tứ Niệm Xứ), về nền tảng chánh niệm,
Đức Phật đã nói rằng nếu
hành giả thực hành chánh niệm trong bảy năm,
chắc chắn sẽ đạt được quả vị A-la-hán hay bất lai (anagami).
Đức Phật lại tiếp, "Mà nầy, không cần bảy năm, chỉ cần
sáu, năm, bốn, ba, hai hay chỉ một năm. Chỉ cần mười một
tháng, mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai hay chỉ
một tháng. Nầy, chỉ cần bảy ngày". Dĩ nhiên, đó là nếu chúng
ta có được sự chánh niệm tuyệt
đối. Có thể đạt được hoàn toàn giải thoát chỉ trong
bảy ngày là điều khó có được,
nhưng để giảng về phương pháp thực hành trong khoảng
thời gian đó lại là
điều hoàn toàn có thể
thực hiện được.
Có câu chuyện kể rằng Đức
Phật trong một lần đi với các tăng chúng trong rừng. Cầm một
nắm lá trong tay, Ngài đã
nói với các vị đệ tử, “Lá trong
rừng hay lá trong nắm tay ta nhiều hơn?” Các đệ tử Phật bèn
thưa: "Bạch Đức Thế Tôn, lá
trong rừng phải là nhiều hơn lá trong tay Thế tôn".
Đức Phật tiếp, “Đúng thế. Những
điều ta giảng cho các ông, so với những gì ta biết,
cũng giống như nắm lá trong tay ta, nhưng thế cũng quá
đủ để đạt được giác ngộ giải
thoát”.
Chúng ta có thể cảm nhận
được tính chính xác của Tam Tạng kinh khi tên, tước
hiệu của các vị đệ tử có mặt
lúc Đức Phật giảng pháp đều được nhắc đến. Địa danh nơi
giảng pháp cũng thường được mô tả, và tên của các vị
đệ tử được lập đi lập lại nhiều
lần đến nỗi ta cảm thấy rất thân thuộc với họ. Nhiều bài
kinh bắt dầu bằng chữ "Evam me suttam," có nghĩa là "Như
tôi đã
được nghe,” là lời mở
đầu của ngài Ananda ở
lần kết tập đầu tiên của
các vị A-la-hán. Tiếp đến Ngài
Ananda cho biết ông đã nghe bài giảng ở đâu, những ai cũng
có mặt lúc đó. Ngài làm thế để chứng tỏ tính chính xác của
bài kinh được truyền lại; nếu có gì vướng mắc, các vị đệ tử
khác có thể được tham vấn để xác minh các lời của Ngài.
Chúng ta đầy lòng
biết ơn và sung sướng biết bao
được là những người có mặt trên trái
đất nầy, được có cơ hội nghe
Phật pháp. Giữa hơn năm tỉ người có mặt trên trái
đất nầy, đó đúng là kết
quả của nghiệp lành chúng ta đã
gieo trồng. Lòng biết ơn và hạnh phúc sẽ khiến ta mở lòng
đón nhận Phật pháp. Chỉ có tri
thức không, chưa đủ. Sự hành Thiền sẽ
đem đến cho ta những kinh
nghiệm, mà lúc nào cũng
đầy tình cảm thương yêu, là ‘đặc
tính của trái tim’.
Đức Phật đã là một vị thái tử, đã sống trong nhung lụa.
Nhưng Ngài nhận thấy rằng những xa hoa, những quyền lợi vật
chất không đem đến hạnh phúc cho Ngài. Điều đó cũng đúng
trong cuộc sống của chúng ta hôm nay. Chúng ta có thể cũng
có bao quyền lợi, bao cao sang, nhưng hạnh phúc vẫn không ở
trong tầm tay. Đức Phật đã
nghĩ rằng chính những xa hoa, vật chất cản trở Ngài tìm
đến sự thật. Ngài
đã rời bỏ hoàng cung
để sống đời khổ hạnh trong sáu
năm, nhưng điều đó cũng không giúp Ngài tìm
được chân lý. Sau khi đã
tìm được con đường giác ngộ của
riêng mình, Đức Phật đã
nói sự hưởng thụ thái quá hay sự khổ hạnh tột cùng,
đều không mang lại kết quả, chỉ
có trung đạo, tránh xa hai thái cực trên, là
đem lại kết quả.
Trung đạo luôn là con
đường của sự đơn giản –đem lại
những thứ ta cần, và chỉ thế không có gì hơn. Trong
các bài thuyết pháp của Đức
Phật, ta cũng nhận thấy sự giản đơn đó. Ít có các nghi lễ,
không giáo điều, không ngụy trang. Bài kinh tôi
đã chọn cho khóa tu
thiền nầy cũng mang đầy đủ
những yếu tố cần thiết cho con đường tâm linh. Cũng như
trong những điều dạy của Đức Phật, đó là một con
đường chuyển hóa dần dần. Bắt
đầu bằng những kinh nghiệm đời thường của chúng ta, rồi dần
hướng ta đến giải thoát, đến sự tự do tuyệt đối.
-ooOoo-
Ðầu
trang |
01
| 02
| 03
| Mục lục
|