|
Nói với tuổi trẻ
và lý tưởng…
Hương Bát nhã
mang trái tim màu xanh biển cả
Cư sĩ Liên Hoa
Sáng nay, vừa nhận được
cánh hoa hồng màu xanh
một ai vô tình gửi
chia sẻ lúc hạ tàn
nhìn hoa, tôi chợt hỏi
em đến từ nơi đâu
thân em là màu biển
hay tóc là mây xanh
từng cánh hoa chở mộng
chở cõi đời phiêu lãng
giữa biển rộng trời cao
gió đưa em phương nào
vòng đời xoay lãng đảng
từ thuở mắt sơ sinh
trên vùng đất an bình
nghe lòng phì nhiêu nhớ…
Cánh hoa hồng nhận được sáng nay,
mang lại nhiều câu hỏi mênh mông. Hoa tự khoát áo màu xanh hay
đang được thoa màu để trang điểm se sua cho cuộc đời, trong buổi
hè đang dần tàn. Từng cánh mỏng như tơ lụa, mềm mại như bờ môi,
xanh biếc như đôi mắt buồn huyền ảo, hoặc bầu bỉnh như em bé
quấn mình ấm êm trong bụng mẹ…Em đã thả ngọc cho đời, vung tay
lên rải các hương vị của hạnh phúc màu xanh, trải rộng theo
chiều dài của đại dương.
Em nói tôi rằng, vì không biết tôi còn hay đã mất mẹ,
nên chỉ biết gửi tặng cho hoa hồng màu xanh, tùy theo sự hiểu,
cảm thông để nhận cho tấm lòng. Tôi cười vô tư để bắt nhịp theo
tâm tư của em qua hình dáng màu xanh của hoa. Đã lâu rồi, người
ta mặc định với nhau rằng hoa hồng màu đỏ nói lên sự còn mẹ,
hồng trắng là mẹ đã mất, còn màu hoa hồng vàng được dành cho các
vị mang chiếc áo cô đơn… còn màu xanh nầy sao xa lạ quá, nó nói
lên được những gì? Em chỉ im lặng, mỉm cười, dành câu trả lời
trong sự tò mò suy tư của tôi.
Sư
im lặng của em là hư vô, như ánh lên từ sâu thẳm của đáy tâm,
vẫy vùng những đợt sóng… Làm sao tôi có thể tìm thấy em giữa màu
xanh, vì màu xanh có mặt khắp mọi nơi dù là dưới những dạng gam
màu khác, như nền trời xanh ngát cũng là màu xanh, trái tim cũng
là màu xanh khi nhịp đập con tim có thở tin lòng, và uớc mơ của
loài nguời cũng lạ lùng, kỳ diệu mang màu xanh.
Tôi
giật mình thấy màu xanh bổng nhiên trở mình, thức giấc để nói
lên đủ điều, có tướng, có hình hay nhảy vào tâm trong lặng, giữa
có và không, hoặc là cõi như như, nơi đó dung chứa tất cả những
sự mầu nhiệm của vũ trụ. Phải chăng em đã có ý nghĩ đến sự vươn
mình lên trên cao của bầu trời hay trải mình rộng ra theo vực
sâu biển cả, nói lên những ước vọng đi đến trong hiện tại, để
chắp cánh cho lối về… Cánh hoa hồng màu xanh không thể đeo trên
áo, trước ngực, mà chỉ có dấu ẩn trong tim, vào cùng tận của tâm.
Tôi
đã vô tình quấy động trong tâm mình để cho chữ nghĩa chạy nhảy,
nói lên tiếng nói của nó, nói lên những chiều sâu ẩn chứa có nội
lực vực dậy cuộc sống.
điệu luân vũ, mở cánh hương mời gọi
bước chập chùng dìu dặt mỗi chân đi
trong cơn xoáy, buông rơi mình tâm điểm
xoáy quay cuồng trong mộng ước bao la
em có khoát màu xanh hay muôn sắc
từ cõi lòng, hoa lá vẩn chờ mong
hãy bước đi, chân vũ trụ muôn đời
nghe lại tiếng, thấy lung linh sắc giới
quay cuồng lên, màu môi xanh điểm sắc
xoè con tim để nhịp nhẩy chia đều
giữa đi đến, bước chân không vội vả
có luân hồi vẫn cỡi nguyện bi tâm…..
Cánh hoa màu xanh bổng nhảy múa trước mắt tôi trong
điệu vũ quay cuồng, xoè từng cánh mỏng, từng bước chân loay hoay,
nhưng vẫn trụ vào tâm điểm để vững sống trong cuộc đời, dù đời
là đau thương, có nhiều sóng gió, đưa đẩy cánh hoa trong gió
sương, trong luân hồi biến đổi.
Có
nhiều người đã hỏi tôi rằng: ‘Sao anh hay lấy chính mình ra
để châm chọc, nói xấu, thay vì phải dấu kín, che dấu để mình có
thể là những hình ảnh đẹp cho mọi người. Ai cũng vậy thôi, tất
cà đều chạy bám theo cái “ngã” dưới mọi hình thức, đôi
khi rõ ràng, nhiều khi khéo léo, vi tế”. Câu hỏi làm tôi
chợt bật cười…” Dám can đảm nói về mình vì mình sẽ không bao
giờ tự làm cho mình bị thương khi bêu xấu chính mình, còn nói
tên của người khác…thú thật, tôi không dám vì rất là nguy hiểm.
Hơn nữa, khi nói xấu mình, ngưòi ta sẽ thấy cái dở của mình để
tránh không gây nên những lỗi lầm tương tự, và hoặc giả, khi có
ai đó, biết mình xấu thiệt, thì mình cũng đã nói trước rồi, nên
đở lo lắng, phàn nàn..Cho nên, một việc mà có ba bốn cái lợi….”.
Chúng tôi cùng cười trong chia sẻ sảng khoái của một ngày, thật
dòn, làm tan bầu không khí vốn thường căng thẳng chung quanh.
Tìm nhau để nói lời chân thật, tìm ý nghĩa của vô thường, tìm
những liên hệ để hiện hữu, tìm đến những mắc xích cho cuộc nhân
sinh.
Em
hỏi tôi rằng: “Tại sao, trong sự an tịnh, như như…lại có niệm
bất giác nổi lên để có thiên hà đại địa? Như vậy, khi trở về sự
an lạc, thanh tịnh…rồi có ngày mình sẽ bị niệm bất giác làm dậy
sóng chăng? Và làm cho cuộc luân hồi thành hình, chừng nào gọi
là chấm dứt để khổ đau không còn hiện diện?”.
Câu
hỏi nầy đã theo tôi nhiều năm tháng, khi chập chững buớc chân đi
tìm lại cuộc đời với lý tưởng mà mình tạo thành.
Tuổi trẻ của tôi khác em nhiều, dù là khổ đau vẫn oằn oại, dù là
niềm tin bị mất, dù là thần tượng bị lung lay, dù mọi giá trị
đều bị định lại với giá trị khả hữu…. nhưng cũng vẫn còn là tâm
tư muốn sống được có giá trị, sống cho cuộc đời có ý nghĩa nào
đó, nhưng rồi không làm gì được. Đó thật là điều vô lý trong
những cái vô lý, khi con người không thể định đoạt cho lý tưởng
của mình.
Chiến tranh. Vâng, chiến tranh như tiếng kêu ngắn, khô đặc,
nhưng ầm ầm nổ, đổ dài trên quê hương, tàn phá tất cả, mọi hy
vọng, mọi xây dựng, mọi sống còn, sống không lý tưởng. Tuổi trẻ
nhìn đâu đâu cũng đều thấy chết chóc, thấy bom đạn, thấy thây
người nằm la liệt đâu đó, thấy từng chiếc quan tài phủ lên màu
cờ, chở về để ghi công cho chiến tích. Chết trở nên bình thưởng
như không có chuyện gì là lạ. Những bạn bè của tôi, hôm nay ngồi
đây cùng nhau uống ly cà phê đắng bên quán cóc bên lề đường, vài
giờ sau nghe tin đã tan xác.
Những người mẹ, người vợ đầu chít khăn tang cho chồng, cho con
với lòng câm nín, chịu đựng. Khóc đã khóc rồi, đau đã đau rồi và
không còn gì để đổ tràn thêm nước mắt, không còn chỗ nào để chứa
thêm niềm đau.
Bàn
tay nào vung lên
Tìm lại từng hơi ấm
Ngày qua đã mất rồi
hiện tại là xác chết
người thương, hay xa lạ
thân nằm im bất động
hồn ở đâu bây giờ?
đêm về nghe khắc khoải
một trời nhớ, trời thương
một đời thân khổ nạn
tay ai tìm tay ai
để khoảng không đợi chờ
sao chiến tranh tàn phá
không để lại bài thơ
cho em nằm khẽ đọc
mơ ước được hoà bình…
Tôi
đã từng hỏi tại sao lại có chiến tranh trên quê hương, và cũng
đã khóc dài theo năm tháng của vận nước. Chữ nghĩa, học vấn chỉ
còn là những mong mỏi thoát qua khỏi sự hy sinh thân thể cho cái
vô lý của chiến tranh khi nhu cầu cần thêm. Khóc, đau, tuyệt
vọng, sống bất cần đời…. Những khói thuộc đốt lên, ẻo lả giữa
khoảng không, để nối dài mơ ước nếu còn sót lại trong suy tư;
những ly rượu làm say mềm trong giấc ngủ không mộng mị, rời xa
những hoảng hốt bàng hoàng của tháng ngày không nắng, thấy đời
không có mặt, có tương lai; những khúc nhạc ru đời trong những
cơn say tình ái du dương…chúng tôi đang ở đâu đây, ngay trên quê
hương mình hay đang réo gọi hồn thơ cho chan hoà trên từng mảnh
đất thân Mẹ, để chiến tranh không còn hay tuổi trẻ chúng tôi đã
và đang đánh mất chính mình, làm cuộc vong thân trên chính quê
hương được sinh ra và lớn lên…
“sống
mình không thể nói
chết mới nói nên lời….”
Nhất Chi Mai
Trong một bài viết năm nào khi nhận thức về cuộc đời, khi còn
trên ghế nhà trường bậc Trung học, trong bài viết “Sự hoang tàn
của tuổi trẻ”*, bài đã bị mất lâu rồi, nay ghi lại theo trí nhớ.
Chúng tôi đã đồng thanh kêu vang lên như thế…nhưng chỉ là tiếng
nói lặng câm…

Mẹ Việt Nam ơi..
Đây những người con của mẹ
được mẹ dạy tiếng nói Việt nam
bài học thuộc nằm lòng
phải thương yêu nhau
máu chảy ruột mềm
dù có ở mọi phương trời nào
cũng đừng quên lời dặn dò của Mẹ…
Khi em lớn lên, chiến tranh không còn nữa. Bài học mẹ
dạy năm nào cũng có người thuộc người quên, hãy yêu thương đồng
loại, thương yêu anh em mình vì cùng dòng giống Lạc Hồng… nhưng
hận thù còn đó, bạo lực cũng xẫy ra đâu đây.. Em may mắn hơn tôi
nhưng em cũng đau khổ hơn tôi nhiều….Tôi từng nói rằng “Xin
cám ơn những người dạy cho tôi trở thành người Việt Nam”
hoặc là “nếu ngày mai mộng ước không thành, hãy để chiến
tranh tàn phá chính tôi..”. Ôi cái mộng ước thật đơn giản
như lời Mẹ dạy, mong cho Hoà bình sớm trở về….
Khi niềm tin bị mất, khi thần tượng sụp đổ …tôi may
mắn bắt gặp lại những hình ảnh năm nào rất bình thường, thân
thương đã gánh vác dùm cho tôi biết bao nhiêu suy tư, làm nặng
trí não. Một vị Sư Vuợng- người ít học, nhưng cái tâm từ bi rộng
lớn, bao la, làm xúc động lòng người được ghi lại trong “Người
có nghiệp với Phật”* và cái lý tưởng đẹp chuyển hoá tâm để
làm lợi lạc cho mình và con người với những lời nói bộc trực,
đơn giản được nói đến trong “Chiếc áo cô đơn”* nói về một
người tu sĩ trẻ tuổi mà tôi được gặp lúc là sinh viên. Thì ra,
trong cuộc ảo du của kiếp người, những hình ảnh đáng trân trọng,
yêu quí, đầy mộc mạc, chân tình với lý tưởng dung dị…vẫn còn,
vẫn còn..nhưng không cao sang, xa vời, mà hiện diện trong những
con người rất bình thuờng trong cuộc đời.
Khởi từ đó, tôi đã buớc vào tiếp cận với đạo Phật để
cho mình những hy vọng sống còn khi lý tưởng bị mai một theo năm
tháng, tàn lụi theo chiến tranh.
“Tôi
chợt nhớ đến loài hoa Ưu-đàm ( Umdambara). Theo truyền thuyết,
hoa chỉ nở khi có một vị Thánh nhân ra đời. Tôi muốn nói sự xuất
hiện của đức Phật và giáo pháp của Ngài, mở con đường giải thoát
cho mọi loài chúng sanh. Câu nói thật đơn giản của Ngài sau khi
đạt Giác ngộ dưới cội cây Bồ-đề : “Ta là Phật đã thành, chúng
sanh là Phật sẽ thành.” làm lay động tâm thức của con người đang
ngụp lặn trong vòng luân hồi, chợt bừng lên tánh sáng, thấy đuợc
khả năng kỳ diệu của chính mình..
Nếu sự thị hiện của Ngài là vì sự đau khổ của chúng sanh đang
bám vào huyễn tưởng, để chỉ rõ Chơn-như Phật tánh, thì không lẽ
trong thời hiện nay, con người đang sống an lạc và đức Phật
không cần ứng hiện? Ngài từng nói: “Không nơi nào trong cõi
Diêm-phù-đề là không có chôn vùi thân xác của Như-lai vì trong
vô lượng kiếp hành hạnh Bồ-tát để cứu vớt chúng sanh.” Như vậy,
đức Cồ-Đàm - Ngài không chỉ xuất hiện trong khoảng
không-thời-gian lịch sử ở Ấn-độ hơn 2500 về trước, mà ứng thân
của Ngài đã đang thị hiện khắp mọi nơi chốn và khoảng sân sau
nhà tôi, tôi đã nhận ra được bóng dáng trang nghiêm của Ngài, đã
từng, cũng như đang bước chân kinh hành qua đây như đang tại
thành Xá-vệ, vườn Cấp-cô-độc, rừng cây của Thái tử Kỳ-đà.
Tôi nhớ đến những vị Đạo-sư, những vị Tổ...vì nguyện từ bi đã
từng thế hệ nầy qua nhiều đời kế tiếp, và đã từ những quốc độ
nầy qua quốc độ khác để “truyền đăng tục diệm” gìn giữ ngọn đuốc
soi đường cho chúng sanh không bị lụn tắt, khi mà con người ngày
hôm nay đang cần hơn bao giờ hết vì đứng trước hiểm họa nhân
loại có thể bị tiêu diệt bởi con người mang đầy thương tích do
tham sân si mà trong tay lại đang ôm đầy vũ khí giết người
.”*
Từ
khi tiếp cận đến với đạo Phật, tôi đã vượt qua giai đoạn chán
chường, sa ngả và thấy đời mình có ý nghĩa sống hơn. Như vậy thì
“Tâm luôn thuờng lặng, tịch nhiên… mà chỉ động khi tâm chúng
ta bị vọng động. Đem tư tưởng nhị nguyên thì thấy có động hoậc
không động, có thường hoặc vô thường…nhưng với “trí vô phân biệt”,
không phân chia thì phiền não là niết bàn. Vàng khi đã tinh
luyện trở thành vàng ròng thì còn đâu là vàng dơ, cặn”. Chợt
thấy thương tuổi trẻ của mình, thương những người bạn yếu đuối
bất lực trước định mạng, thương những người chân lắm tay bùn,
người nghèo khổ, em bé bán báo, người bán hàng rong, người đạp
xích lô, những cô gái bán bar ….những hình ảnh thực tế, gần gủi
của đời thường mà tôi chạy trốn, lẫn tránh xưa kia giờ đây thật
đầy xúc động, thật dễ tiếp cận, thấy được tánh người chân thật
tiềm ẩn bên trong ….. vì biết rằng đó chính là hình ảnh liên hệ
đến chính mình, thấy tôi có trong những nghiệp lực của các người
khác, với tha nhân, mọi sinh vật trong vũ trụ nầy.. theo Lăng
kính của Hoa Nghiêm. Lời nói,nghe đọc được năm xưa chợt hiện về:
“Chúng ta đến với trần gian nầy, không phải để chọn lựa người
hoàn hảo để thương yêu, nhưng mà để học cách làm thế nào
để thương yêu môt con người bất toàn được trọn vẹn” do Nhật Tịnh
dịch (Heart Of A Buddha : “We came to the world.
Not by finding Someone perfect to love. But to learn How
to love An imperfect person perfectly” ).
“Hình
ảnh của cuộc đời, của vũ trụ nhân sinh, của cái nhân duyên chằng
chịt lại gợi cho tôi hình ảnh của mandala của người tu theo Mật
giáo, vì nơi đó biểu hiện lên tất cả những biểu tượng sống mà
con người cần thể nhập, đi vào với không chướng ngại. Vì khi còn
thấy có chướng ngại, che mờ, người hành giả sẽ bị vất vuởng
ngoài đời sống, cô độc và nhiều hoang tưởng.
Cho nên, “Mandala có thể ví như một phòng thí nghiệm của nhà bác
học khi nghiên cứu về một vấn đề gì đó hoặc tạm ví như một công
án thiền. Vì thế, mandala của Mật giáo được định nghĩa là : 1-
Đàn tràng, đạo tràng. 2- Vô thượng, không gì hơn. 3- Pháp vị vô
tỷ. 4- Phát sanh chư Phật. 5- Luân viên cụ túc.
Nên đàn tràng được biết là nơi hiển lộ Pháp thân Phật hoặc Đại
Tỳ-lô-giá-na (Mahavairocana) hoặc Như-Lai Đại Nhật. Đàn cũng là
biểu tượng của vũ trụ sum la vạn tượng, của cuộc đời hoặc thân
ngũ uẩn của con người và trong một ý nghĩa nào đó, cũng có nghĩa
tượng trưng cho sự Hóa hiện và Điều phục do chư Phật và Bồ-tát
vì Từ tâm muốn hóa độ chúng sanh nên phương tiện quyền Hóa hiện
ra các hình tướng của các Thần của ngoại giáo, ví dụ đức Quán
Thế Âm hóa hiện ra 33 thân như Phạm Thiên, trời Đế Thích v.v...hoặc
khởi Bi mẩn thể hiện uy lực để Điều phục các Thần đó quay về
Chánh Pháp.
Đàn còn được chia ra làm 5 Pháp mandala hoặc Mạn tướng mandala:
1-
Trung ương: Phật bộ, Địa đại, Pháp giới thể tánh trí, chủ
bộ: Như-Lai Đại Nhật,
Sắc uẩn.
2- Phương Đông: Kim cang bộ, Phong đại, Đại viên cảnh trí,
chủ bộ: Như Lai A-
súc-bệ, Thức uẩn. Đàn vuông.
3- Phương Tây: Liên hoa bộ, Phong đại, Diệu quán sát trí,
chủ bộ: Như Lai A-di-
đà, Tưởng uẩn. Đàn bán nguyệt.
4- Phương Nam: Bảo bộ, Hỏa đại, Bình đẳng tánh trí, chủ
bộ: Như Lai Bảo Sanh,
Thọ uẩn. Đàn tam giác.
5- Phương Bắc: Yết ma bộ, Thủy hoặc Không đại, Thành sở
tác trí, chủ bộ: Như
Lai Bất Không Thành Tựu, Hành uẩn. Đàn tròn.
Trong vòng sinh hóa bất tận, đó là một phức hợp gồm ngũ uẩn hoặc
đều do 6 Đại biến hiện thành tựu.
Đi từ khu đất mênh mông của tâm và các dòng tâm thức tuôn chảy,
là nền móng của sự chuyển y. Nghiên cứu sâu xa hơn, ta thấy
nghiệp dĩ của muôn loài vốn là Khổ (dukkhã), gốc do vô minh (avijjã).
Vô minh là không nhận thức được bản chất cấu hợp của năm uẩn,
của căn trần cũng như bản chất thực sự của chúng. Là ôm lấy tứ
đại như đất nước gió lửa mà không nhận thức được sự trống rỗng,
duyên hợp của chúng, nên để cho năm triền cái như tham dục (kãmacchanda),
oán ghét (vyãpãda), hôn trầm (thĩnamiddha), phóng dật (uddhãcca
kukkucca) và hoài nghi (vicikicca) ngăn trở, đóng bít con đường
giải thoát ra khỏi đau khổ.
Nằm dưới những lớp mặt nổi nêu trên, là do sự suy tư không chân
chánh (Chánh kiến và Chánh tư duy trong Bát chánh đạo) nên dẫn
cuộc phiêu lưu của các giác quan đưa đến tam nghiệp bất thiện
như thân khẩu ý, là chất nuôi dưỡng năm triền cái và là nhân cho
mọi đau khổ, luân hồi.
Kinh Viên Giác nói: “ Người tu phải nhập tánh giác, chứ không
phải tánh giác nhập mình.” vì tánh giác sẵn có ở trong tâm của
mỗi người như đã nói ở trên, nhưng vì đối với chúng ta, tánh
giác không trụ nên vẫn cứ chạy theo vọng tưởng để luân lưu trong
sanh tử luân hồi. Tuy nhiên, sự trở về để thể nhập hay an trụ
trong tánh giác, đòi hỏi phải nỗ lực như một Đại-sĩ, chứ không
được giãi đãi. Theo Ngài Thanh Lương, người hành giả cần phải có:
1-
Nguyện đại : Vì cầu cho được quả Bồ-đề.
2-
Hạnh đại : Vì thành tựu tự lợi và lợi tha.
3-
Thời đại : Dù trải qua vô sô kiếp cũng cố gắng thành tựu.
4-
Đức đại : Đầy đủ các công đức bậc nhất thừa.
Trong Kinh nói; “ Chư Bồ tát do lòng từ bi khiến nhổ hết gốc
ái của chúng sanh nên thị hiện ở thế gian nầy. Các Ngài mượn
tham dục mà vào sanh tử với tất cả những hạnh thuận nghịch để
tùy duyên hóa độ”. Cho nên, các Ngài thường tùy ngũ sanh như:
1) Tức khổ sanh (Sanh ra đặng cứu khổ cho đời) 2)
Thắng sanh (Sanh ra ở địa vị hơn đời để cứu đời) 3) Tăng
thượng sanh (Sanh ở địa vị tối cao để độ sanh) 4) Tối hậu
sanh (Sanh ra lần cuối cùng ) và 5) Tùy loại sanh (
Do nguyện lực, nương theo loại mà sanh để độ) và hình ảnh của
đức Bồ tát Quán Thế Âm cũng vì Bi nguyện, nên đã nương theo
Tùy loại sanh, để cứu độ chúng sanh.
Chúng tôi nghỉ đây là chỗ tuyệt diệu của Phật giáo nói chung và
của Mật giáo và mật giáo thường biểu tượng tương duyên tương
sinh, hòa giải và siêu vượt những nhị nguyên đối đãi, mượn Sự để
chỉ Lý. Dùng đến vấn đề biểu tượng và qua biểu tượng nầy để chỉ
thẳng chính thực tại. Nhưng, đừng bao giờ sai lầm cho rằng biểu
tượng là thực tại như một số người ngộ nhận, vì thực tại thì
muôn màu muôn sắc, linh động. Biểu tượng có thể được hiểu như
một hướng dẫn viên thông thạo, rành sõi để làm cho ta nhìn thấu
thực tại, nhưng vượt từ biểu tượng đến thực tại lại cách ngăn
một sợi chỉ mỏng cũng có thể là ngàn trùng xa cách.
Do
đó, khi thể nhập vào thì Ngã sở không còn, vì nếu còn ngã sở là
còn vọng chấp, phân hai. Đi vào cõi bao la của viên giác,
không có Bồ tát- chúng sanh, đó là sự lý viên dung hay
chính là Pháp thân thanh tịnh (sự sự vô ngại, chu biến
hàm dung). Bồ tát không sa vào chấp không, nhưng muốn đạt Pháp
thân lại không thể tìm trong hữu tướng.
Sở
dĩ nhấn mạnh như vậy là để đi trực tiếp vào và đến tận suối
nguồn của biểu tượng. Nếu có những so sánh, phân biệt, dẫn giải
v.v...chỉ là quyền tạm hay phương tiện thiện xảo để thể nhập vào.
Như
chúng ta được biết, trong suốt cuộc đời của đức Phật, vì lòng từ
bi vô hạn đối với chúng sanh, nên Ngài đã dùng biết bao nhiêu là
phương tiện thiện xảo để mà hóa độ, nào hóa thành dụ, nào tam
thừa, nhị thừa và cuối cùng, chỉ rõ một thừa duy nhất
–đó là Phật thừa và là những diệu dụng của Phật thừa đó.
Phật thừa không đến từ ngoài, mà chứng được
trong tự thân nầy vì trong thân tâm có đầy đủ viên mãn tự
tánh thanh tịnh như Phật. Tuy nhiên, thân tâm phàm phu chúng
ta khác xa Phật. Vì, tâm Phật thì an trú trong Nội-Ngoại không
và trang nghiêm bằng phước huệ, và ứng thân Ngài cũng là thân
ngũ uẩn, nhưng đầy đủ 5 tướng như: Thông đạt tâm bồ-đề .2- Tu
tâm bồ-đề .3- Thành tâm kim-cang. 4- Chứng thân kim-cang. 5-
Thân Phật viên mãn.. Cho nên tạo thành thân Phật cụ túc,
còn thân chúng ta thì cấu tạo bởi tứ đại và tâm thì được nuôi
dưỡng bởi ngũ thủ uẩn.
Đi từ những nguyên nhân cấu thành vũ trụ vạn hữu
như lục đại duyên khởi:
1- Địa (Prthividhàtuh ) : Đất, sức ép, tiết xuất.
2- Thủy (Abodhàtuh ) : Nước, tính chất tàng trữ.
3- Hỏa (Tejodhàtuh) : Lửa, sức ấm nóng.
4- Phong (Vajudhàtuh) : Gió, sức rung động.
5- Không (Sũnyatà) : Không gian
6- Thức (Vijnãna) : Cảm giác, tư tưởng..
những tính chất trên rất tinh tế và tự có đủ
năng lực tiến hóa, phát triển cũng như không thể phân tích được
như những nguyên tử, điện tử...Chúng dung hòa lẫn nhau và tạo ra
sự hiện hữu của vũ trụ, vạn vật.
Trong Dịch lý, phần học thuyết ngũ hành, ta thấy:
Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ cũng vậy, là những khí chất phổ biến, chứ
không phải là 5 chất cơ bản của vạn vật theo học thuyết duy vật,
chúng cũng không thể đứng độc lập, mà nương dựa nhau để mà tồn
tại.
Trên cơ sở phạm trù nhân quả đó, mọi hiện tượng
xẩy ra luôn luôn có 2 nguyên nhân: Ức chế một hiện tượng và Hưng
phấn một hiện tượng khác. Nói theo xưa: “ Trong vạn vật, hễ có
Ta, thì có cái Sinh Ta và có cái Khắc Ta; khi có Ta thì phải có
cái Ta Sinh và cái Ta Khắc.” Tạo thành một hệ thống tự điều
chỉnh, thống nhất hài hòa. Đó cũng là nguyên lý Âm Dương: “Âm
Dương tương phản tương thành” Trong mọi bản chất của hiện
tượng và sự vật, luôn luôn có sự mâu thuẫn nội tại để thành hình
và duy trì lẽ sống.
Bước qua phần cấu tạo thân người với tứ đại: Đất
như phần da thịt, nước như lượng máu lưu thông, gió như những cử
động của các cơ năng và lửa như hơi ấm làm cho một cơ thể sinh
tồn. Tuy nhiên, tứ đại đều nương tựa lẫn nhau, không có gì độc
lập vì trong mỗi đại đều hàm chứa các đại kia. Từ đó, đưa ta đến
luật duyên sanh duyên khởi:
“Cái nầy hiện hữu thì cái kia hiện hữu,
Cái nầy sinh khởi thì cái kia sinh khởi
Cái nầy không thì cái kia không, Cái nầy
hủy diệt thì cái kia hủy diệt“
Kinh Majjhimanikayà
hoặc “ Tất cả toàn thể vũ trụ tạo thành một
vật, và một vật ảnh hưởng đến toàn thể”. Cho đến phần ngũ
thủ uẩn cũng vậy. Ngũ uẩn bao gồm Danh và Sắc:
1- Sắc (Rũpa) hay là ấm: Hình tướng vật thể.
2-Thọ (Vedana): Cảm giác thọ vui hay buồn khi
đối cảnh.
3-Tưởng (Sanjnã): Tưởng tượng ra sự sai biệt khi
tiếp xúc với cảnh..
4- Hành (Sankhãrã): Hướng động lực tạo nghiệp.
5-Thức (Vijnãnã): Phân biệt sự vật rồi bám chặt
vào tùy theo sự yêu ghét.
“Lấy một hữu tình mà xét, thì Sắc uẩn là Thân,
còn 4 uẩn kia là Tâm. Trong Tâm có Thọ Tưởng Hành mỗi thứ đều là
một loại tác dụng đặc biệt của tâm tính, nên gọi là pháp sở
hữu của Tâm hay Tâm sở. Còn một mình Thức là tự tính
của Tâm, nên gọi là Tâm vương. Cho nên, năm uẩn là hai
pháp Thân và Tâm”. Mỗi uẩn đều bao hàm các uẩn khác và hòa hợp
lẫn nhau để hiện hữu. Chúng có tính chất khát khao tồn tại mãi,
nên chấp thủ, bám víu vào sự sống một cách kiên trì. Nhưng chúng
được cấu tạo bởi những yếu tố không bền vững, luôn thay đổi, nên
không có thực thể hay bản ngã cố định. Ở đây, cũng cần nhấn mạnh:
Phật giáo quan niệm một sinh mạng do nhiều nguyên nhân hòa hợp,
chứ không do một nguyên nhân sáng tạo đặc thù nào, như căn
nguyên hay đẳng lưu nhân quả của một sinh mạng là nhân,
còn những điều kiện cần thiết giúp cho một sinh mạng tồn tại,
phát triển hay tăng thượng duyên là duyên.
Hình dáng thân xác của ta, bề ngoài thấy như ổn
cố, nhưng chúng luôn biến đổi: từ sơ sanh, biết đi, biết nói,
thanh niên, cho đến lão niên đều khác biệt nhau. Nếu quan sát
tâm, ta cũng thấy từ cái cảm giác, tư tưởng...khi 6 cân (Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với 6 trần (Sắc, thanh, huong,
vị, xúc, pháp) thường thay đỗi trong chớp nhoáng hay trong mỗi
chập tư tưởng. Dòng suối tâm liên tục chảy, cuốn theo tất cả đủ
loại tư tưởng xấu tốt, khiến ta có cảm giác rằng có một cái ta
cố định, trường cửu, làm chủ thân. Nhưng tất cả đều không cố
định, vô thường, rỗng không, nương tựa nhau mà hiện hữu nên
không có thực thể, vô ngã. Tính chất vô thường, rỗng không và
vô ngã hiện hữu trong tất cả các pháp.
Đứng về mặt tương đối luận, nếu nói: “Hữu thân
hữu khổ”, ta cũng có thể nói: “Có nghiệp mới có thân và có khổ.”
Nghiệp do vô minh mà ra và xuất hiện đồng thời với vũ trụ vạn
hữu. Nghiệp hay vô minh là một phần của bản thể và hữu chung vì
là động. Những gì có tác động thì có sinh và có diệt và vai trò
của vô minh sẽ biến mất, vô tác dụng hay trở thành phương tiện
diệu dụng khi một vị đã giác ngộ.
Sự bám víu vào những gì sinh diệt sẽ đưa đến khổ
đau vì trói buộc con người trong sự tham đắm và gìn giữ. Mười
sợi dây làm khổ lụy, sai khiến con người là Thập kiết sử: 1-Tham
dục, 2-Sân nhuế, 3- Si, 4- Kiêu mạn, 5- Nghi, 6- Thân kiến, 7-
Biên kiến, 8- Tà kiến, 9- Kiến thủ kiến, 11- Giới thủ kiến. Đó
là do gốc vô minh, thiếu chánh kiến nên đưa đến không nhìn thấu
được bản chất của mọi sự vật đều giả hợp. Con người của quá khứ,
của những ngàn năm năm về trước và những con người của hiện tại
đều giống nhau, cùng những đau khổ, cùng những suy tư và đều
cùng bị ràng buộc trong những duyên hợp đó. Do thấy sai (Kiến
truï) nên tạo thành vô số nghiệp tích lũy từ vô lượng kiếp
và tăng dần thêm trong cuộc sống hiện tại, những nghiệp thức nầy
che lấp bản tâm nên thường y theo biến kế sở chấp (Parikalpita)
nhận giả là chân, nhận vô thường là thường, nhận có một cái ngã
thường hằng, nên sợ hãi bị mất và tham đắm (Dục ái truï)
rồi tạo thành nghiệp luân hồi.
Tôi tìm tôi trong mộng
Nên mộng đến bên tôi
Mộng đi rồi mộng đến
Cũng là mộng mà thôi
Làm sao phá vỡ được cơn mộng nầy? Làm sao cho
cái vòng móc xích của mười hai nhân duyên không còn tác dụng?
Con đường của Mật giáo đi từ hữu và
không, và rồi rời bỏ cả hữu và không, đi vào
cảnh giới bao la, mênh mông của Tất địa, của Chân không -
Diệu hữu và biến tất cả thành phương tiên diệu dụng để độ
sanh. Những diệu dụng nầy phát xuất từ Pháp thân Như Lai Đại
Nhựt mà người hành giả cần phải đoạn sạch phiền não và có đầy đủ
trí tuệ mới có thể trực tiếp thọ dụng cảnh nầy.
Mạc vị vô tâm biện thị đạo
Vô tâm canh xái nhất lộ trình
Dịch:
Chớ gọi vô tâm là chứng đạo
Vô tâm còn cách một đoạn đươøng.
Tuy nhiên, có những hành giả đến giai đoạn nào
đó đã tự mãn, cho rằng đã chứng đắc hoặc ôm một số thần thông
nào đó. Thấy có huyễn, có động lao xao, nên dụng công tu để đoạn
cảnh và đạt được thanh tịnh, nhưng vẫn còn chấp cảnh thanh tịnh,
nên chướng ngại tánh viên giác hãy còn. Phẩm Phương tiện trong
Kinh Pháp Hoa, có 5000 vị tỳ kheo đã đứng dậy bỏ đi khi đức Phật
giảng nói pháp Nhất thừa (ekayàna), vì tất cả các pháp trước như
Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Nhị thừa, Tam thừa v.v. chỉ là
Hóa thành dụ.
Sự giãi đãi, sự tự mãn, thiếu giác tỉnh không
thu thúc lục căn...chính trong lúc nầy sẽ khiến hành giả dừng
chân lại, lãng quên thực chất của sự vật là Khổ-Vô thường-Vô ngã,
để mặc cho thân khẩu ý rong ruổi theo trần cảnh, do đó, gây ra
những chướng ngại. Những chướng nạn nầy do tự tâm sanh chứ không
phải đến từ ngoài, vì Phiền não chướng hay Sở tri chướng có từ
vô thủy với chúng sanh và nằm sâu trong a-lại-gia thức. Vì thế,
sự giãi đãi, thiếu chánh niệm, hôn trầm, trạo cử sẽ làm cho nó
có dịp bừng dậy như kiến tư hoặc, trần sa hoặc hay vô
minh hoặc. Tất cả mọi dạng thái nổi lên đều là trò đùa của
tâm vọng động do tập khí nhiều đời nhiều kiếp, xô đẩy con người
ra khỏi sự tịch lặng và làm cản trở con đường thể nhập chân tâm
của hành giả. Cho nên, kinh nói trì tụng chú nầy sẽ không có
chướng nạn vì chú là nguyên ngôn của vũ trụ hay của tâm thức và
là lời chân thật của Phật và Bồ tát, những vị Giác ngộ. Trong
mỗi chân ngôn đều bao gồm Giới Định Huệ nên đốt tất cả ngôn từ
và ý niệm đưa đến vô ngôn vô niệm và đoạn diệt tất cả mọi khái
niệm, tri thức làm cản trở sự thể nhập chân tánh. Thần chú còn
có năng lực làm biến mất bản ngã vì không còn chỗ bám dựa, rỗng
không. vì lìa khỏi các huyễn cảnh và các huyễn tâm. Trong kinh
Lăng Nghiêm, Phật gọi đó là “Bất tùy phân biệt” hay
“Giác mê, mê diệt”. Đối với chúng ta, nó vô nghĩa vì ta
thường sử dụng ngôn ngữ phân hai trong đời sống thường ngày;
nhưng nếu thường miên mật với thần chú, những âm thanh gọi là vô
nghĩa đó như bức tường thành câm nín có mãnh lực đè ép những
vọng tưởng, trần cảnh của tâm hành giả ra thành tro bụi, rơi
rụng xuống cho mặt trời tâm xuất hiện.
Sự thể nhập vào biểu tượng đi đến tận cùng của
Thể và để từ đó, biểu lộ ra Tướng và Dụng (Thể đến đâu, thì
Tướng và Dụng đến đó). Sự giác ngộ của một con người
không có nghĩa là để hưởng pháp lạc hay an trú trong cõi Hữu dư
hay Vô dư Niết bàn.
Đức
Phật Thích Ca sau khi đắc đạo- dù đã trải qua vô lượng kiếp tu
hạnh Bồ tát- nhưng Ngài vẫn chuyển bánh xe Pháp để độ chúng sanh,
cũng như hiện nay Ứng Hóa thân của Ngài cũng đang có mặt khắp
mọi nơi chốn để tùy đuyên hướng dẫn độ sanh. Đức Bồ tát Quán thế
âm, Bồ tát Địa Tạng v.v..cũng vậy. Đó là tinh thần tích cực của
đạo Phật. “Phụng sự chúng sanh tức phụng sự chư Phật”.
Trong bài giảng Thất Giác Chi (Bojjhanga Samyutta hay Thất Bồ-đề
phần trong bộ Tăng Nhứt A Hàm), Ngài Piyadassi có viết như sau:
“ Yếu tố đầu tiên của sự giác ngộ là Niệm (Sati) vì Niệm là
phương tiện hữu hiệu nhất để tự kiểm soát, tự làm chủ lấy mình.
Bất luận ai, khi hành chánh niệm là đã tìm ra con đường giải
thoát. Niệm có 4 là: Niệm thân(kayànupassanà), niệm
thọ (vedanànupassanà), niệm tâm (cittànupassanà),
niệm pháp (dhammànupassanà). Có tâm niệm là có sự chăm chú
liên tục, kiên trì, con người luôn luôn tự bao trùm quanh mình
cái tâm tỉnh giác (satimà), cái tâm can đảm và quyết tâm trì chí,
vượt qua trạng thái dã dượi buông lung (pamatto). Đức Phật từng
nói: “ Như Lai không thấy gì có năng lực hùng mạnh như Tâm
Niệm, để làm phát sanh những tư tưởng thiện chưa sanh, và làm
tan biến những tư tưởng bất thiện đã phát sanh”.
Do
có chánh niệm, nên tâm trở nên thanh tịnh và nhìn rõ bản chất sự
vật, cũng như từ đó mới đem đại nguyện làm lợi ích cho ta và kẻ
khác để thoát ra khỏi vòng trầm luân.
Ngài A-nan sau khi ngộ được bổn tâm, phá được vọng chấp, đã phát
nguyện: “ Con nguyện đi vào đời ác, năm trược để độ chúng
sanh. Nếu có chúng sanh nào chưa thành Phật, con nguyện sẽ không
vào Niết bàn”. Vì tất cả các vị giác ngộ đều nhìn thấy sự
tương duyên tương sinh của muôn loài cũng như nhìn rõ mỗi chúng
sanh đều có Tánh Giác. “ Vì chúng sanh bệnh nên ta mới bệnh”.
Câu nói của ngài Duy ma cật cũng đồng một nghĩa và là Diệu dụng
của Chân Tâm.
Người hành giả tu Mật giáo, sau khi được quán đảnh và thọ Bồ đề
tâm giới, sức mạnh của tâm Bồ-đề càng nung nấu mãnh liệt. Khi
Niệm đạt đến Vô Niệm, và đi đến Vô Bất Niệm, tự tâm sẽ sanh xuất
ra biết bao nhiêu là thân thông diệu dụng. Như đã nói ở
trên, tất cả đều có đủ trong Như Lai Tàng Thức. Thấy cuộc đời
như huyễn, thân như huyễn, pháp như huyễn, tâm hành giả sẽ rộng
mở bao la trùm khắp pháp giới vì không còn một vướng mắc nào và
từ chân tâm nầy, tất cả các diệu dụng sẽ được đem ra làm lợi cho
con người. Chỉ có những con người đã hoặc đang trên đường trở về
bổn tâm, thì hành động, việc làm mới không vì tư lợi, vì họ
không bị ràng buộc hoặc kềm chế bởi tham sân si, vị kỷ. Đó là
hình ảnh moat con ngươi đã tự tại hoàn toàn đối với bản thân và
ngoại giới, nên trong tâm tràn đầy đại hùng, đại lực, đại từ bi,
dấn thân vào cuộc đời và coi thường mọi thăng trầm vinh nhục.
Người hành giả sẽ mang những yếu tố tự phát do tâm như: Hành
xứ (nhu hòa, nhẫn nhục, tâm an tỉnh, thấy rõ vạn vật như
thực và có trí vô phân biệt để dấn thân vào cuộc đời cứu
đời) Thân cận xứ (Vì luôn sống trong chánh niệm, thân cận
các bấc thiện tri thức, vọng niệm không còn nên tâm luôn sáng
suốt, tự tại) An lạc (Tâm luôn an lạc vì không tạo nghiệp)
Đại từ bi tâm (Sanh lòng thương xót đến tất cả mọi người
không phân biệt và tùy căn cơ đem Tứ nhiếp pháp làm phương tiện
ban vui cứu khổ). Như Kinh Thập Địa nói: “Vào gia đình chư
Phật là nhận lấy và giáo hóa hết thảy muôn loài làm thân thuộc
của mình.” *
Này
em, nhân khi nhận được hoa hồng xanh từ em với khoảng đời im
lặng, vô tình tôi chợt nhớ đến những gặp gở tâm thức của tôi đối
với Mật giáo trong những lúc hụt hẫng, bơ vơ, mất mát niềm tin
của năm tháng sống mông lung. Tôi đã mầy mò, tìm hiểu, nghiên
cứu để đem chất liệu của Mật giáo cho riêng mình, đi tìm lại tôi.
Hình ảnh đức Phật với tinh thần nhập thế vì chúng sanh của Ngài
với lịch sử được ghi nhận lại và trong biết bao nhiêu là Kinh
sách, nói đến tấm lòng thương yêu vô bờ bến của Ngài, và từ
chính Tích môn đó, tôi đi lần vào Bản môn tìm ra
chất liệu nhỏ nhoi cho cuộc đời mình và xin chia sẻ như đã nêu ở
trên, một đạo Phật qua cái nhìn lãng mạn của tôi.
Kho
tàng tâm linh của đạo Phật nhiều quá, bao la vô cùng….may mắn
cho chúng ta được là con của đức Phật và đón nhận được gia tài
vô giá của Ngài để lại….từng chút một tài bảo đó, khi tìm hiểu,
khi thực hành và những gì đem lại lợi ích cho mình, cho cuộc đời,
chúng ta sẽ cảm nhận được những ích lợi chuyển hoá tâm từ những
áp dụng pháp vào đời.
Tôi
cũng muốn nhắc màu xanh, màu của tuổi trẻ và lý tưởng, màu của
hoa hồng xanh mà em dành tặng cho tôi, màu của đại dương bao la,
mênh mông, màu của mây trời xanh ngát…. Tuổi trẻ của tôi đã bắt
gặp đạo Phật với niềm tin không mê tín, vững tin sống, vững tin
đi vào đời sau những năm tháng sống không ngày mai. Cho nên, từ
khổ đau, từ thất vọng, tôi đã tìm lại chính mình và từ từ khơi
dậy những bản tánh tốt đang có mặt trong tâm. Trái tim tôi chai
sạn, đầy những vết sẹo do bao nghịch cảnh của cuộc đời như những
làn sóng nghiệp đã từng đổ dồn dập trong thân tâm, nhưng đâu ngờ,
chính đó lại là những chất phù sa, chất đề hồ nuôi dưỡng tâm hồn
tôi khi biết tu tập, chuyển hoá. Đau khổ là trường học thật đầy
ý nghĩa cho cuộc sống, làm giàu chất người được nhân lên trong
tâm và làm hiểu thấu đến các giá trị đích thực của đời người. Có
phải là hạnh phúc quá không, tùy theo người cảm nhận khi thực
hành giáo lý đạo Phật.
Khi
chiến tranh chấm dứt, thương cho các em đã bơ vơ, vất vuỡng…và
một số đã lao vào những ăn chơi trác táng, quên mất đường về.
Sống sa đọa trên tâm hồn của mình và vùi đầu trong những hoang
tưởng cuộc đời được thể hiện bằng những hành động trạng thái
điên cuồng, dù các em không có bị những áp lực lớn mạnh như
chúng tôi.
Con
đường của chúng tôi đi qua bằng chết chóc, thất vọng và được vực
dậy, sống. Con đường của các em về bằng những ảo tưởng về cuộc
đời, thấy có mình là quan trọng, thất cái Ta cao vời vợi, thấy
tại sao không ai chú ý đến mình. Cho nên, em co rút lại trong
không gian nhỏ bé của thân xác tạm bợ nầy, tưởng chừng như tồn
tại vĩnh viễn, đốt tương lai trong những trò chơi vô nghĩa…
Tuy
nhiên, cũng có những em giật mình, nhìn lại mình, nhìn lại người
thân, nhìn lại đời sống và thấy rằng dù hoàn cảnh nào thì cũng
phải sống cho ý nghĩa, một ý nghã tương đối nào đó, lợi mình và
không hại người, lăn xả vào những công tác từ thiện, đến những
vùng xa xôi, hẻo lánh để mong giúp ích gì cho con người đang cần
đến...
Hoặc có em chọn những đời sống bình thường, thụ động, tiêu cực
với cuộc đời, sống sao cũng được, không đòi hỏi đua đòi, cạnh
tranh, an phận thủ thường… để cho qua hết kiếp người.
Nhưng, quan trọng hơn cả, là có những tuổi trẻ chọn lý tưởng
mang “chiếc áo cô đơn” vào đời. Những hình ảnh đó đẹp, thanh
thoát, cao quí quá… đi vào đời để làm đẹp cuộc đời, thật đáng
kính phục.
Đất
nước Việt nam được may mắn trong sinh mạng tồn vong trong suốt
chiều dài của dòng lịch sử, được sự có mặt của Phật giáo, trên
hai ngàn năm hơn.
Giáo lý Từ bi-hỷ xả, trí tuệ-khai phóng-bao dung của đạo Phật đã
đóng góp toàn diện cho đất nuớc, đem con người sống có ý nghĩa,
có lợi lạc cho con người …trong chất liệu sống động, màu mỡ cho
tâm linh. Hình ảnh và chất liệu sống động đó gắn liền chung với
nhau, hoà quyện vào nhau như một thân thể không thể chia cắt ra
được. Chưa bao giờ, và không bao giờ, đạo Phật đi đến bất cứ
quốc gia, bất cứ dân tộc nào lại làm khổ đau hoặc là một đối
kháng cho dân tộc đó, ngoài những thiệt thòi đem chính thân mạng
mạng của mình hy hiến khi cần đến, xả bỏ vì sự sống còn của dân
tộc, và còn lại là rời bỏ phú quí, vinh hoa, từ bỏ tất cả để
sống với áo vải nâu sòng, đạm bạc của cuộc sống trong Tam Thường
Bất Túc “ăn, mặc, ngủ” và đó, cũng là sức sống vững mạnh của
Phật giáo.
Đạo
Phật Việt Nam có nhiều truyền thống như Nam và Bắc tông, và có
nhiều nhiều Tông phái để tùy căn cơ và trình độ của con người mà
thích ứng, giảng dạy. Chưa bao giờ những Tông phái trong đạo
Phật chống đối lẫn nhau vì tất cả như “trăm sông đổ ra biển cả”
hoặc các pháp môn chỉ là phương tiện thiện xảo với mục đích duy
nhất là đưa con người đến phương trời cao rộng, giải thoát.
Lịch sử oan nghiệt cũng đã đưa nhiều vị Tôn Túc của Phật giáo ra
nước ngoài như Thầy Thích Thiện Ân, Thầy Chân Thuờng, Thầy Quảng
Thiệp, Thầy Nhất Hạnh v.v… và mỗi vị đều tùy theo hoàn cảnh của
mình để xiển dương đạo Phật ở nước ngoài.
Thầy Nhất Hạnh là một trong những vị Tôn Túc đó, là một Danh
Tăng đương đại và là lý tuởng cho biết bao nhiêu Tăng Ni trẻ noi
theo. Từ Tình người của Tâm Quán, từ Tạp chí Hải Triều Âm khi
xưa, đến Truờng Thanh Niên Phụng sự xã hội, dòng Tiếp Hiện, Đạo
Phật đi vào cuộc đời, Đạo Phật hiện đại hoá… và Nẻo về của ý
v.v. và v.v… tất cả quyện lại như một thư viện tâm linh vô giá,
như một tấm lòng hy hiến cho Phật giáo và con người với lý tưỏng
cao đẹp, thánh thiện.
Dân
tộc Việt Nam nên hãnh diện vì Ngài, Phật giáo Việt nam nên kính
phục Ngài. vì là một vị Tăng Tài của Phật giáo Việt nam, đã đem
giới thiệu đạo Phật mới mẻ cho người Tây phương, và có nhiều
người tu tập, áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Vẫn
biết rằng với phương pháp giảng dạy của Thầy được làm sáng lại
theo tư tưởng mới, cách hành văn, giảng dạy mới để cho thích hợp
với người Tây phương và tuổi trẻ ở nuớc ngoài, nên đôi khi khác
lạ với truyền thống của Phật giáo, do đó, cũng gây nên những ngộ
nhận. Có người cho rằng những phương pháp giảng dạy đó không đi
vào chiều sâu của nội tâm, để có thể đưa người hành giả chuyển
hoá tận gốc rễ vô minh và đưa đến giải thoát sinh tử luân hồi
như bản hoài của đức Phật và giáo lý của Ngài truyền lại. Cho
rằng phương pháp tu tập của Thầy chỉ như phương pháp tâm lý trị
liệu có đem Phật Pháp vào, nhưng suy cho cùng, thì pháp môn của
Thầy cho đến hiện giờ cũng đã xoa dịu được biết bao nhiêu tâm
hồn đang đau khổ, bấp bênh trong đời sống, bệnh tâm thần, từ gia
đình, xã hội, con người v.v… và khi chữa bệnh, với phương tiện
thiện xảo là chưa cấp kỳ, ngay tức khắc … để giải quyết cơn đau,
còn đi sâu hơn để giải quyết sanh tử, thì đó là chí nguyện, hạnh
nguyện tiếp nối về sau. Và dù muốn hay không, dù có không đồng ý
với những gì mà Thầy giảng dạy…nhưng phải kính trọng tấm lòng
cao quí của Thầy đã và đang làm được, là giới thiệu được Phật
với người Tây phương, cho đất nước còn mới lạ với truyền thống
Phật giáo và thành công.
Dù
chỉ mới gặp Thầy một lần, nhìn từ xa, và chưa bao giờ được may
mắn tiếp cận với Thầy để học hỏi, nhưng trong lòng tôi- một
người Phật tử ít học, ít hiểu biết nhiều… nhưng vô cùng kính quí
tư tưởng, tấm lòng của Thầy. Thầy cũng là người luôn luôn vững
vàng trước Bát phong, ngồi yên như núi trước biết bao nhiêu sự
đánh phá, chụp mũ, bôi nhọ, xuyên tạc v.v. và v.v.. nhưng Thầy
vẫn chưa bao giờ nãn lòng, vẫn buớc chân vững trên nền đất tâm
linh, mặc cho thế sự dày xéo, và chỉ mong đem tâm cống hiến
những chất liệu từ bi, trí tuệ của Thầy cho đời, cho con người.
Hình ảnh đó đáng ca tụng, trân quí, đảnh lễ, cung kính biết bao.
Nếu các tôn giáo khác có một người như Thầy, họ sẽ đưa lên cao
hoặc ca tụng như thế nào? Còn chúng ta, những người Phật tử Việt
Nam?
Hạt
giống đạo Phật qua tư tưởng sáng tạo của Thầy đem về trồng ở
Việt Nam sau bao nhiêu năm trường xa quê hương, làm thân đất
khách. Uớc nguyện của Thầy đã được biểu đồng tình của quý Thầy
tại Tu viện Bát Nhã ở Đà lạt. Dĩ nhiên, đây là pháp môn còn là
mới lạ với chất mầu mỡ, đất đai và Phật giáo Việt Nam.
Tôi
còn nhớ năm 1967, tại Miền Nam, khi đạo Bahaì xin thành lập, đã
không được Chánh quyền chấp nhận, nhưng sau nhờ sự can thiệp của
Thầy Thích Trí Quang- lúc đó Tổng Thư Ký của Viện Tăng Thống,
gửi Văn Thư lên Chánh quyền xin dùm và đạo Bahaì đã được chánh
thức thành lập tại Trụ sở trong hẻm gần Ngã tư đường Công lý và
Yên Đổ lúc bấy giờ. Sở dĩ nhắc lại dữ kiện trên là để nhấn mạnh
rằng, đối với đạo Phật và những người tu sĩ theo đạo Phật, thì
con người có nhiều căn cơ khác nhau, nên những gì có thể đem cho
con người được sáng suốt, tăng trưởng trí tuệ, không mê tín, mù
quáng, tin vào thần quyền và giải thoát khỏi khổ đau… thì đó là
đạo Phật, dù mang bất cứ hình thức tông pháo nào..
Hình ảnh tuổi trẻ Việt Nam qua những Tăng Ni trẻ 400 người tại
Tu viện Bát Nhã trong mấy ngày qua, làm chấn động lương tâm con
người ở hải ngoại và trong nuớc. Không ai nghĩ đó là chánh sách
của Việt Nam trước những người theo Pháp Môn của đạo Phật, một
đạo Phật với tấm lòng bao dung, bao la, rộng lớn. Một pháp môn
chỉ đặt trên sự tu tập làm tăng trưởng trí tuệ, sống nhu hoà,
làm tăng thân với nhau, làm đẹp con người và cuộc đời với hạnh
phúc hà thuận. Những người tu tập theo pháp môn nầy không bao
giờ là nhân tố gây hận thù, chia rẻ, tác hại đến ai vì chính đó
là những gì mà các vị đang tu tập cần chuyển hoá, xả bỏ để tâm
được trong sáng, thanh tịnh.
Không ai biết bên trong nội bộ có những vấn đề gì khác, nhưng
hình ảnh những người dùng bạo lực, dùng côn đồ, dùng những cô
gái ăn mặc không mấy đẹp, hở hang… để làm áp lực với những Tăng
Ni đó, như cắt điện, cắt nuớc, đổ phân vào nơi ngủ, đập phá bếp,
phòng ngủ… thì thật là bất nhẫn.
Hình ảnh xua đuổi, xúc người chở đi đâu không biết, những người
Tăng Ni trẻ đó đã bị đuổi ra khỏi Tu viện, lê thân đi 17 km để
đến tá túc một nơi mới duới cơn mưa, thiếu thốn đủ thứ, nhưng
trong lòng vẫn niệm Bồ tát Quán thế Âm để đem năng lực từ bi tha
thứ cho những người hại mình, đem tăng thân trí tuệ mong cho
người sớm thức tỉnh, đừng gây thêm tội ác nữa.
Ngày trước 1975, trên báo nhật báo Chánh Đạo do Thầy Hộ giác làm
Chủ Nhiệm, tôi vẫn còn nhớ mãi câu nói lịch sử của Thầy Trí
Quang rằng: “Chúng tôi nguyện đem xương máu để trang trải cho
đạo Pháp và dân tộc. Và nếu có chết thì chết như một chân lý
trước bạo lực chứ không phải bạo lực nầy kém bạo lực khác”.
Vâng, những người theo đạo Phật không có bạo lực, mà chỉ biết
đem chính thân mạng của mình ra để bảo vệ cho lý tưởng làm đẹp
cuộc đời, vì yêu cuộc đời, yêu con người và muốn chuyển hoá tất
cả những nguời hữu duyên trở thành những con người tốt, sống có
ý nghĩa, làm lợi cho đất nuớc và con người.
Với
những tâm hồn tuổi trẻ như thế, bất bạo động trước những bạo
động, im lặng niệm Phật trước những lời nhố nhăng, mỉm cười tha
thứ trước những xua đuổi thù hằn…thì thật vô vàn kính phục.
Vì
sự bao dung của đạo Phật trước bất cứ Pháp môn tu học nào, mễn
đem lợi lạc cho con người và xã hội. trước người trẻ sống cho lý
tưởng muốn được tu và chỉ giữ màu tu không thôi, sống làm những
con người trong sáng trong xã hội, đem tăng thân hy hiến cho
đời, cho đất nuớc và trước thảm cảnh nầy, nếu chúng ta không lên
tiếng trong tinh thần chia sẻ, chúng ta sẽ có lỗi với tuổi trẻ,
có lỗi với chính mình trong tâm nguyện làm ích đạo lợi đời.
Tuổi trẻ bất bạo động, im lặng duới con mưa bạo lực và chờ chúng
ta lên tiếng nói. Chúng ta phải làm sao? Mọi người phải làm sao?
Buớc qua thế kỷ 21, thời đại thông tin mau lẹ, một việc vừa xẩy
ra ở một nào đó…trong một khoảng thời gian ngắn, chúng ta đã
thấy xuất hiện đầy trên những tin tức cập nhật. Cho nên, mong
rằng mọi xử sự như những gì đang diển ra sớm được hoà giải, mọi
bạo đông mau dập tắt, và cho lòng tin vào những nguời bảo vệ
phẩm giá của con người luôn được tôn trọng.
Trước tấm lòng nhu hoà, nhẫn nhục, bao dung và từ bi của 400
Tăng Ni trẻ đã đánh động lương tâm con người có ý thức và trách
nhiệm. Xin các vị hãy vững tâm trước những rối loạn nầy, đừng
sợ, đừng sợ, đừng nản lòng, vì tâm bồ đề chính là chất liệu hùng
tráng nhất mà mọi người con Phật mang trên đường hành đạo, chúng
tôi nghĩ rằng sẽ chuyển được tâm ác, chuyển hận thù thành yêu
thương, đánh thức dậy tâm Phật trong những con người vì lý do gì
đó mà quên đến bản chất hiền từ, bất bạo động của những người tu
sĩ, những người sống vì và tạo dựng, đem cái đẹp đến cho con
người.
Cầu
xin nhành dương liểu của bồ tát Quán thế âm rải nước cam lồ làm
mát mẻ tâm người, dập tắt lửa hận thù đang dày xéo lên thân phận
những con người mang chí nguyện xuất gia.
“Vì
Mỗi cá nhân đều có Chánh báo (biệt nghiệp) và Y báo (cộng nghiệp
hay hoàn cảnh chung quanh như xã hội, văn hóa, môi trường v.v.)
Do đó, mỗi cá nhân đều ảnh hưởng đến xã hội hoặc ngược lại,
Chánh báo ra sao, Y báo như vậy. Từ khi sự tiến triển của
internet (mạng lưới thông tin toàn cầu), thì càng ngày mọi người
đều hiểu biết và thẩm thấu tinh thần Hoa Nghiêm, đó là định
luật tương duyên tương sinh. Tất cả đều ảnh hưởng lẫn nhau
hoặc ngược lại. Cho nên, chuyện của người nầy là chuyện liên hệ
đến tất cả mọi người trên trái đất nầy, vấn đề của quốc gia nầy
cũng là của quốc gia khác. Chiến tranh đang chực đe dọa khắp mọi
nơi. Giữa người giàu và nghèo ở mỗi nước vẫn là một vấn nạn khó
trả lời. Nạn đói, nạn thất học, nghèo nàn, thiên tai bão lụt,
nhân tai v.v..đã làm nẩy ra biết bao nhiêu là vấn đề cho xã hội.
Tâm đến đâu, sẽ đưa đến sáng tạo và tiến triển. Biết bao nhiêu
công trình văn hóa của nhân loại, lợi ích cho mọi người cũng
xuất phát từ tâm. Khoa học hiện nay đã tạo biết bao nhiêu là
tiện nghi phục vụ cho con người, nhưng bên cạnh đó cũng gây ra
bao nhiêu là đau khổ cho nhân loại qua sự phát minh ra những vũ
khí giết người như bom nguyên tử. Khi con người còn mang đầy
tham sân si, cố chấp, ích kỷ về cá nhân, xã hội, quốc gia, nòi
giống v. v..thì tất cả những phát minh giết người hàng loạt trên
chẳng biết sẽ đưa nhân loại đi về đâu? Chưa bao giờ mà giáo lý
của đạo Phật bị đòi hỏi cấp thiết như hiện nay. Nên Thành sở tác
trí của Phật Bất Không Thành Tựu phải được tất cả mọi người
nghiên cứu, tu tập,và từ đó, đem cái tâm khoan dung, sáng suốt,
từ bi, trí tuệ để đem tất cả pháp diệu dụng của tâm tạo sự an
lạc cho muôn loài. “Độc thọ khai hoa, vạn thọ hương”. Chỉ
có Tâm Giác ngộ vì không còn tham chấp, vọng tưởng, tham sân si,
thì cái HÀNH sẽ chuyển hóa thành Pháp Diệu Dụng và cái họa nguy
hiểm, đau khổ nầy mới giải quyết tận gốc rễ. Do đó, nhân loại
mới sống được hạnh phúc hoàn toàn. Đó chính là thâm ý tuyệt dịệu
của đức Phật trúc những khổ đau của con người”*
Với
cánh hoa hồng xanh nhận được, miên man tìm chiều sâu của ý nghiã,
chợt nhớ đến lý tưởng và tuổi trẻ của năm nào và những hình ảnh
của Tăng Ni trẻ dưới bạo lực đang xẫy ra ở quê nhà, và những gì
cần nói, cần chia sẻ, cần gióng lên tiếng chuông báo động.. để
lương tâm sớm trở về trong mỗi con người liên hệ.
Vẫn
với sở học hạn hẹp, vẫn với những ước mong chia sẻ nhỏ nhoi qua
những gì hiểu được, biết được rất tầm thường trước rừng giáo lý
bao la của đạo Phật, nhặt được một hạt cát bé bỏng nầy, xin được
kính dâng và chia sẻ, dù bạn có đồng ý hay không, cũng
xin nhận cho một tấm lòng trân quí.
Thành thật cám ơn bạn, cám ơn tuổi trẻ và lý tưởng.

Viết xong ngày 01.10.2009
____________________________________________
* Đoản văn : «Người có
nghiệp với Phật »- Cư sĩ Liên Hoa, năm 2005.
* Đoản văn :« Chiếc áo
cô đơn » - Cư sĩ Liên Hoa, năm 2006.
* Tùy bút : « Sự hoang
tàn của tuổi trẻ » - bị mất, quên ngày tháng viết.
* Tiểu luận « Yết ma
bộ hay Cái Dụng của đạo Phật » - Cư sĩ Liên Hoa, năm 2000.
|