|
Hình
tượng Bồ tát Quán Thế Âm tại các nước châu Á
Nguyễn Gia Quốc
Tư
tưởng Đại thừa ra đời như một bước ngoặt mới của sự phát
triển Phật giáo mà nổi bật nhất là lý tưởng hình tượng Bồ
tát ngày càng chiếm ưu thế trong niềm tin của hàng Phật tử
theo Phật giáo Đại thừa. Trong vô số các vị Bồ tát, chỉ có
những vị Bồ tát hàng Thập địa mới được tín đồ ngưỡng mộ, thờ
tự và cầu nguyện. Và, Bồ tát Quán Thế Âm là một trong những
vị Bồ tát thuộc hàng Thập địa nhận được sự sùng bái và kính
trọng bậc nhất. Sở dĩ vị Bồ tát này có được sự tôn kính như
thế là nhờ vào những đặc tính mà Ngài đại diện như từ bi,
phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh đang trầm luân trong
biển khổ,...
Chính những điều này đã giải quyết được
những nhu cầu trong hiện thực cũng như thỏa mãn phần lớn
những đòi hỏi về tâm linh của con người. Hầu như ở tất cả
các quốc gia trên thế giới, nếu như nơi đó có cộng đồng Phật
tử theo Phật giáo Đại thừa thì hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm
đều có mặt. Chính vì thế, Ngài cũng là đối tượng được giới
học giả trong lẫn ngoài Phật giáo quan tâm nghiên cứu. Tín
ngưỡng Quán Thế Âm phát triển sang các nước châu Á khá mạnh
mẽ sau khi đã hình thành và truyền bá rộng rãi khắp xứ Ấn.
Việc truyền bá tín ngưỡng Quán Thế Âm theo con đường buôn
bán đến các nước phía Đông theo hai hướng: con đường biển
xuyên qua các nước Nam và Đông Nam Á rồi sang vùng Viễn Đông
và Con đường tơ lụa từ Trung Á băng qua sa mạc Gobi đến phía
Đông Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Việt Nam. Như thế,
việc giao thương buôn bán đã trở thành điều kiện thuận lợi
để tín ngưỡng Quán Thế Âm lan tỏa khắp nơi. Giới Tăng sĩ
Phật giáo đã theo đoàn người buôn bán trên Con đường tơ lụa
để vượt qua sa mạc, hay theo các thương thuyền để đến Nam,
Đông Nam Á rồi sang vùng Viễn Đông, và chính những thương
nhân cũng là lực lượng góp phần quan trọng trong quá trình
truyền bá này.
Đến bất cứ vùng nào, Bồ tát Quán Thế Âm
cũng được thể hiện thông qua sự kết hợp thêm những tính chất
của các vị thần linh bản địa. Thực tế, tín ngưỡng Quán Thế
Âm là một hình thức pha trộn những nét đặc trưng giữa Phật
giáo và các tín ngưỡng, tôn giáo thịnh hành trong thời gian
này. Vì thế, Ngài có những nét đặc trưng không chỉ của Phật
giáo mà còn của các vị thần thời Veda như Purusa, Siva,
Indra, Vishnu, Surya và của những vị thần bản địa khác.
Chính những điểm này đã là chiếc cầu lấp đầy khoảng cách
giữa Hindu giáo, Phật giáo và tín ngưỡng bản địa. Sự tổng
hòa các đặc trưng đó làm cho Bồ tát Quán Thế Âm được đông
đảo tín đồ sùng kính, phổ biến hơn cả Đức Phật Thích Ca
trong niềm tin của một số cộng đồng dân cư.
Việc buôn bán quốc tế trên đường biển xuyên qua Đông Nam Á
trở nên thường xuyên vào khoảng cuối thế kỷ thứ II. Từ đó,
khu vực Đông Nam Á được thế giới biết đến như một vùng đất
thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị. Trong nhiều thế kỷ,
Đông Nam Á là nơi trung chuyển, kết nối và tham gia vào quá
trình buôn bán trên con đường này. Cũng nhờ tiến trình
thương mại đó mà các quốc gia ven biển vùng Đông Nam Á đã ra
đời và phát triển mạnh. Sự thịnh suy về phương diện kinh tế,
văn hóa… của họ cũng lệ thuộc khá nhiều vào con đường buôn
trên biển.
Nhìn ở góc độ văn hóa, nhờ đường buôn
phát triển mà các nước Đông Nam Á đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ,
trong đó có tín ngưỡng tôn giáo. Lịch sử ghi nhận, Phật giáo
cũng theo con đường này mà hòa nhập vào đời sống của người
dân bản địa. Ban đầu, chỉ giới thương nhân Phật tử tham gia
truyền bá. Về sau, giới Tăng sĩ Phật giáo mới tham gia khi
họ đi nhờ trên thuyền buôn giữa Trung Hoa và Ấn Độ.
Phật giáo đến với vùng đất Đông Nam Á
theo nhiều thời kỳ khác nhau, tùy theo quốc gia, dân tộc nào
tiếp cận sớm hay muộn. Với hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm,
sau khi hình thành và phát triển mạnh ở trên đất Ấn, thì đến
thế kỷ thứ V, Ngài mới bắt đầu “vượt biển” để đến với các
quốc gia phía Đông Nam Á. Như thế, nhờ vào con đường giao
thương, việc thờ phụng Quán Thế Âm đã được truyền đến và
phát triển mạnh ở Sri Lanka và những quốc gia Đông Nam Á lục
địa khác.
Đến bất cứ vùng đất nào, hình ảnh từ bi của Bồ tát Quán Thế
Âm cũng luôn giữ một vai trò quan trọng trong cộng đồng Phật
giáo. Các nền văn hóa khác nhau có những lựa chọn khác nhau
để thể hiện Ngài. Thông qua quá trình tiếp biến, các nước
trong khu vực này có cách tôn thờ Bồ tát Quán Thế Âm thật
đặc trưng.
Những quốc gia trong khu vực Nam và Đông
Nam Á lục địa phần lớn theo truyền thống Phật giáo
Theravada. Mặc dù vậy, việc thờ tự Quán Thế Âm xuất phát từ
Phật giáo Đại thừa (Mahàyana) cũng chiếm được tình cảm của
quần chúng trong các quốc gia như Sri Lanka, Myanmar, Thái
Lan, Campuchia, Indonesia,... Có thể, trong khi giáo lý
Theravada tạo được sự hấp dẫn đối với hàng đệ tử Tỳ kheo tu
khổ hạnh thì niềm tin Đại thừa tương đối tự do và có tư
tưởng thông thoáng hơn, hơn nữa, đặc tính từ bi của Bồ tát
Quán Thế Âm, giúp đỡ tất cả những ai đang gặp bất hạnh, đã
thỏa nguyện ước vọng quần chúng, lan tỏa rộng rãi trong dân
chúng.
Trên đường phát triển sang Đông Nam Á,
hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm đã đến với đảo quốc Sri Lanka.
Họ gọi Ngài với tên Natha Deviyo. Ở vùng đất này, Bồ tát
Quán Thế Âm và Bồ tát Di Lặc dường như là đại biểu cho hai
mặt của niềm tin trong thế kỷ thứ VII. Chutiwongs đã nhận
định rằng, Guàabhadra (394-468) hay Pháp Hiển, những vị sùng
kính Quán Thế Âm, đã truyền bá tín ngưỡng này đến Sri Lanka.
Guàabhadra đã đến Trung Quốc theo con đường buôn trên biển
và có ghé qua vùng Sri Lanka vào năm 435. Cao tăng Pháp Hiển,
cũng trong khoảng thời gian này, đã hành hương sang đất Ấn
thỉnh kinh. Khi về, ngài đã đi đường biển và có ghé lên đảo
quốc Sri Lanka, Indonesia. Đây là hai vị sư trí thức của
Phật giáo Đại thừa rất tín phụng Bồ tát Quán Thế Âm.
Bên cạnh hàng Tỳ kheo trí thức Theravada,
Sri Lanka đã sản sinh những nhà truyền giáo Đại thừa vĩ đại.
Trong lịch sử, Vajrabodhi (671-741) đã viếng thăm Sri Lanka
trước khi ngài đến Trung Hoa. Hơn nữa, Amoghavajra
(705-774), đệ tử của ngài và là một vị pháp sư nổi tiếng của
Trung Hoa, là cư dân Sri Lanka. Điều này chứng tỏ, ở Sri
Lanka có một thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Đại thừa và có
sức lan tỏa rất mạnh.
Tín ngưỡng dân gian Natha, từng phổ biến
ở Sri Lanka, dường như cũng bị hình ảnh Quán Thế Âm che
khuất hay đồng hóa. Trong thời gian tín ngưỡng Quán Thế Âm
hưng thịnh, quốc gia này đã tạo nên những hình ảnh tuyệt đẹp
về Ngài, dấu tích hiện còn là những hình tượng bằng đá hay
bằng đồng đang được trưng bày trong các viện bảo tàng quốc
gia trong và ngoài nước.
Hiện nay, tại Viện Bảo tàng Quốc gia ở thủ đô Columbo của
Sri Lanka còn lưu giữ bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Tượng mạ
vàng, mắt gắn hạt đá thạch anh trong suốt, mình trần đóng
khố, tư thế ngồi của bậc vương giả, tóc búi cao và trước búi
tóc, trên vùng trán có hình Phật. Tay phải bức tượng đang ở
tư thế cầm một biểu tượng và tay trái chống xuống bàn thạch
để đỡ thẳng thân người, một chân thả lỏng, một chân chống
trên bệ.
Như Sri Lanka, Myanmar đón nhận Phật giáo
trực tiếp từ Ấn Độ vào khoảng đầu thế kỷ thứ III trước Tây
lịch. Hai tông phái Phật giáo Mahàsanghikas và Theravada đã
tạo nên ở Myanmar một pháo đài Phật giáo kiên cố trong thế
kỷ thứ II, thứ III.
Triều đại Pagan (1044 – 1287) tại Myanmar đã đánh dấu một
thời kỳ mới của sự thờ phụng tín ngưỡng Quán Thế Âm khi Ngài
đến và trở thành một đối tượng sùng bái như một vị linh thần
độc lập. Trong khoảng thời gian đó, Myanmar chịu ảnh hưởng
của nhiều nền văn hóa khác nhau. Mặc dù vua Aniruddha theo
Phật giáo Theravada, nhưng ông vẫn tín phụng Quán Thế Âm. Vì
thế, ông thường tôn xưng Ngài là Lokanàtha(1). Rất tiếc,
những dấu ấn một thời của tín ngưỡng Bồ tát Quán Thế Âm trên
đất nước Myanmar chỉ còn lại trên sách vở. Chúng tôi chưa
tìm thấy một tác phẩm nghệ thuật nào miêu tả về hình tượng
của Ngài như những quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á.
Vào thế kỷ thứ VII, Dvaravati (miền Trung
Thái Lan) trở thành một trong những vương quốc hùng mạnh
trong vùng Đông Nam Á. Điều đó được ghi nhận cùng với những
hình ảnh Đức Phật vượt trội so với các di chỉ văn hóa khác
của Dvaravati. Chúng tiêu biểu cho những đặc tính của quá
trình ảnh hưởng văn hóa Andhradesa và Sri Lanka hòa lẫn với
số lượng đáng kể ảnh hưởng văn hóa thời kỳ cuối và hậu Gupta
từ phía Bắc Ấn và Mahàrashtra. Cho dù các vùng dân cư
Dvaravati phần lớn theo Phật giáo Theravada, nhưng tư tưởng
Đại thừa vẫn phát triển. Có thể, theo chân sự ảnh hưởng của
nghệ thuật Ấn Độ, tư tưởng Phật giáo Đại thừa đã đến vào
khoảng thế kỷ thứ VII. Niềm tin Đại thừa đã lan tỏa mạnh
trong dân chúng trong vài thế kỷ sau đó. Diện mạo của Bồ tát
Quán Thế Âm xuất hiện trong nghệ thuật Dvaravati và tạo nên
những nét sinh động mới.
Ở Campuchia, Phật giáo được truyền đến từ
rất sớm. Sự thờ phụng Quán Thế Âm cũng thắng thế vào đầu thế
kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VIII. Campuchia là quốc gia tiêu
biểu nhất cho nét văn hóa truyền thống tín ngưỡng Vua – Thần.
Angkor là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Khmer. Họ đã
xây dựng cho mình một vương quốc hùng mạnh, tạo nên một nền
văn minh Angkor nổi tiếng, lan tỏa sự ảnh hưởng sang các
vùng xung quanh, kéo dài hàng thế kỷ. Các vị vua trong triều
đại Angkor luôn tự xưng mình là một vị vua được hóa thân từ
một vị thần mà họ ngưỡng mộ, sùng kính. Trong giai đoạn đầu,
Angkor theo Hindu giáo, thần Siva được ngưỡng mộ và trở
thành vị thần được ưu ái nhất. Hầu hết các vị vua Campuchia
đều đồng nhất mình với thần Siva.
Khi Phật giáo được truyền bá vào đất nước
này, hình ảnh của Phật hay của một vị Bồ tát mà họ ngưỡng mộ
đã thế chân các vị thần bản địa hay các vị thần Hindu xuất
hiện trước đó. Từ đó, danh xưng của họ cũng gắn liền với tên
tuổi của vị Phật hay Bồ tát mà họ ngưỡng mộ. Đó là giai đoạn
cai trị của vua Jayavarman VII (1181-1201), một trong những
vị vua xuất sắc và nổi tiếng nhất của thời kỳ văn minh
Angkor. Sau khi giành lại đất nước từ quân xâm lược Champa,
năm 1181, ông đã thực hiện một cuộc chuyển hướng mạnh mẽ về
mặt tín ngưỡng. Thay vì tôn thờ các vị thần Hindu như các vị
vua trước, ông đặc biệt đề cao và tôn thờ Phật giáo Đại thừa.
Ông cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật đặc
sắc mang đậm dấu ấn Phật giáo và cũng tự nhận mình là hóa
thân của Bồ tát Quán Thế Âm.
Từ đó, Bồ tát Quán Thế Âm được xưng tụng
dưới nhiều danh hiệu khác nhau trong các bi ký, như Vrah
Kamrateu, Sri Avalokitesvara, Avalokitesa, Avalokita,...
Những danh hiệu này xuất hiện trong thời kỳ Angkor. Hình ảnh
của Ngài xuất hiện riêng biệt cũng được tạo dựng ở đây trong
thế kỷ thứ VII. Văn hóa Campuchia đã tạo nên những nét đặc
trưng hấp dẫn riêng về Bồ tát Quán Thế Âm trong khoảng thế
kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ X.
Triều đại của vua Jayavarman VII đánh dấu
đỉnh cao của nghệ thuật Khmer. Là một Phật tử thuần thành,
ông củng cố lại vương quyền Khmer hùng mạnh, xây dựng nên
một vương quốc của lòng từ bi vô bờ bến. Những bức tượng về
Đức Phật và Bồ tát Quán Thế Âm hầu như có mặt khắp các ngôi
đền linh thiêng trên toàn quốc. Kể từ khi ông tuyên bố nhận
mình là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm, tín ngưỡng này bắt
đầu lan tỏa và phát triển mạnh trên toàn vương quốc và đây
là thời gian hưng thịnh nhất của tín ngưỡng Quán Thế Âm trên
vùng đất của người Khmer.
Vì thế, thành tựu nổi bật nhất của thời
kỳ này và cũng là của toàn bộ nền văn minh Angkor có dấu ấn
rất đậm của tín ngưỡng Quán Thế Âm, đặc biệt nhất là thời kỳ
Bayon (1177-1230). Những bức tượng bốn mặt cùng nụ cười bí
hiểm và khó hiểu đã làm ngây ngất những ai đã từng đến đây
chiêm ngưỡng, từ những du khách bình thường đến những nhà
nghiên cứu, đền Bayon được xem là đỉnh cao nghệ thuật trong
quần thể kiến trúc Angkor.
Trong những quan điểm khác nhau về bức
tượng Bayon, có ý kiến giải thích Bayon là những bức tượng
bán thân Quán Thế Âm bốn mặt, tượng trưng cho bốn hạnh
nguyện của Bồ tát: từ, bi, hỷ, xả. Bởi vì, đền Bayon được
xây dựng vào thời kỳ hưng thịnh nhất của tín ngưỡng Quán Thế
Âm trong lịch sử Campuchia. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó
cũng chính là khuôn mặt của vua Jayavarman VII. Điều đó cũng
có lý vì chính ông tự nhận mình là hiện thân của Bồ tát Quán
Thế Âm. Hơn nữa, trọn quyền quyết định trong tay, nhà vua
tất phải ưu tiên xây dựng những hình tượng thần thánh mà
mình ngưỡng mộ để phục vụ cho mục đích bảo vệ vương quyền
của nhà vua. Từ những nhận định trên, chúng tôi ủng hộ quan
điểm cho rằng những bức tượng trên đền Bayon nổi tiếng là
hình ảnh của Bồ tát Quán Thế Âm.
Vừa qua, hình ảnh ngôi đền Bayon đã được
Chính phủ Campuchia chọn làm biểu tượng cho Hội nghị Bộ
trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 36 diễn ra tại
Phnom Penh. Sự kiện hình ảnh ngôi đền Bốn mặt được sử dụng
để thể hiện cho ước nguyện hòa bình và thịnh vượng trong
toàn khu vực đã nói lên tầm quan trọng của hình ảnh này
trong tiềm thức của người dân Campuchia.
Ngoài ra, cư dân Đông Nam Á hải đảo cũng
đón nhận và thờ phụng Bồ tát Quán Thế Âm rất thành kính.
Cũng trong thời kỳ nở rộ, hình tượng của Ngài đã lan đến các
vùng đảo của Malaysia và Indonesia. Ngài thậm chí còn có mặt
ở tận đảo quốc Philippines, một quốc gia hải đảo ở về phía
cực Đông của khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, các bức tượng của
Bồ tát Quán Thế Âm vẫn còn ở Indonesia và Philippines như
những nhân chứng cho sự hiện hữu của Ngài trong quá khứ trên
những đảo quốc này.
Có thể nói, Quán Thế Âm là vị Bồ tát có
hình tướng thể hiện cực kỳ linh động và phong phú bậc nhất
trong hệ thống thờ tự Phật giáo nói riêng và tín ngưỡng dân
gian nói chung. Sự phổ biến mạnh mẽ của hình tượng này đã
chứng tỏ sức mạnh vi diệu của từ bi, trí tuệ Phật giáo. Tiến
sĩ Vu Quân Phương, Khoa trưởng Phân khoa Tôn giáo, Đại học
Quốc gia New Jersey – Hoa Kỳ, đã từng nhận xét “Quán Thế Âm
là vị Bồ tát của một nửa Á châu”. Lời nhận xét đó thiết
tưởng đã khái quát trọn vẹn sự ảnh hưởng của Ngài đối với
giới Phật tử từ xưa đến nay.
(1) Loka: Thế giới, nàtha: được tôn trọng,
Lokanàtha là người đáng được tôn trọng hơn hết trong các bậc
chúng sinh. Từ này thường được dùng để tôn xưng Đức Phật.
Trung Hoa dịch là Thế Tôn.
|