Khái quát về nguồn gốc kinh A-hàm
Thích Nguyên Hiền
Từ ngữ A-hàm (Agama)
nói theo nghĩa rộng là chỉ cho những giáo thuyết được truyền thừa,
hoặc các Thánh điển do sưu tập các giáo thuyết ấy tạo thành. Do
vậy, thông thường nói Kinh A-hàm tức chỉ cho 4 bộ hoặc 5 bộ Thánh
điển của Phật giáo Nguyên thủy.
Phật giáo Nguyên
thủy là thời đại giáo pháp còn nhất vị, giáo đoàn còn thống nhất,
chưa phân chia thành bộ phái, tức trong khoảng thời gian từ khi Đức
Phật bắt đầu thành lập giáo đoàn, hoằng dương giáo lý cho đến 100
năm (hoặc 200 năm) sau khi Phật nhập diệt. Kinh điển trong thời kỳ
này bao hàm hình thái nguyên thủy nhất của giáo thuyết Phật-đà. Đây
là cơ sở giáo lý căn bản của Phật giáo Đại thừa, Tiểu thừa sau
này.
Cuối thế kỷ XIX,
các học giả phương Tây bắt đầu nghiên cứu các kinh điển Pàli, lấy
Phật giáo phương
Về tên gọi và thời
đại của Phật giáo Nguyên thủy, trong giới học giả có nhiều ý kiến
khác nhau. Đầu tiên, học giả người Anh là Thomas William Rhys Davids
(1843 - 1922) gọi là Early Buddhism. Sau đó, một học giả người Nhật
Bản là Kimura Taiken chính thức dịch từ ngữ "Early Buddhism" là
Phật Giáo Nguyên Thủy (trong tác phẩm Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng
Luận, xuất bản năm 1924). Tiếng Anh của "Phật giáo Nguyên
thủy" đáng lẽ phải là "Primitive Buddhism", nhưng vì từ
Primitive ngoài các ý nghĩa: Đầu tiên, trước nhất, nó còn bao hàm
các nghĩa: Nguyên thủy, Thời kỳ đầu chưa được khai hóa... Do đó dễ bị
xem là từ ngữ có hàm ý thấp kém, vì thế các học giả phương Tây
thường tránh dùng, mà sử dụng từ ngữ "Early Buddhism".
Một học giả người
Nhật khác là ông Tỷ Kỳ Chánh Trị thì cho rằng nếu Early Buddhism chỉ
cho Phật giáo ở thời kỳ đầu tiên (tức thời đại của Phật và các
đệ tử của Ngài) thì đáng lẽ phải dịch là "Phật giáo Căn
bản" (Basic Buddhism). Các học giả khác của Nhật Bản và Trung
Quốc, nổi tiếng như ngài Ấn Thuận... cũng đồng quan điểm trên.
Nói theo các văn
hiến hiện còn thì thời đại Phật giáo Căn bản, 4 bộ (hoặc 5 bộ)
A-hàm chưa được kiết tập, cho nên nói một cách nghiêm túc, do sự
thiếu sót các văn hiến Phật giáo Căn bản, nếu không tìm tòi trong
các Thánh điển được tập đại thành vào thời đại Phật giáo Nguyên
Thủy thì không thể nào mở ra con đường nghiên cứu Phật giáo Căn
bản. Các học giả Trung Quốc, Nhật Bản gần đây thường căn cứ vào
các tạng kinh bằng tiếng Pàli, tiếng Hán, tiếng Phạn và tiếng Tây
Tạng để nghiên cứu Phật giáo Căn bản. Còn các học giả phương Tây
do thiếu khả năng xem đọc tiếng Hán nên phải nghiên cứu bằng tiếng
Pàli, khiến cho kết quả nghiên cứu có chỗ chênh lệch, nhưng nhờ sự
trợ giúp của Ngôn ngữ học, Khảo cổ học và Tư tưởng sử trên tinh
thần và phương pháp học thuật có khuynh hướng nghiên cứu với thái
độ phê phán, nên rất được xem trọng.
Bất luận Căn bản
hay Nguyên thủy, tư tưởng trọng tâm của giáo pháp Đức Phật chính là học
thuyết Duyên Khởi. Tư tưởng "Nghiệp" và "Giải
thoát" y cứ vào Áo Nghĩa Thư của Ấn Độ, đồng thời sử dụng tư
tưởng "Chúng sinh bình đẳng" của Kỳ-na giáo và sự sáng tạo
độc đáo của việc cầu đạo chứng ngộ. Tất cả giáo pháp của Đức
Phật đều lấy luận thuyết Duyên Khởi làm tiêu chuẩn, gồm 4 phần:
1-
Ba pháp ấn (hoặc 4 pháp ấn).
2- Mười
hai nhân duyên.
3- Bốn
đế.
4- Đạo
tám Chánh.
Ở
Ấn Độ, tuy các tư tưởng triết học đã thịnh hành rất sớm, nhưng tuyệt
nhiên không có luận thuyết Duyên Khởi, các tôn giáo hoặc triết học
khác trên thế giới cũng không có, nên Duyên Khởi được xem như đặc
trưng cơ bản của Phật giáo.
Từ nhận định cơ bản
trên, ta bắt đầu đi vào nghiên cứu Kinh A-hàm. Có lẽ việc xác định
vị trí, thời gian của một kinh điển nào đó ra đời là cách tốt nhất
để tránh lầm lạc, chắp vá và thiên kiến.
Từ "A-hàm"
(Agama) được các học giả cận đại giải thích là: Lai trước, Thú quy,
Tri thức, Thánh ngôn, Thánh huấn tập, Kinh điển. Hán dịch của từ
Agama cũng rất nhiều: Pháp quy, Pháp bản, Pháp tạng, Giáo pháp, Giáo
phần, Chủng chủng thuyết, Vô tỷ pháp, Truyền giáo, Tịnh giáo, Thú
vô, Giáo, Truyền, Lai, Tạng v.v...
Thiện Kiến Luật
Tỳ-Bà-Sa 2 thì cho A-hàm nghĩa là dung chứa, tụ tập. Nhưng nghĩa này
có thể là chỉ cho từ "Nikàya" trong tiếng Pàli (nghĩa là tập
hội, toản tập) chứ không phải từ Agama.
Pháp Hoa Luận Sớ có
nêu lời giải thích của ngài Đạo An đời Đông Tấn rằng A-hàm là
"Thú vô", vì tất cả pháp đều hướng về pháp
"Không" cứu cánh. Còn ngài Tăng Triệu thì giải thích A-hàm
là Pháp quy. Thực ra, những lối giải thích trên đều không đúng với
chánh ý của A-hàm.
A-hàm thuộc về giáo
thuyết truyền thừa, được tập đại thành sau khi Đức Phật nhập diệt.
Đây là nội dung của Kinh Tạng (Phạn: Sùtrànta-pitaka) trong 3 tạng, chia
làm Tứ A-hàm hay Ngũ A-hàm.
"Tứ A-hàm"
là Trung A-hàm, Trường A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Tạp A-hàm (hoặc
Tương Ưng). Đây là từ ngữ được các kinh sau đây đề cập đến: Kinh
Bát-nê-hoàn quyển hạ, Hữu Bộ Tỳ-nại-da Tạp Sự 39, Luận Đại Trí
Độ, Luận Du-già-sư-địa 85, kinh Đại Bát-niết-bàn 13 (bản Bắc), Kinh
Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân 2 v.v...
"Ngũ A-hàm"
là Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng-thuật-đa (Tương Ưng), Ương-quật-đa-la
(Tăng Nhất) và Khuất-đà-ca (Tạp loại). Từ ngữ này được ghi trong
Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa 1, Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la Sở Pháp
Trụ Ký v.v...
Luật Ngũ Phần 30,
Luật Ma-ha Tăng-kỳ 32, Luật Tứ Phần 5, Luận Phân Biệt Công Đức 1
v.v... gọi Khuất-đa-ca A-hàm là Tạp Tạng trong 5 bộ A-hàm. Năm bộ
này tương đương với 5 bộ kinh (Pãnca-Nikàya) trong kinh Phật bằng tiếng
Pàli.
Theo Tỳ-nại-da Tiểu
Phẩm (Vinaya-cùlavagga), Nhất Thiết Thiện Kiến (Samanta-pàsàdika 1) và
bài tựa của Trường Bộ Kinh Chú (Sumangala-vilàsinĩ), 5 bộ kinh là:
Digha-Nikàya, Majjhima-Nikàya, Samyutta-Nikàya, Anguttara-Nikàya và
Khuddaca-Nikàya, tương đương với 5 bộ: Trường, Trung, Tương Ưng, Tăng Chi
và Tiểu Bộ Kinh hiện nay.
Về sự truyền thừa
của hệ A-hàm, theo bài tựa của Trường Bộ Kinh Chú, sau khi kết tập
lần thứ nhất, Trường Bộ Kinh do hệ thống A-nan, Trung Bộ Kinh do hệ
thống Xá-lợi-phất, Tương Ưng Bộ Kinh do hệ thống Đại Ca-diếp,
Tăng-chi Bộ Kinh do hệ thống A-na-luật xếp loại mà truyền thừa riêng
biệt nhau.
Theo Pháp Hoa Huyền
Tán 1, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương 4, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao
Huyền Đàm 8 v.v..., cả 4 bộ A-hàm và Luật Ma-ha Tăng-kỳ đều do Đại
Chúng Bộ truyền. Còn theo Câu-Xá Luận Kê Cổ quyển thượng thì Trung
A-hàm và Tạp A-hàm do Tát-bà-đa Bộ truyền, Tăng Nhất A-hàm do Đại
Chúng Bộ truyền, Trường A-hàm do Hóa Địa Bộ truyền, Biệt dịch Tạp A-hàm
là do Ẩm Quang Bộ truyền. Tóm lại, A-hàm là do mỗi bộ phái tự
truyền riêng, nhưng sau khi Đại thừa phát triển, kinh điển A-hàm được
xem là một tên khác của kinh điển Tiểu thừa. Nhưng Luận Đại Trí Độ
thì cho từ A-hàm cũng chỉ chung cho Đại thừa, nên Kinh Bát-nê-hoàn 6
có từ ngữ "Phương Đẳng A-hàm". Thuật ngữ Phương Đẳng A-hàm
này chỉ cho kinh điển Đại thừa.
I.
Nguyên Do và Sự Thành Lập Kinh A-Hàm
Thời đại Phật giáo
Nguyên thủy, đệ tử Phật và các tín đồ đối với giáo pháp đã nghe
thường dùng thể thơ hoặc những đoạn văn xuôi ngắn gọn, hoặc dùng
hình thức truyền miệng lẫn nhau để ghi nhớ truyền thừa. Nhưng vì đệ
tử Phật tiếp thu không đồng nên mỗi bộ phái đều có tư tưởng khác
nhau. Vì thế, khi giáo đoàn được xác lập, vấn đề chỉnh lý và thống
nhất các giáo thuyết của Đức Phật là một việc làm tất yếu. Nhờ
đó, giáo thuyết của Đức Phật được hoàn bị, lần lần phát triển
thành một hình thức văn học riêng biệt, cuối cùng trở thành Thánh
điển. Đó là nguyên do từ đâu có Kinh A-hàm.
Kinh A-hàm được
thành lập từ lúc nào, phải căn cứ vào số lần kiết tập để luận
bàn.
* Kiết tập lần thứ
nhất
Sau khi Phật nhập
diệt, vào một mùa hạ, 500 vị A-la-hán tập hợp trong hang Thất Diệp
ngoài thành Vương Xá. Đại chúng cử Tôn giả Ca-diếp làm thượng thủ,
cử hành kiết tập lần thứ nhất. Tôn giả A-nan tụng Pháp (Kinh), Tôn
giả Ưu-ba-ly tụng Luật. Nguồn gốc sâu xa của Kinh A-hàm bắt nguồn từ
lúc này.
* Kiết tập lần thứ
hai
Sau khi Phật nhập
diệt khoảng 100 năm, 700 Tỳ-kheo tập hợp tại thành Tỳ-xá-ly. Đại
chúng cử ngài Da-xá làm thượng thủ, cử hành kiết tập lần thứ hai.
Lần kiết tập này chủ yếu tụng Luật tạng.
* Kiết tập lần thứ
ba
Sau khi Phật nhập
diệt khoảng 236 năm, tức là thời Vua A-dục, đại chúng tập hợp tại
thành Hoa Thị, cử ngài Mục-kiền-liên-tử-đế-tu làm thượng thủ, tổ
chức kiết tập lần thứ ba. Đến đây Tam Tạng giáo pháp mới hoàn
thành.
* Kiết tập lần thứ
tư
Sau khi Phật nhập
diệt 400 năm, dưới sự hộ trì của Vua Ca-nị-sắc-ca, đại chúng tập hợp
tại nước Ca-thấp-di-la, cử Hiếp Tôn giả và ngài Thế Hữu làm thượng
thủ, cử hành kiết tập lần thứ tư. Lần kiết tập này chủ yếu là
luận thích Tam Tạng.
Tóm lại, Kinh A-hàm
được tụng vào lúc kiết tập lần thứ nhất, từ lần kiết tập thứ hai
về sau, tức vào khoảng thế kỷ III trước Tây lịch là thời kỳ Kinh
A-hàm chính thức được thành lập.
II. Hình
Thức Văn Học của Kinh A-Hàm
Các nhà phán giáo
về sau đã căn cứ vào thể loại của văn kinh mà chia Kinh A-hàm thành
hai thứ: Chín thể loại và Mười hai thể loại:
a. Chín thể loại
(Cửu bộ kinh)
1-
Kinh
2- Trùng
tụng
3- Ký
thuyết
4- Kệ
tụng
5- Cảm
ứng kệ
6- Như thị
ngữ (Bản sự)
7- Bản
sanh
8- Phương
quảng
9- Vị
tằng hữu pháp.
b. Mười hai thể loại (Thập nhị bộ kinh)
Mười hai là gồm chín
loại kể trên, cộng thêm Nhân duyên, Thí dụ và Luận nghị. Chín thể
loại thành lập sớm hơn mười hai thể loại, nhưng về bộ loại văn học
của Thánh điển Phật giáo thì lấy mười hai thể loại làm luận cứ
chắc chắn.
III. Sự
Truyền Thừa của Kinh A-Hàm
Sau khi Phật nhập
diệt khoảng 100 năm, giáo đoàn thống nhất của Phật giáo Nguyên Thủy
chia thành Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ. Sau đó lại chia thành 20
bộ phái Tiểu thừa, mỗi bộ phái đều có Kinh Tạng truyền thừa riêng
biệt. Theo những tư liệu hiện còn thì lúc ấy ít nhất cũng còn tồn
tại những kinh điển do Thượng Tọa Bộ (ở phương Nam), Hữu Bộ, Hóa Địa
Bộ, Pháp Tạng Bộ, Đại Chúng Bộ, Ẩm Quang Bộ và Kinh Lượng Bộ
truyền. Nhưng đến nay, chỉ có kinh điển của Thượng Tọa Bộ ở phương Nam
là hoàn toàn được bảo tồn, gồm có 5 bộ: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương
Ưng Bộ, Tăng-chi Bộ, Tiểu Bộ (tức Khuất-đà-ca A-hàm) chép bằng văn
Pàli. Đây là 5 bộ
Về mặt Bắc truyền,
do gom góp các kinh điển rời rạc riêng lẻ của các bộ phái mà tạo
thành bốn bộ A-hàm: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và
Tạp A-hàm. Bốn bộ kinh này được ghi bằng Phạn văn. Đây là bốn bộ
A-hàm Bắc truyền. Trong đó Trường Bộ, Trung Bộ của Nam truyền tương
đương với Trường A-hàm của Bắc truyền; còn Tương Ưng Bộ tương đương
với Tạp A-hàm, Tăng-chi Bộ tương đương với Tăng Nhất A-hàm.
Năm bộ
IV. Khảo
Sát từng Bộ Kinh
Để có một cái nhìn
tường tận về danh nghĩa, nội dung và các bản dịch của từng bộ kinh,
thiết tưởng phải khảo sát từng bộ kinh thì mới có thể hiểu rõ
nguồn gốc của chúng. Nếu là một tiểu luận được trình bày kỹ lưỡng
lẽ ra phải liệt kê từng phẩm kinh để đối chiếu dịch giả, thời đại
phiên dịch để thấy được giá trị của từng bộ. Nhưng phạm vi bài viết
này chỉ muốn khái quát về nguồn gốc và nội dung chung, nên chỉ nói
tóm lược 4 bộ hay 5 bộ mà thôi. Để tiện đối chiếu, ta nên trình bày
chung các bộ
1. Kinh Trường A-Hàm
Kinh Trường A-hàm,
tiếng Phạn là Dìghàgama, tiếng Pàli là Digha - nikàya, gồm 22 quyển,
do Ngài Phật-đà Da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào năm Hoằng Thỉ
thứ 15 đời Dao Tần (413), hiện được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại
Tạng Kinh tập 1. Sở dĩ nói "Trường" là vì do soạn tập những
kinh điển dài nhất trong A-hàm mà thành. Theo Tứ Phần Luật 54, Ngũ
Phần Luật 30, Luận Du-Già-Sư-Địa 85, nguyên do có chữ
"Trường" là vì tổng tập những kinh lớn (dài). Tát-Bà-Đa
Tỳ-Ni Tỳ-Bà-Sa 1 thì cho rằng Trường A-hàm là phá dẹp các tà thuyết
của ngoại đạo. Luận Phân Biệt Công Đức thì cho rằng
"Trường" nghĩa là nói những việc lâu xa, nghĩa là trải qua
nhiều kiếp vẫn không dứt. Nói chung về phần định danh, các kinh luận
nói khác nhau, xong đại để vẫn vậy.
Toàn kinh chia làm 4
phần, gồm 30 kinh. Trong đó, phần thứ nhất nói về bản thủy và sự
tích của Đức Phật; phần thứ hai nói về việc tu tập các hạnh và
cương yếu giáo pháp của Phật thuyết; phần thứ ba nói về các luận
nạn đối với ngoại đạo và dị thuyết; phần thứ tư ghi chép về tướng
trạng khởi nguyên của thế giới (Vũ trụ).
Kinh này tương đương
với Trường Bộ (Pàli: Digha-Nikàya) trong 5 bộ của hệ
Đặc biệt có Kinh
Thất Phật trong Trường A-hàm (Trung Quốc gọi là Biệt Sanh Kinh) được
trích riêng ra để dịch rất nhiều (21 loại). Các học giả Tây phương
thường dùng bản chép tay Pàli, hiệu đính, phiên dịch rồi xuất bản
cũng nhiều, như Dialogues of Buddha, 1909 - 1921, do học giả người Anh là
Rhys Davids và phu nhân là J.E. Carpenter phiên dịch; Dic Reden des Gotamo
Buddhos, 1907 - 1918, do K..E. Newmann dịch sang tiếng Đức; Das Buch der
langen Texte des Buddhist Kanon Leipzig, 1913, do O. Franke dịch sang tiếng
Đức. Ngoài ra còn có bản chú thích Trường Bộ Sumangalavilàsinì của
Đại luận sư của Tích Lan sống vào thế kỷ V là ngài Phật Âm
(Buddhaghosa), được hai vợ chồng Davids xuất bản vào năm 1986.
Trong các bản Sankrit
mới phát hiện ở Tân Cương, Trung Quốc có kinh tương đương với Chúng
Tập Kinh (Sangìti-sutta) - kinh thứ 9 của bản Hán dịch, và tương đương
với một đoạn kinh Atànàtiya-sutta - kinh thứ 32 bản Pàli, được học
giả R.Hoernle thu lục trong tác phẩm Manuscrip Remains of Buddhist
Literature found in Eastern Turkestan,Vol.1.
Ngoài ra trong Đại
Tạng Kinh của Tây Tạng có Hdus-pa chen-pohi md tương đương với Đại Hội
Kinh - kinh thứ 19 trong Trường A-hàm; Tshans-Pahi dra-bahi mdo tương đương
với Phạm Đôĩng Kinh - kinh thứ 21 trong Trường A-hàm; Lcan-lo-can-gyi
pho-bran-gi mdo tương đương với Aụtànàtiya-sutta trong Trường Bộ.
2. Kinh Trung A-Hàm
Kinh Trung A-hàm,
tiếng Phạn là Madhyamàgama, gồm 60 quyển, do ngài Cùụ-đàm
Tăng-già-đề-bà dịch sang Hán văn vào đời Đông Tấn (317-419), Trung
Quốc, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập 1. Sở dĩ nói
"Trung" là vì nó không lớn cũng không nhỏ, không dài cũng
không ngắn. Trung A-hàm là bộ kinh tổng tập những kinh điển vừa
phải, không lớn lắm cũng không nhỏ lắm.
Theo Tát-Bà-Đa Tỳ-Ni
Tỳ-Bà-Sa 1, Kinh Trung A-hàm là một bộ kinh Đức Phật giảng nói các
nghĩa lý sâu xa cho hàng chúng sinh lợi căn nghe. Toàn kinh gồm có 5
phần tụng (Ngũ tụng), 18 phẩm và 222 kinh. Ngũ tụng gồm Sơ tụng,
Tiểu độ thành tụng, Niệm tụng, Phân biệt tụng và Hậu tụng. Ở đây
xin lượt phần liệt kê tên phẩm và tên kinh.
Kinh này lấy việc
tự thuật giáo nghĩa của Đức Phật và các đệ tử của Ngài là chính.
Trong đó thỉnh thoảng cũng nói về những điều răn dạy của Đức Phật
đối với các đệ tử, các bậc vương giả, cư sĩ và các ngoại đạo. So
với Kinh Tạp A-hàm, kinh này tiến một bước rất lớn trong việc phân
biệt về pháp tướng, xem Đức Phật là một phân thân Phật có đầy đủ
32 tướng. Nếu Tạp A-hàm được xem như một bộ kinh đúng như ý nghĩa của
danh từ, thì Trung A-hàm lại có cái khí vị của một bộ luận nhiều hơn.
Kinh này tương đương
với Trung Bộ (Pàli: Majjhima-Nikàya) trong 5 bộ kinh thuộc
Đồng bản dị dịch
(tức cùng một bản Phạn nhưng khác người dịch, tất nhiên là dịch sang
Hán Văn) của kinh này có bản dịch của Đàm-ma-nan-đề (59 quyển), bản
dịch của Tăng-già-đề-bà (60 quyển).
Trong các bản kinh tiếng
Phạn mới được phát hiện gần đây ở tỉnh Tân Cương, Trung Quốc, có
kinh tương đương với Kinh Thỉnh Thỉnh (Pravàranà-sùtra), kinh thứ 121
trong Trung A-hàm bản Hán dịch; có bản tương đương với Kinh Ưu-ba-li
(Upàli-sùtra), kinh thứ 133; có bản tương đương với Kinh Anh Vũ
(Súka-sùtra), kinh thứ 170 trong Trung A-hàm, được học giả R.Hoernle thu
lục trong tác phẩm Manuscrip Remains of Buddhist Literature found in Eastern
Turkestan,Vol.I.
Trong Đại Tạng Kinh
của Tây Tạng có Mdo Chen-po gzugs-can snin-pos bsu-ba shes-bya-ba tương
đương với Kinh Tần-bà-sa-la Vương Nghinh Phật, kinh thứ 62 trong bản Hán
dịch; Las rnam-par hbyed-pa tương đương với Kinh Anh Vũ, kinh thứ 170 bản
Hán dịch; Khams-man-pohi mdo tương đương với Kinh Đa Giới, kinh thứ 121
bản Hán dịch; Mdo Chen-po ston-pa-nid ses-bya-ba tương đương với Kinh Tiểu
Không, kinh thứ 190 bản Hán dịch; Mdo Chen-po ston-pa nid chen-po
shes-bya-ba tương đương với Kinh Đại Không, kinh thứ 191 bản Hán dịch.
Các học giả hiện
đại phần nhiều cho rằng Kinh Trung A-hàm do Tát-bà-đa bộ truyền.
3.Kinh Tăng Nhất
A-Hàm
Kinh Tăng Nhất
A-hàm, tiếng Phạn là Ekttarikàgama, tiếng Pàli là Anguttara-Nikàya,
gồm 51 quyển, do ngài Cù-đàm-tăng-già Đề-bà dịch vào đời Đông Tấn
(317-419), Trung Quốc, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh
tập 2.
Theo Thiện Kiến Luật
Tỳ-Bà-Sa 1, Ngũ Phần Luật 30, Tứ Phần Luật 54, sở dĩ nói "Tăng
Nhất" là vì bộ kinh này phân loại và tập đại thành thứ tự của
các pháp số từ 1 đến 11 pháp. Theo Tát-Bà-Đa Tỳ-Ni Tỳ-Bà-Sa, Tăng
Nhất A-hàm là một bộ kinh tổng tập những bài thuyết pháp của Đức
Phật tùy thời giảng nói cho chư thiên và chúng sinh nghe. Toàn kinh
gồm 52 phẩm, 472 kinh. Kinh này có sắc thái Đại thừa rất đậm, được
thành lập trễ nhất trong 4 bộ A-hàm.
Nội dung kinh này ban
đầu nói phẩm Tựa, thuật lại chuyện ngài A-nan truyền tụng kinh điển,
sự kết tập của kinh này, nhân duyên Ưu-đa-la thọ pháp v.v... Sau đó
nương theo thứ tự tăng dần của các pháp số mà phân loại và gom
tập. Đặc biệt trong bộ kinh này, sau các phẩm hoặc các kinh phần
nhiều có phần tổng tụng, tức phần đại yếu của mỗi phẩm hoặc mỗi
kinh.
Về số phẩm và số
quyển của Kinh Tăng Nhất A-hàm, 3 bản đời Tống; đời Nguyên và đời
Minh có 52 phẩm, 50 quyển; trong Cao Ly tàng bản thì có 50 phẩm, 51
quyển. Về pháp số được trình bày theo thứ tự tăng dần trong kinh này
có hai thuyết:
1.
Theo Luật Ma-ha Tăng-kỳ 32, Luận A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa 10 và Hữu Bộ
Tỳ-nại-da Tạp Sự 39, Kinh Tăng Nhất A-hàm vốn trình bày thứ tự tăng
dần từ 1 pháp đến 100 pháp, nhưng về sau bị mất mát hết nên chỉ còn
10 pháp.
2. Theo Luật Ngũ
Phần 30, Luật Tứ Phần 54 và Luận Phân Biệt Công Đức 2, Kinh này trình bày
thứ tự tăng dần từ 1 pháp đến 11 pháp. Thuyết này phù hợp với nội
dung của Kinh Tăng Nhất A-hàm hiện còn.
Kinh
này tương đương với Tăng Chi Bộ (Pàli: Anguttara-nikaya) trong 5 bộ kinh
hệ
Kinh Biệt Sanh (Kinh
được trích dịch riêng) của Tăng Nhất A-hàm có Kinh A-la-hán Cụ Đức 1
quyển, kinh này có đến 18 bản dịch khác nhau. Trong các bản Phạn văn
mới phát hiện được ở Tân Cương có kinh tương đương với kinh thứ 5
trong phẩm Thiện Tụ của bản Hán dịch, được Học giả R. Hoernle thu lục
vào tác phẩm Manuscript Remains of Buddhist Literature found in Eastern
Turkestan, vol 1.
Ngoài ra trong Đại
Tạng Kinh Tây Tạng có Kinh Byams-pas shus-pahi lehu (Từ Thị Sở Vấn
Phẩm) tương đương với Thiện Tri Thức Phẩm, Kinh thứ 6 bản Hán dịch; Mdo
Chen-po rgyal-mtshan dam-pa shes-bya-ba (Đại Vi Diệu Tràng Kinh) tương đương
với Kinh thứ nhất của Cao Tràng Phẩm bản Hán dịch; Lden-pa-bshihi mdo
(Tứ Đế Kinh) tương đương với Kinh thứ nhất trong phẩm Tứ Đế bản Hán
dịch; Byams-pa bsgom-pahi mdo (Từ Quán Tưởng Kinh) tương đương với Kinh
thứ 10 trong phẩm Phóng Ngưu.
Các học giả cận
đại cho rằng Kinh Tăng Nhất A-hàm là do một phái nhỏ sau cùng của
Đại Chúng Bộ truyền.
4. Kinh Tạp A-Hàm
Kinh Tạp A-hàm,
tiếng Phạn là Samyuktàgama, tiếng Pàli là Samyutta-Nikàya, gồm 51
quyển, do ngài Cầu-na Bạt-đà-la dịch sang tiếng Trung Quốc vào đời Lưu
Tống, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập 2.
Về tên gọi Kinh Tạp
A-hàm, theo Ngũ Phần Luật 30, Tứ Phần Luật 54, kinh này do Đức Phật
giảng thuyết về Tứ Thánh Đế, Bát Thánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên...
cho các thính chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên
tử, Thiên nữ v.v... Nay gom tập lại thành một bộ nên gọi là Tạp
A-hàm. Theo Luật Ma-Ha Tăng-Kỳ 32, do gom tập những câu văn phồn tạp
nên gọi là Tạp A-hàm. Ngoài ra, theo Tát-Bà-Đa Tỳ-Ni Tỳ-Bà-Sa 1,
Tạp A-hàm là bộ kinh xiển dương các loại thiền định, là pháp môn mà
người tu tập thiền định phải thực hành. Theo Luận Du-Già-Sư-Địa 85, do
tất cả sự tướng đều tương ưng với giáo, gom hết những nghĩa lý đó
nên gọi là Tạp A-cấp-ma (Tạp A-hàm).
Toàn kinh này gồm 50
quyển, 1362 tiểu kinh (theo số mục được biên tập trong Đại Chánh Tân
Tu Đại Tạng Kinh), nội dung tương đương với Tương Ưng Bộ
(Samyutta-Nikàya, gồm 2858 tiểu kinh, 203 phẩm, 516 thiên, 5 tụ) bản
Pàli thuộc hệ Nam truyền. Đây là bộ kinh lớn nhất trong 4 bộ A-hàm
bản Hán dịch. Về thời kỳ thành lập, kinh này cũng được thành lập
sớm nhất trong 4 bộ A-hàm. Nếu phân loại theo tính chất của từng
phẩm thì toàn kinh có thể chia ra 3 bộ phận lớn:
1.
Tu-đa-la: Gồm
các phẩm nói về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới, Niệm, Trụ v.v...
2. Kỳ-dạ: Gồm những lời vấn
đáp được trình bày theo lối kệ tụng.
3. Ký thuyết: Những lời của Phật
và các đệ tử của Ngài tuyên thuyết.
Ba
bộ phận nói trên, theo thứ tự tương đương với 3 loại "Sở
thuyết", "Sở vi thuyết" và "Năng thuyết" được
nêu trong Luận Du-Già-Sư-Địa 85.
Kinh Tạp A-hàm là
bộ kinh còn bảo tồn được phong cách của Phật giáo Nguyên Thủy. Trong
đó, tuy có những phần do đời sau biên soạn, nhưng hầu hết là được
thành lập vào thời kỳ sớm nhất. Những câu pháp trong kinh này phần
nhiều đơn giản. Đối với pháp môn tu hành thực tiễn thì có các phẩm
nói về Niệm, Trụ, Uẩn, Giới, do Đức Phật và các đệ tử trực tiếp
đối thoại với nhau mà có sự khác nhau về Tứ song, Bát bội, nương
theo 8 chúng mà giảng nói "Chúng tương ưng", khiến cho các
hàng tại gia, xuất gia, nam nữ lão ấu cho đến các đại đệ tử đều
lãnh thọ được giáo pháp.
Các học giả cận
đại nghiên cứu về 4 bộ A-hàm rất nhiều, đầu tiên là các học giả
Tây phương, sau đó các học giả Nhật Bản tiến thêm một bước là luận
cứu về văn kinh, phần lớn đều đặc biệt chú trọng nghiên cứu bằng
bản Pàli, cho đó là Thánh điển Nguyên Thủy và xem nhẹ những ngữ
văn khác. Kinh A-hàm bản Hán dịch do pho quyển quá nhiều, các chương
phẩm lại trùng lặp, từ ngữ mâu thuẫn, văn dịch lại có chỗ thừa có
chỗ thiếu, do những yếu tố đó nên không được phổ cập. Sau khi Trung
Quốc chú trọng nghiên cứu Phật học thì các học giả mới có xu hướng
tham khảo lại tư tưởng A-hàm. Như Kinh Tạp A-hàm, do nội dung của bản
hiện còn vốn không hoàn chỉnh, thứ tự lại lộn xộn, thất lạc, kinh
văn lại khó hiểu, nên các học giả cận đại phải chỉnh lý kinh này.
Trước mắt có "Tạp A-hàm Kinh" của Phật Quang Sơn sử dụng
cách chấm câu theo thể thức mới, từng đoạn được trình bày rõ ràng,
chú trọng đối chiếu giữa bản Pàli, bản Hán dịch và các bản khác,
phân định lại thứ tự của các quyển, sau mỗi tiểu kinh đều có giải
thích ý của kinh, những chỗ khó hiểu trong kinh thì chua thêm bản
Pàli, hoặc dịch thành tân văn (văn Bạch thoại). Ngoài ra, bản này
được hiệu đính nghiêm túc, chú giải tỉ mỉ, dẫn chứng đầy đủ, đó là
điểm đặc sắc của bản này. Tạp A-Hàm Kinh Luận Hội Biên của ngài
Ấn Thuận thì đối chiếu Kinh Tạp A-hàm với Du-già-sư-địa Luận, đó là điểm
đặc sắc nhất của bản này. Ngài Ấn Thuận sử dụng cách phân loại
theo nội dung của kinh giống như cổ lệ ở Ấn Độ, không phân quyển
theo phương pháp truyền thống của các bản Hán dịch, gồm 7 phần tụng,
51 tương ưng.
Theo tác phẩm Hán Ba
Tứ Bộ Tứ A-Hàm Hổ Chiếu Lục của một học giả Nhật Bản là Xích
Chiểu Trí Thiện, giữa Tương Ưng Bộ của hệ Nam truyền và Kinh Tạp
A-hàm bản Hán dịch thuộc Bắc truyền, không những số kinh được ghi
chép khác nhau mà nghĩa lý trong đó trái ngược nhau cũng không ít.
Một học giả Nhật Bản khác là Tỷ Kỳ Chánh Trị cũng tham chiếu giữa
các kinh như Tương Ưng Bộ bản Pàli, Kinh Tạp A-hàm bản Hán dịch, Hữu
Bộ Tỳ-nại-da Tạp Sự v.v...Trong tác phẩm "Hán Dịch Tứ
A-hàm" (The Four Buddhist Agamas in Chinese) của ông, ông đã phân
chia nội dung thành 8 phẩm, 63 bộ.
Ngoài ra, 3 phẩm
A-dục Vương Nhân Duyên Kinh, Pháp Diệt Tận Tướng Kinh, A-dục Vương Thí
Bán A-ma-lặc Quả Nhân Duyên Kinh trong hai quyển 23 và 25 nói trên,
nếu căn cứ trên nội dung, nghĩa lý của kinh mà nói thì không nên
biên nhập vào Kinh Tạp A-hàm. Cho nên trong hai bản mới của Trung
Quốc đều loại bỏ ba phẩm kinh này ra khỏi Kinh Tạp A-hàm. Riêng bản
của Phật Quang Sơn thì xếp ba phẩm này vào phần Phụ Lục để các độc
giả tham khảo. Số kinh đầy đủ của bản này là khoảng 1300 tiểu kinh,
tức là bao hàm cả các kinh trong hai quyển 23 và 25 nói trên. Phật
Quang Đại Tạng Kinh ngoại trừ 3 kinh nói trên, còn 1359 kinh, đồng
thời hiệu chỉnh lại pho quyển và đặt lại tên kinh mới. Trong
"Tạp A-hàm Kinh Luận hội biên" của ngài Ấn Thuận thì sau
mỗi kinh đều có liệt kê những kinh có liên quan đến kinh ấy, tức
tổng cộng toàn bộ gồm hơn một vạn kinh. Trong "Quốc Dịch Nhất
Thiết Kinh" của Nhật Bản cũng sử dụng phương pháp của ngài Ấn
Thuận, nhưng tổng số kinh so với bản của ngài Ấn Thuận thì có khác
nhau.
Kinh Tạp A-hàm bản
Hán dịch có đến 3 loại, các kinh Biệt Sanh thì có đến hơn 30 loại,
tổng cộng là 33 loại. Ngoài ra, từ năm 1884, nguyên văn của Tương Ưng
Bộ bản Pàli liên tục được dịch ra tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật
Bản, hiệu đính và sửa chữa rất nhiều. Đặc biệt vào năm 1924, ông W.
Piyattisa đã xuất bản tác phẩm chú thích Tương Ưng Bộ (Pàli:
Sàratthappakàsini) của Đại Luận sư Phật giáo Tích Lan thế kỷ V là
ngài Phật Âm (Pàli: Buddhaghosa).
Trong những bản Phạn
mới phát hiện được ở tỉnh Tân Cương, Trung Quốc cận đại cũng có
những đoạn tương đương với Kinh Tạp A-hàm bản Hán dịch. Các học giả
hiện đại rất chú trọng nghiên cứu các bản Phạn này.
Về sự truyền thừa
Kinh Tạp A-hàm, theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán 1, Đại Thừa Pháp Uyển
Nghĩa Lâm Chương 4, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Đàm, Kinh Tạp A-hàm
đều do Đại Chúng Bộ truyền, nhưng Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng
thì cho rằng Kinh Tạp A-hàm và Trung A-hàm là do Thuyết Nhất Thiết
Hữu Bộ (tức Tát-bà-đa Bộ) truyền. Còn ngài Ấn Thuận thì cho rằng
Kinh Tạp A-hàm bản Hán dịch là do Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ truyền,
Tương Ưng Bộ bản Pàli là do Xích Đồng Diệp Bộ truyền, Kinh Tạp A-hàm
bản biệt dịch là do Ẩm Quang Bộ truyền.
V. Kết
Luận
Kinh điển A-hàm là
kinh điển có hình thái nguyên thủy nhất. Trên phương diện Văn học
sử, người ta tìm thấy ở đây hình ảnh sống động nhất và chân thật
nhất về cuộc đời Đức Phật và giáo đoàn Phật giáo ngày xưa. Do
không được tiếp cận với các văn bản cổ cũng như các bản Pàli, một
số hệ tư tưởng Bắc truyền từ lâu đã xem nhẹ Kinh A-hàm. Tất nhiên
về mặt Tư tưởng sử, họ không tìm thấy những quan niệm như Phật tánh,
Tam thân v.v... trong kinh điển Nguyên Thủy, nhưng phương pháp mà Phật
chỉ dạy để liễu sanh thoát tử, chứng nhập Niết-bàn thì không thể không
nghiên cứu trong Kinh A-hàm mà có thể tìm hiểu chính xác được. Do
vậy, sự tìm tòi, đối chiếu, phân loại cũng như hiệu đính các bản
kinh của một số học giả và danh tăng cận đại là việc làm vô cùng
ý nghĩa.
Tại Việt
-ooOoo-
Tài
Liệu Tham Khảo
-
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
- Phật
Quang Đại Từ Điển.
- Nguyên
Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận (Kimura Taiken - HT. Quảng Độ dịch).
- Bài
tựa Kinh Trường A-hàm (HT. Thiện Siêu dịch).
- Phật
Giáo Thánh Điển (HT. Thánh Nghiêm).
Source: Đạo Phật
Ngày Nay, http://members.nbci.com/_XMCM/budtoday