HOA
NGHIÊM
SUỐI NGUỒN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
THỜI TRẦN
MAI
THỊ THƠM
I. Hình ảnh cụ thể của Hoa Nghiêm
trong văn hóa Phật giáo thời Trần
1.1. Hoa Nghiêm thời giữa và cuối Lý
Như ghi nhận ở
mục giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm trong phần
Bối cảnh lịch sử ở trên, Hoa Nghiêm bộ kinh điển
ẩn tàng một hệ thống giáo nghĩa thậm thâm vi diệu như
vậy, nên sau khi được hình thành và được truyền bá rộng
rãi ở Ấn Độ, Hoa Nghiêm đã được rất nhiều nhà học
Phật Trung Hoa phiên dịch, chú thích, sớ giải từ thời
Đường trở đi với vô số tác phẩm có giá trị triết học cao,
nào là Hoa nghiêm kinh sưu huyền ký (gồm 5 quyển,
tác giả là Trí Nghiễm thời Đường); Hoa nghiêm kinh
thám huyền ký (gồm 20 quyển, tác giả Hiền Thủ thời
Đường); nào là Hoa nghiêm kinh đại ý,(1 quyển),
Hoa nghiêm kinh quyết nghi (40 quyển, Lý Thông
Huyền đời Đường soạn), Hoa Nghiêm kinh cốt mục (2
quyển, Thực Xoa Nan Đà đời Đường viết), Hoa nghiêm
pháp giới huyền kính (2 quyển, Thích Đỗ Thuận đời
Đường soạn)…
Không chỉ thế, ở
Trung Quốc, Nhật Bản… còn hình thành tông Hoa Nghiêm,
với nền tảng giáo điển chủ yếu là kinh Hoa Nghiêm
và được phát triển vô cùng mạnh mẽ. Ngoài ra, giáo điển
Hoa Nghiêm còn được các tông phái khác học hỏi
vận dụng vào sự tu tập hàng ngày, trong đó đáng kể nhất
là Thiền tông. Theo học giả Daisetz Teitaro Suzuki (tác
giả bộ Thiền luận), tứ tổ Hoa Nghiêm tông Trung
Quốc là Thiền sư Trừng Quán (738- 839), từng theo học
thiền với Thiền sư Vô Danh (đệ tử của Thiền sư Thần Hội,
thuộc dòng thiền Huệ Năng), và đã vận dụng phương pháp
thiền để diễn giải Hoa Nghiêm;
ngũ tổ Hoa Nghiêm tông là Khuê Phong Tông Mật (780 –
842), ban đầu xuất gia học Phật với Viên Thiền sư ở Toại
Châu, sau lại tham yết với Trung Thiền sư ở Nam Kinh,
Chiếu Thiền sư ở Lạc Dương, rồi khi đã có sở ngộ và gặp
được bộ Hoa nghiêm sớ, tổ bèn đến xin làm môn
nhân của tứ tổ Trừng Quán.
Từ tổ sư này trở đi, giáo nghĩa Hoa Nghiêm thâm
nhập một cách sâu rộng vào trong đời sống tu học của
Thiền tông dưới rất nhiều hình thức khác nhau.
Vả lại, tuy là
chủ trương “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự”,
nhưng các Thiền sư không phủ nhận kinh điển, các ngài đã
khéo léo vận dụng giáo điển trong những cuộc đối thoại
thiền, và coi đó là phương tiện giúp môn sinh giác ngộ.
Giáo điển Hoa Nghiêm đương nhiên cũng được các
Thiền sư chủ động vận dụng khá nhiều vì sự dung hợp vô
ngại của nó. Điển hình như Thiền sư Thạch Đầu (699- 790)
trong Tham đồng khế, Thiền sư Động Sơn (806- 859)
trong Bảo kinh tam muội ca đã vận dụng tư tưởng
giao thoa nhất thể của Hoa Nghiêm để trình bày
các mệnh đề đối lập như sáng tối, ngay lệch… Song, trào
lưu hỗn hợp Thiền với triết học Hoa Nghiêm lên
đến tột đĩnh khi Vĩnh Minh Diên Thọ (904- 975) tổ nối
pháp của dòng thiền Pháp Nhãn viết Tông cảnh lục
gồm 100 quyển, với mục đích dung nạp mọi tư tưởng dị
biệt trong Phật giáo vào thuyết duy tâm (tâm có nghĩa là
thực tại cứu cánh tự giác sát) của mình.
Ở Việt Nam, tuy
không hình thành tông Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm cũng
không trở thành giáo điển chính được các Thiền sư của
các dòng thiền Pháp Vân và Kiến Sơ thời kỳ đầu vận dụng
nhiều như giáo điển Bát Nhã, Pháp Hoa.
Nhưng với địa thế Giao Châu, sự giao lưu ảnh hưởng văn
hóa của các quốc gia lân cận như Trung Quốc, Ấn Độ vào
văn hóa Việt là điều hiển nhiên.
Hơn nữa, hệ thống
giáo lý Phật giáo nguyên thủy Việt Nam, cụ thể là từ
thời Mâu Bác, Khương Tăng Hội… là hệ thống giáo lý hợp
sáng, tức là dung hợp rất nhiều loại giáo điển, Thiền,
Tịnh, Mật, Đạo gia, Nho gia… đều trở thành giáo điển
được học hỏi và vận dụng trong đời sống tu hành và
truyền bá của người con Phật.
Do vậy, từ thế
kỷ X trở đi, các Thiền sư Việt Nam cũng đã chịu ảnh
hưởng của sự phát triển giáo điển Hoa Nghiêm
trong Thiền học ở Trung Quốc, cũng đã bắt đầu vận dụng
giáo điển Hoa Nghiêm trong công cuộc hoằng hóa
Phật pháp của mình. Vậy thì, Hoa Nghiêm đi vào
đời sống tu học của người con Phật Việt Nam, cụ thể là
Thiền học Việt Nam từ thời Lý trở đi như thế nào?
Từ thời giữa và
cuối Lý, Hoa Nghiêm đã được các Thiền sư của hai
phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng như phái Vô Ngôn Thông của
Đại Việt vận dụng tương đối nhiều. Có khi chư vị trích
dẫn nguyên kinh văn của Kinh Hoa Nghiêm để giảng
giải cho các môn đồ, có khi các ngài chọn Đà là ni trong
Hoa Nghiêm làm chú thuật trì tụng hằng ngày trong
đời sống tu học của bản thân, cũng có khi, tinh thần
Hoa Nghiêm được các ngài vận dụng trong kệ thị tịch,
hoặc kệ đúc kết một bài giảng…
1.2. Hoa Nghiêm trong các Thiền sư
phái Vô Ngôn Thông
Theo ghi nhận
trong Thiền uyển tập anh, phái Vô Ngôn Thông thì
có các Thiền sư Cứu Chỉ, Đại Xả, Nguyện Học, Hiện Quang,
đặc biệt là Thiền sư Thường Chiếu đều có vận dụng
Kinh Hoa Nghiêm.
Thiền sư Cứu Chỉ
(khoảng nửa cuối thế kỷ mười một) chùa Diên Linh, núi
Long Đội, vì ham học rộng các sách Nho, Phật từ thuở
thiếu thời, nên sớm nhận ra: “Khổng -Mặc chấp có,
Trang- Lão chấp không, sách vở của thế tục chẳng phải là
phương giải thoát. Chỉ có Phật pháp không kể có, không,
có thể dứt sanh tử, nhưng phải siêng năng giữ giới, cầu
bậc Thiện tri thức ấn chứng mới được” và với ảnh
hưởng của tinh thần viên dung vô ngại, vượt lên Nhị kiến
của Hoa Nghiêm, Ngài đã có một cái nhìn toàn
triệt về con người cũng như vũ trụ. Khẳng định chắc chắn
rằng các pháp vốn có từ tâm, nhưng tâm và pháp lại không
hai, đều ở nơi con người này, và đều huyễn hóa, vốn do
duyên sinh, cho nên không có gì để phân biệt ta người,
thiện ác, phiền não, Bồ đề, Niết bàn, sanh tử. Cái nhìn
Nhị kiến đã không còn, vọng chấp ràng buộc cũng hết, vậy
thì con người ung dung tự tại làm mọi việc, hiện hữu
khắp nơi, có trong mọi lúc, nhưng vẫn không thấy cái gì
là có, Phật cũng không, pháp cũng không, chúng sanh cũng
không, nhân quả cũng không, thế là tu mọi pháp, độ mọi
chúng sanh mà vẫn không thấy mình tu, mình độ. Thế nên
Ngài đã ân cần dạy lại cho đồ chúng trước khi thị tịch,
hòng mong chúng có thể tự lợi lợi tha, tiếp nối dòng
thánh:
“Rõ biết thân tâm vốn lặng yên
Thần thông biến hóa hiện mọi tướng
Hữu vi vô vi từ đây hiện
Thế giới hà sa không thể lường
Tuy dù biến khắp cả hư không
Mỗi mỗi xem ra chẳng hình dạng
Ngàn năm muôn năm khó sánh đó
Xứ xứ nơi nơi thường tỏ rạng” (NCV NCVTUTA, tr. 198).
Bước sang thế kỷ
mười hai, Hoa Nghiêm thâm nhập càng sâu rộng hơn
nữa trong tư tưởng của các Thiền sư Đại Việt.
Thiền sư Đại Xả
(1120- 1180) hằng ngày trì tụng một thần chú trong
Kinh Hoa Nghiêm và nhờ thần lực của thần chú
này mà ngài có thể sống ung dung tự tại không bị ràng
buộc theo một hình thức cứng nhắc nào của giới xuất gia:
“Thiền sư Đại
Xả, chùa Báo Đức núi Vũ Ninh, người phường Đông tác, họ
Hứa. Lúc nhỏ xuất gia theo Đạo Huệ núi Tiên Du, tập tành
Thiền học, biết sơ nét chính của nó.
Sư thường trì
tụng thần chú Diệu môn phổ hiền trong Kinh Hoa Nghiêm
làm công việc hằng ngày. Có lúc sư xoã tóc, bỏ ăn, cư
trú không nơi nhất định” (NCV NCVTUTA, tr.
221).
Theo ghi nhận của
GS Lê Mạnh Thát: “Hoa nghiêm diệu môn phổ hiền thần
chú, chính là Tốc tật mãn phổ hiền hạnh nguyện đà
la ni có lẽ do Bất Không thêm vào trong lời nguyện của
Phổ Hiền trong bản dịch Kinh Hoa Nghiêm bốn mươi quyển
ĐTK 293 tờ 847a2- 848b9 của ông và sau này đã trích
thành một bản văn riêng rẽ, mà người ta gọi là Phổ hiền
hạnh nguyện tán ĐTK 297tờ 880 a1- 882c17. Nó đọc là:
Nẵng ma tát để rị giả địa vĩ ca nam đát tha nghiệt đa
nam. Án a mậu phạ ra vĩ nghì dỉ sa phạ ha” (NCV
NCVTUTA, tr. 444).
Thiền sư Nguyện
Học (?- 1181) chùa Quảng Báo làng Chân Hộ lúc sắp thị
tịch dạy đồ chúng rằng:
“Rõ hiểu thân, tâm mắt tuệ khơi
Linh thông biến hóa, hiện thật tướng
Ngồi nằm đi đứng riêng siêu nhiên
Ứng hiện hóa thân chẳng thể lượng
Hư không đầy dẫy tuy lấp khắp
Xem qua chẳng thấy như có bóng
Thế gian không vật hay sánh kịp
Mãi hiện ánh thiêng sáng rạch ròi
Thời thường dạy dỗ bất tư nghị
Không được một câu đáng làm lời”.
(NCV NCVTUTA, tr. 235).
Phẩm Thập Định
thứ hai mươi bảy của Kinh Hoa Nghiêm ghi nhận
việc Phật bảo Bồ tát Phổ Nhãn trực tiếp hỏi Bồ tát Phổ
Hiền về hạnh nguyện, giải thoát, tam muội… của Phổ Hiền
vì Bồ tát Phổ Hiền đang ở trong pháp hội Hoa Nghiêm
tại đạo tràng Bồ đề nước Ma Kiệt Đà, thế nhưng Bồ tát
Phổ Nhãn và đại chúng tìm kiếm khắp nơi vẫn không sao
thấy được, ngay khi các Bồ tát này nhập mười ngàn vô số
tam muội cầu thấy Bồ tát Phổ Hiền vẫn không sao thấy
được, và cho đến khi họ lắng lại với chính họ thì mới
thấy được:
“Chư Bồ tát này
đối với Phổ Hiền sanh lòng tôn trọng khát ngưỡng, muốn
thấy, nhưng nhìn khắp mọi nơi mà vẫn không thấy, cũng
chẳng thấy toà ngồi của Bồ tát Phổ Hiền…
Phổ Nhãn và chư
Bồ tát lại ngó tìm khắp cả hội trường rồi thưa Phật:
Bạch đức Thế Tôn! Nay chúng con vẫn chưa thấy được thân
và toà ngồi của Bồ tát Phổ Hiền.
Phật nói: Đúng
thế. Vì cớ chi mà các ngươi không thấy được? Này Phổ
Nhãn! Vì trụ xứ của Bồ tát Phổ Hiền rất sâu, bất khả
thuyết. Bồ tát này được vô biên môn trí tuệ, nhập sư tử
phấn tấn định, được lực dụng tự tại vô thượng, vào nơi
vô ngại thanh tịnh sanh mười trí lực của Như Lai, lấy
pháp giới tạng làm thân, tất cả Như Lai đồng hộ niệm,
khoảng một niệm có thể chứng nhập trí vô sai biệt của
tam thế chư Phật. Vì thế các ngươi không thấy được…
Phật bảo Phổ Nhãn
và đại chúng: Chư phật tử! các ngươi lại phải kính lễ Bồ
tát Phổ Hiền, ân cần cầu thỉnh, chuyên tâm quán sát mười
phương, tưởng thân Phổ Hiền hiện ở trước mình, suy gẫm
như vậy khắp pháp giới, thâm tâm tín giải, nhàm lìa tất
cả, thệ đồng một hạnh với Phổ Hiền, vào nơi pháp chân
thực bất nhị, thân mình hiện khắp tất cả thế gian, biết
rõ căn tánh sai biệt của chúng sanh, khắp mọi nơi tập
hợp đạo Phổ Hiền…
Bấy giờ Bồ tát
Phổ Hiền liền dùng sức thần thông giải thoát theo chỗ
đáng hiện mà hiện sắc thân, làm cho tất cả chúng Bồ tát
đều thấy Phổ Hiền ngồi trên toàn liên hoa gần đức Như
Lai. Cũng thấy nơi tất cả thế giới khác, chỗ tất cả chư
Phật, Bồ tát Phổ Hiền tuần tự tiếp nối mà đến. Cũng thấy
nơi tất cả chư Phật kia diễn thuyết tất cả hạnh Bồ tát
khai thị đạo nhất thiết chủng trí, xiển minh tất cả thần
thông của Bồ tát, phân biệt tất cả oai đức của Bồ tát,
thị hiện tất cả tam thế chư Phật” (tập 3, tr. 13 –
16).
Chính vì thế mà
Thiền sư Nguyện Học dạy đại chúng phải quay về với chính
mình mới tìm được “Đạo”, vì “Đạo” ở trước mắt, tuy không
hình tướng nhưng bàng bạc khắp mọi nơi và đủ vô số công
dụng, chư Phật ba đời cũng như lịch đại tổ sư đều chứng
biết đạo như thế nên các Ngài không nhọc công tìm kiếm
bên ngoài.
Thiền sư Hiện
Quang (?- 1221) núi Yên Tử lại nói về việc vượt lên cái
nhìn pháp huyễn và tu huyễn để giải thoát mọi sự ràng
buộc cố chấp về cái huyễn. Vì theo tinh thần nhà Phật,
chấp có không đúng, mà chấp không cũng sai nốt; chập
thật là vọng, mà chấp huyễn cũng vọng. Phải vượt lên
chấp có chấp không, chấp thực chấp huyễn thì mới thực sự
đạt ngộ và mới thong dong trên hành trình tu học:
“Pháp huyễn đều là huyễn
Tu huyễn cũng là huyễn
Chẳng là hai huyễn ấy
Tức trừ được mọi huyễn”.
Phẩm Thập định
Kinh Hoa Nghiêm dạy:
“Đại Bồ tát
biết tất cả pháp thế gian đều đồng như huyễn hóa. Vì
biết pháp huyễn nên biết trí huyễn. Vì biết trí huyễn
nên biết nghiệp huyễn.
Đã biết trí
huyễn và nghiệp huyễn nên khởi huyễn trí xem tất cả
nghiệp như nhà huyễn thuật thế gian. Chẳng ở ngoài bản
xứ mà hiện huyễn, cũng chẳng ngoài huyễn mà có bản xứ….
Đại Bồ tát
được huyễn trí giải thoát bất tư nghì, đến nơi bĩ ngạn,
trụ nơi huyễn tế, nhập ở huyễn số thế gian, tư duy các
pháp thảy đều như huyễn, chẳng trái huyễn thế, cùng tận
nơi huyễn trí, rõ biết tam thế cùng huyễn không khác,
thông đạt quyết định, tâm không ngằn mé” (tập 3, tr.
30- 31).
Thiền sư Thường
Chiếu (?- 1203) một trong những đệ tử đắc pháp của Thiền
sư Quảng Nghiêm, là người đã dẫn thẳng kinh văn Hoa
Nghiêm để trả lời câu hỏi về pháp thân của một thiền
sinh. Chính từ tinh thần dung nạp không ngại đó của
Kinh Hoa Nghiêm mà ngài đã sẵn sàng tiếp quảng chùa
Lục Tổ - một tổ đình lớn của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi, để rồi sau này góp công lớn trong việc dung nhập
các Thiền phái đương thời bằng tinh thần tuỳ tục cụ thể
nhất cho Phật giáo thời cuối Lý đầu Trần. Sau đây là câu
đáp của Ngài về Pháp thân được NCVTUTA ghi nhận:
“Lại hỏi:Pháp thân biến khắp mọi nơi là thế nào?
Sư đáp: Như
một lỗ chân lông biến khắp cả pháp giới, tất cả lỗ chân
lông thảy đều như thế. Nên biết không có một chút nào mà
không có thân Phật. Vì sao? Vì Pháp thân ứng hóa thành
Đẳng chánh giác, không chỗ nào không đến. Phải biết như
vầy: Đức Như Lai dùng sức tự tại của tâm, không khởi
không chuyển mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả các
pháp thường không khởi. Dùng ba thứ pháp nói đoạn nên
không đoạn mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả pháp đều
lìa biên kiến. Lìa cõi dục và cõi phi dục mà chuyển pháp
luân, vì vào cõi hư không của tất cả các pháp. Không có
ngôn thuyết mà chuyển pháp luân, vì biết tất cả các pháp
đều không thể nói. Rốt ráo tịch diệt mà chuyển pháp
luân, vì biết tất cả các pháp là tính Niết bàn. Ấy gọi
là không có tính tướng, không có tính tận, không có tính
sinh, không có tính diệt, không có tính ngã, không có
tính phi ngã, không có tính chúng sanh, không có tính
phi chúng sanh, không có tính Bồ tát, không có tính pháp
giới, không có tính hư không cũng không có tính thành
đẳng chánh giác” (NCV NCVTUTA, tr. 239).
Và đoạn trả lời
này của Ngài được rút ra từ hai đoạn trong phẩm Như
Lai xuất hiện của Kinh Hoa Nghiêm như sau:
Đoạn 1 trích từ
tr. 424 – 425 tập 3: “Chư phật tử! Đại Bồ tát phải
biết thân Như Lai trong một lỗ chân lông có thân chư
Phật bằng số tất cả chúng sanh. Vì đức Như Lai thành
đẳng chánh giác rốt ráo không sanh diệt. Như một lỗ chân
lông khắp pháp giới, tất cả lỗ chân lông cũng đều như
vậy. Phải biết chẳng có một chút chỗ nào là không có
thân phật. Vì đức Như Lai thành Đẳng chánh giác không
chỗ nào chẳng đến. Tuỳ sở năng, tuỳ thế lực, ở dưới cây
Bồ đề trên toà sư tử, hiện nhiều thân thành Đẳng chánh
giác”.
Đoạn 2 trích từ
tr. 422 tập 3: “Chư phật tử! Lúc đức Như Lai thành
chánh giác, ở trong thân Như Lai, thấy khắp tất cả chúng
sanh thành chánh giác, nhẫn đến thấy khắp tất cả chúng
sanh nhập Niết bàn đều đồng một tánh. Một tánh đây chính
là không tất cả tánh. Không những tánh gì? Không tánh
tướng, không tánh tận, không tánh sanh, không tánh diệt,
không tánh ngã, không tánh phi ngã, không tánh chúng
sanh, không tánh phi chúng sanh, không tánh Bồ đề, không
tánh pháp giới, không tánh hư không, cũng lại không
thánh thành chánh giác. Vì biết tất cả các pháp đều
không tánh nên được Nhất thiết trí đại bi tương tục cứu
độ chúng sanh”.
1.3. Hoa Nghiêm trong các Thiền sư
phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Không khác gì
nhiều các Thiền sư phái Vô Ngôn Thông, chư Tôn túc phái
Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng chịu ảnh hưởng không ít tinh thần
Bồ tát, pháp giới viên dụng vô ngại của Hoa Nghiêm,
cho nên cái nhìn về vũ trụ, con người, cũng như mọi hành
xử của các Ngài đều rất thoải mái, không vướng chấp một
điều gì, bởi vì trong mắt họ là:
“Tạo có mảy may có,
làm không hết thảy không,
có không trăng dưới nước,
đừng chấp có không không”.
mà Thiền sư Từ
Đạo Hạnh cuối thế kỷ mười một đầu thế kỷ mười hai đã
khẳng định. Đã vượt được nhị nguyên rồi, đã dung thông
mọi thứ rồi thì việc gì mà không làm được, nơi nào mà
không đến được.
Tăng thống Khánh
Hỷ (1067-1142) làng Từ Liêm, Vĩnh Khương, ban đầu theo
học với Thiền sư Bản Tịch, sau mới tìm đến Thiền sư Biện
Tài và đã tỏ ngộ tính giác, tiếp nối dòng thiền Pháp Vân
thuộc thế hệ thứ 14, từng đưa cái nhỏ vào cái lớn, đưa
cái lớn vào cái nhỏ, đưa phàm vào thánh, đưa thánh vào
phàm, càn khôn vũ trụ gom thân lại trong một lỗ chân
lông, cả nhật nguyệt tinh tú gói trọn trong một hải cải,
thế vậy mà mọi vật trong vũ trụ này không hề vì thế bị
nhỏ đi, bị bó hẹp, mất bản tính vốn có của mình, hạt cải
hay lỗ chân lông cũng không vì thế mà to ra, biến mất
hình dạng nhỏ bé của mình trong tư tưởng Hoa Nghiêm
để đáp lại câu hỏi “sắc là phàm hay thánh” của Thiền sư
Pháp Dung rằng:
“Nhọc đời thôi hỏi sắc cùng không
Học đạo chẳng qua phỏng tổ tông
Thiên ngoại tìm tâm không định thể
Nhân gian trồng quế há thành rừng?
Càn khôn gom lại đầu sợi tóc
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng
Trước mặt nắm tay dùng việc lớn
Ai hay phàm thánh với tây đông” ( NCVTUTA, tr. 287).
Và đó là hình ảnh
từ phẩm Phật bất tư nghì thứ ba mươi ba trong
Kinh Hoa Nghiêm: “Phật tử! Tất cả chư Phật đem
tất cả núi Tu Di, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, đại
hải, núi rừng, cung điện, nhà cửa trong những thế giới
khắp pháp giới để vào một lỗ chân lông đến suốt kiếp vị
lai mà các chúng sanh chẳng hay chẳng biết. Chỉ trừ
người được thần lực của Như Lai gia trì. Bấy giờ nơi một
lỗ chân lông chư Phật giữ lấy tất cả thế giới suốt kiếp
vị lai, hoặc đi đứng nằm ngồi chẳng hề biết mỏi mệt. Ví
như hư không khắp giữ gìn tất cả thế giới khắp pháp giới
mà không mỏi mệt…
Phật tử! Tất
cả chư Phật có thể trong khoảng một niệm bước được bất
khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số bước. Mỗi
bước đó đi qua bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi
trần quốc độ, đi mãi như vậy trải qua tất cả thế giới vi
trần số kiếp…” (tập 3, tr. 248).
Thiền sư Y Sơn (?
-1216) thế hệ thứ mười chín cũng dựa vào tinh thần vượt
Nhị kiến, thoát khỏi cái nhìn hai tướng nên biến hiện
cùng khắp của Như Lai trong hành trình độ thoát chúng
sanh ở mười phương ba đời của Kinh Hoa Nghiêm
để dạy đồ chúng:
“Các ngươi nên
biết, Như Lai thành đẳng chánh giác, đối với tất cả
nghĩa lý, không còn có chỗ xem xét; đối với các pháp
bình đẳng, không có gì nghi hoặc, không hai, không
tướng, không đi, không đứng, không lường, không hạn, xa
lìa hai bên, ở nơi trung đạo, vượt khỏi hết thảy văn tự,
ngôn thuyết, truyền được thân lượng bằng hết thảy chúng
sanh, được thân lượng bằng hết thảy mọi cõi, được thân
lượng bằng hết thảy tam giới, được thân lượng bằng hết
thảy Phật, được thân lượng bằng hết thảy ngôn ngữ, được
thân lượng bằng hết thảy nguyện, được thân lượng bằng
hết thảy hạnh, được thân lượng bằng hết thảy tịc diệt”.
Lại nói rằng:
“Như Lai thành chánh giác
Hết thảy lượng đẳng thân
Hồi hổ không hồi hổ
Đồng tử mắt sáng thần”.
Lại nói:
“Chân thân thành vạn tượng
Vạn tượng tức chân thân
Cung trăng xanh quế đỏ
Quế đỏ tại cung trăng” (NCVTUTA, tr. 303 – 304).
Cũng theo ghi
nhận của tác giả Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh,
lời dạy trên của Thiền sư Y Sơn được trích từ Đại
phương quảng phật hoa nghiêm kinh 52 tờ 274c29-
275a17 như sau:
“Phật tử! Bồ
tát ma ha tát ưng tri Như Lai thành chánh giác ư nhất
thiết nghĩa, vô sở quán sát, ư pháp bình đẳng, vô sở
nghi hoặc, vô nhị vô tướng, vô hành vô chỉ, vô lượng vô
tế, viễn ly nhị biên, trú ư trung đạo, xuất quá nhất
thiết văn tự ngôn thuyết (…), đắc nhất thiết chúng sanh
lượng đẳng thân, đắc nhất thiết tam thế lượng đẳng thân,
đắc nhất thiết Phật lượng đẳng thân, đắc nhất thiết ngôn
ngữ lượng đẳng thân, đắc chân như lượng đẳng thân, đắc
pháp giới lượng đẳng thân, đắc hư không giới lượng đẳng
thân, đắc vô ngại giới lượng đẳng thân, đắc nhất thiết
nguyện lượng đẳng thân, đắc nhất thiết hành lượng đẳng
thân, đắc tịch diệt Niết bàn giới lượng đẳng thân”.
Những dẫn chứng
trên cho chúng ta thấy rằng, thực sự Hoa Nghiêm
đã đi vào Đại Việt từ sớm, và cũng như thời kỳ tư tưởng
Hoa Nghiêm được thịnh hành trong sự nghiệp tu học
hoằng hóa của các Thiền sư Trung Quốc từ thế kỷ mười trở
đi, các Thiền sư Đại Việt thời giữa và cuối Lý đã không
ngại dẫn dụng kinh điển này tạo nên một nét văn hóa Phật
giáo thế sự đặc biệt của Đại Việt, đưa Phật giáo và quốc
gia bước vào một giai đoạn thịnh trị, một thời kỳ hoàng
kim rực rỡ trong dòng lịch sử của cả hai.
2. Hoa Nghiêm thời Trần
Dòng thiền Thảo
Đường ra đời vào thời Lý Thánh Tông, đánh dấu sự phát
triển mới của Phật giáo Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của
giai đoạn Phật giáo thế sự. Với sự ngộ đạo và nối pháp
của chín Thiền sư Cư sĩ (Hoàng đế Lý Thánh Tông, cư sĩ
Ngộ Xá, Tham chính Ngô Ích, Thái phó Đỗ Vũ, Hoàng đế Lý
Anh Tông, Thái phó Đỗ Thường, Hoàng đế Lý Cao Tông,
Xướng nhi quản giáp Nguyễn Thức, Phụng ngự Phạm Đẳng),
chiếm một nửa số Thiền sư ngộ đạo nối pháp của dòng
thiền này, triết lý viên dung vô ngại, không phân biệt
tại gia xuất gia đều có thể ngộ đạo trong Hoa Nghiêm
lại được thể hiện một cách sống động.
Thời Trần, Phật
giáo Đại Việt lại tiếp tục phát triển, đánh dấu cho sự
cực thịnh đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm, một
dòng thiền mang đậm chất Việt nhất, do người Việt sáng
lập, được người Việt truyền thừa và tiếp nhận theo văn
hóa Việt. Tư tưởng Hoa Nghiêm cũng tiếp tục được
phát triển, từ vị Vua đầu nhà Trần là Thái Tông, đến
Thánh Tông, Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ… tư tưởng đó
được thể hiện khá rõ ràng trong các tác phẩm của họ.
Song, không chỉ
là một vài tư tưởng được các Thiền sư vận dụng để hoằng
dương Phật pháp nữa, mà có cả những cảnh giới lung linh
kỳ diệu, nơi thuyết giảng kinh điển Hoa Nghiêm,
có những hình ảnh sống động vô ngần của pháp hội Hoa
Nghiêm với Phật, Bồ tát, chúng hội trời thần…. Đặc
biệt hơn là cả bộ Kinh Hoa Nghiêm được chính thức
đưa vào giảng dạy trong các Thiền viện trong nhiều năm
nhiều tháng với thính chúng lên đến hàng ngàn người đủ
thành phần xã hội từ cao sang đến thấp hèn, song song
với hệ thống kinh điển, ngữ lục khác như Pháp Hoa,
Viên Giác, Đại Tuệ ngữ lục, Tuyết Đậu
ngữ lục…
Như trên đã nói,
Hoa Nghiêm với những tư tưởng siêu việt nhị
nguyên, viên dung vô ngại, không phủ định hoàn toàn mọi
pháp, không đưa hành giả rơi vào trạng thái ngoan không,
mà trình hiện ra trước mắt hành giả một pháp giới với
muôn vàn cảnh tượng lung linh diệu kỳ. Nơi đó có Phật,
có Bồ tát luôn hướng đến chúng sanh, thuyết giảng vô số
giáo pháp độ thoát chúng sanh, có đại chúng dự nghe pháp
Phật trong các pháp hội, có trời rồng thần ủng hộ pháp
phật, mọi vật xung quanh thì xinh động đến lạ kỳ, mỗi
hàng cây, mỗi ánh sáng… đều vang ra tiếng pháp nhiệm
mầu.
Trong Hoa
Nghiêm không phân biệt tại gia xuất gia, thành phần
xã hội, tất cả đều có thể học Phật, hành đạo, tự độ độ
tha theo căn tánh lợi độn của mình.
Trong Hoa
Nghiêm có vô số vô lượng pháp môn từ bi hỷ xả, ngũ
căn ngũ lực, bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục,
thiền định, trí tuệ… nói chung, mỗi chúng sanh ở đó là
một Bồ tát, được sinh ra từ thiện căn, từ trí lực,
nguyện lực, hạnh đức của Phổ Hiền.
Hoa Nghiêm
đưa ra cả một hành trình tu học từ thấp đến cao, từ cụ
thể đến trừu tượng, nhưng điều đó không có nghĩa là các
pháp môn đó tách bạch riêng rẻ nhau, ngược lại mỗi pháp
môn dung nạp vô số pháp môn, vô số pháp môn nằm trong
một pháp môn.
Chính những tính
ưu việt đó, Hoa Nghiêm đã dễ dàng thâm nhập sâu
rộng vào Phật giáo thời Lý- Trần, đặc biệt là thời Trần.
Sau đây là một vài hình ảnh chính trong Hoa Nghiêm
được thể hiện trực tiếp trong văn hóa Phật giáo thời
Trần.
2.1. Rừng Thệ Đa trong kinh Hoa
Nghiêm
Đây là nơi diễn
ra pháp hội thứ chín trong kinh Hoa Nghiêm, cụ
thể là phẩm Nhập pháp giới: “Bấy giờ đức Thế Tôn ở
nước Thất La Phiệt, trong Trùng các Đại Trang Nghiêm,
tại rừng Thệ Đa, vườn Cấp Cô Độc câu hội với năm trăm
đại Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát làm
thượng thủ. Tên của các ngài là…” (tập 4, tr. 7)
.
Rừng Thệ Đa vườn
Cấp Cô Độc này là nơi ghi dấu một sự tích vô cùng ly kỳ
của một tinh xá được xây dựng ở phía bắc thủ đô Savatthi
thuộc vương quốc Vesali do Trưởng giả Sudatta - một
thương gia nổi tiếng về việc làm từ thiện “Cứu giúp
những kẻ khốn cùng và cô độc” và Thái tử Jeta con Vua
Pasenadhi vì sự ngưỡng mộ đức Thế Tôn.
Trong tác phẩm
Đường xưa mây trắng, Sa môn Thích Nhất Hạnh kể về
câu chuyện này với tựa Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu
tấc vàng sau khi đã giới thiệu về cuộc gặp gỡ giữa
thương gia Sudatta với đức Phật ở Magadha, và đã được
Phật đồng ý để Tôn giả Sariputta cùng theo chàng về
Vương quốc mình, tìm nơi xây dựng một Tinh xá cúng dường
Phật và chư Tăng, để dân chúng nước này được kết duyên
học Phật:
Sudatta đi xem xét nhiều nơi nhưng chưa có nơi nào đẹp
đẽ và thanh tịnh bằng khu lâm viên của Thái tử Jeta nằm
sát thủ đô Savathi. Chàng nghĩ nếu có được khu lâm viên
này làm cơ sở lưu trú và hành đạo của Bụt và giáo đoàn
thì đạo lý tỉnh thức sẽ được truyền bá sâu rộng trong
Vương quốc. Sudatta tìm đến Thái tử Jeta xin gặp. Hôm
ấy, trong dinh thự của Thái tử có một vị văn quan trong
triều mà Sudatta cũng quen biết. Sau khi chào hỏi Thái
tử và vị văn quan, Sudatta trình bày ước muốn của mình
và xin Thái tử nhường lại cho chàng khu vườn của Thái tử
để làm cơ sở tu học và hoằng pháp của Bụt. Thái tử Jeta
mới có hai mươi tuổi. Khu vườn này là của Vua Pasenadi
ban cho chàng năm ngoái. Thái tử nhìn vị quan văn rồi
nhìn Sudatta nói: - Khu vườn ấy là của phụ vương tôi cho
tôi, và tôi quý nó như vàng. Nếu ông có đủ vàng lá đem
trải đầy khu vườn thì tôi sẽ nhường nó lại cho ông.
Thái tử Jeta nói nửa đùa nửa thật nhưng thương gia trẻ
tuổi này lại không cho đó là chuyện đùa. Chàng nói: -
Được rồi, tôi sẽ theo điều kiện của Thái tử đặt ra. Sáng
mai tôi sẽ cho chở vàng tới.
Thái tử Jeta giật mình: - Tôi nói đùa đó mà, tôi không
bán khu vườn của tôi đâu. Ông đừng chở vàng tới.
Nhưng Sudatta vẫn nghiêm trang: - Thưa Thái tử, ngài là
một bậc Vương giả. Ngài đã nói ra lời nào thì chắc lời
ấy không thể bị xóa bỏ.
Rồi Sudatta quay sang hỏi vị văn quan đang ngồi uống
nước với Thái tử: - Thưa đại nhân, có phải đúng như vậy
không?
Vị văn quan gật đầu. ông ta quay về phía Thái tử Jeta: -
Vị thương gia Anathapindika này nói đúng, thưa Điện hạ.
Đã không đưa ra giá cả thì thôi, mỗi khi đã đưa ra giá
cả thì ta không có quyền không bán.
Thái tử Jeta
đành nhượng bộ. Tuy nhiên chàng hy vọng rằng Sudatta
không có đủ vàng. Thái tử chưa kịp nói gì thêm thì
Sudatta đã đứng dậy chắp tay tạ ơn và cáo biệt. Ngay
sáng hôm sau, chàng cho người chở vàng tới lót khu vườn.
Thái tử Jeta
chứng kiến cảnh tượng lót vàng này và rất lấy làm kinh
ngạc. Thái tử biết đây không phải là chuyện mua bán tầm
thường. Không ai bỏ ra một số vàng lớn như thế để mà mua
một khu vườn giải trí. Bụt và giáo đoàn của người chắc
chắn là những nhân vật lỗi lạc lắm cho nên thương gia
này mới phát tâm dũng mãnh như thế được. Nghĩ thế, Thái
tử tới gần Sudatta và hỏi thăm chàng về Bụt. Mắt vị
thương gia sáng lên. Chàng kể cho Thái tử nghe về con
người của Bụt, về đại cương giáo lý của người và về giáo
đoàn các vị khất sĩ. Chàng lại hứa ngày mai sẽ đến mời
Thái tử đi thăm viếng đại đức Sariputta, một vị cao đệ
của Bụt, hiện đang có mặt tại thủ đô.
Nghe Sudatta
nói, Thái tử Jeta cũng thấy hứng khởi trong lòng. Lúc
bấy giờ người của Sudatta đã chở vàng được ba chuyến và
đã lót được hai phần ba khu vườn. Khi chiếc xe sắp đi
chuyến thứ tư, thì Thái tử Jeta đưa tay ngăn lại. Thái
tử nói với Sudatta:
Thôi, ông lót
từng ấy vàng đủ rồi, phần đất còn lại là phần tôi hiến
tặng cho Bụt và giáo đoàn. Tôi cũng muốn góp phần vào
công trình lớn lao và đẹp đẽ của ông. Tôi nói như thế
này ông nghe có được không nhé: Cứ xem như là ông cúng
đất còn tôi thì cúng cây cho tu viện. Sau này có ai hỏi
thì ta có thể nói rằng: Tu viện này tên là vườn
Anathapindika với cây của Jeta, ông chịu không?
Hình ảnh Tinh xá
Kỳ Viên với câu chuyện rải vàng mua đất được diễn ra
giữa Thái tử Kỳ Đà con Vua Ba Tư Nặc thành Xá Vệ và
Trưởng giả Cấp Cô Độc được ghi lại rất nhiều trong hệ
thống văn bia thời Trần. Khác với thời Lý, thành Vương
Xá, núi Linh Thứu là những nơi được nhắc đến nhiều nhất
khi nói về sự kỳ vĩ của chùa tháp, những ngôi chùa được
xây dựng ở thời Trần lại thường được ví với cảnh trang
nghiêm lộng lẫy của Kỳ Thọ Cấp Vô Độc Viên.
Ngay bia đầu tiên
của thời Trần trong tập Văn khắc Hán Nôm Việt Nam,
ngôi chùa Thiệu Long thuộc địa phận Hà Tây do vợ chồng
Đỗ Năng Tế, Đặng Ngũ Nương xây dựng vào thời Trần Thái
Tông cũng được ví: “Rộng lớn như đất vàng thành Xá
Vệ, bao la tựa cung điện Đâu Suất Đà, xung quanh thật
xứng tạo Thắng phương (chùa), quy chuẩn đáng dựng
nên Bảo sát (chùa). Ông bèn thí xả tiền tài bổng
lộc, theo gương Chiến Thắng (tên Thái tử Kỳ Đà)
hiến đất Kỳ Viên, học hạnh Cấp Cô (Trưởng giả Cấp Cô
Độc) chở vàng rải đất”.
Chùa Hưng Phúc
hương An Duyên phủ Thanh Hóa được cha con Lê Minh xây
dựng vào năm Thiệu Long thứ bảy (1264) và được tu bổ mở
rộng vào năm Khai Thái thứ nhất (1324) cũng được văn bia
chùa này ghi nhận: “Kỳ viên trang nghiêm, rực rỡ bởi
vàng ròng rải đất”.
Minh văn chuông
chùa Diên Thánh Báo Ân thuộc phường Đông Ngạc hương Từ
Liêm – Hà nội do Quyền ngự sử trung tán nội tán lang
Trần Chấn Khanh soạn vào thời Khai Hựu (1333) ghi nhận
về ngôi chùa này: “Trong cảnh Kỳ Viên, đất vàng trang
nghiêm, cây báu ao báu, tươi tốt xinh đẹp”.
Những ngôi chùa
thời Trần ở đất Đại Việt được xây dựng bằng cả tiền tài
báu vật lẫn tâm hạnh Bồ tát, được trang hoàng hết sức
lộng lẫy, ví như Tinh xá Kỳ Viên trong rừng Thệ Đa thuộc
thành Xá Vệ này, nó không chỉ khẳng định sự giàu cường
thịnh đạt của quốc gia Đại Việt, sự am hiểu thấu thông
tư tưởng Hoa Nghiêm của người con Phật, mà còn
khẳng định rằng Đại Việt chính là Trùng Các giảng đường,
là cõi nước chư Phật mười phương. Vì thế không chỉ có
Phật điện, Tăng phòng, vườn ao ngăn nắp, mà mọi thứ ở
đây đều như được làm bằng thất bảo, đều lung linh kỳ
diệu:
“Cảnh chùa này,
bên trái tiếp ao xanh ngắt, mùa hè sen ngát đưa hương;
bên phải gối đầm trong vắt, sớm mai ánh sắc cầu vòng,
phía đông hướng đến ruộng xanh, nông phu cuốc đất mà ca
bài thái bình; phía tây liền với rừng rậm, muông thú hót
reo mà du chơi cõi thánh. Do thế, sai thầy thợ chọn vị
trí, đặt thước tấc để tạo nền móng. Nhiều người dốc sức,
thợ giỏi tựu về, cây kỳ gỗ dị, chốn chốn hướng lai, đá
hoa gạch vân, nơi nơi tập hợp. Thợ khéo trình bày phong
cách, đục đẻo chạm trỗ trang nghiêm; Lỗ Ban dâng tài xẻ
gỗ, dây mực cưa đục bày ra. Xây chẳng bao lâu, công
trình hoàn tất. Trời đất hợp nhau giúp sức, người thần
khâm phục vẻ kỳ.
Chính điện nguy
nga núi dựng, lan can rực rỡ rồng bay, trồng cây tiên
làm cột, điểm xuyết bằng rừng đẹp Tam thần, tìm ngọc Hán
làm rường, che phủ bằng lộng báu Cửu hoa ; thềm khắt
rồng rùa, đạp nước phun mưa, cửa chạm phượng loan, uốn
lượn theo mây, xếp tinh đẩu mà Bắc cực thua xa, bày cây
hoa mà Thượng lâm thất sắc, ngói sen muôn tầng sắp lớp,
hàng hàng châu ngọc sương giăng, linh vàng lung linh bốn
góc, gió thu văng vẳng tiếng huyền. Sơn son thếp vàng,
đẹp đẽ nào khác gấm thêu họ Đậu; vàng ngọc điểm tô, rực
rỡ kém gì ánh quang ngọc dạ.
Ở giữa Kim tiên
sáu trượng, ngồi toà sư tử trang nghiêm, khắc chạm lời
vàng kinh ngọc, thần tiên như muốn giáng lâm, thánh
tượng uy nghiêm, khác nào phân thân chốn ấy; bên cạnh
đặt tiên nữ dâng hoa, Bồ tát phương tiện quyền biến,
nghe học kinh pháp ở non Thứu, giảng thuyết kinh điển
tại vườn Nai. Tôn giả mày rậm tóc quăn, sống động như là
tranh vẽ, Hộ pháp chống kiếm cầm giáo, đặt yên ở trước
điện Phật. Bên trái là Hoà thượng Trần Như, làm ruộng
phúc cho đàn việt; bên phải là chánh thân Mỹ Âm, giữ
việc lành cho Bảo sát. Trước mở Tam quan, hứng ngọn gió
lành, làm nơi dừng xe cho khách; giữa thông một chiếc
cầu ngang, đặt toà thưởng ngoạn cho Thiền sư vãn cảnh.
Kế đến xây lầu
cao chót vót, vọng tiếng kình lợi lạc quần sanh. Ngoài
đặt vườn hoa, hương giải thoát thơm khắp cung nhật
nguyệt, giữa đào ao sen, hoa lành đẹp cả cõi thần tiên.
Tăng phòng la liệt, dưỡng nuôi ngọc sáng cho sa môn, nhà
bếp đặt bày, cung dưỡng món ngon lên thượng sĩ. Hoa thơm
giăng đường, giai nhân tựa hiên không nói, cây lành che
mát, rèm châu màn báu rũ che; xanh xanh dương liễu,
người đẹp đùa với gió mai, biếc biếc lan can, lộng lẫy
mà lưu sắc tối. Tùng bách ngàn năm trồng trọt, tốt tươi
chừ muốn hóa thành rồng, ngô đồng trăm thước bón chăm,
mơn mởn chừ ngã cành đợi phượng” (Văn bia chùa
Thiệu Long).
Thật không khác
gì cảnh giới mầu nhiệm hiện ra trong pháp hội Hoa
Nghiêm bên đất Phật thuở nào khi mà đức Thế Tôn nhập
tam muội Sư tử tần thân:
“Lầu các Đại
trang nghiêm bỗng nhiên rộng rãi không ngằn mé, kim cang
làm đất, bảo vương che bên trên, vô lượng bảo hoa và
châu ma ni rải đầy trong lầu, lưu ly làm cột, các thứ
báu hiệp thành, trang nghiêm với đại quang ma ni, vàng
diêm phù đàn, như ý bảo vương trùm khắp phía trên để
nghiêm sức. Lầu cao thành dãy, đường gác kèm bên, thềm
mái thừa nhau, cửa ngạch chói nhau, thềm bậc hiên bao
lơn đều đầy đủ. Tất cả đều trang nghiêm với diệu bảo.
Những bảo ấy đều được làm bằng hình tượng thiên nhân,
kiên cố đẹp lạ, đệ nhất thế gian. Lưới báu ma ni che
khắp bên trên. Bên cửa đều dựng tràng phan, đều phóng
ánh sáng cùng khắp pháp giới. Ngoài đạo tràng, thềm cấp
lan can nhiều vô lượng không thể kể nói, đều bằng ngọc
ma ni.
Lúc đó, lại do
thần lực của Phật, rừng Thệ Đa bỗng nhiên rộng rãi đồng
với bất khả thuyết phật sát vi trần quốc độ, tất cả diệu
bảo xen lẫn trang nghiêm, bất khả thuyết bảo vật trải
khắp mọi nơi. Vô số bảo vật làm tường rào. Cây đa đa báu
trang nghiêm bên đường.
Trong rừng lại
có vô số dòng sông thơm, đầy những nước thơm gợn sóng
xoay quanh. Tất cả hoa báu theo dòng chuyển về phía hữu,
tự nhiên diễn ra âm thanh Phật pháp. Bất tư nghì hoa sen
báu búp nở thơm tho giăng bày trên mặt nước. Những cây
hoa báu trồng hai bên bờ sông, bất tư nghì đài, nhà mát
xếp hai bên bờ sông, lưới báu ma ni che trùm. Vô số báu
vật phóng ánh sáng lớn, vô số báu vật trang nghiêm mặt
đất, đốt những diệu hương mùi thơm ngào ngạt.
Lại dựng vô số
bảo tràng: Những là bảo hương tràng, bảo y tràng, bảo
phan tràng, bảo thắng tràng, bảo hoa tràng, bảo anh lạc
tràng, bảo man tràng, bảo linh tràng, ma ni bảo cái
tràng, đại ma ni bảo tràng; phát vô số âm thanh danh
hiệu Như lai ma ni tràng, sư tử ma ni vương tràng,
thuyết nhất thiết Như lai bản sự ma ni vương tràng, hiện
nhất thiết pháp giới ảnh tượng ma ni vương tràng. Những
bảo tràng này bày hàng trang nghiêm khắp cả mười phương.
Bấy giờ trong
hư không trên rừng Thệ Đa, có bất tư nghì mây thiên
cung, vô số mây cây hương, bất khả thuyết mây núi Tu Di,
vô số mây kỹ nhạc phát ra tiếng vi diệu ca ngợi công đức
Như Lai, bất khả thuyết mây hoa sen báu, bất khả thuyết
mây toà báu, trải thiên y với các Bồ tát ngồi trên ca
ngợi công đức của Phật, bất khả thuyết mây báu hình
tượng thiên vương, bất khả thuyết mây trân châu trắng,,
bất khả thuyết mây trân châu đỏ, bất khả thuyết mây kim
cang. Những mây báu này đều dừng ở hư không bao vòng
cùng khắp để trang nghiêm.” (Kinh Hoa
Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới tr. 14 -16).
Tinh xá Kỳ Thọ
Cấp Cô Độc Viên một lần nữa được chuyển về phủ Thanh
Hóa, nơi có ngôi chùa Hưng Phúc xinh đẹp lộng lẫy mà bao
người con dân Đại Việt thời Trần đã dày công đắp tạo:
“Rồi đồng lòng
hiệp sức làm toại chí cha ông. Khai thác nền móng, mở
rộng quy mô, đắp tô tượng Phật, khắc chạm muôn hình.
Điện Phật xây phía trước, nhà Tăng bọc phía sau. Bệ thờ
đỡ bằng rồng đá, chạm khắc cực tài khéo nhân gian; điện
Phật lợp bằng ngói hoa, mái vươn cao suốt ngoài mây
thẳm. Thềm xếp đá vân, sân bày hoa lạ. Gió thổi ngọn
tùng, phảng phất tựa cung trời vang tiếng sáo; trăng rây
trúc biếc, lung linh như cõi Phật toả hào quang. Cổ thụ
sum suê, giống hệt cội Bồ đề tươi tốt; vườn kỳ thăm
thẳm, tưởng như mặt đất trải vàng. Hiện lạ bày kỳ, trăm
ngàn biến thái, bút lời khôn tả cho cùng”.
Pháp giới Hoa
tạng xinh đẹp không chỉ được diễn tả bằng văn bia bởi
lợi thế văn xuôi đối xứng của thể loại này và cũng không
phải chỉ bởi ngọn bút tài tình của những nhà thơ thời
thịnh Phật. Pháp giới Hoa tạng còn lộng lẫy bởi cảm nhận
sâu sắc tinh tế của một Thiền sư ngộ đạo bằng những phát
hoạ của thơ phú. Và vì là pháp giới Hoa tạng nên cảnh
lung linh kỳ ảo không chỉ hiển hiện ở Kinh thành Thăng
Long, ở phủ Thanh Hóa, hoặc một vài nơi của đất Đại
Việt, mà khắp nơi trên dãi đất thân thương này, dù là
núi non hẻo lánh cũng vẫn là trụ xứ của đức Tỳ Lô Giá Na
Như Lai, cũng vẫn là trụ xứ của vô số vô lượng chư Phật
trong mười phương ba đời, cũng như của bất khả thuyết
bất khả thuyết hàng Bồ tát đang ngày đêm không ngừng
nghỉ với hạnh tự lợi lợi tha.
Cảnh chùa Hoa Yên
núi Yên Tử của đệ tam tổ Huyền Quang sao mà lộng lẫy đến
lạ, sao mà tự hào đến lạ:
“Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ
Gió tiên đưa đòi bước thần tiên
Bầu đủng đỉnh giang hoà thế giới
Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên
Đất phúc địa nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm
phúc địa
Trời thần tiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sau
Thiền thiên”.
Bởi vì đây là
nơi:
“Đất tựa vàng liền
Cảnh bằng ngọc đúc
Mây năm thức che phủ đền Nghiêu
Núi ngàn tầng quanh co đường Thục
La đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn
Nước suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc
Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui
Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc
Ngàn cây phơi cánh phượng, vườn thượng uyển đoá tốt
rờn rờn
Hang nước tưới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục
Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông
Da điểm đồi mồi, giống hoà vườn trúc
Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành
Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc
Cảnh tốt hoà lành
Đồ tựa vẽ tranh
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo
Nhèn chi Vua Bụt tu hành
Hồ sen trương tán lục
Suối trúc bấm đàn tranh
Ngự sử mai hai hàng chầu rập
Trượng phu tùng mấy chạnh phò quang
Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng
Tử vi bày liệt vị công khanh
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh
Nương am vắng bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mây nhè
nhẹ
Kề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằn vặc, núi
xanh xanh” (Vinh vân yên tự phú, TVLT,
tập 2, tr. 710 -711).
Thử so với khu
vườn Phổ Trang Nghiêm xứ Hải Triều của Ưu bà di Hưu Xả,
một trong những Thiện tri thức trong hành trình học đạo
hạnh Bồ tát của đồng tử Thiện Tài để thấy tự hào trước
tài hoa của những người con Phật thời Trần:
Vườn Phổ Trang
Nghiêm tường rào bao bọc bằng các thứ báu, cây báu giăng
hàng trang nghiêm. Vô số những cây hoa báu rải những
diệu hoa khắp mặt đất. Vô số cây hương báu toả hương
thơm ngào ngạt xông khắp mười phương. Vô số cây tràng
hoa báu mưa tràng hoa báu lớn rủ xuống khắp nơi. Vô số
cây ma ni báu mưa đại ma ni báu rải khắp mọi nơi. Vô số
cây y báu mưa y phục báu nhiều màu tuỳ sở nghi giăng
trải quanh vườn. Vô số cây âm nhạc gió động thành tiếng
êm diệu hơn thiên nhạc. Vô số cây trang nghiêm mưa những
vật trân ngoạn kỳ đặc trần thiết nghiêm sức khắp nơi.
Mặt đất trong
vườn thanh tịnh không cao thấp. Lại có trăm vạn điện
đường xây bằng ma ni báu. Có trăm vạn lầu gác, vàng diêm
phù đàn che trùm phía trên; trăm vạn cung điện, Tỳ lô
giá na ma ni xen lẫn trang nghiêm; một vạn ao tắm các
báu hiệp thành; lan can bảy báu bao bọc giáp vòng; thềm
đường bảy báu phân bổ bốn phía; nước tám công đức đứng
lặng đầy ao, hương thơm như chiên đàn. Cát vàng trải đáy
ao. Nhiều loại chim đẹp du chơi trong đó hót tiếng hoà
nhã. Cây báu đa la hàng liệt bao vòng, lưới báu giăng
trùm, rủ những linh vàng, gió nhẹ rung thường vang tiếng
diệu. Giăng màn báu lớn, dựng vô số ma ni tràng báu toả
ánh sáng chiếu khắp trăm ngàn do tuần.
Trong đó lại có
trăm vạn ao, bùn hắc chiên đàn ngưng đọng đáy ao. Vô số
hoa sen báu nở khắp trên mặt nước. Hoa đại mai ni chiếu
rực .
Trong ao lại có
cung điện rộng lớn tên là Trang nghiêm tràng hải tạng,
diệu bảo làm nền, tỳ lưu ly làm cột, diêm phù đàn che
trên, trang nghiêm bằng ma ni sáng, vô số báu vật sáng
rực khắp nơi.
Lầu nhiều tầng
giáp với gác nhiều thứ trang sức a lô na hương, giác ngộ
hương, tất cả đều toả hương thơm xông khắp mọi nơi.
Trong cung điện
lại có vô số toà hoa sen báu trần thiết giáp vòng, như
là toà báu ma ni chiếu sáng mười phương; toà báu hoa sen
tỳ lô giá na; toà báu hoa sen chiếu sáng thế gian, toà
báu hoa sen sư tử tạng; toà báu hoa sen ly cấu tạng; toà
hoa sen báu phổ môn ma ni; toà hoa sen báu quang nghiêm
ma ni; toà hoa sen báu an trụ đại hải tạng; toà hoa sen
báu kim cang sư tử.
Trong vườn lại có
trăm vạn thứ màn, như là màn y phục, màn tràng hoa, màn
hương, màn hoa, màn cảnh, màn ma ni, mà chơn kim, màn đồ
trang nghiêm, mà âm nhạc, màn tượng vương thần biến, màn
mã vương thần biến, màn ma ni bảo của thiên đế trang
sức.
Lại có trăm vạn
mành lưới báu giăng che phía trên, như là lưới bảo linh,
lưới bảo cái, lưới bảo thân, lưới hải tạng trân châu,
lưới ma ni lưu ly, lưới ma ni sư tử, lưới ma ni nguyệt
quang, lưới ma ni nhiều hình tượng, lưới anh lạc báu.
Lại có trăm vạn
ánh sáng chiếu soi, như là ánh sáng báu ma ni, ánh sáng
báu minh nhật, ánh sáng báu hương diệm, ánh sáng báu
thắng tạng, ánh sáng báu diệm tràng, ánh sáng báu đại
đăng, ánh sáng báu chiếu khắp mười phương.
Thường mưa trăm
vạn đồ trang nghiêm, trăm vạn hương hắc chiên đàn vang
ra âm thanh vi diệu, trăm vạn hoa mạn đà la hơn hoa cõi
trời, trặm vạn chuỗi ngọc hơn chuỗi cõi trời, trăm vạn
tràng hoa báu đẹp hơn cõi trời thòng xuống khắp nơi,
trăm vạn y phục nhiều màu hơn cõi trời, trăm vạn báu ma
ni chiếu sáng khắp nơi, trăm vạn thiên tử vui mừng chiêm
ngưỡng, đầu mặt đảnh lễ, trăm vạn thiên nữ ở giữa hư
không bay xuống, trăm vạn Bồ tát cung kính thân cận
thường thích nghe pháp”
(Phẩm
Nhập pháp giới, tr.
164- 167).
Cảnh chùa thời
Trần ở Đại Việt tuy cũng rất lộng lẫy trang nghiêm,
nhưng lại rất gần gũi thân thương với người bản xứ. Rõ
ràng cảnh đẹp Hoa Nghiêm đã làm nền, làm cái tổng thể,
để cho nét vẽ điểm tô hoa lá, tùng trúc núi mây, suối
reo chim hót, hoa nở vượn cười, Phật hiện từ bi, Thiền
sư ngồi thiền định được ánh lên bằng tâm thức của dân
tộc Việt. Và chính cái riêng biệt này đã ảnh hiện trong
nó cái tổng thể của pháp giới Hoa tạng, riêng mà chung,
chung mà riêng, hai mà một, một mà hai.
Hoạt cảnh trong
chùa Đại Việt cũng không khác gì hoạt cảnh của pháp hội
Hoa Nghiêm. Bởi vì Phật ở pháp hội Hoa Nghiêm vì lòng từ
bi mà nhập tam muội, mà dùng thần lực gia trì cho các Bồ
tát, để các Bồ tát đủ điều kiện trí bi phương tiện mà
thực hành hạnh nguyện tự độ độ tha, tạo nên một Phật
quốc vô cùng sống động. Phật ở chùa Đại Việt cũng vậy,
cũng “Hiện từ bi” và sức gia bị để cho tất cả những
người con Phật trên đất Đại Việt đều là: “Bồ tát trang
nghiêm, trượng phu trung hiếu”.
Cỏ cây hoa lá,
dòng suối, ngọn núi ở Đại Việt cũng thế, cũng đều phát
ra âm thanh êm diệu, ánh hiện một thứ ánh sáng lung
linh, đều có tác dụng làm cho người con Phật lắng lại
với mình, quay về với bản tính Như như bất động của
mình, không bị nghiệp thức kéo lôi, mà lại trọn vẹn với
tinh thần của tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả, hoặc với
tinh thần của lục Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ… Quả thực, yêu làm
sao ngôi chùa Đại Việt!
2.2. Đồng tử Thiện Tài trong kinh
Hoa Nghiêm
Hoạt cảnh cuối
cùng được xuất hiện bởi sức thần biến của Phật Đà ở
giảng đường Trùng các Đại Trang Nghiêm thuộc Tinh xá Kỳ
Thọ Cấp Cô Độc viên trong Vương quốc Thất La Phiệt là
hoạt cảnh được dàn dựng để giới thiệu về hành trình tu
học thật gian khổ và cũng quá ly kỳ của đồng tử Thiện
Tài.
Đồng tử Thiện Tài
vốn là người con của đất Phước Thành, nơi có khu rừng
Trang Nghiêm Tràng Ta La, là chỗ có Đại tháp miếu mà chư
Phật thuở xưa từng an trú để hóa độ chúng sanh; và là
nơi mà đức Thích Ca khi tu hạnh Bồ tát đã từng xả bỏ vô
lượng vô biên sự khó xả bỏ, tiếng vang động khắp chư
Phật mười phương ba đời, vì thế khu rừng này luôn được
sự bảo hộ và cúng dường của trời, rồng, Càn thát bà, A
tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và
phi nhân.
Theo ghi nhận
trong phẩm Nhập pháp giới, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi giới
thiệu về thân thế của đồng tử này như sau:
“Đồng tử Thiện
Tài lúc mới vào thai mẹ, trong nhà đó tự nhiên hiện ra
lầu gác thất bảo. Dưới lầu gác đó có bảy phục tạng. Trên
phục tạng đất tự nứt ra, mọc lên nanh thất bảo: Vàng,
bạc, lưu ly, trân châu, pha lê, xa cừ, mã não.
Sau mười tháng,
Thiện Tài được sinh ra, thân hình tay chân đoan chánh
đầy đủ. Lúc đó bảy phục tạng từ đất trồi lên, ánh sáng
chói rực. Mỗi tạng báu ngang dọc cao thấp đều vuông vức
bảy thước tay. Trong nhà đó lại tự nhiên có năm trăm món
đồ bằng thất bảo, mọi vật được đựng đầy trong đó. Những
là trong chậu kim cang đựng tất cả thứ hương thơm; trong
chậu hương đựng các thứ y phục; trong bát mỹ ngọc đựng
các thứ thực phẩm thượng diệu; trong bát ma ni đựng các
thứ trân bảo đẹp lạ; bình vàng đựng bạc, bình bạc đựng
vàng; trong bình vàng bạc đựng đầy ngọc lưu ly và ma ni;
trong bình pha lê đựng đầy xa cừ; trong bình xa cừ đựng
đầy pha lê; trong bình mã não đựng đầy trân châu; trong
bình trân châu đựng đầy mã não; bình hoả ma ni đựng đầy
thủy ma ni; bình thủy ma ni đựng đầy hoả ma ni. Năm trăm
đồ đựng châu báu như vậy tự nhiên xuất hiện. Nơi đó lại
mưa các châu báu và những tài vật khác làm cho những kho
đụn trong nhà đều đầy ngập.
Vì cớ này mà
cha mẹ thân thuộc và tướng sư đều gọi đứa trẻ ấy là
Thiện Tài. Thiện Tài đã từng cúng dường chư Phật quá
khứ, gieo trồng căn lành, tin hiểu rộng lớn, thường
thích gần gũi các Thiện tri thức, thân ngữ ý đều không
lỗi lầm, tu đạo Bồ tát, cầu Nhất thiết trí, thành pháp
khí của Phật. Tâm đồng tử này thanh tịnh như hư không,
hồi hướng Bồ đề không chướng ngại” (tr. 94- 96).
Và đó là nguyên
nhân để Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đích thân giảng dạy Phật
pháp cho Thiện Tài, rồi sau đó giới thiệu Thiện Tài đi
cầu học đạo hạnh Bồ tát với các Thiện tri thức. Trải qua
không biết bao nhiêu dặm đường, bao nhiêu thành ấp, xóm
làng, quốc gia; khắc phục không biết bao nhiêu khó khăn
gian khổ trên đường đi; chứng kiến không biết bao nhiêu
cảnh tượng vui có, buồn có, trang nghiêm lộng lẫy có,
khổ đau khủng khiếp có; biểu hiện không biết bao nhiêu
là cung bậc cảm xúc, lúc thì sướng vui đến tột cùng, lúc
thì nghi ngờ lo sợ đến ngất lịm; Bà la môn cũng gặp,
Thuỷ thủ cũng tham bái, Quốc vương cũng hướng đến, kỹ nữ
cũng khẩn cầu, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắt, Ưu bà di,
Đồng nam, Đồng nữ, Dạ thần, Phật mẫu, Trưởng giả, Thọ
thần… không một hạnh Bồ tát nào mà Thiện Tài không thiết
tha học hỏi, quán sát, tư duy, trải nghiệm, để cuối cùng
gặp lại Văn Thù, hoà nhập làm một với Phổ Hiền, với chư
Phật, trọn vẹn hạnh “Thượng cầu hạ hóa”.
Chứng kiến hành
trình tu học quá kỳ vĩ nhưng lại rất thiết thân của đồng
tử Thiện Tài, Thượng Sĩ Tuệ Trung đã dứt khoát chỉ dạy
cho đại chúng nên noi theo gương lớn đó mà tu mà học, để
không uổng phí một kiếp làm người. Ngài dạy:
“Người đời ưa vọng chẳng ưa chân
Chân vọng tâm kia cũng là trần
Nếu muốn một lần lên bờ giác
Hãy xem Đồng tử gặp tiền nhân”.
(Thị chúng, TVLT, tr 231).
Thật vậy, người
thế gian thích tâm vọng, thích dối hơn thật, không thích
chân tâm, người học Phật lại thích chân tâm, thích thật
hơn dối, không thích vọng tâm. Song cho dù là tâm nào,
chân hay vọng đều chỉ là hạt bụi mà thôi, đều không bền
chặt, nếu còn chấp thì còn luân hồi sanh tử, còn ràng
buộc bởi nghiệp báo nhân quả. Muốn giác ngộ thực sự, một
lần buông bỏ hết, một lần bước hẳn sang bờ bên kia thì
phải học đạo hạnh cầu Thiện tri thức của đồng tử Thiện
Tài.
Bởi vì sao? Vì
đồng tử Thiện Tài chỉ phải trải qua một kiếp hiện tại
thôi mà đã trọn vẹn công hạnh của Bồ tát rồi. Theo kinh
điển Phật giáo, thông thường người học Phật muốn thành
Phật phải tu học trong suốt ba a Tăng kỳ kiếp. Mà theo
cách tính trong Từ điển phật học Hán Việt, A tăng
kỳ được dịch là Vô số, hoặc Vô lượng số, một A tăng kỳ
là vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu, nói cho rõ hơn
thì một A tăng kỳ là 1 rồi thêm bốn mươi bảy số 0 đằng
sau (tr. 36).
Vậy mà, đồng tử
Thiện Tài không những chỉ tu học trong một kiếp, mà một
kiếp đó cũng không còn là một kiếp nữa, có thể chỉ là
một niệm, bởi vì, theo sự dung hợp vô ngại của tinh thần
Hoa Nghiêm, một niệm bao hàm vô lượng vô biên bất
khả thuyết kiếp suốt quá khứ hiện tại vị lai. Không gian
trong hành trình tu học của đồng tử Thiện Tài cũng vậy,
cho dù đồng tử đã đi qua rất rất nhiều nơi, nhưng cuối
cùng kết thúc cuộc hành trình đó, đồng tử không cần quay
về ngần ấy đoạn đường mà vẫn gặp được Bồ tát Văn Thù,
rồi từ trong giây phút đó, được gặp Phổ Hiền, nhập làm
một với Phổ Hiền, làm một với chư Phật. Vô số sự kiện,
cảnh tượng, việc tu học trong vô lượng vô biên bất khả
thuyết kiếp của năm mươi ba Thiện tri thức lại được thị
hiện chỉ dạy cho Thiện Tài chỉ trong tích tắt của hiện
tại miên viễn cả thời gian lẫn không gian.
2.3. Kinh Hoa Nghiêm
Như trên đã nói,
Hoa Nghiêm là bộ kinh được chính thức đưa vào
giảng dạy trong các Thiền viện đương thời song song với
các kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Bát Nhã
Tâm Kinh… và các lục như Đại Tuệ ngữ lục,
Dã Hiên ngữ lục…
Song, vì Hoa
Nghiêm là một bộ kinh tương đối lớn, nên việc giảng
dạy thường trải qua một thời gian dài, và thường được
giảng theo từng hội một trong kinh. Điều này thể hiện rõ
ở thời tổ Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm.
Có thể có một câu
hỏi đặt ra ở đây rằng vì sao tinh thần Hoa Nghiêm
thấm đẫm trong mọi lĩnh vực của văn hóa Phật giáo thời
Trần như vậy, mà lại chỉ đến thời tổ Phổ Tuệ thì kinh
điển này mới được giảng dạy rộng rãi và được chính thức
ghi nhận trong tư liệu? Vì theo những ghi chép trong Bia
tháp Viên Thông thì hầu hết những buổi thuyết giảng
Hoa Nghiêm đều theo lời thỉnh nguyện của giới xuất
gia và tại gia trong hoàng thất nhà Trần.
Có lẽ câu trả lời
là vì từ thời Thái Tông đến thời Nhân Tông, đất nước Đại
Việt trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Ba lần chống
giặc Nguyên, mấy lần dẫn quân giúp, dẹp sự quấy nhiễu
của Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao, cả nước, cả dân tộc,
không phân biệt thành phần xã hội đều đóng góp sức lực
của mình cho công cuộc bảo vệ trị an đất nước, mãi cho
đến khi Nhân Tông xuất gia, đất nước khá yên bình ổn
định rồi, việc củng cố giáo hội, truyền bá rộng rãi giáo
điển đến cho mọi tầng lớp được quan tâm nhiều hơn.
Vả lại, cứ mỗi
lần giặc Nguyên dẫn quân sang xâm lược, chùa chiền Đại
Việt cũng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, tư liệu ghi chép
hoạt động Phật giáo trong lúc này khó bảo tồn nguyên
vẹn, việc mất mát thiếu thốn âu cũng là lẽ thường tình.
Tuy vậy, trước đó, dù Hoa Nghiêm không được diễn
giảng cho số đông Phật tử như thời tổ Pháp Loa, nhưng
chắc chắn ở các Thiền viện, việc này vẫn được thực hiện
giữa chư Tăng với nhau. Hoặc cũng như thời Lý, cả bộ
Kinh Hoa Nghiêm tuy không được diễn giảng trọn
vẹn, nhưng một câu kệ, một mẫu chuyện, một đoạn kinh
trong Hoa Nghiêm vẫn được thường xuyên trích dẫn
giảng dạy.
- Câu hỏi đáp đầu
tiên trong Ngữ lục vấn đáp môn hạ của Vua Trần
Thái Tông, chúng ta đã có thể bắt gặp hình ảnh của kinh
Hoa Nghiêm khi người hỏi và người đáp đều vận
dụng nó:
“Một hôm Vua
chơi chùa Chân Giáo, Thiền sư Đức Thành người Tống tiến
lên hỏi:
Đức Thế Tôn
chưa rời Đâu Suất đã giáng xuống cung Vua, chưa lọt lòng
mẹ đã độ hết chúng sanh là thế nào?
Vua đáp:
Muôn sông có nước trăng muôn sông
Vạn dặm không mây trời vạn dặm.
Tăng nói:
Chưa rời Đâu Suất, lọt bào thai
Chỉ bảo phân minh đã rõ rồi
Đâu Suất, bào thai nay đã tách
Dám mong phân giải một đôi lời.
Vua nói:
Mây sinh Nhạc đỉnh bềnh bồng trắng
Nước đến Tiêu Tương một sắc xanh”.
(TVLT , tr. 104, 106).
Hình ảnh của câu
hỏi đáp này chính là cách trả lời vô cùng súc tích, hết
sức đặc biệt, lại rất trực tiếp của các Thiền sư Trung
Hoa hay Đại Việt từ hình ảnh phong phú nhiệm mầu, lung
linh siêu tuyệt trong con mắt các Thiền sư Ấn Độ được
ghi nhận trong Kinh Hoa Nghiêm qua cuộc hội ngộ
hỏi đáp giữa Bồ tát Di Lặc với đồng tử Thiện Tài ở phẩm
Nhập pháp giới của Kinh Hoa Nghiêm:
“Lại ở nơi những
lầu gác trong tháp Đại trang nghiêm này, mỗi lầu gác đều
cao rộng trang nghiêm tối thượng, trong đó đều thấy đại
thiên thế giới, trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức Đâu Suất
thiên, mỗi mỗi đều có Bồ tát Di Lặc giáng thần đảnh
sanh. Thích, Phạm, Thiên vương ẵm bồng cung kính. Bồ tát
sơ sanh kinh hành bảy bước, nhìn xem mười phương, tuyên
bố độc tôn, làm đồng tử, ở cung điện, dạo chơi vườn ngự,
vì cầu Nhất thiết trí mà xuất gia khổ hạnh, thị hiện
nhận cháo sữa, đến ngồi đạo tràng, hàng phục ma quân,
thành Đẳng chánh giác, quán sát cây Bồ đề, Phạm vương
thỉnh chuyển pháp luân, lên cung trời mà thuyết pháp,
kiếp số thọ lượng, chúng hội trang nghiêm, nghiêm tịnh
quốc độ, thực hành hạnh nguyện, phương tiện giáo hóa,
thành thục chúng sanh, thị hiện Niết bàn, phân chia xá
lợi, trụ trì giáo pháp, những sự việc chẳng đồng như vậy
thảy đều thấy rõ.
Lại thấy bốn phía
vách trong mỗi bước đều dùng châu báu trang nghiêm.
Trong mỗi châu báu đều hiện hình Di Lặc thuở kiếp xưa tu
hành đạo Bồ tát: Hoặc bố thí đầu mắt tay chân, môi lưỡi
răng nướu, máu thịt da xương; hoặc bố thí vợ con, thành
ấp, tụ lạc, quốc độ, ngôi Vua. Làm cho người ở lao tù
thì được ra khỏi; kẻ bị trói buộc thì được cởi mở; người
bệnh được lành; người lạc đường biết đường chánh; hoặc
thấy Di Lặc làm thuyền sư đưa mọi người qua biển lớn;
hoặc làm mã vương cứu hộ ác nạn; hoặc làm đại tiên khéo
giảng luận thuyết; hoặc làm luân vương khuyên tu thập
thiện; hoặc làm y vương khéo chữa các bệnh; hoặc hiếu
thuận cha mẹ; hoặc thân cận thiện hữu; hoặc làm Thanh
văn, Duyên giác, Bồ tát; hoặc làm Như lai giáo hóa điều
phục tất cả chúng sanh; hoặc làm pháp sư phụng hành Phật
pháp, thọ trì, đọc tụng, tư duy đúng lý; lập tháp Phật,
tạo tượng Phật; hoặc mình cúng dường, hoặc khuyên người
cúng; thoa hương, rải hoa, cung kính lễ bái. Những sự
như trên thực hành không dứt.
Hoặc thấy Bồ tát
Di Lặc ngồi toà sư tử, thuyết pháp khuyên chúng sanh an
trụ thập thiện, nhất tâm quy hướng Tam bảo, thọ trì năm
giới và tám giới, xuất gia nghe pháp, thọ trì, đọc tụng,
tu hành đúng pháp…”
(tr. 762, 768, 776).
Rõ ràng theo quan
niệm thông thường, Bồ tát Di Lặc hiện là Bồ tát “Nhất
sanh bổ xứ”, tức là Bồ tát còn một đời nữa mới thành
Phật, hiện đang ở cung trời Đâu Suất, đợi đến thời kỳ mà
đức Thích Ca thọ ký trong Kinh Di Lặc hạ sanh mới
được giáng xuống vương cung, mới có việc vào thai mẹ,
rồi việc tu học độ sanh… nhưng tất cả hành trình của Bồ
tát từ quá khứ, hiện tại đến tương lai đều đã được thực
hiện, đều đang hiện hữu trong lầu gác Tỳ lô giá na này,
Thiện Tài đã thấy rất rõ, rất cụ thể, và không chỉ có ở
một nơi mà khắp cả cõi nước mười phương trong suốt ba
đời đều hiện hữu những sự kiện đó. Thế nên Vua Thái Tông
mới khẳng định rằng: “Ngàn sông có nước ngàn ánh
trăng hiện; muôn dặm không mây muôn dặm trời xanh”.
Việc độ sanh,
thành Phật của Bồ tát, Như Lai ngàn xưa vẫn vậy, chỉ vì
chúng sanh có phân biệt nên mới thấy có việc giáng thần,
nhập thai ở một thời điểm nào đó hoặc ở một địa vực nào
đó. Khi nào hết phân biệt, khi nào giác ngộ, thấy được
bản tính của vũ trụ và con người, câu hỏi trên sẽ không
còn được đặt ra nữa, và cũng không còn thấy có Phật độ
sanh, chúng sanh được Phật độ… Hơn nữa, khi đã thành
Phật thì mọi việc phương tiện độ sanh của chư Phật mười
phương ba đời đều thế, đâu chỉ có đức Thích Ca, hay đức
Di Lặc mới có. Đó quả là: “Mây sinh đỉnh Nhạc bồng
bềnh trắng, nước đến Tiêu Tương một sắc xanh”.
- Trong phần
Tụng cổ, tức là hình thức tụng giải về những lời dạy
của Phật trong kinh điển hoặc những pháp thoại, những
lời khai thị của chư cổ đức, nhằm giúp Thiền sinh giác
ngộ được thực tướng của các pháp, giác ngộ được Bản lai
diện mục của mình, Thượng Sĩ Tuệ Trung có đáp lời hỏi về
một bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm cho một Thiền
sinh được ghi nhận trong Tuệ Trung ngữ lục như
sau:
“Kinh Hoa
Nghiêm dạy:
Tất cả pháp không sanh
Tất cả pháp không diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền.
Thầy nói:
Xem! Xem!
Lại nói:
Lớn giọng bảo im
Bỏ bánh ăn bột.
Hét.
Tụng:
Đầu vàng (Phật) khua lưỡi gạt chúng sanh
Chốn chốn ngủ say, dạo một mình
Chẳng quản đêm tàn còn mộng mị
Đinh đông cửa phượng giục tàn canh”.
(Thích Thanh Từ,
Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục giảng giải, tr.
231).
Hòa thượng Thích
Thanh Từ cũng đã giảng giải rõ ý nghĩa của bài tụng cổ
này, xin ghi lại để chư vị hiểu thêm:
Kinh Hoa
Nghiêm day: “Tất cả pháp không sanh, tất cả pháp không
diệt, nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền”.
Đức Phật nói:
Tất cả pháp không sanh, tất cả pháp không diệt, nếu
chúng ta hằng thấy như vậy thì Phật thường hiện tiền ở
nơi ta.
Thượng Sĩ nói:
Xem! Xem! Để chỉ? Thấy chư Phật hiện tiền không? Nếu chư
Phật hiện tiền thì cứ nhìn sẽ thấy.
“Lớn giọng bảo
im, bỏ bánh ăn bột”. Ở đây nói tất cả pháp chẳng sanh,
tất cả pháp chẳng diệt, vậy pháp chẳng sanh pháp chẳng
diệt là pháp ở ngoài hay ở nơi mình? Nếu thấy tất cả
pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, hay hiểu như
thế thì chư Phật thường hiện tiền. Mà thấy ở bên ngoài
thì chẳng khác nào chúng ta bảo người khác đừng nói
chuyện trong khi mình lại lớn tiếng la lên: Im, đừng nói
chuyện. Bảo người đừng nói chuyện mà mình lại la to,
giống như muốn ăn bánh mà bỏ bánh lấy bột.
Ý ngài nói tại
sao chúng ta không thấy mình là chẳng sanh chẳng diệt,
mà lại thấy tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt, mới thấy
được Phật hiện tiền? Nếu tâm mình chẳng sanh chẳng diệt
thì Phật hiện tiền nơi mình, đâu có xa. Ngài cho rằng
thấy các pháp chẳng sanh chẳng diệt như vậy là quanh co.
Đó là bỏ cái này để cầu cái kia.
“Đầu vàng khua
lưỡi gạt chúng sanh, chốn chốn ngủ say, dạo một mình”.
Đầu vàng là chỉ cho đức Phật, khua lưỡi gạt chúng sanh
là lời Phật nói trong kinh gạt chúng ta. Gạt như thế
nào? Vì chúng sanh còn đang say mê, Phật dạy quán tất cả
pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt. Như vậy, bảo họ
quán là chỉ cho họ còn những cái say mê, nên nói chốn
chốn ngủ say, dạo một mình. Ai dạo? Thiên hạ thì đang
ngủ say, còn Phật thì đi có một mình, thành ra ngài đánh
lừa mình đi một cách tự do.
“Chẳng quản
đêm tàn còn mộng mị, đinh đông cửa phượng giục tàn
canh”. Đêm đã mãn rồi mà vẫn còn mê ngủ, tiếng kiểng ở
đền Vua báo sáng rồi mà vẫn còn nằm ngủ. Ý nói Phật nói
tất cả chẳng sanh, tất cả chẳng diệt, nếu hay hiểu như
thế, chư Phật thường hiện tiền, đó là Phật nói lừa chúng
ta. Thượng Sĩ nói nếu tâm chẳng sanh chẳng diệt thì ngay
đó là Phật rồi, cần gì phải thấy các pháp chẳng sanh
chẳng diệt chi cho lòng vòng. Nhưng sở dĩ Phật nói như
thế vì chúng sanh mê chấp các pháp là sanh là diệt, nên
ngài dạy đừng chấp các pháp. Đa số chúng ta thấy các
pháp không sanh không diệt là thấy Phật hiện tiền, tức
là thấy Phật ở ngoài mình, sự thực thì Phật hiển hiện ở
tự tâm mình. Thế nên Thượng Sĩ nói Phật khua lưỡi gạt
chúng sanh. Tại sao Phật gạt chúng sanh? Vì chúng sanh
đang mê ngủ, mặc dù đã tàn canh, tiếng kiểng đánh thức
mà vẫn cứ ngủ. Chỉ có một mình Phật mới là người tỉnh,
mới dùng phương tiện đánh lừa, bảo phải thấy tất cả pháp
không sanh không diệt là thấy phật hiện tiền, tức là
nhận ra phật ở ngay nơi mình” (tr. 232-234).
Đọc lời dạy này
của Thượng Sĩ Tuệ Trung chúng ta lại nhớ đến hình ảnh
Vua Thái Tông bỏ lại sau lưng cung vàng điện ngọc lên
núi Yên Tử để cầu làm Phật thuở nào trong Thiền tông
chỉ nam tự:
“Lão Tăng ở
nơi sơn dã đã lâu, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nuốt
trái rừng, chơi cảnh ngàn, uống nước suối, lòng như mây
nổi, theo gió đến đây. Nay Bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm
sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay Bệ hạ muốn cầu điều
gì mà đến chốn này?
Trẫm nghe Sư
nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng:
Trẫm đương trẻ
thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không
chỗ tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các Đế vương thuở
trước, thay đổi bất thường, cho nên tìm đến núi này, chỉ
muốn được thành Phật chứ không cầu gì khác. Sư nói:
Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng.
Lòng lặng lẽ mà sáng suốt, đó chính là chân Phật. Nay
nếu Bệ hạ giác ngộ được điều đó, thì lập tức thành Phật,
không cần khổ tâm tìm kiếm bên ngoài” (TVLT
tập 2, tr. 28).
Chỉ có thế, lòng
lặng mà sáng suốt đã là Phật, là Phật rồi thì lúc nào
Phật không hiện hữu, đâu đợi quán các pháp chẳng sanh
chẳng diệt hay quán:
“Các pháp do duyên sanh
Các pháp do duyên diệt
Duyên sanh các pháp sanh
Duyên diệt các pháp diệt”.
Như kinh điển
dạy. Bởi vì, chấp sanh diệt là một mê lầm, mà chấp không
sanh không diệt cũng là một mê lầm, cả hai cách chấp đều
mê lầm, chỉ khi nào chúng sanh tự tại với cái nhìn tương
đối về bản thân cũng như vạn hữu thì chúng sanh là Phật.
- Vua Trần Nhân
Tông trước khi thị tịch cũng đã đem bài kệ Kinh Hoa
Nghiêm trên mà giảng dạy cho Thiền sư Bảo Sát, người
đệ tử duy nhất thân cận bên người vào giây phút cuối
cùng:
“Tất cả pháp không sanh
Tất cả pháp không diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền
Sao có chuyện đến đi” (Toàn tập Trần Nhân Tông,
tr. 225).
Trên kia Thượng
Sĩ Tuệ Trung bảo rằng vì chúng sanh mê ngủ nên Phật mới
nói như thế gạt chúng sanh, còn ở đây Thượng hoàng cũng
bảo Thiền sư Bảo Sát im đi, đừng nói mớ, đừng nói lời
nói trong giấc ngủ. Cảnh giới đạt ngộ của chư Phật chư
Tổ là thế, dù phương tiện độ sanh có muôn ngàn cách
thức, mục đích cuối cùng vẫn chỉ là một, cái nhìn của
con mắt tuệ là chẳng khác nhau.
- Từ khi được đệ
nhất tổ Trúc Lâm truyền trao việc kế thừa gia phong của
ngài, đệ nhị tổ Pháp Loa đêm ngày tích cực hoằng dương
Phật pháp. Đất nước Đại Việt cũng đã bước vào thời kỳ
yên ổn, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội đều
đang trên đà phát triển rực rỡ. Hoàng thân quốc thích,
quần thần bách tính đều có nhiều thời gian hơn cho việc
hướng Phật, giáo hội Phật giáo được chính thức hoạt động
thống nhất theo một quy củ dưới sự giám sát của triều
đình.
Việc học hiểu sâu
rộng tư tưởng giáo điển của Phật được mọi thành phần xã
hội coi trọng, những buổi thuyết giảng kinh điển với quy
mô lớn cho đông đảo Tăng tục được đệ nhị tổ cũng như
triều đình thường xuyên tổ chức. Song, kinh điển được
đem ra diễn giảng ở thời kỳ này không dừng lại ở những
bộ kinh bộ lục ngắn gọn, mà những bộ kinh lớn như
Niết Bàn, Lăng Nghiêm… đã lần lượt được
thuyết giảng, đặc biệt nhất là Kinh Hoa Nghiêm.
Bắt đầu từ năm
Hưng Long thứ mười tám (1310), nhân đại lễ Vu Lan cầu
siêu cho Vua cha Trần Nhân Tông, Vua Anh Tông xuống
chiếu mời tổ Pháp Loa về hành lễ và giảng giải đại chỉ
Kinh Hoa Nghiêm, và trong suốt cuộc đời hành đạo
của mình, tổ đã liên tục giảng giải cả chín hội Kinh
Hoa Nghiêm theo lời thỉnh cầu của Hoàng thân quốc
thích cũng như những người học đạo khác, ở những pháp
hội Hoa Nghiêm đó số lượng thính chúng có đến
hàng ngàn người, và bộ kinh này không phải chỉ được đem
ra giảng giải một lượt, mà nó được diễn giảng nhiều lần,
tuỳ theo căn cơ tiếp nhận của người học Phật.
Điều đó được ghi
nhận cụ thể trong Bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai: “Năm
Hưng Long thứ mười tám, tháng bảy, phụng chiếu đến dự
đại lễ Vu lan được tổ chức để cầu siêu cho Thượng hoàng
Nhân Tông, Sư thăng đường giảng tôn chỉ yếu lược của
Kinh Hoa Nghiêm.
Năm Đại Khánh
thứ tám (1321) hoà thượng Thu Tử trụ trì chùa
Hiển Linh Diên Quang thỉnh sư về chùa giảng phẩm Thập
địa của kinh Hoa Nghiêm.
Năm Đại Khánh
thứ chín (1322) Thượng phẩm Hoài Ninh Hầu Trịnh
Trọng Tử muốn thỉnh Sư về giảng hết chín hội Kinh Hoa
Nghiêm. Đến đây, Hoài Ninh Hầu và Chủ sự Tăng Huyền
Quang dâng sớ thỉnh Sư về chùa Báo Ân Siêu Loại, giảng
hội thứ hai của Kinh Hoa Nghiêm. Chín hội kinh được
giảng sau đó, thính chúng dự nghe nhiều thì hơn ngàn
người, ít thì hơn năm sáu trăm người. Tháng ba, Nhân Huệ
Đại Vương thỉnh Sư về chùa Xí Thạnh Quang giảng hội thứ
hai của Kinh Hoa Nghiêm.
Năm Đại Khánh
thứ mười (1323), lúc Sư bốn mươi tuổi, Công chúa
Bảo Vân thỉnh Sư về chùa Siêu Loại giảng hai hội ba và
bốn của Kinh Hoa Nghiêm, Bảo Từ Hoàng thái hậu, Tư đồ
Văn Huệ Vương thỉnh Sư về chùa Quỳnh Lâm giảng hội năm
Kinh Hoa Nghiêm.
Năm Khai Thái
thứ nhất (1324), tháng hai, Chiêu Từ Hoàng thái
phi xuống nội chỉ thỉnh Sư về phủ Kiến Xương giảng hội
sáu Kinh Hoa Nghiêm…; tháng mười hai Bảo Huệ Quốc mẫu
thỉnh Sư về Dưỡng Phúc đường giảng hội bảy Kinh Hoa
Nghiêm.
Năm Khai Thái
thứ hai (1325), Công chúa Hoa Dương thỉnh Sư về
chùa Thiên Quang giảng hội tám Kinh Hoa Nghiêm, Bảo Từ
Hoàng thái hậu xuống chỉ thỉnh Sư về chùa Quỳnh Lâm
giảng hội chín Kinh Hoa Nghiêm.
Năm Khai Hựu
thứ hai (1330), Sư bốn mươi bảy tuổi, ngày mười
lăm tháng giêng, Đại sư An Lạc Kiên Đức và Lệ Bảo
Công chúa thỉnh Sư về viện An Lạc Tạng giảng lại hội một
hội hai Kinh Hoa Nghiêm…”.
Theo sự phân chia
của Kinh Hoa Nghiêm tám mươi quyển, chín hội kinh
được giảng ở bảy nơi khác nhau:
Hội thứ nhất,
được giảng ở Bồ đề đạo tràng thuộc nước Ma Kiệt Đà, Ấn
Độ, gồm sáu phẩm: Thế chủ diệu nghiêm thứ
nhất, Như Lai hiện tướng thứ hai, Phổ Hiền tam
muội thứ ba, Thế giới thành tựu thứ tư,
Hoa tạng thế giới thứ năm, Tỳ Lô Giá Na thứ
sáu.
Hội thứ hai, được
giảng ở điện Phổ Quang Minh thuộc Bồ đề đạo tràng nước
Ma Kiệt Đà, Ấn Độ, hội này cũng có sáu phẩm kinh: Như
Lai danh hiệu thứ nhất, Tứ thánh đế thứ hai,
Quang minh giác thứ ba, Bồ tát vấn minh
thứ tư, Tịnh hạnh thứ năm, Hiền Thủ
thứ sáu.
Hội thứ ba, được
giảng ở điện Diệu Thắng thuộc cung trời Đế Thích núi Tu
Di, hội này có sáu phẩm kinh được diễn giảng: Thăng
Tu Di sơn đảnh thứ nhất, Tu Di sơn đảnh kệ tán
thứ hai, Thập trụ thứ ba, Phạm hạnh thứ tư,
Sơ phát tâm công đức thứ năm, Minh pháp
thứ sáu.
Hội thứ tư, được
giảng ở điện Bảo Trang Nghiêm thuộc cung trời Dạ Ma, bốn
phẩm kinh được giảng ở hội này: Thăng Dạ Ma thiên
cung thứ nhất, Dạ Ma kệ tán thứ hai, Thập
hạnh thứ ba, Vô tận tạng thứ tư.
Hội thứ năm, được
giảng ở điện Diệu Bảo Trang Nghiêm thuộc cung trời Đâu
Suất Đà, ba phẩm kinh được giảng ở hội này gồm: Thăng
Đâu Suất thiên cung thứ nhất, Đâu Suất kệ tán
thứ hai, Thập hồi hướng thứ ba.
Hội thứ sáu, được
giảng ở điện Ma Ni Bảo Tạng thuộc cung trời Tha Hoá Tự
Tại, hội này chỉ giảng một phẩm kinh, đó là phẩm Thập
địa.
Hội thứ bảy, được
giảng ở điện Phổ Quang Minh thuộc Bồ đề đạo tràng nước
Ma Kiệt Đà, Ấn Độ, hội này có mười một phẩm kinh được
giảng diễn, đó là: Thập định thứ nhất, Thập
thông thứ hai, Thập nhẫn thứ ba, A Tăng kỳ
thứ tư, Thọ lượng thứ năm, Chư Bồ tát trụ xứ
thứ sáu, Phật bất tư nghì thứ bảy, Như
Lai thập thân tướng hải thứ tám, Như Lai
tuỳ hảo quang minh thứ chín, Phổ Hiền hạnh
thứ mười, Như Lai xuất hiện thứ mười một.
Hội thứ tám, được
giảng ở điện Phổ Quang Minh thuộc Bồ đề đạo tràng nước
Ma Kiệt Đà, Ấn Độ, hội này có một phẩm kinh được giảng
dạy, đó là phẩm Ly thế gian.
Hội thứ chín,
được giảng ở Trùng Các Đại Trang Nghiêm trong rừng Thệ
Đa vườn Cấp Cô Độc nước Thất La Phiệt, Ấn Độ, hội này
một phẩm kinh được giảng dạy, đó là phẩm Nhập pháp
giới.
M.T.T.