Hồng Danh Sám Hối
Source: Thu vien Hoa Sen
QUY Y TAM BẢO , PHÁT
BỒ- ĐỀ TÂM
Con xin quy y Phật, Pháp, tăng cho đến
lúc giác ngộ, nhờ những công
đức tu hành bố thí và những
công đức khác, con mong được
thành Phật để có khả năng đem
lại sự an lành, lợi ích cho tất cả
chúng sinh.
Nguyện cầu cho ngọc báu vô thượng
Bồ Đề Tâm chưa phát dậy thì
liền phát dậy và tăng trưởng.
Và nguyện cầu rằng lúc đã
phát dậy rồi thì không giảm mất
và được tăng trưởng mãi
mãi.
Ý Nghĩa
Sám-hối
Sám: Ăn năn những
tộI lỗI đã tạo tác từ
trước. Trình bày những điều xấu
trước đây.
Hối: Hối quá, nguyện xin chừa bỏ và
không tạo tác thêm những tộI lổI
đã tạo tác từ trứơc và sau
này.
Sữa chữa lổI đã qua, tu rèn thêm
nghiệp sắp đến.
Sám hối có năm pháp căn bản
là:
1 - Tác pháp sám hối |
2 - Thủ tướng sám hối | Đây
là phần sự cho những bậc có căn
cơ thấp kém.
3- Hồng danh sám hối |
4 - Vô sanh sám hối | Đây là
phần lý cho những bậc thượng căn.
5 - Sám hối công đức | Do tông
Thiên Thai lập ra, pháp yếu duy nhất
để tẩy trừ tộI lỗi.
Sau đó thì lý sự mớI viên dung.
Trong bài này, chỉ đề cập
đến hồng danh sám hối thôi vì
thông dụng vào những ngày 14 và 29/30
mỗi tháng tại các chùa thường
có khoá lể hồng danh này. Hồng là
lớn, danh là các danh hiệu Phật.
Ý nghĩa của 108 lạy - Sáu căn bản
phiền nảo của sáu giác quan là Tham,
sân, si, mạn, nghi, ác kiến góp thành
36, cộng thêm ba thờI quá khứ, hiện
tại, vị lai Làm thành 108 tội nên
phải cần 108 lạy. Nhưng các khoá lễ
tại chùa chỉ lạy có 98 vị Phật ,
còn lại 10 phần sau được trích
từ kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện để Phật tử phát bồ
đề tâm rộng lớn mà lập đại
nguyện như đức Phổ Hiền Bồ Tát.
"Mống tâm động niệm, đâu
chẳng là tộI, Làm ác kết nghiệp
ác, làm thiện kết quả thiện"
Từ lúc được sinh ra đờI, nhẩn
đến ngày nay, mỗI niệm chẳng dừng,
chổ kết tộI nghiệp, nặng như đại
địa.
Quy: nương chánh đạo.
Y: Phản lại điều sinh diệt,
tà kiến của thế gian, y nơi vô
thượng tam bảo của xuất thế gian, để
cầu giải thoát.
Nam mô quy y Kim Cang Thượng Sư: đức
Tỳ Lô giáo chủ, ngôi Nhứt thể tam
bảo của tự tánh , làm đức Du Già Đại Bí Mật Giáo chủ ,
vì ngôi vô tận Tam bảo do đây
xuất sinh. Bốn phương, bốn Phật, tất
cả thánh hiền đâu chẳng do trong tâm
Tỳ Lô Kim Cang đây để phát sinh ra.
Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng: quy y, quay về nương tựa. Cúi lạy
ngôi "Biệt tướng Tam bảo". Ngôi
"Nhất thể Tam bảo" thuần là lý
tánh. Ngôi "Biệt tướng Tam bảo"
là sự tướng. Danh tuy có ba, tánh
chỉ một thể, thể dù là một mà
dụng phân thành Tam bảo, vì đâu
chẳng khắp ích cho chúng sinh.
Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp
GiớI Quá Hiện Vị Lai Thập Phương
Chư Phật, Chư Tôn Pháp, Chư Hiền
Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo: Quy Y ba ngôi tam bảo nhiều đến vô
cùng vô tận. Thập phương tức là
mườI phương gồm có đông,
tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông
bắc, tây bắc, thượng phương, hạ
phương. MườI phương hư không
và ngôi tam bảo thật không cùng
tận.
Con nay vận tâm quán tưởng quy y tất
cả vô tận ngôi tam bảo để cầu
xin cho con và chúng sinh mau thành quả vô
thượng bồ đề.
Hiện tiền phát tâm quãng đại
để khắp lạy vô tận pháp giới
Tam Bảo, vớI vô tận pháp giớI, vô
lượng Tam Bảo, chỉ ở trong "Nhất
Niệm Tâm" không thiếu không dư.
Như thế thì quán tâm lạy tụng,
nghiệp đờI trước hoàn toàn tiêu
diệt.
Nam mô như lai, ứng cúng, chánh biến
tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian
giải, vô thượng sỉ, điều ngự,
trượng phu, thiên nhơn sư, phật, thế
tôn
Như lai: bậc an nhiên tự
tại. Tánh của pháp thân. Thể không
động gọI là Như, đến là Lai. Bi,
Trí, Dũng hiện ra trong tánh diệu. Hiện ra
32 ứng thân vào các quốc độ
để cứu độ chúng sinh.
Ứng cúng: bực đáng
được hưởng sự cúng dường.
Bậc Nhị thừa là hàng Thanh Văn (A La
Hán) và Duyên Giác (Bích Chi Phật) đã
dứt được kiến hoặc và tư
hoặc cho nên chỉ được trời và
người cúng dường mà thôi.
Đức Phật được đến chín
cõi cúng dường vì ngài đã
được tự giác, giác tha, giác
hạnh viên mãn.
Chánh biến tri: Chánh- Trung
đạo, dung hoà, không thái quá.
Biến- Bao gồm tất cả mọi nơi . Tri- Sự
hiểu biết. Chánh biến tri- Bậc thấu rõ
tất cả các pháp, có chánh trí,
biết hết tất cả.
Minh Hạnh Túc: Minh-Sáng,
thấu suốt. Hạnh- Đức hạnh.
Túc-Đầy đủ, hạnh mãn, quả
tròn. Minh Hạnh Túc là bậc có
đầy đủ trí huệ và đức
hạnh.
Thiện Thệ: Thiện-khéo,
lành. Thệ- Đi không trở lại. Thiện
thệ là bậc đã phá hết ba cõi
kiến và tư hoặc, đã khéo qua, tuy
thân còn ở trong đời mà tâm
đã ra khỏi ba cõi, tâm luôn luôn
giác, không bị cảnh trần làm ô
nhiễm.
Thế gian giải: Thế gian-Cõi
đời, cõi chúng ta đang sống là
dục giới. Hữu lậu là còn sinh tử
luân hồi. Vô lậu là xuất thế gian.
giãi là chia gỡ ra, hiểu rõ, giảng
rõ. Thế gian giải là bậc có thể
hiểu rỏ các lý và sự của
các bậc hữu tình và vô tình trong
thế gian. Trí của Phật đâu chẳng
hiểu rõ sáng suốt.
Vô Thượng Sỉ: Chín
phẩm giới, không ai xứng với Phật. Bậc
cao hơn hếr trong các hạng chúng sinh.
Điều Ngự Trượng Phu: Điều-Điều hoà, thu xếp, sắp
đặt cho việc xong xuôi. Ngự - Đánh xe
ngựa. Điều Ngự -Cầm cương sai
khiến ngựa kéo xe. Trượng Phu- Người
có chí khí đảm lược, đàn
ông, con trai. Điều Ngự Trượng Phu: Bậc
chế ngự được chính mìnhvà
chúng sinh, như bậc trượng phu cầm
cương ngựa để đánh xe đi vào
con đường lành. Phật tùy căn
tánh chúng sinh mà điều ngự.
Thiên Nhân Sư: Bậc
thầy của hàng trờI, người. Tối
hậu thân ở cỏi trờI Đâu Xuất,
xuống nhân gian để hoá độ.
Phật: Bậc toàn giác,
đã giác ngộ hoàn toàn.
Thế Tôn: Bậc cao hơn
hết trong cõi thế, được tất cả
cõi và chúng sinh tôn kính.
Nam mô Đại cường tinh tấn dõng
mãnh Phật: Đại-giáp
khắp nơi, Cường- mười lực,
Tinh-trọn một, Tấn-chẳng lui, Dõng- chẳng
khiếp sợ, Mãnh- dấn đến trước,
tu nhân đã tròn, Phật trí riêng
chiếu, đại phá quần mê.
Nam mô Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm
thắng Phật: thân Phật
cả tám vạn bốn nghìn lổ chân
lông, đều rỉ ra các mùi hương
mầu Chiên Đàn, khắp xông cả
Pháp giới, để làm trang nghiêm Pháp
Thân.
Nam mô Sư Tử Hẩu Tự Tại Lực
Vương Phật: sư tử
là chúa trăm loài thú, một khi nó
rống lên, thì bách thú bặc dấu;
Như Lai nói pháp, chúng tà ma ngoại
đạo đều kinh nép, nên đắc
tự tại.
Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật: Ma Na Hoa- xứng ý, hoa màu xanh, vàng,
trắng, thơm và sáng đưa xa, dụ cho
Phật có tâm hương phực sáng,
đâu chẳng vừa ý chúng sinh.
Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật: Thí pháp thanh tịnh, tam luân không
tịch khắp khiến chúng sinh đều
đến địa vị Phật. BởI khi bố
thí Pháp cho chúng sinh, quán tam luân
không tịch nên đến quả vị Phật
và vì chúng sinh cũng quán như ta
nên cũng đến quả vị Phật.
Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng
Vương Phật: Hồng
Diệm-Ánh của cây phướn bằng
ngọc Xích Châu trong cung của Thiên
Đế, tia ngọc xạ lẫn nhau, để tỉ
dụ hào quang của Phật khắp suốt.
VớI 88 vị Phật trước và sau thêm
ngài A Di Đà có nghĩa là từ
trưóc đến đây, các công
đức lạy và niệm Phật đều
kết về cõi nước Tây Phương
Cực Lạc. BởI đức A Di Đà có 48
lờI nguyện rộng sâu, nên một mình
ngài thắng hơn hết cũng cơ duyên
của chúng sinh ở cõi ta bà này.
Số là những chỗ ngườI ta ra làm
được công đức gì nếu quy
nhất đặng đó thì đại
đạo dễ thành tựu. Thế nên,
ngườI ra làm việc Phật sự đều do
đức Di Đà làm chỗ kết qui là
chính có lý do như thế.
Về phần lý tánh thì có
đủ 89 vị Phật ở khắp mườI
phương pháp giới để chúng sinh
lễ lạy, quán tươ và noi theo những
hạnh nguyện và công đức các
ngài. Về phần sự thì mỗI chúng
sinh đều có đủ 89 vị Phật nơi
bản tâm thanh tịnh để quay về
nương tựa. Lý và sự phải đi
đôi thì công đức sám hối
mới viên dung vô ngại.
Tám mươi chín đức Phật và
mười phương hết thảy thế giới
như vi trần, các đức thế tôn
nhiều vô lượng, các ngài thường
trú nơi thế gian , thường phóng hào
quang hằng độ chúng sinh, cúi xin các
ngài thương nghỉ đến chúng con.
Ngữa cầu chư Phật duỗI lịng từ
thương nhớ đến chúng con. VớI chư
Phật ở tất cả thế giớI - đó
là khắp cả bề ngang. Thường trú
ở trong đờI - Đó là tột bề
dọc. Pháp thân của chư Phật
thường trú giáp khắp, ánh từ quang
xưa nay thường soi. Ngặt vì chúng sinh
lấy nghiệp tự ngăn che, trọn ngày
thường ở trong thân Phật mà không
thấy được Phật, như kẻ tối
mắt, ở dướI ánh sáng của mặt
trờI mà không thấy được cảnh
vật, màu sắc. Chỉ vì vọng
tưởng chấp trước, sa đắm trong
đường mê đã lâu mà không
biết lối ra. Nay có phúc đức và
cơ duyên được gặp Phật, Pháp,
Tăng , gặp giáo lý Phật nên phải
dốc lòng cầu thỉnh chư Phật ở
đờI để dung thứ cho ta được
sám hối tộI nghiệp đã gây ra.
Từ đời này, đời trước, hay
từ vô thỉ sinh tử cho đến nay gây
các tội lỗi, hoặc tự mình làm,
hoặc bảo người làm, hoặc thấy
người làm mà vui mừng theo.
Từ tiền sinh cho đến ngày nay đã
gây tạo bao nhiêu tộI nghiệp , mỗI
đờI tạo tác không ngần mé,
luôn cả đờI nay hoặc nhớ, hoặc
quên, nay đối trước chư Phật, tận
tình thổ lộ, hết thảy lòng cầu xin
sám hối không mảy che dấu tộI lỗI
mình tạo, xúi ngườI tạo, hoặc
thấy ngườI tạo mà vui mừng.
Đồ vật của tháp, của hiện
tiền tăng hay của tứ phương tăng
hoặc tự mình lấy, xúi người
lấy, thấy người lấy mà vui mừng.
Kế đến là phát lồ sám hối
những tộI lỗI từ đờI trước,
hoặc đờI nay đã lấy tài vật
của ngôi Tam Bảo.
Từ ngôi tháp như tự, miếu, am
viện ..... đều là nơi phụng thờ
ngôi tam bảo, chỉ nên cúng dường,
chẳng nên lấy một phân, một hào
nào cả.
Từ Ngôi tăng tức là tất cả
các thầy là đấng làm sư phạm
cho người, ta chỉ nên cúng dường
chứ không nên trộm lấy sự vật chi
của các ngài.
Từ Tứ Phương Tăng là tài vật
của các nhà tăng từ tứ phương
đem lại hay là của nhà thí chủ
đã cúng dường tứ phương
tăng. Gồm hai nghĩa
1.
Tăng chúng
còn hiện tiền nơi mười phương.
2.
Từ quá
khứ hay vị lai mà có ảnh hưởng
đến tăng chúng nơi tứ phương, do
vì tài vật của chiêu đề
thường trú thể nó tột cùng
đến ba đời cũng chỉ nên cúng
chứ chẳng nên lấy một vật nhỏ
gì.
Năm tội vô gián, hoặc tự mình
làm, hoặc bảo người làm, hoặc
thấy người làm mà vui mình theo.
Phát lồ sám hối từ xưa đến
nay đã gây tội nặng nơi vô
gián.
Ngũ (năm) Vô gián tức là địa
ngục A Tỳ. Bị đoạ vào ngục này
vì gây phạm tội ngổ
nghịch là giết cha, mẹ, A La Hán,
phá hoà hợp tăng, làm thân Phật ra
máu. Nếu giết
thêm hoà thượng và A Xà Lê
thì thành ra bảy.
Ngũ vô gián ngục gồm có : thú
quả vô gián, thọ khổ vô gián,
thời vô gián, mạng vô
gián, hình vô gián.
Mười điều chẳng lành, hoặc
tự mình làm, hoặc bảo người
làm, hoặc thấy người làm mà vui
mình theo.
Phát lồ sám hối xưa nay đã
tạo ra mười điều ác nơi thân,
miệng và ý.
Ba nghiệp của thân là sát sinh, trộm
cắp và tà dâm.
Bốn nghiệp của miệng là vọng
ngôn, ỷ ngữ, lưởng thiệt, ác
khẩu
Ba ngiệp của ý là tham. sân và si.
Mười điều bất thiện là nhân
của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Néu chuyển mười điều ác
thành mười điều thiện thì sẽ
được phước báo của thiên,
nhân và a tu la.
Bao nhiêu tội chướng tạo ra, hoặc
có che dấu, hoặc không che dấu.
Hễ có làm ác mà che đó
là tội lớn, chẳng che thì là tội
nhỏ. Đối trước tam bảo và
trước đại chúng, phải trực tâm
thổ lộ ra hết, không thể che dấu thì
mới đúng là sám
hối.
Phải đoạ địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh cùng các đường ác
khác, đoạ vào chốn biên địa,
hạng hạ tiện, kẻ ác kiến.
Tùy theo chỗ tạo nghiệp khinh hay trọng
mà chiêu cảm và lãnh quả báo
mà đoạ vào
nơi các thứ ấy.
Địa ngục là nơi khổ nhất,
lớn thì có tám sở ngục lạnh
và nóng. Chúng sinh ở địa ngục
bị lửa nghiệp thiêu đốt tưng
bừng, bị tội hành chết đi, sống
lại không ngừng nghỉ nên
gọi là vô gián, phạm trọng tội
thì vào ngục này .
Còn địa ngục hữu gián thì
có khi được ngừng nghỉ, phạm khinh
tội thì đoạ vào đây.
Ngạ quỷ là quỷ đói, thường
ở bên nước, mà chỉ thấy toàn
lửa, có khi thấy được nước
mà uống vào thì lại hoá thành
lửa đốt cháy cả thân thể. Chịu
khổ đói khát và đốt cháy
mãi mãi.
Súc sinh là bàng sinh, thân hình
nó đi ngang xương sống nên gọi
là bàng. Ăn tươi nuốt sống lẫn
nhau, thường chịu nổi khổ kinh bố. Ở
ba nơi là dưới nước, trên bờ
và trên không.
Biên Địa là nơi không có văn
minh và không có Phật pháp tăng,
là chổ ở của dân tộc thiểu số,
hay nơi rừng rú, sa mạc, hoang đảo. Từ
xưa nay không hề có thánh nhân ra
đời giáo hoá cho chúng sinh nên
người dân nơi ấy rất man rợ và
hung dử.
Hạ tiện là nô bộc, ăn xin, cu li
phải làm mướn cho người ta và
bị sai khiến, bị khinh miệt.
Ác kiến là chẳng biết kính tin
ngôi tam bảo , không tin nhân quả. Tội
phá giới thì còn sám hối
được chứ phá kiến giới thì
chẳng được sám hối.
Những tội chướng đáng bị
đoạ vào những nơi khổ báo như
thế nay con đều xin sám hối.
Có nghĩa là từ tội lấy tài
vật của tháp và tăng cho đến
gây tội trọng (ngũ vô gián tội) cho
đến tội thập ác và bị mắc
quả báo phải bị đoạ và các xứ
bát nạn. Tất cả từ trong cử chỉ
mà thân miệng ý làm ra tội
chướng đó thì con nay gieo mình
trước các chư Phật, để mỗi
mỗi phát lồ cầu xin sám hối tất
cả.
Nay các đức Phật thế tôn xin
chứng biết cho con. Con lại đối trước
các đức Phật thế tôn khẩn bạch
lời này, hoặc đời này của con,
hoặc đời khác của con đã từng
làm việc bố thí hay giữ gìn giới
pháp thanh tịnh, nhẫn đến thí cho
loài chim muông một vắt cơm. Hoặc đã
từng tu hạnh thanh tịnh, có bao nhiêu căn
lành, thành tựu chúng sinh, có bao
nhiêu căn lành tu hạnh đạo Bồ
đề, có bao nhiêu căn lành, cho
đến đã từng phát tâm vô
thượng Phật trí, có bao nhiêu căn
lành, hiệp nhóm so đếm tính
lường tất cả căn lành ấy, thảy
đều hồi hướng về đạo Vô
thượng Chánh đẳng chánh giác.
Nay chúng con cầu 89 đức Phật, và
hết thảy chư Phật trong cùng tận
pháp giới chứng minh cho con, nhớ biết cho
chúng con. Con lại đối trước chư
Phật thốt lời trình các căn lành
dưới đây: 1-Đã từng hành
pháp bố thí; 2-Giữ giới thanh tịnh;
3-Làm tất cả việc thiện từ lớn
đến nhỏ, như cho chim một vắt cơm; 4-Tu
tịnh hạnh; 5-Thành tựu chúng sinh; 6-Tu
hạnh đạo Bồ đề; 7-Phát tâm
Vô thượng Phật trí.
Từ xưa đến nay, đã làm tất
cả căn lành lớn nhỏ, họp lại
mà nhóm, so đếm mà kể, tính
toán đong lường, mỗi mỗi đều
hồi hướng về đạo Vô thượng
Chánh đẳng chánh giác.
Các đức Phật trong thuở quá khứ,
vị lai và hiện tại cách thức hồi
hướng như thế nào, con nay cũng nguyện
hồi hướng như thế đó, những
tội lỗi con đều sám hối, các
phước lành con trọn hỷ dâng, thành
tâm thỉnh Phật công huân, trí mầu
vô thượng nguyện thuần nên ngay.
Kết quả đờI này, đờI
trước làm thiện căn là nhân tu,
đều bắt chước chư Phật hồi
hướng hồi hướng về quả Phật
tức là tam miệu tam bồ đề. Việc
làm tuy nhỏ mà thể vốn khắp, không
chấp tướng lớn nhỏ. Nhiều ít
không ngần ngại nhau mà dung thông nhau
là toàn nơi pháp giớI, hồi
hướng về chư Phật nơi pháp giới.
Con nay học theo pháp hồi hướng mà
chư Phật trong ba đời đã dùng.
Các tội lỗi con đều sám hối, các
phước lành đều trọn tùy hỷ,
và công đức thỉnh Phật , nguyện
thành Trí Vô thượng. Chư Phật
có công đức tròn sạch vô
lượng, sâu như biển cả đối
vớI chúng sinh, thế nên chúng con nay
chí thành cúi đầu đảnh lễ.
Con nghiêng mình lạy biển công
đức vô lượng của chư Phật.
Trong khắp cả mườI phương cỏi
nước, cả ba đờI các đức
pháp vương, con dùng ba nghiệp tịnh
xương, khắp lễ tất cả mườI
phương vẹn toàn, sức oai thần Phổ
Hiền hạnh nguyện, trước Như Lai khắp
hiện tự thân, mỗI thân lại hiện
trần thân, con nay lễ khắp sát trần
Thế Tôn.
Kính lạy các chư Phật nhiều vô
tận trong mườI phương cỏi nước, con
dùng ba nghiệp thanh tịnh để khắp lạy
chư Phật. Hạnh nguyện uy thần của
ngài Phổ Hiền hiện thân ra nhiều
bằng số vi trần lễ lạy giáp cả
chư Phật như vi trần. Con nay cũng noi theo
hạnh ngài mà lễ lạy chư Phật.
Ba nghiệp tức là thân, khẩu, ý thanh
tịnh. Thân không làm bậy mà chỉ
nương theo Phật pháp mà cử động
nên thành ra chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn. Khẩu không nói bậy
mà chỉ nói Phật pháp nên thành ra
chánh ngử. Ý không nghỉ bậy, chỉ
tư duy theo Phật Pháp mà thành ra chánh
kiến, chánh tư duy, chánh niệm, chánh
định. Phối hợp lại thì thành
bát chánh đạo là con đường
tiến đến Phật quả.
Trong một trần có trần số Phật,
Bồ Tát các xứ cũng hiện trong, khắp
cùng pháp giớI mảy trần, tin sâu chư
Phật đều thường đầy trong. Biển
Pháp Âm đều dùng trọn vận, LờI
nhiệm mầu vô tận khắp vang, vị lai
tất cả kiếp toàn, ngợI khen Phật
đức biển ngàn rộng sâu.
Xưng dương, tán thán đức Như
Lai. Thân của chư Phật như vi trần khắp
giữa pháp hộI ở các giới. Đức
Phổ Hiền hoá ra vô lượng thân,
dùng vô tận lờI nói qua đến
đờI vị lai để tán thán vô
lượng công đức chư Phật.
Trong một hột bụi , cũng có vô số
chư Phật nhiều như hạt bụi, trong những
mảy bụi nơi vô tận pháp giớI,
cũng có chư Phật nhiều như số mảy
bụi nữa, Bấy nhiêu chư Phật, thân
tâm mỗI mỗI ở giữa chúng pháp
hộI nơi các giớI, mà làm vị
chủ, còn nơi bổn giớI, Bồ Tát
và hoá Phổ Hiền làm bạn, chủ
bạn hoà hợp, nhân quả suốt lẫn.
MỗI mỗI đức Phổ Hiền nhiều
vô kượng, mỗI vị lại thốt ra vô
lượng tiếng như biển không dứt,
mỗI âm thanh lại phát ra vô lượng
lờI nói hay, mỗI lờI nói lại tột
qua đờI vị lai để khơi rộng tán
dương biển công đức của chư
Phật.
Tràng hoa đẹp vô cùng thơm ngát,
với hương hoa kỷ nhạc lọng
tàn , phẩm nật thù thắng trang
hoàng, cúng dường chư Phật con toàn
kính dâng, y tối thắng cùng hương
tối thắng, vớI đuốc đèn
hương phấn, hương xông, thẩy nhiều
như Diệu Cao phong , Cúng dường chư
Phật con đồng dâng lên, Tâm thắng
giải mông mênh con nguyện, Phật ba đờI
con thảy tinh chuyên, đều nương hạnh
nguyện Phổ Hiền, cúmg dường chư
Phật khắp miền mườI phương.
Phát tâm rộng ra làm việc tu pháp,
cúng dường. dâng năm món tối
thắng là :
1- Tràng hoa là mão, hay mũ bằng hoa hay
ngọc sắc trần.2- Hương như hương
thơm từ các loại hoa, hương xông,
hương bột là hương trần. 3- Âm
nhạc là thinh trần. 4- Lọng tàn,
đèn đuốc là sắc trần. 5-Thực phẩm
là vị trần. Năm món báu này,
mỗI mỗI lớn như núi Diệu Cao.
Năm trần là lý Tam Đế; vận
tâm tức là tâm tam quán. Khi quán
tưởng cảnh trần, quay lại xét tự
tâm, tâm tướng rỗng không, ngũ
trần không có trần tướng, chính
là quán không nơi chân đế.
Quán tâm, năm trần rõ ràng,
đó là giả quán tức tục
đế. Quán và đế viên dung, tâm
cảnh tương tức, tâm thuần là
pháp, cùng pháp tương ưng thế
là chân tinh tấn, gọI là chân pháp
cúng dường như lai. Kinh Tịnh danh có
thuyết:
" Trong mọI thứ cúng dường, chỉ
có Pháp cúng dường là hơn
hết"
BởI lầm đường gây bao tộI
ác, do tham, sân, si nghiệp tác thành,
từ thân miệng ý mà sinh, con nay sám
hối thảy thanh tịnh lòng.
Sám hối những nghiệp chướng bởI
ba nghiệp đã gây ra từ trước.
Do từ vô thỉ mống một niệm, vọng
tưởng, hành động, nhẩn đến
ngày nay mà chịu sinh tử vô lượng.
Từ bấy nhiêu kiếp, nhẩn đến
ngày nay, thân, khẩu, ý là chổ dấy
ra các nghiệp ác, mỗI niệm chẳng
dừng thì chổ tạo ra các nghiệp
chướng cũng vô cùng, vô tận. Tất
cả đều do ý thức phát khởI ra tam
độc tham, sân, si dẩn đến thân
và khẩu rồi lan rộng mãi tạo nghiệp
chẳng dừng. Nếu một ý thức dấy
khởI, đương niệm mà tỉnh giác
liền, niệm thể vốn không, tộI
phước vô chủ, đương thể thanh
tịnh.
TộI sinh tử từ vô thỉ, mỗI niệm
đã thành thói quen, không thể tỉnh
giác lập tức được vốn không
nên phải y theo tâm của đức Phổ
Hiền, như pháp để sám hối, ngõ
hầu hai tộI Căn bản và Chi mạt mớI
tan dần.
Các chúng sinh trong mườI phương
cỏi, bậc Nhị Thừa, Hữu học cùng
Vô, Như Lai Bồ Tát đồng nhau, có bao
công đức con mau vui tùy.
MườI phương thế giớI là chỗ
có tất cả chúng sinh trong sáu
đường.
Nhị Thừa là hàng thanh văn, duyên
giác. Hữu học là tam quả nhẩn lại,
nghiên cứu chân như, dứt mê hoặc.
Vô học là tứ quả trở đi, chân
đã cùng, hoặc đã tận.
Tất cả các bậc thánh hiền: Bồ
Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, ý chí
của các ngài cầu chứng đạo Bồ
Đề , chỗ tu các công đức Con xin
tùy hỉ hết tất cả. Ngay cả các
chúng sinh trong mườI phương thế giớI
mỗI loài, bất cứ nơi nào có
tạo công đức dù chỉ bằng một
mảy lông, hạt bụi, con cũng xin tùy
hỉ. Tâm niệm tùy hỉ này đều
khắp cả nơi pháp giới.
Đấng tuệ giác trong mườI
phương nước, lúc tối sơ thành
được bồ đề, nay con đều thỉnh
một bề, giảng truyền diệu pháp vổ
về quần sinh.
Thỉnh cầu chư Phật chuyển pháp
luân (thuyết pháp). Như đèn sáng
phá tan bóng tối, trí tuệ phá vô
minh ám chướng, các đức Phật trong
mườI phương cõi nước đem
đèn trí tuệ đến khai thị cho
chúng sinh. Lúc tối sơ thành được
bồ đề - Đấng mớI thành Phật.
Tích môn thì đức Thích Ca thành
Phật năm ngài 30 tuổI. Còn bổn môn
thì ngài đã thành Phật từ vô
lượng kiếp. Nay vì chúng sinh nên
ngài hoá độ hiện tích môn và
nói sơ thành Phật.
Nơi đây, bất luận là sơ
thành Phật hay cửu thành Phật, con thảy
đều khuyến thỉnh các ngài chuyển
bánh xe diệu pháp để chuyển nơi
tâm chúng sinh từ phàm đến Phật.
Các đức Phật muốn nhanh nhập
diệt, con chí thành tha thiết thỉnh cầu:
cuối mong Phật ở đờI lâu, chúng sinh
lợI lạc thấm sâu pháp lành.
Xin các đức Phật trụ thế lại
ở cõi đờI. Có chúng sinh thì
có Phật thị hiện để hoá
độ. Khi hoá độ xong rồi thì các
ngài phi diệt thị hiện ra nhập diệt, do
vì nếu Phật ở lâu mãi nơi
đờI thì chúng sinh xem thường, ỷ
lại và chẳng mến kính. Phật phải
thị hiện nhập diệt để có chúng
sinh phát chí tu học dũng mãnh. Khi các
ngài muốn thị hiện vào Niết bàn
thì kim thân lu mờ ánh chói, lông trắng
giữa chặng mày lui kém vẽ ngời, ngay
bấy giờ, con do vì hạnh nguyện của
đức Phổ Hiền vớI lòng chí
thành khuyến thỉnh các ngài ở lại
để chúng con được lợI lạc
nơi pháp lành.
Bao nhiêu phước cúng dường lễ
tán, thỉnh ở đờI Ngài giảng
pháp luân, tùy hỉ sám hối thiện
căn, mong cho muôn loài cao thăng bồ
đề.
BởI vì ý chí mong muốn cho tất
cả muôn loài đều thành Phật
đạo nên con đã hồi hướng tất
cả phước đức cúng dường lễ
tán để thỉnh các ngài ở
đờI giảng pháp cho chúng con
được lợI lạc công đức, sám
hối để căn lành tăng trưởng.
Kinh nói "Từ nguyện lễ bái
đến nguyện tùy hỉ, chỗ có công
đức, thảy đều hồi hướng cho
tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh
thường được yên vui, không bao
điều bịnh khổ, dẩu muốn làm ác
pháp thì bất thành chỗ tu thiện
nghiệp thì mau thành tựu; ngăn đóng
tất cả cửa ác thú, mở bày
đường chánh niết bàn cho Nhân
Thiên nhẫn đến thành tựu vô
thượng Bồ đề."
Con nguyện đem phúc dầy thắng lợi,
hồi hướng chân pháp giới tối cao,
tánh tướng tam bảo thế nào, tam muộI
ấn hải dung vào tục chân, biển công
đức không lường như thế, nay con
đều hồi hướng hết về: để cho
muôn loài nương kề, cùng con đồng
chứng bồ đề đạo chân,
Hồi sự hướng lý.
Chỉ cho tám nguyện đầu của
đức Phổ Hiền. Một là lễ kính
chư Phật. Hai là khen ngợi công đức
Như Lai. Ba là cúng dường rộng lớn.
Bốn là sám hối các nghiệp
chướng. Năm là tùy hỷ công
đức. Sáu là thỉnh Phật nói Pháp.
Bẩy là thỉnh Phật ở lại cõi
thế lâu dài. Tám là thường
tùy Phật học. thuộc về sự.
Hai nguyện sau Chín là hòa hợp thuận
thảo với chúng sinh. Mười là
đều hồi hướng khắp tất cả,
thuộc về phần lý. Chí muốn thành
mãn, nguyện phát tâm rộng lớn.
Tánh tâm không vọng là chân, nhất
tâm làm thể, chân pháp giớI là
tổng tướng của nhất tâm để
vạn pháp về đến.
Vì vậy mà sự không có tự
tánh mà do nơi lý mà thành, lý
cũng không hình tướng nương nơi
sự để rõ, các công đức
là do nơi tâm thể phát khởI thì
phải hồi hướng về lại tâm.
Đây là biển tánh công đức
của vô tận chư Phật đâu chẳng
ấn nơi tam muộI (chánh định) . Tam
muộI là duy nhất chân tâm của ta, đem
nhất tâm đây, chổ có nhiều công
đức mà hồi hướng lên Phật
quả.
Bao nghiệp chướng nơi thân, miệng,
ý, Lòng mê lầm mống nghỉ sân, si,
thân tâm tạo ác kể gì phải
không, như trên nghiệp chướng tộI
thâm, nguyện tiêu sạch hết ác tâm
chẳng còn, niệm trí huệ khắp tròn
pháp giớI, rộng độ sinh chẳng thối
gian lao
Hồi tự hướng tha. Diệt hết nghiệp
chướng của chúng sinh và nguyện trí
giác không hề thối lui. Chúng sinh bị
tà kiến rồi mê hoặc nơi tự tâm
mà nói lờI chê bai Phật Pháp. Vì
chẳng tin nhân quả nên tham, sân, si nên
tạo tác tộI lổI nơi thân, miệng,
ý. Nay chổ tu công đức , phổ nguyện
tất cả chúng sinh, thảy điều tiêu
diệt hết các nghiệp chướng từ
muôn kiếp.
Hư không dù có tiêu hao, chúng sinh
phiền não dẫu vào hư không, con nay
hồi hướng rộng thông, cũng như bốn
pháp vô cùng vô biên.
Xâu kết các nguyện không hết.
Nhẩn đến là từ "mỗI niệm tri
giáp pháp giớI" ngoài ra còn có
chỗ làm, nhẩn đến công đức
dù nhỏ bằng một ti hào, mà thể
nó giáp khắp, như một giọt nước
biển mà cũng trọn vị mặn của
đại hải.
Bốn pháp cho dù vọng đi nữa mà
thể cũng xứng tánh vốn không thể
hết, ta nay theo hạnh nguyện hồi hướng
của ngài Phổ Hiền, cũng đều xứng
tánh viên mãn, thì bốn pháp cũng là
thanh tịnh giáp tròn.
"Khi cõi hư không hết thì nguyện
con mớI hết, nhưng cõi hư không chẳng
bao giờ hết thì mườI nguyện của con
đây làm sao hết được"
Tu lễ cúng vô tận, để cúng
Phật nhiều là Đại. Siêng năng
làm tột kiếp không mỏi mệt là
Hạnh. Khắp pháp giớI đầy dẩy
là Phổ. Ngôi gần bực thánh là
Hiền. Không ngần phước tốt, chẳng
vượt hạnh môn, chư Phật và Bồ
Tát cũng từ nơi đây. Trên hộI Hoa
Nghiêm, Ngài Phổ Hiền được làm
trưởng tử là do hạnh nguyện xứng
tánh giáp khắp này nên nói là
"nguyện vương". Nếu chúng sinh y theo
mườI nguyện này mà tu học thì
đương thể cùng khế hợp nhau với
Phật.