Những tàn tích vùng Dhauligiri, một làng nhỏ trong bang
Orissa, thường khơi dậy ký ức về một biến cố lịch sử vĩ đại
nằm cách thủ phủ Bhubaneswar của tiểu bang Đông Ấn này chừng
10 km, làng Dhaulirigi vẫn còn giữ được gò đất và con lạch
nhỏ dưới chân gò. Đối với một du khách chiêm bái hay một học
giả chân chính, cả hai vật này đều là bảng chỉ đường về lịch
sử và truyền thống văn hóa Ấn Độ cổ đại. Bên dưới đống đá
lởm chởm và con lạch kia là cả câu chuyện thương tâm về việc
cảm hóa một anh hùng viễn chinh của Ấn Độ thành một sứ giả
nhiệt tình vì hòa bình và nhân ái trên khắp thế giới (A-dục
vương).
Sự kiện này xảy ra trong cuộc đời của vị đại đế cổ Ấn Độ
Asoka (A-dục vương 273 - 236 trước công nguyên) tiếp theo
sau trận chiến Kalinga lẫy lừng, có lẽ đó là chiến trận bạo
tàn nhất từng diễn ra trên đất Ấn. Kể từ năm 231 trước CN,
trận chiến Kalinga đã có khoảng 100.000 người bị giết, hàng
trăm ngàn người thương vong và 150.000 bị bắt làm tù binh.
Ngày nay, vùng Dhauligiri luôn nhắc nhở cho con người thấy
sự vô nghĩa của bạo lực và khiến cho họ phải lắng lòng suy
nghĩ thật sâu sắc.
Đường đi đến Dhauligiri rất dễ dàng, phi cảng gần nhất là
Bhubaneswar, nối với Delhi, Calcutta, Bombay, Hyderabad và
Bangalore. Những chuyến tàu siêu tốc cũng có thể đưa bạn đến
Bhubaneswar từ nhiều đô thị lớn khắp Ấn Độ. Mọi tiện nghi
đều sẵn có trong các khách sạn do Công ty phát triển Du lịch
Orissa quản lý hoặc các nhà trọ tư nhân. Xe buýt và taxi,
sẵn sàng phục vụ ngay tại Bhubaneswar đi đến Dhauligiri và
nhiều thắng cảnh thu hút khách du lịch trong vùng quanh đó
rất dễ ra vào.
Trong khi theo đuổi chủ nghĩa bành trướng một cách bạo tàn,
hoàng đế Asoka đã mở rộng vương quốc khắp mọi phía. Thực ra
ngài đã thừa hưởng một vương quốc khá lớn do vị Tiên vương
để lại, trải dài từ Persia (Iran ngày nay) đến Nam Ấn. Ngài
còn bành trướng thêm bằng cách sáp nhập lãnh thổ Kalinga.
Các sử gia cho rằng vương quốc của ngài là đế quốc vĩ đại
nhất trong lịch sử Ấn Độ - Văn hào H. G. Wells còn miêu tả
ngài là "Đệ nhất Đại đế của xứ sở này".
Song Kalinga là trận chiến thắng cuối cùng của Đại đế Asoka.
Cuối cùng, chính là vì những nỗi khổ đau của kẻ chiến bại và
lòng hối hận của người chiến thắng tràn ngập trong lòng Đại
đế đến mức độ ngài từ giã chiến chinh mãi mãi, vì hoàng đế
ăn năn đã chấp nhận đạo Phật thành một tín ngưỡng được tôn
trọng suốt đời mình và đem hết những năm tháng còn lại ra
sức thuyết giảng giáo lý phổ biến đạo từ bi khắp mọi tầng
lớp quần chúng không chỉ trong quốc độ ngài mà còn vượt cả
biên thùy Ấn Độ mãi cho đến bao đời sau!
Sừng sững giữa di tích ở Dhauligiri là một thạch tượng oai
nghi, đẽo bằng đá tàng, dễ thu hút khách chiêm bái. Thạch
tượng dáng cao cả, đơn độc như là nhân chứng câm lặng và bất
lực trước cuộc chiến kinh hoàng. Người ta cho rằng con suối
nhỏ kia tên là Daya (Từ tâm) cũng đã nhuộm thắm máu đào của
cuộc tàn sát tập thể thời ấy. Đứng bên bờ suối, bạn có cảm
tưởng như con suối kia chảy lờ đờ vì nó vẫn còn mỏi mòn kiệt
quệ với nỗi đau do cuộc chiến Kalinga gây nên. Tàn tích
Dhauligiri vẫn còn đó, suốt đời hậu chiến cho đến bao thế kỷ
hậu lai.
Đặc điểm phi thường nhất trong biến cố trọng đại này là Đại
đế Asoka đã không đổi đời vì bất cứ một động lực chính trị
nào thúc đẩy từ trong nước cũng như ngoài nước, mà đơn thuần
vì lòng từ bi đột nhiên sinh khởi đưa đến sự chuyển tâm toàn
diện, một sự thay đổi trong tư duy lẫn hành động. Ngài vẫn
là vị Đế vương tối thượng đầy đủ mọi uy quyền. Ngài được
quần thần, chư hầu khắp nơi tôn trọng và kiêng oai. Song nỗi
thống khổ do cuộc chiến Kalinga gây ra quá nặng nề đến độ
ngài không thể nào chịu đựng được nữa.
Đại đế Asoka đầy ăn năn liền đi tìm gặp vị danh Tăng thời ấy
là Tỳ kheo Upagupta. Ngài phủ phục trước vị Tỳ kheo và thỉnh
cầu vị Pháp sư đem lại cho ngài sự bình an trong tâm trí. Do
đó ngài được đưa dần vào đạo Phật và đạo Phật đã dần dần cảm
hóa ngài, thu hút ngài mãnh liệt. Trong mọi nỗ lực hành trì
giáo lý Bất hại (Ahinisa) và Từ tâm (metta) là nền tảng của
đạo Phật, ngài truyền nhiều phái đoàn Phật giáo đi đến tận
những vùng đất xa xôi vượt biên giới Ấn Độ để truyền đạo của
Đức Thế Tôn.
Ngài lại ban các sắc dụ giải thích mọi công đức thiện sư này
cho toàn dân thông hiểu và tuân hành. Các sử gia xem Đại đế
Asoka là vị quốc vương Ấn đầu tiên ban hành các sắc dụ để
truyền bá lý tưởng cao cả của ngài.
Sử gia Ấn Độ lỗi lạc, tiến sĩ Radha K. Moorkerji, chia các
sắc dụ này thành ba loại. Loại thứ nhất là "Sắc dụ
Kalinga"; bao gồm mười bốn sắc dụ trong đó có cả các sắc
dụ liên hệ vùng Dhauligiri này. Sắc dụ XIII khắc trên trụ đá
diễn tả nỗi khổ đau sâu sắc của vua Asoka vì đã gây nên sự
việc, mà theo lời ngài, là cuộc bạo hành đối với nhiều người
vô tội đầy lòng mộ đạo trong suốt cuộc chiến Kalinga này. Vì
thế, ngài cầu mong mọi người hưởng được niềm hạnh phúc của
nếp sống bất hại, từ điều thân, bình đẳng và thân ái. Quan
niệm "chinh phục bằng vũ khí" trước kia đã được thay
thế bằng lý tưởng chiến thắng bằng Đạo pháp. Và đạo ngài
theo đuổi không phải là đạo cuồng tín, mà thấm nhuần tính
nhân đạo giải thoát.
Đối với Đại đế Asoka, an lạc hạnh phúc của toàn dân là điều
tối quan trọng. Ngài tuyên bố : "Tất cả thần dân đều là con
ruột của Trẫm và ví như Trẫm ước mong các con Trẫm được
hưởng mọi thứ an lạc hạnh phúc trong đời này lẫn đời sau,
Trẫm cũng ước mong mọi thần dân được như nguyện".
Bằng các thiết lập một mối quan hệ đầy tình người giữa nhà
vua cai trị và thần dân bị trị, ngài cho phép mọi triều thần
và cận vệ trình tấu ngài mọi việc từ quốc sự đến dân tình
vào bất cứ giờ phút nào, ngay cả khi ngài ở trong các hậu
cung của các vương phi.
Là vị vua sáng lập ra một quốc gia hưng thịnh ở Ấn Độ, ngài
nhấn mạnh đức tính vị tha và thông cảm giữa các tôn giáo qua
các sắc dụ của ngài, chính ngài vẫn phán bảo quần thần "Nếu
người nào chỉ ca ngợi giáo pháp của mình và chê bai các giáo
phái khác thì chính người ấy đã làm hại giáo phái mình một
cách nghiêm trọng".
Theo đúng giáo lý bất hại của đức Phật, vua Asoka nêu bật
tầm quan trọng, tính cách thiêng liêng của cuộc sống không
chỉ giữa loài người mà cả với loài vật. Ngài tuyên bố "Không
sinh vật nào được giết hại hay đem ra tế lễ trong quốc độ
Trẫm".
Quả thật, vua Asoka đã cống hiến hầu hết cuộc đời mình -
khoảng hai thập niên - sau trận chiến Kalinga để thực hiện
các phận của một Phật tử thuần thành. Một số sử gia có thể
không tán đồng việc này, song một số khác cho rằng công cuộc
ngài theo đuổi trong thời hậu chiến này còn có giá trị đối
với nhân loại hơn cả thành tích chiến thắng của nhiều người
khác.
Trên đỉnh đồi của quần thể vùng Dhauligiri ngày nay có dựng
lên một Phật đài rộng rãi được thiết kế rất mỹ thuật. Nó thu
hút sự chú ý của mọi người từ xa như một chứng tích thể hiện
công cuộc mưu tìm hòa bình của Đại đế Asoka qua đạo Phật.
Các Phật tử khắp nơi trên thế giới đã đến đây để chiêm bái
vùng Thánh địa cao cả này.
Song ý nghĩa trọng đại hơn đối với đất nước Ấn Độ ngày nay
là sự việc vua Asoka đã đặt nền tảng vững chắc cho một cơ
chế dân chủ yêu chuộng hòa bình cao cả. Trên thực tế quốc
huy nước Ấn Độ độc lập ngày nay là khuôn mẫu lấy từ Thạch
trụ Asoka có hình bốn con sư tử lớn trên đỉnh cột hình tròn
được dựng lên khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên. Dưới
quốc huy là phương châm: Chỉ có chân lý chiến thắng (Satyameva
Jyate). Cũng vậy, hình bánh xe với 24 căm xe mà xanh dương
trên nền quốc kỳ màu trắng, phát xuất từ Pháp Luân (Dharma
Cakka) trên Thạch trụ Asoka. Bánh xe nằm nổi bật trên hình
hoa sen nở trên đỉnh trụ.
Quả thật các tàn tích trận chiến Kalinga, các Thạch trụ của
vua Asoka và quần thể Phật đài ở Dhauligiri tượng trưng ba
giai đoạn trong cuộc đời ngài: giai đoạn đầu tiên giai đoạn
ngài trưởng thành qua đạo Phật và sau cùng là những ước mơ
về tương lai cho chính ngài cùng hậu thế. Chính phần cuối
cùng này đã đem lại lợi lạc cho quốc dân ngài và toàn thể
nhân loại mãi mãi về sau./.
GOPÁL SEXNA
(Realist Budhhist, 1993)