Những
khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh
Về con đường đại toàn thiện
An Phong dịch ra Việt ngữ
Nhà xuất bản Rangjungyeshe, 1994
( Trích từ nguồn: Quangduc.com )
Mục
lục
- Lời nói đầu 5
- Lời dạy mở đầu 11
- Chúc thư Đầu Nhọn Hạt Ngọc 30
- Lời khai thị cho Trisong Deutsen 46
- Không có sự xung đột giữa Tiểu
thừa và Đại thừa 60
- Xâu chuỗi hạt bằng vàng của cam lồ 65
- Những bài ca cho 25 đệ tử 95
- Kho báu ngọc quư để xua tan mọi
chướng ngại 108
- Khai thị thực hành Phật pháp như thế nào
cho đúng 173
- Chỉ cây gậy vào người già 177
- Lời khai thị bằng miệng về thực
hành 182
- Viên ngọc như ư của sự hồi
hướng 209
- Một khuyến khích thực hành tâm linh 227
- Lời nguyện Mạn Đà La Kim Cương
giới 272
- Bản thuật ngữ 277
Lời nói
đầu
Những
chỉ dạy gồm những trong Những Khai thị
từ Đức Liên Hoa Sanh được nói trực
tiếp bởi Padmasambhava cho các đệ tử thân
thiết ở Tây Tạng. Trước tiên chúng
được ban cho để trả lời các câu
hỏi từ Bà Tsogyal, công chúa của Kharchen, bà chép lại
và cất giấu chúng như kho tàng Terma quư báu để
sẽ được khám phá vào nhiều thế kỷ sau.
Hỗu hết mỗi chương đều đề
cập rằng: Các giáo huấn này được ban cho, v́
sự lợi lạc của các hành giả các thế
hệ tương lai và thường thường chúng
kết thúc với câu “Mong rằng sách này gặp
được tất cả những ai xứng đáng và
có duyên trong tương lai!”.
Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh là
một bộ đi cùng với cuốn Dakini Teachings (Những
chỉ dạy Dakini) (Shambhala, 1989), và khởi từ một
cố gắng liên tục nhằm giới thiệu
những chỉ dạy của Padmasambhava để cho
những hành giả hiện đại tu hành. Padmasambhava là
những bậc Đạo sư vĩ đại đă
thiết lập Phật giáo ở Tây Tạng vào cuối
thế kỷ thứ tám. Liên Hoa Sanh (Shambhala 1993) chứa
đựng nhiều chi tiết về cuộc đời
Ngài.
Tulku Urgyen Rinpoche biểu lộ sự tin tưởng
rằng: Một bản dịch Anh ngữ của các
lời dạy quư báu này sẽ mang lại lợi lạc to
lớn. Ngài yêu cầu tôi t́m kiếm các chủ đề
khác với các chủ đề đă được tŕnh
bày trong Những lời dạy Dakini.
Bộ sách này gồm lời chỉ dạy bằng
miệng về Kim Cương thừa, mà những
Đạo sư kiệt xuất nhất đă chọn
lọc từ các giáo lư Terma. Bởi v́ những phát giác này
trải rộng nhiều thế kỷ và được
phát hiện do những người khác nhau, ở những
địa điểm khác nhau, ngôn ngữ và văn phạm
của chúng hầu hết đều đồng nhất.
Nguyên bản được giới thiệu ở
đây chỉ đại diện một phần trong toàn
bộ kho tàng Terma mênh mông, khám phá được hơn
một thiên niên kỷ nay. Cuốn sách này được
sưu tập từ các nguồn sau: Gongpa Sangtal của
Rigzin Godem, Martri của Nyang Ral, Lama Gondu của Sangye Lingpa,
Tongwa Dệnden (một bộ sưu tập), Khandro Nyingtig
của Pema Ledrel Tsal và Chokling Tersar của Chokgyur Linpa.
Chương đầu, tựa là “Chúc thư
Đầu nhọn Hạt ngọc” và chương thứ
sáu cũng là chương dài nhất “Kho tàng các Viên ngọc
quư”, được lấy từ bộ Gongpa Sangtal nổi
tiếng, một “ṿng” Terma khám phá bởi Rigdzin Godem
(1337-1408), vị thầy của Jangter hay truyền thống
“terma Bắc” của phái Nyingma, Rigdzin Godem, nghĩa đen là
“Vị Vidyadhara với lông chim kên kên”. Ngài có tên ấy
bởi v́ ba lông chim kên kiên mọc trên đầu lúc
mười hai tuổi và thêm năm cái nữa vào năm hai
mươi bốn tuổi. Là một hoá thân của Dorje
Dudjom họ Nanam, một trong chín đệ tử thân
cận người Tây Tạng của Padmasambhava, Ngài
cũng được tính vào năm Terton như vua.
Gongpa Sangtal là một rút gọn của “chỉ
thẳng Chứng Ngộ của Phổ Hiền” vị
Phật nguyên thuỷ. Tuyển tập này cũng gồm
“Nguyện vọng của Phổ Hiền” nổi tiếng.
Gongpa Sangtal gồm năm phần; các chương này
thuộc về một phần gọi là Kadag Rangjung Rangshar,
“tánh thanh tịnh bổn nhiên tự hữu và tự
hiện”.
Nguồn chánh thứ hai là Martri của Nyang Ral, “Giáo
Huấn Trực Tiếp” của Padmasambhava được
Đại sư Nyang Ral Nyima ệzer (1124-1192) phát hiện.
Trong Dakini Teachings, tôi đă diễn tả ngắn gọn
cuộc đời của Nyang Ral. Bộ lời dạy này
được gồm trong Rinchen Terdzử bởi Jamgon
Kontrul (1813-1899), đó là một tuyển tập các lời
dạy terma với tên là “Kho tàng quư báu của Terma”.
Nguồn
thứ ba là Lama Gongdu do Sangye Lingpa (1340-1396) phát hiện. Tiêu
đề ấy có nghĩa là “Sự chứng ngộ
hiện thân của Đạo sư” (Padmasambhava). Sangye
Lingpa là một hoá thân của người con thứ hai vua
Trisong Deutsen (790-844) và được tính vào Tám Lingpa hay
những Terton chính. Sự phát hiện chính yếu của
ngài là ṿng Terma Lama Gongdu khổng lồ, gồm 18 bộ
khoảng 700 trang một bộ, và Kathang Sertreng tiểu
sử mở rộng của Padửnghĩa là “đầy
ư nghĩa để nh́n”, và là một tiểu sử của
Padmasambhava được sưu tập từ ba nguồn
chính: Biên sử Katang do Orgyen Lingpa (1329-1360/67), Nyang Ral
(1124-1192) và Guru Chowang (1212-1270) phát hiện. Gồm 274 tờ
rộng khổ đôi, bản văn này được t́m
thấy trong thư viện của Shechen Tennyi DargyeLing
ở Boudhanath. Mục lục nói rằng nó gồm các nguyên
bản từ:
1/ Tiểu sử mở rộng của
Đại Đạo sư Uddiyana, phát hiện bởi
Orgyen Lingpa từ chỗ tối cao của Động Pha Lê
ở Yarlung.
2/ Chúc Thư của Padma, phát hiện
bởi đại Terton Nyang Ral.
3/ Tiểu sử về 45 công hạnh,
do Công chúa Mandavara trước tác và cô đọng vào
Tiểu sử về 11 công hạnh bởi Guru Chowang,
vị Terton của Lhodrak.
4/ Các Giáo huấn riêng rẽ, các trả
lời khác nhau cho các câu hỏi và các lời tiên tri từ
Lama Langdu của Sangye Lingpa.
Nguồn
thứ tư, tôi dùng một chương từ Khandro
Nyingtig, “Tâm Yừu của những Dakini” của Pema Ledrel
Tsal. Padmasambhava cất giấu những chỉ dạy
của Ngài về Ṿng Thậm Thâm Vô Thượng của
Đại Toàn Thiện để sẽ được
khám phá trong tương lai như là Khandro Nyingtig. Vị
Terton của ṿng quan trọng này là Pema Ledrel Tsal (1291-1315/19),
một hoá thân của Công chúa Pema Sal, con gái vua Trisong Deutsen,
tái sanh ngay sau đó của Công chúa là vị thầy nổi
danh Longchen Rabjam (1308-1363), tiếp theo là Pema Lingpa (1445-1521).
Trong những năm gần đây vị thầy này tái sanh
là Khenpo Ngakchung, hiệu là Ngawang Palsang (1879-1941), Ngài cũng
dùng tên Pema Ledrel Tsal.
Cuối cùng
Lời Nguyện Mạn Đà La Kim Cương Giới là
một tán tụng rất quan trọng về thiện ư
trong Chokling Tersarr. Nó được tụng thuộc ḷng vào
lúc chấm dứt của hầu hết mọi nhóm họp
tâm linh trong truyền thống Kagyu và Nyingma. Chokling Tersar “Các
kho tàng Terma mới của Chokgyur Lingpa” (1829-1870)
được khám phá do đại Terton Jamyang Khyentse Wangpo
(1820-1892) và hai vị cộng tác thân thiết cùng với Jamgon
Kongtrul thứ nhất (1813-1899).
Xin cảm
ơn ngài Tulku Urgyen Rinpoche, người giữ ǵn trái tim
của các giáo lư Padmasambhava, đă từ bi giải thích
bất cứ câu hỏi ǵ tôi thắc mắc và các chỉ
dạy sâu xa, soi sáng chiều sâu của cái thấy
được tŕnh bày trong sách này, và Chokyi Nyima Rinpoche đă
giảng dạy rộng răi pháp nhiều năm nay,
gồm cả hai khoá về câu hỏi và trả lời
giữa Padmasambhava và Yeshe Tsogyal.
Cuối
cùng, tôi hoan hỉ v́ bản dịch này được hoàn
thành ở Chùa Động Asura vào ngày thứ mười âm
lịch, ngày mà Padmasambhava đă hứa là Ngài đến
từ đất nước thanh tịnh của Ngài
“Ngọn Núi Rạng Rỡ Màu Đồng”, để
ban phước cho những ai kêu gọi đến
Ngài. Nguyện rằng những lời chỉ dạy quư giá
này là nguồn cảm hứng sâu xa cho những ai
đọc chúng!
Erik Pema Kunsang
Nagi Gompa, 1994
Lời
dạy mở đầu
Các giáo
huấn chứa đựng trong Những khai thị
từ Đức Liên Hoa Sanh, thuộc về loại
được gọi Martri hay “Lời dạy trực
tiếp”. Martri nghĩa là lời khuyên bảo cá nhân
được trao cho từ tâm, dạy theo một lối
rơ ràng và trực tiếp, phát hiện các bí mật thâm sâu
nhất và cất giấu nhất. Thường thường
một sự chỉ dạy như thế chỉ dành cho
một đệ tử vào một thời điểm nào
đó. Các giáo huấn trực tiếp của Padmasambhava cô đọng,
nghĩa chính yếu các Tantra của Mahayoga, các kinh văn
của Anu Yoga và cốt loại của Ati Yoga.
Có lời
nói rằng: “Khi các ngọn lửa của thời đen
tối hoành hành tràn lan, những sự chỉ dạy
của Kim Cương thừa, của Mật thừa
sẽ cháy bùng như lửa rừng”. Padmasambhava là đại
sứ đầu tiên của Mật thừa và Ngài xuất
hiện trong vai tṛ của mỗi một trong một ngàn
vị Phật ở kiếp này.
Bổn
sư của tôi là Samten Gyatso thường nói: “Hăy nh́n cho
kỹ và thấy các giáo huấn Terma của Padmasambhava là
lạ lùng biết bao! Hăy so sánh các Terma với các luận
văn khác và thấy tính chất độc nhất của
chúng! Lư do là đầu tiên chúng được chính
Padmasambhava tạo nên, vẻ đẹp của lối
văn xuôi ấy th́ đáng kinh ngạc!”.
Samten Gyatso
cũng nói: “Thật rất khó cho một người nào
tạo ra một thứ văn chương đẹp
đẽ và sâu xa như văn xuôi t́m thấy trong các
thực hành của Terma. Khác với các luận văn
của người chỉ có học nhiều, mỗi
lời có thể hiểu ở những mức độ
càng ngày càng sâu. Đó là phẩm tính đặc biệt
lời Kim Cương của Padmasambhava”. Thầy tôi
biểu lộ rằng: “Ngài luôn luôn thán phục đến
thế nào về câu nói của Padmasambhava! Samten Gyatso th́ uyên
bác rất mực và đă nghiên cứu một số
lượng văn học bao la. Ngay dù thế, Ngài luôn luôn
có thể t́m thấy nhiều mức độ ư nghĩa
khác nhau trong lời chỉ dạy của Padmađambhava.
“Khi con đọc các lời chỉ dạy của
Padmasambhava, con không tránh được cảm thấy
niềm tin và sùng mộ”, Ngài nói. “Con chỉ có thể quy
phục với một niềm tin trọn vẹn!”. Samten
Gyatso có một đức tin không thể tưởng vào
Padmasambhava. Ngài thường nói: “Không có ai vĩ đại
hơn Padmasambhava. Dĩ nhiên, Phật Thích Ca là gốc,
nhưng Padmasambhava là người đă làm cho các giáo lư Kim
Cương thừa lan rộng, nở rộ khắp
ấn Độ và đặc biệt là Tây Tạng”.
Chúng ta
thấy rằng các lời dạy giống nhau xuất
hiện bởi sự khám phá của một vài Terton. Lư do
chúng là lời nói không thể sai lầm của Padmasambhava
được giải từ chữ viết tượng
h́nh, người ta không cần phải nghi ngờ ǵ. Ví
dụ: Bảy Ḍng Cầu Khẩn bắt đầu
với “ở biên giới Tây Bắc xứ sở Uddiyana...”
xuất hiện trong rất nhiều Terma khác nhau, các
người khám phá khác nhau đều rút ra từ một nguồn.
“Các Terton vĩ đại đích
thật th́ rất kỳ diệu!” Samten Gyatso nói: “Các
đạo sư như Nyang Ral, Guru Chửwang và Rigdzin
Gửdem thật sự là không thể tưởng
được! Hai vị Terton đầu Nyang Ral và Guru
Gửdem được biết như là hai Terton vua và
một trăm Terton khác được xem như là
người hầu của họ. Cũng có ba Terton
xuất chúng, tám Lingpa, hai mươi lăm Terton chính vv...
tất cả các ngài đều quan trọng như nhau.
Nhưng giữa 108 Terton, hai vị chính là hai Terton vua: Nyang
Ral ệzer và Guru Chửwang. “Không ai vĩ đại hơn
hai vị ấy!”. Ngài nói: “Vị Terton đầu tiên
của tất cả các Terton là Sangye Lama, bởi thế
không phải như là Sangye Lingpa. Tôi không quen thuộc
với các chi tiết của các tiểu sử có rất
nhiều, tôi chỉ biết là họ rất xuất
sắc”.
Khi Dzongsar
Khyentse Chửkyi Lodro c̣n ở Gangtok, tôi có dịp may
viếng Ngài mỗi buổi sáng trong 25 ngày để
hỏi nhiều vấn đề khác nhau. Vào lúc đó
sức khoẻ Ngài tốt, v́ đang trong t́nh trạng
một nửa ẩn tu, Ngài không tiếp khách. Nhưng v́ tôi
là một con cháu của Chokyur Lingpa, Ngài bày tỏ ḷng
tốt đặc biệt với tôi và gọi tôi
đến gặp, thường thường Ngài ở
một ḿnh không có thị giả nào.
Một hôm,
tôi bày tỏ sự không biết của tôi và hỏi:
“Người thường không biết ǵ như con,
phải có thời gian cực nhọc để t́m ra trong
tất cả các Terma, về các hoá thần của ba
gốc do hai Terton vua khám phá và của 108 Terton chứa
đựng trong Rinche Terdzo, cái ǵ là quan trọng nhất.
Chúng con như những trẻ nhỏ nhặt hoa trong
một đồng cỏ bao la, cố gắng chọn cái
đẹp nhất. Theo Ngài, những cái ǵ là quan trọng
nhất?”. Ngài đă trả lời: “Về phương
diện Guru, không có ǵ vĩ đại hơn sự
thực hành vào ngày thứ mười trong tám chương của
Guru Chửwang. Nó là cái thống lănh trong mọi loại Guru
Sadhana. Về phương diện Yidam, Padmasambhava dạy Giáo
Huấn Tám Sadhana và bản dịch của Nyang Ral là
vượt trội. Về phương diện Dakini Troma
Nagmo của Nyang là tối cao. Ba cái nầy là quan
trọng nhất trong các Terma được phát giác”. Sự
thực hành vào ngày thứ mười trong tám chương của
Guru Chửwang đặt căn bản trên chính h́nh
tướng của Padmasambhava như là Lama Sangdu (vị
đạo sư hiện thân mọi bí mật). Có ba bản
dịch chính của Giáo Huấn Tám Sadhana. Trong mọi
thực hành Dakini khác nhau, Troma Nagmo của Nyang, một
h́nh tướng hung nộ, màu đen của Vajra Yogini, là
cùng cực sâu xa.
Khi tôi hỏi: “C̣n cá nhân con thực hành
cái ǵ?” Dzongsar Khyentse nói với tôi: “Hăy lấy Tukdrub Barchey
Kunsel, như sự thực hành riêng biệt cho con! Trong các
Terma của Chokgyur Lingpa, Barchey Kunsel là sâu thẳm vô
cùng và được khám phá không có trở ngại ǵ. Khi các
chướng ngại đă được dời bỏ,
sự thành tựu xảy ra tự nhiên. Thế nên, hăy
tập trung vào sự thực hành ấy!”.
“Con sẽ xem ai như là Guru?” tôi
hỏi. Dzongsar Khyentse trả lời: “Hăy cầu khẩn
Chokgyur Lingpa! Thế là đủ rồi, không có ǵ hoàn
hảo hơn thế. Ngài sẽ đáp ứng về
phương diện Guru!”.
Khi tôi
hỏi: “Thực hành Dzogchon nào con nên tập trung vào?”.
Dzongsar Khyentse lại nói: “Con nên thực hành Kunzang Tuktig!
Đây là thời mà hai giáo tŕnh Kuzang Tuktig và Chetsun
Nyingtig sẽ ảnh hưởng vào dân chúng. Mỗi
thời đại có giáo huấn riêng của nó về
Đại Toàn Thiện, điều đó đặc
biệt có ư nghĩa trong thời hiện nay. Thời kia, cái
được biết rộng răi nhất là Nyingtig Yabzhi;
sau đó đến Gongpa Sangtal của Rigdzin Godem và Tawa
Long Yang của Dorje Lingpa, rồi tới Kửnchok
Chidu của Jatson Nyingpo. Mỗi Terma đều có
thời đặc biệt của nó”.
Về
điều này, Samten Gyatso bày tỏ: “Padmasambhava
được tán dương. V́ trước khi
rời Tây Tạng, Ngài đă cất giấu một số
lớn Terma gồm các lời dạy, đá quư và các vật
linh thiêng cho các hành giả của mỗi thế kỷ. Các
Terton xuất hiện về sau để khám phá ra các kho
tàng terma này, đă được Padmasambhava ban phước
và gởi đi sau khi đă nhận sự truyền pháp và
đọc sự trao truyền của toàn bộ ḍng phái.
Ngày nay có vài
người trí thức nói rằng: “Những Terton không có
ḍng liên tục được truyền pháp và đọc
sự trao truyền từ Padmasambhava đối với nx
giáo huấn của các Ngài. Các Ngài chỉ đào lên
được một số văn bản do chính các Ngài
cất giấu!”. Thật ra, mỗi một Terton đă
nhận được sự trao truyền toàn bộ qua
các sự ban phước của Padmasambhava, trong một cách
chính thống c ao hơn rất nhiều so với các
truyền pháp và trao truyền theo một lối bề ngoài
thường được làm, thường chỉ là
một sự tương tự với ban phước.
Tất cả các Terton vĩ đại là những
đạo sư mà thân, khẩu, tâm ư đă được
ban phước và truyền pháp một cách cá nhân. Bởi
chính Padmasambhava, nói rằng: Các vị không có sự trao
truyền là trẻ con. Những nhận xét như thế
chứng tỏ sự ngu dốt của người phát
biểu về bảy lối trao truyền truyền
thống. Các giáo huấn trong terma là sâu xa đáng kinh
ngạc và được cất giấu trong ḥm kho tàng theo
“bốn cách thức và sáu giới hạn”. Chúng có một
chiều rất sâu xa để thăm ḍ, nếu con thích
thú”.
Từ thuở thiếu niên, một
Terton vĩ đại đă khác với một đứa
trẻ b́nh thường. Ngài có những linh kiến về
các hoá thần và sự chứng ngộ trào lên từ bên
trong. Những Terton không giống người b́nh
thường, chúng ta phải theo con đường
tiệm tiến thứ lớp về nghiên cứu và
thực hành. Người b́nh thường không có sự
chứng ngộ tức thời!
Đă vài
thế kỷ trôi qua từ khi Padmasambhava c̣n sống,
nhưng qua ḷng tốt vô bờ của Ngài, Ngài đă cất
giấu vô số terma cho sự lợi lạc của
người tương lai trong đá tảng, trong hồ
và ngay trong không gian. Nghĩ đến ḷng tốt bao la này
gây nên sự sợ hăi. Tn, có những người không
đánh giá nổi ḷng tốt ấy.
Khi thời điểm đến cho
các lời dạy terma được khám phá, các Terton vĩ
đại xuất hiện trong thế gian này. Các vị có
thể lặn vào hồ, bay đến những nơi
chốn hang động không thể đến và lấy báu
vật ra từ trong đá tảng.
Bà nội tôi,
là con của Chokgyur Lingpa, đă chứng kiến
điều đó và sau này kể lại cho tôi: “Khi đá
mở ra, trông giống như hậu môn của một con
ḅ; đá trở nên mềm và chảy ra để lộ
một lỗ hổng đựng terma. Thường
thường, vị Terton lấy terma ra trước sự
có mặt của hơn ngàn người. Như thế không
có căn cứ cho sự nghi ngờ. Khi đá mở ra và
bên trong có thể thấy được, chúng ta thấy nó
đầy ánh sáng cầu vồng lấp lánh. Các phẩm
vật terma nóng không rờ được. Rồi th́
có một số lượng thật nhiều bột
sindhura, đến nỗi nó chảy ra ngoài. Thường
thường Chokgyur Lingpa mang một tấm vải thêu
để đặt báu vật lên. Nhiều cái để
lại dấu cháy xém v́ các terma rất nóng, không có ai ngoài
Ngài có thể cầm nó”. Về sau tôi có thấy một vài
mảnh thêu cháy xém này, màu đỏ và vàng, trong pḥng chứa
đồ linh thiêng của Chokgyur Lingpa.
Bà tôi nói
tiếp: “Rồi Chokgyur Lingpa đặt terma đôi khi là
một bức tượng để nguội dần trên
một tấm vải thêu trên một bàn thờ lộ thiên.
Ngài giải thích cho những người hiện diện,
terma được cất giấu như thế nào, nó
được phát giác bây giờ bằng cách nào, các lợi
lạc khi nhận được sự ban phước
của nó... Đám đông khoảng hơn một ngàn
người chảy nước mắt v́ tin tưởng
và sùng mộ, không khí ŕ rào với tiếng kêu. Ngay nếu
con là một người trí thức ngang bướng,
mọi thứ nghi ngờ cũng phải tiêu tan. Mọi
người đều sững sờ thán phục”.
Phải
với cách như thế, bởi v́ người Tây Tạng,
đặc biệt là những người ở tỉnh
Kham miền Đông Tây Tạng, họ cực kỳ nghi
ngờ. Họ không tự nhiên tin một Terton, nhưng
Chokgyur Lingpa th́ vượt lên mọi sự nghi ngờ và
bàn tán. Bởi v́ Ngài khám phá các terma lập đi lập
lại với sự chứng kiến của vô số
người hiện diện.
Lời
dạy Terma, lời trực tiếp của Padmasambhava, khi
được khám phá vào thời điểm định
mệnh, th́ có một chiều sâu khó mà các luận văn
khác sánh được. Chúng có các ban phước
độc nhất, nhưng những sự ban phước
tuỳ vào niềm tin và sùng mộ của bạn. Karsey
Kongtrul, con của Karmapa thứ mười lăm, có
lần nói với tôi: “Ba lần tôi cử hành lễ drubchen
về terma Tukdrub Barchey Kunsel của Chokgyur Lingpa và
mỗi lần những dấu hiệu thành tựu lạ
lùng lại xuất hiện”. Tôi hỏi: “Xin nói cho tôi, chúng
là những ǵ?”. Một lần, một lượng cam
lồ rất nhiều chảy ra, rất ngọt ngào và
hơi chua như rượu chang tuyệt hảo, từ
torma trên bàn thờ và chảy tràn mọi hướng cho
đến cổng chùa. Lần khác, amrita và rakta trên
bàn thời bắt đầu sôi lên, tiếng sùng sục
như nước sôi. Lần thứ ba chúng tôi cũng
sửa soạn phương dược thiêng liêng và mùi
thơm ngọt ngào của nó có thể ngửi thấy luôn
bảy ngày sau. Trong đời, tôi chưa bao giờ chứng
kiến các dấu hiệu lạ lùng như trong ba lần
đó”. Điều này cũng có thể do sự phối
hợp của một giáo lư terma sâu xa và một đại
sự cao tột như thế. Có nhiều câu chuyện khác
về cam lồ chảy ra từ terma tên bàn thờ trong các
lễ drubchen ở tu viện Tsiley của Chokgyur Lingpa.
Đại
sư Jamgyang Khyentse Wangpo cũng phát giác một terma
tương tự với Tukdrub Barchey Kunsel. Sau khi
gặp Chokgyur Lingpa và xem xét, so sánh cẩn thận hai
bản dịch của terma này, Jamyang Khyentse đốt cháy
bản văn của ḿnh, nói: “V́ câu và nghĩa giống nhau,
ích lợi ǵ có thêm một bản! Cái của Ngài, là một
terma đất, th́ sâu xa hơn và sẽ có hiệu lực
hơn bản terma tâm của tôi”. Như thế các ban
phước của hai ḍng terma đất và terma tâm
được hoà trong một ḍng chảy. Một terma
đất th́ bằng vật chất và lấy ra từ
đất, trong khi terma tâm được khám phá từ
sự rộng mở của chứng ngộ. Người
ta nói rằng những terma đất đem đến
nhiều lợi lạc lớn hơn cho con người,
bởi v́ chúng thường có mảnh giấy da màu vàng
với chữ tượng trưng được cất
giấu bởi Padmasambhava.
Chữ tượng trưng này
được gọi là chữ dakini th́ sâu xa không thể
tượng. Trích dẫn một bản kinh Tantra: “Chữ
của kho tàng là thân thể của sự lưu xuất
huyễn hoá. Chúng cũng là khẩu quyết để
hiểu âm thanh và ngôn ngữ. Bằng sự thấu
suốt ư nghĩa của chúng, chúng cũng là tâm”. Theo cách
ấy, thân, khẩu và tâm giác ngộ đều gồm
chứa trong chữ của dakini. Chữ viết này chính nó
là hoá thân, thân thể của sự sáng tạo huyễn
hoá. Đối với một vị thầy, ban cho một
sự trao truyền bằng cách đọc, dầu chỉ
một bài tán ngắn th́ chữ viết là luôn luôn cần
thiết, không thể lập lại theo trí nhớ.
Tương tự, có một sự khác biệt sâu xa
giữa sự việc có hay không có mảnh giấy da màu
vàng với chữ của dakini.
Các lời
dạy của Padmasambhava thường kết thúc mệnh
lệnh của Ngài với các đệ tử, chớ
truyền bá chúng ngay mà cất giấu chúng cho lợi
lạc của các tín đồ tương lai. Lư do là
để giữ ǵn sự liên tục của các lời
dạy cốt tuỷ. Không cất giấu sự chỉ
dạy trực tiếp như các kho tàng terma, ḍng của
chúng sẽ chết qua nhiều thế kỷ. Lờy
một ví dị là nhà Siddha vĩ đại Karma Pakski,
trước tác của Ngài khoảng gần một trăm
bộ, nhưng hôm nay chúng ta chỉ có ba bộ c̣n lại.
Sự việc diễn ra như vậy. Các giáo huấn
về thực hành pháp Cho của nữ đạo
sư Machig Labdron, cắt đứt chấp ngă,
khoảng 80 hay 90 bộ, nhưng ngày nay bạn t́m đâu ra
toàn bộ lời dạy quư báu ấy?
Trong ḍng
Nyingma, không có đạo sư vĩ đại nào
được biết tiếng do học rộng hơn
Rongzompa và Longchenpa. Ngay dù Rongzompa thường
được xem là bác học hơn, nhưng Longchenpa th́
vượt trội trong các lời chỉ dạy về cái
thấy. Mỗi vị đều có một toàn tập
trước tác hơn 60 hay 70 bộ, nhưng ngày nay chúng
không t́m thấy được ở bất kỳ đâu.
Các lời dạy biến mất!
Sự
chỉ dạy của terma về mặt kia, th́ vô tận.
Khi một Terton đích thực có một linh kiến
chữ viết tượng trưng, mỗi một chữ
trở thành một toàn thể đồ thị
huyễn hoá. Hơn nữa các chữ của lời dạy
để được viết lại tồn tại
giữa không trung cho đến khi chúng được chép
đúng; nếu một câu c̣n sống chập chờn,
đó là v́ vị Terton có một lỗi đánh vần sai.
Như thế sự chính xác khi giải mă được
bảo đảm.
Chúng ta có thể dễ dàng đồng
ư về sự quư giá của Padmasambhava và Yeshe Tsogyal.
Những lời dạy các Ngài cất giấu trong hồ và
núi không bị uổng phí. Ngay khi đúng thời, bản
viết xuất hiện sống động và rơ ràng trong
trường kinh nghiệm của vị Terton. Trước
khi có sự khám phá thực sự một terma, vị Terton
sẽ nhận một bản văn hướng dẫn,
một bản văn ngắn giải thích chỗ của
terma, bảng liệt kê các lời dạy và thời
điểm đúng cho cuộc khám phá. Khi đến chỗ
ấy, bà tôi nói: “Chokgur Lingpa đă được
hướng dẫn bởi một tia sáng từ trung tâm
của terma, dẫn Ngài thẳng đến chỗ cất
giấu”.
Padmasambhava có thể thấy thông suốt ba thời quá
khứ, hiện tại và vị lai, cũng rơ ràng như
một vật đặt trên bàn tay chúng ta. Bởi thế
chắc chắn Ngài cũng thấy loại giáo lư nào thích
hợp cho các thế hệ tương lai. Khi Ngài quở
trách đệ tử chính Yeshe Tsogyal, hay người Tây Tạng
nói chung, bất kể bạn sinh ở xứ sở nào,
bạn cũng được tự do nhận lănh sự
phê b́nh ấy để dẹp trừ những lầm
lỗi ẩn tàng. Sự nghi ngờ ngăn che lợi
lạc, chớ giống như một cái hang quay mặt
về phương
Yeshe Tsogyal, là người sưu tập chính các lời
dạy của Padmasambhava và không có bà, chúng ta sẽ không có
nhiều các lời chỉ dạy của Ngài đến
thế. Ananda đă là người sưu tập chính
những lời của Phật Thích Ca về kinh. Trong khi
Vajrapani sưu tập lời dạy Mật thừa của
Ngài, trong tinh tuư chúng đồng nhất với nhau. Yeshe
Tsogyal có điều được gọi là "trí
nhớ không quên sót". Bà không bỏ quên một câu nào
đă được nghe, có phải là hoàn toàn vô ích khi nghe
được điều ǵ mà lại quên mất!
Người sưu tập những lời chỉ
dạy của Padmasambhava này chính là một hoá thân của các
Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật, Vajra Varahi và Thánh Tara. Bà
xuất hiện trong thế giới chúng ta cho mục tiêu
đặc biệt này, nó là nhiệm vụ của bà. Ananda,
Vajrapani và Yeshe Tsogyal đều được diễn
tả là có trí nhớ siêu phàm, năng lực ghi nhớ không
quên sót. Sự nhớ không quên sót này là giống với
điều mà chúng ta gọi là không phóng tâm, bởi v́ quên và
phóng tâm là cùng một bản chất. Trong cuốn sách này,
chúng ta có những lời chỉ dạy bà đă nghe, không
quên sót, hệ thống hoá và cuối cùng cất giấu
như là kho tàng terma cho chúng ta. Yeshe Tsogyal là một phụ
nữ, có thể một số người tin rằng
chỉ có nam giới mới có thể đạt giác
ngộ, nhưng cuộc đời của bà là bằng
chứng ngược lại. Trong thực tế, trạng
thái giác ngộ của tâm th́ không là đàn ông hay đàn bà.
Lối văn xuôi trong Những khai vị từ
Đức Liên Hoa Sanh, h́nh thức hỏi và đáp
giữa Padmasambhava, Yeshe Tsogyal và các đệ tử thân thiết,
th́ đồng nhất với điều được
t́m thấy trong các kinh và các tantra, đặc biệt trong
chương mở đầu của chúng, phần
"duyên khởi". Bạn thấy rằng hầu
hết Luật tạng về giới luật ở tu
viện có được, là do Đức Phật
được hỏi làm thế nào để đối
xử với sáu tín đồ phạm những tà hạnh.
Sau khi tŕnh bày câu chuyện về việc làm sau chót của
họ, Đức Phật chế định một
giới luật mới bị cấm đoán đối
với một tu sĩ.
Một điểm khác là bạn rất khó t́m ra
một kinh nào mà không được thuyết để
trả lời cho câu hỏi của ai đó. Đầu tiên
một người hỏi Đức Phật về vài
đề tài và lời dạy được ban cho.
Tương tự với loại chỉ dạy bằng
miệng, nó chỉ được ban cho để trả
lời cho một thỉnh cầu. Các tantra được
tŕnh bày theo cùng một kiểu: Nhân vật trung tâm của
Mạn đà la lưu xuất ra một chúng bao quanh, các
thành viên của chúng thỉnh cầu lời chỉ dạy
Mật thừa. Tóm lại, h́nh thức hỏi đáp là cách
kiểu truyền thống.
Có một lời tiên tri rằng: "Giáo lư của
Phật sẽ lan rộng xa hơn về phía Bắc".
Một ghi nhận khác, v́ cả Đức Phật
Thích Ca và Padmasambhava xuất hiện bằng một tỷ
h́nh tướng trong mỗi một tỷ hệ thống
thế giới, tại sao lại không thể có hoá thân
của các Ngài trong mọi nước của thế
giới này? Ai có thể chắc chắn được có
một nơi riêng rẽ nào mà những ban phước
của Phật không thấu đến? Dĩ nhiên chúng ta y
cứ trên sách lịch sử cho ta biết ở đâu và
khi nào Phật giáo lan toả, nhưng tôi cảm thấy
rằng hoạt động của Phật th́ thấm
nhuần khắp, bao trùm toàn bộ thế giới chúng ta.
Ví dụ, tôi thường được nghe nói rằng
Padmasambhava đă viếng thăm khắp xứ Tây Tạng
và Kham, ban phước mỗi ngọn núi, hang động,
hồ và không bỏ sót chỗ nào, ngay nhỏ như một
dấu chân ngựa. Thế th́ tại sao Ngài lại bỏ
qua các chỗ khác trong thế giới này? Tất cả
những giáo lư từ Đức Phật dĩ nhiên là chân
thật, nhưng chúng khác biệt theo cấp độ
sự nhấn mạnh được đặt vào
nghĩa tương đối hay tuyệt đối.
Mỗi cái đều quan trọng, theo nghĩa mức
độ tương đối hướng dẫn
bởi phương tiện chỉ dạy về hạnh
đúng, trong khi mức độ tuyệt đối
hoạt động qua sự chỉ dạy về cái
thấy đúng. Những chỉ dạy này có thể
được ban cho trong h́nh thức lời khuyên bảo
cốt lơi hay các chỉ dạy bằng miệng súc tích.
Thường thường, được biết
rằng người ta phải "đi xuống với
cái thấy từ trên", trong khi "đi lên với
hạnh từ dưới". Đi xuống với cái
thấy từ ở trên nghĩa là nhận ra quang cảnh
tổng quát, trọn vẹn về Đại Toàn Thiện,
trong khi đi lên với hạnh nghĩa là thực hành phù
hợp tuỳ thuận với tám thừa thấp. Trong
bối cảnh Kim Cương thừa, điều này
đặc biệt ám chỉ đến sự tu hành
mười chủ đề của tantra.
Để kết luận, các tuyển tập khác nhau
những chỉ dạy của Padmasambhava gồm các giáo
huấn về cả cái thấy và hạnh. ư kiến
của tôi là người ta phải tŕnh bày chính xác các
lời chỉ dạy trong h́nh thức nguyên thuỷ của
nó, không thêm điều ǵ mà cũng không bớt điều
ǵ. Ví dụ, nếu bạn bỏ qua những lời
chỉ dạy về cái thấy và chỉ tŕnh bày các
chỉ dạy về hạnh, lời của Padmasambhava
sẽ trở thành bất toàn. Trong chủ đích rốt
ráo của cái thấy, bạn quả đă nghe những câu
nói như "không có nghiệp, không có thiện ác".
Nhưng, xin hăy hiểu những câu nói ấy trong bối
cảnh đúng của chúng!.
Không có cái thấy, mọi chỉ dạy chỉ là
cơ quyền, các giáo huấn bên ngoài về thái độ.
Nếu bạn mất cái thấy trong hạnh, không bao
giờ có cơ hội nào cho giải thoát; nhưng nếu
bạn mất hạnh trong cái thấy, bạn lạc vào
sự tin rằng không có tốt và xấu, cả hai
đều trống không. Để hiểu Kim Cương
thừa, chúng ta phải học như thế nào các chỉ
dạy Mật thừa được cất giấu trong
sáu giới hạn và bốn cách thức.
Nghĩa quyền
nhắm vào hạnh, trong khi nghĩa thực bao gồm cái
thấy. Như Milarepa nói: "Tự hành xử sự
một cách ngu dại với cái thấy quyền cơ,
bạn mất cơ hội để chứng ngộ
thật nghĩa".
Tulku Urgyen
Rinpoche nói.
Chùa
Động Asura, tháng Mười, 1993
Chúc thư
đầu nhọn hạt ngọc
Lời khai thị này được nói cho
Yeshe Tsogyal
Ta, vị
thầy Sanh Từ Hoa Sen của Uddiyana,
Tu hành giáo
pháp v́ sự lợi lạc cho chính ḿnh và người khác.
Đến
phía đông của Toà Kim Cương.
Ta nghiên
cứu và uyên bác trong lời dạy Kinh điển.
Đến
phía nam, phía tây và phía bắc
Ta nghiên
cứu các bộ Luật, Luận,
Và giáo lư Ba
la mật đa.
ở
bờ Hasudhara, Ta nghiên cứu Kriya.
Trong xứ
sở Uddiyana Ta nghiên cứu Yoga.
Trong
đất nước Zahor, Ta nghiên cứu hai phần
của Tantra.
Trong xứ
sở Jah, Ta nghiên cứu Kilaya.
Trong
đất nước Singha, Ta nghiên cứu Hayagriva.
Trong xứ
sở Marutsey, Ta nghiên cứu Mamo.
ở
ở Toà Kim
Cương, Ta nghiên cứu Amrita.
Bốn nhóm
Tantra Cha và Tantra Mẹ,
Gồm
cả Guhyasamja,
Ta nghiên
cứu đến uyên thâm trong xử sở Jala.
Đại
Toàn Thiện Ta học từ tâm giác bổn nhiên của Ta.
Ta đă
chứng ngộ rằng mọi hiện tượng
đều như mộng, như ảo.
Trong xứ
sở Tây Tạng, Ta đă cử hành những hoạt
động rộng lớn cho lợi lạc của chúng
sanh.
Trong thời
đại thoái hoá,
Ta sẽ làm
lợi lạc cho mọi người.
Bởi
thế, Ta cất giấu vô số kho tàng Terma
Chúng sẽ
gặp được người tiền định.
Thật may
mắn, phước đức cho tất cả ai tiếp
xúc được với các terma này.
Hăy làm tṛn
mệnh lệnh của Liên Hoa Sanh!
Ngài nói
như thế.
Emaho! Vào thời chót của thời kỳ này, các kho
tàng terma của Ta sẽ nở rộ ở xứ tuyết
Tây Tạng. Hăy nghe đây! Tất cả các người
sẽ theo lời chỉ dạy của Ta vào thời gian
đó!
Khó hiểu thấu bản tánh Ati Yoga của
Đại Toàn Thiện. Thế nên, hăy tu hành trong đó! Bản
tánh này là trạng thái tỉnh giác của tâm. Dầu cho thân
bạn vẫn c̣n là con người, tâm bạn đạt
đến mức độ Phật tánh.
Bất kể các giáo lư Đại Toàn Thiện có
thể sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu, trùm khắp bao nhiêu, th́
tất cả chúng đều gồm trong điều này:
Chớ thiền định về hay khởi tạo
một thứ ǵ dầu nhỏ như vi trần và chớ
phóng dật dầu cho một sát na(1).
Có một sự nguy hiểm là người ta không
hiểu được điều đó, rồi dùng câu nói
vô vị thế này: "Thật đúng là không cần
thiền định!" Tâm họ rồi vẫn bị
trói buộc bởi các tán động của công việc
thế gian sanh tử, nhưng khi có người nào hiểu
thấu, chứng ngộ bản tánh của
không-thiền-định, người ấy sẽ
thấy sanh tử và Niết bàn là b́nh đằng. Khi
chứng ngộ xảy ra, bạn sẽ thực sự
giải thoát khỏi sanh tử, các vọng niệm
phiền năo tự nhiên ch́m lắng mất và trở thành
tánh Giác bổn nguyên. Dùng một thứ hiểu biết mà
không giảm bớt được phiền năo th́ có ích ǵ!
Tuy nhiên, có nhiều người đắm ch́m vào
năm độc khi không thiền định. Họ không
thấu hiểu chân tánh và chắc chắn sẽ vào
địa ngục.
[1] Chớ có truyền dạy một
cái thấy mà bạn chưa chứng đắc! V́ cái
thấy th́ vắng dứt mọi sự thấy, nên
bản chất của tâm là một sự mở rộng
bao la của tánh Không. V́ thiền là không thiền, hăy buông
thả cho kinh nghiệm của ḿnh tự do thoát khỏi
mọi ngưng trụ. V́ đức hạnh là vô hạnh,
nó chính là tánh bổn nhiên không tạo tác. V́ quả th́ không
bỏ mặc hay hoàn thành, nó là
Pháp Thân
của Đại Lạc. Bốn câu này là lời từ
trái tim Ta. Ngược lại với chúng, bạn không
thể nào khám phá bản tánh của Ati Yoga.
Vào lúc chấm dứt của thời kỳ
tương lai, sẽ có nhiều hành giả hư hỏng,
họ xem Pháp là chuyện mua bán. Vào thời đó, tất
cả những ai tuân theo lời của Ta, chớ từ
bỏ thập thiện.
Dầu cho
sự chứng ngộ của bạn đồng
đẳng với sự chứng ngộ của chư
Phật, hăy cúng dường Tam Bảo.
Dầu cho
bạn chế phục được tâm ḿnh, hăy
hướng những mục tiêu sâu xa của bạn về
Giáo Pháp. Dẫu cho bản tánh của Đại Toàn
Thiện là tối thượng, chớ xem thường các
giáo lư khác.
Dầu cho
bạn thấu hiểu rằng Phật và chúng sanh là b́nh
đẳng, hăy ôm trùm t,ất cả chúng sanh bằng Tâm
Đại Bi.
Dầu cho
các con đường và các địa là vượt
khỏi sự tu hành và hành tŕnh, chớ từ bỏ sự
tịnh hoá các che chướng ngăn ngại qua các
hoạt động thuộc về Giáo Pháp.
Dầu cho
công đức là vượt khỏi sự thu gom, chớ
cắt đứt nguồn gốc của đức hạnh
hữu vi.
Dầu cho
tâm bạn th́ vượt lên sống và chết, nhưng thân
huyễn hoá này đang chết. Thế nên, hăy thực hành
trong khi nhớ về cái chết.
Dầu cho
bạn kinh nghiệm pháp tánh tự do khỏi tư
tưởng, hay duy tŕ Bồ đề tâm.
Dầu cho
bạn đă đạt đến kết quả của
Pháp thân, hăy giữ sự tương thông với thần
bổn tôn.
Dầu cho
Pháp thân là không ở chỗ nào khác, hăy t́m ra thật
nghĩa.
Dầu cho
Phật tánh không ở đâu khác, hăy hồi hướng
mọi công đức bạn làm về giác ngộ vô
thượng.
Dầu cho
bất kỳ thứ ǵ kinh nghiệm được chính là
tánh Giác bổn nguyên, chớ để tâm bạn lạc vào
sanh tử.
Dầu cho
bản tánh của tâm bạn là Phật, hăy luôn luôn tôn
thờ hoá thần hay thầy bạn.
Dầu cho
bạn đă chứng ngộ bản tánh của Đại
Toàn Thiện, chớ bỏ vị thần bổn tôn.
Những
người nào, thay v́ làm như thế, lại nói những
lời khoa trương một cách dại dột chỉ là
làm hại cho Tam bảo và sẽ không t́m được
một khoảnh khắc hạnh phúc.
Vị Guru nói: Con người không nghĩ về cái
chết. Đời người giống như một
đống trấu hay một cái lông chim trên đèo núi.
Tử thần đến th́nh ĺnh như một trận
tuyết lở hay một cơn băo. Phiền năo giống
như rơm bắt lửa. Cuộc đời bạn
giảm dần như bóng mặt trời lặn.
Tất cả chúng sanh của ba cơi đều tự
vướng mắc vào con rắn đen của sân do chính
ḿnh tự tạo. Họ tự đâm thủng ḿnh bằng
đôi sừng con ḅ đỏ của tham do ḿnh tự
tạo. Họ tự làm tối tăm bằng bóng tối
dày đặc của si do ḿnh tạo lấy. Họ tự
cột ḿnh vào vách đá kiêu mạn do ḿnh tạo ra. Họ
tự làm hỏng ḿnh với con chó sói tham lam do ḿnh tạo
lấy. Người ta không nhận rằng họ không
thể trốn thoát năm nhiễm ô nguy hiểm của
phiền năo. Họ làm mọi thứ để kinh
nghiệm những lạc thú sanh tử của ngay
đời này.
Đời này đi qua trong một phút giây ngắn
ngủi, mà sanh tử th́ vô cùng. Bạn sẽ làm ǵ trong
đời sau? Hơn nữa, sự dài ngắn của
đời này th́ không chắc chắn, thời gian chết
th́ không thể định được và giống
như một tử tội bị đưa đến
giàn xử tử, bạn đi đến gần cái chết
trong từng bước chân.
Mọi chúng sanh đều vô thường và chết.
Bạn đă từng nghe về những người đă
chết trong quá khứ! Bạn đă thấy họ hàng ḿnh
chết! Bạn có nhận ra ḿnh đang già! Và rồi, thay
v́ thực hành Giáo pháp, bạn quên những buồn phiền
quá khứ. Thay v́ sợ khổ mai sau, bạn không biết
đến sự khổ đau của các cơi thấp.
Bị săn đuổi bởi cái hoàn cảnh
thất thường, bị cột trói bằng sợi
thừng của chấp trụ dị nguyên, kiệt
lực v́ ḍng sông tham ái, bị nhốt giam trong mạng
lưới sanh tử, bị c̣ng chặt chẽ vào
nghiệp quả đă chín tới. Ngay khi các tin tức
của Pháp đến với bạn, bạn vẫn c̣n bám
lấy các tṛ tiêu khiển và hờ hững. Có phải cái
chết không xảy ra cho một người như
bạn? Ta thương xót cho mọi chúng sanh suy nghĩ
như lối đó.
Vị Guru nói: Khi giữ trong tâm sự thống khổ
của cái chết, th́ rơ ràng mọi hoạt động
đều là nguyên nhân của khổ, vậy hăy vứt
chúng đi. Cắt đứt mọi dây trói, dầy là
nhỏ nhất và thiền định trong đơn
độc về phương thuốc tánh Không. Không có
bất cứ điều ǵ có thể giúp bạn vào lúc
chết. Thế nên, hăy thực hành Pháp, v́ đó là người
đồng hành tốt nhất của bạn.
Thầy của bạn và Tam Bảo là sự hộ
tống tốt nhất. Thế nên, hăy khẩn thiết quy
y. Thực hành Pháp là cái giúp cho trạng thái tâm bạn
tốt nhất. Hăy nhớ điều bạn đă nghe, v́
Pháp là đáng tin cậy nhất.
Bất
kể giáo lư nào bạn thực hành, hăy bỏ đi buồn
ngủ, hôn trầm, lười lĩnh. Trái lại, hăy trang
bị vũ khí chuyên cần. Bất kể giáo lư nào bạn
đă hiểu, tự ḿnh chớ ĺa khỏi ư nghĩa
của nó.
Padmasambhava nói: Hăy làm như vầy nếu bạn
muốn thực hành chánh pháp! Giữ lời dạy của
thầy trong tâm. Chớ ư niệm hoá kinh nghiệm của
bạn, v́ nó chắc chắn làm cho bạn bị ràng
buộc hay cáu kỉnh. Ngày và đêm, hăy nh́n vào tâm ḿnh.
Nếu ḍng tâm thức có chứa một hạnh xấu nào,
hăy từ bỏ nó từ sâu thẳm ḷng ḿnh và theo
đuổi hạnh tốt.
Hơn nữa, khi bạn thấy người khác
mắc phạm điều xấu, hăy có tâm bi với
họ. Chắc chắn có thể là bạn cảm thấy
thích hay ghét một vài đối tượng của giác
quan, hăy vứt nó đi. Khi cảm thấy dính kết
với ǵ hấp dẫn, hay ác cảm với cái ǵ ghê
tởm, hăy hiểu rằng đấy là ảo giác của
tâm bạn, chúng chỉ là huyễn hoá.
Khi bạn nghe những lời thích thú hay không thích thú,
hăy hiểu chúng là tiếng vang trống không, như
tiếng dội. Khi bạn gặp sự bất hạnh
ngặt nghèo hay thống khổ, hăy hiểu đó là
chuyện xảy ra tạm thời, một kinh nghiệm
không thật. Hăy nhận ra rằng tự tánh chẳng bao
giờ cách ĺa bạn.
Có được thân người là cực kỳ khó.
Thế nên, thật là ngu mê không hiểu biết Pháp một
khi đă t́m được nó. Chỉ có Pháp mới cứu
được bạn, mọi thứ khác đều là
sự lừa dối của thế gian.
Vị Guru lại nói: Người với nghiệp
thấp kém nhắm đến sự lớn lao, phù
phiếm của thế giới này và hành động không
nghĩ đến nghiệp quả. Sự thống khổ
về sau sẽ kéo dài hơn là hiện tại. Thế nên,
hăy từ ái và bi mẫn đối với chúng sanh ba cơi. Hăy
thường trực tương thông với tâm giác của
Bồ đề tâm. Hăy từ bỏ mười nghiệp
bắt thiện và nuôi dưỡng mười thiện
nghiệp.
Chớ nh́n bất kỳ chúng sanh nào như kẻ thù
của ḿnh, làm thế chỉ là vọng tưởng
của tâm bạn. Chớ t́m kiếm thức ăn và
nước uống bằng nói dối và lừa lọc.
Dầu bụng bạn có sẽ đầy trong kiếp này,
nó sẽ rất nặng nề trong kiếp tới.
Chớ lao vào làm ăn và lợi lộc, nói chung nó
chỉ là tṛ tiêu khiển giết thời giờ cho cả
bạn và người khác. Chớ xem sự giàu có là quan
trọng, v́ nó là kẻ thù của thiền định và
thực hành giáo pháp.
Chỉ chú ư
vào thức ăn là một nguyên nhân phóng tâm, hăy giữ
thực phẩm cho hành thiền chỉ đủ
để duy tŕ thân mạng. Khi bạn sống tách
biệt, tâm bạn cũng sẽ như vậy. Bỏ
đi sự nói chuyện vô ích và nói ít thôi. Nếu bạn
làm tổn hại t́nh cảm người khác, cả hai
đều tạo nghiệp xấu.
Tổng quát, mọi chúng sanh không trừ ai đều
là cha mẹ của bạn. Thế nên, đừng cho phép
ḿnh bị bám dính hay ghét bỏ, hăy duy tŕ một tâm trạng
b́nh an. Bỏ đi giận dữ và lời thô bạo, thay
vào đó nói với một khuôn mặt tươi
cười.
Ḷng tôi của cha mẹ không thể đáp đền,
dầu bạn có hy sinh đời ḿnh, thế nên hăy tôn
trọng trong tư tưởng, lời nói và hành vi.
Đức hạnh và cái xấu đều đến
từ đối tượng được thấy
biết và các mối liên lạc, thế nên chớ giữ
mối liên lạc với người làm ác. Chớ ở
một nơi mà người ta hiềm khích với bạn,
nó thúc đẩy thêm giận dữ và tham muốn. Nếu
bạn làm thế, nó chỉ tăng thêm phiền năo trong
bạn và trong những người khác.
Hăy ở chỗ nào mà tâm trạng bạn thoải mái và
sự thực hành Pháp của bạn tiến bộ một
cách tự động. Cư trú chỗ nào có sự ham thích
hay ác cảm nhiều chỉ làm loạn tâm; hăy ở nơi
mà sự thực hành Pháp tiến triển. Nếu bạn
kiêu mạn, công đức bạn bị giảm, thế
nên hăy bỏ đi kiêu căng và ngă mạn. Nếu bạn
trở nên chán nản và thất vọng, hăy tự an ủi
ḿnh và tự làm cố vấn cho ḿnh; hăy dấn thân trở
lại vào con đường.
Vị Guru nói: Nếu bạn muốn thật sự
thực hành Pháp, hăy làm điều đức hạnh,
dầu chỉ là việc nhỏ nhất. Đại
dương bao la được làm từ những giọt
nước; ngay cả núi Tu Di và bốn châu lục cũng
được tạo ra từ những hạt vi trần nhỏ
nhoi.
Bất kể bạn cho đi thứ ǵ dầu nhỏ
như một hạt mè; nếu bạn cho với tâm bi và
Bồ đề tâm, th́ bạn đă thành tựu trăm
ngàn lần phước đức. Nếu bạn cho mà
không có quyết định của Bồ đề tâm,
phước đức của bạn sẽ giảm đi
dầu cho cả ngựa, hay lâu dài.
Chớ dung dưỡng những người bạn
tâng bốc và không thật ḷng. Hăy chân thành trong tư
tưởng và việc làm. Nền tảng của sự
thực hành Pháp đặt nơi samaya, đại bi và
Bồ đề tâm thanh tịnh. Các samaya của Mật
thừa, các điều luật của Bồ tát và các
giới luật của Thanh văn đều bao hàm trong ấy.
Vị Guru
nói: Hăy tiêu dùng thực phẩm và của cải vào việc
đức hạnh. Con người nói: "Cần của
cải cho lúc chết". Nhưng khi bạn bị tra
khỏi bởi bệnh tật, bạn không thể chia
phần sự đau đớn bằng tiền bạc,
dầu có đông người giúp đỡ bạn và cơn
đau của bạn không lớn hơn, nếu bạn
không có ǵ cả.
Vào lúc đó chẳng khác nhau ǵ hoặc là bạn có
người trợ giúp, người hầu, bà con và
của cải hay không. Tất cả đều là nguyên nhân
của chấp níu. Chấp bám trói buộc bạn, dầu
là chấp bám vào hoá thần hay vào Pháp. Sự dính bám của
người giàu vào trăm ngàn lượng vàng và sự dính
bám của người nghèo vào kim chỉ của nó
đều trói buộc như nhau. Hăy quăng bỏ sự
dính bám, nó ngăn chặn cánh cửa giải thoát.
Khi bạn chết, cũng như nhau hoặc là thân
thể bạn được hoả thiêu bằng trầm
hương hay để cho chim và chó ăn ở nơi
không người. Bạn ra đi, cùng với nghiệp
tốt hay xấu đă mắc phải khi c̣n sống. Danh
tiếng tốt hay xấu, kho lẫm và giàu có, quư nhân giúp
đỡ và người hầu hạ đều bỏ
lại phía sau.
Vào ngày
bạn chết, bạn sẽ cần một vị
thầy cao cả, thế nên hăy kiếm một vị
thầy. Không có thầy, bạn không thể hiểu
biết giác ngộ, thế nên hăy theo một vị thầy
có phẩm chất và hoàn thành bất cứ thứ ǵ ngài yêu
cầu.
Vị Guru lại nói: Nghe đây, các người may
mắn của các thời sau tuân theo lời dạy Padmakara!
Trước tiên, khi bước vào con đường,
bạn phải chuyên cần. V́ rất lâu trong quá khứ,
bạn đă măi mê trong kinh nghiệm mê lầm; từ vô
số kiếp, bất kỳ điều ǵ bạn làm
đều lạc trong mê vọng. Hăy cắt đứt cái
mê vọng này, ngay khi bạn có được một thân người.
Tất cả chúng sanh đều bị che ám bởi
bóng tối của căn bản vô minh. Khi kinh nghiệm danh
tướng nhị nguyên khởi lên, nó được làm
vững chắc thêm bởi sự trụ tướng phân
biệt. Dầu bất cứ điều ǵ họ làm,
họ đều mắc vào các việc làm đáng
thương. Nhà ngục mê huyễn này của sáu loại
chúng sanh thật là siết chặt!
Cực kỳ khó khăn để có được
một thân người. Có được thân người,
chỉ có ít người nghe được danh hiệu
Phật. Sau khi nghe được, rất ít người có
được niềm tin. Và ngay dù có được
niềm tin, sau khi đi vào giáo pháp, nhiều người
giống như những con thú ương ngạnh phá
vỡ các lời thệ nguyện và giới luật,
rồi sa đoạ. Thấy các chúng sanh đó, các Bồ
tát thất vọng và Ta, Padmakara buồn rầu.
Tsogya! ở một nơi mà giáo lư của Phật
hiện diện, ngay người có được một
thân người hoàn hảo, đă có vô số đời
tích chứa công đức vô biên, nhưng họ vẫn c̣n
đầy đủ nghiệp quả của sáu loài.
Vài người trong số đó, nghe được
những phẩm tính của Phật, vẫn bốc cháy
bởi tham đắm và giận dữ, lo sợ rằng
người khác cũng sẽ quan tâm đến. Đă thành
tín đồ theo Phật pháp, họ lo sợ rằng sanh
tử kia sẽ cạn kiệt. Loại tham đắm và
giận dữ này là chủng tử cho địa ngục.
Trong các đời tới, họ sinh vào các nơi chốn
chẳng bao giờ nghe đến danh Tam Bảo.
Các người đang sống hay sẽ xuất
hiện trong tương lai và người nghe lời
của Padmakara, đây là điều bạn nên làm,
để cho có được lợi lạc khi đă
được thân người, bạn cần giáo pháp cao
cả. Người bám níu, khát khao uy tín và danh vọng
hơn là thực hành Pháp, sẽ thuộc về mức
độ cao nhất ở trong loài thú.
Nếu
bạn nghi ngờ điều này th́ hăy suy nghĩ kỹ
càng: Lo cho thân này được tiện nghi thoải mái, lo
cho nó được trường tồn, lo người
khác thắng ḿnh, lo cho người thân được
lợi thế, lo người thù ghét ḿnh trả đũa.
Những thứ ấy mọi người thế gian
đều có đủ. Chim trên trời, chuột trong hang,
kiến sống dưới lỗ, tất cả
đều có giống như vậy. Tất cả chúng sanh
đều có như vậy.
Có ít kẻ thù hơn những người khác chỉ
là mức độ cao nhất trong loài vật. Để
thực hành Pháp, bạn phải vất bỏ sự
quyến luyến vào một xứ sở. Quê hương
bạn là nơi sanh quán của dính bám và sân hận.
Hăy giữ
thực phẩm, của cải đủ dùng để
ăn và mang đi. Làm như thế cho đến khi
bạn vất bỏ được đắm níu vào
thức ăn và đồ mặc. Chớ giữ tài
sản, nó sẽ trở thành một sự phóng tâm. Hăy t́m
một nơi hoang dă không người lui tới. Giữ
thực phẩm đủ duy tŕ mạng sống, sống
nơi cô đơn ngoài mọi ràng buộc bè bạn.
Trước hết, làm trong sạch các nghiệp
xấu. Tiếp theo, nh́n vào trong tâm bạn: Sự kiện
rằng trạng thái bổn nhiên của tâm không kéo dài mà
phóng xuất các niệm, bằng chứng nó là trống
không. Sự xảy ra không ngừng các niệm tưởng
lưu xuất chính là cái sáng chiếu thấu biết
của nó. Chớ theo đuổi sự lưu xuất
của các niệm. Chớ bám vào phương diện
chiếu sáng của nó. Bằng cách buông xả chú tâm và
nhận biết yếu tính của nó, tánh Giác bổn nhiên
mọc lên soi tỏ như là Pháp thân.
Thỉnh thoảng, làm những thực hành để
tịnh hoá các chướng ngại và làm trợ giúp nâng cao.
Nếu bạn có thể theo chúc thư của Ta theo lối
này, bạn sẽ đạt đến trạng thái
Vajradhara trong chỉ đời này.
Tsogyal! Có
người nào đó với bề ngoài nâu sậm và dữ
tợn sẽ xuất hiện gần thời chót các giáo lư
của Phật Thích Ca. Để cho người đó, hăy
cất giấu các lời này của Ta trong một cái tráp
bằng da tê giác màu nâu.
Như thế Ngài đă nói.
Chúc thư của Đạo sư Liên
Hoa Sanh xứ Uddiyana có tên là Đầu Nhọn Hạt
Ngọc hoàn thành ở đây.
Nó
được khám phá bởi Rigdzin Godem, vị Vidyadhara
với lông chim kên kên, từ kho tàng màu trắng phương
Đông.
Samaya, ấn, ấn.
Mong là tốt lành.
Mong là tốt lành.
Mong là tốt lành.
Sarva Mangalam.
Lời khai thị
cho
trisong deutsen
Emaho! Đạo sư Padmasambhava được vua
Trisong Deutsen mời để thuần hoá địa
điểm và xây dựng chùa Samye, có tên là "Sự Thành
Tựu Viên Măn Tự Nhiên Rạng Rỡ của Những
Nguyện Vọng Vô Biên". Về sau, khi xong lễ tôn
phong, vua mời Đạo sư, người mặc
một áo choàng thêu màu nâu đậm, ngồi trên một
ngai, trải đệm lụa trong một căn pḥng trung
tâm trên lầu. Vua dâng cho Đạo sư rượu vang
làm từ gạo và đặt những cốc đầy
vàng, bạc ở hai bên tay Ngài. Nhà vua dâng cúng một số
đồ vật và đặt trên một dĩa mạn
đà la bằng vàng, một số hoa bằng bảy báu.
Vua cởi ra từ cổ ḿnh một món đồ trang
sức lam ngọc tên là "Maru Rực Rỡ" và
đặt lên như là tượng trưng cho mặt
trời và một món đồ khác có tên là "Kenru
Kongchok" như là tượng trưng của mặt
trăng. Vua gom các thứ quư báu khác thêm vào trên dĩa vàng
để tượng trưng cho núi Tu Di và bốn châu
lục, dâng cho bậc Đạo sư với lời tán
thán:
"Không
dựa vào cha mẹ, hoá thân của Ngài xuất hiện trong
một hoa sen.
Nó hiện
hữu để ảnh hưởng lên chúng sanh, như là
thân Kim cang cắt đứt ḍng sanh tử.
Từ
sự vô hạn của chứng ngộ, Ngài phát lộ Tâm
Phật cho người xứng đáng.
Thiện
xảo hoá độ với nhiều phương tiện,
Ngài trói buộc các vị thần kiêu căng và quỷ
dữ dưới lời tuyên thệ.
Với
hoạt động toàn hảo của ba thân, hoá thân Ngài
vượt quá hoá thân của tất cả Phật.
Tôi xinh
đảnh lễ h́nh tướng hoa sen của Kim
Cương Totreng và ngợi ca Ngài với ḷng sùng mộ.
Dù Ngài không
đắm trước khi hưởng thọ năm
dục,
Ngài từ
bi chấp nhận chúng để cho mọi chúng sanh có
thể tạo ra phước đức.
Xin hăy
đoái tưởng đến con, khi con cầu xin Ngài ban
cho ư nghĩa sâu xa tối tượng!".
Đạo sư trả lời: "Thưa Ngài, Ngài
yêu thích h́nh tướng hiện thời của tôi?" Nhà
vua trả lời: "Vâng, thưa Thầy". Và tiếp
tục: "Giải thoát khỏi bệnh hoạn của
bốn đại, siêu việt cả sanh và tử.
Ngài sở
hữu đại bi siêu xuất để làm việc v́
lợi lạc của chúng sanh.
Tâm Ngài
thường trụ như tự tánh của Pháp giới
tánh;
Vâng, tôi yêu
thích h́nh tướng của Ngài, bậc bảo hộ cho
chúng sanh!".
Thế
rồi Đạo sư nói:
"Ngài hăy
biết rằng vị Thầy th́ quan trọng hơn
Cả ngàn
vị Phật của kiếp này
Tại sao
thế? Bởi v́ tất cả Phật của kiếp này
Đều
xuất hiện sau khi đă theo một vị Thầy.
Trước
khi có một vị thầy
Th́ danh
từ "Chư Phật" chưa hiện hữu.
Cũng có
nói rằng:
Vị
Thầy là Phật, vị Thầy là Pháp,
Cũng
thế vị Thầy là Tăng;
Như
thế vị Thầy là gốc của Tam Bảo.
Hăy bỏ
qua một bên mọi phụng thờ khác,
Mà chuyên
cần phụng sự Thầy của Ngài.
Tuỳ
hỷ người, Ngài sẽ nhận được
mọi chứng đắc Ngài mong muốn".
Rồi nhà vua thưa hỏi Padmasambhava: Thưa
Đại sư, khi cố gắng thành tựu quả là
Phật tánh, từ nhân là một chúng sanh hữu t́nh,
trước hết cái thấy của sự chứng
ngộ là cực kỳ quan trọng. Có được
"cái thấy của sự chứng ngộ" có
nghĩa là ǵ?
Đức Thầy trả lời: Tột đỉnh
của mọi cái thấy (kiến) là tinh tuư Bồ
đề tâm của tâm giác ngộ. Tất cả hàng
tỷ vũ trụ, tất cả Như Lai mười
phương và mọi chúng sanh trong ba cơi đều cùng
một bản tính, bao hàm trong tinh tuư Bồ đề tâm giác
ngộ này. "Tâm" ở đây nghĩa là sự đa
dạng khởi từ cái vô sanh, vô tác.
Vâng, ngài có
thể hỏi rằng: "Đâu là sự khác biệt
giữa chư Phật và các chúng sanh?". Đó không ǵ khác
hơn là tâm giác ngộ hay không giác ngộ. Tính chất
của trạng thái giác ngộ của một vị
Phật thường hằng hiện diện trong Ngài,
nhưng Ngài lại không nhận ra nó. Không nhận biết
tự tâm, các chứng sanh luân lạc vào sáu đường
sanh tử. Rồi Ngài có thể hỏi: "Thế nào là
con đường chứng ngộ tự tâm?".
Điều ấy đă được dạy rằng,
Ngài cần lời dạy miệng của một vị
Thầy.
Về mặt này, "Tâm" là cái suy nghĩ và
nhận biết, thật vậy, có cái ǵ đó đang kinh
nghiệm. Chớ t́m tâm này ở bên ngoài, hăy nh́n vào trong! Hăy
để cho tâm t́m kiếm chính nó! Hăy xác chứng bản
tính của tâm là thế nào!
Trước tiên, từ đâu tâm sanh khởi? Ngay
giờ đây, nó dừng ở đâu? Cuối cùng, hăy nh́n
nó đi đâu? Khi tâm Ngài nh́n vào chính nó, nó thấy rằng
không có chỗ nào từ đó nó khởi sanh, dừng trụ
hay đi mất. Không có sự giải thích nào về "nó
là như thế nào". Tâm được khám phá là
chẳng phải cái ǵ ở ngoài hay ở trong. Nó không có ai
đang nh́n, nó không phải là hành động nh́n. Nó
được chứng nghiệm như là một trạng
thái tỉnh giác bổn nguyên không có trung tâm cũng không có chu
vi, một sự biến măn bao la trống không và tự do
một cách nguyên thuỷ. Sự tỉnh giác bổn nguyên này
là nội tại và tự tại. Nó không phải
được tạo ra lúc bây giờ, mà vốn sẵn
hiện diện trong chính Ngài từ vô thuỷ. Hăy xác
quyết rằng: Cái thấy chính là nhận ra xác thực
Cái ấy! "Có được niềm tin" vào
điều này có nghĩa là nhận biết rằng cũng
giống như hư không, tâm vốn hiện hữu
sẵn đủ từ vô thuỷ. Như mặt trời,
nó giải thoát khỏi bất kỳ căn bản vô minh
tối ám nào. Như hoa sen, nó chẳng nhiễm ô bởi
nghiệp tội. Như vàng ṛng, nó không biến hoại
bản chất. Như đại dương, nó bất
động. Như một ḍng sông, nó không ngừng dứt.
Như núi Tu Di, nó không đổi thay. Một khi Ngài nhận
biết (chứng ngộ) bản tánh chân thực của nó
và làm vững vàng nó, điều ấy gọi là "có
được cái thấy của sự chứng
ngộ".
Nhà vua hỏi: "Có được kinh nghiệm
về thiền định" là thế nào?
Đức thầy trả lời: Nghe đây, thưa
Bệ hạ! "Có được kinh nghiệm về
thiền định" nghĩa là buông thả cho tâm ngài
không thi thiết, không suy bại và tươi mới. Hăy
để tâm ngài an nghỉ trong trạng thái tự nhiên,
không câu thúc và tự do. Bằng cách không trụ tâm vào cái ǵ
bên ngoài cũng không tập trung bên trong, ngài ở nơi
sự giải thoát khỏi mọi tiêu điểm. Trong
trạng thái an định vĩ đại này của tự
tánh, hăy để cho tâm ngài dừng nghỉ không
động lay, cũng như ngọn lửa của
một ngọn đèn sáp không chao động bởi gió.
Trong trạng thái này, các kinh nghiệm có thể xảy
ra: Tâm thức ngài có thể trở nên tràn trề, sáng
tỏ hay dừng lại; lạc phúc, sáng rỡ hay thoát
khỏi tư tưởng; nó có thể cảm thấy
mờ tối, không có điểm qui chiếu và không hoà
hợp với các cách thế của thế giới này.
Nếu các kinh nghiệm này xảy ra, chớ cho chúng một
mối quan trọng đặc biệt nào, v́ chúng chỉ là
những kinh nghiệm thoáng qua, nhất thời. Chớ
trụ trước ǵ vào chúng! Đó gọi là "có
được kinh nghiệm về thiền
định".
Nhà vua hỏi: "Có được hạnh, v́ b́nh
thản" là nghĩa thế nào?
Đức thầy trả lời: "Hạnh"
ở đây nghĩa là không gián đoạn trong thiền
định, không tán thất tâm; dầu cho là không có cái ǵ
để thiền định về cả. Như ḍng
chảy không ngừng của một con sông, ngài nhớ
(niệm) luôn luôn qua mọi t́nh huống, đi,
đứng, nằm, ngồi. "Vị b́nh thản"
nghĩa là ôm trọn lấy cái ǵ ngài thấy, hai cái ǵ
cảm thọ của năm giác quan xảy đến,
với sự nhận biết rơ ràng về tự tánh ngài
vốn giải thoát mọi kết dính hay bám níu. Chớ
nhận hay bỏ bất cứ điều ǵ, giống
như đến một ḥn đảo toàn vàng quư. Đây
gọi là "Có được hạnh, vị b́nh
thản".
Nhà vua lại hỏi: "Cái ǵ làm cho người ta
vượt qua hẻm núi nguy hiểm của động
niệm?".
Đức Thầy trả lời: Khi tư
tưởng ư niệm xảy ra đang lúc thiền
định, bất kỳ cái ǵ sanh khởi đều là
từ tâm của chính ḿnh. Bởi v́ tâm không có tự tánh, nên
tư tưởng chính nó cũng trống rỗng mọi
thực thể. Giống như một đám mây nảy
sinh giữa không gian và biến mất trở lại trong
không gian, niệm khởi trong tâm và lại tan biến trong
tâm. Trong bản chất, tư tưởng ư niệm là pháp
tánh xưa nay.
"Vượt qua hẻm núi nguy hiểm" nghĩa
là khi tâm động thành đủ thứ tư
tưởng, ngài nên hướng sự chú ư vào chính tâm này.
Như một tên trộm đi vào một căn nhà
trống, những tư tưởng rỗng không, không
chướng ngại ǵ cho một tâm trống rỗng.
Đó gọi là "vượt qua hẻm núi hiểm nguy
của động niệm".
Nhà vua hỏi Đạo sư: Như thế nào
người ta "có được sự tin chắc không
đổi của Quả?".
Đức Thầy trả lời: Hăy nghe điều
này, thưa Bệ hạ! Tâm giác của Bồ đề tâm
không sinh ra từ nguyên nhân nào, cũng không tiêu diệt
bởi hoàn cảnh nào. Nó không được tạo ra
bởi chư Phật, trí huệ cũng không
được sản xuất ra bởi các chứng sanh
thông thái. Nó vốn sẵn đủ, hiện diện
nơi ngài như là sở hữu tự nhiên của ngài. Khi
qua lời chỉ dạy của Thầy, ngài nhận ra nó,
từ đó tâm là tổ tiên của chư Phật, cũng
như sự nhận ra một người mà ngài đă
từng biết.
Tất cả chư Phật ba đời đạt
đến giác ngộ trong sự tương tục
thể hiện Cái Này, sau khi đạt đến sự
vững chắc an định, giống như một hoàng
tử lên ngôi vua. Tính giác với cái vốn hiện diện
từ vô thuỷ, thoát khỏi mọi sợ hăi và đe
doạ, gọi là "có được sự tin chắc
bất biến của Quả".
Nhà vua hỏi Đạo sư: Cái ǵ làm ngài "cắt
đứt những giới hạn của lầm lạc
và lỗi lầm?"
Đức Thầy trả lời: Thưa ngài, có hy
vọng hay lo sợ là do lỗi không thấu hiểu,
hiện thực được cái thấy. Tâm Bồ
đề tánh Giác không hy vọng có được giác
ngộ cũng không lo sợ rơi vào trạng thái chúng sanh.
Bám nắm ư niệm có người tham thiền và có
đối tượng tham thiền, là do lỗi không
cắt đứt các phóng tưởng của tâm nhân ngă.
Tự tánh pháp tánh của ngài, tự do khỏi mọi
tạo tác, không có đối tượng nào để
thiền định về, không có một ai đang
thiền định, hay bất kỳ loại thiền
định nào để trau dồi.
Nhận lấy hay chối bỏ là do lỗi không
cắt đứt sự dính gắn và trụ trước.
Bản tánh trống không và tự do của tâm không có cái ǵ
để thành tựu cho ngài bám nắm, cũng không có cái ǵ
phải chối bỏ cho ngài có thể hiềm ghét. Nó không
có tốt cần phải nhận lấy, cũng không có
xấu để phải khước từ.
Bị bám dính vào các sở hữu là do lỗi không
hiểu thực hành là thế nào. Thực hành đối
với mọi sự vật là tự do khỏi mọi tiêu
điểm và trụ định, hiểu rằng sự
bám níu và chấp trước đều không có nền
tảng, gốc rễ.
Cô đọng mọi điều trên vào trong một
câu: Cái thấy là thoát khỏi quan niệm phân biệt(1),
thiền định là không trụ vào cái ǵ cả, kinh
nghiệm là giải thoát khỏi sự hưởng nếm
mùi vị và quả là vượt ngoài chứng đắc.
Chư Phật ba[1] đời đă không dạy, đang
không dạy và sẽ không dạy điều ǵ khác hơn
cái này. Đó là gọi "cắt đứt những
giới hạn của lầm lạc và lỗi
lầm".
Nhà vua hỏi Đạo sư: "Xoá đi lỗi
lầm của tà kiến" nghĩa là thế nào?
Đức thầy trả lời: Dầu cho ngài đă
rơ biết tâm ḿnh là Phật, chớ có tự bỏ Thầy
ḿnh! Dầu cho ngài đă chứng ngộ các h́nh
tướng đều là tâm, chớ ngưng nghỉ công
đức dầu hữu hạn và bị lệ thuộc
nhân duyên! Dầu cho ngài không mong cầu Phật tánh, hăy tôn
vinh Tam Bảo cao cả! Dầu cho ngài không sợ sanh
tử, hăy không có ngay cả một hạnh xấu nhỏ
nhất! Dầu cho ngài đạt được niềm
tin bất biến vào tự tánh ḿnh, chớ xem kinh
nghiệm những tính chất của đại
định, những tri giác cấp cao các thứ, hăy
vất bỏ kiêu căng và tự phụ.
Dầu cho ngài đă chứng nghiệm thấu suốt
rằng sanh tử và Niết bàn là bất nhị, chớ
ngừng hưng vận từ bi đối với mọi
chúng sanh!
Rồi nhà vua lại hỏi: "Đạt
được sự xác tín" có nghĩa là ǵ?
Đức Thầy trả lời: Đạt
được xác tín rằng từ vô thuỷ tự tâm
ngài chính là tánh Giác của Phật tánh. Đạt
được xác tín rằng mọi hiện tượng
đều là tṛ tự bày hiện huyễn hoá của tâm
ngài. Đạt được xác tín rằng Quả là
đang hiện diện trong ngài và không phải t́m ở
đâu khác. Đạt được xác tín rằng
Thầy ngài là vị Phật trong h́nh tướng con
người. Đạt được xác tín rằng
bản chất của cái thấy (kiến) và thiền
định (thiền) là sự thực hiện thành tựu
của chư Phật. Để đạt
được niềm tin như thế ngài phải
thực hành(1)!.
Nhà vua lại hỏi: "Có được sự
truyền dạy bằng miệng" là như thế nào?
Đức Thầy trả lời: Nhờ sự ban
ơn, Phổ Hiền bày tỏ các lời bí mật này vào
tai của Vajrasattva. Vajrasattva rót chúng vào tai của Garab Dorje.
Garab Dorje giao phóng chúng vào trong tâm của Shri Singha.
Shri Singha ban chúng cho tôi, Padmasambhava. Trisong Deutsen, hăy
giữ chúng trong lơi của tâm ngài!(1).
Đạo sư dạy cho nhà vua: Thưa bệ
hạ, từ phi ngài chứng ngộ bản tánh vô sanh
của Pháp tánh, dù cho ngài được sanh ra trong thân
thể của một quân vương, th́ cuộc đời
cũng qua đi như một cái bọt trong nước.
Trừ phi ngài kinh nghiệm tự tánh bẩm sinh
của Pháp tánh vốn siêu việt khỏi tư
tưởng, động niệm, ngài sẽ khổ đau
khi vương quốc và quyền lực thế gian
của ngài, chúng cũng vô chất, vô tự tánh như
một cái cầu vồng, nhạt nhoà và tan biến.
Trừ phi ngài kết bạn với người
ấy, tánh Giác tự tại; khi ngài bỏ đời này,
ngài sẽ không thể cắt đứt sự bám níu vào các
hoàng hậu, người hầu và tôi tớ của ḿnh,
họ chỉ là những mối quen biết phải bỏ
lại trên cuộc hành tŕnh.[1]
Trừ phi ngài quen dần với trạng thái bản
nhiên của cái thấy và thiền định, ngày sẽ
chạy ṿng từ đời này sang đời khác, như
trên vành của một bánh xe quay nước, đi vào khi
sanh và rời bỏ khi chết.
Trừ phi
ngài điều hành vương quốc ngài với chân lư
của hoà b́nh; các luật lệ chặt chẽ cũng
giống như một cây có nhựa độc sẽ
huỷ hoại chính nó. Đại vương, tôi xin ngài hăy
cai trị tuỳ thuận với Chánh pháp!
Đạo sư lại dạy cho nhà vua: Thưa
bệ hạ, vào lúc chấm dứt của thời kỳ
này, con người khao khát các giáo huấn tuyệt diệu,
nhưng sẽ không thực hiện chúng. Không theo lời
dạy của Pháp, nhiều người sẽ truyền bá
rằng họ là những hành giả. Vào thời ấy có
nhiều kẻ khoe khoang mà ít người thành tựu. Khi
Phật Pháp ngừng dứt ở Trung Hoa, Tây Tạng và Mông
Cổ, giống như một áo giáp ghép bằng các mảnh
kim loại bị vỡ ra, con người rất khó
thuần phục. Vào thời ấy, các lời dạy này
phải giữ ǵn cho Phật Pháp, nên ngài hăy niêm cất chúng
như là một kho tàng terma.
Thưa Bệ hạ, trong đời chót của ngài,
ngài sẽ gặp các lời dạy này và những người
bảo vệ Phật Pháp. Rồi ngài sẽ ngưng ḍng tái
sanh và đi đến cấp bậc của một vị
Vidyadhara. Thế nên, chớ phổ biến chúng trong lúc này.
Hoan hỷ vô cùng, vua thiết lập một lễ dâng
cúng Mạn đà la bằng vàng và lễ lạy đi
nhiễu quanh vô số lần.
Dấu
ấn niêm kho tàng
Dấu
ấn niêm che giấu
Dấu
ấn niêm giao phó.
Không có sự xung
đột giữa tiểu thừa và đại thừa
Vua Trisong Deutsen dâng cúng một mạn đà la bằng
vàng cho đại Đạo sư Padmakara và nói: Kỳ
diệu thay! Thưa Đại sư, con xin Ngài dạy cho
phương pháp thực hành chứng tỏ rằng:
"Không có sự xung đột giữa Tiểu thừa và
Đại thừa".
Đạo sư trả lời: Emaho! Thưa
đại vương, thật hiếm hoi tiếp tục
được sanh ra làm một ông vua trong một thân
người hoàn hảo cùng với phước đức.
Thế nên, thật quan trọng khi trị v́
được vương quốc của Pháp.
Ngài có thể duy tŕ một luật lệ chặt
chẽ đối với các hoạt động trần
thế, nhưng nó làm hại cho các chúng sanh. Thế nên,
điều quan trọng là tu hành Bồ đề tâm.
Ngài có thể yêu quư cái thân huyễn hoá này với ḷng say
mê lớn lao, nhưng giờ phút của cái chết th́ không
chắc chắn. Tóc trắng và các vết nhăn của
ngài là điều báo của cái chết. Thế nên,
điều quan trọng là cảm thấy nhàm chán và nỗ
lực trong các phương thuốc, tức là sự
thực hành Pháp.
Nguyên nhân để đi vào con đường
giải thoát là giữ ǵn sự biết hổ thẹn và
khiêm tốn, xa lánh hạnh xấu. Thế nên, điều
quan trọng là tuân thủ những lời thệ nguyện
và giới luật mà không làm hư hại chúng.
Chúng sanh hữu t́nh là đối tượng của
ḷng đại bi. Thế nên, hăy thoát khỏi thành kiến
đối với các sự quen biết mới.
Điều quan trọng là đưa tất cả cận
thần, thần dân và quyến thuộc vào chánh pháp và
ủng hộ họ.
Người ta có thể không bao giờ gom góp cho
đủ các vật như thức ăn và của cải.
Thế nên, điều quan trọng là dùng chúng cho chánh pháp mà
không để cho chúng bị hoang phí bằng cách trở
thành lương thực cho kẻ thù và ma quỷ.
Không có đức tin và sùng mộ, người ta không
thể nhận tinh tuư của những lời dạy
miệng. Thế nên, điều quan trọng là tôn thờ
và phụng sự ḍng các Đạo sư với niềm
tin, sùng mộ và tin cậy.
Chính v́ thầy chỉ cho ngài trí huệ và Phật tánh
thường bằng hiện diện nơi chính ngài.
Thế nên, điều quan trọng là thỉnh cầu
lời khai thị từ một vị thầy của ḍng
trực chỉ và rồi đem nó vào thực hành.
Ngài không
nhận được những sự ban phước khi
ngài để thân, khẩu, tâm trong t́nh trạng b́nh
thường. Thế nên, điều quan trọng là tập
trung thần, khẩu, tâm vào hiện thân của hoá thần,
thần chú và trạng thái bổn nhiên vượt khỏi ư
niệm.
Nếu ngài theo đuổi các việc làm b́nh
thường th́ thân, khẩu, tâm ngài sẽ chạy rong trong
các kinh nghiệm thế gian. Thế nên, điều quan
trọng là khéo léo bỏ đi các bầu bạn xấu và
ẩn cư trong núi.
Cha mẹ,
anh em, con cái và thê thiếp cũng giống như những
người du lịch đi qua, ngài sẽ không thể cùng
ở. Thế nên, điều quan trọng là buông bỏ ràng
buộc và tự chế với phái nữ, nguồn gốc
của sanh tử luân hồi.
Mọi thành tựu, danh dự và tiếng tăm
của đời này là nguyên nhân cho sự phóng dật và các
chướng ngại. Thế nên, điều quan trọng
là vất bỏ mối bận tâm với đời này và
khước từ toàn bộ tám sự quan tâm thuộc
về thế gian.
Mọi kinh nghiệm hiện thời của ngài,
cảm giác sướng khổ đa dạng, đều
giả tạo và không thực. Thế nên, điều quan
trọng là nhận biết rằng tất cả những
ǵ xuất hiện và có mặt đều không có một
hiện hữu độc lập, đều vô tự tánh,
giống như một sự hiện h́nh ảo huyễn
hay một giấc mộng. Tâm th́ giống như một con
ngựa rừng chạy rong bất kỳ chỗ nào nó
thích. Thế nên, điều quan trọng là luôn luôn chánh niệm
tỉnh giác.
Bản tánh của tâm ngài, không thể chỉ
điểm, là tánh Giác tự có xưa nay vốn sẵn;
điều quan trọng là nh́n vào chính ngài và nhận ra
bản tánh của ngài.
Khi nắm bắt cái tâm, nó không c̣n lại. Thế nên,
điều quan trọng là buông xả thân tâm từ bên trong
và để cho sự chú tâm ở trong trạng thái tự
nhiên vốn sẵn của nó.
Mọi
sửa trị và tạo tác là sự lầm lạc thêm
một lần thứ hai nữa của chính tư
tưởng. Thế nên, điều quan t rọng là buông xả hoạt động
phồn tạp của tư tưởng trong khi để
nó được tự do trong trạng thái tự nhiên
bổn nguyên của nó.
Mọi cố gắng và thử nghiệm để
thành tựu đều bị cột ràng bởi sợi
thừng của tham cầu. Thế nên, điều quan
trọng là để cho tâm được sáng tỏ trong
chính nó, ĺa ngoài mọi cố gắng và tham cầu.
Ngài không đạt đến Phật tánh khi c̣n
chứa chấp hy vọng và sợ hăi. Thế nên,
điều quan trọng là quyết chắc rằng bản
tánh trống không và vô sanh của tâm th́ siêu vượt
khỏi một Phật tánh để đạt
được và một sanh tử để rơi vào.
Emaho, hăy nghe, đức vua! Nếu ngài thực hành
điều ấy, ngài sẽ không có bất kỳ xung
đột nào giữa Đại thừa hay Tiểu
thừa, giữa Mật thừa hay Giáo thừa, giữa
thừa Nhân và thừa Quả. Thế nên, đại
vương hay giữ điều ấy trong tâm.
Vào lúc chót của thời kỳ này, đại
vương, ngài sẽ cắt đứt ḍng tái sanh và
đem sanh tử đến chỗ chấm dứt. Tánh Giác
bổn nguyên của Phật tánh sẽ mọc lên tṛn
vẹn trong ngài và ngài sẽ không ngừng thành tựu
lợi ích cho chúng sanh. Hăy cất giấu các lời dạy
này như kho tàng quư giá!
Nghe xong lời chỉ dạy này về sự hợp
nhất của phát triển và thành tựu, nhà vua vô cùng hoan
hỷ và lễ lạy, đi nhiễu nhiều lần và
rải rắc bụi vàng.
Đây là lời dạy miệng về sự khuyên
bảo quan trọng rằng: Không có xung đột ǵ
giữa các thừa chánh yếu.
Dấu
ấn kho tàng
Dấu
ấn che giấu
Dấu
ấn giao phó.
Xâu chuỗi
hạt bằng vàng của cam lồ
Kính Lễ Đại sư Padmasambhava! Người sanh
từ Hoa Sen của sứ Uddiyana là hoá thân của tất
cả chư Phật ba đời, vị Vidyadhara vĩ
đại của toàn giác bất hoại. Ngài
được mời đến Tây Tạng do đức
vua và người trị v́ Trisong Deutsen. Khi ở đó, tôi
Tsogyal, phụng sự Ngài như là người phối
ngẫu tâm linh và người phục vụ. Một
lần, khi ở trong động Tidro xứ Shoto, tôi
được chỉ cho và nhận ra ư nghĩa Tâm Yếu
Vô Thượng Thậm Thâm của Đại Toàn Thiện.
Tôi xác quyết được trạng thái bổn nhiên qua
cái thấy như là kinh nghiệm trực tiếp, nó không
phải là giả định. Choáng váng v́ ngạc nhiên, tôi
công chúa của Kharchen, hỏi rằng:
- Kỳ diệu
thay! Đại sư, v́ tất cả các điểm then
chốt Tâm Yếu của Mantra ẩn Mật đều bao
gồm trong ba nguyên lư yếu tính, bản tánh và công dụng,
ba cái này có thể có sự sai lệch nào hay không?
Đạo sư nói: Tsogya!! Con hỏi điều
đó thật là tuyệt hay. Thật vậy, mọi điểm
then chốt của Tâm Yếu Thậm Thâm đều
chứa đựng trong yếu tính, bản tánh và công
dụng. Khi một người không hiểu, có ba
đường lối đi lạc. Để giải
thích điều này, có bốn điểm: cách đi
lạc, dấu hiệu của sự đi lạc,
khuyết điểm của điều này và hậu
quả của sự đi lạc.
- Thứ
nhất, cách đi lạc khỏi yếu tính. Tổng quát,
"yếu tính" đơn giản là trạng thái
bổn nhiên tánh Giác của con, sự tỉnh giác không
giả tạo và không hư hoại. Từ vô thuỷ
đến bây giờ, tánh Giác này thường trụ
như một cái biết trống không, nó không được
tạo tác từ bất cứ thứ ǵ. Khi, thay v́ an
trụ ngay như vậy, có người tu hành bằng cách
tưởng tượng nó là trống không, thế là
người ấy không thoát khỏi thái độ, ư
niệm, danh tướng của sự trụ vào cái
trống không. Bởi thế, người ấy lạc vào
cái gọi là "Tánh không hư vô luận".
- Dấu
hiệu của sự đi lạc bắt đầu có
những suy nghĩ như là "Không có chư Phật
ở trên! Không có chúng sanh bên dưới! Mọi sự
đều không v́ chúng không hiện hữu!".
- Khuyết
điểm của cách đi lạc này là tư
tưởng, ư niệm "tất cả đều
không". Một thái độ như vậy làm cho con
bỏ mọi h́nh thức của hoạt động tâm
linh như là sùng mộ và tri giác thanh tịnh, quy y và Bồ
đề tâm, tâm từ và bi, vv... Con lại dấn thân vào
các theo đuổi thế tục. Đối với cái
xấu, thái độ này làm cho con đi vào một cách buông
tuồng trong các hành động không đức hạnh.
Người nào hành động trong đường lối
hư hỏng này chắc chắn sẽ không có chỗ nào
khác ngoài địa ngục Kim Cương.
- Làm hư
hỏng chân lư của cái vốn là thiện đức,
hậu quả của một thực hành điên rồ
như vậy sẽ tái sanh làm một kẻ chấp Không
cực đoan. Làm hư hỏng chân lư nhân quả, con
sẽ ch́m đắm trong đại dương của
đau khổ.
Tsogya! Có
nhiều người tuyên bố thấu hiểu tánh Không,
nhưng ít người thấu hiểu trạng thái bổn
nhiên tối hậu.
Bây giờ, về "bản tánh" cũng có bốn
điểm để đi lạc, mà điểm thứ
nhất, đi lạc khỏi bản tánh là như sau: Quang
minh tự nhiên của tánh Giác trống không, nó là hiện
diện sáng tỏ như là các thân và trí tuệ không có thân
(h́nh tướng) với đầu và tay, không có màu sắc
và không được tạo từ bất cứ thuộc
tính hữu hạn nào. Quang minh bổn nhiên của tánh Không
này tự có như là một phẩm chất thông tỏ, nó
không chia ĺa khỏi tánh Không. Không nhận ra tánh Không thông
tỏ này như là một nhất thể không thể phân
chia th́ gọi là "cái Giác lạc vào tri giác Nhị
nguyên". Dấu hiệu của người nào đi
lạc vào lối này là người ấy phát biểu các
từ ngữ giáo pháp theo một cách cực đoan. Dầu
được dạy cho những lời diễn tả
cái nhất thể này, tâm anh cũng không thể nắm
được chúng.
Khuyết điểm của sự đi lạc theo
lối này, là thái độ ư niệm danh tướng khi
nh́n đối tượng như là cụ thể có
thực, sẽ ngăn cản con không hiểu
được giáo lư Duy Tâm. Qua biên kiến nặng nề
này, con xa ĺa khỏi con đường và các cấp bậc
đi đến toàn giác. Người nào trụ vào cái
được thấy như là thực tại vững
chắc th́ không phải là một ứng viên cho giải
thoát!
Hậu quả của sự lạc đường
này là bên ngoài phải sinh lại trong sắc giới vv..., v́
đem sự chấp tướng vào trong sự hiển
lộ Quang minh. Bên trong, thái độ một chiều này,
sự thất bại không nhận ra tánh Giác như là
sự thông tỏ trống không, là nguyên nhân không thể
giải thoát.
Tsogya!!
Nhiều người tuyên bố đă nhận ra Quang minh,
nhưng có ít người tu hành trong nhất thể của
cái biết trống không!
Bây giờ về công dụng có bốn điểm
đi lạc: Thứ nhất là đường lối,
cách thức đi lạc khỏi công dụng. Trong yếu
tính, bất kể chúng xuất hiện như thế nào,
các tư tưởng khác nhau biểu lộ từ tánh Giác,
như là sự sáng chiếu tự nhiên của sự thông
tỏ trống không, th́ không bao giờ vượt ngoài tánh
Giác trống không. Không hiểu được điều
này th́ gọi là "đi lạc khỏi tánh Giác trống
không".
Dấu
hiệu đi lạc vào lối này là các tư tưởng,
ngôn ngữ và hành vi đều dấn ḿnh vào các cuộc theo
đuổi đời thế tục.
Khuyết điểm của loại đi lạc này
là một thái độ ư niệm như vậy, trong đó
tư tưởng xảy ra không hiện lên như là pháp
thân, sẽ trói buộc con trong mạng lưới của
tư tưởng sanh khởi, như vậy làm tê liệt
sự thực hành tâm linh của con. Các thói quen tiêu cực
thống trị của các khuynh hướng tiềm
ẩn, làm cho con theo đuổi các mục tiêu của
cuộc đời này. Bị khoá trong những cái c̣ng
của nghi ngờ nhị nguyên, con tự cột ḿnh vào hy
vọng và sợ hăi.
Hậu quả của đi lạc vào lối này là làm
vững chắc thêm các khuynh hướng thói quen, bởi v́
không nhận ra sự đi lạc của các tư
tưởng. Tiêu phí đời ḿnh trong phóng dật, bởi
v́ không nhớ các hậu quả của nhân quả và khi con
chết, sẽ đi lạc vào ba cơi.
Nhiều người tuyên bố tự do khỏi
tư tưởng, nhưng ít người thấu rơ
điểm then chốt như thế nào chúng thoát khỏi
sự sanh khởi.
Bà Tsogyal lại hỏi: V́ vô nghĩa nếu không
cắt đứt ba lối lầm lạc này, làm thế
nào chúng ta chuyển hoá nó?
Đạo sư trả lời: Tsogyal! Yếu tính
trống không của tánh Giác con th́ không do cái ǵ tạo ra.
Không nhân và duyên, nó hiện tiền xưa nay; chớ có công
thay đổi hay làm biến chất tánh Giác. Hăy để
cho nó hiện hữu đúng như nó là! Như thế con
sẽ thoát khỏi đi lạc và tỉnh giác ở trong
trạng thái của thanh tịnh bổn nguyên.
Cũng như thế, bản tánh thông tỏ của con
th́ hiện tiền một cách nguyên thuỷ và tự nhiên,
không tách ĺa tánh Không. Sự biểu lộ của nó, cái công
dụng vô ngại của bất cứ cái ǵ sanh khởi,
th́ không có sự hiện hữu cụ thể là vô tự
tánh. Hăy nhận biết rằng cả ba phương
diện của tánh Giác là một nhất thể vĩ
đại không thể phân chia. Như thế con tỉnh
ngộ như là tính không thể phân chia của Ba Thân.
Một lần nữa Bà Tsogyal hỏi: Đâu là
những con đường đi lạc khỏi cái
thấy, thiền định và hạnh?
Đạo
sư trả lời: Nghe đây, Tsogyal! trước tiên
về cái thấy, có năm điểm: Sự lầm
lạc của chính cái thấy, sự lầm lạc
của chỗ ở, sự lầm lạc về bè
bạn, sự lầm lạc của phiền năo và sự
lầm lạc của tính một mặt.
Thứ nhất, đối với sự lầm
lạc của chính cái thấy, cái thấy thông
thường của Pháp, là xác định rằng: Tánh Không
th́ vượt khỏi các giới hạn, nhưng trong
bối cảnh này thiền giả của Tâm Yếu
chấp nhận rằng tánh Không là một hiện thực
trực tiếp. Khi con hoàn thành sự chứng ngộ
thực sự và tối hậu, hai cái này: tánh không và kinh
nghiệm về cái hiện thực là không thể phân chia.
Nhưng nếu con không chứng ngộ, bấy giờ cái
thấy thông thường, nó là một cái thấy giả
định, không giải quyết được nghĩa
hiện thực; đây là sự lầm lạc vào cái
thấy thực tại hiện thực mà xem một cái
thấy thuộc về danh cú giả định như là
tối hậu, con sẽ có những nhận xét như
"Mọi sự là vượt khỏi điểm qui
chiếu, vô tạo tác, và thoát ngoài mọi đối
cực!" Cư xử theo cách đó làm lẫn lộn
thiên hạnh và tà hạnh, con có những phát biểu như:
"Không có tốt và xấu! Không có phước đức
ǵ từ những hành động đức hạnh! Không
có tai hại ǵ từ tà hạnh! Mọi thứ đều
vốn giải thoát và b́nh đẳng!". Như thế,
con vẫn là một người b́nh thường. Đây
gọi là "cái thấy ma quái truyền bá hắc
đạo", và nó là gốc rễ của mọi
đường lối sai lầm của cái thấy.
Tsogyal! Nếu con muốn không lạc vào lối này,
cốt yếu là hành động tương ứng với
cái thấy bất nhị, sự thông tỏ tự nhiên
trong thực tại, không ĺa khỏi hạnh đặt căn
bản trên nhân quả sâu xa.
Thứ hai,
về sự lầm lạc của chỗ ở, thông
thường có dạy rằng: Để hoàn thành sự
chứng ngộ tối hậu về cái thấy.
Người nào có một chứng ngộ tạm thời
về cái thấy phải đến một nơi hẻo
lánh, rộng thoáng, như là một chỗ ẩn cư trên
núi hay nghĩa địa. Con có thể sở hữu
tạm thời cái thấy, nhưng để duy tŕ nó, con
phải ở trong thất trên núi. Một chỗ ở
xấu thật ra có thể làm cho cái thấy của con
bị lầm lạc.
Tsogyal!
Nếu con muốn tránh lối lầm lạc này, hăy hộ
tŕ cái thấy tạm thời của con ở những
nơi ẩn cư núi non!
Thứ ba, đối với sự lầm lạc
về bè bạn, thông thường có dạy rằng:
Người nào tạm thời có cái thấy phải ở
với những bạn đồng tu hoà hợp với Pháp
và không gây ra phiền năo. Giữ sự liên lạc với
các bạn xấu, con không thể tránh được
bị ảnh hưởng bởi đường lối
xấu của họ. Đó là gốc rễ của lầm
lạc, v́ nó dẫn con vào sự theo đuổi các mục
đích của đời này, ngăn cản con hộ tŕ
cái thấy và làm tăng phiền năo.
Tsogyal!
Nếu con muốn tránh lối lầm lạc này, hăy cắt
đứt sự ràng buộc với bạn bè không cần
thiết và ở yên nơi cô tịch!
Thứ tư, về sự lầm lạc của
phiền năo: Người nào tạm thời có cái thấy
th́ chưa thể hoàn toàn vượt qua các phiền năo.
Người ấy có thể dấn thân vào các phiền năo,
v́ một số hoàn cảnh bên ngoài. Trong sự dấn thân
ấy, dầu chỉ trong một niệm, nghiệp
được sản sanh. Nếu sự dấn thân kéo dài
một thời gian, con mắc phải các nghiệp xấu
theo chiều hướng năm độc sinh ra nghiệp
xấu trong mỗi cái của sáu thức. Đời này hay
mai sau con sẽ gặt quả. Bởi thế, con phải
tức thời chánh niệm không màng đến phiền năo
nào ḿnh cảm thấy và buông lỏng sự chú tâm.
Tu hành Từ và Bi đối với tất cả chúng
sanh mà từ phiền năo của họ, họ sẽ
tạo ra nghiệp. Cầu nguyện vị thầy của
con, khấn rằng: "Xin ban phước cho con
để dùng được phiền năo như con
đường". Tu hành hàng ngày thần chú tịnh hoá
các hạt giống phiền năo. Chấm dứt với
sự thư giăn trong trạng thái của cái thấy
rồi hồi hướng và phát nguyện.
Nếu con thực hành theo lối này, con sẽ
đạt được cả hai những hiệu
quả tạm thời và tối hậu. Nhưng nếu
không, con sẽ đắm trong đầm lầy phiền
năo và hỏng dịp hoàn thiện cái thấy. Đây là nguyên
nhân gay gắt nhất của sự lầm lạc.
Tsogyal! Nếu con muốn tránh lầm lạc vào lối
này, hăy áp dụng phương thuốc cho bất kỳ
phiền năo nào con cảm thấy và như thế dùng nó
như con đường của con!
Thứ năm, sự lầm lạc của tính một
chiều, ngay cả người sở hữu cái thấy
một cách tạm thời, cũng có thể lạc vào quan
điểm triết học của trường phái tư
tưởng riêng ḿnh. Trích dẫn từ kinh điển,
với tính cách một chiều và biên kiến, thành kiến,
họ phân biệt giữa ḿnh và người, cao và
thấp. Làm như thế là sự lầm lạc căn
bản muốn đo lường cái thấy không giới
hạn, vĩ đại của chư Phật bằng ư
thức, ư niệm, danh tướng của một
thường nhân và tạo ra những giả định
về nó.
Tsogyal!
Nếu con muốn tránh đi lạc theo lối này, hăy
nhận ra cái thấy vĩ đại không giới hạn
của giải thoát!
- Về
phương diện thứ hai, các lầm lạc của
thiền định cũng có năm điểm; Sự
lầm lạc của chính thiền định, sự
lầm lạc của chỗ ở và bạn bè,
sự
lầm lạc của thiền định sai lầm và
sự lầm lạc của các phiền năo.
Thứ
nhất, sự lầm lạc của chính thiền
định: Đó là khi người đệ tử không
hiểu được thực tại hiện tiền mà
vị Thầy chỉ thẳng cho. Thế rồi
người ấy đi lạc do lầm lộn yếu
tính, bản tánh và công dụng, do bởi không nh́n thấy
chúng không cách ĺa với tánh Không và tánh Giác.
Giải thích thêm điều này: Sau khi thực hành theo
loại giáo lư truyền miệng của Thầy con, nếu
con bám vào cảm giác lạc trong thân và tâm, con sẽ lạc
vào sự sinh lại như là một vị thiên hay
người trong các cơi Dục. Nếu con vướng
mắc vào trạng thái của tâm nó đơn thuần và vô
niệm, con lạc thành một vị thiên trong các cơi
Sắc. Nếu con bị hấp dẫn bởi sự trong
sáng và vô niệm, con lạc thành một vị thiên trong các
cơi Tịnh. Nếu con vướng mắc vào lạc phúc và
vô niệm, con lạc thành một vị thiên trong Dục
giới. Nếu con bị hấp dẫn bởi trống
không và vô niệm, con lạc thành một vị thiên của
Vô sắc giới. Trong những lối ấy, con lạc
vào ba cơi.
Nếu con người ḍng cảm thức các
đối tượng, con lạc vào cơi tri giác của Không
vô biên xứ. Nếu con ngừng các cảm giác, như
trường hợp ngủ say, con lạc vào cơi tri giác
của Vô sở hữu xứ. Nếu con ngừng cái
được thấy trong khi cái biết c̣n sinh
động, con lạc vào cơi tri giác của Thức vô biên
xứ. Nếu con c̣n một cảm giác mong manh về
lạc trong khi tiếp tục không có ǵ được
thấy, con lạc vào cơi tri giác của Không hiện
diện cũng không vắng mặt. Các cái này gọi là
"rơi vào Chỉ (Shamatha) một chiều", khi con
chết và chuyển sanh, con tiếp tục lạc vào sáu
loài của ba cơi.
Tsogyal! Không cần phải rớt lại vào sanh
tử. Thế nên, hăy cắt đứt các lầm lạc
của sự thực hành thiền định ngu muội!
Hơn nữa, nếu con tin vào cái thấy của
người b́nh thường thấy có tâm và cảnh, con
lạc vào sự b́nh thường Duy vật. Nếu con nh́n
chúng theo cách biên kiến một chiều như là có hoặc
không có, con lạc vào thường kiến hoặc
đoạn kết cực đoan. Nếu con tin rằng
đối tượng sự vật hiện hữu ĺa
ngoài tâm thức, con lạc vào Thanh Văn hoặc Bích Chi.
Nếu con nói rằng các tri giác đều là tâm thức, con
lạc thành một người theo phái Duy tâm. Nếu con tin
rằng thế giới và chúng sanh là các hoá thần, con
lạc vào Mật thừa. Có ích lợi ǵ của sự
thực hành thiền định mà không biết làm sao
cắt đứt các lầm lạc này!
- Vâng! Xin hăy
cho con phương pháp cắt đứt sự đi
lạc. Bà hỏi.
Đạo sư trả lời: Tsogyal! Nếu con
muốn tránh đi lạc vào các lối này, trước tiên
hăy có được một sự học rộng; tiếp
theo, tập trung vào giáo lư trực chỉ; và cuối cùng, khi
áp dụng nó trong thực hành. Phải hiểu các
đường lối đi lạc đề cập
ở trên không ǵ khác hơn là sự bám chấp và sự tham
dính vào các trạng thái thiền định. Thiền
định giống như ví dụ một con thỏ
ngủ trong tổ một con diều hâu, hay như sự
tập trung của một người bắn cung, th́ không
phải là nguyên nhân cho giải thoát. Chẳng kể loại
kinh nghiệm tạm thời nào mà con có, hăy đơn
giản buông xả và ở yên trong bất cứ thứ ǵ
được kinh nghiệm. Không cố gắng phát
triển hay làm biến chất, không hy vọng và sợ hăi,
không lấy và bỏ. Khi tự do khỏi sự trụ vào
bất cứ điều ǵ được kinh nghiệm,
th́ không có nguyên nhân để đi lạc.
- Thứ
hai, đối với sự chỉ dạy về sự
lầm lạc của chỗ ở và của bạn bè:
Thiền giả phải tu hành trong một nơi có
những tính cách chân chánh. Nếu con ở trong một ngôi
chùa phóng dật hay một nơi làm tăng thêm mạng
lưới phiền năo, sự thương và ghét sẽ làm
cho con bị phủ ngập bởi các phiền năo này, do
bất tịnh về đạo đức và những cúng
dường con nhận được. Giữ liên lạc
với các bạn xấu sẽ ngăn chặn sự
tiến bộ trong thiền định và giống như
tự mua cho con thuốc độc.
Tsogyal!
Nếu con muốn thực hành pháp trong một con
đường đích thực, tối quan trọng là cắt
những mối ràng buộc vào các nơi chốn và bạn
bè xấu vv... Thế nên, hăy bỏ chúng đi!
- Thứ ba,
về sự lầm lạc của thiền định sai
lầm: Khi cố gắng duy tŕ trạng thái thiền
định, con có thể kinh nghiệm hôn trầm, xao
động và tán tâm(1). Về hôn trầm, có sáu loại: Hôn
trầm do chỗ ở, do bạn bè, do thời gian, do
thức ăn, do tư thế và do thiền định.
* Thứ
nhất, hôn trầm do chỗ ở xảy ra: V́ ở trong
một khu rừng hay một hẻm núi nằm thấp;
trong một vùng hay một làng kém đạo đức.
Về mặt trí óc con cảm thấy mờ tối, các
bindu không rơ ràng, sự tỉnh giác như bị mây che, con
cảm thấy rất buồn ngủ, thân thể nặng
nề. Trong những trường hợp này, làm các lễ
nghi tẩy tịnh và sám hối. Đến chỗ khoáng
đạt, thiền định trong một nơi có
trời trong, không mây, mở cửa sổ cho không khí trong
lành. Hăy tưởng tượng con đang ở trên
đỉnh một ngọn núi tuyết và xúc chạm
với gió mát. các phương pháp này sẽ trừ sạch
hôn trầm.
* Thứ
hai, hôn trầm do mối liên lạc bạn bè xảy ra: Do
ở với người hạnh kiểm xấu hay
với một phối ngẫu tính cách không sạch, v́
người ấy có thể có những quan hệ bừa
băi. Chính con cũng bị ô nhiễm luôn. Trong trường
hợp này, nỗ lực trong các nghi lễ để thành
tựu, sám hối và tịnh hoá. Hăy cảnh giác với
người phá hư các thệ nguyện hay hạnh
kiểm dơ bẩn. T́m kiếm một phối ngẫu có
phẩm hạnh, người ấy đă nhận sự
truyền pháp và không cho phép sự quan hệ bừa băi.
Điều ấy sẽ làm sạch hôn trầm.
* Thứ ba,
hôn trầm do thời gian: Là cảm thấy tối tăm,
buồn ngủ vào mùa xuân hay mùa hè. Được xoá
sạch bằng cách đi đến các núi tuyết và các
địa điểm tương tự.
* Thứ
tư, hôn trầm do thức ăn và đồ mặc: Là
cảm thấy mờ đục và bị che ám từ
thức ăn của người khác hay đồ mặc
dơ bẩn. Khi thực hành con phải tránh thức ăn
của người khác và đồ mặc dơ bẩn.
Điều đó sẽ làm sạch hôn trầm.
* Thứ
năm, hôn trầm do tư thế: Là khi một
người sơ học trở nên buồn ngủ, do
bởi nằm dài người và những tư thế
tương tự. Trong lúc tu tập thiền định,
hăy giữ ba tư thế hay tư thế kim cương
(ngồi tréo chân), làm mạnh mẽ tâm thái, làm hưng
phấn các giác quan của con; hăy thiền định với
sự trong sáng mănh liệt. Điều ấy sẽ làm
sạch hôn trầm.
Thứ sáu,
hôn trầm do thiền định: Đến từ
thiền định với một trạng thái chán nản
của tâm, như vậy cảm thấy hoàn toàn tối
tăm và buồn ngủ. Hướng đôi mắt về
bầu trời trong một cách thăng bằng; hăy tỉnh
giác một cách sắc bén và làm bén nhạy trí tuệ của
con. Điều ấy làm sạch hôn trầm.
[1]
Các bản
văn về các cấp độ tiệm tiến của
con đường dạy rằng: Hôn trầm và xáo
động là do lỗi lầm không làm sống động
được tỉnh giác.
Tsogyal! Các
chướng ngại của thiền định không
thể trừ sạch, trừ phi con siêng năng cần cù!
Tiếp
theo, về xáo động có hai loại: Xáo động do
chỗ ở và xáo động do hoàn cảnh.
* Xáo
động do chỗ ở xảy ra khi thiền
định ở một nơi sáng sủa và cao ráo. Sự
tỉnh giác của con trở nên trong sáng, sự chú tâm không
ổn định được các tư tưởng lay
động và phân tán. Nếu con để cho ḿnh đi vào
bất kỳ thứ ǵ bắt lấy sự chú tâm của
con, con sẽ làm mồi cho phiền năo. Để
đối phó với điều này, hăy nh́n thẳng vào
điểm gặp nhau giữa mặt đất và bầu
trời. Nếu chuyện đó không làm cho con yên lặng,
th́ hăy áp dụng cái nh́n (xuống) của một Thanh văn
và đôi khi chú tâm vào một vật. Ban đêm, đi
ngủ trong khi tưởng tượng rằng tâm con
đi vào một bindu màu đen, ở trong hai đầu
mối kinh mạch h́nh quả trứng nằm trong hai ḷng
bàn chân con. Đây là một lời dạy, nhưng tốt
hơn là tập trung tâm con vào chữ A trong chỗ bí
mật của con. Khi một tư tưởng th́nh ĺnh
xảy ra, hăy nhận ra nó, dùng chữ Phat và giữ hơi
lại, sau đó thư giăn hoàn toàn và buông xả. Kế
đó, theo dơi những tư tưởng, rồi con trụ
trong trạng thái không t́m kiếm ǵ. Điều này sẽ
làm sạch xáo động.
* Xáo
động do hoàn cảnh xảy ra khi do một biến
cố bên ngoài: Con đi theo một tư tưởng, tâm
con trở nên lay động và phân tán trong một phiền
năo. Khi điều ấy xảy ra hăy giữ thái độ
"Chẳng cần phải làm ǵ cả!" tu hành Từ
và Bi, xả ly, phương tiện, trí huệ và sùng
mộ. Tiếp theo đó, kiên tŕ thực hành như trong
thời gian của cái thấy. Điều này làm sạch
xáo động.
-
Điểm thứ ba, về lỗi của tán tâm có hai
phần: Tán tâm do thiếu hiểu biết và tán tâm do hoàn
cảnh.
* Tán tâm do
thiếu hiểu biết là khi không có tiến bộ bất
kể con thiền định nhiều bao nhiêu. Đó là v́
không biết làm sao phân chia sự thực hành thành các
thời công phu. Con lại ngược với lời
dạy và Thầy của con; hay là không biết làm sao phân
biệt giữa lư thuyết và kinh nghiệm, con thành một
thiền giả ngu si.
Đối phó với điều này, hăy cầu
nguyện Thầy con, phát triển sự xác tín vào giáo
huấn bằng lời, chia sự thực hành của con
thành các thời và lập lại chúng nhiều lần. Không
bận rộn công việc, hăy thiền định rộng
răi và tự do. Khi cảm thấy sáng tỏ, cắt
đứt tán tâm và tiếp tục thiền định.
Điều đó sẽ cắt đứt tán tâm và tăng
trưởng kinh nghiệm.
* Tán tâm do
hoàn cảnh xảy ra, khi do một vài biến cố bên
ngoài, con rơi vào năm độc hay sáu loại tri giác
của thức, trở nên phóng tâm và mất chánh niệm.
Để đối phó với điều này, áp dụng
tức thời phương thuốc cắt ra từng
mảnh sự trụ tâm vào cái được thấy và
nh́n nó như một ảo ảnh huyễn hoá.
Tsogyal!
Nếu con muốn cắt đứt các sự lầm
lạc này, hăy đánh vào mũi-heo của các phiền năo!
- Thứ
tư, về sự lầm lạc của các phiền năo:
Người cố gắng duy tŕ sự tu hành thiền
định sẽ gặp nhiều kẻ thù và trộm
cướp là các phiền năo của ḿnh. Chúng có thể phân
thành năm phạm trù: sân, kiêu mạn, tham, ghen ghét và si mê.
Từ các gốc rễ này khởi ra 84.000 phiền năo, chúng
sẽ không cho con ở yên trong thiền định. Mỗi
thứ của năm độc này đưa con vào năm
phiền năo, chúng kéo con thêm vào sanh tử. Thế nên, chớ
để cho bị phóng tâm bởi chúng, bằng thái
độ cẩn trọng của một bà mẹ đă lạc
đứa con độc nhất của ḿnh. Hăy bỏ
đi các xụng động này, như khám phá ra một con
rắn độc trên đùi ḿnh. Hăy nhận ra chúng, báo
động và tỉnh thức, thực hành theo cùng một
cách như khi tu hành cái thấy. Trừ phi con thực hành
theo cách này, nếu không nghiệp xấu sẽ
được tạo ra trong mỗi khoảnh khắc.
Tsogyal!
Nếu con muốn tránh đi lạc theo lối này, hăy
nỗ lực chống lại một cách khéo léo đối
với năm độc bằng cách chấp nhận và
khước từ đúng đắn, mà không ĺa sự canh
chừng của thức giác!
Trong bất cứ trường hợp nào, khi con
chưa đạt đến ít nhiều vững chắc an
định trong cái thấy và thiền định, cần
thiết phải lánh vào nơi cô tịch, như một con
nai bị thương; lướt nhanh qua các phiền năo,
như gặp một con rắn độc.
Bà Tsogyal lại hỏi: Một hành giả Mật chú có
phải dùng mọi phiền năo như con đường
không?
Đại
sư trả lời: Dĩ nhiên chúng phải
được đưa vào con đường! Nhưng
chỉ có một con công mới có thể ăn thuốc
độc. Người có thể dùng phiền năo cho con
đường mà không bỏ chúng th́ hiếm hoi như hoa
ưu đàm. Trong khi đối với người lợi
căn phiền năo hiện ra như một người giúp
đỡ; th́ đối với người kém hơn nó
thành ra thuốc độc. Đối với người
căn cơ thấp này, tốt hơn là hăy bỏ đi các
phiền năo!
Bà hỏi: Sau khi từ bỏ được bao nhiêu
th́ một người trở thành đệ tử?
- Khi con không
bị dính mắc với phiền năo và lạc thú giác quan,
chúng được kinh nghiệm như huyễn hoá.
Thế rồi con không cần đè nén phiền năo, dầu
chúng có khởi ra, v́ chúng không c̣n làm hại được.
Khi chúng không khởi sanh, con không có ư muốn sản xuất
ra chúng, v́ con đă thoát khỏi mong muốn. Khi điều
này xảy ra, phiền năo được đem vào con
đường. Cố gắng dùng phiền như là con
đường, trong khi không ĺa bỏ sự chấp
tướng th́ cũng giống như một con ruồi
dính trong vũng mật.
Tsogyal! Hăy
cắt đứt sự lầm lạc theo các lối này!
Chủ đề thứ ba: "Sự lầm lạc
khỏi hạnh" có hai phần: Sự lầm lạc
của hạnh không đúng thời và sự lầm lạc
tổng quát của hạnh.
- Cái thứ
nhất có bảy điểm. Lúc khởi đầu,
hạnh giống như con ong phải đi trước
học (Văn), suy nghĩ (Tư) và thiền định
(Tu); v́ đây là hạnh của một người sơ
học. Thế nên, sai lầm khi theo nó vào thời gian tu hành
thiền định.
Hạnh giống như con nai đặc biệt cho
thời gian thực hành con đường. Sai lầm
nếu theo nó vào thời gian tu hành thiền định, v́
định của con sẽ mất sự tự do của
nó.
Hạnh tịnh khẩu là đặc biệt cho lúc
đă đạt đến điểm then chốt của
kinh nghiệm. Sai lầm nếu theo nó khi người ta
phải đối xử như một con ong, bởi v́
không phân biệt giữa lời và nghĩa.
Hạnh của một con chim sẻ t́m kiếm tổ
của nó, th́ đặc biệt cho khi con đă đạt
được kinh nghiệm cá nhấn. Sai lầm nếu
theo nó khi con đă đạt sự điêu luyện trong
định, bởi v́ nó trở thành một chướng
ngại.
Hạnh giống như của một người
điên là đặc biệt cho lúc con đă làm vững
chắc kinh nghiệm. Sai lầm nếu theo nó khi con chỉ
có kinh nghiệm một phần, v́ chưa khám phá nghĩa
viên măn.
Hạnh giống như sư tử là đặc
biệt cho thời gian hoàn thiện cái thấy. Sai lầm
nếu theo nó khi cố gắng có được kinh
nghiệm, bởi v́ chưa t́m được sự tin
chắc trong tánh Như, con có thể bị tràn ngập
bởi hiện tượng khác.
Hạnh giống như chó và heo: đặc biệt cho
thời gian thông thạo nhuần nhuyễn. Sai lầm
nếu theo nó vào thời gian sai lầm, bởi v́ con sẽ
gặt hái sự trừng phạt của Dakini.
Khi con theo một con đường không hư hỏng
của hạnh, kinh nghiệm cá nhân của con sẽ
hiện lên như là bản tánh bổn nhiên của pháp tánh.
Đă đạt được sự chế ngự trên
các nguyên tố, con có thể chuyển hoá tri giác không
niềm tin của người khác, làm sống lại
người đă chết và làm được các kỳ
công phép lạ.
Nếu con
làm hỏng các đường lối của hạnh nói
ở trên, đó gọi là lầm lạc khỏi hạnh và
con sẽ không có kết quả.
Tsogyal! Nếu con muốn tránh đi lạc vào lối
đó, hăy đi theo con đường chánh hạnh như
được nói trong kinh điển.
Thứ hai,
về sự lầm lạc tổng quát của hạnh, con
có thể tạm thời tạo ra một cách cư xử,
nhưng nó không tương ứng với pháp. Nếu nó
không trở thành con đường giác ngộ, nó sẽ
được gọi là đạo đức giả và
tạo thành sự lầm lạc của hạnh.
Tsogyal!
Nếu con muốn tránh đi lạc liên quan đến
hạnh trong tổng quát. Hăy chắc chắn rằng
bất cứ thái độ cư xử nào con theo
đều trở thành con đường giác ngộ!
-
Đối với chủ đề thứ năm, sự
lầm lạc của quả, có hai điểm: tạm
thời và rốt ráo.
Sự
lầm lạc tạm thời là sau khi đă thực hành các
lời dạy miệng, con xem một kết quả b́nh
thường như là cái tối thượng, con cảm
thấy kiêu hănh và ngạo mạn. Đây gọi là một
sự lầm lạc, bởi v́ nó che lấp cái quả
rốt ráo.
Sự
lầm lạc rốt ráo là khi con không giải tan
được hy vọng và sợ hăi, cho dù con đă
đạt đến quả. Thế rồi hậu
quả lạc thành một nguyên nhân. Tsogyal! Nếu con
muốn tránh đi lạc theo lối này, hăy nhận ra hy
vọng và sợ hăi là không có nền tảng.
Bà Tsogyal
lại hỏi: Người ta có cần phát khởi Bồ
đề tâm sau khi thành tựu điểm cốt yếu
này là thấy vào thực tại?
Đạo
sư trả lời: Đại thừa và Mật thừa
thực ra có khác biệt do phẩm chất đặc
biệt của sự phát Bồ đề tâm. Tuy nhiên,
trừ phi con luôn nhớ đến cái chết, vô
thường, nhân quả và các hiểm nguy của sanh
tử trong bốn phần của một ngày, th́ các
biến cố của cuộc đời này sẽ nhanh
chóng vút qua.
Con có
thể tự cho là một người theo Đại
thừa, nhưng trừ phi con liên tục tu hành Từ và Bi
cho tất cả chúng sanh, nếu không con đă lạc thành
một Thanh văn hay Duyên giác.
Con có
thể chứng ngộ cao, nhưng trừ phi con chấp
nhận hay khước từ đúng đắn trong
mỗi khoảnh khắc ngay một điều nhỏ
nhất của nhân quả, con sẽ c̣n gặp một
số hoàn cảnh đau khổ.
Tsogyal!
Nếu con muốn thực hành pháp trong một con
đường chính thống, con hăy tiếp xúc với
sự chứng ngộ và điều Ta đề cập
ở đây!
Bà Tsogyal
lại hỏi: Đâu là chướng ngại lớn
nhất khi thực hành con đường?
Đạo
sư trả lời: Khi lần đầu bước vào
con đường, bất kỳ hoàn cảnh nào dẫn tâm
con đi lạc, đều là một chướng
ngại. Đặc biệt đàn bà là ma quỷ lớn
nhất cho đàn ông và đàn ông là ma quỷ lớn
nhất đối với đàn bà.
Tổng
quát, thức ăn và quần áo là những ma quỷ chính.
Bà Tsogyal lại
hỏi: V́ chướng ngại lớn nhất khi thực
hành pháp là sự bám níu ích kỷ vào thức ăn, áo
quần và thân thể, xin nói cho con làm thế nào bỏ
được ba cái này.
Guru Rinpoche
trả lời: Tsogyal! Sớm hay muộn thân này cũng
chết. Độ dài đời người đă
được xác định, nhưng chúng ta không chắc
chúng ta giết già hay trẻ. Ai cũng phải chết và ta
không thấy ai thoát khỏi chết bằng cách gắn bó
vào thân thể đẹp đẽ của ḿnh. Hăy vất
bỏ đi mọi yêu thích chấp ngă về thân con và
giữ sự ẩn cư trong núi!
Đối
với áo quần, ngay chỉ một áo choàng lông cừu
cũng đủ và người ta có thể sống ngay
trên đá hoặc nước, nhưng điều này h́nh
như không dành cho các hành giả Tây Tạng1
Bà Tsogyal
lại hỏi: Con có cần ghi lại tất cả các
điều Thầy dạy?
Guru Rinpoche
trả lời: Nếu con ghi lại, con sẽ làm lợi
cho các thế hệ mai sau.
Bà hỏi:
Vâng! Nó có nên được phổ biến hay cất
giấu? Làm thế nào nó sẽ đem lại lợi
lạc? Ai sẽ dùng nó?
Guru Rinpoche
trả lời: Thời gian để phổ biến nó th́
chưa tới, nên nó phải được cất
giấu. Khi Ta đặt chiếc hộp chứa kinh
điển của Tâm yếu trên đỉnh đầu con
gái nhà vua, công chúa Pema Sal, Ta nguyện cho nó được là
sự chỉ dạy riêng của cô ta. Vài đời sau khi
cô chết, cô sẽ gặp lại lời dạy nầy.
Con phải cất giấu nó như là một kho tàng terma cho
mục đích ấy.
Vimalamitra
sẽ xiển dương các giáo lư của Tâm yếu.
Thời gian đă đến cho các đệ tử của
Ngài. Lời chỉ dạy này, nó là Tâm yếu của Ta,
sẽ hiển lộ khi các bản dịch sơ thời
bị hư hỏng và gần như biến mất. Nó
sẽ truyền rộng và nở rộ ghê gớm, nhưng
chỉ một thời gian ngắn. Nói chung, mọi giáo lư
của thời đen tối sẽ nở rộ rộng
răi nhưng kéo dài ngắn ngủi.
Vào lúc chót
của thời đại này, khi tuổi trung b́nh của
con người c̣n năm mươi tuổi, công chúa sẽ
lấy một sự tái sanh làm người và
được chấp nhận bởi Nyang (Ral Nyima
ệzer), một hoá thân thuộc khẩu (Speech Incarnation)
của vua (Trisong Deutsen). Trong phần cuối cuộc
đời của Guru Chowang, sự tái sinh của nhà vua, bà
sẽ được tiếp xúc lại với Pháp.
Trong
đời tiếp theo bà sẽ gặp kho tàng Terma này
chứa đựng các lời dạy bằng miệng
về Tâm yếu. V́ lúc đó sẽ là thời gian cho
thực hành, nên sẽ không có hoạt động nào lợi
lạc cho chúng sanh. Con người này(1) sẽ sống 59
năm. Người ấy sẽ có nhiều mối liên
hệ nghiệp tốt và xấu. Một số trong các
đệ tử sẽ sanh về Cực lạc, trong khi
một số sẽ tái sanh trong các cơi thấp. Điều
này chứng tỏ hậu quả của các Samaya bị ô
nhiễm và có thể người ấy chết
vào tuổi
50. Người ấy phải cảnh giác chống lại
sự ô nhiễm của Samaya, nỗ lực giám sám hối.
Làm như thế người ấy sẽ có thể
sống tṛn đủ số năm.[1]
Vào thời
điểm đó có thể rằng một người
đàn bà được ban phước bởi năm loài
Dakini sẽ xuất hiện. Nếu người nữ
ấy được như thế và người ấy
lấy nàng như người phối ngẫu,
người ấy phải cầu nguyện sống lâu;
rồi người ấy có thể sống hơn 50
năm. Người ấy sẽ có một đệ
tử, một cô gái tiền định với dấu
hiệu là một con chuột chũi. Nếu người
ấy ban cho cô toàn bộ giáo huấn, cô sẽ có thể
hành động cho lợi lạc của chúng sanh ở
một mức độ rộng răi. Nếu nàng không
xuất hiện trong đời ấy, th́ nàng sẽ
trở thành đệ tử của người ấy
trong đời sau, và đạt đến giác ngộ Vô
dư ở phần cao của xứ Kharag(1).
(1) Giác
ngộ vô dư thường có nghĩa là đạt
đến thân cầu vồng. Đôi khi, nó có thể
nghĩa là sự chứng ngộ tạng thái Giác, thoát
khỏi dư tàn của năm ấm thuộc điều
kiện (EPK).
Nếu
người ấy không đem những giáo huấn này
đến phần thấp của xứ Bumtang, mà cất
giấu chúng ở chỗ nguyên thuỷ hay trong một
tảng đá ở một nơi không thể bị thay
đổi h́nh dạng bởi chư Thiên hay quỷ
thần, người ấy sẽ khám phá lại chúng trong
đời sau.
Sau sự
tái sanh này, người ấy sẽ lang thang một lúc qua
các cơi báo thân, và sau đó sanh ở Tarpaling xứ Bumtang. Làm
lợi lạc cho chúng sanh từ tuổi 15, người
ấy sẽ khám phá nhiều Terma và làm nhiều loại phép
lạ. Người ấy sẽ sống đến 70
tuổi. Lấy năm Dakini có thân người nữ
như là các phối ngẫu, hoạt động của
người ấy cho chúng sanh sẽ sáng bừng.
Người ấy có một con trai tên Dawa Drakpa, một hoá
thân của Hayagriva đứa con này cũng làm lợi lạc
chúng sanh. Người ấy sẽ duy tŕ Phật pháp trong 90
năm. V́ đây là lời dạy riêng của người
ấy, hăy cất giấu nó như là kho tàng Terma!
Nghe xong, Bà
Tsogyal lễ lạy, nhiễu quanh vô số lần và nỗ
lực viết lại.
Samaya.
ấn. ấn. ấn.
Kỳ
diệu thay, một người như tôi, người
đàn bà ngu dốt Tsogyal!
Có thể
gặp được Hoá thân qua các ước nguyện
trong sạch!
Qua Samaya
thanh tịnh của tôi, tôi đă nhận được
tinh tuư của các giáo huấn.
Bằng cách
hiến dâng sự phụng sự, Ngài nh́n tôi với tâm
từ bi.
Thấy tôi
là một người tiếp thu xứng đáng,
Ngài giao phó
cho tôi tinh tuư của Mantra,
Và ban cho Tâm
yếu tối thượng, tinh ṛng.
Không phô bày
nó một cách phi thời, tôi giấu nó như một kho tàng
Terma.
Mong rằng
Tràng Hạt Vàng của
Gặp
gỡ người có những dấu hiệu hoàn toàn
ấy!
Samaya.
Dấu
ấn của thậm thâm.
Dấu
ấn của kho tàng.
Dấu
ấn không thể đọc.
Dấu
ấn của nghiêm nhặt.
Trong
thời đại đen tối, ṿng bí mật của giáo
huấn cốt lơi này,
Được
giao phó cho một người tiền định hành
thuỷ sanh năm con Thỏ,
Một
đứa con ruột của Uddiyana, có một định
mệnh được che giấu,
Một
cư sĩ với thông minh thực sự.
Năng
lực đầy đủ của người không
nở hoa trong đời đó, mà sẽ theo một lối
sống ẩn mật(1).
Người
không thắng cương đức hạnh, thoát khỏi
giả h́nh,
Người
sở hữu các thần lực, nhưng sức mạnh
của người không được phát lộ.
Và
người được đánh dấu bằng một
con chuột trên thân và có cặp mắt lồi.
Các
đệ tử của người, con của năm loài
Dakini, Sinh trong các năm Cọp, Thỏ, Chó, Rồng và Ḅ.
Sẽ
nắm giữ ḍng phái và tiến đến các cơi trời.
Bất
cứ ai nắm giữ ḍng phái người, sẽ
đạt đến Phật tánh trong một đời;
Họ
sẽ là thiền giả trong kiếp cuối cùng của
họ.
ITHI. Mong
rằng nó được tốt đẹp!
[1]
Những bài ca cho 25 đệ tử
Nhà vua và 25
đệ tử bấy giờ hỏi vị Đại
sư quư báu của Uddhiyana: Xin ban cho chúng tôi một lời
dạy sâu xa chạm đến điểm chính yếu, nó
gồm trọn tất cả và tuy nhiên đơn giản
cho thực hành.
Padmasambhava
hát lên để trả lời:
Kỳ
diệu thay!
Hỡi
đức Vua, hoàng tử và các đệ tử c̣n lại,
Thật
nghĩa th́ không ở trong giới hạn của bất
kỳ ai.
Khi một
người nhận không xứng đáng được
nghe.
Nó trở
thành nguyên nhân cho vu khống, hiểu lầm và làm hư
hoại các Samaya.
Ta đă cho
các con những tiên tri quan trọng về tương lai.
Nhưng các
lănh tụ xấu xa của Tây Tạng,
Không có
niềm tin, bất kể họ nghe nhiều thế nào,
Truyền
rộng sự giả dối, họ nói chuyện vu vơ.
Tuy nhiên ta
sẽ giảng giải ngắn gọn.
Về
điều mà các con, đầy ḷng sùng mộ, ta hỏi Ta.
Bây giờ
không phải là thời để truyền bá,
Nhưng cho
mỗi người để tự hành tŕ đúng
đắn.
Bởi v́
lời chỉ dạy này sẽ được cất
giấu
Như
một kho tàng Terma cho lợi lạc của tương lai,
Hăy phát
thệ giữ ǵn bí mật!
Dạy
họ gắn bó với sự yêu cầu phải kín đáo
này.
Ngài
trước tiên nói với nhà vua:
Thưa
Bệ hạ! Hăy nghe đây, dùng tư thế tréo chân.
Giữ thân
thể thẳng đứng trên chỗ ngồi và tham
thiền!
Giữ
sự chú tâm tự do với niệm tưởng
Và không
bị giam nhốt bởi các tạo tác của tâm thức.
V́ trung tâm của ngài siêu vượt mọi loại
đối tượng,
Không trụ
vào bất kỳ dấu hiệu cụ thể nào.
Hăy ở yên
lặng, thanh tịnh và tỉnh giác!
Khi ngài
ở tư thế ấy, các dấu hiệu của
tiến bộ tự nhiên xuất hiện,
V́ sự
trong sáng của tâm thức, không khởi cũng không
diệt.
Và tánh Giác
tự do rất ráo với mọi vọng tưởng.
Đây là
trang thái giác ngộ t́m thấy trong chính ngài,
Không t́m ra
ở đâu khác mà tự hiện hữu kỳ diệu
biết bao!
Nghe đây!
Hỡi Tsogyal, họ Kharchen sùng tín!
V́ tâm con
không có bản chất thực nào để chỉ bày,
Trong một
trạng thái tự nhiên, không giả tạo, hiện
diện xưa nay.
Hăy ở
không phóng tưởng trong cơi giới của
không-thiên-định!
Hăy an
trụ như thế, giải thoát xảy ra tự nhiên.
Đây chính
là trạng thái giác ngộ!
Hăy nghe
đây! Palgyi Senge đứa con lỗi lạc cao cả
của Ta! Mọi hiện tượng của sanh tử và
Niết bàn đều là tự tâm con,
Không
xuất hiện ở ngoài tâm này,
Không có
tự tánh, ĺa ngoài tư tưởng ngữ ngôn và diễn
tả.
Không
nhận lấy thích thú hay chối bỏ khó chịu,
Không xác
nhận hay phủ nhận, không thiên về đâu.
Mà an trụ
tỉnh giác một cách sống động trong trạng
thái bổn nhiên vô tạo tác!
Bằng cách
ở yên như thế, dấu hiệu tiến bộ là
thân, khẩu, tâm ư của con.
Cảm
thấy tự do và thoải mái, vượt ngoài mọi
giới hạn sướng khổ.
Đây là
phút thấu hiểu trạng thái giác ngộ!
Hăy nghe
đây! Vairochana, con người xứng đáng!
Mọi
thứ xuất hiện và tồn tại,
Sanh tử
và Niết bàn, đều khởi từ tâm chính con.
Cái tâm không
thể nắm bắt, thoát khỏi mọi trung tâm và biên
bờ.
Trong
trạng thái tự nhiên của sự b́nh thản bao la,
nội tại và không cần phải tạo ra.
Hăy an
trụ không lăng trí vào sự không cố gắng vĩ
đại!
Tưởng
niệm nào con nghĩ ra,
Nó sanh
khởi như là khoảng không của Tánh giác.
Bậc Giác
ngộ không ǵ khác hơn điều ấy.
Khi tỉnh
giác tự thông tỏ được thực hiện
trọn vẹn.
Đó là cái
được gán cho danh từ "Phật!"
Hăy nghe
đây! Yudra Nyingpo từ xứ Gyalmo!
Tâm con là
không sanh, không có vật ǵ để có thể thấy.
Tự do
khỏi tư tưởng, không tạo ra ư niệm, chớ
chạy theo niệm tưởng của ḿnh!
Thế nên,
chớ xác nhận hay phủ nhận, mà an trụ thảnh
thơi trong chính ḿnh!
Trong
trạng thái này, ḍng niệm tưởng bị cắt
đoạn.
Và trí
huệ lộ bày, nối liền sanh tử với Niết
bàn!
Hăy nghe
đây! Namkhai Nyingpo, người khất thực từ
xứ Nub!
Tâm con là
sự đơn giản trơ trọi, xa ĺa cái ta và
một bản ngă.
Nên hăy an
trụ trong trạng thái tự xảy ra, tự biến
mất, thoát khỏi tạo tác giả tạo!
Vào lúc
đó, lạc sanh ra từ bên trong,
Những
dấu hiệu tiến bộ xảy ra tự nhiên; đây
chính là trạng thái giác ngộ.
Hăy nghe
đây! Jnana Kumara, nghe không đăng trí lời dạy này!
Tâm con từ
khởi thuỷ không được tạo bởi các nguyên
nhân.
Và cuối
cùng không huỷ diệt bởi các điều kiện.
Vậy hăy
an trụ, không dùng sức trong trạng thái không thể
nghĩ bàn và không do tạo dựng!
Vào lúc
đó, Quả được khám phá, nơi chính con mà không
phải t́m kiếm.
Ĺa ngoài cái
này con sẽ không t́m ra bậc Giác ngộ nào khác!
Hăy nghe
đây! Gyalwa Cho-yang họ Nganlam!
Tâm sáng
tỏ của giác ngộ không phải được
tạo ta qua thiền định.
Thế nên,
tự do khỏi nghĩ suy, không có niệm phóng ra hoặc
tan vào,
An trụ
với giác quan rộng mở, để cho ư thức
lắng ch́m trong chính nó!
Trong
trạng thái này, thức nghĩ suy tự nhiên tan biến.
Và trí
huệ tự hiện tiền không do t́m kiếm,
Đây chính
là sự khám phá trạng thái giác ngộ!
Hăy nghe
đây! Dorje Dudjom họ Nanam!
Có cái tên là
"Tâm sáng tỏ của Giác ngộ"
Là vốn
sẵn bên trong, bổn nhiên tự hữu và không tâm
điểm cũng chẳng chu vi.
Chớ
sửa chữa, chỉnh trang nó, mà trong trạng thái vốn
tự ngộ và trong sáng tự nhiên
Không thay
đổi, không làm biến chất, mà an trụ giải
thoát trong tánh bổn nhiên!
ở yên
như thế, tâm con thoát khỏi động niệm
Chính nó là
Phật!
Hăy nghê
đây! Palgyi Yeshe họ Sogpo!
Trạng
thái giác ngộ của tâm là vô tạo tác,
Vô cầu và
vốn tự sẵn đủ.
Tuyệt
không nỗ lực để bám níu vào một chủ
thể hay đối tượng.
Mà ở
trong trạng thái vô vi của tánh Giác vốn có!
Bằng cách
an trụ như vậy, ḍng vọng động bị
cắt đứt và dừng lại;
Hăy biết
rằng giây phút ấy, chính là bậc Giác ngộ!
Hăy nghe
đây! Nanam Yeshe, người khất thực trẻ
tuổi từ xứ Shang!
Ĺa sự
chú tâm khỏi mọi tạo tác phân biệt, không xác
nhận cũng không phủ nhận,
Mà an trụ
trong cái không nỗ lực không do tạo tác, không lấy
không bỏ.
Trạng
thái giác ngộ là ở yên không vọng động trong
đó!
Hăy nghe
đây! Palgyi Wangchuk họ Kharchen!
Hăy
để cho tâm con trong không thiền định, không
tạo ra một quan kiến nào,
Mà, không
một khởi tạo, an trụ trong tánh Giác bổn nhiên
vốn sẵn!
ở yên
trong trạng thái ấy, không vất bỏ khía cạnh sanh
tử,
Sự tiêu
tan tự nhiên những lời lầm của sanh tử
chính là trí huệ của Phật!
Hăy nghe
đây! Denna Tsemang, con người trổi vượt!
Tâm con
trống vắng mọi chủ thể, đối
tượng và vô tạo tác.
Thế nên,
thoát ngoài dụng công và thêm thắt, chớ tạo ra
bất cứ cái ǵ xuyên qua thiền định.
Mà an trụ
không phóng dật trong tánh Giác bổn nhiên vốn sẵn!
Bằng
sự ở yên trong trạng thái này, cái giác tự nhiên
vốn là giải thoát.
Con sẽ
không t́m ra Phật nếu con bỏ qua điều này!
Hăy nghe
đây! Dịch giả Kawa Paltsek họ Chinbu!
Khi ĺa
chủ thể và đối tượng, tâm không phải là
một vật ǵ có thể chỉ ra.
Cũng
thế, nó không được làm ra hay phải sửa
chữa.
Hăy an
trụ trong trạng thái thản nhiên, không lạc lầm
vào sự trụ tướng.
An trụ
không xao lăng khỏi cái nó vốn chính là trạng thái giác
ngộ!
Hăy nghe
đây! Palgyi Selnge họ Shubu!
Trạng
thái giác của tâm là thoát ngoài mọi yêu cầu tăng hay
giảm.
Không sanh và
tự nhiên không dính dấp đến "cái ta"
chấp nhận hay chối bỏ đối tượng.
Chớ
trụ vào bất cứ thứ ǵ, hăy rốt ráo không
chướng ngại.
An trụ
trong trạng thái này chính là Phật.
Hăy nghe
đây! Gyalwey Lodrệ, người khất thực xứ
Drey!
Tâm con không
thể suy nghĩ đến, cũng không thể quan sát
được.
Nó
vượt ngoài có và không, thường và đoạn,
Thế nên,
hăy an trụ, thoát khỏi sự thiền định
về cái người tham thiền và đối
tượng!
Khi con ở
yên không xao lăng khỏi trạng thái này,
Đó là cái
được gọi là Pháp thân của Phật. Hăy nghe
đây! Lokyi Chungpa, lời dạy này!
Ĺa chú tâm
khỏi người biết và cái được biết,
Không trụ
tâm, mà buông xả tự do không ước muốn, Và an
trụ trong trạng thái giác vô tánh, vô trụ.
ở yên
không động ĺa khỏi nó chính là trạng thái giác
ngộ.
Hăy nghe
đây! Drenpa Namkha!
Tâm con, nó tri
giác nhưng thoát khỏi mọi bản chất,
Biết mà
không tư tưởng, thông tỏ tuy bất khả tư
ngh́.
Tự do
khỏi các chuyển động của thức
tưởng phân chia,
Hăy an
trụ trong trạng thái đó, tỉnh giác và rộng
mở.
An trụ
trong bản tánh này chính nó là trạng thái giác ngộ!
Hăy nghe
đây! Palgyi Wangchuk họ Odren!
Tâm là giác
tánh không thông tỏ, cái biết trống rỗng mà sáng
chiếu.
Hăy an
trụ trong trạng thái vốn sẵn có này, chớ làm
thoái hoá hay chỉnh trị nó.
An trụ
không động, ĺa khỏi nó th́ chính nó là Phật.
Hăy nghe
đây! Rinche Chok!
Tính nhất
như của tỉnh giác, nó không trụ vào bất cứ
cái ǵ,
Th́ không
thể bám nắm; nó không được tạo ra cũng
không bị lơ là trong thiền định.
Chớ
sửa trị hay làm biến chất sự trẻ trung
bản hữu của nó,
Mà an trụ
trong trang thái bổn nhiên xưa nay hiện tiền!
Trong
trạng thái này, chớ để tâm con dậy sóng,
Từ
đó con sẽ không t́m thấy Quả nào ĺa ngoài Nó!
Hăy nghe
đây! Sangye Yeshe, người khất thực từ
xứ Nub!
Tâm tỉnh
giác là trống không mà thấu biết
Và thấu
biết trong khi vẫn trống không.
Một
sự bất nhị không thể quan niệm nổi
của trị giác và tánh Không thông tỏ.
Hăy an
trụ trong tánh bổn nhiên, không ĺa khỏi cảnh
giới ấy.
An trụ
không động ĺa khỏi Nó th́ chính Nó là Phật!
Hăy nghe
đây! Palgyi Dorje Wangchuk họ Lhalung!
Bản tánh
của tâm con th́ vô tướng và không thuộc tính,
Chớ t́m
cách tạo ra hay cải thiện nó, mà an trụ không
đổi thay hay mất niệm.
An trụ
như thế chính là Phật!
Hăy nghe
đây! Kệnchok Jungney họ Landro!
Tâm con th́ vô
tướng thanh tịnh bổn nhiên,
Xưa nay
trống không và không thêm thắt giả tạo,
Thế nên,
hăy an trụ trong trạng thái giải thoát khỏi
người thiền và đối tượng thiền.
Qua nó, con
đạt đến quả của Phật tánh! Hăy nghe
đây! Gyalwa Janchub họ Lasum!
Tâm con không
khỏi không diệt, cũng vô tướng.
Trống
không tự bản chất, tánh Giác của nó th́ không
chướng ngại.
An trụ
không động ĺa khỏi nó th́ chính là Phật!
Tất
cả các con, hăy áp dụng lời dạy này vào thực
nghiệm!
Các con có
thể so sánh các Kinh và Mật của Phật cùng các chú
giải,
Với
lời chữ nhiều hơn cả không gian,
Nhưng
yếu nghĩa th́ gồm trọn trong các điểm chính
yếu này.
Thế nên,
hăy thực hành chúng và giấu chúng như các kho tàng hợp
với lời phát thệ của ḿnh.
Padmasambhava
nói như thế, và chỉ bằng sự trao lời
dạy chân thật cốt tuỷ cho họ, mà tất
cả họ đều được giải thoát và
đạt đến thành tựu.
Kho báu ngọc quư để xua tan các chướng
ngại
Các trả lời cho các câu hỏi của Yshe Tsogyal
ở
nơi ẩn cư Samye Chymphu, công chúa Tsogyal xứ Kharchen,
thỉnh cầu Đạo sứ Padmakara: Xin chiếu
cố, Đại sư! Dù Ngài đă chỉ cho một cô
gái kém thông minh như con rằng: Tất cả thế
giới và chúng sanh là Pháp thân. Vậy mà sự tu hành pháp
của con vẫn lạc vào hiểu biết lư thuyết ư
niệm do liên hệ tương tục với tập khí
của tri giác sai lầm. Con xin Ngài từ bi ban cho con sự
chỉ dạy, cho phép con nối kết bất kỳ
điều ǵ con làm với bản tánh bổn nhiên của
Pháp tánh!
Padmasambhava
trả lời: Hăy nghe đâym Tsogyal! Con phải có ba
điểm then chốt khi thực hành giáo lư Mật
thừa của Đại thừa: Điểm then chốt
của thân, tư thế; điểm then chốt của mắt,
cái nh́n; và điểm then chốt của tâm cách thức an
trụ.
Trước
hết, trong một nơi kín đáo, ngồi tư thế
khoanh chân kiết già trên một toạ cụ thoả mái,
để hai tay ngang nhau, dựng thẳng xương
sống. Nếu thân con duy tŕ trong trạng thái bổn nguyên
của nó, thiền định xảy ra đến tự
nhiên. Không thực hiện tư thế thân thể đúng,
thiền định sẽ không xảy ra.
Tiếp
theo, đối với cái nh́n, chớ nhắm mắt,
chớp mắt hay nh́n qua bên. Hăy nh́n thẳng không lay
động vào trước mặt. Khi cái thấy của
mắt và tâm thức chia nhau một bản tánh đơn
nhất, bấy giờ thiền định xảy ra
tự nhiên. Không có cái nh́n đúng thiền định không
xảy ra.
Điểm
then chốt của tâm là thế này: Chớ để
trạng thái bổn nhiên của tâm b́nh thường theo
đuổi các dạng thức quen thuộc ở quá
khứ. Chớ để nó nh́n về các hoạt
động phiền năo ở tương lai. Và chớ
để nó tạo tác thứ ǵ bằng danh tướng, ư
niệm trong trạng thái hiện tại của con. Qua
sự an trụ tỉnh thức trong cách thế tự nhiên
của nó, thiền định xảy ra tự nhiên.
Nếu con phóng tưởng hay tán tâm, thiền định
không xảy ra.
Khi trong cách
này, con để cho ba cửa ở yên trong trạng thái
tự nhiên của chúng, mọi vọng niệm thô và tế
lắng xuống, tâm con yên ổn thả lỏng trong chính
nó (đây gọi là Samatha, Chỉ). Khi tâm con không
chướng ngại, vô trụ, và trần trụi trong
sự tỉnh giác tự nhiên (đây gọi là Vipashyana, Quán)(1).
Khi cả hai trong một khoảnh khắc thức giác, an
trụ trong sáng một cách sống động như là
một thực thể, không thể phân chia, đó gọi là
Chỉ không ĺa Quán. Hiểu biết theo danh tướng, ư
niệm là khi con đặt ư thức như một
đối tượng. Kinh nghiệm là khi con khám phá tính vô
trụ của nó và chứng ngộ xảy ra khi các
trạng thái này của tâm an trụ trong sáng một cách
sống động, như là yếu tính sự thiền
định của con. Cái ấy không có một khác biệt
nào với sự chứng ngộ của chư Phật ba
đời. Nó không phải là một sự tạo tác
đặt căn bản trên lời dạy sâu xa của
vị thầy, cũng không phải là kết quả
của trí thông minh sắc bén của một đệ
tử. Đó gọi là đạt đến trạng thái
bổn nhiên của nền tảng.
Khi tham
thiền như thế, ba kinh nghiệm về lạc, trong
sáng và vô niệm sẽ hiện bày.
Tâm thức
tự do khỏi tưởng gọi là vô niệm và có ba
loại: "Không có niệm thiện" nghĩa là tự
do khỏi sự bám níu vào người tham phiền và đối
tượng được tham thiền. "Không có
niệm ác" là sự cắt đứt ḍng tư
tưởng thô và tế. "Không có niệm trung tính" là
sự nhận ra khuôn mặt bổn nhiên của tánh Giác
như là không chỗ trụ.[1]
Trong
trạng thái vô niệm này, sự trong sáng là sự sáng
rỡ không bị che chướng và trần trụi
của tánh Giác. Có ba loại trong sáng: "Trong sáng tự
nhiên" là trạng thái tự do khỏi một đối
tượng."Trong sáng bổn nguyên" không xuất
hiện một thời gian nhất thời. "Trong sáng
bổn nhiên" th́ không do ai tạo ra được.
[1]
Có bốn
loại lạc: "Phúc lạc cảm nhận" là
tự do khỏi các điều kiện đối
nghịch của không hoà điệu. "Lạc không có
tưởng" là tự do khỏi sự đau khổ
của ư niệm, danh tướng. "Lạc bất
nhị" là tự do khỏi sự bám níu, sự trụ
tướng nhị nguyên. "Lạc vô điều
kiện" là tự do khỏi nguyên nhân và điều
kiện.
Khi các
loại kinh nghiệm này sanh khởi, con cần ba thứ
xả ly: "Xả ly lạc" là giống như
một người điên. "Xả ly sự trong
sáng" là giống như giấc mơ của một
trẻ nhỏ. "Xả ly vô niệm" là giống
như một thiền giả đă hoàn thành sự tu hành
thiền định của ḿnh. Khi con có các thứ này, con
thoát khỏi các khuyết điểm của thiền
định.
Nếu con
bị hấp dẫn và bám níu vào ba kinh nghiệm này, con
lạc vào ba cơi. Khi bám níu vào lạc, con sẽ lạc vào
Dục giới. Khi bám vào sự trong sáng, con sẽ lạc
vào Sắc giới. Khi bám vào vô niệm, con sẽ lạc vào
Vô sắc giới.
Dầu cho
con nghĩ rằng: Con không dính cũng không bám vào chúng, con
cũng c̣n một sự dính chấp vi tế bên trong.
Để cắt đứt cái bẫy này, có chín trạng
thái định liên tiếp nhau, khởi đầu bằng
bốn thiền để xa ĺa tư tưởng tham ái.
"Sơ thiền" là thoát khỏi ư tưởng về
người tri giác và cái được tri giác, nhưng
vẫn c̣n nằm trong sự phân biệt một đối
tượng và hành động tham thiền. "Nhị
thiền" là thoát khỏi ư tưởng và phân biệt, trong
khi c̣n trụ vào sự thưởng thức mùi vị vui
sướng của định. "Tam thiền" là
đạt đến tâm không động, nhưng c̣n
hơi thở vào và hơi thở ra. Định của
"Tứ thiền" hoàn toàn thoát khỏi tư
tưởng ư niệm với sự tri giác trong sáng, không
bị che chướng.
Bốn
thiền vô sắc tẩy trừ tư tưởng ư
niệm về sắc giới. Trụ vào ư tưởng
"tất cả hiện tượng đều như
hư không", con lạc vào Không vô biên xứ. Trụ vào ư
tưởng "thức là vô cùng và không phương
hướng", con lạc vào Thức vô biên xứ.
Trụ vào ư tưởng "Cái biết trong sáng là không
hiện diện, không vắng mặt và không thể tạo
thành một đối tượng của tri thức",
con lạc vào Không hiện diện cũng không vắng
mặt (Vô sở hữu xứ). Trụ vào ư tưởng
"Tâm này không nhờ vào một thực thể nào; nó là vô
hữu và trống không", con lạc vào cơi tri giác về
Không có ǵ tất cả. Các trạng thái này c̣n có sự
nhiễm ô vi tế của ư niệm danh tướng,
sự hấp dẫn thuộc về tâm thức và các kinh
nghiệm của tâm nhị nguyên.
Diệt
thọ tưởng định xa ĺa các ư niệm về các
trạng thái này. Sự dừng bặt thuộc về phân
tích là sự dừng dứt của sáu thức đi vào
với các đối tượng của chúng, nó gồm
cả sự cắt đứt hoạt động của
hơi thở và tâm nhị nguyên. Sự dừng bặt
thuộc về không phân tích là đi đến tự tánh
của con. Đó là sự thản nhiên tối hậu.
Trong chín
cấp bậc định này, bốn trạng thái thiền
là "Chỉ sanh ra Quán". Như thế, định
của bốn thiền này là hoà hợp với tự tánh,
và là cái trổi vượt nhất trong mọi loại
định thuộc về thế gian.
Bốn
thiền vô sắc là các bẫy của định. Diệt
thọ tưởng định là cái định b́nh an
của bậc Thanh văn.
Bằng
sự hiểu biết những trạng thái này, con có
thể phân biệt các loại định khác nhau, xoá tán các
chướng ngại trong thực hành thiên định và
không đi lạc.
Năm con
đường bao gồm trong ba. Cắt đứt các
bẫy này và thực hành một thiền định không
khuyết điểm, con an trụ thanh tĩnh và sống
động trong phúc lạc, trong sáng và vô niệm suốt
trạng thái thiền định(1). Trong trạng thái sau
thiền-định, các h́nh tướng khởi lên không
ngăn chướng, đều vô tự tánh như một
giấc mộng hay ảo huyễn. Con biết
được bản tánh của nhân và quả, làm
đầy công đức đến mép, đạt
được "hơi ấm của định" và
như thế hoàn thành "con đường tích
luỹ".
(1) Rơ ràng, có
một hay hai câu thiếu trong nguyên bản. Phần trong
ngoặc là của tôi (EPK).
Thực hành
như thế một thời gian dài, con thấy
được một cách hiện thực, bản tánh vô
trụ và tự chiếu hiện diện nơi con.
Nhận ra bản lai diện mục của con là con
đường của cái thấy. Kinh nghiệm các
tướng, trí huệ tánh Không là vô sở trụ và tự
thông tỏ, tức là con thấy trực tiếp bản
tánh bổn nhiên không tuỳ thuộc điều kiện.
Sự ngăn che của phiền năo bị phá huỷ
tận gốc rễ. Chứng ngộ rằng: Nhân và
quả đều trống không, sanh tử không có hiện
hữu chắc thật. Đây gọi là địa
đầu tiên, Hoan Hỷ địa. Trạng thái thiền
định không ĺa rời Phật tánh và mọi sự
sau-thiền-định sanh khởi như ảo
huyễn.[1]
Quen dần
với trạng thái này và hộ tŕ nó một cách vững
chắc, mọi hiện tượng trở nên bất
nhị. Hăy nhận biết chúng như là tự tâm hiện,
các h́nh tướng và tâm hoà trộn thành một. Khi tánh Không
sanh khởi như nhân và quả, con chứng ngộ duyên
sanh. Suốt trạng thái thiền định mọi
hiện tượng là không chỗ trụ và hiện
diện như tính chất của tánh Giác. Sự hiện
diện nhẹ nhàng của các h́nh tướng bên ngoài trong
thời gian sau thiền-định là con đường
của sự tu tập.
Duy tŕ
điều ấy một thời gian dài, con chứng
ngộ rằng sanh tử và Niết bàn là bất nhị.
Vượt khỏi sanh tử và diệt, là vô trụ
xứ và tự thông tỏ không trộn lẫn nhiễm ô,
rốt ráo hoàn thiện. Sự che chướng trí huệ
hoàn toàn biến mất, vào khoảnh khắc tất cả
mọi sự hiện ra như tánh Giác bổn nguyên là con
đường thành tựu, tức là trạng thái Phật
tánh.
Tsogyal
lại hỏi: Xin chiếu cố, thưa Đại
sư! Đây là tánh bổn nhiên của sự vật,
nhưng làm thế nào người ta ứng dụng, thi hành
cho đến khi đạt đến an định?
Padmasambhava
trả lời: "Nghe đây Tsogyal! Có ba loại cư
xử. Trước hết, để thiết lập con
đường có cách cư xử chung, tổng quát.
Tiếp theo, để làm phát sanh sự nâng cấp, có cách
cư xử bí mật của kỷ luật Du già. Cuối
cùng, có cách cư xử mật tối hậu rốt ráo
của tánh Như chân thật.
Cư
xử th́ rất quan trọng, v́ phần lớn đời
sống xảy ra trong những hoạt động hàng ngày
sau thiền-định. Con có thể hiểu một cách trí
thức một cái thấy cao sâu, nhưng trừ phi con hành
động thuận theo ư nghĩa của nó, th́ con sẽ
lạc khỏi con đường. Con có thể đạt
được một trạng thái thiền định tuyệt
hảo, nhưng trừ phi con duy tŕ được nó
suốt các hoạt động sau thiền-định, nó
sẽ nhạt mất. Bởi thế, phải hiểu
thấu điểm cốt yếu nhân-quả: Không có
hạnh xấy và hoàn thành ngay cả các hành động
đức hạnh nhỏ nhất. Đó là con
đường đúng, tinh tuư của giáo lư Đức
Phật, điểm cốt yếu của trí huệ.
Nếu
đă có một thân người, con muốn thực hành pháp
thiêng liêng một cách đúng đắn. Chớ để
cho ba cửa của con lạc vào sự b́nh thường
thế tục, dù chỉ một khoảnh khắc. Trong
sự thực hành ban ngày hăy buông thả cho tâm thức con
không tạo tác và để cho kinh nghiệm của sáu giác
quan được tự do thư thả, như một
giấc mộng hay tṛ huyễn hoá. Ban đêm, hoà trộn
giấc ngủ sâu với pháp tánh trong một trạng thái
vô niệm, thoát khỏi sự phóng xuất hay tan biến
của tư tưởng. Hăy tịnh hoá kinh nghiệm mê
lầm của trạng thái mộng, dẫn nó về
đường chánh. Thế là nghĩa là tu hành t́nh
thương đại bi và Bồ đề tâm, trong
sự lần hồi quen thuộc với các giai
đoạn phát triển và thành tựu.[1]
Sáng và
chiều, cử hành sự tịnh hoá bảy phần(1),
chớ xao lăng các dâng cúng Torma hàng ngày và các thứ. Sám
hối các nghiệp xấu với thần chú một
trăm âm. Hăy cẩn thận với điểm cốt
yếu là nhân quả. Suy nghĩ trở đi trở
lại [1]về sự khó khăn có được tự
do và của cải, về cái chết, sự vô
thường và về những lỗi lầm khuyết
điểm của sanh tử.[1]
tất
cả chúng sanh.
Hăy tu hành
Bồ đề tâm. Tu hành giai đoạn phát triển,
đến mức độ mà mọi cái ǵ xuất
hiện và có mặt là mạn đà la của hoá thần.
Đối với giai đoạn thành tựu, hăy an trụ
trong trạng thái bất nhị, nó là các h́nh tướng
không có tự tánh như sự phản chiếu của
mặt trăng trong nước. Lúc chấm dứt, hăy
hồi hướng công đức.
Thực hành
theo cách này, con hoà điệu với các thừa tổng
quát, con tiến triển trên con đường đúng và
con đă thiết lập nền tảng cho con
đường của Yoga.
Thực hành
cư xử bí mật của kỷ luật Yoga. Sau khi con
đă thiết lập nền tảng của con
đường và đă đạt được kinh
nghiệm, thấu hiểu tin vào cái thấy và trạng thái
chân thật. Cư xử bí mật nâng cấp con
đường này và cắt đứt tư tưởng
ư niệm. Nó có thể theo đuổi bởi hành giả có
sự quen thuộc nhiều và an định vững
chắc trong thực hành.
Về
sự thực hành đúng của Đại thừa, có cái
thấy của sự thấu hiểu rằng mọi đối
tượng là không thật. Đối với Mật
thừa, có cái thấy về ṿng hoá thân, giai đoạn phát
triển và tính bất nhị vượt khỏi các bên,
tức là
giai đoạn thành tựu.
Khi con
nhận thấy mọi chúng sanh là cha mẹ ḿnh, con làm sanh
khởi con đường qua sự hành tâm con trong Bồ
đề tâm. Để cắt đứt sự chấp
ngă và tin vào ma quỷ, hăy đến một nơi
để sợ và cắm trại trong một chỗ
đáng sợ nhất. Hăy bắt đầu với
việc quy y Tam bảo, phát triển Bồ đề tâm và
cầu xin Guru của ḿnh. Rồi sau một hồi lâu thành
khẩn quán tưởng từ bi và Bồ đề tâm
đối với tất cả chúng sanh nhiều như
hư không, mà đầu hết là quỷ ma của vùng
ấy. ở lại và đi ngủ trong Bồ đề
tâm tối hậu, trạng thái đại lạc không
bị ngăn ngại, vượt khỏi sanh, trụ,
diệt trong đó chư thiên và quỷ ma là bất nhị.
Khi con cảm thấy sợ hăi, tập trung và chú tâm vào
sự suy nghĩ này: "Sự sợ hăi này khởi ra
từ sự tin vào ma quỷ, nó nảy ra từ sự không
tin rằng mọi chúng sanh là cha mẹ ḿnh". Bấy
giờ, sự phóng xuất tư tưởng ấy
xuất hiện như là ma quỷ. "Làm thế nào mà
Bồ đề tâm của ta, nó chỉ là những lời
vô vị và các ư niệm tri thức, thành tựu
được chân nghĩa?". Chú tâm như thế, trau
dồi đại bi và Bồ đề tâm thành thật,
dâng tặng thân con chẳng màng chi cho mọi vị thần
và quỷ ma, đầu hết là quỷ ma của vùng
ấy. Nói rằng: "Hăy lấy thịt xương, máu huyết
của ta, như các người muốn!" để tâm
con an định trong Bồ đề tâm.
Cùng một
cách ấy, khi con có một ư nghĩ về thần hay
quỷ và Bồ đề tâm của con dao động, hăy
nghĩ: "Đây là một phóng ảnh do sự tin vào
quỷ ma!" và đem cho họ thân con chẳng màng,
rồi ở yên trong sự b́nh thản. Nếu một
hồn ma thật sự xuất hiện, hăy nhảy
thẳng vào miệng nó hay vào ḷng nó và hoàn toàn bỏ đi ư
niệm yêu quư thân con. Trau dồi tâm bi và hồi
hướng công đức.
Khi sự
tin vào quỷ ma bị cắt đứt, các hiện h́nh ma
quái và phô diễn ảo ảnh lắng xuống, quỷ ma
của vùng ấy rơi vào sự kiểm soát của con.
Sự lắng yên của tư tưởng và sự
thuần hoá quỷ ma xảy ra đồng thời.
Một khi
con hiểu rằng mọi chúng sanh là cha mẹ ḿnh, lúc
ấy con không thể tin vào quỷ ma; c̣n có tin vào quỷ ma,
ấy là con chưa tu hành đầy đủ.
Thứ hai,
cắt đứt(1), hăy nhận biết rằng mọi
đối tượng là không thực. Để cắt
đứt sự tin vào quỷ ma và sự trụ vào
ảnh hưởng của chúng như là thật có. Hăy
đi đến nơi khủng khiếp nhất
để làm mạnh thêm cái thấy về các h́nh
tướng không thật của con. Quy y, phát triển
Bồ đề tâm và cầu nguyện. Khi nhận ra
rằng mọi h́nh tướng đều không thật,
mọi ư niệm đều là vọng tưởng, mọi
sự đều trống không và cái thấy biết
của con hiện giờ cũng giống như một
giấc mộng hay một ảo giác huyễn hoá. Lúc
ấy, hăy đi ngủ trong trạng thái Không vô quái
ngại, trong đó rốt ráo không có ǵ hiện hữu.[1]
Khi con
cảm thấy sợ hay khủng khiếp, hăy tập trung
tâm con, nghĩ như thế này: "Không hiểu
được rằng sợ hăi và khủng khiếp
đều giống như một giấc mộng và ảo
giác huyễn hoá, ta tin vào ma quỷ. Bây giờ, sự phóng
tưởng này khởi lên để chỉ cho ta thấy
rằng, cái thấy về như huyễn của ta chỉ
là sự hiểu biết ngoài mặt ư thức. Sự
hiểu biết ư thức ấy sẽ không thành tựu
thật nghĩa!". Tập trung và chú tâm vào ư nghĩ này,
ở yên thoải mái trong trạng thái tất cả
đều không thật và huyễn ảo.
Con phải
nhận biết bản chất không thật của sự
phóng tưởng niềm tin của quỷ ma, ngay lúc tư
tưởng hay tṛ huyễn thuật xảy ra. Quyết
định rằng nó không có thực tại nào, mà thật
sự chỉ giống như huyễn hoá. Nếu trong
thực tế một hồn ma xuất hiện, hăy
khẳng định rằng nó không thật và nhảy
thẳng vào ḷng nó. Ngọn gió xoáy của sự hiện h́nh
ma quái sẽ biến mất và con đi qua nó không
chướng ngại. Ngay khi con cắt đứt
được sự tin vào ma quái, sự biến hiện
huyễn ảo tự nhiên lắng yên. Vượt qua
được tư tưởng của con và chấm
dứt quỷ ma xảy ra đồng thời.
Thứ ba,
để cắt đứt, tu hành một "giai
đoạn phát triển" vững chắc. Nhờ đó
kinh nghiệm của con biểu lộ như là h́nh
tướng của hoá thần.
Để
nâng cao giai đoạn phát triển của con, cắt
đứt sự tin ma quỷ và sự bám chấp nhị
nguyên vào một thế giới chúng sanh, hăy đi
đến một nơi đáng sợ. Một khi đă
phát khởi sự quy y ở đó, phát triển Bồ
đề tâm và cầu nguyện. Quán tưởng quang
cảnh chung quanh như là cung điện cơi trời và
mọi chúng sanh, đặc biệt là hồn linh của
vùng ấy, như là hó thần bổn tôn. Tŕ tụng
thần chú tinh tuư làm bén thêm chánh niệm tỉnh thức,
làm sáng tâm con và thiền định một thời gian dài.
Ôm trọn tánh Không tối hậu với điểm
cốt yếu. Đi ngủ trong trạng thái, trong đó
mọi thứ dù có xuất hiện cũng không tự
thể. Khi một tư tưởng sợ hăi hay khủng
khiếp nổi lên, gom tâm vào nhất niệm và suy nghĩ
thế này: "Không nhận ra h́nh tướng đáng
sợ và làm khiếp hăi như là hoá thần bổn tôn, tôi
tạo ra sự tin vào quỷ ma. Bây giờ sự phóng
ảnh của nó xuất hiện như một biến
hiện ảo hoá. Giai đoạn phát triển của tôi
chỉ là danh từ và hiểu biết nơi bề mặt
ư thức.
Làm thế
nào nó sẽ đưa tôi đến giai đoạn thành
tựu? Tâm nhất niệm, bỏ đi sự tham
trước thân thể và đem nó cho đi như một
món quà của một buổi tiệc. Quán tưởng
sống động rằng tất cả cái ǵ xuất
hiện và hiện hữu là hoá thần bổn tôn.
Dâng cúng thân
thể con như là cam lồ và cho tất cả chúng sanh,
cầm đầu là các ma quỷ quấy phá. An trụ
tự do trong trạng thái bất nhị không ngăn
ngại.
Sự tin
vào ma quỷ khởi lên, v́ khi h́nh tướng ma quái hay
biến hiện huyễn hoặc xảy ra, con không thấu
rơ h́nh tướng và mạn đà la của hoá thần. Hăy
nghĩ rằng: "Đây đúng là một phóng
tưởng!" và nhớ đến bổn tôn.
Đạt
được vài thành tựu là do thấu hiểu
được rằng con và ma quỷ đều cùng
một bản tánh như hoá thần. Thế nên, hăy nghĩ
rằng: "Gặp được bổn tôn th́ thích thú
biết bao!". Hăy ôm choàng lấy ma quỷ bằng cách
nhảy vào ḷng nó, đi vào trong miệng nó và trộn
lẫn tâm các con một cách không phân biệt. Tŕnh diện
thân xác con như là một quà biếu cho buổi tiệc.
Qua việc làm này, con sẽ hiểu rằng các tướng
là hoá thần và như thế tất cả các ư niệm
dừng bặt, tṛ biến hiện tự nhiên lắng
xuống và hồn linh của nơi chốn ấy rơi
vào sự kiểm soát của con!
Thứ
tư, để cắt đứt, hăy hiểu bản tánh
của bất nhị nhờ vào một cái thấy vững
chắc của giai đoạn thành tựu.
Dùng sự
sợ hăi, sự tin vào ma quỷ để nâng cao tính
chất bất nhị của giai đoạn thành tựu.
Để làm thế, hăy làm những điều sơ
khởi và an trụ thư thả trong trạng thái bất
nhị, trong đó thân và tâm là không hai, tướng và tâm là
không hai, ta và người là không hai, bạn và thủ là không
hai, chư thiên và ma quỷ là không hai. Tóm lại, an trụ
trong trạng thái nơi đó không có bất kỳ hiện
tượng nhị nguyên nào. Duy tŕ sự liên tục này
không lơi lỏng.
Nên sự
biến hiện ảo hoá hay tư tưởng về ma
quỷ xảy ra, khi thực hành như thế này, hăy chú tâm
vào tính bất nhị, nghĩ rằng: "Sự phóng
ảnh này, sinh từ nghi ngờ, là do bởi tâm ta không an
định nhất tâm trong tánh bất nhị!". Ngay khi
sự tin vào ma quỷ khởi sinh, yên nghĩ tự do trong
tánh bất nhị. Nếu một quỷ ma thực sự
xuất hiện, chú tâm một cách nhất niệm và
nghĩ rằng: "Tuyệt vời thay có được
cơ hội để tu hành trong bản tánh bất
nhị như là sự làm mạnh thêm cái thấy!"
nhảy vào ḷng ma quỷ, và con sẽ đi qua nó không
chướng ngại trong tánh Không bất nhị và không
nền tảng. Cuối cùng ma quỷ không có một
thực thể nào.
Theo cách này,
nghĩa của tánh bất nhị hiện rơ bên trong con.
Tư tưởng nhị nguyên tin vào ma quỷ bị
cắt đứt và sự biến hiện ảo giác bên
ngoài lắng xuống. Khi con chứng ngộ tánh bất
nhị, con cũng có được sự chế ngự
đối với sức mạnh xấu ác và ngăn
chặn quỷ ma. Điều này nhờ vào tánh bất
nhị và sự duyên sanh lẫn nhau giữa tướng và
tâm.
Kết
quả là khi con c̣n hiện hữu th́ các quỷ ma c̣n
hiện hữu; khi con b́nh an th́ các quỷ ma b́nh an; khi con
giải thoát, các quỷ ma được giải thoát; khi
con được thuần hoá, các quỷ ma cũng
thuần hoá. Quỷ ma là quỷ ma của chính con và cắt
đứt nó làm cho con an b́nh. Thế nên, chính là một
sự nâng cao, làm mạnh thêm lớn lao khi giáp mặt
với một nơi chốn đáng sợ, hơn là hành
thiền định trong ba năm.
Cách cư
xử bí mật này không chỉ nhắm đến tư
tưởng về quỷ ma, mà c̣n để cắt
đứt các bệnh dịch truyền nhiễm như là:
bệnh cùi và các cảm giác sợ hăi, dị ứng ghê
tởm, nhút nhát, hèn nhát, bối rối vv... Tóm tắt,
bất kể loại tư tưởng nào khởi ra, hăy
cắt đứt nó như ở trên.
Cuối
cùng, cư xử tối hậu của tánh Chân Như là
thoát khỏi sự nhị nguyên của chư thiên và ma
quỷ. Tự do khỏi sự nhị nguyên của
sạch và dơ, th́ nút khoá của sự trụ
tướng nhị nguyên được cởi mở.
Tự do khỏi sự thúc đẩy của sự
muốn đừng có, muốn trau dồi hay bám níu, th́
tất cả ư niệm về sanh tử và Niết bàn hoàn
toàn tiêu tan mất trong tánh Giác bất nhị rộng răi vô
biên, và con sẽ an trụ trần trụi, độc
diện như là nhất thể bất nhị, cái tính
chất của đại lạc.
Vào lúc
ấy, nếu ngay cả Dharmaraja, Thần chết móc vào con
và đem con đi, con sẽ không cảm thấy sợ hăi.
Nếu ngay cả Phật Vajrasattva xuất hiện, con
cũng sẽ không có một nghi ngờ nào hay không chắc
để quyết đoán. Đây chính là sự cư
xử tối hậu của thật nghĩa.
Qua các
loại hành xử bí mật này, con thiết lập nền
tảng của trạng thái bổn nhiên, làm mạnh thêm cái
thấy, tinh lọc sự thực hành và hưởng
quả. Lời dạy này là cực kỳ sâu xa.
Tsogyal
lại hỏi: Xin chiếu cố cho, thưa Đại
sư! Con thỉnh cầu Ngài, từ bi ban cho con giáo
huấn cốt lơi nó cắt đứt gốc rễ
của khổ đau, ở trong sự tỉnh giác hiện
tiền đưa cả hai sự sanh và sự chết vào
đường Đạo.
Padmasambhava
trả lời: Nghe đây Tsogyal! Chỉ bày các điểm
then chốt của thực hành qua năm Yoga, Ta sẽ
dạy con giáo huấn cốt lơi dùng bất cứ
điều ǵ con làm như chính con đường.
* Thứ
nhất, đối với Yoga giấc ngủ, giây phút
rơi vào giấc ngủ giống như đang chết.
Bởi thế, phục hồi các Samaya của con, lập
lại các thệ nguyện Thanh văn, làm trong sạch ḍng
tâm thức, cắt đứt sự phức tạp
của ba độc, vắng bặt sự nhớ nghĩ
và suy tính. Hăy để mọi hiện tượng bên ngoài
và bên trong hoàn toàn tự do trong đại định
của Tánh Như, trạng thái không trụ vào bất
cứ cái ǵ. Rơi vào giấc ngủ trong trạng thái
của giai đoạn thành tựu không chướng
ngại, Pháp thân không ư niệm phân biệt, tức là dùng cái
chết như con đường.
Làm tan
biến mọi hiện tượng bên ngoài và bên trong,
thế giới và chúng sanh, chủ tướng và tuỳ
tùng, vào trong chủng tự ở trung tâm trái tim của con.
Bằng cách ngủ trong trạng thái không trụ, con dùng ư
niệm về cái chết như con đường.
* Thứ
hai, Yoga của sự thức dậy giống như sự
sinh ra. Ngay khi thức giấc, nhớ lại một cách
sống động sự tỉnh giác không chướng
ngại từ trong giai đoạn thành tựu. Điều
này làm tịnh hoá sự tái sinh.
Tiếp
theo, con phải hiểu các điểm mấu chốt
của nhân quả. Điều này đem đến sinh khí
cho bất kỳ sự thực hành tâm linh nào con làm và là
một sự làm mạnh thêm hơn những cái ǵ khác.
Buổi b́nh
minh, phân phát phần tính chất trong sạch của
thức ăn vào trong các kinh mạch và thải các phần
dơ bẩn. Khi bên trong các kinh mạch hoàn toàn trống
rỗng, các lỗi lầm hay đức hạnh bên ngoài,
bên trong và bí mật dễ dàng khởi sanh. Lúc ấy, các kinh
mạch khởi lên như là kinh mạch trung ương, khí
Prana như là trí huệ, các nguyên tố như là đại
lạc và tân con như là tánh Giác bất nhị. Đây
cũng là mục tiêu của sự thi hành vài loại
chữa bệnh y học hay nghi thức chữa bệnh.
Hơn nữa, nó chính là lư do tại sao Đức Phật
chứng ngộ sự thật và giác ngộ viên măn vào lúc
b́nh minh.
* Thứ ba,
Yoga về thức ăn phải được phối
hợp với một sự truyền pháp và lực của
Mật thừa. Nếu con thực hành giai đoạn phát
triển, hăy dùng thức ăn như là cam lồ của trí
huệ. Hăy quán tưởng hoá thần trong bụng con, hăy
hưởng thụ thực phẩm như là một hoá thần
hoà tan vào một hoá thần.
Nếu con
thực hành tịnh hoá nghiệp chướng, hăy dùng
thực phẩm như là cam lồ trí huệ. Hăy ăn theo
cách hoàn toàn thiêu cháy các chủng tử của sáu loài chúng
sanh, các chủng tử đó hiện diện trong h́nh
thể các chữ ở trong ḷng con.
Nếu con
thực hành giai đoạn kết hợp, hăy dùng thức
ăn như là cam lồ của phương tiện và trí
huệ bất nhị, ăn trong cách kết hợp.
Nếu con
thực hành giai đoạn thành tựu, hăy dùng thức
ăn như là trí huệ của tướng và Không
đồng hữu. Hăy thưởng thức pháp tánh ăn
pháp tánh.
Tóm lại,
hăy an trụ không phân chia trong bất cứ định nào
con đang thực hành và hưởng thụ. Theo cách này,
bất cứ đồ ăn nào con dùng đều trở
thành nguyên nhân cho đại định.
* Thứ
tư, về Yoga liên tục, một hành giả thực hành
con đường một cách đúng đắn, phải
không bao giờ dung tha cho những phiền năo b́nh
thường. Người ấy phải nhận ra mọi
mối xúc động khởi ra, nhờ vào những kỹ
thuật đặc biệt và đem chúng vào con
đường đúng.
Gốc
rễ của phiền năo là năm độc; ở đây
làm thế nào dùng chúng như là con đường. Khi tham
muốn mạnh mẽ khởi lên, nhận ra chúng bằng
chánh niệm và tư duy về nguyên nhân của nó. Nó
khởi sanh v́ một tác nhân bên ngoài, bị chao động
bởi sự thúc đẩy t́nh dục với
người khác giới. Bây giờ, sự đau
đớn của tham muốn cũng như một ṿi
nước mạnh phụt ra. Cuối cùng tâm con sẽ hoàn
toàn tan vào khuôn khổ của điều mà con đă
thường quen.
Để
nhận ra khuôn khổ này, hăy hiểu rằng tác nhân hấp
dẫn bên ngoài là do tâm con tạo ra. Nếu không phải
thế, th́ không có chuyện người con yêu lại
được nh́n như một kẻ thù bởi
người khác. Sự thúc đẩy t́nh dục khởi
từ tâm con và biểu lộ như tham muốn, giống
như ngọn gió khởi từ bầu trời trống
rỗng.
Bây giờ,
đây là cách làm thế nào nh́n vào yếu tính của tham
dục và dùng nó như con đường. An trụ trong
trạng thái trong đó tác nhân hấp dẫn bên ngoài và
sự thúc đẩy t́nh dục thoát khỏi nhị nguyên.
Tham muốn do đó trở thành yếu tính của Lạc
và Không bất nhị. Tự tánh của tánh Không không
được tạo ra từ bất kỳ cái ǵ, nên
sự biểu lộ của nó chính là lạc. Đây là
sự hoàn thiện của tham muốn, tức là Diệu
quan sát trí.
Cũng
thế, bằng cách nh́n vào yếu tính của giận
dữ và an trụ trong nó, con chứng ngộ yếu tính
bất nhị của sáng tỏ và tánh Không. Tự tánh là
trống không và sự biểu lộ của nó là sáng
tỏ. Đây là sự hoàn thiện của giận dữ,
tức là Đại viên cảnh trí.
Bằng cách
nh́n vào yếu tính của ngu si và an trụ trong trạng thái
đó, con chứng ngộ tánh Giác không có ư niệm. Tự
tánh là trống không và sự biểu lộ của nó là vô niệm,
không tư tưởng. Sự hoàn thiện của ngu si là
Trí pháp giới.
Trong cách
như thế, do đem kiêu mạn và ganh ghét vào con
đường mà chúng trở thành B́nh đẳng tánh trí và
Trí thành tựu tất cả (Thành sở tác trí).
Tóm lại,
mười điều xấu sanh từ năm
độc. Năm độc đến từ ba
độc tham, sân, si. Bằng cách nhận ra ba độc
này và dùng chúng như là con đường, con giữ
vững được các giáo lư của ba tạng và an
trụ trong ba sự tu hành.
Bằng cách
nh́n vào yếu tính của tham muốn và an trụ trong
trạng thái ấy, con kinh nghiệm lạc phúc, nó trở
thành Luật tạng. Con ĺa bỏ tham muốn b́nh
thường, đó là sự tu hành Giới.
Bằng cách
nh́n vào yếu tính của sân và an trụ trong trạng thái
ấy, con kinh nghiệm sự sáng tỏ, nó thành Kinh
tạng. Con ĺa bỏ sân hận thông thường, đó là
sự tu hành Định.
Bằng cách
nh́n vào yếu tính của si và an trụ trong trạng thái ấy,
con kinh nghiệm vô niệm, nó trở thành Luận tạng.
Con ĺa bỏ ngu si thông thường, đó là sự tu hành
Trí huệ phân biệt.
Con sẽ
nhận ra mọi phiền năo khởi lên và bằng cách này
đem chúng vào con đường.
Thứ
năm là Yoga về thời gian và các điểm cốt
yếu. Có năm thời"
*
Thứ nhất, lúc b́nh minh phần trong sạch và không trong
sạch của thức ăn tách ĺa nhau, tâm con bén nhạy,
thân con mới mẻ, trí thông minh trong sáng và các bindu tăng
thêm. Sức mạnh của lầm lỗi hay đức
hạnh mạnh thêm, đến độ cần phải
nhận ra bất kỳ tư tưởng nào sanh khởi
như là tham và đem chúng vào con đường đức
hạnh.
* Thứ
hai, và lúc hoàng hôn, sức mạnh của bindu giảm đi
và cảm giác lo lắng có thể khởi ra. Các sự hoá
hiện của thần và quỷ ma lớn lên. Thời gian
này giống như sự chết, sức mạnh của
lỗi lầm hay đức hạnh th́ lớn hơn.
Thế nên, cần thiết phải biết bất kỳ
tư tưởng nào sanh khởi, như là sợ hăi hay
khủng khiếp và đưa chúng vào sử dụng trên con
đường đức hạnh.
* Thứ ba,
khi một phần phiền năo lớn lao hay một tư
tưởng quấy động sanh khởi, nếu con
thất bại không thể dùng nó như con
đường. Nó có thể bằng giá của cả
đời con, hay làm cho con hư hoại các lời
nguyện, ngăn chặn định của con và làm
vặn vẹo con đường chân chính. Thế nên, hăy
nhận ra nó và đem nó vào con đường.
* Thứ
tư, vào lúc tánh Giác bất nhị bổn nguyên hiện
khởi và tâm con hợp nhất như là yếu tính của
vô niệm, hăy dùng cái này vào con đường của
phương tiện. Khi trong trạng tháp áp dụng các
điểm then chốt vào trong khuôn khổ của các kinh
nghiệm này, hăy thực hành một thời gian dài không xao
lăng. Vào lúc ấy, các nguyện vọng và các mối liên
kết với nhân quả được h́nh thành. Đây là
một điểm cốt yếu. Thế nên, điều
quan trọng là h́nh thành quyết định. Trộn
lẫn các nguyện vọng và các mối liên kết nhân
quả, với bất kỳ loại ư nghĩ, ư niệm
b́nh thường nào khác là không thích hợp. V́ cái
người tạo ra (một nguyện vọng) là một
tư tưởng ư niệm danh tướng, cũng
giống như lỗi lầm khi dùng một món thuốc
tính hàn để chữa một bệnh hàn.
* Thứ
năm, khi cái chết đến con sẽ hoàn toàn
dưới sự kiểm soát năng lực của
"nghiệp liên kết" riêng ḿnh. Bởi thế,
phải quyết định tạo ra những mắt xích
nhân quả tốt. Hăy để cho những việc
xấu bị lăng quên và nhớ lại tất cả các hành
động đức hạnh. Chú tâm nhất niệm vào
sự thực hành riêng, mà con đă từng vững chắc
trong đó và trong mỗi khoảnh khắc, hăy thoát khỏi
kinh nghiệm lầm lạc. Tóm lại, trong thời gian
ấy cần yếu là tạo ra chuỗi mắt xích nhân
quả thiện.
Tsogyal
lại hỏi: Xin chiếu cố, thưa Đại
sư! Xin Ngày dạy cho các điểm then chốt của
các trạng thái trung ấm.
Padmasambhava
trả lời: Nghe đây Tsogyal! Đối với Bardo,
thời gian từ khi chết đến lúc tái sinh,
được gọi là Bardo của sanh và chết. Nó
gồm ba điểm: tốt nhất là đạt
đến giác ngộ trước khi kinh nghiệm bất
kỳ Bardo nào. Tốt tiếp theo là đạt đến
giác ngộ trong trạng thái Bardo. Thứ ba là làm sao tái sanh.
-
Điểm thứ nhất có bốn phần: Các nguyên
tố tan biến như thế nào, các tư tưởng
ngừng lại thế nào, trí huệ không ư niệm
xuất hiện thế nào và Phật tánh được
đạt đến bằng cách nhận ra bản tánh
của ḿnh như thế nào.
* Thứ
nhất, khi nguyên tố đất tan biến vào trong nguyên
tố nước, nút thắt kinh mạch ở rốn
giải tan, th́ prana của nguyên tố đất bị
khủng hoảng, thân cảm thấy nặng nề, ư
thức nhạt đi và kinh nghiệm giống như
một ảo ảnh xuất hiện.
* Tiếp
đó, khi nước tan vào trong lửa, nút thắt kinh
mạch ở tim giải tan, prana của nước bị
khủng hoảng, miệng và mũi khô, ư thức dừng
lại và một kinh nghiệm như khói khởi sanh.
* Thứ ba,
khi lửa tan biến vào gió, nút thắt kinh mạch ở
yết hầu giải tan, prana của lửa bị
khủng hoảng, thân nhiệt yếu dần, tri giác
chập chờn và một kinh nghiệm giống như
đom đóm khởi lên.
* Thứ
tư, khi gió tan biến vào ư thức, nút thắt kinh
mạch ở chỗ bí mật giải tan, prana của gió
bị khủng hoảng, hơi thở ngừng qua lỗ
mũi, ư thức đảo lộn nhẹ và một
xuất hiện nhẹ của ánh sáng hiện ra.
- Các tư
tưởng dừng lại thế nào: ở phần
dưới chót của kinh mạch trung ương là tinh tuư
người mẹ của chúng ta trong h́nh tướng
chữ A. Khi sức mạnh kinh mạch phải yếu
đi, tinh chất này đi lên, dấu hiệu là sự
xuất hiện màu đỏ. Vào lúc này, các trạng thái
tư tưởng của tham dừng lại.
ở trên
cùng của kinh mạch trung ương là tinh chất từ
người cha chúng ta trong h́nh tượng chữ Hang. Khi
sức mạnh của kinh mạch trái yếu đi, tinh chất
này đi xuống và màu trắng xuất hiện. Vào lúc này,
các trạng thái tư tưởng của sân dừng
lại.
Tiếp theo
đó, nguyên tố gió tràn khắp trên đỉnh
đầu bị khủng hoảng và màu đen xuất
hiện. Vào lúc này, các trạng thái tư tưởng
của si dừng lại.
Khi ba
độc dừng lại theo cách ấy, kiêu mạn và ganh
ghét cũng tự động dừng lại, bởi v́ ba
độc đă tan biến vào ba kinh mạch. Sau đó
hơi thở bên ngoài dừng.
Thế nào
trí huệ không ư niệm xuất hiện: đến lúc này,
hơi thở bên ngoài đă ngừng, nhưng hơi thở
bên trong chưa ngưng. Mặt trời đi lên và mặt
trăng đi xuống gặp nhau, tâm thức thuộc
về prana đi vào trong kinh mạch trung ương. V́ ba
cái này ở lại trong kinh mạch trung ương, v́ các
tư tưởng đă dừng trong một lúc ngắn,
tánh Giác không ư niệm, tâm Pháp thân của chư Phật,
xuất hiện trong khoảng một bữa ăn.
Thế nào
Phật tánh đạt được bằng cách nhận
ra trí huệ không ư niệm: do năng lực đă quen
dần với sự nhận biết này và bởi năng
lực đắc định qua các lời dạy miệng.
Con sẽ nhận ra trí huệ câu sanh tự hữu này và
đạt Phật tánh, kết hợp hai phương
diện Mẹ và Con của Pháp thân. Theo đó trí giác
vượt qua nắp mở của Brahma và đi vào Pháp
giới.
Đây là
lời dạy cho người có khả năng cao nhất
để đạt đến Phật tánh không qua bardo.
Lời
dạy cho người có khả năng vừa để
đạt đến giác ngộ trong trạng thái bardo, có
bốn điểm. Cách thức các nguyên tố tan biến
và các trạng thái của tư tưởng dừng lại
th́ giống như ở trên.
- Về
điểm thứ ba, thế nào pháp tánh biểu lộ trong
bardo: nếu người ta không nhận ra trạng thái không
ư niệm của Pháp thân, như trường hợp người
có khả năng cao tột, th́ trí tỉnh giác trú trong trung
tâm trái tim, đi vào con đường của kinh mạch
màu lụa trắng. Xảy ra ở bên ngoài, tâm và vật
chất ĺa nhau con rơi vào trạng thái không thức
giấc trong bảy ngày(1). Tỉnh dậy từ sự hôn
mê này, pháp tánh xuất hiện trong năm ngày, trong h́nh
dạng các âm thanh, màu sắc, ánh sáng và cảnh giới.[1]
Âm thanh là âm
thanh tự nhiên của nguyên tố lửa, bao la và mănh
liệt. Nó gầm như sét phân chia giữa hai mùa hè và mùa
đông. Sự sáng rỡ của tánh Giác biểu lộ trong
các màu sắc trong trẻo và sống động. Các tia sáng
chiếu từ các màu sắc th́ chói chang, như một
ảo ảnh trên các cánh đồng mùa thu.
- Thứ
tư, thế nào đạt được Phật tánh
bằng cách nhận ra khuôn mặt bổn nhiên của con: do
sức mạnh của tu hành điều đă
được trực chỉ, các biểu lộ này
cảu âm thanh, màu sắc và ánh sáng sẽ xuất hiện
như là trí tuệ câu sanh tự hữu và con sẽ
đạt đến Phật tánh.
Các cá nhân
khác biệt nhau trong sự tu hành và quen thuộc của
họ. Đối với thiền giả tu trong giai
đoạn thành tựu của Yoga hoá thần bổn tôn,
các biểu lộ này của âm thanh, màu sắc và ánh sáng
sẽ mở bày như sự biểu lộ tự nhiên
của mạn đà la của hoá thần và người
ấy đạt đến Phật tánh như là Báo thân.
Thiền
giả đă chứng ngộ sự giả ảo của
các h́nh tướng sẽ thấu hiểu rằng, các
biểu lộ ấy của âm thanh, màu sắc, ánh sáng là
giống như một giấc mộng hay một ảo
tưởng huyễn hoá và sẽ đạt
được Phật tánh như Hoá thân.
Thiền
giả đă chứng ngộ rằng, mọi hiện
tượng sanh tử và Niết bàn là kinh nghiệm tự
biến hiện của cá nhân (rang nang) sẽ hiểu
rằng, các biểu lộ này của âm thanh, màu sắc, ánh
sáng là tự khởi vốn tự giải thoát và sẽ
đạt được Phật tánh như là Thân Yếu
Tính.
Bởi
thế, con phải đi qua bardo bằng bất cứ pháp
môn tu hành nào con đă có kinh nghiệm và chứng ngộ trong
đó.
Cuối
cùng, thế nào để tái sinh có năm điểm. Cách
thế các nguyên tố tan biến và các trạng thái tư
tưởng dừng lại cũng giống như ở
trước.
Thứ ba,
thân do thức dần dần được tạo thành qua
tám duyên sanh(1): vô minh là không nhận ra được
rằng ánh sáng là sự tự biến hiện của chính
con. Hành (sự tạo lập) xảy ra, bởi sức
mạnh của hành, khi năm prana gom lại và tạo thành
sự hiện hữu của sanh tử. Từ hành,
thức trở nên rơ ràng hơn và sự bám trụ vào
một đối tượng xảy ra.
Tiếp theo
danh và tướng của trạng thái bardo sanh ra(2).
Thức trở nên nhanh nhạy, tạo thành các căn (giác
quan). Xúc là khi các giác quan gặp một đối
tượng. Thọ là cảm giác sướng khổ. ái là
khi do đó con khởi lên thích hay ghét. Như thế tám
yếu tố này tạo thành thân do thức sanh.[1]
Thứ
tư, thế nào kinh nghiệm bardo xảy ra: các
tướng của thói quen và nghiệp biểu lộ;
như thế con kinh nghiệm sự du hành đến quê
nhà đời trước và liên hệ với mọi
người thân quen bằng cái thức. Thức ăn và
nơi ở của con th́ bất định, và thân thể
bằng thức sống nhờ đồ cúng
được đốt. Ngoài việc có thể vào tử
cung của người mẹ đời kế tiếp và
đi đến toà Kim Cương, con có thể di
chuyển không chướng ngại. Thường trực
sợ hăi, bị đe doạ và khủng khiếp, con kinh
nghiệm các cái thấy về quỷ ăn thịt, các thú
dữ tợn, mưa băo dữ dội và băo tuyết. Con t́m
sự ẩn núp, trốn lánh bất cứ chỗ nào. Các
giác quan thông tỏ và khả năng của tâm thức th́
toàn vẹn. Con có thiên nhăn và có thể nh́n thấy các chúng
sanh khác của cảnh giới bardo.
Thứ
năm thế nào tái sanh trở lại: sau khi sự tỏ
rạng nhanh chóng của ánh sáng căn bản đă lắng
xuống, con kinh nghiệm năm con đường ánh sáng
thông thường(1). Vô minh câu sanh, làm cho không thể
nhận ra tánh Giác sáng tỏ này là khuôn mặt xưa nay
của con. Vô minh thuộc về ư niệm là ư niệm hoá
tánh sáng tỏ, quang minh này thành một cái ǵ khác. Trụ vào
các tướng của cái khác đó, con tái sanh vào sáu
loại chúng sanh, như một con hươu mắc trong
bẫy hay con ong kẹt trong một bông hoa.
Bám trụ
vào ánh sáng trắng, con sẽ sinh lại giữa các chúng sanh
của địa ngục. Bám trụ vào ánh sáng đỏ,
con sẽ sanh lại làm ngạ quỷ. Đi vào trong ánh sáng
màu đen th́ sanh làm thú vật. Đi vào ánh sáng màu vàng
dẫn đến tái sanh làm một con người. Và bám
trụ vào ánh sáng lục dẫn đến tái sanh làm thiên
hay Atula. Vào lúc ấy con phải nhớ đến sự
đau khổ của sáu loài chúng sah và không trụ vào
bất kỳ loại ánh sáng nào như vậy.
Thức
trong bardo dễ dàng đổi hướng. Thế nên,
nếu con có thể ở trong sự tỉnh giác chánh
niệm, và phát khởi sự mong mỏi sâu xa đối
với một cơi Phật như là cơi Tịnh Độ con
sẽ sinh về nơi ấy không một chút nghi ngờ.
Tsogyal
lại hỏi: Xin chiếu cố, thưa Đại
sư! Hành giả chưa đạt đến an
định có phải nỗ lực để làm sạch
các chướng ngại không? Làm thế nào để
trừ sạch các chướng ngại trên con
đường?
Padmasambhava
trả lời: Nghe đây Tsogyal! Trừ sạch các
chướng ngại khỏi con đường có bốn
điểm: Trừ sạch chướng ngại của các
kinh nghiệm tạm thời về định, làm sạch
chướng ngại bệnh tật đau đớn
của thân, làm sạch chướng ngại của tư
tưởng ư niệm và chư thiên, quỷ ma trong tâm và làm
sạch chướng ngại của ô nhiễm tạm
thời do hoàn cảnh xấu.
Thứ
nhất, làm sạch chướng ngại của các kinh
nghiệm tạm thời về định: Hôn trầm
nghĩa là không thực hiện được sự
tỉnh giác sáng tỏ, không ôm trùm nó được với
kinh nghiệm của quang minh. Hôn trầm trộn lẫn
với giấc ngủ, là do buồn ngủ.
Trạo
cử nghĩa là tâm thức động theo một
đối tượng hay theo đuổi cái ǵ đó.
"Động theo" nghĩa là sự chú tâm không ở
yên. Bị tán thất là để cho bị bắt lấy
vào trong sự tri giác về cái ǵ khác. Không an trụ là yên lặng
một thời gian ngắn nhưng không thể ở lâu
dài. Thất niệm là sự chú tâm của con chuyển
động mà không được lưu ư trong khi con
vẫn nghĩ rằng nó vẫn ở đó.
Trạo
cử, động lay có hai loại. "Động lay
bởi cái khác" nghĩa là tâm thức động v́ hoàn
cảnh nào đó. "Động lay bởi chính ḿnh" là
cảm giác vi tế của sự suy nghĩ rằng
"Yên tỉnh thật! Trong sáng thật" đi vào trong
trạng thái thiền định.
Hôn trầm
và trạo cử là các lỗi ban đầu khởi ra do
thất bại trong tập trung và trợt vào sự vô kư.
Khi cảm
thấy hôn trầm, hướng sự chú tâm đến
trung tâm trái tim. Trụ tâm ở đó trong khi thiền
định nhất niệm và không xao động. Nhờ
thế con sẽ không rơi vào hôn trầm hay hôn mê mà
vẫn tiếp tục trên con đường.
Khi cảm
thấy lay động, hướng sự chú tâm
đến chỗ dưới rốn, trụ tâm ở
đó và thiên định không xao động. Qua việc này,
con trở nên hoàn toàn nhất niệm và sẽ không rơi
vào các lỗi lầm động niệm hay thất
niệm.
Tổng
quát, nếu sự chú tâm của con được nhất
niệm và gom tụ rốt ráo, con không thể bị hôn
trầm hay trạo cử.
Bây giờ,
dùng cái ǵ có lợi cho định như là con
đường chánh định tốt đẹp của
lạc, trong sáng và vô niệm; ḷng từ, ḷng bi hay sự
từ bỏ, sự sùng tín mạnh mẽ và trong sáng,
tất cả đều có một kinh nghiệm về
"vị" đi theo, cùng với các chi tiết về
thân và khẩu. Các kinh nghiệm này là khí prana, đi qua
miệng. Có sự nguy hiểm của sự làm mồi cho
chấp ngă, thế nên trọng yếu là bao trùm chúng với
điểm then chốt. Với thái độ hiểu
biết rằng chúng là các kinh nghiệm tạm thời duyên
khởi từ tâm nhị nguyên, hăy nh́n vào yếu tính của
từng cái. Duy tŕ trong sự liên tục nh́n thấy ấy
mà không trụ vào sự khó khăn cũng không tham
đắm. Thế rồi, các kinh nghiệm này hiện ra
như là yếu tính của tánh Giác bất nhị. Hộ
tŕ sự liên tục này mà không bám níu vào hay nuôi dưỡng
các kinh nghiệm tạm thời.
Nếu con
cảm thấy một kinh nghiệm phấn chấn
phải cắt tức thời sự bám níu ấy. Nếu
con cảm thấy như muốn khóc, v́ tâm bi mạnh
mẽ dâng trào trong con, phải hiểu rằng điểm
then chốt của cái thấy là nhận ra tánh Giác. Chớ
buông thả trong kinh nghiệm mùi vị của nó, mà chỉ
duy tŕ trong sự liên tục.
Kinh
nghiệm có thể làm một biến hiện ảo
huyễn của một tinh linh gyalpo. Để cho con không
đắm ḿnh trong sự nuôi dưỡng một hồn
linh huyền ảo. Ta sẽ dạy con các chỉ dạy
cốt lơi về cách dùng các kinh nghiệm gây chướng
ngại như là những giúp đỡ cho định.
Bất
kỳ cái ǵ xảy ra bệnh tật, đau đớn,
nhói tim hay mệt mỏi cùng cực, hăy hiểu nó chỉ là
một kinh nghiệm nhất thời. Chớ ngă ḷng hay xem
nó như là một sự không may. Hăy để cho
đối tượng được cảm nhận, tâm
đang cảm nhận xảy ra tự nhiên và
được giải thoát. Chớ nh́n chúng như xấu
hoặc tốt, mà để chúng tự nhiên sanh khởi và
giải thoát khỏi chúng.
Bây giờ,
Ta sẽ giải thích làm thế nào nâng cấp các kinh
nghiệm này, để chúng siêu vượt khỏi giúp
đỡ hay làm hại. ở trong thức nền tảng
a lại da, hiện tượng của sanh tử hay
Niết bàn, nằm yên hiện diện tự nhiên trong h́nh
thức của các hạt giống. Trong thân Kim Cương,
chúng hiện tồn như là các chủng tự kinh mạch
và tâm prana. Bởi thế, khi con nhận ra khuôn mặt
bổn nhiên của trạng thái chân thật và thực hành
trong khi vẫn áp dụng các điểm then chốt của
định, th́ các thắt nút kinh mạch được
cởi mở, tâm prana được sáng tỏ, tập khí
được tịnh hoá, và con nắm được
sự bắt đầu của những phẩm tính giác
ngộ. Như thế, các kinh nghiệm của sanh tử và
Niết bàn sanh khỏi ra.
Nếu các
khí prana t́m ra một lối mở, chúng sẽ tuôn vào đó.
Nếu con tạo ra một ư niệm, các ma sẽ hiện
ra. Nếu con bỏ mặc các kinh nghiệm với sự
thản nhiên, chúng sẽ không trở thành các phần tử
của con đường.
Hăy hiểu
rằng các thứ xảy ra này là những kinh nghiệm
tạm thời.
Chớ nh́n cái ǵ như là một lầm lỗi.
Chớ nh́n cái ǵ như là một đức hạnh. Tự
do với hy vọng, sợ hăi và nghi ngờ, tu hành trong
sự để cho kinh nghiệm tạm thời
khởi sanh tự nhiên và được tự nhiên
giải thoát. Trong cách này, mọi kinh nghiệm trở thành
sự nâng cấp các sự làm mạnh thêm.
Vào những lúc thực hành ẩn cư có khi tâm
được mềm dẻo, có sự tiến bộ trong
tu hành tâm linh, thiền giả hứng khởi với các bài
hát êm đềm. Có khi tâm không thuần thục
được, tu hành tâm linh giảm sút, chú tâm bị tán
loạn và thiền giả cảm thấy khốn khổ
sâu xa.
Một
số kinh nghiệm cao và thấp, khởi sanh vào lúc tách ĺa
sanh tử và Niết bàn. Thay v́ cảm thấy thất
vọng hay kiêu hănh, hăy giữ ḿnh vào điểm then
chốt là để sự vật xảy ra tự nhiên mà
không dính mắc, như thế con sẽ có thể đem
chúng vào con đường.
Hăy hoàn thành
sự thực hành nhập thất không mệt mỏi và
không lạc vào phóng tưởng; thế rồi thứ ǵ
cũng sẽ là một trợ đạo.
Thứ hai,
để tịnh hoá chướng ngại của bệnh
tật và đau đớn của thân, có năm
điểm: căn cứ nơi đó bệnh tật trú
ẩn, nguyên nhân để cho bệnh tật xảy ra, các
hoàn cảnh làm nó hoạt động các hậu quả chín
muồi của nó, và cách thức chữa lành nó.
Thứ
nhất, bệnh tật tiềm ẩn trong thức nền
tảng, trong cách thức cấu tạo của các kinh
mạch và bởi các thói quen tập khí. Nó xảy ra v́
nghiệp xấu tích tập qua vô minh và chấp ngă. Nó
được hoạt động bởi phiền năo,
tư tưởng, ư niệm danh tướng, khí prana hay
thần và quỷ. Hởu quả chín muồi của nó là
404 loại bệnh, dẫn đầu là nhiệt và hàn, đờm
dăi, đau và sưng. Tóm tắt, bệnh tật vô minh câu
sanh là nhân chính và bệnh tật vô minh của thức
tạo thành ư niệm là duyên chính.
Mọi
bệnh tật có năm tác nhân: Nền tảng tiềm
ẩn nghiệp xấu như là nhân, phiền năo như là
duyên, tư tưởng ư niệm như là xâu chuỗi liên
kết, khí prana như là cái tập hợp qui kết,
thần và quỷ là tác nhân phụ trợ.
Ví dụ,
nếu một bệnh hàn biểu lộ, nó được
gây ra bởi tập khí tham ngủ ngầm trong thức
nền tảng, và được hoạt động
bởi duyên và tham muốn mănh liệt. Xâu chuỗi liên
kết được làm bằng tư tưởng ư
niệm “Tôi bị bệnh! Tôi yếu rồi! Tôi sẽ làm
ǵ nếu nó tệ hơn?”. Điều này làm cho “khí đi
xuống làm sạch” bị lũng đoạn, mở ra cho
sự tấn công từ loài âm của các thế lực
xấu.
Tương
tự, hạt giống của sân như là nhân
được hoạt động qua duyên là sân, mănh
liệt liên kết với xâu chuỗi của tư
tưởng ư niệm. Điều này làm cho khí quân b́nh
hoả bị lũng đoạn, mở ra cho sự
tấn công từ loại dương của các thế
lực xấu, tạo thành các bệnh nhiệt.
Hạt
giống của si như là nhân được hoạt
động bởi nhân là ngu si nặng nề, liên kết
với xâu chuỗi của tư tưởng ư niệm.
Điều này làm cho “khí an trụ quân b́nh” bị lũng
đoạn, mở ra cho sự tấn công từ các
“hồn linh của đất” ác xấu. Nó sinh ra bệnh
đờm dăi.
Hạt
giống của ghen ghét như là nhân được
hoạt động bởi duyên là sự ghen tuông mạnh
mẽ, liên hệ với chuỗi của tư
tưởng ư niệm. Nó làm cho “khí bổ trợ cho sự
sống” bị lũng đoạn, mở ra cho sự
tấn công từ loài tsen của các thế lực xấu,
sinh ra bệnh đau đớn.
Hạt
giống của kiêu mạn như là nhân được
hoạt động bởi duyên là sự kiêu căng mănh
liệt, liên hệ với chuỗi tư tưởng ư
niệm. Nó làm cho “khí đầy khắp” bị lũng
đoạn, mở ra cho sự tấn công của loài gyalpo
của các thế lực xấu và sanh ra bệnh sưng.
V́ nguyên nhân
là vô minh, con phải nhận biết trí huệ câu sanh
để chữa các bệnh này. V́ điều kiện là
phiền năo, con phải đặt sự chú tâm vào tính b́nh
đẳng. V́ mối liên kết là tư tưởng ư
niệm, con phải cắt đứt sự trói buộc
của tư tưởng. V́ tác nhân gom góp của sự
kết thành là khí, con phải chú tâm vào điểm then
chốt của khí. Sự nâng đỡ đằng sau là
thần và ma quỷ, con phải từ bỏ ư niệm
về ma quỷ. Bằng cách làm thế con sẽ thoát
khỏi mọi loại bệnh tật.
Để
chữa lành tính chất của đau ốm có ba
điểm: tốt nhất là để cho nó
được vốn tự giải thoát; tốt tiếp
theo là từ bỏ những điểm quy chiếu liên
hệ đến sự trừ tà hay thiền định;
cuối cùng là chữa bằng quán tưởng.
Với cái
thứ nhất: chớ dùng ngay cả chỉ một
liều thuốc. Chớ tụng hát một âm nào của
lễ chữa bệnh. Chớ nh́n đau ốm như là
một lỗi lầm, hăy nh́n nó như một đức
hạnh. Để cho tâm con không tạo tác và tự nhiên.
Hoàn toàn buông xả trong trạng thái vô niệm tự nhiên
của tính đơn giản. Làm thế, ḍng ư nghĩ danh
tướng bị cắt đứt; tánh Giác tự do
với tư tưởng hiện lên và đau ốm
được sạch mất. Sự đau ốm và
tư tưởng được giải thoát đồng
thời.
Nói thế
nghĩa là trong thời các sơ khởi, chớ theo
đuổi sự đau ốm. Trong thời chính phần,
chớ trau dồi theo sự đau ốm. Trong thời
kết thúc, chớ trụ vào cảm giác đau ốm. Qua
đó, con sẽ cởi mở đau ốm cũ và không
bị làm hại bởi đau ốm mới.
Với cái
thứ hai, trừ tà hay thiền định, có ba phần:
chuyển hoá đối thủ, cắt trực tiếp và
làm quân b́nh.
Thứ
nhất, nh́n đau ốm với ḷng biết ơn, nghĩ
đi nghĩ lại: “Tuyệt vời biết bao, nhờ
vào ngươi đau ốm, mà ta có thể cắt
đứt con quỷ ư niệm!”. Để cho tâm con
được hân hoan; dùng các thực phẩm làm
chướng ngại đau ốm, và hành động trong
cách ngược lại đối với nó.
Tiếp theo, ăn một ít chất thơm đặc c̣n
tươi, c̣n ấm nhưng không hấp. Uống một
tí chất thơm lỏng nồng và ấm. Bằng cách
thiền định về khí prana, căn bệnh trong phần
trên thân bị trục xuất ra ngoài, và căn bệnh trong
phần dưới bị xổ thoát ra. Tiến tŕnh làm
lành bệnh này là y khoa của sự cắt đứt.
Thứ hai,
để cắt đứt trực tiếp, hăy biểu
lộ một bộ mặt rạng rỡ và dừng
lại sự thở than. Về tâm thức, cắt
trực tiếp các lo lắng, hy vọng và sợ hăi khi
nghĩ rằng: “Tôi đang đau ốm, hay nếu tôi
chết, tôi sẽ phải làm ǵ?” Với sự dửng
dưng toàn diện, hăy ném xa các lo lắng này.
Thứ ba, để làm cân bằng, con phải dùng sự
bất hạnh như con đường của con ngay khi
nó khởi ra. Làm sáng tỏ sự tỉnh giác của con và
tự nhớ đến thực hành tâm linh. Chớ
thiền định về một quán tưởng,
để đối trị với đau ốm, chớ
áp dụng bất kỳ lễ nghi chữa bệnh hay
thuốc thang ǵ, mà hăy nh́n vào cái người cảm thấy
bệnh! Bằng cách ở trong trạng thái liên tục này,
khi một kinh nghiệm xảy ra, nó tự tan biến
mất và khi sự chứng ngộ xảy ra, nó hiện lên
như là tánh Giác trống không. ít ra con sẽ không phải
khốn khổ v́ ư tưởng cảm thấy đau
ốm.
Cuối
cùng, để chữa lành bằng cách quán tưởng, hăy
vận hành Bồ đề tâm, dùng thế ngồi kiết
già và quán tưởng chính ḿnh như là hoá thần Bổn
tôn. Tưởng tượng một chữ Hung xanh
đậm trong trung tâm trái tim, cỡ bằng hạt lúa
mạch. Nếu bệnh nhiệt, tưởng tượng
một chữ Hung màu trắng cỡ bằng hạt
lúa mạch, khởi từ chữ Hung trong trung tâm trái tim và
xoay ṿng xuyên qua phần trên của thân. Nó hoàn toàn rút ra
hết các bệnh tật, giống như một cục
nam châm hút các cây kim. Thoát lên từ đỉnh đầu
con, nó tan biến vào không gian. Quán tưởng như
thế, rút khí lên phía trên.
Nếu là
bệnh hàn, tưởng tượng một chữ Hung màu
đỏ cỡ bằng hạt lúa mạch, xuất
hiện từ chũ Hung trong trung tâm trái tim và xoay ṿng xuyên
qua phần dưới thân. Thoát ra qua cửa phía
dưới, tưởng tượng rằng nó biến
mất vào trung tâm trái đất.
Nếu con
đau trong tay và chân, như nóng hay sưng, quán tưởng
một chữ Hung màu đen ở chỗ đau.
Tưởng tượng rằng nó gom cái đau lại và
rời khỏi qua chỗ nóng hay ra ngoài qua đầu ngón
tay.
Đối
với bệnh không chẩn đoán được,
tưởng tượng rằng một chữ Hung xanh
đậm xuất hiện từ chữ Hung trong trung tâm
trái tim.Nó gom lại tất cả bệnh tật khắp
thân và tan biến vào không gian sau khi qua lỗ mũi.
Tổng
quát, khi ở trong tính b́nh thản, tâm con hoàn toàn trở thành
tinh chất của vô niệm. Con phải buông bỏ
mọi lưu tâm tự do khỏi nghi ngờ và do dự
về cái được tẩy trừ hay quán
tưởng. Sự quán tưởng và tâm con phải là
một. Điều quan trọng là nương dựa và
tập trung vào ba điểm này.
Bây giờ,
làm sao để tống xuất chướng ngại
của một tâm trí chứa chấp những tư
tưởng về thần và quỷ. Khi con đă có
những kinh nghiệm thường xuyên, nhờ vào sự
liên kết giữa cấu trúc các kinh mạch và sự
chuyển hướng của ḍng tư tưởng(1). Con
sẽ bị tấn công bởi các tṛ biến hiện
huyễn hoặc của các năng lực, gọi là ma
quỷ và cảm thấy nghi ngờ. Khi tư tưởng
sợ hăi và khủng khiếp khởi lên, nhận chân chúng
một cách nhanh chóng và đưa chúng vào con
đường. Nếu con để chúng chạy rong hay
rơi vào quyền lực của chúng, chúng sẽ trở
thành một cản trở cho sự tu hành của con.[1]
Hơn
nữa, trừ phi con nắm được mọi thứ
chướng ngại cao hay thấp để dùng như con
đường của ḿnh, c̣n không nó sẽ trở lại
với sức mạnh hơn, và trở thành một cản
trở cho tu hành. Thật cần yếu dùng các
chướng ngại như con đường.
Căn
bản, để vượt qua sự nhiễm ô nguy
hiểm của ư nghĩ ḿnh, phải đem các
chướng ngại vào con đường. Các kinh
nghiệm về năng lực xấu hay tṛ biến
hiện huyễn hoá đều được kinh
nghiệm trong tâm lầm lạc của con. Thật sự
không có “thần” hay “quỷ” nào ở ngoài con. Ngay khi con kinh
nghiệm các năng lực xấu và các tṛ biến hoá, hăy
áp dụng điểm trọng yếu là hiểu rằng
chúng không có thực thể nào cả, v́ chúng không có sanh,
trụ và diệt. Khi nào một sự tấn công ảo hoá
xảy ra, hăy ngồi thiền, giữ thẳng cái nh́n và
nh́n vào bản chất của nó. Rồi tư tưởng
hiện lên như cái biết trống không. Ngay lúc ư nghĩ
con hướng về trong tánh Giác trống không, con có
sự can đảm, tự tin nó cắt đứt hoàn toàn
sợ hăi và khủng khiếp.
Ngay nếu
lũ ma bao quanh con như một đạo quân, chúng sẽ
không thể làm động một sợi tóc trên thân con;
cũng chẳng thể tạo ra cản trở nào. Giữ
sự tự tại nghĩ rằng: “Tôi không thể bị
hại bởi bất kỳ cản ngại nào!” Nhút nhát
nghĩ rằng: “Không biết tôi có gặp trở ngại
nào nữa không?”. Chỉ tạo ra sự chào mời cho ma
quỷ.
Mọi kinh
nghiệm về quỷ thần, đều chính là ư nghĩ
danh tướng của con kết thành h́nh thể. Chúng không
có ngay cả một vi trần hiện hữu ngoài chính tâm con.
Hăy cắt đứt ḍng tư tưởng ư niệm! Hăy
đem cho các uẩn của con như quà biếu cho một
bữa tiệc! Cho Pháp thân con như là thức ăn! Hăy
vất bỏ chấp ngă! áp dụng điểm trọng
yếu và thực hành.
Bây giờ,
làm sao để trừ sạch những chướng
ngại của ô nhiễm tức thời (drib): Con trở
thành ô nhiễm do sự gặp gỡ hay chia phần
với các bạn bè họ đă xâm phạm lời thệ
nguyện samaya của họ, làm hư giới luật hay
mắc vào những việc làm xấu; do tiếp xúc với
người bệnh cùi, người mà vợ hoặc chồng
vừa mới chết, hay người có trí óc quỷ quái;
hay do ở trong một ngôi nhà có ác nghiệp, có ma quỷ, có
kẻ thù, hay sự xấu xa về đạo đức.
Con trở nên bị bôi bẩn khi ăn thức ăn có
được qua sự thù địch, hay từ
đạo đức xấu, từ ác nghiệp. Thân thể
con bèn khó chịu, định bị yếu đi, các
Hộ pháp không bằng ḷng.
Dờu
hiệu các samaya và giới luật của con bị tổn
hại là nằm mơ thấy bị rơi xuống, hay
đi xuống. Khi dơ bẩn bởi bạn bè, con mơ
thấy các chúng sanh bị bôi dơ bằng thứ ô uế
của người khác. Khi dơ bẩn bởi chỗ ở,
con mơ thấy đi vào một căn pḥng dơ dáy. Khi
dơ bẩn bởi thức ăn, con mơ thấy
đang ăn thứ dơ bẩn.
Cách tốt
nhất để sửa chữa điều này là
bằng sự trao truyền pháp lực và Sadhana;
tốt tiếp theo là bằng Thần chú Đà la ni; và
tốt thứ ba bằng các lễ tẩy tịnh. Bằng
mọi cách hăy cố gắng tốt nhất để
trừ sạch ô nhiễm.
Tsogyal
lại hỏi: Xin chiếu cố, thưa Đại
sư! Làm thế nào một thiền giả có
được sự nâng cấp, sự tăng tiến qua
việc trừ khử các chướng ngại ra khỏi
con đường?
Đạo
Sư trả lời: Tsogyal! Có sự nâng cấp, tăng
thêm trên con đường có ba điểm: Bỏ đi các
lỗi lầm ngăn chặn sự nâng cấp,
đặt nền móng cho sự nâng cấo và nỗ lực
trong các phương pháp cho sự nâng cấp xảy ra.
Thứ
nhất, gốc rễ của các lỗi không ǵ khác hơn
là chấp ngă, cái thái độ của sự an trụ sai
lầm, thế nên hăy cắt đứt các ràng buộc
của chấp ngă. Ném xa sự trụ tâm vào kẻ thù hay bè
bạn! Hăy bỏ những mối quan tâm trần thế!
Từ bỏ các theo đuổi vật chất! Dấn thân
vào không ǵ khác hơn Pháp từ cốt lơi của ḷng ḿnh!
Đúng
như một hạt giống không thể tăng
trưởng trên đá, sẽ không có sự tăng tiến
nào nếu không bỏ đi lỗi lầm chấp ngă.
Bởi thế, con hăy từ bỏ gốc rễ của
mọi tội lỗi là chấp ngă.
Thứ hai,
để đặt nền móng cho sự nâng cấp, kiên
tŕ trong bất cứ con đường ǵ con đă đi
vào và cố gắng hiển lộ vài phẩm chất.
Dấn thân vào nhiều thực hành mà không tu tập một
thứ sẽ không mang đến kết quả. Hăy
hiểu điểm then chốt đi vào và ra khỏi con
đường: Đi vào trong bất cứ con
đường nào mà con có kinh nghiệm và ra khỏi các
thứ thực hành khác! Chú tâm hoàn toàn cho đến khi con
ổn định trong thực hành đó. Con không thể
nắm được một con đường cao
hơn, nếu không dựa vào một con đường
ở dưới. Tu tập như thế, giống như
trồng những hạt giống tốt trên đất màu
mỡ, con sẽ có được kinh nghiệm, thấy ra
yếu tính của con và tiến bộ. Tóm tắt, sự tu
hành mănh liệt là căn cứ cho các phẩm chất
xuất hiện.
Thứ
ba, về sanh ra sự nâng cáp, có hai điểm: nâng cấp
con đường đặc biệt mà con đang đi,
nâng cấp kinh nghiệm và chứng ngộ mới khởi.
Nếu con không có tiến bộ nào khi thực hành một
lời dạy về phương tiện (upaya), th́
những phương tiện đă trở nên một
chiều, do v́ bám trước vào tướng và các thuộc
tính. Hăy làm nảy sinh sự nâng cấp bởi trí huệ
(prajna), khi hiểu rằng mọi hiện tượng
đều vô tự tánh.
Nếu con
không tiến bộ khi thực hành một lời dạy
về trí huệ (prajna),t h́ trí huệ đă trở thành
một khuyết điểm, bởi v́ sự bám
trước một chiều vào tánh Không. Hăy chú tâm vào
điểm then chốt “nhân quả” và làm nảy sinh sự
nâng cấp qua các lời dạy về phương tiện
thiện xảo (Upaya).
Cùng cách
ấy, không tiến bộ khi thực hành Shamatha (chỉ) là
v́ lỗi không hiểu trạng thái bổn nhiên. Làm sanh
sự nâng cấp nhờ vào Vipashyana (quán), sự nhận ra
trạng thái chân thật.
Không
tiến bộ khi thực hiện quán là do khuyết
điểm thời gian an định quá ngắn ngủi.
Hăy làm nảy sinh sự nâng cấp nhờ chánh niệm
vững chắc vào chỉ. Cũng thế, hăy nguyên lư
đồng đẳng này (chỉ và quán) với mọi
loại trạng thái của thiền đ́nh và sau thiền
định.
Đây là
điểm then chốt để làm nảy sinh sự nâng
cấp, tăng tiến trong mọi loại thực hành
hằng ngày.
Thứ hai,
để nâng cấp cái mới sanh kinh nghiệm và
chứng ngộ, có sự nâng cấp qua phiền năo và
sự nâng cấp qua tư tưởng niệm.
Đối
với cái thứ nhất, không có ai không có phiền năo,
nhưng nếu con lạc vào sự bám chấp sâu nặng,
các xúc động sẽ không trở thành phần tử
của con đường. Đối với điều
này, có ba điểm: các khuyết điểm không làm
được như vậy và cách làm điều đó.
Thấy
người nào hay phi nhân đẹp, tâm con bị choáng váng
v́ tham muốn. Các khuyết điểm là v́ tham muốn
tăng lên, con tạo ra nghiệp xấu, bị bịnh
hàn, bị tấn công bởi các lực lượng âm
xấu xa (dện) và trong tưưong lai bị thai nghén
trong tử cung. Như thế chắc chắn con sẽ
bị thuộc vào ṿng nghiệp quả.
Các phẩm
chất tốt đẹp là con có thể thu hút, hấp
dẫn người và phi nhân như con muốn, làm nảy
sinh định của tánh. Không lạc phúc, thoát khỏi
bịnh hàn, được các loài bảo vệ giới
nữ đi theo và cuối cùng tái sinh ở cơi Cực
lạc.
Khi con
cảm thấy ham muốn mạnh mẽ, nó có thể
được dùng như con đường tại ngay
chỗ ngồi này, trong cùng thời công phu này. Chó ném ḥn
đá vào mũi con heo!(1). Hăy chùi sạch ngọn
nến khi nó c̣n nóng! Hăy giết kẻ thù của con khi con
bắt được hắn!
Tulkku Urgyen
Rinpoche giải thích rằng mũi con heo là điểm
nhạy cảm nhất trên thân thể nó; đụng vào
đó làm cho nó chạy mất. Các phản ứng của
hoặc là tội lỗi và đè nén hay của sự
dấn ḿnh mù quáng trong một xúc cảm; cả hai
đều là “đánh vào mũi con heo”, bởi thế
mất đi cơ hội để nhận ra bản tánh
của xúc cảm.
Trước tiên, hăy để cho ham muốn tăng
đến mức đầy đủ của nó. Rồi,
trước khi gây ra bất cứ nghiệp ǵ, hăy đem nó
vào con đường. V́ chính tâm con làm vững chắc
sự ám ảnh của ham muốn. Khi nhận dạng
của tâm thái này hiện lên như tánh Giác bị méo mó,
sự trùng hợp tốt đẹp được h́nh
thành trọn vẹn. Nếu không có cái nền tảng tánh
Giác bổn nguyên này, ham muốn không thể trở thành con
đường; cũng như một sự phản
chiếu không thể thấy được trừ phi
tấm gương hết bẩn. Sức mạnh của
phiền năo phát triển hoàn toàn. Khi cảm xúc
được kinh nghiệm trong trạng thái của tánh
Giác bổn nguyên, không nghiệp nào được tạo
ra. Nó được đưa vào con đường mà
không cắt đứt nó với bất kỳ tư
tưởng nào khác, giống như ḥn đă của
triết gia.
Cách
hiện thực để đem nó vào con đường
là nh́n vào nhân dạng của ham muốn, và để nó trong
trạng thái bổn nhiên. Thế rồi nhân dạng của
nó hiện lên sống động như là tánh Giác vô
niệm, trong đó Lạc và Không th́ bất nhị.
Thêm nữa,
khi con tu hành như thế, hăy đem ham muốn vào con
đường nhờ vào từ – bi và Bồ đề
tâm. Trước tiên, hăy vận hành tâm thái giác ngộ;
tiếp theo, thoát khỏi mọi tạo tác của tâm
thức; và cuối cùng, hăy niêm phong bởi sự hồi
hướng. Bằng cách vận hành Bồ đề tâm,
xúc động của con trở thành con đường
của sự giác ngộ. Bằng cách ở yên trong một
trạng thái không tạo tác, chứng ngộ sanh ra. Và
bằng cách niêm phong với hồi hương đức hạnh
được hoàn măn.
Hăy tu hành
không phóng tâm theo cách này với mỗi trạng thái tư
tưởng, từ lúc nó nảy sanh cho đến khi nó
được dem vào con đường. Chỗ bị
ngắt bởi các tư tưởng khác, từ khi vận
hành Bồ đề tâm đến lúc niêm phong với
sự hồi hướng: nếu con bị ngắt quăng,
nó không trở thành con đường.
Cũng cùng
điểm then chốt như thế, trong trường
hợp các xúc động khác như giận dữ, mờ
tối, kiêu căng, ghen ghét. Hăy đem chúng không xao lăng vào con
đường; thế rồi để cho nhân dạng
hiện lên như tánh Giác bổn nguyên. Hăy để cho chúng
phát triển đầy đủ, sức mạnh mà không
tạo một nghiệp mới nào.
Thứ hai,
nâng cấp tăng tiến qua suy nghĩ ư niệm, có hai
phần, tư tưởng tốt và tư tưởng
xấu. Loại thứ nhất là khi con có “một kinh
nghiệm tốt” tạm thời về các trạng thái phấn
khởi của tâm, nhận một sự báo trước
của một hoá thần, hay có những dấu hiệu
nổi bật tốt lành. Rồi con xem cái sự xảy ra
đó như là điều ǵ tuyệt hảo, ngắm nghía
các phẩm chất tốt của chúng, thưởng
thức hương vị của chúng. Nếu con cố
gắng phát triển kinh nghiệm, nó biến mất.
Nếu con thản nhiên với nó, th́ không có sự nâng
cấp.
Để
làm sanh ra sự nâng cấp, chớ buông thả trong một
trạng thái tư tưởng “tốt”, chớ bám níu nó
như là một phẩm chất tốt và chớ nếm
hương vị của nó. Điều con nh́n như là
“tốt” chỉ đến từ tâm con. Dùng phương
pháp đă giải thích ở trên đem nó vào con
đường mà không bị xao lăng bởi các tư
tưởng khác, cho đến khi nhân dạng của chúng
hiện lên như tánh Giác bổn nguyên.
Loại kia
là các kinh nghiệm không mong muốn, sự khuấy
động của trí óc, hay một sự tấn công
ảo hoá của ma quỷ. Thông thường con nh́n các
trường này như thứ ǵ tiêu cực, xem chúng như
là lỗi lầm và thưởng thức hương vị
của chúng: làm thế, chúng trở thành chướng
ngại. Chớ chối bỏ tư tưởng xấu,
chớ nh́n chúng như là tai hại, chớ buông thả trong
chúng. “Xờu” chính là sự sáng tạo ảo hoá của tâm
con. Hăy đem nó vào con đường như đă tả
ở trên, cho đến khi nhân dạng của chúng hiện
lên như tánh Giác bổn nguyên.
Các chủ
đề đến đây là những thứ cần
thiết trọn vẹn cho con đường của
một thiên giả.
Bây giờ,
về quả của sự thành tựu con
đường, có bốn điểm. Thứ nhất là
cách làm việc cho lợi lạc của chúng sanh; thứ hai
là cách tâm trí huệ tồn tại; thứ ba là cách nh́n
những người cần được hoá độ
qua tâm Đại bi; và thứ tư là sự bác bỏ các tà
kiến về người khác.
Thứ
nhất, khi các nhiễm ô che tối con đường
đă được làm sạch, con chứng ngộ
trạng thái bổn nguyên vốn sẵn. Điều này có
bốn phương diện: ư nghĩa, dấu hiệu, nhân
dạng và cách biểu lộ. Năm thân là nền tảng.
Năm đường lối của lời nói truyền
thống sự hiểu biết. Năm cách của tâm là
không ư niệm. Năm phẩm chất làm tṛn đủ các
nhu cầu. Và năm hoạt động chúng vận hành cho lợi
lạc của người khác.
Thứ
nhất là năm thân. Pháp thân (Dharmakaya) th́ vô sanh, thanh
tịnh vô ngại, và hoạt động như là
nền tảng của bốn thân trí tuệ. Báo thân
(Sambhogakaya) là tánh Giác bổn nguyên của các phẩm
chất viên măn (sam) nó hưởng thụ (bhoga) sự
đa thù của hiện tượng mà không trụ. Nó
hoạt động như là nền tảng của các
xuất hiện Hoá thân. Hoá thân (Nirmarakaya) hoá hiện (Nirmana)
một cách huyễn ảo phù hợp với tính khí của
những người cần hoá độ, mà không rời
ĺa Pháp thân. Nó hoạt động như là nền tảng
cho các phẩm chất trí huệ, chúng được phô
diễn trong bất cứ cách nào cần thiết, cho
những người cần được hoá độ.
Vajrakaya (Kim cương thân) là tánh Giác bổn nguyên, tánh Không
và tánh Giác không thể phân chia nó biểu lộ tánh Như.
Abhisambodhikaya là tính không sợ, vô uư, không phân chia,
thường hằng trong yếu tính. Nó tự nhiên thấu
hiểu mọi hiện tượng như là tánh Giác
bổn nguyên, vô sở trụ, thông tỏ tự nhiên.
Thứ hai
là năm cách của lời. Lời tối hậu của
Pháp thân, cái được biểu lộ là tánh Giác thanh tịnh
rốt ráo, nó làm nền tảng cho mọi tự
tưởng và diễn tả. Lời tượng trưng
có định hướng của Báo thân là tánh Giác bổn
nguyên, truyền thông ư nghĩa bằng cái nh́n thấy h́nh
tướng. Lời nói của Hoá thân la tánh Giác bổn
nguyên, nó truyền thông với sáu loại chúng sanh, nhờ
sáu mươi phương diện của tiếng nói du
dương. Nó đem đến sự hiểu biết cho
ư nghĩa mỗi chữ trong kinh nghiệm của người
được giáo hoá. Lời của trí huệ Kim
cương là tánh Giác bổn nguyên, truyền thông sự
hiểu biết về tánh Không bất nhị có thể nghe
được. Lời Abhisambodhi của sự giác
tự nhiên thông tỏ là tánh Giác bổn nguyên, nó thấu
hiểu mọi âm thanh là tánh Giác và nó soi sáng ư nghĩa qua các
ban phước chưa đủ trí huệ có năm khía
cạnh của tâm.
Thứ ba là
năm đường lối của tâm giác ngộ.
Tâm của đại học là tánh Giác vô niệm của
tự tánh Không. Tâm của vô niệm là tánh Giác bổn nguyên,
nó nhận biết mà không danh tướng hoá hiện
tượng. Tâm của tính b́nh đẳng là tánh Giác
bổn nguyên, tánh bất nhị của mọi hiện
tượng. Tâm Kim cương là tánh Giác bổn nguyên, trong
nó mọi hiện tượng là sự bất nhị
của h́nh tướng và tánh Không. Tâm giải thoát chúng sanh,
hoạt động v́ sự lợi lạc cho các chúng sanh
nhờ bốn hoạt động không vướng
mắc.
Thứ
tư, năm phẩm chất là cơi, cung điện, tia sáng,
ngai và đồ trang sức. Cơi của Pháp thân là Hư không
vốn thanh tịnh của pháp giới. Cơi của Báo thân là
“Luân xa ánh sáng” của quang minh bổn nhiên. Cơi của Hoá thân
là thế giới Ta bà ngh́n tỷ.
Cung
điện đối với Pháp thân là pháp giới của
Akanishtha; đối với Báo thân là tánh Giác bổn nguyên của
kinh nghiệm cá nhân; và đối với Hoá thân nó là Mạn
đà la nảy sanh từ kinh nghiệm cá nhân.
Các tia sáng
đối với Pháp thân là các tia hào quang của năm trí
huệ. Đối với Báo thân, chúng là sự chói sáng
tự nhiên của trí huệ, nó soi sáng với ánh sáng năm
sắc. Được dạy rằng Hoá thân có 60 tỷ
tia sáng chiếu từ mỗi phần của thân thể.
Ngai cho Pháp
thân là ngai của cái thấy nhất như; cho Báo thân là trí
huệ nhất như; và cho Hoá thân là Đại bi nhất
như.
Về
đồ trang sức, Pháp thân có đồ trang sức
của sự thanh tịnh vô sanh. Báo thân có đồ trang
sức của sự thông tỏ tự nhiên bất
đoạn, các tướng chánh và sư phụ siêu
phàm, mười trang sức tượng trưng: Vương
miện, khuyên tai, chuỗi hạt dài và ngắn, ṿng đeo
tay, hai ṿng cổ tay và hai ṿng cổ chân, một chuỗi
đeo cổ dài. Đồ trang sức của Hoá thân là 32
tướng chánh và 80 tướng phụ thông
thường. Các phẩm chất của thân Kim cương
và thân Abhisambobhi không được đề cập
đến.
Năm
hoạt động là: làm yên nghiệp và phiền năo; làm
tăng thêm tuổi thọ, công đức và trí huệ; thu
hút tâm, sự tỉnh giác mọi hiện tượng
của sanh tử và Niết bàn; trừ khử bất
cứ thứ ǵ ách tắc; và hành động trực
tiếp nó thực hiện trạng thái bổn nhiên.
Bây giờ,
về cách hành động cho sự lợi lạc của
chúng sanh, có ba phương diện: hành động với
một chỗ nương dựa, hành động không có
một chỗ nương dựa, và hành động
bằng bản tánh.
Hành
động với một chỗ nương dựa
nghĩa là hoạt động cho lợi lạc của
chúng sanh, trong sạch qua Báo thân và cho các chúng sanh không trong
sạch qua Hoá thân, với căn cứ là tánh Giác Vô nhị
của Pháp thân. Đây là cách xác định rằng trí
huệ là có mặt.
Hành
động không có một chỗ nương dựa
nghĩa là hoạt động cho lợi lạc của
chúng sanh, bằng cách xuất hiện như hai sắc
thân ở trong tri giác của người được hoá
độ. Dù cho trạng thái giác ngộ của Phật
tánh, không có cái trí huệ bị giới hạn trong một
cá thể vật chất. Đây là đường lối
xác định rằng trí huệ là vắng mặt.
Hoạt
động cho lợi lạc của chúng sanh bằng
bản tánh, nghĩa là hoạt động qua sự
biểu lộ tự tánh của mọi sự nó là “không có
ǵ cả” và tuy nhiên hiển lộ trong bất kỳ cách ǵ
có thể. Đây là đường lối của tính
bất nhị (của hai lối trên).
Giải
thích thêm “người hành động” là năm thân hiện
diện tự nhiên gọi là Vajradhara. Năm thân này chính là
sự phân chia của các phẩm chất; chúng không phải
là năm thực thể cụ thể, riêng biệt. Thân Kim
cương và thân Abhisambodhi là tên để gọi các
phương diện của ba thân, trong khi Pháp thân, Báo thân và
Hoá thân là các thân hiện thực.
Pháp thân là
phương diện của sự chứng ngộ cho
sự lợi lạc của chính ḿnh, không hành động
cho lợi lạc của chúng sanh. Nhưng hai sắc thân
hành động cho phúc lợi của người khác.
Điều này nghĩa là Báo thân hành động cho các chúng
sanh trong sạch như là các Bồ Tát của Thập
địa, trong khi Hoá thân hành động cho lợi lạc
của sáu loại chúng sanh bất tịnh.
Hoạt
động vị tha trong những đường lối
bất khả tư ngh́, là những căn cứ
mười hai công hạnh của Pháp thân. Sáu thần thông
của tâm và Bốn vô lượng tâm. Các
đường lối hoạt động, khi chia ra là
mười hai phương diện của lời tối
thượng; khi cô đọng lại, chúng là ba tạng
kinh điển; khi xem là phương thuốc, chúng là
sự tịnh hoá chữa lành; khi xem theo nhân và quả, chúng
là các thừa của Mật và Giáo.
Chư
Phật thường trụ như là trạng thái căn
bản của tâm trí huệ, nó là sự không thể phân chia
của hai đế (Chân đế và tục đế).
Không rơi vào bất cứ thiên lệch nào, tự do
khỏi đồng và dị. Quả tối hậu là
chứng ngộ và an trụ trong tánh Giác bổn nguyên, vốn
không chia biệt với tâm trí huệ toàn giác của các
bậc giác ngộ. Không trụ trong bất cứ biên
cực nào, tự do khỏi ít và nhiều, siêu việt
đồng và dị.
Trạng
thái căn bản của tâm trí huệ này vượt ngoài
đơn giản, v́ hai mươi lăm thuộc tính
của quả, biểu lộ từ các phương
diện các phẩm chất của Phổ Hiền. Nó
vượt ngoài đa thù, v́ sự biểu lộ hai
mươi lăm thuộc tính này của quả, đều
được chứa đựng trong tánh Giác tự
hữu đơn nhất của tâm Phổ Hiền. Hơn
nữa tâm trí huệ th́ vượt ngoài đơn nhất,
bởi v́ nó xuất hiện như là Chư Phật của
ba thân, trong tri giác của những người
được hoá độ. Nó cũng vượt ngoài
đa thù, v́ chúng là các thực thể thật sự có
chất, nhưng là một trong tánh Không và không có bản ngă.
Nếu tâm
trí huệ là thực sự đơn nhất, th́ sự
chuyển hoá của các trạng thái tư tưởng
sẽ là giả. Nếu nó thực sự là các thực
thể khác biệt, th́ một vị Phật sẽ không
biểu lộ trong các hoá hiện vô số. Bởi thế,
nó thường trụ thoát khỏi đồng nhất hay
dị biệt.
Đường
lối nh́n những người cần hoá độ và bác
bỏ tà kiến như sau. Cái được thấy là các
tính khí của những chúng sanh cần hoá độ. Cái nh́n
thấy là Đại bi của Phật Pháp. Cách nh́n có ba
phần: Trí huệ thấu suốt bản tánh của
sự vật, thấy rằng mọi hiện tượng
không sanh khởi. Trí huệ thấu suốt mọi hiện
hữu, thấy rằng mọi hiện tượng là không
diệt mất. Trí huệ thấu suốt tánh bất
nhị, thấy rằng mọi hiện tượng là
bất nhị.
Bây giờ,
ta sẽ bác bỏ các tà kiến về người khác(1).
Hăy xem xét điều này: các đối tượng
được thấy, các h́nh tướng tính khí của
chúng sanh, có hiện hữu trong kinh nghiệm của
một vị Phật không? Nếu chúng hiện
hữu, các kinh nghiệm lầm lạc ấy phải là các
thực thể có thật, bởi v́ chúng xuất hiện
trong một kinh nghiệm chân thực. Bởi thế, chúng
phải rốt ráo là giả. Nếu chúng không hiện
hữu, thế là tri giác của một vị Phật
phải sai lầm, bởi v́ thấy một cái ǵ không có.
Điều này giống như nhăn thức nhận ra hai
mặt trăng, bởi v́ nh́n các thực thể hiện
hữu một cách chấp chặt(2). V́ điều này
nhất thiết không xảy ra, nên hai chân lư là rốt ráo
không thể phân chia.
Emaho!
Đây là
pháp bí mật, không ǵ sánh của Tối Thượng
thừa.
Tinh yếu
chân thật của liễu nghĩa,
Con đường
ngắn để đạt Phật tánh trong một
đời.
Sau khi
tiếp xúc với nó, những người theo lời
chỉ dạy của Ta
[1]
Là những
người phước đức, những đứa
con ruột của Uddiyana!
Kho tàng
Ngọc quư để trừ bỏ chướng ngại
Là một
ngọn đèn chính yếu và sáng tỏ, như ánh sáng
Của
mặt trời và mặt trăng, soi sáng giai đoạn
thành tựu.
Trong
thời tương lai một Thiền giả tiền
định ẩn danh
Sẽ
gặp các giáo huấn cốt lơi này.
Thế nên,,
Tsogyal! Hăy cất giấu chúng như một kho tàng Terma!
Mười
hai Thiên nữ Tenma! Hăy giữ ǵn giáo lư này!
Sáu trăm
ba mươi năm kể từ bây giờ,
Một con
người tiền định của loài hung dữ
họ cai quản các Terma,
Sẽ
xuất hiện từ phương Đông; hăy giao phó nó cho
người ấy!
Khi con
người tiền định ấy tiếp xúc với
các lời dạy này,
Người
ấy không phát lộ chúng một cách khinh xuất,
Mà sẽ
chỉ dạy sau khi khảo sát người xứng
đáng.
Như
thế Ngài đă nói.
Bà Tsogyal!
Cất giấu lời dạy này trong một kho tàng màu
trắng bằng ốc tù và, trên sườn núi phía Bắc,
nó giống như một đống rắn độc.
Bản
văn này được khám phá ra bởi Rigbzin Gokyi Demtru
Chen, vị Vidydhara với bộ lông kên kên, từ trong kho
tàng màu trắng bằng ốc tù và, trên sườn núi phía
Bắc, nó giống như một đống rắn
độc.
Samaya,
ấn, ấn, ấn.
Khai thị thực hành phật pháp
như thế nào cho đúng
Padmakara,
Đạo sư của Uddiyana, ngụ ở Samye sau khi
được vua mời qua Tây Tạng. Ngài ban nhiều
lợi dạy cho vua, các lănh chúa và các thiện nam tín nữ
nơi phần phía đông của chánh điện. V́ họ
không hiểu chính xác, Ngài lập lại lời khuyên bảo
này.
Đạo sư Padma nói: Dầu ta dạy nhiều bao nhiêu,
dân Tây Tạng cũng không hiểu; thay vào đó, họ
chỉ dấn ḿnh vào các việc tồi tệ. Nếu các
ông muốn thực hành giáo pháp từ trong cốt lơi của
ḷng ḿnh, hăy làm thế này:
Là một Cư sĩ Phật giáo không có nghĩa là chỉ
giữ ǵn bốn giới căn bản; mà có nghĩa là
vất bỏ các hành động xấu ác. Là một Sa di
không có nghĩa là chỉ thừa nhận một bề ngoài
trong sạch; mà có nghĩa là thực hành đức hạnh
một cách đúng đắn. Là một Tỳ kheo không có
nghĩa là chỉ kiểm soát thân khẩu ư trong hoạt
động thường nhật và bị cấm làm
mọi thứ; mà có nghĩa là đem mọi nguồn
gốc của đức hạnh vào con đường
Đại giác ngộ.
Là giới
đức không đơn giản chỉ là mặc y vàng; mà
có nghĩa là sợ sự chín thành của nghiệp. Là
một người bạn đạo không có nghĩa là có
một thái độ có phẩm giá; mà có nghĩa là một
người bảo bọc vinh quang cho bất kỳ ai. Là
một thiền giả không chỉ có nghĩa sống
một cách chân chất; mà có nghĩa là hoà tâm ḿnh với
bản tánh của pháp tánh.
Là một
Mantrika không có nghĩa là lẩm bẩm các thần chú;
mà có nghĩa là đạt đến giác ngộ một cách
nhanh chóng qua con đường hợp nhất của
phương tiện và trí huệ.
Là một
thiền giả không có nghĩa chỉ là sống trong
một hang động; mà có nghĩa là tu hành trong thật
nghĩa của trạng thái bổn nhiên. Là một ẩn
sĩ không có nghĩa là sống trong rừng sâu; mà có
nghĩa là tâm người ấy thoát khỏi các tạo tác
nhị nguyên.
Có học
không có nghĩa là chỉ duy tŕ tám mối quan tâm thuộc
thế gian; mà có nghĩa là phân biệt được
giữa đúng và sai(1).
Là một
Bồ tát không có nghĩa là giữ sự quan tâm bên trong
đến chính ḿnh; mà nỗ lực trong những
phương tiện để giải thoát cho tất
cả chúng sanh thoát ṿng sanh tử.
Có
đức tin không có nghĩa là rên rỉ, thút thít; mà có
nghĩa là đi vào con đường chánh, do biết
sợ chết và tái sanh. Chuyên cần không có nghĩa là
dấn thân vào các hoạt động khác nhau không ngừng
nghỉ; mà có nghĩa là nỗ lực trong các phương
tiện để bỏ sanh tử lại đằng
sau. Rộng lượng không đơn giản nghĩa là
cho theo khuynh hướng và thiên lệch; mà có nghĩa là
giải thoát sâu sa khỏi sự bám chấp vào bất
cứ sự ǵ.
Chỉ
dạy bằng miệng không có nghĩa là nhiều cuốn
sách được viết; mà có nghĩa là một vài
lời đánh thẳng vào điểm yếu nghĩa trong
tâm anh. Cái thấy không có nghĩa là quan điểm triết
học; mà có nghĩa là thoát khỏi mọi giới hạn
do tâm thức tạo ra. Thiền định không có nghĩa
là chú tâm vào cái ǵ đó với tư tưởng; mà có
nghĩa là tâm anh an định trong tánh Giác bản nhiên, thoát
khỏi mọi tập trung.
Hành
động tự nhiên không phải là hành động buông
thả điên cuồng; mà có nghĩa là tự do khỏi
sự trụ và các tri giác huyễn hoá mà cho là thật. Trí
huệ không có nghĩa là trí thông minh sắc bén của tư
tưởng ư thức sai lầm; mà có nghĩa là hiểu
được rằng mọi hiện tượng
đều vô sanh và ĺa tâm, ư, ư thức.
[1]
Học hỏi không có nghĩa là nhận lời dạy qua
lỗ tai; mà có nghĩa là cắt đứt các ư niệm
phân biệt sai lầm, và có được cái hiểu
biết vượt khỏi tâm thức ư niệm. Tư duy
không có nghĩa chỉ là theo đuổi sự suy nghĩ
theo danh tướng giả định; mà có nghĩa là
cắt đứt sự bám níu lầm lạc. Quả không
chỉ có nghĩa là các sắc thân được mời
thỉnh từ Akanishtha; mà có nghĩa là nhận ra bản
tính của tâm và đạt đến sự an định
trong đó.
Chớ
lầm lẫn những chữ-lời cho là ư nghĩa
của các lời chỉ dạy. Hăy hoà lẫn sự
thực hành với thân tâm của ḿnh và đạt
đến sự giải thoát khỏi sanh tử ngay bây
giờ.
((
Chỉ cây gậy vào người già
Khi vị
đại Đạo sư Padmasambhava lưu lại
chỗ ẩn cư Núi Lớn ở Samye, th́ Sherab Gyalpo Ngog,
một ông già sáu mốt tuổi thất học, có niềm
tin tột độ và ngưỡng vọng mạnh mẽ
đối với Sư, hầu hạ Sư trong một
năm. Trong thời gian này, Ngog không hỏi xin một
lời dạy nào và Sư cũng không ban cho ông điều
ǵ. Sau một năm, khi Đại sư định
rời đi, ông Ngog dâng cúng một dĩa Mạn đà la
trên đó ông đặt một bông hoa và một
lượng vàng. Rồi ông nói: “Thưa Đại sư!
Xin từ bi nghĩ đến tôi. Trước hết, tôi
là một thất học. Thứ hai, trí thông minh của tôi
cạn hẹp. Thứ ba, tôi đă già, thân tâm đă ṃn
mỏi. Tôi cầu xin Ngài ban một giáo huấn cho một
ông già đă ở gần ngưỡng cửa của cái
chết, giáo huấn ấy thật dễ hiểu, có
thể chặt đứt mọi nghi lầm, dễ dàng
thực hiện và áp dụng, có một cái thấy hiệu
quả và sẽ giúp tôi trong những đời sắp
tới”.
Đại
sư chỉ cây gậy đi hành cước của ḿnh vào
tim ông lăo và ban cho lời dạy thế này: “Nghe đây,
hỡi ông lăo! Hăy nh́n vào cái tâm tỉnh giác của Giác Tánh nơi
ông. Nó không có h́nh tướng cũng không màu sắc, không
trung tâm cũng không biên bờ. Đầu tiên, nó không có
khởi thuỷ mà lại trống không. Tiếp theo, nó không
có chỗ trụ mà lại trống không. Cái Không này không do
nhân duyên ǵ tạo ra, trong sáng và thông tỏ. Khi ông thấy
cái này và nhận ra nó, ông biết được bản
lại diện mục của ông. Ông hiểu
được bản tánh của mọi sự vật.
Bờy giờ, ông thấy bản tánh của tâm, xác
định trạng thái căn bản của thực
tại và chặt đứt mọi nghi ngờ về
sự hiểu biết.
Tâm tỉnh
giác của tánh Giác không tạo tác từ bất kỳ
chất thể nào, nó tự tại và sẵn đủ
nơi ông. Cái này là bản tánh của mọi sự, nó
dễ chứng ngộ v́ không phải t́m ở đâu
khác. Cái này là bản tánh của tâm thức, nó không
cần nương dựa vào một chủ thể
nhận biết nào và một đối tượng
được nhận biết nào. Nó bất chấp
những giới hạn của vô thường và hủy
diệt. Trong nó không có cái ǵ để biết;
trạng thái tỉnh giác của Giác Ngộ chính là cái
biết của tự ông, nó vốn là tỉnh giác. Trong nó
không có cái ǵ để đi vào địa ngục, tánh Giác
vốn là thanh tịnh. Trong nó không có sự tu hành nào
để tiến hành, bản tánh nó vốn là thông tỏ.
Cái thấy quảng đại này về trạng thái
bản nhiên vốn thường trụ nơi ông: phải
biết rằng không thể t́m nó ở một nơi nào
khác.
Khi ông
hiểu biết cái thấy như vậy và muốn áp
dụng nó vào trong chứng nghiệm của ḿnh, bất
kỳ nơi đâu ông ở đều là cái thất
ẩn cư trên núi cho thân ông. Bất cứ h́nh
tướng bên ngoài nào ông thấy đều là như
như và bổn lai không tịch; hăy để cho nó tự
như, giải thoát khỏi mọi tạo tác của tâm
thức. Các h́nh tướng vốn tự do, không
vướng mắc ấy trở thành những
người giúp đỡ ông, và ông có thể tu hành khi
dùng những h́nh tượng ấy như là con
đường giải thoát.
Bên trong
bất cứ cái ǵ khởi lên trong tâm ông, bất kỳ
điều ǵ ông nghĩ, đều vô tự tánh và
trống không. Tư tưởng nào xảy tới
đều vốn là giải thoát v́ không có tự tánh. Khi
hiểu biết và chánh niệm bản chất của tâm
ḿnh, ông có thể dùng các niệm tưởng như là con
đường giải thoát và sự tu hành trở nên
dễ dàng.
Một
lời khuyên sâu xa: bất kể loại xúc động ǵ
ông cảm nhận, hăy nh́n vào mối xúc động và nó
biến mất không dấu vết. Xúc động như
thế vốn là tự do, giải thoát. Điều này
đơn giản để thực hành.
Khi ông có
thể thực hành theo như vậy, sự thiền
định của ông không giới hạn trong những
thời công phu. Biết rằng mọi sự, thứ ǵ
cũng là một người giúp đỡ, một
thiện tri thức, kinh nghiệm thiền định
của ông sẽ không biến đổi, tự tánh không
gián đoạn, và cư xử của ông không
vướng mắc. Dầu ở bất kỳ nơi
đâu, ông cũng không bao giờ ĺa khỏi tự tánh.
Một khi
ông thực hiện điều này, thân xác của ông có
thể già cỗi, nhưng tâm tỉnh giác ấy th́ không có
tuổi. Nó không hề biết đến sự phân
biệt trẻ già. Tự tánh siêu việt khỏi phân
biệt và thiên chấp. Khi ông nhận biết tánh Giác này,
sự tâm tỉnh thức này thường hằng diện
diện nơi chính ông, th́ không có một sự khác biệt
nào giữa lợi căn và độn căn. Khi ông
hiểu rằng tự tánh vốn thoát khỏi phân biệt
và thiên chấp, thường bằng hiện diện
nơi chính ông, th́ không có một khác biệt nào giữa
học nhiều và học ít. Dầu cho thân thể ông,
chỗ nương dựa của tâm thức có tan ră, th́
Pháp thân của trí tuệ tỉnh giác vẫn thường
trụ. Khi ông an trụ trong trạng thái không biến
đổi này, không có ǵ khác biệt giữa một
cuộc đời dài lâu hay ngắn ngủi.
Hỡi ông
lăo, hăy thực hành ư nghĩa chân thực! Hăy đem sự
thực hành vào tâm! Chớ lầm lẫn chữ và nghĩa!
Chớ xa ĺa bạn đạo, hăy cần mẫn! Hăy ôm
trọn mọi sự với chánh niệm tỉnh giác! Chớ
buông theo những cuộc nói chuyện nhàn rỗi và
những lời bàn luận suông! Chớ dấn ḿnh vào
những mục đích thường tục! Chớ bận
rộn lo toan về con cái! Chớ đ̣i hỏi thức
uống và đồ ăn! Hăy dự định để
chết như một người b́nh thường!(1).
Cuộc đời của ông đang hết dần,
thế nên hăy kiên tŕ tinh tấn! Hăy thực hành lời
chỉ dạy này cho một người già trên
ngưỡng cửa của cái chết!”.
Bởi v́
sự chỉ thẳng cây gậy vào tim của Sherab Gyalpo,
lời dạy này đựoc gọi là: “Sự khai thị
chỉ thẳng cây gậy vào ông lăo” Sherab Gyalpo Ngog đă
được giải thoát và đạt đến toàn
thiện.
Lời
dạy này được viết ra bởi công chúa họ
Kharche, v́ lợi lạc cho những thế hệ mai sau. Nó
được biết tên là “Lời dạy chỉ
thẳng cây gậy”.
[1]
((
lời khai thị bằng miệng về thực hành
Nammo guru deva dakini hung
Đại
sư Padmakara, người giữ ǵn cột trụ
đời sống của lời tất cả Chư
Phật, giúp đỡ dân chúng Tây Tạng đi vào cửa Pháp.
Dầu họ thích quy y Tam bảo, họ không biết làm sao
hướng tâm đến thực hành. Khi bất hạnh
như là bệnh tật xảy đến, họ nhút nhát
cầu viện đến bói toán, bùa phép và chiêm tinh. Bởi
thế, Padmakara ban cho họ lời dạy miệng về
thực hành. Các hành giả Tây Tạng của thời suy hoá
này, hăy ghi nhớ nó trong ḷng!
Để
làm cho sự thực hành tâm linh của con có ư nghĩa, hăy áp
dụng nó bất cứ lúc nào con cần một
phước thuốc. Nếu con có một kinh nghiệm kinh
khủng, hăy giữ Tam bảo trong tâm! Trong mọi hoạt
động của đời sống hằng ngày đi
đứng nằm ngồi, hăy nhớ thầy con ở trên
đỉnh đầu! Tách ĺa Bồ đề tâm là nguyên
nhân hư nát của căn cội Đại thừa.
Thế nên, chớ bao giờ ĺa khỏi sự khởi tâm
đặt vào giác ngộ.
Cảm thấy keo kiệt khi bố thí gây ra sự tái sanh
thành một ngạ quỷ, thế nên chớ lạc vào
sự bủn xỉn dù cho một vật nhỏ nhất!
Để cho khởi lên ham muốn khi giữ lời
nguyện trong sạch, gây ra sự tái sanh nơi địa
ngục thi thể thối rữa, thế nên chớ trau
dồi dục vọng xác thịt! Giận dữ khi
đang tu hành nhẫn nhục và Bồ đề tâm dẫn
đến kinh nghiệm hấp hối, bị đốt
trong ḷ nấu bên trong một thùng sắt, nên chớ bao
giờ ĺa vũ khí của nhẫn nhục!
Nếu con lọt vào sự lười biếng khi cố
gắng thành tựu giác ngộ không ǵ sánh, hăy nhớ trong
tâm rằng đời con đi mất không một
khoảnh khắc chần chờ. Thế nên, chớ sa vào
bẫy biếng nhác! Cuộc đời con trượt xa
như đêm tiếp theo ngày: chớ quên điều đó!
Khi theo
một thực hành tâm linh có chương tŕnh, quan trọng
nhất là hồi hướng công đức, tuân thủ
các điều luật sáu lần mỗi ngày và đêm.
Ngủ như một xác chết, th́ c̣n tệ hơn là
một con ḅ. Không tu hành Pháp sau khi có được một
người thân, th́ c̣n đáng ghê tởm hơn một
người cùi lở lói. Không sợ sự chín dần
của nghiệp trong khi biết nhận ra hành động
tốt và xấu, th́ cũng giống như một kể điên.
Hăy biết rằng một sự vi phạm nhỏ có
thể chín thành một trái núi khổ đau. Hăy nhớ
điều đó trong tâm!
Tối quan trọng là yêu mến ngay một hành động
đức hạnh nhỏ nhất, như đối
với trái tim ḿnh! Lờy đi cuộc đời của
người khác, th́ không khác ǵ giết cha mẹ hay con cái
của con! Cảm thấy ham muốn khi thấy
một người đàn bà gây ra sự tái sinh thành một
con vi trùng trong tử cung, thế nên hăy áp dụng
phương thuốc từ bỏ! Định lấy cái
thuộc về người khác mà không được cho,
làm cho con sinh ra nghèo nàn và thiếu thốn nhiều kiếp.
Hăy ư thức đến sự khốn khổ khi dấn
thân vào việc nông trại chăn nuôi, và người làm
công trong cuộc đời này!
Không phải nản chí khi nghĩ rằng: “Làm sao
một người có nghiệp như tôi, có thể
thực hành Pháp?” Ngay cả Phật Thích Ca cao cả cũng
có khi là Nanagje, con của một người thợ
gốm. Chớ cảm thấy kiêu hănh tự phụ về
vài đức hạnh bề ngoài con đă có. Tất cả
Chư Phật đều không tự phụ, dầu cho
sự biết khắp và các phẩm chất của các
vị vượt quá sự đo lường!
Khi gặp bất hạnh, nếu không đặt ḷng tin vào
Tam bảo, mà lại cầu viện đến các nghi
thức bùa chú và nương nhờ vào các hồn linh
thế tục, đó là dấu hiệu rằng con đă
khởi sanh tà kiến về giáo lư Đại thừa.
Chớ lúng túng với lời dạy của Đức
Phật!
Bất cứ lúc nào con đau khổ v́ bất hạnh
hay bịnh hoạn, hăy nghĩ: “Điều này trả
lại món nợ nghiệp từ các đời
trước và tịnh hoá nghiệp xấu của ta!”.
Bất cứ hạnh phúc nào con có, hăy nh́n nó như ḷng
tốt của Tam bảo và khởi lên sự khát khao
mạnh mẽ của ḷng biết ơn sùng tín! Khi gặp
kẻ thù ghét ḿnh, hăy nghĩ: “Đây là một thiện tri
thức giúp đỡ ta trau dồi nhẫn nhục”. Hăy
nghĩ: “Người giúp đỡ cho nhẫn nhục này
là sứ giả được các bậc Điều
ngự gởi đến”.
Khi các bạn bè và thân thuộc bày tỏ t́nh cảm
thương yêu, họ là những sợi dây trói của sanh
tử. Hăy nghĩ rằng: “Các sự trói buộc này là các
chướng ngại, mà Ma gởi đến để
ngăn cản tôi thành tựu giác ngộ không ǵ sánh!”.
Cũng nghĩ: “Tất cả chúng sanh của ba cơi là cha
mẹ tôi. Đáng thương thay cho cha mẹ đang lang
thang trong sanh tử! Nhưng thương hại th́ không
đủ: với bốn tâm vô lượng và phương
tiện khác, tôi phải dẫn dắt họ ra khỏi sanh
tử cho đến khi sanh tử bị trống không!”. Hăy
giữ điều ấy trong tâm!
Không kể sự hưởng thụ và giải trí nào con
gặp trong đời này, hăy nghĩ: “Đây là sự
quyến rũ của Ma để ngăn chặn tôi
đặt đến giác ngộ không ǵ sánh. Ma này c̣n
đáng sợ hơn cả rắn độc!” Hăy giữ
điều ấy trong tâm! Dầu con có thể có những
điều kiện tuyệt hảo trong cuộc
đời này, chúng đều thoáng qua, vô ích và chốc lát.
Hăy nhớ điều đó!
Bất cứ sở đắc ǵ con có trong thế giới
này đều chỉ vụt qua, và sẽ hành hạ con
với sự quấy nhiễu hư vọng! Hăy nhớ
điều đó! Hăy nỗ lực xa ĺa sự hư
vọng này. Chắc chắn rằng con phải ra đi,
bỏ lại đằng sau quốc gia, các vật đáng ưa
và của cải của con. Không có ǵ ngoài Pháp có thể giúp
con lúc đó! Hăy giữ điều này trong tâm!(1).
Bây giờ, con phải t́m ra một người bạn
đồng hành tốt cho giờ ra đi. Điều này
tối quan trọng! Hăy nhớ lấy! Cũng như
với sự đồng hành cần yếu trong
đời này, giữ mối liên hệ với bất
cứ ai, bất cứ thứ ǵ trợ giúp con đạt
đến giác ngộ. Hăy nhớ điều ấy! Khi con
gặp bất hạnh, hăy hiểu rằng nó là
người thầy khuyến khích con trên đường
đức hạnh và vị thầy ấy tốt làm sao!
Hăy giữ điều này trong tâm!
Khi thân thể con gặp bịnh nặng, hăy nghĩ:
“Đây là một cây roi để điều khiển tôi
tiến lên trên đường giác ngộ. Đây là chỗ
nương nhờ dẫn tôi đi trên đường”.
Thân thể tạm thời này đến lúc nào đó sẽ
bị để lại như một xác chết tầm
thường. Không có cách nào tránh điều đó! Khi bám vào
hỗn hợp của thịt và máu này như là tự ngă,
hăy nghĩ rằng: “Đây là một con ma xấu xa vào
trong ḷng tôi”. Không lơi lỏng, hăy làm bất cứ
điều ǵ con có thể để trục xuất con ma
xấu xa đó. Các kinh nghiệm của cuộc đời
này đều không có tự tánh, như mộng như
ảo. Hăy giữ điều ấy trong tâm!
[1]
Con và
tất cả các người khác đều bị mê
lầm do không nhận ra cái vốn không có tự tánh. Sự
mê lầm này phải được hoàn trả lại
tức thời vào Pháp tánh. Hăy giữ trong tâm điều
ấy! Chớ làm điều ǵ sẽ đưa con đi
lang thang không ngừng nghỉ trong sanh tử, và sẽ
chồng chất sự khổ đau không thể chịu
đựng. Hăy bỏ mọi hoạt động khác và
nỗ lực chỉ trong sự thực hành Pháp, nó sẽ
cho phép con thành tựu giác ngộ không ǵ sánh. Đây là
điều rất quan trọng! Cũng như đối
với sự thực hành Pháp, “đă thực hành” th́
chưa đủ. Con phải áp dụng các lời chỉ
dạy sâu xa một cách đúng đắn. Hăy nhớ điều
ấy!
Khi con thực hành đúng đắn theo đường
lối này, ḍng sanh tử sẽ chảy ngược
lại. Khi ḍng này chảy ngược trở lại, ḍng
của Đại lạc sẽ không ngừng. Hăy nhớ
điều đó! Những hành giả các thế hệ
tương lai sẽ không nghe theo lời chỉ dạy
của ta. Họ sẽ đặt niềm tin của
họ vào bói toán, bùa chú và sẽ thất vọng! Hăy nhớ
điều ấy!
Khi con cẩn thận nghe điều này và đem nó vào trong
thực hành, con sẽ chắc chắn tự động
nhận được sự ban phước. Khi con hoà
trộn ḷng từ vào trong tâm con, con sẽ được
mọi chúng sanh thương mến. Khi con đem tâm bi vào
ḷng, mỗi người sẽ yêu quư con như con
đẻ. Khi con giữ sự không thiên lệch trong tâm, con
sẽ thoát khỏi kẻ thù và thành kiến. Khi con làm
đầy tâm con bằng niềm vui thiện cảm, các
hoạt động của con sẽ hoà điệu với
mọi người.
Khi con vất đi tư tưởng làm hại
người khác, con sẽ ít gặp xung đột. Khi con
thuần hoá tâm ḿnh và rất quảng đại, nhiều
đệ tử sẽ tụ tập chung quanh con. Khi con
thanh toán ghen ghét và kiêu ngạo, con sẽ ít bị vu
khống. Khi con vất bỏ sự hoạt động
không ngừng và hối hả bận rộn, con sẽ có ít
lỗi hơn.
Khi tâm con xa ĺa khao khát, th́ thực phẩm thịnh
vượng và hưởng thụ sẽ tự
động đến với con. Khi con giữ nghiêm
giới luật một cách trong sạch trong tâm ḿnh, tâm con
trở nên mềm dẻo. Khi con không có bất kỳ tham
vọng hay ham muốn nào, các tích luỹ sẽ tự nhiên
hoàn thành. Khi con hiểu các đặc điểm của sanh
tử, tâm con sẽ ĺa xa các theo đuổi thế gian.
Khi tâm con
được tham dự vào lời dạy sâu xa về pháp
tánh và con áp dụng nó trong thực hành, con sẽ gặp
nhiều bất hạnh và trở ngại(1). Khi con giữ
sự liên hệ với một bậc thầy xuất
sắc, các đức tính của ngài sẽ tự
động ảnh hưởng đến con. Khi sự
sùng mộ của con với Tam bảo không ngừng
nghỉ, con sẽ nhanh chóng nhận được
những sự ban phước.
[1]
Khi con nghiên cứu và tư duy không thành kiến, con sẽ
kém phe phái với những giáo lư và những trường
phái triết học. Khi con thực hành giai đoạn phát
triển và giai đoạn thành tựu sâu xa, con sẽ có các
thần lực và ban phước. Khi h́nh tướng bên
ngoài của con phù hợp với các quy ước thế
gian, con sẽ ít gặp các lời phê b́nh.
Khi con buông bỏ sự trụ vào do gắn bó và bám
chấp, thân thể và tâm thức con sẽ được
thoải mái. Khi con sống trong các chỗ ẩn cư trên
núi, kinh nghiệm sẽ hiện lên. Khi con vất đi sự
yêu mến bản ngă và sự chấp chặt vào cái ta, con
sẽ không bị Ma chướng ngại. Khi tâm con nh́n vào
chính nó, Pháp tánh sẽ hiện lên từ bên trong.
Khi con thường trực nỗ lực trong thực hành,
các đức hạnh vô biên sẽ xuất hiện. Khi con
nhận ra bản tánh của tâm con sẽ được
giải thoát một cách tự nhiên khỏi mọi tạo
tác và cố gắng. Khi con thấu hiểu sanh tử và
Niết bàn là Pháp thân, con không cần đem cố gắng
vào trong sự thực hành thiền định. Khi sự
thực hành của con không lạc vào lười biếng,
con sẽ không cảm thấy hối tiếc vào lúc
chết.
Hỡi các người may mắn phước đức!
Hăy trộn lẫn tâm ḿnh với Pháp và cái hạnh phúc
của Phật tánh sẽ hiện ra bên trong con!
Lại nghe đây! Trừ phi con thuần hoá phiền năo, con
sẽ có các địch thủ và chống đối,
nhưng phiền năo và sự thuần hoá đều không có
điểm trụ. Thế nên, hăy để tâm con yên
lặng tự do.
Con có thể trợ giúp cho gia đ́nh và bè bạn, nhưng
vào lúc chết mọi hành động nào khác ngoài sự
thực hành Pháp đều sẽ vô ích. Thế nên, hăy
thường trực đắm ḿnh trong các thực hành tâm
linh trong tư tưởng lời nói và việc làm.
Con có thể theo đuổi danh tiếng và lợi lạc
thế gian, nhưng trừ phi con theo các lời dạy
của Phật, các hoạt động thế gian kia
chỉ sẽ là nguyên nhân ném con trở lại sanh tử
luân hồi thêm nữa. Thế nên, hăy gắn bó với
Phật pháp.
Lâu đài
của con bằng đất và đá có thể rất
đẹp, nhưng trừ phi con ở trong pháo đài
của cái bất động, con phải ra đi và bỏ
nó lại đằng sau. Thế nên, hăy giữ cái pháo
đài của cái bất động!
Con có thể góp nhặt sự sung túc và của cải,
nhưng chỉ có hai sự tích luỹ là có thể
hưởng thụ sau khi chết. Thế nên, hăy góp
nhặt hai sự tích luỹ càng nhiều càng tốt!
Con có thể ăn mọi loại thức ăn ngon lành,
nhưng trừ phi con gắn bó với cam lồ của
tự tánh, c̣n tất cả đều trở thành một
đống nhơ bẩn. Thế nên, hăy uống
nước cam lồ của các giáo huấn sâu xa!
Con có thể trân quư thân thể máu thịt này và bám chấp
vào nó như là chính con, nhưng v́ nó chỉ là sự vay
mượn từ các nguyên tố, nên trừ phi con đạt
được Pháp thân vô sanh, nó sẽ nhanh chóng
vuột mất. Thế nên, hăy trân quư và nắm chắc
lấy Pháp thân vô sanh!
Con có thể phổi kết với một nàn bạn t́nh,
nhưng trừ phi con phối kết với phương
tiện và trí huệ, con sẽ sớm cách ĺa họ.
Thế nên, hăy phối kết với phương tiện
và trí huệ!
Danh tiếng danh vọng của con có thể đầy
cả tỷ thế giới, nhưng trừ phi con nhận
biết bản tánh bất khả tư ngh́ của con, th́
tất cả các thứ đó chỉ là sự thử thách
của Ma quyến rũ con. Thế nên, hăy theo đuổi
bản tánh bất khả tư ngh́ ấy!
Con có thể có sức mạnh và quyền uy của một
nhà cai trị thế giới, nhưng trừ phi con có
được sự thống trị trên chính tâm con, th́ khi
cái chết đến con c̣n không có được một
chút quyền tự do. Thế nên, hăy có được sự
thống trị trên tâm ḿnh!
Con có thể có sự can trường của một
chiến sĩ mạnh mẽ, nhưng trừ phi con có được
sức mạnh thông tuệ và trí hệu phân biện, con
sẽ không chuyển được xu thế trong trận
chiến với sanh tử. Thế nên, hăy có được
sức mạnh thông tuệ của trí huệ phân biện!
Con có thể nói năng như Sư tử của Ngôn
ngữ “Văn Thù”, nhưng trừ phi con thấm thía
bản tánh bổn nhiên thanh tịnh của tánh Không vang
dội, không th́ ngôn ngữ kia chẳng thể ngăn
chặn được sự chín của nghiệp. Thế
nên, hăy thấm thía bản tánh bổn nhiên thanh tịnh
của tánh không vang dội.
Con có thể cỡi con ngựa giống không lanh nhất,
nhưng trừ phi con khám phá ra đại lạc ở trong
con, nó sẽ không đưa con thoát khỏi khổ đau
của sanh tử. Thế nên, hăy t́m kiếm bản tánh
của đại lạc!
Thân thể con có thể tráng lệ như một vị
trời, nhưng trừ phi con trang hoàng chính ḿnh với
các phẩm tính siêu việt của Phật tánh, nó cũng
chẳng quyến rũ nỗi thần chết. Thế nên,
hăy trang sức chính ḿnh với những đức tính siêu
việt của các bậc Điều ngự.
Trừ phi con t́m kiếm sự che chở từ thầy con
và Tam bảo, không có cái ǵ có thể cứu con khỏi
sự tấn công của phiền năo. Thế nên, hăy t́m
kiếm người che chở từ Guru và Tam bảo!
Trừ phi con thấu hiểu rằng tự tâm con là
Phật, c̣n không con sẽ bị đánh lừa bởi vô
số tư tưởng danh tướng. Thế nên, hăy
thấu hiểu rằng tự tâm con là Phật!
Tóm lại, những sự theo đuổi thế gian chúng
không phải là nguyên nhân cho giải thoát hay của toàn giác,
mà chỉ là phù phiếm mất th́ giờ, chỉ gây
thêm thống khổ trong sanh tử. Thế nên, cốt
yếu là con hăy nỗ lực tất cả tâm hồn và
trong tư tưởng, lời nói và hành vi, để hoàn
thành giác ngộ không ǵ sánh được!
Hăy nghe thêm một lần nữa! Lư do tại sao
người ta không xoay tâm họ khỏi các theo đuổi
thế gian, là v́ họ không hiểu nhân quả và các tính cách
của sanh tử luân hồi. Nguyên nhân của sanh
tử là không bỏ được sự bám trụ
nhị nguyên vào một tự ngă. Bởi v́ trong trạng
thái giác ngộ của tâm ta và các chúng sanh khác là một,
người phân biệt giữa cái ta và các khác ta là một
kẻ điên! Bởi v́ mỗi một chúng sanh của ba
cơi, lần lượt là cha mẹ thân yêu của con, cho nên
người nào thấy người khác là thù hay bạn là
điên!
Bởi v́ vào lúc này chúng ta phải tách ĺa sanh tử và
Niết bàn, nên người nào t́m thấy thời giờ
để hướng theo các sự theo đuổi thế
gian là kẻ điên! V́ cuộc đời này kéo dài chỉ
một lúc ngắn, như pḥng trọ của một du
khách, cho nên người nào bận rộn với sự xây
nhà xây cửa là một kẻ điên! V́ thân thể này
chứa đầy các chất bất tịnh và không
thể chịu nỗi sự xúc chạm ngay cả một
cây gai, cho nên người nào bám níu vào nó như tự ngă
của ḿnh là một kẻ điên!
Bởi v́ gia đ́nh và bè bạn đều vô thường,
qua đi, người nào hy vọng sống chung vĩnh
viễn là điên rồi! Bởi v́ con sẽ phải
trắng tay khi chết, người nào theo đuổi
thực phẩm và sung túc bằng mọi loại hành
nghiệp xấu xa là một kẻ điên! Bởi v́ các
h́nh tượng bên ngoài biến đổi và chết
đi, người nào mong mỏi những hưởng
thụ của nó kéo dài vĩnh viễn là điên rồi!
Bởi v́ đời con giảm dần như bóng mặt
trời lặn, người nào uể oải lười
biếng là một kẻ điên! Bởi v́ sự thực
hành Pháp đem lại hạnh phúc cho đời này và mai sau,
người nào quay lưng với nó và dấn thân vào
đời sống gia đ́nh là điên rồ! Bởi v́
chắc chắn người ta sẽ doạ vào các cơi
thấp do mắc phải các hành nghiệp xấu,
người nào không sợ sự trổ quả của
nghiệp là điên rồ!
Người nào không chịu nổi sự xúc chạm
của một đóm lửa vào lúc này, mà hy vọng có
thể chịu đựng ở các địa ngục nóng
là một kẻ điên rồ! Người nào không chịu
nổi một đêm đông lạnh, mà hy vọng có
thể trải qua các địa ngục lạnh là một
kẻ điên rồ! Người nào không chịu nổi
chỉ ba ngày nhịn đói và khát, mà hy vọng có thể
chịu đựng sự khốn khổ của ngạ
quỷ là điên rồ! Không thể chịu nổi sự
khó nhọc phải mang một món hàng dầu một lúc
ngắn, mà người ta hy vọng có thể chịu
đựng sự khốn khổ của một con vật
chở nặng là điên rồ!
Bởi v́ đây là lúc người ta cần những
lời khuyên tốt, người nào không nghe ngay một
vị thầy đang chỉ dạy là một kẻ
điên rồ! Bởi v́ đây là lúc người ta có
một ít tự do để chọn lựa, người
nào tự làm cho ḿnh thành nô lệ của lạc thú giác quan
là một kẻ điên rồ! Lơi lỏng thực hành
Pháp dầu chỉ một khoảnh khắc, người
nào hy vọng hưởng thụ hạnh phúc dồi dào
trong các đời sau là một kẻ điên rồ!
Cái chết là tài sản bẩm sinh khi con vừa sinh ra,
người nào thấy nhàn rỗi để sửa
soạn cho ngày mai, và không biết sự kề cận
của cái chết là điên rồ! Bây giờ con có sự
chọn lựa đi lên hay đi xuống, người nào
không dấn ḿnh vào thực hành Pháp đưa đến
giải thoát là kẻ điên rồ! Những hành nghiệp
sanh tử chỉ kết cuộc trong đau khổ,
người nào không từ bỏ sự đau khổ
tự tạo này là điên rồ! Bởi v́ con lang thang không
nghỉ trong sanh tử, người nào cứ duy tŕ sự
tự đánh lừa ḿnh là một kẻ điên rồ!
Khi thời đại băng hoại của kiếp này
đă tới, mọi người đều là
người tạ đánh lừa ḿnh, là cố vấn tồi
tệ cho ḿnh. Người tạo ra sự ngu si cho ḿnh, nói
đối với ḿnh và làm ḿnh thành ngu dại. Buồn thay
cho những người ấy, có một h́nh thức con
người, nhưng không có tri giác hơn một con ḅ!
Hăy nghe thêm một lần nữa! Người nào muốn
thực hành Pháp từ trong thâm tâm, hăy làm thế này: tuân theo
thầy của con và Tam bảo với một sự tin
tưởng sùng mộ liên tục như ḍng nước
chảy của một con sông! Chăm sóc cho các đệ
tử của con, các người phục vụ và mọi
chúng sanh khác với ḷng từ bi, thương mến như
bà mẹ chăm lo cho đứa con độc nhất
của ḿnh!
Hăy có được sức mạnh và khả năng, hăy
giải phóng những kẻ thù của Phật pháp: Hăy
mạnh mẽ như sấm sét! Chớ có biếng
lười, mà nỗ lực với các hoạt động
đạo đức trong tư tưởng, lời nói,
hành vi và cũng mạnh mẽ như một cô gái kiêu
căng mà mái tóc bị lửa cháy! Hăy ư thức về
tốt và xấu, với một sự chú tâm tinh tế
như bột lúa ḿ về nhân quả của các hành động
gây nghiệp, lánh xa nghiệp xấu như thuốc
độc!
Quyết tâm so sánh với công hạnh của tất cả
các vị Tổ cao cả và noi gương các bậc
Thánh(1). Lờy các vị Guru, Bổn tôn, Dakini và Hộ
pháp như là những người làm chứng cho các lời
nguyện của con, và tuân thủ những lời
nguyện ấy một cách cẩn thận, với
thiện ư! Dùng chính con như tiêu chuẩn so sánh của
nhẫn nhục và chớ làm tổn hại người
khác!
[1]
Bất cứ điều ǵ con làm,
chớ bao giờ bắt đầu từ cái có tác ư, ư
đồ, mà hăy hướng tư tưởng, lời nói
hành vi về Pháp! Chớ phê b́nh người khác; mà
ngược lại, hăy phơi bày lỗi lầm của con
trước thế giới! Hăy giúp đỡ người
có ḷng tin đi vào Pháp, trong bất cứ đường
lối nào thích hợp nhờ chỉ dạy ư nghĩa
khế cơ hay chân thực.
Mọi
loại vô thường, như cái chết hay sự chia ly,
là các thông điệp cho con, nên hăy lưu ư! Chớ bận
rộn với nhiều hoạt động phóng tâm, mà hăy
thư giăn thân tâm của con! Thực hành bằng cách áp
dụng các giáo huấn sâu xa vào trạng thái tâm của chính
con!
Bất
kể thiếu thốn cơ cực thế nào, chớ
bị lừa bịp bằng cách t́m kiếm thức ăn
và sung túc! Khi tâm con tràn đầy sợ hăi, chớ thù
nghịch ngăn chặn các hồn ma! Ngay v́ một
quốc gia, chớ có làm tổn hại chúng sanh khác!
V́ thời
gian cái chết là bất định, hăy nắm bắt cho
chắc bản tánh của tâm! Hăy t́m kiếm một vị
thầy có thẩm quyền luôn luôn tôn kính Ngài trên
đỉnh đầu của con, và phát triển sự khao
khát đức tin và sùng mộ!
Bởi v́
con không biết cái ǵ là cần thiết trong đời này,
hăy nghiên cứu mọi chủ đề của kiến
thức(1) [1]! Bất cứ cái học nào con sở
đắc, sự kiêu căng sẽ cho con quỷ gây tai
hoạ một chỗ đặt chân, thế nên hăy khiêm
hạ!
Luôn luôn duy
tŕ những chỗ ở trong núi hẻo lánh, bởi v́ cô
tịch là suối nguồn của hạnh phúc! Chớ
sống đời sống của một gia chủ
xấu xa, v́ điều đó gây ra khổ đau cho
đời này và các đời sau! V́ đồng bạn
ảnh hưởng lên hành vi hằng ngày của con, hăy
sống chung với người hoà hợp với Pháp!
Cho
đến khi con đạt đến chứng ngộ qua
việc tu hành thiền định, chớ có khoác lác hay hành
động sơ suất. Vất xa thành kiến và
đầu óc phe nhánh, v́ chúng là những dây xích của sanh
tử! Chớ có đạo đức giả hay ngạo
mạn, v́ chúng bị những người có trí khinh bỉ
và coi thường.
Chớ
lưu lại giữa những người b́nh
thường; tính khí xấu sẽ tự nhiên lây nhiễm!
Chớ đặt niềm tin vào hiện tượng do
duyên sanh; cái ǵ cũng là h́nh tưởng ảo hoá! Hăy
có được sự xác tín vào tự tâm con; trạng thái
giác ngộ th́ không ở đâu khác!
Khi con
từ bỏ và nắm lấy các đường lối
nói ở trên, con sẽ hoằng dương giáo lư của
Phật Thích Ca.
Hăy nghe
một lần nữa! Nếu con muốn thực hành Pháp
từ trong thâm tâm con! Hăy đặt sự thực hành Pháp
của con, trên nền tảng tuân thủ các giới
luật vững chắc như đất! Hăy hoàn thiện
các Thừa và Kinh Giáo trong một cái thấy rộng răi
như không gian! Bằng cách phân biệt của chi tiết
rơ ràng như các sắc màu của một cầu vồng,
giữ mọi lời dạy trong tâm, rạch ṛi và không
lẫn lộn!
Hướng
dẫn những người có duyên với tŕnh tự
đúng đắn của các giáo lư, giống như lột
vỏ dần dần một cây chuối! Nuôi dưỡng
các đệ tử định mệnh và xứng đáng
với các giáo huấn khẩu truyền, từ ái như con
chăm sóc các hạt giống.
Hăy nhớ
sự hành thiền một cách rơ ràng và sống động
như hoa trong mùa thu! Như một người chữa
bệnh, lấy các lời dạy từ mọi
hướng áp dụng chúng bất cứ lúc nào cần
đến! Hăy điều độ, như khi nêm muối
vào thức ăn.
Cắt
đứt ngay sự bất hạnh, như một con trâu
Yak hoang dă hướng thẳng đến điểm cao
nhất của thung lũng. Khi con gặp phiền năo, hăy
tự bỏ chúng như ghét kẻ thù. Khi đối
cực của chúng là tánh Giác bổn nguyên đă sanh ra trong
con, hăy giữ ǵn nó trong ḍng sông của ḿnh cẩn thận
như với đôi mắt!
Khi quét
sạch tà kiến nghi ngờ qua học hỏi và tư duy,
hăy phụng sự một vị thầy với sự linh
hoạt của một con nai tơ. Liên quan đến
việc đời, hăy bướng bỉnh như một
con ḅ mộng già, không cho ai xỏ mũi dắt đi. Khi tu
hành bốn tâm vô lượng, hăy cân bằng chúng với
sự chịu đựng của một con cừu.
Nếu có
lúc dùng cái học của con qua tranh luận, hăy cắt
đứt bằng trí hệu vô ngại như lưỡi
kiếm của một chiến sĩ. Khi t́m kiếm
nghĩa qua tư duy, hăy thuần hoá hôn trầm và lay
động như thuần hoá một con ngựa giống
hoang dă. Khi hấp thụ kinh nghiệm vào trong chính con, hăy
vất xa mọi sự chạy theo thế gian, giống
như một người sang trọng đụng phải
bệnh cùi!
Tóm tắt,
để nhanh chóng chừngs ngộ và hoàn thành giác ngộ
Vô thượng, cần yếu phải tự quan sát ḿnh
trong mọi t́nh huống và kiểm soát ḿnh theo nhân quả, cẩn
thận như một cô dâu mới cưới.
Lại nghe
đây! Một tâm trạng b́nh tĩnh và một lối
ăn nói dễ thương là cần thiết để
khuyến trợ cho sự nảy sanh tâm từ trong con.
Sự ham hiểu biết và một tâm linh hoạt cho con
dễ dàng cảm được đức tin. Một
cảm giác tự trọng và khiêm tốn, cho con đức
tính kiên tŕ trong thực hành Pháp.
Gặp
bất hạnh và khổ đau, cho con đức tính
hướng sự quan tâm về Pháp. Chân thật và
đáng tin cậy, cho con đức tính có thể chịu
đựng sự khó khăn. Tính kiên tŕ và t́nh thương
sâu xa, làm phát sanh đức tính thật sự có thể
phụng sự cho thầy ḿnh.
Không thích
lợi danh, cho con đức tính không phe phái trong Phật
pháp. Không quan tâm việc đời, cho con đức tính có
khả năng lớn hơn để hộ tŕ Chánh Pháp.
Giữ đúng theo lời nói, cho con đức tính hoà
hợp được với pháp.
Cương
quyết và bền bỉm cho con đức tính xuất
sắc hơn trong khi thực hành Pháp. Giữ một
gương mặt tươi cười và thái độ
dễ mến, cho con đức tính Samaya thanh tịnh
với các bạn đạo của con. Không trụ
trước và tự nhiên suốt các hoạt động
hằng ngày, cho con đức tính cắt đứt ngay suy
nghĩ ư niệm.
Mặt khác,
các tính cách này có thể trở thành khuyết điểm
nếu người ta bị chúng áp đảo, như
thế này:
Người
ta với một tâm thái b́nh tĩnh và một lối ăn
nói dễ thương có nguy cơ làm mồi cho các lỗi
lầm là giả vờ và không chân thật. Người ham
hiểu biết với tâm linh hoạt có lỗi là dễ
dàng từ bỏ sự thực hành Pháp. Người có
cảm giác tự trọng và khiêm tốn có lỗi lầm
là không bỏ lại các chuyện thế gian phía sau.
Người
kinh nghiệm nhiều khổ đau và bất hạnh có
nguy cơ là không t́m ra thời gian rảnh để
thực hành Pháp. Người chân thật và đáng tin
cậy có nguy cơ là rơi vào lỗi không hiểu
được Pháp. Người kiên tŕ và t́nh thương
sâu đậm đối với các người thân thuộc
có lỗi lầm là không cắt được các trói
buộc của công việc thế gian.
Người
chán lợi danh có thể rơi vào bẫy không áp dụng
đối trị trong thực hành Pháp. Người không
màng việc đời có thể rơi vào việc không
tiến đến cùng cực của thực hành Pháp.
Người giữ đúng theo lời nói có nguy cơ
rơi vào lỗi lầm các lời nói cứng cỏi
dẫn đến biện luận và căi cọ.
Người
cương quyết và bền bỉ có nguy cơ khó bỏ
được các ư định sai lầm. Người
giữ bộ mặt tươi cười và thái
độ dễ mến có nguy cơ đạo đức
giả và lăng mạn. Người không trụ trước
và tự nhiên không nỗ lực trong các hoạt động
về Pháp, có nguy cơ là rơi vào lỗi lầm xem
thường nghiệp quả.
Tất
cả các con muốn đi vào cửa Pháp: nếu con vất
bỏ mọi lỗi lầm và nỗ lực có
được mọi đức hạnh, con sẽ hoàn
thành giác ngộ Vô Thượng không khó khăn. Thế nên,
hăy giữ điều này trong tâm!
Hăy nghe
một lần nữa! Có nhiều người không hoà
hợp được với Pháp dầu họ đă vào
cửa, bởi thế con phải chắc chắn rằng
điều ấy không xảy ra cho con!
Con có
thể đă thọ giới, nhưng không là một
người thực hành Pháp, nếu các phương
tiện sinh sống và sở hữu cũng giống như
một người chủ gia đ́nh.
Con có
thể bỏ đi các hoạt động thế gian,
nhưng con không phải là một hành giả của Pháp,
nếu con không từ bỏ các chuyện bàn luận nhàn
rỗi vô ích.
Con có
thể ở nơi ẩn cư, nhưng con không là một
hành giả của Pháp, nếu các hoạt động
của con cũng giống như một người
thế tục.
Con có
thể bỏ quê nhà lại đằng sau, nhưng con không
là một hành giả của Pháp, nếu con không cắt
đứt các mối trói buộc với người
thế gian.
Con có
thể kiên tŕ trong thực hành, nhưng con không phải là
một hành giả của Pháp, nếu tâm con không rời
khỏi ham muốn.
Con có
thể chịu đựng nhiều thứ khó nhọc,
nhưng con không là một hành giả của Pháp, nếu con
không thể mang lấy sự bị tổn thương do
người khác đem lại.
Con có
thể thực hành các giai đoạn phát triển và thành
tựu, nhưng con không là một hành giả của Pháp,
nếu con hy vọng dời bỏ chướng ngại
bằng bói toán và bùa phép.
Con có
thể tu hành cái vô nhị, nhưng con không phải là
một hành giả của Pháp, nếu con hy vọng vào
sự giúp đỡ từ chư Thiên và sợ hăi sự
làm hại từ ma quỷ.
Con có
thể đă vào con đường Đại thừa,
nhưng con không là một hành giả của Pháp, nếu con
không cố gắng làm lợi lạc cho chúng sanh.
Con có
thể hoạt động cho sự lợi lạc cho chúng
sanh, nhưng con không phải là một hành giả của
Pháp, nếu những mục tiêu sâu xa nhất của con
không có Bồ đề tâm bao bọc.
Con có
thể đă hiểu được cái thấy, nhưng
con không là một hành giả của Pháp, nếu con không chú ư
đến sự chín thành của nghiệp.
Con có
thể hiểu chín Thừa thứ bậc, con không là
một hành giả của Pháp, nếu con không hoà nhập tâm
con với Pháp.
Con có
thể thực hành nhất tâm trong mọi lúc, nhưng con
không là một hành giả của Pháp, nếu con không huỷ
diệt được sự trụ vào h́nh tướng
như là có thật.
Con có
thể có ba sự tu hành “Giới, Định, Huệ”,
nhưng con không là một hành giả của Pháp, nếu con
bị phát động bởi ḷng kiêu mạn tham lam.
Trong bất
cứ hoạt động tâm linh nào cón dấn thân, nếu
con không bao trùm nó với cái tuyệt hảo có ba phầm là
sửa soạn, phần chính và kết thúc, con không phải
là một hành giả của Pháp.
Con có
thể tự nhiên trong các sinh hoạt hằng ngày của
tư tưởng, lời nói và hành vi, nhưng con không là
một hành giả của Pháp, nếu con lạc vào các
phiền năo b́nh thường. Người nào vất bỏ
các thực hành cho thành tựu vào bây giờ, và rồi phát
nguyện cho sự thành tựu trong tương lai không
phải là hành giả.
Con không
phải là một hành giả, nếu con mong mỏi
đạt đến quả trong tương lai mà không
nhận biết khuôn mặt bổn nhiên của tâm con. Con có
thể tạo ra các thiện nghiệp, nhưng con không là
một hành giả của Pháp, nếu con không ĺa bỏ tám
mối quan tâm thuộc thế gian.
Hỡi các
người của tương lai, tám mối quan tâm
của thế gian này là các ma quỷ táo bạo sống trong
mỗi người, dầu cao hay thấp. Tám cái này là vui
mừng khi được khen và không vui khi bị trách
mắng; vui mừng khi có tiếng thơm và buồn bă khi có
tiếng xấu; vui mừng khi có sự vui thích, buồn bă
khi không như ư; và vui mừng trong được và
buồn bă trong mấtt.
Con phải
tự xem xét cẩn thận để thấy mọi
thiện căn con đă tạo ra trong quá khứ qua tư
tưởng lời nói, và hành vi có hay không bị ảnh
hưởng của tám thứ này. Trong những hành vi
hiện tại con có chúng hay không, và con hoạch định
các hành vi trong tương lai, có bị chúng len lỏi
vào hay không. Cốt yếu là đừng để cho chúng
tham dự vào!
Hỡi
tất cả những người mai sau nào đă theo Padma,
bất kỳ Pháp nào con dấn thân vào, hăy thực hành
một con đường không lỗi lầm, để
nhanh chóng đạt đến giác ngộ và Phật
tánh! Hăy thực hành nghĩa rộng răi và sâu xa! Hăy
thực hành khi có được tất cả các giáo lư
của bậc giác ngộ chân thật và viên măn!
Hăy thực
hành khi có được nghĩa của chín Thừa thứ
lớp, theo cách sự hoàn thiện đi lên, trong tâm của
chỉ một người! (1). Hăy thực hành bất
cứ mục tiêu hay hành vi nào bằng cách nhận biết
rằng không có ǵ là đă hoàn tất!
Hăy thực
hành trong trạng thái trong đó mọi hiện tượng
của sanh tử và Niết bàn đều là Nhất Chân
Pháp Giới của Pháp thân! Hăy thực hành đặc
biệt phù hợp với các lời dạy này của Ta!
Hăy thực hành không nghi ngờ hay do dự liên quan
đến quả của giác ngộ!
Đây là
lời khuyên bảo bằng miệng về hạnh ban cho
Tăng chúng Tây Tạng, và bất cứ ai muốn thực
hành Phật pháp, Samaya.
Mong rằng
lời này sẽ gặp người xứng đáng có
duyên!
Viên ngọc như ư của sự hồi hướng
Nama guru deva
dakini hung
Bây giờ,
Ta giải thích Kho Tàng Như ư, Các Viên Ngọc Quư,
Phương
pháp hồi hương các thiện căn nhiều vô
số,
Bất
cứ công đức nào con đă tích luỹ, sẽ tích
luỹ hay công đức con đang hoan hỷ.
Lành thay, hoan
hỷ quyết định hồi hướng các thiện
căn tạo ra cho lợi lạc của một
người hướng về trạng thái vô
thượng của giác ngộ! Để cho điều
này được hoàn thành, quan trọng là có ba yếu
tố: công đức được hồi hướng,
người nhận, và ư tưởng hồi
hướng.[1]
Đối
với người thực hành Mật thừa,
người Thầy được xem là ruộng công
đức thanh tịnh như Shri Guhyasamaia nói:
Lúc bắt
đầu của bất kỳ dâng cúng nào,
Để
qua một bên mọi sự dâng cúng khác
Và bắt
đầu sự dâng cúng đến Thầy con,
Bởi v́
làm vui ḷng Ngài con sẽ đạt đến thành tựu.
Trạng
thái cao cả của toàn giác.
Theo các Kinh:
Tăng Già là phước điền thanh tịnh. Như
Kinh Tăng Trưởng Công Đức nói:
Là lho tàng
của mọi giáo lư
Và
người mở ra mọi cánh cửa,
Những
vị thành viên của Tăng Đoàn
Là Tăng
Già được mọi người cúng dường.
Trong ư
nghĩa tổng quát,
Tam bảo
được chấp nhận là phước điền
thanh tịnh.
Không có
bậc Thầy nào như Phật
Không có
sự bảo vệ nào như Pháp
Không có
ruộng nào như Tăng
Như
thế tôi dâng cúng cho Tam bảo!
Một Kinh
nói: “Các người theo các Thừa thấp xem cánh
đồng cao quư là tối tượng. Ví dụ, khi con
gieo giống-nhân trong một cánh đồng tuyệt
hảo, và cẩn thận nuôi dưỡng chúng bằng bón
phân, băm nhỏ đất... Bờy giờ, ngũ
cốc-quả-sẽ dồi dào. Cũng như thế, quả
sẽ nhân thêm nhiều lần nếu cánh đồng
của phước đức được thanh
tịnh”.
Các
người theo Đại Thừa nh́n các người
nhận thấp kém là quan trọng hơn và nâng đỡ
những người tàn tật, bị khước từ
và không bè bạn. Một đoạn kinh nói:
Những
người tuyệt vọng và cô đơn
Người
bịnh hoạn và tàn tật,
Người
già, ốm yếu, giác quan hư hỏng.
Người
nghèo khó, người đói cơm và người xin ăn
Bồ Tát
phải nâng đỡ những người không ai che
chở đó.
Với
những người nhận thanh tịnh này, hoặc cao
hay thấp, đồ vật chúng ta dâng là thực sự có
mặt hay tạo ra bằng tâm thức trong trường
hợp người nhận là cao hơn.
Với mây
cúng không v́ sánh của Phổ Hiền,
Thực có
và tâm thức tạo ra,
Bao la và tràn
đầy trong không gian thanh tịnh
Con cúng
dường Ngài với một đại dương dâng
cúng bên ngoài, bên trong và bí mật(1).
Có dạy
rằng người ta phải bố trí những món
cần thiết chúng không bị nhiễm ô bởi tà
hạnh, tà mạng, cho những người nhận
bậc thấp bằng sự cúng dường bốn
thứ, như kinh nói:
Không
phải là phẩm vật từ trộm cướp
hoặc của Thường trụ,
Không
phải là vật có hại,
Mà là thứ
quư giá và vui thích,
Và tốt
nhất là thứ cần đến.
Hơn
nữa, có nói rằng:
Giúp
đỡ người nghèo và tàn tật
Với
bốn loại cúng đường,
Thực
phẩm dự trữ và thứ đẹp mắt
Nhưng
không phải là đồ vật có lẫn tà hạnh hay vơ
khí,
Cũng không
là thức ăn nhiễm độc bởi sự kiếm
được bất tịnh.
Tự thúc
đẩy con trong lối này, với một thái độ
thanh tịnh đối với phước điền
thanh tịnh. Làm phát sanh niềm tin vào các người ở
trên, ḷng bi với các người ở dưới và tâm
thức giác của giác ngộ. Có nói rằng:
Thúc
đẩy bằng niềm tin và ḷng thương xót,
Cúng
dường cho người khác với thái độ giác
ngộ.
Hướng
dẫn bởi hồi hương và thiện nguyện,
Và niệm
bằng cách không ư niệm hoá ba luân(1).
Cũng có
nói:
Khi có
một thái độ thanh tịnh,
Đối
với mọi vật thanh tịnh,
Hăy cúng
dường vật tốt nhất.
Khi con
hồi hướng chúng về trạng thái của thừa
tối thượng,
Và đóng
dấu bằng cách không ư niệm hoá ba luân,
Sự
hồi hướng này là siêu tuyệt nhất.
Theo cách này,
sự tích luỹ công đức được tạo ra
do đối tượng liên hệ, phẩm vật, và thái
độ hồi hướng. Bây giờ, những công
đức này được hồi hướng
đến cái ǵ? Và chúng được hồi hướng
cho nguyên nhân hay cứu cánh nào?
[1]
Trích dẫn Đại Mộu Bát Nhă Ba La Mật: Bồ Tát
hồi hướng mọi công đức hay thiện
căn về trạng thái toàn giác viên măn, và không phải
về trạng thái Thanh văn hay Bích Chi Phật.
Như
thế, hồi hướng đến nguyên nhân cho sự
đắc quả toàn giác, trạng thái Phật tánh biết
tất cả.
Padmavajra nói về các loại đạo sư hồi
hướng:
Những
vị thấu rơ trạng thái bổn nhiên của cái
thấy,
Là đệ
tử trong Đại định
Sở
hữu tâm giác ngộ và Đại bi
Và mọi
dấu hiệu của bậc siêu xuất
Các thiện
tri thức cao cao cả như vậy
Là những
bậc thầy siêu việt để hồi hướng
công đức...
Tốt
nhất là khi đă gặp một vị Thầy như
thế; nếu không, có nói rằng:
Với
người nào có đức tin và quyết tâm tối
thượng
Phật
sẽ hiện diện như thể một người
Và vào
đúng thời gian, như khi trăng non, trăng tṛn và ngày
mùng tám,
Hăy hồi
hướng thiện căn trong sự hiện diện
của Tam bảo.
Cũng có
thể hồi hướng trước bàn thờ Tam
bảo.
Tiếp
theo, sự hồi hướng được làm cho ai?
Chớ hồi hướng cho một người nhất
định, mà cho tất cả chúng sanh mà đầu
hết là những người đại loại(1).
Như có
nói:
Trực
tiếp và cũng gián tiếp
Chỉ làm
v́ lợi ích của chúng sanh
Cho tất
cả hữu t́nh
Con phải
hồi hướng mọi công đức cho sự giác
ngộ của họ.
Với
một người c̣n sống, chỉ đơn giản
dùng tên;
Với
người đă chết, hăy dùng “đại loại”.
[1]
Khi hồi hướng cho tất cả chúng sanh mà
đầu hết là một người cụ thể, hăy
chỉ cho người ấy bằng cách nói rằng:
“Giữ cho thân tâm bạn thành kính, chấp tay lại và
tưởng tượng rằng trong bầu trời
trước mặt bạn, vị Thầy chính của
bạn đang ngồi, là bậc Điều ngự
siêu việt, bậc chiến thắng, Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, trang nghiêm với các tướng chính và
phụ, bao quanh bởi tất cả Chư Phật và
Bồ Tát của mười phương, cũng như
bởi các Guru, Yidam, Dakini và các hộ Pháp. Cúng dường
thân bạn và sự thịnh vượng, quyền lực
và vinh
quang, và mọi thiện căn, nghĩ rằng: “Mong
tất cả chúng sanh mà đầu hết là những
người “đại loại như thế”
được đạt đến giác ngộ tối
thượng, chân thật và viên măn, con hồi hướng
mọi thiện căn có từ công đức và trí huệ
đă tích luỹ được và tất cả các thứ
khác từ vô thuỷ sanh tử”. Với một giọng tôn
kính, lập lại các hồi hướng.
Nếu
hồi hướng được làm cho một
người nào khác, th́ chữ “bạn” được thay
thế bằng “con”. Nếu có Tăng Chúng bốn vị
hiện diện, thỉnh cầu các vị thêm vào các
thiện nguyện của các vị. Vị Thầy phải
đích thân tập trung vào quyết định này, mà không
chao động khỏi lời nói và ư nghĩa của chúng:
“Chư
Phật và Bồ Tát trụ khắp mười
phương, xin chiếu cố đến... Các vị Guru
và hoá thần của Mạn đà la Bổn tôn, xin hăy
chiếu cố”.
“Các
thiện căn được tạo bởi vô thuỷ
sanh tử từ bố thí, tŕ giới, thiền
định vv.. mà ông bà X, Y đă tạo được,
bảo người khác tạo, và các thiện căn từ
phước đức và trí huệ do thân, khẩu, ư trong
đời này hay đời sau cũng như mọi Thánh
nhân đă thành tựu trong thần lực của chân lư
đă làm, tôi trọn vẹn hồi hướng chúng như
là nguyên nhân cho giác ngộ Vô thượng, chân thật và viên
măn để cho ông bà X, Y cũng như cho tất cả
chúng sanh.
Nếu
sự chứng ngộ của người được
hồi hướng th́ cao hơn của con hay nếu đó
là một Đại sư, hăy thỉnh cầu chứng giám
và đổi cứu cánh của hồi hướng và
nguyện vọng cho sự lợi lạc của tất
cả chúng sanh như sau: “Mong rằng mọi chúng sanh
đầu hết là... nhanh chóng đạt đến
trạng thái quư giá của giác ngộ tối thượng
chân thật và viên măn”.
Đọc
nó làm ba lần nói tiếp:
“Cho
đến khi hoàn thành mục tiêu của nguyện vọng,
trải qua mọi đời và kiếp tái sanh, mong rằng
rất cả chúng sanh đạt được mức
độ Trời hay Người trong các cơi cao, không bị
đứt đoạn bởi các tái sanh nào khác”.
Mong rằng
họ có mọi phẩm tính của một tái sanh cấp
cao gồm tính cách cao thượng nhất.
Mong rằng
họ gặp được thiện tri thức truyền
thừa ḍng phái của các bậc Thầy cao cả, và
được chấp nhận làm đệ tử.
Hoàn thành ba
lối làm đẹp ḷng(1), mong rằng họ hưởng
thụ sự thịnh vượng của các giáo lư không ǵ
sánh của Tối thượng thừa qua văn tư tu.
Qua sự có
được chỗ ở tốt, đồng bạn và
điều kiện tốt đẹp, mong rằng họ
rộng chuyển bánh xe Pháp sâu xa và thanh tĩnh của
Tối thượng thừa.
[1]
Qua hoạt
động Bi mẫn vô lượng cùng với từ ái vô
biên của tâm giác ngộ, mong rằng họ thành tựu
lợi lạc cho hữu t́nh một cách không cần cố
gắng và tự nhiên, giáo hoá mỗi người trong con
đường nào thích hợp.
Du hành trong
đại dương trùm khắp của các cơi Phật vô
biên, gồm những Mạn đà la của những Guru,
Yidam và Dakini, mong rằng họ được hộ tŕ
bởi sự thành tựu của công đức của
họ. Mong rằng họ đi vào trong tạng của
mọi tích luỹ này! Mong rằng họ đi theo dấu
chân của các Ngài! Mong rằng họ đồng
đẳng với Chư Phật trong chứng ngộ
Đại bi, công đức và hoạt động!
Trên con
đường thực hiện điều này, mong
rằng mọi yếu tố xấu xa và đối
nghịch như là khó khăn, chướng ngại, phóng
dật, lười biếng, tà hạnh và lỗi lần
đều lặng mất. Mong rằng họ có
được những hoàn cảnh tuyệt hảo và
dồi dào các phẩm tính an vui và hạnh phúc như:
Sống lâu, sức khoẻ, bề ngoài hấp dẫn,
niềm tin sâu sa, trí óc nhạy bén, đại bi, sinh lực
mạnh mẽ, thịnh vượng, vui vẻ bố thí,
các thệ nguyện Samaya thanh tịnh, giới luật hoàn
hảo vv...
Nếu
sự hồi hướng và nguyện vọng
được làm cho một người quá cố,
đến lúc này hăy cử hành lễ nghi tịnh
trừ chướng ám. Nếu nó để dành cho một
người sống, th́ nói một nguyện vọng thích
hợp nào khác, như sau đây:
Trong đời này mong rằng họ
được trường thọ, sức khoẻ
tốt, sung túc và tốt đẹp.
Mong rằng mọi bệnh tật và ảnh hưởng
xấu ác hạnh và che chướng, vi phạm lỗi
lầm và bất hạnh, các chướng ngại bên ngoài
và bên trong của chúng, mọi năng lực xấu và
bất hoà đều được yên tịnh!
Mong rằng họ an trụ trong Pháp với tư
tưởng, lời nói và hành vi, khi hân thưởng
những lời không tỳ vết của các bậc
Điều Ngự, mong rằng mọi ước mong
của họ được viên thành như họ đă có
viên ngọc như ư!
Vào lúc chết mong rằng họ không phải chịu
đựng sự đau khổ do sinh lực bị
đứt đoạn, mà mọi trạng thái ư niệm
của phiền năo đều lắng dịu, họ nhớ
lại vị Guru và Tam bảo một cách hoan hỷ và thích
thú.
Mong rằng họ hoàn toàn được che chở bởi
tâm trí huệ cùng với Đại bi của tất cả
các bậc Thánh, các vị là đối tượng tối
cao cho sự quy y.
Mong rằng họ hoàn toàn không phải chịu đựng
sự sợ hăi và khủng khiếp của trung ấm, mong
rằng mọi cánh cửa vào các cảnh giới thấp
đều được đóng lại.
Như là cái tối hậu, mong rằng họ sớm
đạt đến trạng thái quư giá của giác ngộ
vô thượng, chân thực và viên măn.
Với sự ban phước của ba thân giác ngộ
của Phật,
Với sự ban phước của chân lư bất biến
của pháp tánh,
[1]
Với sự ban phước của Guru, Yidam và Dakini,
Mong rằng sự hồi hướng của con
được thành tựu.
Mong rằng mọi mong muốn của con thành hiện
thực.
Nói vậy xong, chấm dứt bằng cách đóng dấu
ấn niêm phong với sự thanh tịnh ba luân của vô
niệm.
Có công đức vô biên khi niêm ấn với sự hồi
hướng quư giá trong cách này, và phát lên những lời
nguyện toàn hảo. Kinh Thỉnh Cỗu Bởi Trí Bất
Đoan nói:
Như một giọt nước rơi vào đại
dương
Sẽ không khô mất cho đến khi nào đại
dương khô cạn,
Cũng cách ấy, công đức hồi hướng
trọn vẹn đến giác ngộ
Sẽ không tan biến trước khi đạt
đến giác ngộ.
Kinh cũng nói rằng:
Trong sự hiện diện của Tam bảo,
Hoá thần, Thầy con hay tương tự,
Với niềm tin, gom góp các sự tích lũy và phát
những nguyện vọng rộng lớn như thế.
Công đức ấy không thể nghĩ bàn.
Đă gom góp các sự tích luỹ công đức và trí
huệ, các khuyết điểm của sự không niêm
dấu ấn với sự hồi hướng quư báu,
được diễn tả như là bốn nguyên nhân
của sự khô kiệt:
Sau khi tạo được một thiện căn,
Mà không hồi hướng, hồi hướng sai lầm,
Khoe khoang nó với người khác, hay cảm thấy
hối tiếc.
Đó là bốn nguyên nhân làm khô kiệt.
Bởi thế, cần yếu hồi hướng theo cách
sau: Tưởng tượng rằng những tia sáng
rực rỡ phóng ra từ trung tâm trái tim của Phật và
chạm đến thân, khẩu, ư của những chúng sanh
được hồi hướng cho tẩy sạch hoàn
toàn các ác nghiệp, che ám tội lỗi của họ.
Họ trở thành những khối cầu ánh sáng, chúng tan
vào trung tâm trái tim của Phật. Phật và Thánh chúng tan
biến vào hư không nền tảng, như một cầu
vồng tan giữa bầu trời. ấn niêm như
thế, bằng cách không ư niệm hoá ba luân, trở thành
sự hồi hướng chân thật và tối
thượng. Như Đức Di Lặc đă nói:
Sự hồi hướng phi thường, tṛn đủ
Cái cao trổi nhất để cử hành
Là thái độ tự do khỏi sự trụ vào danh
tướng,
Tức là không có vô minh.
Ngài nói thêm:
Hơn nữa, sự hồi hướng vô thượng
Là hiểu biết thấu triệt rằng không có bản
tính
thực
Trong công đức được tạo ra, trong quả
của nó
Trong người được hưởng hồi
hướng hay trong hành động hồi hướng
Bởi thế, hăy chôn cất mọi công đức
được tạo ra cho một định
hướng đặc biệt như một mỏ kho tàng
vô tận, và hoàn thành nó bằng cách ấn niêm nó với
sự hồi hướng của Đại thừa.
Rồi hăy tôn kính khi tuỳ hỷ niềm vui và sự
biết ơn trong ḷng.
Đây là con đường được dạy. Samaya.
Nói một cách căn bản, khi muốn làm một sự
hồi hướng, có ba điểm tổng quát: Sự
hồi hướng bảo vệ toàn vẹn món quà công
đức của người trao cho. Sự hồi
hướng sau một thực hành đặc biệt
của Mật thừa, hay sau khi chuyển bánh xe Pháp thâm sâu.
Sự hồi hướng hoàn thành sự tích luỹ công
đức ở trong hư không nền tảng của tánh
Giác Bổn nguyên.
Cái thứ nhất xảy ra tức thời sau khi
người trao cho ban tặng vật phẩm, hay ngay sau khi
tuỳ hỷ nó. Hăy lập lại ba lần lời
nguyện sau, hay một lời nguyện khác thích hợp:
Đảnh lễ tất cả Chư Phật và Bồ Tát
mười phương, xin hăy chiếu cố đến
người hồi hướng này. Các Đạo Sư và
Tăng Chúng thanh tịnh, xin hăy chiếu cố!
Như thiện căn này biểu lộ,
Mong rằng bất cứ công đức nào người
trao cho tạo được trong suốt ba thời,
Được hồi hướng về sự tăng
trưởng rộng răi của quả vô tận.
Mong rằng giác ngộ vô thượng sẽ nhanh chóng
đạt được.
Cái thứ hay xảy ra vào lúc kết thúc của bất
cứ sự nghiên cứu, chỉ đạy và thiền
định bên ngoài hay bên trong nào, hay bất cứ cái nào
của mười hoạt động tâm linh. Hồi
hướng theo cách sau:
Đảnh lễ Chư Phật và Bồ Tát mười
phương, các Guru, Yidam, Dakini và hoá thần Mạn đà
la, cùng với những Hộ Pháp của các Ngài, xin hăy
chiếu cố đến con!
ở trong Đạo Mạn đà la bao la của Phổ
Hiền,
Mong rằng mọi thiện căn được tạo
ra trong suốt ba thời,
Bởi Guru cầm Kim cương và các vị khác,
Và bởi tất cả huynh, muội Kim cương,
Trong công việc chuyển Pháp luân rộng lớn,
Được hồi hướng đến sự
đạt đến Phật tánh toàn
măn.
Mong rằng ai ai ở bất cứ đâu, đều
đạt đến trạng thái Phổ Hiền.
Hồi hướng trong cách này và ở trong trạng thái
chân thật vô thượng của cái tối hậu.
Cái thứ ba xảy ra lúc kết thúc của bất cứ
cái ǵ con muốn hồi hướng và bất kỳ lúc nào
con hồi hướng, hay vào lúc chấm dứt của
bất cứ loại hoạt động nào. Hăy làm sự
hồi hướng này từ trong trạng thái của
“Đại ấn”.
Các bậc Điều Ngự và đệ tử trong
mười phương, xin hăy chiếu cố.
Mong rằng bất cứ công đức nào được
tạo ra bởi tư tưởng lời nói và hành vi.
Do chính con hay người khác trong tất cả chúng sanh.
Trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai,
Được hồi hướng về cơi giới vô biên
của giác ngộ
Mong rằng quả tối thượng của bản tánh
không ǵ sánh được đạt đến.
Lúc bắt đầu của bất kỳ loại hồi
hướng nào, hăy quán tưởng Tam bảo ở
trước mặt con như sự chứng giám.
Tưởng tượng rằng các vị chấp nhận
con với các lời hồi hướng và nguyện lành.
Tiếp theo, nói lên các lời hồi hướng trong khi
ấn niêm bằng vô niệm cái con đang hồi
hướng và các đối tượng của sự
hồi hướng, công đức và người tạo
của việc hồi hướng. Vào lúc cuối, an
trụ trong trạng thái siêu việt khỏi lời nói,
tư tưởng và diễn tả, trong nó mọi hiện
tượng của sanh tử và Niết bàn lúc ban
đầu không sanh khởi, ở chặng giữa không
dừng trụ và cuối cùng không diệt mất.
Samaya.
Các phương tiện thiện xảo này để
đưa thiện căn công đức đến chỗ
hoàn hảo, là các lời dạy truyền miệng về
hồi hướng có tên là “Viên Ngọc Như ư Của
Hồi Hướng”, được vị Vidyadhara
Padmasambhava ban cho. Tôi Tsogyal, viết lại chúng trong h́nh
thức ghi chú và cất giấu chúng như là kho tàng bí
mật Terma.
Nguyện rằng chúng gặp người xứng đáng
tiền định!
Dấu ấn cất giấu
Dấu ấn trao truyền.
Dấu ấn kho tàng.
Samaya. Dathim.
Sách này được khám phá từ động Lớn
ở Puri do tôi, Sangye Dorje (Sangye Lingpa), một tín đồ
khất thực của Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni.
( (
Một khuyến khích thực hành tâm
linh
Tạo ra từ công đức chúng sanh nói chung và dân Tây
Tạng nói riêng, hoá thân ảo huyễn của Văn Thù
Sư Lợi xuất hiện như Trisong Deutsen, Bồ Tát
và Pháp vương. Để thỉnh cầu xây dựng
ngôi chùa có tên là Samye, “Sự Hoàn Thành Tự Nhiên của các
Ước Nguyện Vô Biên” và với ư định
truyền bá Phật pháp vào Tây tạng. Vua mời
Bồ Tát Lotpon, và phát tâm Bồ đề để
biểu lộ sự cần yếu phải
được thúc đẩy bởi thái độ giác
ngộ của tâm Bồ đề. Để biểu
lộ sự chín muồi và giải thoát của tâm Bồ
đề, vua mời Padmasambhava, Đại Đạo
sư của Uddhiyana, để ban cho các truyền thọ
pháp lực, để đem “tiếp cận và thành
tựu” đến giới hạn của sự toàn
thiện. Để biểu lộ sự cần thiết
phải mở rộng và làm cho nó nở rộ, vua mời
pháp sư Vimalamitra đến để chuyển bánh xe Pháp
của các thừa nhân và thừa quả. Để biểu
lộ sự viên măn rốt ráo và thành tựu tự nhiên
của các giáo lư về thân, lời và tâm giác ngộ, nhà vua
xây dựng chùa Samye vinh quang và cử hành các buổi lễ
thụ phong. Như thế vua quảng bá Phật pháp ở
Tây Tạng; làm cho lời dạy và sự thực hành
của Giáo thừa và Mật thừa chiếu sáng như mặt
trời mọc.
Đặc biệt vị Vidyadhara vĩ đại có tên là
Padmasambhava, một lưu xuất nhiệm mầu của ba
thân đến Tây Tạng bởi thần lực của các
nguyện vọng Đại bi của Ngài. Trong thời gian
lâu ở lại đó, Padmasambhava đă ban cho đức
vua, các đệ tử chính khác và những người có
phước, vô số giáo huấn rộng răi và sâu xa cho
sự trưởng thành và giải thoát của tâm thức.
Trong nhiều lời dạy Ngài ban cho tôi, Tsogyal họ
Kharchen tôi chép lại ở đây một sưu tập
mọi lời dạy về ư nghĩa hữu ích như là
một khuyến khích đối với thực hành tâm linh.
Mahakarukina Sammatiah.
Đạo sư Padma nói: Tsogyal! Chúng ta phải thực hành một
giáo lư đem lại giải thoát khỏi sanh tử luân
hồi. Nếu chúng ta không làm được điều
đó, th́ sẽ cực kỳ khó khăn có được
một thân người với tự do và sung túc như
thế này.
Có một thân người như vầy khó khăn
đến thế nào? Nó cũng khó như t́m kiếm một
hạt đậu khi con ném nó thẳng vào bức
tường, như một con rùa ngóc đầu lồng vào
một khung gỗ nổi dật dờ trên biển cả,
như ném hạt cải qua một lỗ kim.
Lư do khó khăn ấy là sáu loài chúng sanh cũng giống
như một đống hạt. Các chúng sanh địa
ngục, ngạ quỷ và súc sanh giống như nửa
ở đáy, các loài một – nửa – chư thiền là
phần trên, chư thiên và loài người chỉ giống
như chóp đỉnh, so sánh với các loài chúng sanh khác,
hầu như không thể có một thân người. Tsogyal!
Hăy thử đếm số chúng sanh của sáu loài!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Dầu cho có khó
khăn ấy, con đă có được một thân
người qua phước đức quá khứ, nhưng
cũng c̣n khó khăn để thực hành Pháp thiêng liêng,
nếu như con không có đầy đủ giác quan,
như điếc đui hay câm. Nếu con tái sinh giữa
những người sơ khai hay hoang dă, cũng không có
cơ hội thực hành Pháp. Nếu con sinh ra trong một
gia đ́nh với tà kiến hư vô của ngoại
đạo cực đoan, con cũng sẽ không đi vào
giáo pháp của Phật.
Bây giờ, chúng ta được sinh ra trên Nam Thiệm
Bộ Châu, trong một đất nước văn minh
nơi đó có Phật pháp. Chúng ta đă đạt
được cái khó đạt là một thân người
quư giá và khi giác quan chúng ta c̣n toàn vẹn, chúng ta có thể
gặp các bậc thầy cao cả, có quyền chọn
lựa điều ǵ chúng ta muốn làm, có thể đi vào
Phật pháp, thực hành Pháp thiêng liêng, và công trú với
Tăng Chúng. Nếu vào lúc này chúng ta không áp dụng giáo lư
đưa đến giải thoát và giác ngộ, thân thể
quư báu này sẽ vô cùng lăng phí.
Chớ trở về trắng tay khi đă đến
đảo châu báu; chớ lần lữa trong sự đói
nghèo khi đă gặp kho tàng vô tận. Chúng ta phải
vượt qua đại dương khi chúng ta có thuyền
bè; chớ để cho chiếc thuyền thân người
này tuột mất!
Bây giờ là lúc để phân cách sanh tử khỏi
Niết bàn, hăy vui vẻ nỗ lực trong thực hành! Bây
giờ là điểm phân chia giữa hạnh phúc và khốn
khổ; chớ thu xếp cho tai hoạ của chính ḿnh! Bây
giờ là lúc khi những con đường đi lên và
đi xuống phân chia; chớ có nhảy vào vực thẳm
của các cơi thấp!
Bây giờ là lúc để chỉ ra sự khác biệt
giữa trí và ngu; chớ ấp úng hay nh́n sững! Bây
giờ là lúc để có được công đức;
chớ bận rộn và tiếp tục tay không! Bây giờ
là lúc để thấy ai là người vĩ đại
hay ngu ngốc; chớ t́m kiếm giác ngộ v́ lợi danh!
Bây giờ là lúc để thấy ai là người tốt
hoặc xấu; hăy vất bỏ các theo đuổi thế
gian! Thời điểm bây giờ được ví như
chỉ một bữa ăn trong một trăm ngày; chớ
làm như con có đầy đủ thời gian! Bây giờ
là lúc sự tai hại của một phút giây lười
biếng sẽ có hậu quả lâu dài; hăy vui vẻ nỗ
lực trong tu hành! Bây giờ là lúc chỉ một năm kiên
tŕ sẽ đem lại hạnh phúc cho mọi đời
sắp tới; hăy ở thường trực trong thực
hành Pháp!
Ta luôn thương xót cho những ai rời bỏ cuộc
đời này với hai bàn tay trắng!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Chúng ta không biết
khi nào cái thân người này, có được với bao
nhiêu khó khăn, sẽ chết ngày mai hay ngày kia. Thế nên,
chớ lo toan cho ḿnh như ḿnh sẽ sống măi măi! Chúng ta
không chắc khi nào thân xác mượn từ bốn
đại này sẽ ngă xuống. Thế nên, chớ quư báu
si mê nó!
Sanh ra không dẫn đến cái ǵ khác hơn là chết; hăy
tu hành trong bản tánh vô sanh như là định mệnh
của con! Gặp gỡ không dẫn đến cái ǵ khác
hơn là chia ĺa; hăy cắt đứt sự gắn bó vào
những người sống chung! Thu góp không dẫn
đến cái ǵ hơn là cạn kiệt; hăy rộng
lượng mà không bám níu! Xây dựng không dẫn
đến cái ǵ khác hơn là hoại diệt; hăy giữ các
chốn ẩn cư trong hang và núi!
Ham muốn và tham vọng không dẫn đến ǵ khác
hơn là đau khổ; hăy buông bỏ ḷng khát vọng
của con! Kinh nghiệm mê lầm không dẫn đến
cái ǵ khác hơn là vô minh; hăy huỷ hoại tri giác nhị
nguyên! Làm như thế con sẽ luôn luôn hạnh phúc,
nhưng chỉ vois ai biết nghe lời khuyên nhủ!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Ta đă nói
điều ấy cho mọi người, nhưng không ai
nghe. Khi nào thần chết nắm bắt con, lúc ấy không
c̣n cơ may để giải thoát. Người nào không
thực hành Pháp sẽ hối tiếc điều này khi cái
chết đến.
Năm, tháng và ngày trôi qua không chần chờ ngay cả
một giây. Cuộc đời này qua đi không dừng
nghỉ dầu cho một giờ hay một phút, rồi
chúng ta chết. Các mùa tiếp tục, nhưng cuộc
đời chúng ta chấm dứt và không chờ đợi.
Con có tuyệt vọng không, khi nh́n cái chết đến
gần với năm, tháng, ngày lần lượt ra
đi? Làm sao con có thể cảm thấy hài ḷng khi
người nào cũng chết, không hy vọng và bất
ngờ? Làm sao con có thể cảm thấy hài ḷng với con
cháu và sự sung túc khi chúng chẳng dùng được cái
ǵ vào lúc chết? Làm sao con có thể cảm thấy tự
tin khi đi theo con không có ǵ ngoài nghiệp tốt và xấu?
Những người nào không cắt đứt sự trói
buộc của họ vào h́nh tượng cụ thể, và
cái thấy trường tồn là những kẻ điên
rồ!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Không có cách ǵ có
được người khi ở trong các trạng thái
không tự do, bởi thế lúc ấy có đề cập
đến tu hành và giải thoát cũng là vô ích! (1).
Ngay lúc này chúng ta có quyền chọn lựa điều ǵ
chúng ta muốn làm, tuy nhiên người ta nói rằng không
thể áp dụng Phật pháp. Có được thân
người với tự do và sung túc, họ nói là không có
th́ giờ cho thực hành tâm linh. Hoàn toàn có thể
thường xuyên làm nô lệ cho thực phẩm và áo
quần, họ nói rằng không thể thực hành Pháp thiêng
liêng dầu chỉ một năm. Không mệt mỏi trong
bận rộn sanh tử, họ nói không thể chịu
đựng khổ đau không ngừng nghỉ, họ nói
không thể để dành ngay chỉ một mùa hè hay mùa
đông cho hạnh phúc của thực hành tâm linh.
[1]
Người chú chú ư đến Pháp h́nh như không muốn
hạnh phúc!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Điều quan
trọng nhất là nỗ lực trong tu hành khi con c̣n
trẻ. Khi con đă già con có thể muốn nghe giáo Pháp
nhưng lỗ tai con lại không muốn nghe. Con có thể
muốn học hỏi nhưng sự chú tâm của con th́
nặng đục và trí nhớ con thất thoát. Con có
thể muốn đến với Pháp, nhưng thân con không
thể đi hay ngồi. Con có thể muốn thực hành,
nhưng
sức mạnh của các đại đă tàn và con không
thể tập trung. Con có thể muốn cho đi tài
sản vật chất của con nhưng chúng đă bị
người khác kiểm soát và con không c̣n đảm
đương chúng. Con có thể muốn chịu khó
nhọc nhưng hệ thống của con không chịu
nổi sức ép. Làm cho thầy con và các bạn Pháp không
vui, khi tuổi già đến, con có thể muốn
thực hành nhưng không thể. Con sẽ ước ao
“phải ǵ tôi đă có ư chí và nguyện vọng khi tôi c̣n
trẻ”, nhưng điều đó sẽ không giúp ǵ nữa
cả. Đă quá trễ để hối tiếc là không
thực hành Pháp ǵ khi con c̣n có thể.
Người không cảm thấy có quan tâm nào đến
sự thực hành Pháp khi trẻ th́ không hơn ǵ kẻ ngu
đần!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Khi thực hành Pháp
giải thoát, cưới vợ cưới chồng và d́u
dắt một đời sống gia đ́nh th́ cũng
giống như bị kềm giữ trong xiềng xích
chặt chẽ không có tự do. Con có thể muốn
chạy thoát nhưng con đă bị nhốt trong ngục tối
sanh tử không lối thoát. Con có thể hối tiếc
về sau, nhưng con đă ch́m trong vũng lầy t́nh
cảm, không chỗ ra. Nếu con có con cái, chúng có thể
dễ thương nhưng chúng là cây cọc cột con trong
sanh tử. Nếu không có con, sự lo lắng rằng gia
đ́nh con sẽ chết đi th́ c̣n lớn hơn nữa.
Nếu con có tài sản giữa lâu đài và ruộng
vườn, chẳng có rỗi rảnh nào để
thực hành Pháp. Nếu con không có sự cực khổ và
tranh đấu khi không có miếng ăn c̣n lớn lao
hơn. Nếu con có người hầu hạ và
người làm, rốt cuộc con bị bận rộn v́
làm một người nô lệ cho sự quản lư.
Nếu không có sự thiếu quyền hành làm cho con bị
người khác kiểm soát, th́ không có tự do để
thực hành Pháp. Theo cách đó cả cuộc đời
hiện tại và tương lai của con bị phá
huỷ.
Trong bất cứ trường hợp nào, người
kết hôn và trở thành chủ gia đ́nh ch́m đắm
trong đầm lầy của sự khốn khổ không có
dịp may để giải thoát.
Đại sư Padma lại nói: Tsogyal! Các niềm vui
của thế gian này cực kỳ thoáng qua, nhưng
nếu con có thể thực hành giáo pháp thiêng liêng, hạnh
phúc của con sẽ kéo dài lâu xa. Sự thịnh
vượng của thế giới này là vô thường và
trôi mất, nhưng nếu con có thể thường
trực gom góp các tích luỹ, con thực sự là giàu có.
Người nào dấn ḿnh vào những hành động
xấu là điên rồ, nhưng người nào làm
điều tốt th́ nhạy cảm và khôn ngoan.
Người nào cam kết ḿnh vào các giáo lư có ư nghĩa là
đáng kính, nhưng người nào theo đuổi lợi
danh vô nghĩa là không thận trọng và không có đạo
đức. Danh lợi, vật chất thế gian là
chủ nhân của sự khốn khổ; cao quư là
người đạt đến Phật tánh trong chỉ
một đời.
Những ai bám vào thế gian này không bao giờ t́m thấy
dịp may thoát khỏi sanh tử!
Đạo sư Padma lại nỏi: Tsogyal! Phiền năo
khởi ra hoàn cảnh, thế nên hăy thoát khỏi cơi
đất của thương và ghét. Chướng ngại
được khởi dẫn do phóng dật, thế nên hăy
giữ mối liên hệ với một bậc thầy cao
cả như với một y sĩ. Nghèo khó và buồn
phiền trong đời này có hệ quả từ các hành
động trước kia, thế nên hăy sống những
nơi ẩn cư không có người. Hành động sai
lầm được tạo bởi hoàn cảnh, thế
nên hăy tránh cộng đồng xấu như với
thuốc độc. Cạm bẫy xảy ra là do tà
kiến, thế nên hăy học hỏi và tư duy phóng khoáng.
Tiến lên hay sa đoạ xảy ra với bất kỳ
ai, người sống lẫn người chết,
thế nên chớ phê phán người khác. Bất kỳ
niềm vui và hạnh phúc nào xảy ra với con, nó là do các
phước đức riêng của con, thế nên chớ
kiêu hănh. Hăy cố gắng đạt đến giác ngộ
khi con có năng lực để tránh đi vào các cơi
thấp của luân hồi.
Người nào sống trong hạnh xấu sẽ chịu
đựng lâu dài!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Nói chung, cái chết
của con không có thời gian xác định; nó đă đi
chung với con từ khi sanh ra. Hoàn cảnh mà do đó con
chết cũng không chắc chắn; con chết cả khi
không có ư định. Cái chết không bao giờ từ
bỏ con, và con có thể gom góp mọi sự giàu có của
tất cả thế giới, nhưng vẫn phải
bỏ chúng lại phía sau.
Sanh tử không biến mất khi con chết; con lại
sẽ đi lang thang qua ba cơi. Không có hạnh phúc trong
cuộc sanh tử; con không bao giờ vượt qua khổ
đau, dầu con có sinh ra chỗ nào trong sáu loài chúng sanh, con
đă lang thang biết bao nhiêu trong quá khứ chịu
đựng đau đớn không nói hết! Và con sẽ
tiếp tục lang thang qua sanh tử, lắc lư trong
những ngọn sóng khổ đau. Tốt hơn là
thực hành Pháp và cắt đứt sự trói buộc
của con vào đau khổ. Trừ khi con đến
đất liền, con không thể nào dẫn người
khác ra khỏi sanh tử. Nhưng h́nh như tất cả
hành giả vẫn gắn liền với sự vui
chơi của thế gian và lại tự ném ḿnh trở
lại sanh tử.
Với sự giúp đỡ của tự do và sung túc, con
phải cắt đứt sự trói buộc vào sanh tử
ngay bây giờ!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Trừ phi con
đạt đến giải thoát, bây giờ con chỉ
ch́m thêm vào cuộc khổ đau, chưa tính đến con
sẽ sinh ra chỗ nào. Trừ phi con sống trong núi non, c̣n
không con chỉ sống trong ngục tù của sanh tử,
bất kể con ở chỗ nào. Trừ khi con dấn thân
vào thực hành tâm linh, nếu không con chỉ tạo thêm
nghiệp xấu cho sanh tử, bất kể con làm ǵ.
Trừ phi con gom góp hai sự tích luỹ, bất cứ
thứ ǵ khác con góp nhặt chỉ trở thành tṛ gian
lận của ma. Trừ phi con theo một vị thầy
tâm linh, người nào khác con theo chỉ là một
người hướng dẫn vào thêm trong sanh tử.
Trừ phi con nghe lời dạy của thầy con,
người nào khác con nghe chỉ là một cố vấn
làm con sa đoạ.
Trừ phi các phẩm chất tâm linh nảy sinh trong ḍng
sống của con, bất cứ đồng hành nào cũng
chỉ là một sự trợ giúp cho tà nghiệp. Trừ
phi con thấu rơ tự tánh của tâm con, bất kỳ
tư tưởng nào chỉ là suy nghĩ ư niệm, danh
tướng. Trừ phi con có thể điều khiển
tâm con, bất cứ điều ǵ con làm chỉ kéo dài
hư vọng. Trừ phi con chán ngán sanh tử, bất
cứ điều ǵ con làm chỉ là những hột giống
cho các cơi thấp.
Người nào không nhàm chán sanh tử sẽ đau khổ
không ngừng nghỉ!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Không có cái ǵ khác giúp
đỡ được con khi đối diện với
cái chết, thế nên hăy làm như vầy. T́m một
vị thầy ngài là hiện thân của các giáo lư
Đại thừa, nhận những lời chỉ dạy
chúng, là hiện thân của sự chứng ngộ chân
thật về bản tánh của tâm.
T́m kiếm và duy tŕ một chốn ẩn cư an lành
nơi ấy có đủ những nhu cầu. Thực hành
với một sự chuyên cần không ngừng nghỉ. Làm
đầy kho tàng của con không chần chừ uể
oải(1).
Giữ mối liên lạc với người nào có
đức tin, kiên tŕ và thông minh. Hăy thực hành các giáo lư
đưa con đến giải thoát. Lánh xa như thuốc
độc các việc xấu dẫn con đến các cơi
thấp, an trụ tràn đầy bởi tâm bi, gốc
của Đại thừa. V́ mục đích ban đầu
của con, hăy tu hành tánh Không vô niệm. Trừ phi con
vất bỏ các phóng tâm, sẽ khó khăn để thành
tựu bất kỳ cái ǵ qua thực hành tâm
linh!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Con có nghe rằng ông
bà và tổ tiên con đă chết? Con có thấy những
người cỡ tuổi con và xóm giềng đă chết?
Con không chú ư rằng các bà con của con chết, dù họ
trẻ hay già? Con không bao giờ thấy một thi thể
được đem ra nghĩa địa sau? Làm sao con
không nhớ được rằng cái chết sẽ
đến với con? Nếu con ở yên không làm ǵ cả,
thời gian đạt đến giải thoát sẽ không
bao giờ đến!
Căn nguyên chính của các đức tính là đem tính vô
thường ghi nhớ trong ḷng, thế nên chớ bao
giờ quên nỗi sợ chết. Trong tất cả quan
niệm, vô thường là cái trổi vượt nhất,
thế nên chớ bao giờ ĺa xa nó. Thái độ tin
tưởng rằng mọi vật thường c̣n chính là
căn nguyên của mọi việc làm sai lầm, thế nên
hăy vất bỏ nó đi! Trừ phi trong tâm con thành thực
có thái độ này về vô thường, ác hạnh sẽ
chất đầy như núi.
[1]
Để điều đó rơ hơn, người b́nh
thường không t́m kiếm giải thoát; người có
danh phận th́ kiêu hănh và bám vào sự đánh giá phô
trương; người giàu có th́ bị cùm kẹp trong
tính hà tiện; người ngu sưởi ấm trong các
việc xấu; người lười biếng sống trong
lănh đạm; người thực hành quay trở lại
với thế gian; vị thầy dạy Pháp lạc vào tám
mối quan tâm thế gian; thiền giả, mất
đức tin và chuyên cần, theo đuổi các mục tiêu
của đời này. Tất cả các điều này là do
không nhớ vô thường trong ḷng.
Một khi ư nghĩ về vô thường thật sự hoà
trộn vào ḍng sống của con, mọi phẩm chất
của con đường giải thoát sẽ chất
đầy như núi. Thế nên, hăy h́nh thành thái độ
rằng các mục tiêu thế tục là phù phiếm, vô ích!
Vất bỏ đi tính vô nghĩa của thế gian!
Hăy lên đường giải thoát với sự dũng
mănh. Chớ bám víu vào sự vật! Chớ trụ vào
năm uẩn cho là chính ḿnh! Hăy hiểu rằng sự
đi trệch chính là Ma! Hăy hiểu rằng các đối
tượng thích thú của giác quan là sự lừa bịp!
Chớ bao giờ rời ĺa cảm giác khẩn cấp!
Hăy nh́n công việc của cuộc đời này như
kẻ thù! Hăy t́m một chân sư! Hăy chạy trốn các
đồng bạn xấu! Hăy thoát vào sự cô tịch
của các chốn ẩn cư núi non! Chớ tŕ hoăn
việc tu hành tâm linh của con! Hăy tuân thủ các lời
nguyện và Samaya của con! Hăy hoà tâm con với Pháp!
Nếu con làm như thế, Bổn tôn sẽ ban cho con các
thành tựu, các Dakini sẽ ban phước cho con, Chư
Phật sẽ hộ tŕ con và con sẽ sớm đạt
đến giác ngộ, tất cả những kết
quả này đều từ việc ghi nhớ vô
thường ở trong ḷng.
Từ quá khứ cho đến ngày hôm nay, tất
cả Chư Phật và con cái của các Ngài, mọi
Vidyadhara và Siddha được thoát khỏi sanh tử
bởi ghi nhớ điều này ở trong ḷng.
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Con rơi vào các cơi
thấp do mười nghiệp xấu, thế nên hăy sám
hối và nguyện tránh, dầu chỉ một điều
xấu nhỏ nhất. Đức hạnh với tâm
trụ tướng không trở thành con đường
giải thoát, thế nên hăy ôm lấy bất cứ thực
hành tâm linh nào con làm với trạng thái vô tâm! Công
đức tạo được qua vô số kiếp c̣n có
thể bị tiêu tan bởi một giây phút thù ghét, thế
nên hăy tu hành tâm từ, tâm bi, và trong khuôn khổ giác ngộ
của tâm. Con có thể đă hiểu được tánh
không, nhưng nó sẽ xoay về chủ nghĩa hư vô
chấp đoạn, trừ phi con có thể bi mẫn.
Thế nên, hăy cân bằng tâm bi và tánh không!
Trong bất cứ trường hợp nào không có ǵ có giá
trị, trừ phi con bỏ sự bám chấp vào các vật
như là cụ thể, có thật. Thế nên, chớ nh́n
kinh nghiệm hư vọng của ḿnh là thực thể
cứng đặc và có thật!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Trừ phi con
tức khắc ném sanh tử lại đằng sau,
nghiệp và phiền năo của con là nguyên nhân, chắc
chắn sẽ làm con tái sanh trong một thân xác bị
chi phối bởi điều kiện, đó là
kết quả. Khi con sanh lại như thế, thân thể
này có bản chất là đau khổ. Sau khi sanh ra, già và
chết theo liền không thể tránh. Và khi cái chết
xảy ra chắc chắn không có chỗ đến nào ngoài
sáu đường sanh tử.
Sanh lại theo h́nh thức như thế, tham muốn và
khổ đau tự động hiện hữu; không có
sự thoát khỏi biển cả khổ đau của ác
nghiệp qua năm độc. Kết quả tất
yếu do không thể thoát ra là con quay cuồng không ngừng
trong sanh tử luân hồi. Để thoát nó con phải
chứng ngộ tánh vô sanh của tâm con. Trừ phi
con thấu triệt điều đó, không có thể
giải thoát khỏi sanh tử!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Đại
để, sanh tử là không có khởi đầu, cũng
không có chấm dứt, nhưng với tư cách là một
cá nhân con phải kinh nghiệm sự bắt đầu và
chấm dứt của nó! Con có thể có quyền lực và
giàu có trong đời này, nhưng chẳng có giá trị ǵ,
bởi v́ con phải ra đi. Sức mạnh, quyền
lực và các khả năng của con có thể lớn lao,
nhưng chúng không thắng nỗi Ma Chết.
Con có thể có sự sung túc, xa hoa nhưng chúng không thể
lừa được Tử Thần một khi con đang
ở trong móng vuốt của nó. Các quân đoàn và sự
thịnh vượng của con có thể ghê gớm,
nhưng chúng sẽ không chở con tiến lên phía
trước, cũng không tuân theo sau con được. Con
cháu, người hầu hạ, quyến thuộc có thể
nhiều, nhưng họ không thể theo con qua cuộc
đời tới. Con có thể được bao bọc
bởi các đội quân của thế giới, nhưng
chúng không thể đánh lui sanh, già, bịnh, chết.
Trừ phi con bảo đảm ngay bây giờ sự
tốt đẹp của các đời tương lai;
nếu không, ai có thể chịu đựng sự khổ
đau rớt vào địa ngục? Đói và khát của
ngạ quỷ th́ không nương tay! Sự nô lệ
của súc sanh th́ đáng sợ! Sự đổi thay
của đời người hầu hết là khổ
đau! Sự xung đột đánh nhau của các loại
bán Thần (A tu la) th́ không thể chịu nổi! Sự
đoạ rớt của chư thiên th́ nhức nhối!
Tất cả quay cuồng trong ṿng luẩn quẩn này. Sóng
gió của sanh tử th́ khó thoát!
Mọi thứ đều vô ích, trừ phi con băng qua
được vực thẳm của sáu đường
sanh tử luân hồi. Để vượt qua
được nó, con phải phát triển sức mạnh
của trí huệ bất nhị!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Nếu con muốn giải thoát
sanh tử hăy làm như thế này:
Ưa và ghét b́nh thường của con là tư
tưởng sai lầm, hư vọng: hăy cắt tư
tưởng trong chính nó. Tin vào một cái ta là gốc rễ
và nền tảng của sanh tử: hăy nhổ nó lên!
Đồng bạn và họ hàng là sợi dây kéo con
xuống: hăy tháo trói buộc ấy! Tư tưởng
vể kẻ thù và ma quỷ là một sự hành hạ cho
tâmcon: hăy dẹp nó đi!
Lănh
đạm cắt đứt sinh lực của giải
thoát: hăy để lại nó đằng sau. Dối gạt
và lừa đảo là gánh nặng: hăy vất bỏ nó! Tham
lam và ghen ghét là trận mưa đá huỷ hoại mọi
điều tốt: hăy trừ khử lỗi lầm
ấy! Quê nhà con là ngục tù ma quỷ: hăy tránh nó như
thuốc độc!
Các
đối tượng đáng ưa của giác quan là các
sợi dây ràng buộc con: hăy cắt sự nô lệ ấy!
Lời nặng nề là một vũ khí tẩm
độc: hăy giữ lưỡi con! Ngu dốt là sự ô
nhiễm đen tối nhất: hăy thắp lên ngọn
đèn của học hỏi và tư duy! Người yêu,
người hôn phối và con cái là mưu mẹo của Ma:
hăy cắt đứt sự gắn bó của con! Bất
cứ điều ǵ con kinh nghiệm đều là hư
vọng: hăy để nó được giải thoát trong
chính nó!
Nếu con
làm như thế, con sẽ quay xa khỏi sanh tử.
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Khi con hiểu những lỗi
lầm của sanh tử, không có thấy nào phải t́m
ngoài điều ấy. Khi con nhớ vô thường trong
ḷng, không có sự khuyến khích nào phải cần
đến ngoài điều ấy. Khi con chứng ngộ
tất cả những ǵ xuất hiện và hiện hữu
là tâm của con, không có con đường giác ngộ nào
ngoài điều ấy.
Khi con có ḷng
sùng mộ vững chắc vào vị thầy của con,
không có Phật nào phải t́m ngoài điều ấy.
Khi con làm cho mọi chúng sanh được an vui, không có Tam
bảo nào phải thờ phụng ngoài điều ấy.
Khi con cắt đứt nền tảng và gốc rễ
của tư tưởng, không có tự tánh nào để
thiền định về ngoài điều ấy. Khi sanh
tử vốn tự giải thoát, vốn là tự do trong
chính nó, không có trạng thái giác ngộ nào phải hoàn thành
ngoài điều ấy. Một khi con thấu suốt
điều này, sanh tử và Niết bàn là không hai.
Ngoài ra,
tuổi trẻ th́ ngắn trong khi xáo động lại
nhiều. Quên th́ mạnh khi các phương thuốc th́
yếu. Cảm hứng th́ yếu khi sự giải trí th́
nhiều. Chuyện cần th́ hiếm hoi khi lười nhác
đầy dẫy. Công việc thế gian th́ vô số khi
hoạt động về Pháp th́ ít ỏi. Tư
tưởng xấu là tối đa, khi thông tuệ là
tối thiểu.
Ôi, bao nhiêu
người của thời đại đen tối
sẽ hối tiếc nơi ngưỡng cửa của
cái chết! Tsogyal! Con phải nhận các lời truyền
đạt sâu xa!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Để thoát khỏi cuộc
sanh tử, con phải có niềm tin vào con đường
giải thoát. Đó là niềm tin sanh khởi qua nhân và duyên,
mà không khởi sanh trên chính nó. Niềm tin sanh khởi khi nhân
và duyên trùng hợp, và con đem tính vô thường vào trong
ḷng. Niềm tin khởi sanh khi nhớ lại nhân quả.
Niềm tin
khởi sanh khi đọc các kinh và Tantra sâu xa. Niềm tin
khởi sanh khi sống chung với các đồng bạn có
đức tin. Niềm tin khởi sanh khi theo một Đạo
sư và một vị thầy tâm linh. Niềm tin khởi
sanh khi ở trong những khó khăn khổ sở.
Niềm tin
khởi sanh khi dâng cúng trước một bàn thờ
đặc biệt. Niềm tin khởi sanh khi gặp
một hành vi sâu xa. Niềm tin khởi sanh khi nghe những
gương mẫu cuộc đời của Chư
Tổ. Niềm tin khởi sanh khi nghe các bài ca Kim
cương chứng ngộ.
Niềm tin
khởi sanh khi thấy sự đau khổ của
người khác. Niềm tin khởi sanh khi chiêm nghiệm
các khuyết điểm của sanh tử. Niềm tin
khởi sanh khi đọc các giáo lư thiêng liêng hợp khuynh
hướng của con. Niềm tin khởi sanh khi chú tâm ghi
nhận những phẩm chất của các vị cao cả.
Niềm tin khởi sanh khi nhận các ban phước từ
thầy con. Niềm tin khởi sanh khi gom góp những tích
luỹ đặc biệt.
Lời
khuyên của Ta là không bao giờ rời những nguyên nhân
làm cho niềm tin sanh khởi.
Đạo
sư Padma lại nỏi: “Tsogyal! Nếu con có niềm tin
trong ḷng con, con phải làm cho nó trường tồn.
Nếu không có, con phải làm cho nó sanh khởi.
Thiếu
niềm tin cũng giống như làm cho than thành ra
trắng, con bị ĺa khỏi các công đức của con
đường giải thoát. Thiếu niềm tin th́
giống như một vin đá quư ở đáy đại
dương, con bị ch́m dưới bề sâu của sanh
tử. Thiếu niềm tin th́ giống như một con
thuyền không có mái chèo, con không thể vượt qua
biển cả. Thiếu niềm tin th́ giống như gieo
hạt trên đất khô chưa được cày bừa
mặc dù đất tốt, không có một công đức
nào sống sót.
Thiếu
niềm tin giống như một hạt giống bị
lửa cháy xém, mầm giác ngộ không thể mọc.
Thiếu niềm tin th́ giống như du hành qua những
vùng đáng sợ mà không có hộ tống, con sẽ không
vượt thắng được kẻ thù phiền năo.
Thiếu niềm tin cũng giống như một kẻ lang
thang bị đưa vào tù, con không thoát khỏi
được các cơi thấp. Thiếu niềm tin th́
như một cụt tay cố gắng leo núi, con rớt vào
vực thẳm của sáu loài chúng sanh.
Thiếu
niềm tin th́ giống như một con hươu bị
thợ săn bắt, con sẽ bị xử tử bởi
Thần Chết. Thiếu niềm tin th́ giống như
một người mù nh́n cḥng chọc vào một
điện thờ, con không thấy được
đối tượng của trí tuệ. Thiếu niềm
tin th́ giống như một người ngu đến
một đảo vàng ṛng, con không biết cái ǵ con đă t́m
thấy.
Người
không có niềm tin không thể đạt đến
giải thoát hay giác ngộ!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Để đạt
đến giác ngộ, có niềm tin là đă hoàn thành
một nữa sự thực hành Pháp.
Niềm tin
là miếng đất màu mỡ, bất cứ lời
dạy nào được trồng sẽ lớn lên.
Niềm tin cũng giống như viên ngọc như ư, nó
đem lại các phước lành để hoàn thành bất
cứ thứ ǵ người ta theo đuổi. Niềm tin
giống như một nhà cai trị thế giới, nó
nắm giữ vương quốc của Pháp. Niềm tin
th́ giống như một lâu đài vững chắc, nó
vững vàng trước những phiền năo của ḿnh và
người khác.
Niềm tin
th́ giống như cầu hay thuyền, nó cho con vượt
qua đại dương sanh tử. Niềm tin cũng
giống như một sợi thừng đong đưa
trong vực thẳm, nó sẽ kéo con ra khỏi các cơi
thấp. Niềm tin th́ giống như thầy thuốc
chữa bệnh, nó sẽ trục xuất căn bệnh
kinh niên của năm độc. Niềm tin giống
như một đoàn hộ tống mạnh mẽ, nó
dẫn con an toàn qua hiểm nguy của sanh tử luân
hồi.
Niềm tin
giống như một người bảo vệ, nó
cứu con khỏi bốn ma quỷ quyệt. Niềm tin th́
giống như trăng càng ngày càng tṛn, nó đưa công
đức tăng trưởng dần. Niềm tin
giống như một món hối lộ để tránh
khỏi bị tù, nó đánh lừa Thần chết ma quái.
Niềm tin giống như một con đường đi
lên, nó dẫn con đến thành phố văn minh.
Niềm tin
th́ giống như một mỏ báu vô tận, nó cung cấp
mọi nhu cầu và sở thích. Niềm tin giống như
đôi bàn tay người, nó gom góp các thiện căn.
Niềm tin giống như con ngựa phi nhanh, nó chở con
đến điểm giải thoát. Niềm tin giống như
một con voi chở vật nặng, nó đưa con càng
ngày càng cao. Niềm tin giống như một cội
nguồn lấp lánh, nó làm hiển lộ tánh Giác bổn
nhiên.
Một khi
niềm tin đă hiện lên từ trong sâu thẳm của
con, mọi phẩm chất đức hạnh đến
chất cao như núi!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Cội gốc của mọi
đức hạnh của Phật tánh nằm ở nơi
ḷng tin thế nên hăy để cho một niềm tin bất
biến khởi sanh từ trong sâu thẳm của con. Nó
ngăn ngừa những cảnh giới mất tự do,
và kiếm được tự do và sung túc. Nó gỡ con
khỏi đống bạn xấu và khiến con theo
một vị thầy đích thực. Nó đóng cửa các
cơi thấp và chỉ bày con đường giải thoát.
Nó trục
xuất nghi ngờ, do dự và dẫn con vượt
khỏi các nẻo của Ma. Nó ngăn cấm kiêu mạn,
ganh ghét, làm cho con hoàn thành các tự do và giàu có. Nó giải
thoát con khỏi các tội lỗi của hành nghiệp
xấu và cho con đạt đến mọi thứ
tốt đẹp. Nó làm cho con vượt khỏi các
đối tượng tham đắm và có được
đức tin để hoàn toàn tuy thuận.
Nó làm cho con
bỏ các tà kiến, tà hạnh và có được
đức tin vào các lời dạy của các bậc
Điều Ngự. Nó rốt cuộc trục xuất các
phiền năo và để cho con khám phá các đức hạnh
vốn sẵn. Nó làm cho con vượt qua được
đại dương của đời sống và
giảm hạnh xấu và tăng trưởng mọi
đức hạnh. Nó thải bỏ lời khuyên sai
lầm và làm cho con thành tựu yếu tính tối hậu.
So sánh
với việc phụng sự chúng sanh nhiều như
bụi trong cơi Phật mười phương. Các Tantra
dạy rằng: Niềm tin vào giáo lư Đại thừa là
công đức lớn hơn!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Nếu người ta sẽ
nghe: Đây là lời dạy, họ nên thực hành!
Đủ
rồi sự tranh đấu trong quá khứ với
những hoạt động vô ích: bây giờ hăy hoàn thành
công việc quan trọng! Đủ rồi sự nô lệ
mệt mỏi và vô vọng cho người khác: giờ
đây hăy hoàn thành lợi lạc cần thiết cho chính
con! Đủ rồi với những lời và hành
động phung phí do năm độc làm ra: giờ đây
con hăy chỉ huy thân thể và lời nói hướng về
Pháp! Đủ rồi sự tự măn lăng đăng
của con: giờ đây hăy phát sanh sự chuyên cần vui
vẻ trong thực hành!
Đủ
rồi sự phục tùng của con với những
người thân thuộc: hăy làm sụp đổ bức
tường sợ hăi! Đủ rồi ḷng thù ghét
đối với kẻ thù và ma quỷ: giờ đây hăy
tu hành từ bi!
Đủ
rồi với sự bị bắt trong sáu đối
tượng giác quan: giờ đây hăy nh́n vào trạng thái
tự nhiên của tâm(1) ! Đủ rồi với sự
tạo tác các nghiệp xấu: giờ đây hăy vứt
bỏ các việc xấu và tà hạnh!
Đủ
rồi sự khốn khổ của con trong sanh tử:
giờ đây hăy thoát vào cảnh giới của đại
lạc! Đủ rồi sự kết bè kết bạn: giờ
đây hăy sống trong đơn độc! Đủ
rồi với các nói xấu xa: giờ đây hăy yên lặng
và làm bạn với chân lư! Đủ rồi với ư
nghĩ và tính toán hư vọng: giờ đây hăy nhận ra
Pháp thân, khuôn mặt xưa nay của con!
Bây giờ
là lúc thống nhất niềm tin và sự chuyên cần
để thành tựu trạng thái giác ngộ!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Cho đến khi con đạt
đến giác ngộ, con cần một vị thầy,
thế nên hăy giữ liên hệ với một vị
thầy tâm linh chính thống. Cho đến khi chứng
ngộ trạng thái bổn nhiên con cần phải học,
thế nên hăy nhận lănh các lời dạy sâu xa. Con không
giác ngộ bằng sự thấu hiểu đơn
thuần của trí thức, thế nên hăy chuyên cần trong
thực hành, như thắp một ngọn lửa. Cho
đến khi con đạt đến sự an trụ
trong tự tánh, con vẫn c̣n làm mồi cho các chướng
ngại, thế nên hăy vất bỏ các công việc làm cho
phóng tâm.
Cho đến khi con tới đích
đến cuối cùng, con cần phải tăng
cường các phẩm tính tốt đẹp, thế nên
hăy tu hành tuần tự sự làm mạnh thêm trí huệ.
Hăy tránh
bất cứ cái ǵ làm hại tư tưởng, lời nói
hành vi của con và luôn luôn buông xả. Tránh nhóm người
nào gây ra phiền năo và nhắm vào các bạn bè
khuyến trợ con đến đức hạnh. Vào
buổi sáng – tối hăy tính đếm các hành vi tốt-xấu
và đặt tâm trong sự cảnh giác. Con có thể có
được những lời chỉ dạy nhưng
mục đích của chúng sẽ bị lăng phí, trừ phi
con đem chúng thực hành, thế nên hăy thực hành bất
cứ điều ǵ con hiểu.
Các kết
quả sẽ tự động theo sau sự thực hành
bất cứ điều ǵ thầy con dạy, thế nên
hăy lắng nghe Pháp thiêng liêng!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Thực phẩm và quần áo
sẽ tự động xuất hiện khi con thành tâm
thực hành Pháp.[1]
Như
uống nước muối, tham muốn th́ không làm hết
khát, thế nên hăy biết đủ! Hăy trừ khử
sự tự cao tự đại, giản dị hoà
nhă và tự chế! Danh dự và tôn trọng là cái bẫy
của Ma, thế nên hăy dẹp nó đi như các tảng
đá trên bờ sông! Lạc thú và tiếng tốt chỉ
thoáng qua, thế nên hăy bỏ lại các công việc của
cuộc đời ở đàng sau hoàn toàn không ngó tới.
Các đời sau sẽ kéo dài hơn đời này, thế
nên hăy tự cung cấp lương thực dự trữ
tốt nhất!
Chúng ta
sẽ phải bỏ đời này một ḿnh không bạn
hữu, thế nên hăy t́m sự hộ tống của vô uư!
Chớ khinh miệt người khiêm tốn dễ bảo;
chớ phân biệt cao thấp! Chớ có ghen với
người có phẩm chất; hăy tự ḿnh có
được các phẩm chất ấy! Chớ có so
lường khuyết điểm của người khác;
hăy vứt bỏ lỗi lầm của chính con một cách
cẩn thận như lượm tóc trên mặt! Chớ có
quan tâm đến sự tốt đẹp cho ḿnh; hăy lo cho
hạnh phúc của những người khác và hăy tốt
với tất cả.
Hăy hưng
vận bốn tâm vô lượng và nuôi dưỡng tất
cả chúng sanh như con ḿnh. Cân nhắc kỹ lưỡng
kinh và Tantra như hàng len, và thâu hoá kinh điển vào trong
ḍng sống của con! Hăy khuất tung các vương
quốc như con khuấy bơ, và hăy t́m kiếm các lời
chỉ dạy sâu xa nhất! Mọi sự đều
được kinh nghiệm do bởi nghiệp thức
tạo từ trước kia và không phải do bởi thèm
muốn, thế nên hăy để cho tâm con thoải mái!
Bị khinh
chê bởi các bậc thầy cao cả th́ c̣n tệ hơn
cả cái chết, thế nên hăy thật thà và thoát khỏi
mọi lừa dối. Những rắc rối của đời
này là do nghiệp trước kia, thế nên chớ trách
cứ người khác! Tốt đẹp, hạnh phúc là
những sự ban phước của thầy con, thế
nên hăy để ư trả ơn ḷng tốt của Ngài. Không
điều phục được chính ḿnh, con không thể
ảnh hưởng đến người khác, thế nên
trước tiên hăy điều phục chính ḿnh! Không có các
tri giác cao cấp, con không thể hoàn thành lợi lạc cho
chúng sanh, thế nên hăy chuyên cần tu tập.
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Nếu người ta biết
chăm lo cho chính họ, họ nên nghe các lời dạy
của Ta.
Chúng ta
phải bỏ lại đằng sau mọi của cải
tích luỹ, thế nên chớ có làm điều xấu để
cho giàu có! Sự chín muồi của nghiệp từ hành
động tốt và xấu, không biến mất dù bao nhiêu
kiếp, thế nên hăy cẩn thận ngay cả với h́nh
thức vi tế nhất của nhân quả! Tài sản vô
thường không có bản chất, thế nên hăy dùng chúng
cho hành động công đức là bố thí. Đức
hạnh tạo ra trong hiện tại con sẽ cần
đến trong tương lai, thế nên hăy tuân thủ
giới luật thanh tịnh!
Thù ghét th́
lan tràn trong thời kỳ đen tối, thế nên hăy
mặc giáp nhẫn nhục! Bởi lười biếng con
sẽ lạc đường vào sanh tử, thế nên hăy
phát sinh sự chuyên cần không phóng dật! Cuộc
đời con đi mất trên con đường giải
đăi, thế nên hăy tu hành trong thiền định và
tự tánh! Vô minh hành hạ con trong sanh tử, thế nên hăy
thắp lên ngọn đèn trí huệ!.
Không có
hạnh phúc trong đầm lầy nhơ bẩn này,
thế nên hăy tiến đến vùng đất khô ráo
của giải thoát. Tu hành đúng đắn giáo huấn
sâu xa và cắt đứt mạng lưới của sanh
tử. Hăy bỏ quê hương, ở xa thân thuộc và
sống trong chốn ẩn cư trên lời nói, hành vi và
nh́n vào tự tánh vô hạn của con!
Hăy ngồi
chỗ thấp nhất, mặc áo quần rách rưới
và duy tŕ kinh nghiệm của con! Ăn thực phẩm
đơn giản, lang thang như những con sông ở
ấn Độ, và hăy khai quật lho tàng trong tâm như
những bậc cao cả! Con không t́m ra chúng sanh nào không
khuyết điểm, thế nên chớ bám vào lỗi
của thầy con hay của các bạn Pháp!
Cuộc
đời này tất cả chỉ là h́nh tướng bên
ngoài: chớ đắm ḿnh trong hy vọng và sợ hăi, mà tu
hành theo “mọi sự là như huyễn”! Để làm
lợi lạc cho chúng sanh trong tương lai, con phải
trau dồi quyết định của Bồ tát. Hai sự
che ám làm các phẩm tính tốt đẹp không khởi sanh,
thế nên hăy nhanh chóng tịnh trừ chúng!
Nếu con
sợ trạng thái sanh tử này nó giống như một
ngôi nhà đang cháy, con phải chú ư các lời dạy này
của Padma!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Nếu con muốn
thường xuyên ở trong thực hành, th́ hăy cắt ngay
các gắn bám của con.
Khi các
đạo quân gây cản trở của các thần
thông kéo đến, hăy bao bọc ḿnh bằng thành luỹ
sắt thép của sự nh́n thấy chúng như là huyễn
ảo(1) !
Khi con tức giạn v́ một lời
nói không thân thiện, hăy t́m nguồn gốc của tiếng
vang đó! Để phát triển tỉnh giác chính niệm
của quán Vipashyana, hăy dùng cảnh và âm thanh như là các
phương pháp. Nếu con muốn hoàn thiện sức
mạnh của kinh nghiệm, hăy phát triển sự khéo léo
của con qua các thực hành nâng cấp!
Để
đi qua những giai đoạn của con
đường Thánh nhân, hăy nh́n vào cái thấy về
phương tiện và trí tuệ. Nếu con muốn có
sự thịnh vượng không vơi cạn, hăy gom góp tài
sản của hai sự tích luỹ. Nếu con muốn
vượt qua những chốn hiểm nghèo của các cái
thấy sai lầm, hăy giải phóng tâm con khỏi những
giới hạn của tri giác nhị nguyên. Nếu con
muốn trí tuệ của đại lạc phát triển
trong ḍng sống của con, hăy nhận lănh các thỉ
dạy trực tiếp về con đường của
phương tiện.
Nếu con
muốn luôn luôn hạnh phúc, hăy thoát khỏi ngục tù
khốn khổ này! Nếu con muốn chứng ngộ
yếu tính không căn nguyên của tâm, hăy cắt sự bám
níu vào kinh nghiệm thiền định. Nếu con muốn
thấm đẫm trong cơn mưa đều đặn
của phước lành, hăy cầu nguyện với sự
sùng mộ! Nếu con muốn vượt qua vực
thẳm của sáu nẻo luân hồi, hăy trừ tà ma
của bản ngă! Nếu con muốn hoàn thành nguyện
vọng cao quư về Phật pháp, hăy cởi gỡ các
mối dây cột con vào kinh nghiệm hiện thời
của con!
[1]
Nếu con muốn tu hành sự tỉnh giác của Quán, hăy
chớ bỏ trí huệ bất nhị trên ngưỡng
cửa của sự bất định! Nếu con
muốn hoà trộn tâm con với Pháp, chớ để cho
sự thực hành của con bị tê cóng và không c̣n cảm
giác! Nếu con muốn hoàn thành công việc của con trong
một đời này thôi, chớ để cho giai
đoạn Quả chỉ là một nguyện vọng!
Nếu con muốn kinh nghiệm những cái ǵ xuất
hiện và hiện hữu như là chính tánh Giác bổn nhiên,
hăy nh́n vào trạng thái “Tự nhiên như vậy” của tâm
con!
Tsogyal! H́nh như không có mấy ai thực hành đúng Pháp!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal! Để làm
lợi lạc cho các thế hệ tương lai; hăy cho
họ các giới luật hợp với khả
năng họ; hăy cho họ các lời dạy hợp
với tầm mức thông minh của họ; hăy cho
những thực hành hợp với độ chuyên cần
của họ.
Hăy hiểu điều trên và dạy những ǵ mà tự
thân con tin tưởng. Ngược lại, người
thông tuệ được dạy cái không gây thích thú sẽ
không thoả măn, ḷng tin của họ sẽ giảm sút và
rồi gây ra nghiệp xấu, v́ làm mất niềm tin
của người khác.
Người
thông tuệ kém được dạy thực nghĩa cao
hơn sẽ không hiểu nó. Dầu cho có hiểu, vài
người có thể cảm thấy sợ hăi và nói
xấu giáo lư. Vài người sẽ gặt hái nhiều
trở ngại hơn là lợi lạc(1).
Như
những vị Đạo sư khuyên bảo, một
đệ tử b́nh thường kém thông tuệ,
được dạy các giáo lư tối hậu và tối
thượng sẽ không tiếp cận được
với thực Pháp, mà cảm thấy tự tin do chỉ
nắm được ngôn từ sẽ thoái bộ và không
hiểu.
Dạy
rằng không cần học hỏi và tư duy, chỉ làm
giảm đi mức độ trí huệ đă thấp
sẵn và làm tăng thêm vô minh đă có sẵn. Dạy
rằng Pháp không có ǵ để tu, sẽ làm giảm sự
chuyên cần đă yếu sẵn và tăng thêm sự
lười biếng đă có sẵn.
Dạy
rằng không có nhân và quả, sẽ làm yếu sự tích
hiểu biết cạn cợt bề mặt đă có
sẵn.
Dạy
rằng không có thiện và ác, tốt và xấu, sẽ làm què
quặt chút sùng mộ nhỏ nhoi người ta đă có và
làm nở lớn thêm sự kiêu căng đă có sẵn.
Dạy rằng không có sanh không có tử, sẽ xói ṃn
niềm tin vốn đă yếu và nâng cấp cho số các
tà kiến (thấy sai) vốn đă rộng lớn.
Dạy rằng không có sanh tử lẫn Niết bàn sẽ
làm cạn kiệt mối quan tâm đạt đến
Quả đă sẵn yếu ớt và làm mạnh thêm tám
sự quan tâm thuộc thế gian vốn đă lẫy
lừng.
Những
điều ấy tạo thêm cái thấy sai lầm hơn
là lợi lạc!
[1]
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! Trừ phi con nhàm chán khổ
đau, con sẽ không từ chối việc đời,
ngay dù con có chiêm nghiệm những lỗi lầm của
sanh tử. Trừ phi vô thường thật sự mọc
rễ trong tâm con, con sẽ không cắt nổi sự bám níu
vào h́nh tướng, dù cho con có thấy sự biến
đổi của các vật do duyên sanh. Trừ phi con làm
bạn với sự bất định của cái
chết, con không thể đem các lời dạy sâu xa vào
trong ḷng, ngay dù con có được dạy về chúng.
Trừ phi
con khẳng định tính không có thực tại của
kinh nghiệm hư vọng, nếu không con sẽ không hàng
phục được sự bám chấp vào h́nh
tướng, dù cho con có hiểu rằng đó chỉ là
sự quyến rũ của ảo ảnh. Trừ phi con
từ bỏ công việc thế gian, con không thể tách ĺa
sanh tử và Niết bàn, ngay dù con có đầy ắp các
lời dạy sâu xa. Trừ phi con nắm lấy pháo đài
cơi Phật ngay bây giờ, không rơ ràng khi nào nghiệp xấu
sẽ trùm lên con, dù cho con có thể đă làm một số
các nghiệp tốt cho tương lai.
Trừ phi
con thành thật từ bỏ sự phấn đấu cho
sanh tử, con sẽ không đạt đến
được sự chấm dứt của thực hành
thiền định, dù con có thể cảm thấy
niềm tin một đôi lúc. Trừ phi con từ bỏ
đời sống gia đ́nh và sự gắn bó với quê
hương, con sẽ không vượt lên đầm
lầy sanh tử, ngay dù con có nỗ lực một cách
cương quyết. Trừ phi con gỡ rối cho chính con
khỏi các đối tượng của chấp ngă, con
sẽ không bít lấp được ḍng sông dẫn con
về sáu loại chúng sanh, ngay dù con có hiểu ba cơi là không
thực chất.
Trừ phi
con hoà nhập tâm con với con đường giải
thoát, con sẽ không thể ban phước cho kinh nghiệm
của người khác, dầu con có thể học hết
năm chủ đề của kiến thức. Trừ phi
con nhổ gốc các lỗi lầm của chính con, các xác
chết ghê tởm của phiền năo sẽ sống
lại, ngay dù con có thoáng thấy trạng thái phúc lạc và
trong trẻo của tánh Giác. Trừ phi con cắt
đứt sự trói buộc của ḷng khao khát, con sẽ
măi măi trở lại, dầu con có từ bỏ các
đối tượng của thích và không thích.
Nếu công
việc thế tục của con quá nhiều, con sẽ
không t́m ra cơ hội để đạt đến
trạng thái giác ngộ, ngay dù con đă có những lời
dạy miệng của một Đạo sư. Con có
thể học hỏi và tư duy liên tục, nhưng
trừ phi sự sợ hăi của sanh và chết hằn lên
ḷng con, mọi giáo huấn sẽ không ǵ hơn là câu và
chữ. Con có thể đạt đến sự thành
thạo trong bốn hoạt động, nhưng trừ phi
con làm việc cho sự lợi lạc của chúng sanh,
quyết định Bồ tát của con sẽ thừa
thải vô ích.
áo giáp
giới luật của con có thể đầy ấn
tượng, nhưng trừ phi con đạt
được sự chấp nhận tự tánh, nó sẽ
không đứng vững với các lời thô bạo. Con có
thể được học các giáo lư ngoại và nội,
nhưng trừ phi con nỗ lực thực hành, tâm con
cũng không vượt hơn tâm một người b́nh thường.
Thầy của con có thể có nhiều công đức
như lớp lớp mây, nhưng trừ phi con,
người đệ tử có cánh đồng của
sự sùng mộ, trận mưa ban phước sẽ không
rơi xuống.
Là một
hành giả, con có thể đă nhận được các
sự ban phước và lời dạy, nhưng trừ phi
con có tâm bi vô lượng, nó sẽ không làm lợi lạc
cho chúng sanh. Con có thể có được một toà lâu
đài trong thế giới con người, nhưng trừ
phi con nắm lấy pháo đài vô sanh của vương
quốc Phật, con sẽ lang thang hỗn loạn trong
cơi trung ấm. Trừ phi con kết bạn với sự
chứng ngộ bất hoại, dầu bạn bè thân
thuộc của con có nhiều, nhưng con cũng sẽ
chết, bỏ lại họ đằng sau.
Con có
thể đă thành tựu mọi nghệ thuật chiến
đấu của ḷng dũng cảm, nhưng trừ phi con
hoàn thiện sức mạnh của thiền định,
khi đang ở trong thân này, con sẽ không chống nổi
các đạo quân của Thần Chết. Sự hùng
biện của con có thể làm xiêu ḷng, nhưng trừ phi
con quyết định toàn tâm ư đạt đến
giải thoát, nó sẽ không lay động ǵ Thần
Chết. Trừ phi con cày bừa cánh đồng của
những giá trị vĩnh cửu ngay bây giờ, con chỉ
tiêu phí toàn bộ đời con để góp nhặt sung
túc, nhưng sẽ tới lúc con không thể mang nổi
một hạt gạo.
Nhiều
hoàn cảnh trợ giúp phải trùng hợp để
đạt đến Phật tánh trong chỉ một
đời và điều ấy th́ khó khăn!
Đạo
sư Padma lại nói: Tsogyal! H́nh như rằng hầu
hết các hành giả Tây Tạng chắc chắn không
đem giáo lư vào ḷng! Nếu họ có, họ không thể
lười biếng và lơ là như vậy. Họ
chắc chắn không hiểu bản chất của sanh
tử; nếu hiểu, họ không thể gắn bó với
h́nh tướng thô đặc như vậy. Họ
chắc chắn không hề chiêm nghiệm các thứ khó t́m
là tự do và giàu có; nếu họ có, họ đă không
dấn ḿnh vào các việc vô ích như vậy.
Họ
chắc chắn không hiểu luật nhân quả; nếu
họ hiểu, họ sẽ cực kỳ cẩn thận
để tránh hành vi xấu. Họ không thể thấy
những phẩm chất tốt của thiện nghiệp;
nếu họ thấy, họ sẽ không mệt mỏi thu
góp hai thứ tích tập. Họ phải không có kinh
nghiệm nào về bản tánh bổn hữu sâu xa; nếu
họ có, họ sẽ không dám ĺa khỏi thực hành.
Họ không
có thể sát đến chỗ phát khởi được
quyết định Đại thừa; nếu có thể,
họ sẽ hoàn toàn không màng đến các mục tiêu
vị ngă và làm việc v́ sự lợi lạc cho
người khác(1). Họ phải không hướng tâm
họ về tự tánh; nếu có, chắc chắn
họ đă thoát khỏi tật đố và kiêu mạn.
Họ không thể đă hỏi hỏi hay tư duy về
chín thừa thứ lớp; nếu có thể, họ đă
hiểu sự khác biệt giữa các giáo lư cao và
thấp.
Chắc
chắn họ không tiến đến cái thấy của
Mật thừa; nếu có, họ phải biết sự
chấp nhận và từ chối liên quan đến sanh
tử và Niết Bàn. Họ phải chưa chứng ngộ
cái thấy chân thật về trạng thái bổn nhiên;
nếu đă chứng, chắc hắn họ đă không
xử sự trong một nền tảng và những
đường lối thiên biến như[1]
Vậy. Họ không thể có ư muốn
giác ngộ nào; nếu có, họ đă từ bỏ các công
việc vô ích của cuộc đời này.
Có nhiều người không có lưu
tâm chút xíu nào đến giáo Pháp!
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal!
Ta có lời dạy nếu con muốn hoà hợp tâm con
với Pháp.
Các kinh và tantra là chứng cớ không sai
lầm, thế nên hăy tương ứng với các lời
dạy trong bất cứ điều ǵ con làm. Lời khuyên
bảo của thầy là chỉ dẫn cuối cùng,
thế nên hăy tuân theo lời nói của những bậc
cao cả. Bổn tôn của con là sự chống
đỡ cho thành tựu, thế nên hăy thực hành không xao
động. Các chướng ngại của con
được dời đi bởi các vị Hộ
Pháp, thế nên hăy nương dựa vào các Dakini và
Hộ pháp.
Công việc của con là dấn thân vào
các thực hành tâm linh, thế nên chớ bao giờ ĺa
khỏi sự thực hành Pháp trong tư tưởng,
lời nói của hành vi. Cái con đang kinh nghiệm là tri
giác hư vọng, thế nên hăy xem xét bất cứ thứ
ǵ xuất hiện là không thực. Cái mà con phải
điều phục là chấp ngă, thế nên hăy trục xuất
con ma quỷ xấu xa là bản ngă. Cái con phải cho là
hạnh phúc cho người khác, thế nên hăy che chở
chúng sanh như với con của ḿnh.
Cái con phải thấu rơ là cái thấy,
thế nên hăy nhận ra rằng sanh tử và Niết bàn là
tự tánh. Cái mà con cần làm cho tan biến là những
chướng ngại, thế nên hăy biết rằng
đối thủ là một người giúp đỡ. Cái
mà con phải đạt đến là Phật tánh, thế
nên hăy thực hiện ba thân. Tâm con được hoà
hợp với Pháp khi con có mọi thứ ấy, nhưng
hầu hết mọi người không hoàn thành con
đường giải thoát.
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal!
Khi sự kết thúc thời đại của Phật pháp
đến gần, sẽ có nhiều người ở Tây
Tạng này muốn đạt đến giác ngộ,
nhưng bởi v́ họ cần phải biết thực
hành Pháp thế nào cho đúng, nên chỉ một số ít
thành công. Nếu vào lúc ấy họ sẽ nghe lời khuyên
bảo thiện ư này, họ có cách đạt đến
hạnh phúc.
Con xin Ngài cho chúng con lời khuyên
bảo ấy, bà nói.
Đạo sư trả lời: Con có
thể chịu khó nỗ lực, nhưng con sẽ không
thoát khỏi con ma các chướng ngại, khi nào con c̣n
sống trong thành phố, thế nên nếu con muốn nhanh
chóng đạt đến thành tựu, hăy sống trong
những chốn ẩn cư nơi núi non. Con có thể phát
khởi quyết định Đại thừa, nhưng
sẽ căng thẳng khi làm việc cho lợi lạc
của người khác, mà chưa đạt đén sự
trưởng thành của chính con, thế nên hăy đem
sự thực hành vào trong kinh nghiệm cá nhân. Con có thể
có cái thấy thực nghĩa, nhưng trừ phi con
thiện xảo trong hoạt động hằng ngày, con
sẽ trợt vào trong năm độc của một
người b́nh thường, thế nên hăy từ chối
công việc thế gian.
Con có thể theo đuổi các thực
hành tâm linh, nhưng nếu con mất quyết định
của Bồ tát, con sẽ lạc vào các lối của
một người thế gian, thế nên hăy vất bỏ
tám mối quan tâm thuộc về thế gian. Con có thể
được chấp nhận bởi ḷng về thế
gian. Con có thể được chấp nhận bởi
ḷng bi của thầy, nhưng trừ phi con vất bỏ
các mối quan tâm thuộc về thế gian. Con sẽ không
cắt đứt được các trói buộc của
bạn và thù, thế nên hăy buông bỏ sự bám níu vào tính
nhị nguyên của ta và người. Con có thể nhận
những giáo huấn sâu xa, nhưng chỉ điều
đó không trừ bỏ nỗi những chướng
ngại nếu con không kiên tŕ, thế nên hăy dùng các
phương tiện thiện xảo cho sự tiến bộ.
Con có thể được
định tâm trong trạng thái thiền định,
nhưng trừ phi con thu xếp để đưa
đối thủ vào con đường, nó sẽ không
cứt được ḍng chảy mạnh mẽ của
tập khí, thế nên hăy kinh nghiệm tự tánh của con
trong suốt sự hiểu biết tiếp theo (của
trạng thái sau định). Sự thực hành tâm linh
với ư niệm của con có thể không ngừng, nhưng
nó sẽ trở lại vào hy vọng và sợ hăi liên quan
đến quả, trừ phi con có thể giải thoát tham
vọng của con vào trong trạng thái không ư niệm,
thế nên hăy cởi cái nút của sự trụ
tướng nhị nguyên.
Sự hiểu biết của con
về các kinh và các tantra có thể rộng răi, nhưng
trừ phi con chứng ngộ trạng thái tự nhiên
của tâm. Con sẽ vẫn là một người b́nh
thường khi tâm con ĺa bỏ thân thể, thế nên hăy
nhận biết bản tánh chân thật của sự
thực hành. Con có thể nhắm đến thành tựu,
nhưng trừ phi con là một b́nh chứa xứng đáng
cho những Samaya. Con sẽ biểu lộ một sự
ưu tiên cho một Yidam đặc biệt, thế nên hăy
giữ các Samya của con được thanh tịnh.
Trong bất cứ trường hợp
nào, những người nào đi v ào Phật pháp nhưng
không hành động tương ứng với kinh, tantra và
lời thầy ḿnh sẽ không t́m thấy an lạc!
Nhưng nếu họ nghe lời khuyên bảo của Đạo
sư Liên Hoa Sanh của Uddiyana, họ sẽ
được an lạc trong đời này và hoan hỷ sau
đó.
Đạo sư Padma lại nói: Tsogyal!
Trong mùa đông đáng sợ của thời cuối,
người ta sẽ chịu đựng như vầy:
Pháp luật của vua sẽ suy thoái như mặt trời
lặn, và những nguyên tắc tôn giáo của thần dân
sẽ bị phá vỡ như một nút lụa. Sự
học hỏi và dạy Pháp trên toàn thể thế giới
sẽ biến mất như bông tuyết rơi trên
nước. Người tư duy và thiền định
hiếm hoi hơn sau lúc mặt trời mọc. Các vị
thầy có phẩm chất nhắm đến lợi lạc
cho người sẽ biến mất như một ḥn
đá ném vào giếng. Và mọi loại thú vật bị
hạ sát như lúa vào mùa gặt và giống như những
chuyện cổ tích của thời quá khứ. Những
bậc thầy tâm linh như thuyền và cầu sẽ
biến mất trong biển cả của sự trói
buộc lớn lao. Người có phẩm chất tốt
sẽ biến mất như cỏ và bụi cây bị
thổi tung bởi ngọn gió vũ trụ, và những
lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ nhạt
nhoànhư những chiếc bóng lúc hoàng hôn.
Khi thời ấy đến, những
lời nói tốt đẹp của con sẽ
được nghe, như những lời chỉ trích và
khiển trách. Khi nói cho người khác thực hành Pháp;
họ sẽ trả lời “Ông tự làm lấy đi!”.
Khi dạy về Tâm Phật, họ sẽ giả vờ
hiểu trong khi lạc mất chủ đề. Khi dạy
tin vào luật nghiệp quả, họ sẽ nói “Nó không có
thật, nó sai!”.
Vào thời đó người ta sẽ
giết chóc như là cách sống; trong buôn bán họ giả
dối; mặc áo quần để bành trướng
tự phụ, họ sẽ giết người v́ giải
thưởng và say sưa trong suy đồi t́nh dục.
Lấy lợi và của cải làm mục tiêu chính, họ
sẽ giết chúng sanh như một hành động tôn giáo
và tiệc tùng ăn nhậu. Thời sẽ tới là
như vậy.
Vào thời đó, những người
nào thực hành lời khuyên bảo của Ta sẽ làm
lợi lạc cả chính họ lẫn người khác có
duyên của các thế hệ tương lai. Bởi
thế, Tsogyal họ Kharchen, v́ người đời sau
hăy viết lại lời khuyên này và cất giấu nó
như kho tàng terma.
Như thế, Padmasambhava đă nói.
( (
Lời nguyện mạn đà la kim cương
giới
Nam mo guru.
Vào ngày thứ năm tháng khỉ năm
khỉ, Đạo sư của Uddiyana phát lên lời
nguyện này, nhân dịp mở Mạn đà la Kim
Cương Giới trong pḥng trung ương phủ màu
ngọc bích của chùa Samye. Sau đó, nhà vua và các đệ
tử dùng nó làm thời thực hành hằng ngày. Mọi
thế hệ tương lai nên toàn tâm dùng nó như sự
tu hành của họ.
Các bậc Điều Ngự và các
Phật tử trong mười phương, bốn
thời
Các chứng Guru, Yidam, Dakini và Hộ Pháp
Xin tất cả các Ngài đến
đây, nhiều như bụi trong thế giới.
Và ngồi trên hoa sen và nguyệt toà trong
bầu trời trước mặt con.
Với thân, khẩu và tâm kính cẩn con
lễ lạy
Và dâng các Ngài đồ cúng bên ngoài, bên
trong bí mật và như như.
Trong sự hiện diện của
chư Như Lai, đối tượng tối
thượng của ḷng kính ngưỡng.
Con cảm thấy xấu hổ cho các
hành động xấu trong quá khứ của con.
Và ăn năn sám hối các nghiệp
bất thiện trong hiện tại.
Con sẽ chừa bỏ và ĺa xa chúng
trong tương lai.
Con tuỳ hỷ mọi công đức
gom chứa
Và cầu thỉnh các bậc
Điều Ngự không nhập Niết bàn.
Mọi tích luỹ công đức con
hồi hướng, đến tâm của chúng sanh,
Để họ có thể đạt
đến giải thoát vô thượng.
Chư Phật và các con của các Ngài,
xin hăy nghe con!
Mong lời nguyện toàn hảo con
đă phát ra này.
Được tương ứng hoà
hợp với
Đức Phật Phổ Hiền và
các con của Ngài
Và với trí huệ của Đức
Văn Thù cao quư.
Nguyện tất cả các Đạo
sư qúy báu,
ánh sáng rực rỡ của giáo Pháp,
Thấu đến mọi chốn
mọi nơi như bầu trời.
Nguyện các Ngài soi sáng trên mỗi
người như mặt trời mặt trăng.
Và nguyện cuộc đời các Ngài
vững vàng như núi.
Nguyện Tăng Già quư báu, nền
tảng của giáo Pháp.
Được hoà hợp, giữ các
nguyện thanh tịnh và thịnh vượng trong Tam
học.
Nguyện các hành giả Mật
thừa, tinh tuư của giáo Pháp.
Giữ các Samaya, hoàn thành các giai
đoạn phát triển và thành tựu.
Nguyện bậc cai trị hộ tŕ
Pháp, người bảo trợ giáo Pháp,
Mở rộng quyền cai trị và
giúp đỡ cho Phật giáo.
Nguyện giới quư tộc và các
trưởng bộ tộc, những tôi tớ của giáo
pháp,
Tăng trưởng trí thông minh và
được thêm tháo vát.
Nguyện mọi chủ gia đ́nh giàu
có, những người tài trợ của giáo Pháp.
Được thịnh vượng,
hoan hỷ và thoát khỏi tổn hại.
Nguyện mọi quốc gia với ḷng
tin vào giáo Pháp.
Được hoà b́nh và hạnh phúc,
thoát khỏi chướng ngại.
Nguyện rằng tôi, một thiền
giả trên con đường,
Có được Samaya không tỳ
vết và hoàn thành các ước nguyện.
Nguyện bất kỳ ai liên hệ
đến tôi qua nghiệp tốt cũng như nghiệp
xấu,
Bây giờ cho đến cuối cùng,
đều được Chư Phật thương
tưởng.
Nguyện tất cả chúng sanh đi
vào cửa của Thừa Vô Thượng,
Và đạt đến vương
quốc bao la của Đức Phổ Hiền
Hăy nỗ lực trong lời nguyện
này trong sáu thời.
Samaya, ấn niêm.
Vị khám phá kho tàng, Terton vĩ
đại Chokgyur Lingpa, hoá thân của hoàng tử Murub, khám
phá kho tàng này giữa một đám đông. Ngài lấy nó
từ trong phần trên của Núi Đá Ngọc Chất Đống,
bên sườn phải của chỗ linh thiêng nhất,
Sùngchen Namtrak. Giấy lụa làm từ y của Vairochana
với chữ Tây Tạng Shurma được
Tsogyal viết ra, rồi được nhanh chóng và
chính xác dịch ra bởi Padma Garwang Lodro Thaye. Nguyện công
đức tăng trưởng.
( (
Bảng thuật ngữ
Abhidharma: Luận Tạng trong Ba
Tạng do Đức Phật thuyết. Các lời dạy
có hệ thống về siêu h́nh hoặc nhắm vào sự
phát triển trí phân biện, bằng cách phân tích các yếu
tố của kinh nghiệm và t́m hiểu bản tánh của
sự vật.
Abhidharma Pitaka: Tạng Luận
Abhisambodhikaya: Thân thứ năm trong
năm thân của Phật tánh, định nghĩa theo Jamgon
Kontrul trong Kho Tràng Trí Huệ như là “Sự biểu lộ
đa dạng phù hợp với nghiệp của những
người được giáo hoá, không ĺa khỏi Pháp thân,
nó xuất hiện bởi v́ bốn thân kia tự nhiên
đầy đủ trong trí huệ giác ngộ”.
Akanishtha (Ogmin): “Tối thượng”;
cơi giới của Vajradhara, cơi giác ngộ của Phật
pháp thân. Thường dùng đồng nghĩa với “pháp
giới”.
Amrita: Cam lồ, Heruka của gia đ́nh
Ratna trong Tám Giáo Huấn Tu Hành và các giáo huấn Mật
thừa liên hệ đến vị hoá thần này.
Amrita và Rakta: Hai loại chất linh
thiêng được dùng trên bàn thờ trong các nghi thức
Kim Cương thừa.
Ananda: Một trong mười
đệ tử thân thiết của Đức Phật,
thị giả của Đức Phật, người
đă tụng lại các kinh trong kỳ kết tập
thứ nhất, và được xem là vị Tổ
thứ hai trong ḍng truyền thừa bằng miệng
của giáo pháp.
Anu Yoga: Cái thứ hai của ba Tantra
Nội Môn; Maha, Anu và Ati. Nó nhấn mạnh vào Trí huệ
hơn là Phương tiện và vào giai đoạn thành
tựu hơn là giai đoạn phát triển. Cái thấy
của Anu Yoga là giải thoát, được đạt
đến qua sự làm quen dần với cái quán chiếu
vào tính bất nhị của hư không và trí huệ.
Mạn đà la Anu Yoga được xem là bao gồm trong
thân kim cương. Anu có nghĩa là “sau, tiếp theo”.
Ati Yoga: Cái thứ ba của ba Tantra
Nội Môn. Theo Jamgon Kontrul thứ nhất, nó nhấn
mạnh vào cái thấy (kiến) được rằng
giải thoát đạt được qua sự làm quen
với quán chiếu vào bản tánh của giác ngộ nguyên
thuỷ, xa ĺa nắm và bỏ, hy vọng và sợ hăi. Danh
từ thường dùng hơn ngày nay là Dzogchen, Đại
Viên Măn. Ati nghĩa là “tối thượng”.
Ba cửa: Thân, khẩu, ư; tư
tưởng, lời nói và việc làm.
Ba gốc: Guru, Yidam và Dakini. Guru là
gốc của các sự ban phước, Yidam là gốc
của thành tựu và Dakini là gốc của hoạt
động.
Ba bộ thệ nguyện: Những
thệ nguyện Tiểu thừa của giải thoát cá
nhân, các tu hành Đại thừa của một Bồ tát và
những Samaya Kim Cương thừa của một
Vidyadhara, một hành giả Mật thừa.
Ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hoá thân. Ba thân
như nền tảng là “yếu tính, bản tánh và biểu
lộ”, như con đường là “lạc, minh và vô
niệm”, như quả là “ba thân của Phật tánh”. Ba thân
của Phật tánh là Pháp thân thoát khỏi tạo tác, trau
dồi và vốn đủ “hai mươi mốt bộ
phẩm chất giác ngộ”. Báo thân vốn là bản ánh ánh
sáng có các tướng chánh và phụ, chỉ bậc Bồ
tát trong mười địa thấy được. Và
Hoá thân biểu lộ ra h́nh tượng người trong
sạch lẫn không trong sạch đều có thể
thấy.
Ba tuyệt hảo: Sự bắt
đầu tuyệt hảo của Bồ Đề tâm,
phần chính tuyệt hảo không có ư niệm hoá và kết
thúc tuyệt hảo của hồi hướng.
Bản tánh Vô sanh của tâm: Trong chân lư
tối hậu, mọi hiện tượng không có một
tính chất độc lập, cụ thể và bởi
thế, không có nền tảng cho một thuộc tính
như “sanh, trụ hay diệt” nghĩa là đến và có
mặt, giữ yên trong thời gian nơi chốn, và
ngừng hiện hữu.
Bardo: Trạng thái trung gian.
Thường ám chỉ đến giai đoạn giữa
cái chết và sự tái sinh tiếp theo. Về chi tiết
của bốn Bardo, xem Tấm gương của tỉnh
giác và Sách hướng dẫn về Bardo (NXB Rangjung Yeshe).
Bát nhă và phương tiện: Prajna là
trí huệ, đặc biệt là trí huệ chứng ngộ
vô ngă. Upaya là phương pháp hay kỹ thuật đưa
đến chứng ngộ.
Bảy lối truyền thọ: Dùng
kinh điển hay truyền miệng kho tàng được
khám phá, kho tàng t́m thấy lại, kho tàng của tâm, nhớ
lại linh kiến thanh tịnh và ḍng nghe lời thầy
chỉ dạy.
Bhumi: Các cấp bậc của Bồ
tát. Mười địa của một Bồ tát tiến
đến giác ngộ viên măn. Mười địa này
thuộc về ba cái chốt của năm con
đường Đại thừa.
Bồ đề tâm: “Trạng thái
giác ngộ của tâm”. Trạng thái giác ngộ: 1 –
Nguyện vọng đạt đến giác ngộ v́
lợi lạc cho chúng sanh; 2 – Trong ư nghĩa của Dzogchen,
sự thứcgiác vốn có của tâm giác ngộ;
đồng nghĩa với trí huệ bất nhị.
Bồ tát Lobpon, biệt hiệu
Shantarakshita: “Người ǵn giữ hoà b́nh”. Pháp sư
ấn Độ và Trụ tŕ chùa Vikramashila và chàu Samye,
vị đă xuất gia cho những nhà sư Tây Tạng
đầu tiên. Ngài là một hoá thân của Bồ tát
Vajrapani và cũng được biết như là Bồ tát
Khenpo hay Tỳ kheo Bồ tát Shantarakshita. Ngài là người
sáng lập một học phái triết học hỗn
hợp Trung quán và Duy thức. Truyền thống này
được trùng hưng và làm sáng tỏ bởi Mipham
Rinpoche trong luận giải Madhyamaka Lamkara của Ngài.
Bốn cách: Bốn mức độ
của nghĩa: nghĩa đen, nghĩa tổng quát,
nghĩa che giấu, nghĩa tối hậu.
Bốn giới gốc: Không giết,
trộm, nói dối và tà dâm.
Bốn trạng thái thiền của
sự thanh tĩnh (Tứ thiên): Sơ thiền là trạng
thái cả hai ư niệm và phân biện. Nhị thiền là
trạng thái không ư niệm nhưng có phân biện. Tam
thiền là trạng thái không có hỷ mà có lạc. Tử
thiền là trạng thái b́nh thản, buông xả.
Bốn trạng thái Vô sắc của
sự thanh tĩnh: Xem Vô sắc giới.
Căn cứ của giác quan:
Mười hai yếu tố của giác quan là các giác quan
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư; cùng với các
đối tượng của chúng là h́nh sắc, âm thanh,
hương, vị, xúc và đối tượng của
thức (các pháp).
Che chướng trí huệ: Sự che
chướng vi tế bám chấp vào các ư niệm chủ
thể, đối tượng và hành động. Nó
tạm thời được tịnh hoá vào giây phút
nhận ra bản tánh của tâm, và rốt ráo
được tịnh hoá qua Kim cương định vào
lúc chót của địa thứ mười.
Chetsun Nyinagig: Một trong những giáo
huấn quan trọng nhất của Dzogchen, căn cứ
trên sự truyền từ Vimalamitra. Jamyang Khyentse có một
linh ảnh về Chetsun Senge Ưangchuk gây cảm hứng
cho Ngài viết giáo huấn quư giá có tên là Chetsun Nyingtig. Senge
Wangchuk (thế kỷ 11-12) là một trong ḍng các Guru trong
sự truyền thừa Nyiangtig, nhận giáo huấn này
từ bổn sư là Dangma Lhungyal, cũng như trực
tiếp từ Vimalamitra. Kết quả của sự
chứng ngộ rất cao của Ngài, thân xác Ngài biến
mất trong ánh sáng cầu vồng khi Ngài chết. Trong
một tái sanh về sau như là Jamyang Khyentse Wangpo, Ngài
nhớ lại giáo lư Dzogchen mà Senge Wangchuk đă truyền cho
Dakini Palgyi Lodrô và viết chúng ra như là terma Chetsun Nyingtig,
“Tâm yếu của Chetsun”.
Chín muồi và giải thoát: Hai phần
trọng yếu của thực hành Kim Cương thừa:
các sự truyền pháp làm chín, làm trưởng thành ḍng
sống của con ngườivới khả năng
chứng thực được bốn thân và các lời
dạy giải thoát cho phép người ấy áp dụng
thật sự, sư quán chiếu đă được
đưa vào qua các lễ truyền pháp.
Chín trạng thái định liên
tiếp nhau: Bốn thiền, bốn trạng thái vô sắc
và định an b́nh của Thanh văn, c̣n gọi là
Diệt tận định.
Cho: Nghĩa
đen là "cắt". Một hệ thống thực
hành căn cứ trên Bát nhă Ba la mật và truyền xuống
từ thành tựu giả ấn là Phadampa Sangye và nữ
Đạo sư Tây Tạng là Machig Labdron với mục
đích cắt đứt bốn loại ma và chấp ngă.
Một trong tám ḍng tu hành của Phật giáo Tây Trạng.
Chokgyur Lingpa
(1829-1870): Một vị khám phá kho tàng và đương
thời với Jamyang Khyentse Wangpo và Jamgon Kongtrol.
Được xem là một trong các Terton chính trong lịch
sử Tây Tạng. Chokgyur Lingpa nghĩa là: "Thánh
điện của sự xuất chúng".
Cơi lạc
phúc (Cực lạc): Tịnh Độ của Phật A Di
Đà, trong đó người thực hành sẽ sanh về
khi trải qua bardo trở thành, qua sự phối hợp
của niềm tin thanh tịnh, công đức đầy
đủ và sự quyết định nhất tâm.
Con
đường tích luỹ: Cái thứ nhất trong năm
đường, nó tạo thành nền tảng cho cuộc
du hành đến giải thoát và bao gồm sự thu góp
một tích luỹ bao la công đức hồi hướng
cho sự đạt đạo này. Trên đường này,
người ta có một hiểu biết trí thức và ư
niệm về vô ngă qua học hỏi và tư duy. Nhờ
trau dồi bốn niệm xử, bốn chánh cần và
bốn như ư túc, người ta thành công trong việc
trừ sạch các nhiễm ô phiền năo thô, chúng gây ra
sự đau khổ của sanh tử, đạt
được những phẩm chất của thần
thông, và "định của ḍng Pháp" dẫn
đến con đường kết hợp, hội
nhập.
Con
đường hoàn thành: Cái thứ năm của năm
đường và trạng thái của giác ngộ viên măn.
Con
đường tu tập: Cái thứ tư của năm
đường, trong đó người ta tu tập, trau
dồi các thực hành cao cấp của một Bồ tát,
đặc biệt là tám phương diện của Thánh
đạo.
Con
đường thấy chân lư: Cái thứ ba trong năm
đường, là sự đạt đến địa
đầu tiên, giải thoát khỏi sanh tử và chứng
ngộ chân lư của thực tại.
Cúng
tiệc: Một buổi tiệc được các hành
giả Kim Cương thừa cử hành để tích
luỹ công đức và tịnh hoá các cam kết thiêng liêng.
Cửa
mở của Brama: Chỗ mở trên đỉnh
đầu, tám lóng tay trên đường viền mái tóc.
Cựu
dịch: Một đồng nghĩa của Cựu phái,
truyền thống Nyingma. Các giáo lư được dịch
trước thời đại dịch giả Rinchen Sangpo,
trong thời trị v́ của các vua Trisong Deutsen và Ralpachen.
Dakini: 1/ Các
sinh thể hoàn thành các hoạt động giác ngộ; các
nữ thần Mật thừa bảo vệ phụng
sự Phật pháp và các hành giả; cũng là trong "Ba
Gốc Rễ". 2/ Hành giả nữ đă giác ngộ
của Kim Cương thừa.
Dakini
Teachings: Các sự chỉ dạy bằng lời của
Padmasambhava cho Bà Tsogyal một tuyển tập các lời chỉ
dạy của Đại sư do Nyang Ral, Sangye Lingpa và Dorje
Lingpa phát giác; gồm các chủ đề quy y, các lời
nguyện Bồ tát, vị thầy Kim cương, sự
thực hành bổn tôn Yidam, ẩn cư và các phẩm
của quả vị.
Dharmaraja
(Tử thần): Tính cách phải chết của chúng ta;
sự nhân cách hoá của vô thường và quy luật
vĩnh viễn của nhân quả.
Di chúc
của Padma: Khám phá bởi bản dịch dài vừa bộ
Sanglingma, tiểu sử của Padmasambhava. Một bản
dịch Anh ngữ đă được xuất bản là
"Liên Hoa Sanh" (Shambhala, 1993).
Diệt
tận định: Trạng thái thiền định
của một vị A la hán nhập vào sau khi mọi
phiền năo, cảm giác và tư tưởng ngưng
dứt hẳn. Nó không được xem là mục đích tối
hậu của các trường phái Đại thừa.
Dơn: Năng
lực xấu; một loại ma.
Ḍng nghe pháp:
Ḍng các giáo lư khẩu truyền từ thầy đến đệ
tử, phân biệt với ḍng kinh điển truyền
bản văn. Ḍng nghe pháp nhấn mạnh những
điểm then chốt của khẩu truyền hơn là
nghiên cứu học hỏi mang tính chất triết lư.
Dorje Dudoanm
xứ Nanam: Một ông quan của vua Trisong Deutsen,
được gởi đến Nepal để mời Padmasambhava
đến Tây Tạng. Một Mantrika đă đạt
đến hoàn thiện trong hai giai đoạn phát triển
và thành tựu, ông có thể bay với tốc độ gió
và đi qua vật đặc. Rigdzin Godem (1337-1408) và Pema
Trinley (1644-1718) vị Vidyadhara vĩ đại của chùa
Dorje Drak miền trung Tây Tạng, cả hai được
xem là các tái sinh của Dorje Dudjom. Dorje Dodjom nghĩa là
"Người hàng phục không thể huỷ hoại
với Ma vương".
Drenpa Namkha:
Dịch giả Tây Tạng và đệ tử của
Padmasambhava, vốn là một giáo sĩ có ảnh
hưởng của đạo Bonpo. Về sau học với
Padmasambhava và cũng học dịch. Người ta nói ông
đă thuần phục một con trâu yak hoang dă chỉ
bằng một dáng điệu dữ tợn. Ông đă
đưa nhiều giáo huấn Bonpo cho pdm Ngài cất chúng
như kho tàng terma. Drenpa Namkha nghĩa là "Không gian của
Tỉnh giác".
Drib:
Nhiễm ô, che ám do tiếp xúc với người hay
vật bất tịnh.
Druchen
(lễ): Thực hành đại thành tựu, một
thực hành Sadhana bởi một nhóm người tiến
hành không nghỉ trong bảy ngày.
Dục
giới: Gồm các cơi địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh, người, a tu la và chư thiên của sáu cơi
trời thuộc Dục giới. Nó được gọi
là Dục giới, v́ chúng sanh ở đó bị hành hạ
bởi sự đau khổ thuộc tâm trí do ham muốn và
bám níu vào vật chất.
Duy tâm (phái):
Một học phái Đại thừa Phật giáo
được Đại sư Asanga và các đệ
tử phổ biến. Căn cứ trên kinh Lăng Già và các
kinh khác, tiền đề chính của nó là mọi hiện
tượng đều chỉ là tâm, nghĩa là những tri
giác thuộc về tâm thức, chúng xuất hiện trong
tạng thức nền tảng của tất cả, do
từ các tập khí, thói quen. Một cách tích cực, cái
thấy này trừ bỏ sự trụ tướng
chấp thực. Một cách tiêu cực, vẫn c̣n có sự
bám trước vào một cái "tâm" thực sự
hiện hữu trong đó mọi sự xảy ra.
Duyên sanh:
Định luật tự nhiên rằng các hiện
tượng khởi sanh tuỳ thuộc vào các nguyên nhân liên
hệ với các điều kiện. Sự kiện
rằng không có hiện tượng nào xuất hiện mà
không có một nguyên nhân và không có cái ǵ được
tạo ra do một người sáng tạo mà người
đó lại không có nguyên nhân. Mọi sự sanh khởi do
tuỳ thuộc vào sự trùng hợp của các nhân và duyên
mà thiếu chúng sự vật không thể xuất hiện.
Dzongsar
Khyentse Chokyi Lodro: Một trong năm tái sanh của Jamyang
Khyentse Wangpo. Ngài là một Đại sư nắm giữ
truyền thống Rimey, cũng như là một trong hai Guru
gốc của Đức Dilgo Khyentse. Ba tái sinh của Ngài
hiện sống ở Bir, Himachal Pradesh; ở Dordogne, Pháp; và
ở Boudhanath, Nepal. Dzongsar nghĩa là "Lâu đài
mới", Khyentse nghĩa là "Trí huệ từ" và
Chokyi Lodro nghĩa là "Trí của Pháp".
Đại
Viên Măn (Đại Toàn Thiện): Cái thứ ba trong Ba Tantra
Nội của phái Nyingma. Đại Viên Măn là cái tối
hậu của 84.000 pháp môn sâu rộng của Pháp, sự
chứng ngộ của Phật Phổ Hiền. Xem
"Dzogchen" và "Ati Yoga".
Đạo
sư: Trong Lamrim Yeshe Nyingma, Padmasambhava nói: "Đạo
sư kim cương, gốc của con đường, là
một người có hạnh kiểm trong sạch về
samaya và các thệ nguyện. Ngài hoàn toàn trang nghiêm bởi
học hỏi, đă phân biện nó qua tư duy và qua
thiền định, Ngài có những phẩm chất,
dấu hiệu của kinh nghiệm và chứng ngộ. Với
tâm đại bi, Ngài chấp nhận những đệ
tử". Tóm tắt, một người với chánh
kiến và ḷng bi chân thật.
Đồ
cúng được đốt: Khói từ các hương
được đốt trộn với thực phẩm
tinh chất và các chất thiêng liêng. Khói này được
dâng cúng trong một thiền định về đức
Quán Thế Âm, vị Bồ tát của đại bi, có
thể nuôi dưỡng các tâm thức đang ở trong
bardo cũng như các ngạ quỷ.
Động
Asura: Động nơi đó Guru Rinpoche hàng phục các
lực lượng ma quỷ của Nepal qua sự thực
hành Vajra Kilaya. ở gần Pharping trong thung lũng Kathmandu.
Đức
hạnh có điều kiện: Thực hành tâm linh trong
đó có quan điểm nhị nguyên, bao gồm các tiên
khởi, bảy giác chi vv... Đức hạnh không
điều kiện là sự nhận biết Phật tánh.
Hai phương diện đức hạnh này gom góp hai
sự tích luỹ, bỏ đi hai che chướng, làm
hiển lộ trí huệ hai phần và thực hiện hai
thân.
Garab Dorje:
Hiện thân của Semlhag Chen, một vị trời ngày
trước đă được chư Phật truyền
pháp. Trinh bạch mà có thai, mẹ Ngài là một Ni cô, con
của vua Uparaja (Dhahenatalo hay Indrabhuti) của Uddiyana. Garab
Dorje nhận được tất cả tantra, kinh và
lời dạy về Dzogchen từ Vajrasattva và Vajrapani trong
h́nh tướng con người và trở thành vị
Vidiyadhara con người đầu tiên trong ḍng Dzogchen.
Đạt đến giác ngộ viên măn qua "Đại
Viên Măn không dụng công", Garab Dorje truyền các giáo lư cho
tuỳ tùng là những chúng sanh đặc biệt.
Manjushrimitra được xem là đệ tử chính
của Ngài. Padmasambhava cũng được biết là
đă nhận sự truyền thừa Dzogchen tantra trực
tiếp từ thân trí huệ của Garab Dorje. Garab Dorje
nghĩa là "Niềm vui bất diệt".
Giáo lư
trực chỉ: Sự trực tiếp đưa vào,
nhập vào bản tánh của tâm. Một Guru gốc là
một vị thầy ban cho lời dạy trực chỉ
khiến đệ tử nhận ra bản tánh của tâm.
Gongpa Sangtal:
Một kinh điển tantra gồm năm bộ
được Guru Rinpoche cất giấu và được
khám phá bởi Rigdzin Godem, vị Đạo sư lập nên
truyền thống Jangter của phái Nyingma. Có chứa
"Nguyện vọng của Phổ Hiền", một
bản danh tiếng. Gongpa Sangtal nghĩa là "Sự
chứng ngộ vô ngại", và là một chữ viết
tắt của "Trực chỉ sự chứng ngộ của
Phổ Hiền".
Guhyasamaja:
Nghĩa đen là "Hội của những bí
mật". Một trong các tantra và yidam chính của Tân phái.
Gyalpo:
Một loại tinh linh hiểm ác, đôi khi được
tính vào "tám loại thần và quỷ". Khi đă
được một Đại sư hàng phục, họ
có thể hành động như những người
bảo vệ Phật pháp.
Gyalwa Cho-Yang
họ Nganlam: Một đệ tử thân cận của
Guru Rinpoche. Đă đạt đến thành tựu qua
thực hành Hayagriva và sau này tái sanh như là các vị Karmapa.
Sinh vào bộ tộc Nganlam trong thung lũng Phen, Ngài thọ
giới với Shantarakshita trong nhóm bảy tu sĩ Tây
Tạng đầu tiên. Ngài giữ các lời nguyện
một cách tṛn sạch nhất. Được truyền
pháp Hayagriva từ Padmasambhava, Ngài thực hành trong đơn
độc và đạt đến mức độ
của một vị Vidyadhara. Gyalwa Cho-Yang nghĩa là
"Tiếng nói cao cả của chiến thắng".
Gyalwa Jangchub
ḍng Lasum: Một trong bảy người Tây Tạng
đầu tiên thọ giới Tỳ khoe với
Shantarakshita. Ngài cực kỳ thông minh, có thăm ấn
Độ vài lần và dịch nhiều kinh điển.
Một đệ tử thân cận của Padmasambhava, Ngài
đạt Siddhi và có thể bay trên trời. Rigdzin Kunzang
Sherab, nhà sáng lập đại tu viện Pakyul ở Kham,
được coi là một trong những hoá thân của
Ngài. Gyalwa Jangchub nghĩa là "Sự giác ngộ toàn
thắng".
Gyalwey Lodro
họ Drey: Bắt đầu là một Gonpo, một
người hầu tín cẩn của vua Trisong Deutsen, Ngài
trở thành một trong những người Tây Tạng
đầu tiên thọ giới, với pháp danh là Gyalwey Lodro
(Trí Thông Tuệ Chiến Thắng). Ngài trở nên thông thái
trong dịch thuật và đạt đến thành tựu
sau khi nhận sự truyền thọ từ Hungkana ở
ấn Độ. Người ta nói rằng Ngài đă
thăm viếng xứ sở của Yama, Diêm vương,
vua của người chết, và cứu mẹ khỏi
địa ngục. Sau khi nhận chỉ dạy từ
Padmasambhava, Ngài đă chuyển một xác ướp hoá thành
vàng. Một số kỳ công đă được khám phá
về sau trong các kho tàng Terma. Ngài hoàn thành mức độ
Vidyadhara về trường thọ và nổi tiếng, v́
đă sống đến thời Rongzom Pnadita Chokyi Sangpo
(1012-1088), vị này nhận lời chỉ dạy từ
Ngài. Gyalwey Lodro, nghĩa là "Trí huệ chiến
thắng".
Hai chân lư
(Nhị đế): Chân lư tương đối và chân lư
tuyệt đối. Chân lư tương đối (tục
đế) diễn tả kiểu cách tương tợ,
h́nh như, bề ngoài của mọi sự. Chân lư tuyệt
đối (chân đế) diễn tả kiểu cách thực,
không lầm lỗi. Hai phương diện của thực
tại này được định nghĩa bởi
Bốn Trường Phái Triết Học, cũng như các
Tantra Mật thừa theo nhiều lối, mỗi lối
ngày càng sâu sắc hơn và sít sao hơn để diễn
tả sự vật như chúng là.
Hai sự
tích luỹ: Sự tích luỹ công đức có ư niệm và
sự tích luỹ trí huệ siêu vượt ư niệm.
Hai che ám:
Sự che ám của phiền năo (phiền năo chướng)
và sự che ám hiểu biết (sở tri chướng).
Hai
mươi lăm thuộc tính của Quả: Năm thân,
năm khẩu, năm trí, năm phẩm tính và năm
hoạt động. Cũng gọi là "sự
tương tục được trang hoàng với thân,
khẩu, phẩm chất và hoạt động đều
vô tận".
Hayagriva: Hoá
thần Mật thừa với một đầu ngựa,
tóc cháy rực; phương diện phẫn nộ của
Phật A Di Đà. ở đây đồng với Padma
Hekura, Khẩu Hoa Sen trong Tám Chỉ Dạy Sadhana.
Hinayana
(Tiểu thừa): Thừa nhắm vào sự chiêm nghiệm
thiền định về Bốn thánh đế và
Thập nhị nhân duyên, sự thực hành đưa
đến giải thoát khỏi sanh tử. Khi dùng trong cách
nói đối địch, thái độ Tiểu thừa
để chỉ sự theo đuổi hạn hẹp con
đường giác ngộ, chỉ với mục đích
giải thoát cho cá nhân hơn là cho sự giác ngộ của
tất cả chúng sanh.
Hoan Hỷ
Địa: Bậc đầu tiên của mười
địa Bồ tát; giải thoát khỏi sanh tử và
chứng ngộ chân lư của thực tại.
Học,
Tư duy và Thiền định (Văn, tư, tu):
"Học" nghĩa là nhận các lời giáo lư và nghiên
cứu kinh điển để tịnh trừ vô minh và tà
kiến. "Tư duy" là nhổ gốc sự không tin
chắc và hiểu sai qua việc suy nghĩ kỹ
lưỡng về chủ đeàe. "Thiền
định" là trực tiếp đạt
được thấu hiểu qua sự áp dụng các
lời dạy vào kinh nghiệm cá nhân.
Hư Vô
Luận - Hư Vô Chủ nghĩa: Nghĩa đen là
"đoạn kiến". Quan điểm cực
đoan "không có ǵ cả": không có tài sanh hay nghiệp
quả và sự không hiện hữu của một tâm sau
khi chết.
Jamgon Kongtrul
(1813-1899): Cũng được biết với tên là Lodro
Thaye, Yongten Gyamtso, Padma Garwang và tên terton là Padma Tennyi Yungdrung
Lingpa. Ngài là một trong những vị thầy xuất
chúng thế kỷ 19 và chú tâm đặc biệt đến
thái độ không bộ phái. Nổi danh như một
vị thầy thành tựu, học giả và tác giả, ngài
trước tác hơn 100 bộ sách. Bộ nổi tiếng
nhất là Năm Bảo Tàng, trong đó có 63 bộ của
Rinchen Terdzo, văn chương Terma của một trăm
vị đại Terton.
Jamyang
Khyentse Wangpo (1820-1892): Một vị thầy vĩ
đại thế kỷ trước. Ngài là vị cuối
cùng trong năm đại Terton và được coi là
sự hoá thân hỗn hợp của Vimalamitra và vua Trisong
Deutsen. Ngài trở thành thầy của mọi phái Phật
giáo Tây Tạng và là người sáng lập phong trào Riney. Có
mười bộ sách của Ngài cùng với các terma của
Ngài. Jam-yang nghĩa là "Văn Thù, hoà dịu", Khyentse
Wangpo nghĩa là "Bậc Trí Huệ Từ ái".
Jnana Kumara
họ Nyag: Jnana Kumara nghĩa là "Sự Tỉnh Giác
Trẻ Trung". Tu sĩ Tây Tạng lúc sơ thời và là
dịch giả trác tuyệt, đă nhận "bốn ḍng
sông lớn của sự truyền thừa" từ
Padmasambhava, Vimalamitra, Vairochana và Yudra Nyingpo. Ngài làm việc
gắn bó với Vimalamitra trong việc phiên dịch các tantra
Mahayoga và Ati Yoga. Ngài cũng có tên là Nyag Lotsawa và do sự
nhập môn bí mật mà có tên là Drimey Dashar, "ánh trăng
không vết mờ". Hoa trong lễ nhập môn của
Ngài, cùng với hoa của Trisong Deutsen rơi vào Chemchok
Heruka. Sau đó, Ngài nhận sự trao truyền Y Học Cam
Lồ từ Padmasambhava. Ngài thực hành ở động
Kim Cương ở Yarlung, nơi đó Ngài đă rút nước
từ trong đá tảng; người ta nói rằng ḍng
nước này c̣n chảy tới hôm nay. Trong các tái sanh
của Ngài có Dabzang Rinpoche, một vị đồng
thời trong thế kỷ 19 với Jamgon Kongtrul thứ
nhất.
Kadag Rangjung
Rangsar: Tên của một trong năm bộ sách chứa trong
Gongpa Sangtal. Kadag Rangjung Rangsar, nghĩa là "Tánh thanh
tịnh bổn nhiên tự hữu và tự biểu
hiện".
Karma Pakshi
(1204-1283): Vị thứ hai trong ḍng các Karmapa tái sanh và
được xem là Tulku thứ nhất được
nhận biết của Tây Tạng. Tên Pakshi là tiếng Mông
Cổ để chỉ "Đạo sư", một
tên hiệu sau khi được vu Mông Cổ ban cho một
vị trí tôn giáo cao cấp. Trong các đệ tử của
Ngài có đại thành tựu Orgyenpa Rinchen Pal (1230-1309).
Kawa Paltsek:
Đệ tử trực tiếp của cả Padmasambhava
và Shantarakshita; người đóng góp quan trọng vào
việc dịch thuật ba tạng Tây Tạng và Gyubum
Nyingma. Sinh trong thung lũng Phen, Ngài trở thành một dịch
giả kiệt xuất ứng với một lời tiên
tri của Padmasambhava, và ở trong nhóm bảy nhà sư Tây
Tạng đầu tiên được thọ giới
bởi Shantarakshita. Ngài nhận giáo lư Kim Cương từ
Đại sư Padma và đạt được thiên nhăn
thông vô ngại. Kawa là tên của một nơi chốn và Paltsek
nghĩa là "Núi rực rỡ".
Kaya:
"Thân" trong nghĩa một thân thể có nhiều
phẩm chất. Khi nói đến hai thân: Pháp thân (Dharmakaya)
và sắc thân (Rupakaya). Ba thân: Pháp thân, Báo thân (Sambhogakaya) và
Hoá thân (Nirmanakaya).
Khandro
Nyingtig: Nghĩa là "Tâm yếu của các Dakini".
Một toàn tập sâu xa về giáo lư Dzogchen được
Padmasambhava truyền cho công chúa Pema Sal. Nằm trong bộ
Nyingtig Yabshi nổi tiếng.
Khenpo:
Một danh hiệu dành cho người hoàn thành khoá học
chính kéo dài khoảng mười năm về các ngành truyền
thống của triết học, luận lư, luật
học Phật giáo... Cũng có thể nói đến vị
Trụ tŕ một ngôi chùa hay vị thầy truyền
giới luật Tỳ kheo.
Khenpo
Ngakchung biệt hiệu Ngawang Palsang (1879-1941): Một Khenpo
ở Katok và một nhà phục hưng rất quan trọng
của ḍng học giả về kinh điển Dzogchen công
truyền. Được xem là tái sanh của cả
Vimalamitra và Longchenpa. Chandral Sangye Dorje là một trong những
đệ tử cuối cùng c̣n sống của Ngài.
Kilaya: Các
tantra về hoá thần Vajra Kilaya.
Kim
Cương Toà: Chỗ ngồi dưới cây Bồ
đề ở Bồ đề đạo tràng nơi
Đức Phật giác ngộ.
Kinh mạch
trung ương: Kinh mạch vi tế trung ương ở
trong thân thể, chạy từ cuối xương sống
đến đỉnh đầu.
Kửnchok
Chidu: "Hiện thân của các bậc quư giá". Một
terma được Jatson Nyingpo vĩ đại (1585-1656)
khám phá ra, tập trung vào Padmasambhava. Ngài truyền bộ
lời dạy này trước tiên cho Dudul Dorje (1615-1672).
Một số lớn của nguyên tác này đă
được dịch ra Anh ngữ bởi Peter Roberts.
Kửnchok
Jungney họ Langdro: Ban đầu là một vị quan trong
triều đ́nh của vua Trisong Deutsen. Về sau trở
thành một đệ tử thân thiết của Padmasambhava
và đạt đến thành tựu. Hai đại Terton
Ratna Lingpa (1403-1471) và Longsal Nyingpo (1625-1692) được
xem là trong số các tái sanh của Ngài. Konchok Jungney nghĩa
là "Nguồn các bậc Quư Giá".
Kriya Yoga: Cái
thứ nhất của Ba Tantra Ngoại, nhấn mạnh
về sự sạch sẽ và giới hạnh thanh
tịnh. Các kinh văn của Kriya Yoga xuất hiện
đầu tiên ở Varanasi.
Kunzang Tuktig:
"Tâm yếu của Phổ Hiền". Một tuyển
tập các lời dạy Terma do Chokgyur Lingpa khám phá, tập
trung nói về các hoá thần từ hoà và hung nô.
Lạc, sáng
tỏ và vô niệm: Ba kinh nghiệm tạm thời của
thiền định. Trụ vào chúng sẽ có sự
ươm hạt cho sự tái sanh trong ba cơi của sanh
tử. Không trụ vào, chúng là sự trang hoàng của ba thân.
Lama Gongdu:
Ṿng giáo pháp được khám phá do Sangye Lingpa (1340-1396)
gồm 18 bộ, mỗi bộ khoảng 700 trang. Lama Gongdu
nghĩa là "Hiện thân sự chứng ngộ của
Đạo sư".
Lama Sangdu:
Một terma khám phá bởi Guru Chowang (1212-1270), một trong
những Terton sớm nhất và quan trọng nhất. Nó
tập trung vào bản thể Guru như Báo thân của
Padmasambhava và Mạn đà la năm phần của Totreng
Sal. Lama Sangdu nghĩa là "Hiền thân những bí mật
của Đạo sư".
Lokyi
Chungpa: Một đệ tử thân cận của
Padmasambhava, trở thành một dịch giả Phật giáo
lúc c̣n rất trẻ, do đó có tên. Ngài cũng
được biết với tên là Khyenchung Lotsowa
"Đứa trẻ dịch giả". Trong số các
tái sanh về sau là Terton Dudul Dorje (1615-1672), Dudjom Lingpa
(1835-1903) và đức Dudjom Rinpoche: Jigdrel Yeshe Dorje (1904-1987).
Longchenpa
biệt hiệu Longchen Rabjam (1308-1363): Một tái sanh của
công chúa Pema Sal, con của vua Trisong Deutsen. Guru Rinpoche đă
trao truyền ḍng Dzogchen (tức Khandro Nyingtig) cho bà. Ngài
được xem là tác giả quan trọng nhất
viết về giáo lư Dzogchen. Công tŕnh của Ngài gồm trong
Nyingtig Yabshi. Nhiều chi tiết về cuộc đời
và lời dạy của Ngài trong cuốn Tâm Phật của
Tulku Thondup Rinpoche, nhà xuất bản Snow Lion, 1989, Longchenpa
nghĩa là "Đại Không".
Machig
Labdrửn (1031-1129): Vị đại sư người
nữ ghi lại sự thực hành pháp môn Cho, cắt
đứt chấp ngă. Đệ tử và người
phối ngẫu của Đạo sư ấn Độ
Phadampa Sangye. Machig Labdron nghĩa là "Ngọn đèn mẹ
độc nhất của Pháp".
Mahayanna:
"Đại thừa". Khi dùng từ "Đại
thừa và Tiểu thừa", th́ Đại thừa bao
gồm các thừa Tantra, trong khi Tiểu thừa gồm các
giáo lư cho bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật. Hàm ư
"đại" hay "tiểu" để chỉ
phạm vi nguyện vọng, các phương pháp tu hành và
độ sâu của sự thấu hiểu. Trung tâm của
thực hành Đại thừa là lời nguyện Bồ
tát giải thoát cho tất cả chúng sanh qua phương
tiện và trí huệ, đại bi và quán thấu tánh Không.
Hai phái lớn của Đại thừa là Duy Tâm và Trung
Đạo. Bảy tính cách vĩ đại của Đại
thừa được đề cập trong Trang Nghiêm Các
Kinh của Maitreya được Jamgon Kongtrul giải thích
trong Trí Huệ Toàn Khắp: "Sự vĩ đại
tập trung vào kho tàng bao la của giáo lư Đại
thừa, sự vĩ đại của các phương
tiện thành tựu lợi lạc cho ḿnh và cho người,
sự vĩ đại của trí huệ thấu rơ hai vô
ngă, sự vĩ đại của tinh tấn chuyên cần
tỏng ba a tăng kỳ kiếp, sự vĩ đại
của phương tiện thiện xảo như là không
bỏ sanh tử và thị hiện bảy hành động
bất thiện của thân và khẩu mà không có phiền năo,
sự vĩ đại thành tựu chân thật thập
lực, bốn vô uư, những phẩm chất độc
nhất của bậc giác ngộ và sự vĩ
đại của hoạt động tự nhiên, không
ngừng nghỉ".
Mahayoga: Cái
thứ nhất của Ba Tantra Nội. Mahayoga trong kinh
văn được chia làm hai phần: phần Tantra và
phần Sadhana. Phần Tantra gồm Mười Tám Mahayoga
Tantra, trong khi phần Sadhana gồm có Tám Giáo Lư Sadhana. Jamgon
Kongtrul nói trong Kho Tàng Trí Huệ của ngài: "Mahayoga
nhấn mạnh vào phương tiện (upaya), giai
đoạn phát triển, và cái thấy rằng giải thoát
được đạt đến qua sự quen dần
với sự quán thấy bản tánh không thể phân chia
của nhị đế". Nhị đế trong Mahayoga
là thanh tịnh và b́nh đẳng - bản tánh thanh tịnh
của các uẩn, các đại và các thành phần của
các căn là chư Phật và Bồ tát, nam và nữ. Trong
cùng lúc đó, mọi sự vật xuất hiện và
hiện hữu đều là tánh b́nh đẳng của tánh
Không.
Mano:
Viết tắt của "Các hoá thần Mẹ trong
thế gian". Một trong Tám Sadhana. Các hoá thần nữ
lưu xuất từ pháp giới nhưng xuất hiện
theo các cách phù hợp với h́nh tướng thế gian qua
sự tương liên giữa thế giới và thế
tục, các kinh mạch, khí và tinh chất trong thân thể
chúng ta. Các vị có cả hai phương diện: một
tối hậu và một tương đối. Nhân vật
chính trong Mạn đà la này là Chemchok Heruka, h́nh tướng
hung nô của Phật Phổ Hiền được
gọi là Ngondzok Gyalpo, Vua của hoàn thiện chân thật.
Mandala: 1/
"Trung tâm và chu vi". Thường là một hoá thần
cùng với môi trường bao quanh của vị ấy.
Một Mạn đà la là một tượng trưng
bằng đồ hoạ cảnh giới sống
động của một hoá thần Mật thừa. 2/
Cúng dường Mạn đà la là một chúng dường
được quán tưởng như là một toàn bộ
vũ trụ, cũng như sự sắp xếp
đồ cúng trong nghi lễ Mật thừa.
Mantra: 1/
Một đồng nghĩa với Kim Cương thừa.
2/ Một tổ hợp các âm thanh tượng trưng và
truyền thống bản tánh của một hoá thần, nó
dẫn đến sự tịnh hoá và chứng ngộ. Ví
dụ: "Om Mani Padme Hung". Có ba loại Mantra chính: Guhya
mantra, Vidya mantra và Dharani mantra.
Mantra bí mật:
Đồng nghĩa với Kim Cương thừa hay giáo lư
Tantra. "Guhya" là bí mật, cất giấu và tự
ẩn. "Mantra" trong văn cảnh này nghĩa là siêu
xuất, tuyệt hảo, đáng tán dương.
Mantra Tinh
yếu (Tâm chú): H́nh thức thu gọn thần chú của
một hoá thần bổn tôn so với thần chú Đà ra
ni dài. Ví dụ: "Om Mani Padme Hung".
Mantrika: Hành
giả của Mantrayana (Mật thừa hay là Kim
Cương).
Mara: Ma,
ảnh hưởng tà tạo nên những chướng
ngại cho thực hành và giác ngộ. Một vị thần
có thân lực ở nơi cao nhất của Dục
giới, bậc thầy của ảo hoá, đă t́m cách
ngăn cản Đức Phật thành đạo ở
Bồ đề Đạo tràng. Với người
thực hành Pháp, ma tượng trưng cho sự chấp
ngă và sự bận rộn với tám mối quan tâm
thuộc thế gian. Tổng quát có bốn loại ma
ngăn cản người tu: phiền năo ma, tử ma,
ngũ ấm ma và ma vương. Đôi khi bốn loại
ma được đề cập bằng tên: Tử
thần, Con của Tử thần, Phiền năo và Ngũ
ấm.
Milarepa
(1040-1123): Một trong những thiền giả và thi sĩ
nổi tiếng nhất của Tây Tạng. Nhiều giáo lư
của phái Karma Kagyu truyền qua Ngài. Để có nhiều
chi tiết hơn, xin đọc Cuộc Đời của
Milarepa và Một Trăm Ngàn Bài Ca của Milarepa (nhà xuất
bản Shambhala). Tên Ngài nghĩa là "Mila áo vải".
Mười
hoạt động Tâm Linh: Chép kinh điển, cúng
dường, bố thí, nghe thuyết pháp, ghi nhớ,
đọc, tŕnh bày, tụng, tư duy và tu hành nghĩa
của Pháp.
Mười
chủ đề của Tantra: Cái thấy, hạnh, mạn
đà la, truyền pháp, samaya, hoạt động, thành
tựu, định, dâng cúng puja, thần chú và ấn.
Đây là mười phương diện của con
đường một hành giả Mật thừa, cũng
là mười chủ đề căn bản.
Nadi: Các kinh
mạch trong thân kim cương qua chúng các ḍng năng
lực chuyển động.
Namkhai Nyingpo
họ Nub: Sinh ở quận Nyal Hạ, Ngài là một trong
những người Tây Tạng đầu tiên thọ
giới Tỳ kheo. Một đệ tử dịch
giả, Ngài du hành qua ấn, ở đó nhận
được sự truyền pháp từ Hungkara, và
đạt được thân của trí huệ bất
nhị. Namkhai Nyingpo cũng được kể trong hai
mươi lăm đệ tử của Guru Rinpoche.
Nhận được sự trao truyền của Guru, Ngài
có thể bay theo những tia mặt trời. Khi thiền
định trong Hang Dài Rực rỡ ở Lhodrak, Ngài có
những linh kiến về nhiều Yidam và đạt
đến mức độ Vidyahara của Đại
ấn. Cuối cùng, Ngài ra đi đến những cơi
trời mà không để lại thân xác. Namkhai Nyingpo
nghĩa là "Tinh tuư của không gian".
Năm Terton
giống như Vua: Một danh sách gồm Năm Terton Vua là:
Nyang Ral Nyima Ozer (1124-1192), Guru Chokyi Wangchok (1212-1270), Dorje
Lingpa (1246-1405), Pema Lingpa (1445/50-1521) và (Padma Osel) Do-rigak Lingpa
(Jamyang Khyentse Wangpo) (1820-1892). Đôi khi danh sách c̣n gồm
đại Terton Rigdzin Godem (1337-1408).
Năm con
đường: Năm con đường hay cấp
bậc trên đường giác ngộ: con đường
tích luỹ, tham gia, thấy, tu tập và hoàn thành hay không
học hỏi nữa.
Năm
độc: Tham, sân, si, mạn, ganh ghét.
Nanam Yeshe:
C̣n được biết với tên là Banley Yeshe Dey họ
Shang. Một dịch giả nhiều tác phẩm với
hơn 200 bản văn và là một đệ tử
của Padmasambhava. Tu sĩ học rộng và thành tựu
này, một hôm biểu hiện những thần thông đă đạt
được qua sự lăo luyện Vajra Kilaya, bằng cách
bố lên trời như một con chim. Yeshe nghĩa là
"Giác bổn nguyên".
Nâng cấp,
Tăng tiến: Các loại thực hành khác nhau với
mục đích làm vững vàng "quán". Theo Tulku Urgyen
Rinpoche, sự thực hành nâng cấp chính yếu là trau
dồi sùng mộ và đại bi.
Người
nắm giữ chày Kim Cương: 1/ Danh hiệu tôn kính
để dành cho một vị thầy thành tựu. 2/
Trạng thái giác ngộ.
Nirmanakaya:
Hoá thân, "sự xuất hiện huyễn hoá". Cái
thứ ba trong ba thân. Phương diện giác ngộ
người b́nh thường có thể tri giác
được.
Núi Huy Hoàng
và Chamara - Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ: Xứ sở
tịnh độ của Guru Rinpocho trên tiểu lục
địa Chammara, phía đông nam của đại lục
Jambu (Diêm Phù). Chamara là đảo chính trong chín đảo do
loài raksha dă man ở. ở giữa Chamara có một ngọn
núi nguy nga màu đỏ cao ngất trời trên đỉnh
núi là cung điện thần biến ánh Sáng Hoa Sen, xuất
hiện từ sự biểu lộ tự nhiên của tánh
Giác bổn nguyên. Đức Padmasambhava ở tại đây
trong một thân bất diệt siêu việt sống
chết, trường tồn. Ngày nào sanh tử vẫn c̣n
và qua đó, Ngài không ngừng mang lại lợi lạc cho
chúng sanh qua các hoá thân thần biến của thân, khẩu và
tâm Ngài.
Núi Tu di và
bốn châu: Ngọn núi huyền thoại vĩ đại
ở trung tâm của hệ thống thế giới chúng ta,
bao quanh bởi bốn châu lục, nơi đó hai loài
thấp nhất của chư thiền cơi Dục giới
sống. Nó bao quanh bởi các dăy núi thấp hơn, các
hồ, các lục địa và đại dương nhô
lên khỏi mặt biển 84.000 lư (lư: ba dặm Anh). Thế
giới chúng ta đang sống nằm trên châu lục phía Nam
gọi là Jambudvipa (Nam Thiệm Bộ Châu).
Núi Nadi:
Đôi khi tương đương với luân xa, một
chỗ tiếp hợp chính hay điểm giao nhau của
các kinh mạch. Đôi khi là một chỗ bế tắc vi
tế cần phải cởi mở nhờ các thực hành
Yoga.
Nyang Ral Nyima
ệzer (1124-1192): Vị thứ nhất của năm Terton
Vua và là một tái sanh của vua Trisong Deutsen. Một số
kho tàng do Ngài khám phá được gồm Rinchen Terdzo, trong đó
nổi tiếng nhất là Kagye Deshek Dupa, một bộ các
giáo lư nhắm vào giáo lư tám Sadhana, và tiểu sử của
Guru Rinpoche gọi là Sanglingma hiện giờ đă xuất
bản là Liên Hoa Sanh (Shambhala). Nyang Ral nghĩa là
người trang sức từ Nyang và Nyima Ozer nghĩa là
"Tia sáng mặt trời".
Nyingtig
Yabzhi: Một trong những tuyển tập nổi tiếng
nhất của kinh điển Dzogchen. Vimalamitra kết
hợp hai phương diện của Phần Thậm Thâm
Vô Thượng; ḍng giải thích với kinh điển và
ḍng nghe khẩu truyền không kinh điển, và cất
giấu chúng để rồi được khám phá như
là giáo lư Nyingtig Vima Nyingtig, và cũng như là Tâm yếu Bí
Mật của Vimalamitra. Longchenpa minh giải chúng trong 51
đoạn của Lama Yangtig. Pamakara cất giấu lời
dạy của Ngài về Ṿng Thậm Thâm Vô Thượng và
sau này được khám phá như là Khandro Nyingtig, Tâm
Yếu của các Dakini. Longchenpa cũng minh giải các
lời dạy này trong bộ Khandro Nyingtig của Ngài.
Bốn bộ đặc biệt về giáo lư Dzogchen này,
cùng với lời dạy thêm của Longchenpa là Zabmo Yangtig,
gồm lại trong tuyển tập của Ngài, tức là
tuyển tập Nyingtig Yabzhi.
Palgyi Dorje
họ Lhalung: Sinh ở Drom thượng, Ngài phục vụ
như một người canh biên giới, nhưng có tâm
từ bỏ và cùng với hai anh nhận truyền giới
xuất gia từ Vimalamitra. Ngài nhận Bồ tát nguyện
từ Padmasambhava cũng như sự truyền pháp và
lời dạy miêng. Ngài thiền định ở Hẻm
Núi Trắng xứ Tsib và ở Yerpa, ở đó Ngài
đạt thành tựu có thể đi xuyên qua đá núi.
Những năm sau Ngài ám sát vị vua ác Langdarma. Palgyi Dorje
nghĩa là "Kim Cương Rực Rỡ".
Palgyi Senge
họ Lang: Cha Ngài là Amey Jangchub Drekhol, một Mantrika thần
lực đủ để sử dụng tám loại
thần và quỷ như những người giúp việc.
Ngài là một trong tám đại đệ tử của
Padmasambhava khi sự truyền pháp "Hội Chư Như
Lai" được ban cho. Ngài đạt cả hai
sự thành tựu thông thường và tối thượng
ở Paro Taktsang qua sự thực hành pháp môn "Thuần
hoá mọi hồn linh kiêu ngạo". Các Rinpoche Dzogchen
được xem như các tái sanh của Ngài. Palgyi Senge
nghĩa là "Sư Tử Vinh Quang".
Palgyi Senge
họ Shubu: Một trng các quan của vua Trisong Deutsen, trong
những sứ giả được gởi đi
để mời Padmasambhava đến Tây Tạng. Ngài
học dịch thuật từ Guru Padma và dịch nhiều
giáo lư Mamo, Yamantaka và Kilaya sang tiếng Tây Tạng. Đă
đạt được nhiều thành tựu với Mamo
và Kilaya, Ngài có thể chẻ đá cuội và tách ḍng sông
bằng con dao găm của ḿnh. Các tái sanh của Ngài có
đại Terton Mingyur Dorje của truyền thống Namcho
Palgyi Senge nghĩa là "Sư Tử Vinh Quang".
Palgyi Wangchuk
họ Kharchen: Trong tiểu sử Sanglingma, Ngài là cha của
Yeshe Tsogyal; chỗ khác, ngài được xem là anh của
bà, một đệ tử thân cận của Padmasambhava
đạt đến Siddhi qua sự thực hành Vajra Kilaya.
Palgyi Wangchuk nghĩa là "Bậc Rạng Rỡ".
Palgui Wangchuk
họ O-Dren: Một đại học giả và Mantrika,
đạt được thành tựu qua sự thực
hành Guru Drakpo, phương diện hung nộ của Padmasambhava.
Palgyi Yeshe
họ Sogpo: Đệ tử của Padmasambhava và Jnana Kumara
họ Nyga. Palgyi Yeshe nghĩa là "Trí Huệ Rực
Rỡ".
Pandita (Pháp
sư): Một vị thầy học rộng, học
giả hay giáo sư triết học Phật giáo.
Paramita (Ba la
mật đa): Nghĩa đen là "qua đến bờ bên
kia". Đặc biệt, nó có nghĩa là siêu việt
khỏi các ư niệm và chủ thể, đối
tượng và hành động. Thừa Paramita là hệ
thống Đại thừa của con đường
tiệm tiến qua năm đường và mười
địa theo kinh điển Bát nhă Ba la mật đa. Xem
thêm "Sáu Ba La Mật".
Pema Ledrel
Tsal (1291-1315): Tái sanh của Pema Sal, con gái của vua Trisong
Deutsen. Người khám phá các giáo lư Dzogchen của Guru Rinpoche
nổi danh với tên là Khandro Nyingtig. Sự tái sanh trực
tiếp của Ngài là Longchenpa. Pema Ledrel Tsal nghĩa là
"Sức Mạnh Hoa Sen Của Chuỗi Nghiệp".
Pema Sal công
chúa: Con của vua Trisong Deutsen. Padmasambhava đă trao cho bà ḍng
Đại Viên Măn có tên là Khandro Nyingtig. Cô chết lúc trẻ
tuổi, sau đó Padmasambhava đă làm bà sống lại. Khi
cha cô hỏi tại sao một người có phước
lớn vừa là công chúa vừa là đệ tử của
Đạo sư Liên Hoa Sanh lại phải chết lúc c̣n
thiếu niên. Padmasambhava kể lại câu chuyện cô đă
là một con ong chích mật trong bốn anh em trong thời
gian hoàn thành đại tháp Boudhanath. Pema Sal nghĩa là
"Hoa Sen Rạng Rỡ".
Pháp giới
(Dharmadhatu): Cơi hiện tượng; tánh Như trong đó
tánh Không và duyên sanh không tách ĺa nhau. Bản tánh của tâm và
hiện tượng vượt khỏi sanh, trụ,
diệt.
Pháp tánh
(Dharmata): Tự tánh của tâm và hiện tượng.
Pháp thân
(Dharmakaya): Cái đầu tiên của ba thân, không có bất
kỳ tạo tác nào, như hư không. "Thân" của
những phẩm tính giác ngộ. Phải được
hiểu một cách cá nhân theo địa, con đường
và quả.
Phát
triển và thành tựu: Hai phương diện chính,
"phương tiện và trí huệ" của thực
hành Kim Cương thừa. Xác định ngắn gọn,
giai đoạn phát triển nghĩa là sự tạo tác tích
cực của tâm thức, trong khi giai đoạn thành
tựu nghĩa là an trụ trong bản tánh không tạo tác của
tâm. Cốt tuỷ của giai đoạn phát triển là
"tri giác thuần tuư" hay "cái nh́n linh thiêng",
nghĩa là tri giác cảnh quan, âm thanh và tư tưởng
như là hoá thần, thần chú và trí huệ. "Giai
đoạn thành tựu với h́nh tượng"
nghĩa là các thực hành Yoga như là Tummo, nội
nhiệt. "Giai đoạn thành tựu không h́nh
tượng" là sự thực hành Đại Viên Măn hay
Đại ấn.
Phật
Tánh: Sự giác ngộ toàn diện và tṛn đủ không
trụ trong sanh tử lẫn Niết bàn; trạng thái
đă hết mọi vô minh, cùng với trí huệ nh́n
thấu bản tánh của sự vật như chúng và là trí
huệ thấu hiểu mọi hiện hữu.
Phiền
năo: Năm độc tham, sân, si, mạn và ganh ghét chúng trói
buộc, làm phiền nhiễu và tra tấn tâm người.
Sự kéo dài của các phiền năo này là một trong
những nguyên nhân chính của sanh tử luân hồi.
Phương
tiện và Trí huệ: Phật tánh được
đạt đến qua kết hợp thống nhất
các phương tiện và trí huệ. Trong Đại
thừa, đó là sự thống nhất của Đại
Bi và Tánh Không, của Bồ đề tâm tương
đối và Bồ để tâm tuyệt đối. Trong
Kim Cương thừa, phương tiện và trí huệ là
các giai đoạn phát triển và thành tựu. Theo các phái
Kagyu, phương tiện đặc biệt để
chỉ cho "con đường phương tiện"
là sáu giáo pháp của Naropa và trí huệ là "con
đường giải thoát", tức là sự thực
hành hiện thực về Đại ấn Mahamudra. Theo
Dzogchen, "trí huệ" là cái thấy về tính thanh
tịnh bổn nhiên, tức là sự thực hành TreCho
để thực Chứng cái tâm của giác ngộ trong
một giây phút ép ngặt, bức bách, trong khi
"phương tiện" là sự thiền định
về cái hiện tiền tự nhiên bổn hữu,
tức là sự thực hành Togal để làm sạch
hết nhiễm ô phiền năo và an trụ qua đó thân
cầu vồng được thực Chưng trong nội
một đời.
Quả:
Kết quả, thường là sự chấm dứt
của một con đường tâm linh. Một trong ba
mức độ giác ngộ của một Thanh Văn, Bích
Chi Phật hay Bồ Tát. Trong Đại thừa là trạng
thái Phật tánh hoàn toàn và tṛn đủ; trong Kim Cương
thừa là "trạng thái thống nhất của một
Kim Cương tŕ", trong sách này diễn tả như
"25 thuộc tính của quả". Xem "cái thấy,
thiền định, hành và quả".
Quang Minh
(Odgsal): Nghĩa đen là "thoát khỏi bóng tối vô ḿnh
và có khả năng thông tỏ, hiểu biết". Hai
phương diện ấy là "quang minh trống
không", như bầu trời trong rộng mở, nó có
tính chất thông tỏ bản tánh của tâm; và "quang
minh biểu lộ" như là ánh sáng năm sắc, h́nh
ảnh vv... Quang minh là bản tánh không trộn lẫn
hiện diện khắp suốt mọi sanh tử và
Niết bàn.
Rangnang - kinh
nghiệm cá nhân: Để biểu trưng cho kinh nghiệm
giấc mơ, từ này đôi khi được dịch
là "sự phóng ảnh của cá nhân" hay "tự
biến".
Rigdzin Godem
(1337-1408): Nhà khám phá vĩ đại của truyền
thống Jangter. Trong các Terma của Ngài có các giáo lư Dzogchen
Kadag Rangjung Rangshar và tác phẩm nổi tiếng Gongpa Santal.
Năm lên 12 tuổi, ba lông chim kên kên mọc trên đầu,
và thêm năm cái nữa vào lúc 24 tuổi. Ngài ra đi năm
71 tuổi giữa những dấu hiệu kỳ diêu.
Rigdzin Godem nghĩa là "Vidyadhara lông chim kên kên".
Rinchen Chok
họ Ma: Dịch giả Tây Tạng sơ thời, trong
bảy tu sĩ Tây Tạng đầu tiên thọ giới
với Shantarakshita và là người nhận chính pháp môn
Mạng Lưới Huyễn Hoá của Mahayoga. Ngài
được biết đă dịch Tinh Tuư của các Bí
Mật Guhyasamaja Tantra, Tantra chính yếu của Mahayoga. Qua
các lời chỉ dạy nhận từ Padmasambhava, Ngài
đạt đến mức độ của một
Vidyadhara. Rinchen Chok nghĩa là "Ngọc Cao Cả".
Rinchen Terdzo:
"Kho tàng lớn các Terma quư giá", một trọn bộ
các Terma quan trọng nhất của Padmasambhava, Vimalamitra,
Vairochana và các đệ tử thân thiết nhất của
các Ngài, gom lại bởi Jamgon Kongtrul Lodro Thaye với
sự cộng tác của Jamyang Khyentse Wangpo. Xuất bản
thành 63 bộ bởi đức Dilgo Khyentse Wangpo, New Delhi, có
thêm vài bộ terma và chủ giải. Khakyab Dorje, vị
Kamarpa thứ mười lăm, nói về bằng những
lời sau: "Kho tàng lớn các Terma quư giá" là tinh tuư
của đại dương giáo lư của Chư Phật,
tạng Vidyadhara thâm sâu của trường phái Dịch
thuật Sơ thời".
Rongzoma
(1012-1088): Pháp sư Rongzom. Chokyi Sangpo. Cùng với Longchenpa,
Ngài được xem là học giả Nyingma lỗi
lạc sáng chói nhất.
Sadhana:
"Các phương tiện của thành tựu". Nghi
thức và thủ tục Mật thừa để thực
hành, thường nhấn mạnh giai đoạn phát
triển. Kết cấu tiêu biểu của Sadhana gồm
một phần sơ khởi với quy y, phát Bồ
đề tâm, phần chính có quán tưởng một vị
Phật và tŕ chú, một phần kết với hồi
hướng công đức cho tất cả chúng sanh.
Samadhi
(định): "Gắn liền với sự
tương tục của b́nh thản". Một
trạng thái tập trung không phóng tâm, hay sự đắm
ḿnh trầm tư mà trong bối cảnh Kim Cương
thừa có thể ám chỉ đến hoặc giai
đoạn phát triển hoặc giai đoạn thành
tựu.
Samantabhadra
(Phổ Hiền): "Bậc măi măi trọn hảo". 1/
Phật pháp thân nguyên thuỷ. 2/ Bồ tát Phổ Hiền là
gương tiêu biểu cho sự thành tựu của
một sự cúng dường triển khai đến vô
hạn.
Samaya: Các cam
kết hứa hẹn, các điều luật hay cam đoan
của thực hành Kim Cương thừa. Chính yếu, các
samaya về bên ngoài cốt ở duy tŕ một mối liên
quan hoà hợp với Đạo sư kim cương và các
bạn pháp, bên trong không đi lạc ra ngoài sự liên
tục hành tŕ. Cuối của mỗi Chương, Chữ
"Samaya" đứng riêng là một lời thề xác
nhận rằng điều được nói là sự
thật.
Sambhogakaya:
"Báo thân". "Thân của sự hưởng thụ
hoàn măn". Trong bối cảnh của "năm thân
của Quả", báo thân là h́nh tướng biểu
lộ một nửa phần của Chư Phật cùng
với "năm sự hoàn hảo" là đạo
sư, tuỳ tùng, nơi chốn, giáo huấn và thời
gian mà chỉ bậc Bồ tát địa thứ
mười mới có thể tri giác.
Samye:
Một tổ hợp chùa chiền kỳ diệu, làm theo
kiểu tu viện ấn Độ Odantapuri, xây dựng
bởi vua Trisong Deutsen (790 - 844) và được Guru Rinpoche
khai trương năm 814. Một trung tâm chính của
sự truyền bá đạo Phật ở Tây Tạng lúc
sơ thời. Nó nằm ở miền trung Tây Tạng
gần Lhasa. Nó cũng có tên Ngôi Chùa Samye Rực Rỡ,
sự thành tựu tự nhiên và bất biến của
những nguyện vọng vô biên. Ba tầng của nó
được vẽ theo các kiểu thứ tự là
ấn Độ, Trung Hoa và Tây Tạng.
Samye Chimphu:
Một nơi thiêng liêng thuộc khẩu của Guru Padma.
Một chỗ ẩn cư trên núi nằm cách Samye bốn
giờ đi bộ phía trên Samye. Trong 12 thế kỷ qua,
nhiều đại sư đă thiền định trong
các hang động của chỗ ẩn cư này.
Sangye Lingpa
(1340-1396): Một tái sanh của người con trai thứ
hai của vua Trisong Deutsen; một Terton chính và là
người khám phá ṿng Lama Gondu gồm 13 bộ Sangye Lingpa
nghĩa là "Điện thờ của giác ngộ".
Sangye Yeshe
họ Nub: Một trong hai mươi lăm đệ
tử của Padmasambhava, Ngài là người thọ nhận
chính các giáo lư Anu Yoga, Yamantaka của Mahayoga. Các vị
thầy khác của Ngài là Traktung Nagpo và Chogyal Kyong của
ấn Độ, Vasudhara của Nepal và Chetsen Kye từ
xứ Drusha. Ngài viếng thăm ấn Độ và Nepal
bảy lần. Khi hôn quân Langdarma định phá huỷ
Phật giáo ở Tây Tạng, Sangye Yeshe làm vua kinh hăi
bằng cách làm hiện ra một con ḅ cạp khổng
lồ dài bằng chín con trâu yak chỉ bằng một
cử động đơn giản của bàn tay phải.
V́ thế, Langdarma không c̣n can đảm để
ngược đăi Tăng già Kim Cương thừa. Tulku
Urgyen được xem là một trong những tái sanh
của Ngài. Sangye Yeshe nghĩa là "Trí Huệ
Phật".
Sáu giới
hạn: Những quan điểm về quyền nghĩa và
thực nghĩa, ngụ ư và không ngụ ư, nghĩa đen và
không phải nghĩa đen. Cùng với "bốn cách
kiểu", chúng tạo thành các ch́a khoá cần thiết
để mở ra ư nghĩa của các Tantra.
Sáu loài chúng
sanh: Trời, một nửa trời (a tu la), người,
thú vật, ngạ quỷ và địa ngục.
Sáu siêu tri
giác: Những khả năng làm các phép lạ, thiên nhăn, thiên
nhĩ, nhớ các kiếp trước, biết tâm của
người khác và biết sự kiệt tận của
phiền năo nhiễm ô (thần túc thông, thiên nhăn thông, thiên
nhĩ thông, túc mạng thông, thu tâm thông và lận tận
thông).
Sắc
giới: Mười bảy cơi trời nằm trong sanh
tử gồm 12 cơi của bốn thiền (mỗi thiền
ba cơi) và năm Tịnh Cư thiên. Một trạng thái vi
tế của sanh tử giữa cơi Dục và cơi Vô sắc,
ở đó các cảm giác ngửi, nếm và t́nh dục
vắng mặt. Các chúng sanh có thân thể bằng ánh sáng,
sống lâu và không có cảm giác đau đớn. Các
yếu tố xấu của tâm thức như là bám
chấp không thể sinh ra.
Shamatha:
"An trụ trong tĩnh lặng". Chỉ so với
Quán, sau khi hoạt động của tư tưởng
đă lắng yên. Hay là sự thực hành thiền
định để làm yên lặng tâm thức với
mục đích thoát khỏi sự quấy nhiễu của
tư tưởng.
Sơ
khởi: Các sơ khởi tổng quát bên ngoài là Bốn
hồi tâm: suy nghĩ về thân người quư giá, vô
thường và chết, nhân quả của nghiệp và
lỗi lầm của sanh tử. Các sơ khởi đặc
biệt bên trong là một trăm ngàn bốn thời
thực hành về quy y và phát Bồ đề tâm, tŕ
tụng Vajrasattva, cúng dường Mạn đà la và Guru
Yoga. Xen Ngọn Đuốc Của Xác Chứng (NXB. Shambhala)
và Cửa Lớn (NXB. Ranjung Yeshe).
Sukhavati: Cơi
Cực Lạc.
Ta bà thế
giới (Saha world): Hệ thống thế giới chúng ta.
"Thế giới nhẫn nhục", bởi v́
những chúng sanh ở đó chịu đựng các khổ
đau khó mang nổi. Saha cũng có thể nghĩa là
"Không phân chia", v́ các nghiệp và các phiền năo, các
nhân và các quả, th́ không chia cách hay không khác biệt.
Tam bảo:
Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Trong ánh Sáng
Của Trí Huệ (Shambhala), Jamgon Kontrut giải thích:
"Phật là bản tánh của bốn thân và năm trí,
cùng với hai sự thanh tịnh và sự hoàn thành hai
lợi lạc. Pháp là cái được biểu lộ, bày
tỏ, chân lư vô điều kiện của sự tịnh
hoá toàn diện, gồm Diệt và Đạo, nó biểu
lộ hai phương diện phát biểu và Chứng ngộ
như là danh, lời và Chữ của các giáo lư. Tăng,
gồm Tăng già thực sự, con cái của cái bậc
Chiến Thắng ở trong các địa với các
phẩm chất của Trí huệ và Giải thoát, và Tăng
già tương tợ đang ở trên con đường
tích luỹ, và con đường nối kết cũng
như các bậc Thanh văn và Duyên giác cao cả".
Tám giáo lư
Sadhana: Tám vị thần bổn tôn chính của Mahayoga, các
tantra và các Sadhana liên quan: Thân Văn Thụ, Khẩu Hoa sen,
Tâm Vishudha, Phẩm chất Cam lồ, Hoạt động
Kilaya, Phù phép giải thoát của các hoá thần Mẹ, Mantra
Dữ tợn, và tôn Thờ thế tục. Thường
thường tên ám chỉ đến một thực hành
gồm các Mạn đà la phức tạp với nhiều
hoá thần.
Tám mối
quan tâm thế gian: Sự gắn bó với được,
thích, khen ngợi và danh tiếng, sự ác cảm với
mất, khổ, chê bai và tiếng xấu.
Tánh Giác
bổn nguyên: Thường dịch như là Trí Huệ.
Sự thông tỏ nền tảng độc lập với
mọi tạo tác của tân thức.
Tantra: Các
giáo lư Kim Cương Thừa được Đức
Phật trao truyền qua báo thân của Ngài. Nghĩa thật
của Tantra là "tương tác" tức là Phật
tánh nội tại, bẩm sinh. Phật tánh này
được biết như là: "Tantra của hiển
nghĩa". Nghĩa tổng quát của Tantra là các kinh
điển phi thường của mật thừa, cũng
là "Tantra của hiển ngôn". Cũng có thể ám
chỉ đến mọi giáo lư "quả" Kim
Cương Thừa như một toàn thể.
Tantra Cha:
Một trong ba phương diện của Anuttara Yoga
đặt sự nhấn mạnh vào giai đoạn phát
triển.
Tantra
mẹ: Một trong ba phương diện của Anuttara
yoga, nhấn mạnh vào giai đoạn thành tựu hay trí
huệ Bát Nhă. Đôi khi tương đương với
Anu yoga.
Tạo
lập: Sự tạo lập của thức. Sự
tạo ra ư niệm nó ở ngoài bản tánh của tâm.
Tawa Long-Yang:
Một kho tàng về phương diện Tantra Cha và
Đại Toàn Thiện khám phá bởi dorje-Lingpa (1346-1405)
Tawa Long Yang nghĩa là "sự bao la của cái
thấy".
Tâm khí (tam
prana): Prana ở đây là "khí nghiệp", "gió
nghiệp" và tâm là tâm thức nhị nguyên của
một người chưa giác ngộ. Tâm và Khí liên hệ
chặt chẽ với nhau.
Tâm Yếu:
Trong tổng quát đồng thể với Phái Chỉ
Dạy, phái thứ ba của Dzogchen. Đặc biệt nó
ám chỉ đến Ṿng Thậm Thâm Vô Thượng của
Tâm Yếu, cái thứ tư trong bốn phân phái của
Phải Chỉ Dạy theo sự phán giáo của ShriSingha.
Mọi ḍng phái của yếu tính thậm thâm đều qua
ShriSingha và tiếp nối ở Tantra qua các đệ
tử của ngài là Padmasambhava và Vimalamitra. Trong thế
kỷ 14 hai ḍng này đi qua Rangjung Dorje, vị Karmapa thứ
ba và người bạn Pháp thân thiết của Ngài là
Longchen Rabjam (1308-1363) vị sau hệ thống hoá các lời
chỉ dạy này trong bộ trước tác đồ
sộ của ḿnh. Giáo lư Nyingtig cũng đă xuất
hiện qua nhiều ḍng truyền thừa khác; ví dụ,
mỗi Terton chính đều khám phá một ṿng độc
lập của giáo lư Dzogchen. Sự thực hành Tâm Yếu
thậm thâm c̣n tiếp tục đến ngày nay.
Tất
cả nền tảng (alaya): Nền tảng của mọi
sự. Căn bản của tâm và của hiện
tượng thanh tịnh hay ô nhiễm. Từ này có
nhiều nghĩa khác nhau theo các văn cảnh khác nhau và
phải được hiểu cho thích hợp. Đôi khi nó
đồng nghĩa với Phật tánh hay pháp thân, sự
nhận biết nó là căn bản của tất cả hiện
tượng thanh tịnh; đôi khi, như trong
trường hợp "căn bản vô minh", nó ám
chỉ một trạng thái trung tính của tâm nhị nguyên
nó không được tánh Giác bổn nguyên bao trùm, và như
thế là căn bản cho kinh nghiệm sinh tử.
Tengam: Pḥng
chứa các vật thiêng.
Terma:
"Kho tàng" 1/ Sự trao truyền qua các kho tàng
được chôn giấu, phần lớn do Guru Rinpoche và
Yeshe Tsogyal, để sẽ được khám phá vào
một thời điểm thích hợp bởi một
Terton, người khám phá kho tàng, cho lợi lạc của
các đệ tử tương lai. Nó là một trong hai
truyền thống chính của Nyingma, truyền thống kia
là "Kama". Truyền thống này được nói
rằng sẽ c̣n tiếp tục ngay cả khi Luận
Tạng đă biến mất. 2/ Các kho tàng được
cất giấu có nhiều loại, gồm bản văn,
pháp khí, di vật và đồ vật tự nhiên.
Terma
đất: Một sự khám phá đặt căn cứ
trên chất liệu vật chất, thường trong h́nh
thức Chữ viết Dakini, một chày kim cương,
một bức tượng... So sánh với "Terma
tâm".
Terma tâm:
Một sự khám phá trực tiếp từ trong tâm của
một Đại sư, không cần có một chất
liệu vật lư. Các lời dạy được khám phá
theo lối này được "ươm trồng"
trong "cảnh giới không thể huỷ diệt",
vào lúc vị Đại sư c̣n là một đệ tử
của Padmasambhava ở một kiếp trước.
Thanh văn:
"Vị nghe, người nghe". Hành giả Tiểu
thừa của lần Chuyển Pháp Luân thứ nhất
về Bốn Thánh Đế bao gồm sự Chứng
ngộ sự đau khổ nội tại của sanh
tử, và nhắm vào sự thấu hiểu rằng không
hề có một tự ngă độc lập. Bằng cách
chinh phục phiền năo, ngài tự giải thoát,
đạt đến cấp độ Vào Ḍng nơi con
đường thấy chân lư (Kiến Đạo vị),
tiếp theo là cấp độ Một Lần Trở
Lại chỉ phải tái sanh một lần nữa, và
cấp độ. Không Trở Lại không c̣n sanh lại
trong sanh tử. Mục đích cuối cùng là trở thành
một vị A La Hán. Bốn cấp độ này cũng
được biết như là "Bốn Quả của
sự tu hành tâm linh".
Thành
tựu: 1/ (Sudhi): Sự Chứng đắc do thực hành
Pháp, thường được xem là sự thành tựu
tối thượng của giác ngộ viên măn. Nó cũng có
thể có nghĩa là các thành tựu chung, tức là tám thành
tựu thuộc về thế gian như thiên nhăn thông, thiên
nhĩ thông, bay trên không, trở nên vô h́nh, kéo dài tuổi
thọ, hay thần lực biến hoá. Tuy nhiên các Chứng
đắc nổi trội nhất trên con đường
là từ bỏ, từ bi, đức tin không thể lay
chuyển và sự Chứng ngộ cái thấy đúng. Xem
thêm "các thành tựu tối thượng và b́nh
thường". 2/ (Sgrub pa): Xem "tiếp cận và thành
tựu".
Thân kim
cương: Thân con người, trong đó các kinh mạch
vi tế giống như cơ cấu của một chày Kim
Cương.
Thân
người quư giá: Gồm có tám sự tự do và
mười sự giàu có. Những sự tự do không sanh
vào trong tám chữ mất tự do (bát nạn): ba cơi
thấp, một vị trời sống lâu, có nhiều tà
kiến, một người hoang dă, một người
câm, hay sinh vào một thời đại không có Chư
Phật. Những sự giàu có là năm từ ḿnh và năm
từ người khác. Năm giàu có từ chính ḿnh là:
được làm người, sinh ở nơi trung tâm,
đầy đủ các căn, có đời sống không
hư hỏng, và chánh tín. Năm giàu có từ người
khác là: một vị Phật ra đời, vị ấy
dạy pháp, các giáo lư c̣n lại, có các đệ tử, và
các (vị thầy) bi mẫn làm lợi lạc cho
người.
Thân yếu
tính (kaya yếu tính): Thường được kể
như thân thể tư và cấu tạo sự thống
nhất ba thân. Jamgon Kongtrul định nghĩa nó như là
phương diện của pháp thân, nó là "bản tánh
của mọi hiện tượng, tánh Không vắng
dứt mọi tạo tác và có tính cách thanh tịnh bổn
nhiên".
Thần
Chết: 1/ Một nhân cách hoá của vô thường và
định luật nhân quả bất di bất dịch. 2/
Thần có tên này là một trong bốn Ma. Xem "Mara".
Thần chú
một trăm âm: Thần chú của Phật Vajrasátva
gồm 100 âm.
Thấy,
thiền định, hạnh và quả: Sự định
hướng về Phật tánh, hành động làm quen
với nó thường là thực hành ngồi thiền,
sự thực hiện cái thấy ấy trong các hoạt
động đời sống hằng ngày, và kết
quả cuối cùng từ sự tu hành như trên. Mỗi
thừa của chín thừa đều có cách định
nghĩa riêng về cái thấy, thiền định,
hạnh và quả.
Thiên Nữ
Tenma: Mười hai tiên nữ Tenma là các hộ pháp nữ
quan trọng của ḍng Nyingma, vừa một nửa
thế gian, một nửa trí huệ.
Thiền
định: Trong bối cảnh tu hành Mahamudra và Dzogchen,
thiền định là hành động làm quen dần
với, hay duy tŕ liên tục cái thấy hiểu về
Phật tánh của chúng ta như một vị đạo
sư có thẩm quyền đă trực chỉ. Trong bối
cảnh học hỏi, tư duy và thiền định
(văn, tư, tu) nó có nghĩa là hành động thâu hoá các
lời dạy vào trong kinh nghiệm cá nhân, rồi làm quen
dần với chúng qua thực hành.
Thiện
căn: Một việc làm tốt; một phút giây từ
bỏ, đại bi hay ḷng tin. Các thiện nghiệp
tạo ra trong đời này hay các đời trước.
Thừa Nhân
và Quả: Các giáo lư của Tiểu thừa và Đại
thừa nh́n các sự thực hành của con
đường như là các nguyên nhân để đạt
được quả giải thoát và giác ngộ, c̣n Kim
Cương thừa lấy quả như là con
đường bằng cách nh́n nhận Phật tánh là
vốn có trong hiện tiền và con đường như
là hành động khai mở trạng thái nền tảng này.
Đại sư Longchenpa định nghĩa chúng như
sau: "các thừa Nhân được gọi như
thế bởi v́ chấp nhận chuỗi nhân và quả,
khẳng định rằng Phật tánh đạt
được bằng cách tăng trưởng các phẩm
tính của bản tánh Phật, nó chỉ hiện diện
như một hạt giống xuyên qua hai sự tích luỹ.
Các thừa Quả được gọi như thế
bởi v́ xác nhận rằng nền tảng cho sự
tịnh hoá là bản tánh của Phật đă sẵn đủ
mọi phẩm tính, nó vốn hiện diện như là
một sở hữu tự nhiên trong tất cả chúng
sanh, như mặt trời vốn sẵn các tia sáng;
rằng các đối tượng của sự tịnh
hoá là những nhiễm ô tạm thời của tâm sự
tích tập (của tám thức), giống như bầu
trời (tạm thời) bị mây che; và rằng người
ta hiện thực cái quả của sự tịnh hoá, cái
bản tánh bổn nguyên đang hiện tiền, bằng vào
các con đường của sự chín muồi giải
thoát. Ngoài cái này ra, không có sự khác biệt nào giữa hai
thừa về tŕnh tự hay phẩm chất.
Thừa
Quả: Như là Kim Cương thừa. Xem chi tiết
ở "thừa nhân và thừa quả".
Thường
luận: Niềm tin rằng có một đấng sáng
tạo thường hằng và không nguyên nhân của mọi
sự; đặc biệt, tin rằng bản chất hay
tâm thức của con người có một yếu tính
cụ thể nó là độc lập, thường tồn
và riêng biệt.
Tích
Chứa: (accumlation): Lương thực cho con
đường. Xem "Hai sự tích luỹ".
Tiếp
cận và thành tựu: Hai phương diện của
thực hành Sadhana, đặc biệt các giai đoạn
trong giai đoạn tŕ tụng theo Mahayoga Tantra.
Tịnh
Cư Thiên: Năm cơi trời cao nhất trong 17 cơi của
sắc giới. Chúng được gọi là
"tịnh" v́ chỉ có các bậc cao cả, những
người đă hoàn thành con đường thấy chân
(địa vị kiến đạo), mới có thể
sanh ở đó. Sanh về đó là do sự tu hành thanh
tịnh Tứ thiền tuỳ thuộc vào sự tu tập
này hoặc là hạ, trung, thượng, thượng thượng
hay tối thượng.
Torma:
Một dụng cụ dùng trong nghi lễ Mật thừa.
Cũng có thể ám chỉ thực phẩm cúng cho Hộ
pháp hay các hồn linh bất hạnh.
Tri giác thanh
tịnh: Nguyên lư của Kim Cương thừa: nh́n môi
trường chung quanh như cơi Phật, ḿnh và người
hoá thần, âm thanh như thần chú, và tư tưởng
như tṛ chơi biến hoá của trí huệ.
Trisong Deutsen
(790-844): Vị vua pháp vĩ đại thứ hai của Tây
Tạng, người đă mời Guru Rinpoche, Shantarakshita,
Vimalamitra và nhiều vị thầy Phật giáo khác trong
đó có Jinamitra và Danashila. Trong cuốn Tràng Hoa Quư Báu của
Lapis Lazuli, Jamgon Kongtrul ghi ngày sinh của vua là ngày 8 tháng 3 mùa
xuân con ngựa đực thuộc tỉnh (802). Các
nguồn khác nói năm ấy là năm Ngài lên ngôi vua sau khi
cha chết. Cho đến tuổi mười bảy, ngài
chủ yếu là cai trị vương quốc. Ngày xây
dựng đại tu viện Samye làm theo kiểu Chùa
Odantapuri, lập Phật giáo là quốc giáo của Tây Tạng,
và trong thời Ngài trị v́, các tu sĩ đầu tiên
được thọ giới. Ngài thu xếp cho những
pháp sư và lotsawa dịch vô số kinh điển, và
thiết lập nhiều trung tâm tu học. Trong số các
tái sanh về sau của Ngài có Nyang Ral Nyima Ozer (1124-1192), Guru
Chowang (1212-1270), Jimey Lingpa (1729-1798) và Jamyang Khyentse Wangpo
(1820-1892).
Trí Huệ:
Trong cuốn sách này, từ này thường được
dịch như là "tánh Giác bổn nguyên". Cũng có
năm trí huệ những phương diện chức
năng của Phật tánh: trí huệ của pháp giới,
trí huệ giống như gương (đại viên
cảnh trí), trí huệ của b́nh đẳng (b́nh
đẳng tánh trí), trí huệ phân biện (diệu quan sát
tri), và trí huệ thành tựu tất cả (thành sở tác
trí).
Troma Nagmo:
Một h́nh tượng hung nộ màu đen của Phật
Bà Vajra Yogini. Troma Nagmo nghĩa là "Phu Nhân màu đen
của sự Hung Nộ".
Tự ngă:
Một thực thể hiện hữu nội tại và
độc lập của ngă cá nhân hay của hiện
tượng.
Tự tánh:
Xem "Pháp tánh".
Vairochana:
Dịch giả vĩ đại sống trong thời
trị v́ của vua Trisong Deutsen. Trong bảy tu sĩ Tây
Tạng đầu tiên, Ngài được gửi qua
ấn Độ học với Shri Singha. Cùng với
Padmasambhava và Vimalamitra, Ngài là một trong ba đạo sư
chính truyền Dzogchen vào Tây Tạng.
Varadhara:
"Người nắm giữ chày Kim Cương".
Phật pháp thân của các phái Sarma. Cũng để
chỉ một vị thầy Kim Cương thừa hay
Phật tánh trùm khắp.
Vajradhatu
Mạn đà la: Một Sadhana quan trọng của Mahayoga
gồm 42 hoá thần hoà ái.
Vajrakaya: Tính
chất bất biến của Phật tánh. Đôi khi là
một trong năm thân của Phật tánh.
Vajrapani:
"Vị mang chày Kim Cương". Một trong tám
đại Bồ tát và là người sưu tập chính các
giáo lư Kim Cương thừa. Cũng được
biết như là "Đức thầy của những bí
mật".
Vajra Totreng:
"Chuỗi Kim Cương các đầu lâu". Một
tên của Padmasambhava.
Vajrayara: Kim
Cương thừa. Các thực hành lấy quả làm con
đường.
Vidyadhara:
"Người Nắm giữ trí huệ".
Người nắm giữ (Dhara) hay mang trí huệ (vidya)
của Mantra. Một vị thầy Chứng ngộ trên
một trong bốn cấp độ của con
đường Mật thừa của Maha Yoga, tương
đương với 11 cấp độ của Mật
thừa. Một định nghĩa khác: Người mang phương
tiện và trí huệ sâu xa, đó là trí huệ về hoá
thần, thần chú và đại lạc.
Vimalamitra:
Một đạo sư Dzogchen được vua Trisong
Deutsen mời qua Tây Tạng. Một trong ba vị tổ giáo
lư Dzogchen, đặc biệt là Nyingtig ở Tây Tạng
Vimalamitra nghĩa là "Người Bà Con Không Khuyết
Điểm".
Vipashyna
(Quán): "Cái thấy rơ ràng rộng răi". Thường
để nói về sự quán chiếu, thông tỏ về
tánh Không. Một trong hai phương diện chính của
thực hành thiền định. Cái kia là chỉ, Shamatha.
Vô minh câu
sanh: vô minh cùng với tự tánh của chúng ta và hiện
hữu như là tiềm lực cho rối loạn sanh
khởi khi gặp các điều kiện thích hợp.
Vô minh
nền tảng - phương diện vô minh của nền
tảng: đồng nghĩa với câu sanh vô minh.
Vô minh
thuộc về ư niệm: Trong Kim Cương thừa, vô
minh thuộc về ư niệm là cái tâm hiểu biết chính
nó như là chủ thể và đối tượng, sự
suy nghĩ thuộc về ư niệm. Trong Giáo thừa, nó có
nghĩa là các cái nh́n sai lầm do thêm vào, do "học",
các niềm tin sai lầm làm che chướng bản tánh
của sự vật.
Vô sắc
giới: Các nơi cư trú của chúng sanh không giác ngộ,
họ đă thực hành các trạng thái thiền
định vô sắc, trụ vào các tưởng: Không Vô Biên
Thức Vô Biên, Vô Sở Hữu, Không Có Mặt cũng Không Vắng
Mặt (Phi Tưởng Phi Phi Tưởng). Những chúng
sanh ở trong bốn cơi vi tế của thiền
định, có tưởng đó nhiều kiếp rồi
trở lại các trạng thái thấp của sanh tử.
Yamantaka:
Một h́nh tướng hung nộ của Văn Thù,
biểu trưng trí huệ hàng phục cái chết. Trong Tám
Sadhana, Ngài là Phật hung nộ của Thân Thể Bộ.
Yamataka nghĩa là "Người tàn sát của Yama",
tử thần.
Yeshe Tsogyal:
Các bản dịch khác nhau về tiểu sử của bà
cho nhiều chi tiết khác nhau về sự sinh ra, tên và cha
mẹ. Trong cuốn "Đại Dương các lời
dạy kỳ diệu làm hân hoan các bậc trí giả",
Guru Tashi Topbgyal ghi nhận rằng cha bà tên là Namkha Yeshe
họ Kharchen và bà sinh ở Drongmochey xứ Drak. Ban
đầu bà là một trong những hoàng hậu của vua
Trisong Deutsen nhưng sau được vua ban cho Padmasambhava
làm người phối mẫu tâm linh. Trong lễ truyền
pháp "Hội Chư Phật", bông hoa nhập môn
của bà rơi vào Mạn đà la Kilaya. Qua sự thực
hành pháp môn này, bà trở nên có thể thuần phục các
hồn linh ác và làm sống lại người chết. Bà
là người sưu tập chính của tất cả giáo
huấn vô số của Padmasambhava. ở lại Tây
Tạng hai trăm năm, bà ra đi đến cơi trời
"Núi vinh hiển màu đồng đỏ" mà không
để xác thân lại. Trong cuốn Tràng hoa quư giá của
Lapis Lazuli, Jamgon Kongtrul nói: "Yeshe Tsogyal, là tái sanh trực
tiếp của Dhatvishvari Vajra Yogini trong h́nh thức một
người phụ nữ. Bà phục vụ Padmasambhava hoàn
hảo trong đời ấy, dấn thân vào Sadhana với
một sự tinh tấn không thể tưởng và
đạt đến mức độ tương
đương với chính Padmasambhava, "sự
tương tục được trang hoàng với thân,
khẩu, ư phẩm chất và hoạt động
đều vô tận". Ḷng tốt của bà đối
với xứ sở Tây Tạng vượt quá tưởng
tượng vào hoạt động đại bi th́ không
khác với sự liên tục không ngừng nghỉ của
Padmasambhava". Yeshe Tsogyal, nghĩa là "Đại
Dương Trí Tuệ Vô Địch".
Yeshe Yang
họ Ba: Dịch giả Tây Tạng được tiên tri
bởi Padmasambhava, Ngài là một thiền giả thành
tựu, có thể bay như chim đến các cơi trời,
Yeshe Yang, nghĩa là "Trí Huệ Du Dương".
Yếu tính,
bản tánh và công dụng: Ba phương diện của
Như Lai Tạng theo hệ thống Dzogchen. Yếu tính là
trí huệ nhiên thanh tịnh về bản tánh Không. Bản
tánh là trí huệ thông tỏ hiện diện tự nhiên. Công
dụng là trí huệ toàn khắp về tính không thể phân
chia. Đây là một cách rốt ráo, bản tánh của Ba
Gốc, Tam Bảo và Ba Thân.
Yidam:
Một hoá thần và là một gốc cuat thành tựu trong
ba gốc. Yidam là một vị thần bổn tôn; một
người bảo vệ cho cá nhân về sự thực
hành và đưa đến giác ngộ. Theo truyền
thống, thực hành Yidam là thực hành chính tiếp sau các
sơ khởi. Nó gồm hai giai đoạn phát triển và
thành tựu và là một ḥn đá để đặt
bước đến, hay là một cây cầu đưa
ddến các thực hành tinh tế hơn của Mahayoga và
Dzogchen. Vào giai đoạn sau, thực hành Yidam là sự nâng
cấp hoàn hảo cho các thực hành tinh tế này.
Yoga: 1/
Sự hoà nhập thật sự, sự học hỏi vào
trong kinh nghiệm cá nhân. 2/ Cái thứ ba của ba Tantra
ngoại: Kriya, Upa và Yoga. Nó nhấn mạnh đến cái
thấy hơn là hạnh và nh́n hoá thần bổn tôn như
cùng mức độ chính ḿnh.
Yoga:
Thực hành Yoga: các thực hành phụ thêm cho một Tantrika
để thực hiện cái thấy của Kim
Cương thừa trong các hoạt động; ví dụ
như pháp môn Cho trong các nơi chốn đáng sợ. Nó có
thể theo đuổi bởi một hành giả đă
rất quen thuộc với cái thấy và vững chắc
trong thiền định.
Có mang hàm ư
"hạnh can đảm".
---o0o---
Vi tính: Quảng Đại - Quảng Khánh -
Quảng Tuệ
Tŕnh
bày: Phổ Trí
Cập
nhật: 01-03-2006