Đặc biệt một năm có đến ba ngày vía Bồ tát Quan Âm là ngày
19 tháng 2, 19 tháng 6 và 19 tháng 9. Nói về Quan Âm, Đức
Phật dạy rằng Bồ tát này có 33 thân hay 33 loại ứng hiện
thân ở Ta bà. Nói như vậy, không có nghĩa là Đức Quan Âm chỉ
có 33 thân như nhiều Phật tử hiểu lầm.
Bồ tát Quan Âm có trăm ngàn muôn ức hiện thân; cho nên Đức
Phật đã nói về thần lực của Quan Âm trong kinh Phổ Môn
rằng “Thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng”, nghĩa là nếu một
ngàn chỗ có tâm thành cầu nguyện Đức Quan Âm thì đồng một
lúc đó có một ngàn Bồ tát Quan Âm liền ứng hiện; nói chính
xác hơn, trong khắp Pháp giới không chỗ nào mà Quan Âm không
ứng hiện để cứu độ, nếu có chúng sinh kêu cứu Ngài. Ngài sẽ
hiện thân hình tương ưng với nhu cầu của con người như hiện
thân Tỳ kheo, hiện thân cư sĩ, hiện thân ngoại đạo, thậm chí
hiện thân trẻ con.
Riêng tôi, chuyên trì tụng kinh Pháp Hoa, nên trông
thấy ai cũng nghĩ họ là Quan Âm, cho đến tiếp xúc với các
nhà lãnh đạo các tôn giáo khác, tôi cũng nghĩ đó là hiện
thân của Quan Âm. Và với độ cảm tâm mãnh liệt về Đức Quan Âm
như vậy thì khi tôi nói chuyện với người nào, họ liền có
thiện cảm với tôi. Theo tôi, khi chúng ta nghĩ đến Quan Âm,
thì Ngài có thể hiện vào thân của đối tác, nghĩa là tác động
họ, khiến họ xử sự với ta như Bồ tát. Ngược lại, dù là Bồ
tát, nhưng ta nghĩ họ xấu thì ác ma liền hiện vào thân, gọi
là ma giả Phật.
Nếu chúng ta niệm Quan Âm và nhìn đời theo Quan Âm, sẽ có
được kết quả tốt như Phật dạy. Tại sao Quan Âm có quyền năng
như thế và chúng ta có được kết quả như Phật dạy hay không
là vấn đề đặt ra để chúng ta ứng dụng trong cuộc sống, tu
hành như thế nào mới đạt được kết quả cao như Quan Âm, hay
kết quả nhỏ thì cũng thoát được nạn tai.
Trong các kinh điển Đại thừa, phần lớn Đức Phật dành một
phẩm nói về Quan Âm, cho nên chúng ta biết công hạnh của
Ngài rất lớn. Điển hình là kinh Bát Nhã, mà trong
phần trọng tâm, Đức Phật cũng đưa ra năng lực siêu xuất của
Đức Quan Âm làm mô hình kiểu mẫu. Đức Phật phá các chấp
tướng và Ngài giới thiệu Bồ tát Quan Âm mang tên khác là
Quán Tự Tại như sau: “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã
ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt
thiết khổ ách…”. Đó là phần mở đầu của Bát Nhã tâm kinh,
Đức Phật đã mượn hình ảnh Quan Âm để chứng minh vị Bồ tát
này là người tu chứng Bát nhã và sử dụng được Bát nhã.
Bát nhã là gì? Bát nhã là trí tuệ cao nhất có thể đưa con
người vượt qua tất cả khổ ách, gọi là trí Bát nhã, cho đến
đạt được cứu cánh Niết bàn. Đức Phật Thích Ca cho biết ba
đời chư Phật đều nương trí Bát nhã để vượt qua tất cả chướng
duyên, phá được tất cả khổ ách và đạt đỉnh cao Niết bàn. Và
Đức Phật cũng nói rằng Quan Âm đã đạt cứu cánh Niết bàn này;
vì vậy chúng ta ngầm hiểu rằng Đức Quan Âm là vị Phật đã
thành, tức Ngài đã thành Phật rồi, nhưng hiện thân Bồ tát để
trợ hóa cho Đức Phật Thích Ca hành đạo ở cõi Ta bà.
Theo kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói có hai hạng Bồ tát
là Bồ tát từ nhân hướng quả và Bồ tát từ quả hướng nhân. Bồ
tát từ nhân hướng quả là tất cả những người như chúng ta
phát tâm Bồ đề, tu hành theo nhiều pháp môn khác nhau, nhưng
đều cầu mong chứng được Phật quả. Bồ tát từ quả hướng nhân
là những vị Bồ tát đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
vì thương nhân gian mà sinh lại cuộc đời để cứu độ chúng
sinh. Bồ tát Quan Âm cũng vậy, Ngài đã thành Phật ở thế giới
Phật, nhưng vì luôn sống với tâm đại bi nên Ngài thường quán
sát khổ đau của chúng sinh và muốn giải phóng nỗi khổ niềm
đau cho họ, Ngài mới hiện thân lại cõi Ta bà này. Vì vậy,
kinh Pháp Hoa gọi Ngài là Quán Thế Âm, kinh Bát
Nha gọi là Quán Tự Tại. Hai danh xưng này khác nhau điểm
gì.
Quán Thế Âm là thành Phật rồi hiện thân lại làm Bồ tát. Vì
vậy người ta tạc tượng Quan Âm kiểu nào thì trên đầu Ngài
cũng có tượng Phật, tiêu biểu cho Ngài thành Phật nhưng
thương chúng sinh khổ mà Ngài hiện thân lại. Nếu thương
chúng sinh khổ trong loài A tu la, hay trong loài rồng, hoặc
trong loài người, Quan Âm sẽ hiện thân vô loài đó. Nhưng Bồ
tát hiện thân vào các loài chúng sinh, Ngài khác với chúng
sinh ở điểm trên đầu Ngài lúc nào cũng có Phật. Vì vậy, trên
bước đường tu của chúng ta, việc quan trọng là phải có Phật
trong tim mình, hay trên đỉnh đầu mình; vì không có Phật,
chúng ta dễ rớt vào tà ma ngoại đạo. Nếu mang hình thức thầy
tu, nhưng trong tim không có Phật là không có tâm đại bi, sẽ
dễ làm việc ác; trên đầu không có Phật, tức không có trí Bát
Nhã thì luôn phạm lỗi lầm, dù mang hình thức nào cũng là ác
ma, ngoại đạo. Tuy nhiên, nếu mang hình thức A tu la, hay cư
sĩ, nhưng trên đầu có Phật, trong tim có Phật, thì họ là
Phật. Phật này là Phật tâm, Phật huệ. Vì vậy mà người thế
gian thường nói khẩu Phật tâm xà, nghĩa là miệng nói lời
thiện của Phật, nhưng tâm ác thì không thể là Phật. Còn mặt
dữ như ông Tiêu, nhưng tâm là Phật thì vẫn tiêu biểu cho
Phật.
Bồ tát Quan Âm kết hợp được đại bi của kinh Pháp Hoa
và đại trí của kinh Bát Nha. Kinh Hoa Nghiêm
cũng có một phẩm nói về Đức Quan Âm và nhiều kinh Đại thừa
đề cập đến Ngài. Điều này cho thấy đối với Phật pháp, Bồ tát
Quan Âm đóng vai trò rất quan trọng. Ngày nay, chúng ta hành
đạo theo tinh thần Đại thừa, nhưng không áp dụng kinh Bát
Nha để quét sạch nghiệp chướng trần lao và phát sinh trí
tuệ mà nói tu Đại thừa là sai lầm lớn.
Phải có đại trí mới tu Đại thừa được. Tuy nhiên, không có
đại trí mà tu Đại thừa được là theo kinh Pháp Hoa dạy
hành giả phải nương theo đại trí của Phật, Bồ tát mà tu. Nếu
không có đại trí và cũng không nương được đại trí của Phật,
Bồ tát mà tự hành Bồ tát đạo, sẽ chuốc họa vào thân. Thật
vậy, trên bước đường tầm sư học đạo, Phật và thầy rất quan
trọng; vì không có thầy chỉ dạy và không có Phật ấn chứng,
không thể nào hành Bồ tát đạo. Khi nương được trí tuệ Phật,
chúng ta có thể hóa giải tất cả mọi việc của trần gian.
Riêng tôi, trên 60 năm hành đạo được an ổn, chính yếu là nhờ
đặt trọn niềm tin tuyệt đối ở Phật, nên được Phật lực gia bị,
quyết đoán ít bị sai lầm. Có sai lầm nhỏ, hay ít sai lầm,
chúng ta cũng thoát được, nếu không sai lầm là tốt nhất.
Trên bước đường tu, chưa có trí Bát nhã, chúng ta có thể
nương theo trí Bát nhã của Phật. Nhưng trên thực tế cuộc
sống, có lúc nương được Phật lực, có lúc không được Phật lực
gia bị. Khi nào không nhận được Phật lực là điều quan trọng
ta phải biết rõ. Nhận được Phật lực gia bị với điều kiện tâm
chúng ta phải hoàn toàn thanh tịnh. Một vị tu hành giỏi dở
chưa nói, nhưng nói đến tâm thanh tịnh là chính. Giỏi mà tâm
không thanh tịnh thì dễ trở thành ác ma. Dở nhưng thanh tịnh
thì Phật lực gia bị được. Vì vậy, chúng ta thấy trong cuộc
sống có người ít học, nhưng làm được Phật sự lớn mà người
khác không làm nổi, vì nhờ tâm thanh tịnh và được Phật lực
gia bị, cho nên họ thấy điều cần làm. Các vị cao tăng khi
gặp việc khó, không giải quyết được, các Ngài thường nhập
thất, hoặc nhập định để giữ cho tâm thanh tịnh. Khi tâm
thanh tịnh, Phật huệ mới rọi vào được và mới thấy khác với
cái thấy phát xuất từ Thức. Cái thấy theo Thức là do suy
nghĩ mà biết thì chỉ đúng được 50% là tốt rồi. Trong khi trí
Bát nhã do Phật huệ rọi vào, vượt hơn hiểu biết của Thức,
thì không cần suy nghĩ, tự động bừng sáng trong lòng. Như
tôi thường nhắc 40 năm trước, Hòa thượng Trí Tịnh đã dạy
rằng khi ngài không suy nghĩ thì biết chính xác. Muốn được
như vậy, đòi hỏi chúng ta phải trải qua quá trình tham thiền
nhập định để dứt bặt Thức, bấy giờ tâm chơn như mới bừng
sáng. Tôi thường thực tập pháp này để thấy và hành động theo
tâm chơn như, nên thoát được những hiểm nạn.
Nếu có tâm thanh tịnh, Phật lực sẽ gia bị, ví như mặt nước
phẳng lặng và trong suốt thì ánh trăng hiện rõ. Thật vậy,
Phật chỉ hiện vô tâm, chúng ta khi không có dao động trong
lòng, tức vọng thức không khởi lên. Ta không nghĩ việc nào
là tâm trong sạch, là gạn lọc được tham sân si, mạn, nghi,
ác kiến. Vì vậy, tu hành cần gạn lọc tâm mình cho trong sạch
bằng cách lấy pháp Phật rửa tâm. Học Phật pháp, chúng ta
biết rằng tất cả mọi vật trên thế gian này đều không bền
chắc, thân ngũ uẩn cũng không bền chắc. Thấy rõ pháp như vậy
và chúng ta tập làm theo Phật dạy. Chính cuộc đời của Đức
Phật cũng thể hiện rõ ý này. Ngài từ bỏ tất cả tài sản vật
chất mà người thế gian coi là cao quý nhất để dấn thân trên
con đường cát bụi, đó là Ngài đang gạn lọc tâm cho trong
sạch. Đối với phàm phu, không có thì tham muốn cho có, dẫn
đến việc làm sai trái, bị tù đày, đau khổ; nhưng người đời
có rồi thì muốn giữ lại mãi cũng là tham thì cũng khổ và giữ
không được, lại càng khổ nữa. Đức Phật hoàn toàn khác hẳn,
Ngài vứt bỏ cung vàng điện ngọc, quyền thế, sống khổ hạnh
một mình để kiểm tra xem lòng Ngài có còn ham muốn hay
không.
Thuở nhỏ, tôi mới đi tu, vô chùa sống cơ cực quá, khiến tôi
nhớ nhà, nhớ bà ngoại lúc nào cũng thương chìu mình. Hễ đi
học về, không có thức ăn ngon thì khóc, bà ngoại lật đật tìm
mua cho tôi ăn. Nhưng vô chùa, thức ăn dở cũng không có,
khóc cũng không ai thương, không ai dỗ, không ai năn nỉ mình
ăn, tủi thân lắm, muốn trở về với cái được nhỏ xíu của đứa
trẻ thơ. May nhờ thầy khai ngộ. Đức Phật xưa kia cao sang
quyền quý mà còn vứt bỏ, đi khất thực bữa đói bữa no. Nghĩ
cuộc sống Phật cao thượng như thế, thì mình là đệ tử Ngài
phải phát tâm buông bỏ tất cả. Khi buông bỏ được phần nào,
tự động tâm thức ta được lắng yên phần đó. Nhờ vậy, Phật
hiện vào tâm ta một phần, giúp chúng ta thấy lờ mờ trước
chân lý và theo đó, chúng ta tăng trưởng niềm tin nơi Phật
và tiến tu được.
Khi tôi sang Nhật tu học, tâm trạng này được giáo sư khai
ngộ, tôi rất thấm thía. Vào khoảng thập niên 60, Nhật Bản có
TV, giáo sư giảng rằng tâm con người ví như cái TV có lớn có
nhỏ khác nhau và tần số cũng khác. Lúc đó, TV Nhật chỉ có ba
tần số. Màn hình TV lớn nhỏ rộng hẹp tiêu biểu cho người đời
có phước báu nhiều ít khác nhau. TV chỉ có một tần số tiêu
biểu cho người tu theo hạnh Thanh văn, mở TV ra là họ bắt
thẳng vô đài, tức thấy Phật liền, không thấy gì khác; còn
đóng TV là chúng sinh. Nhưng người tu giả, mở hay đóng TV
cũng thấy chúng sinh, thì tu muôn kiếp cũng không thành Phật.
Đóng TV, thấy tối đen là vô minh; nhưng mở TV thấy ánh sáng
Phật, nên người tu thích sống nội tâm, ví như TV chỉ có một
đài thôi. Còn có hai, ba đài tiêu biểu cho người hành Bồ tát
đạo khác với Thanh văn. Tu Thanh văn ví như có một tần số,
mở ra là có Niết bàn; nhưng tu Bồ tát đạo, mở tần số này thì
thấy thế giới Cực lạc của Phật Di Đà, mở tần số khác thấy
thế giới Tịnh Lưu Ly của Phật Dược Sư, hoặc mở tần số khác
nữa, thấy Phật Đa Bảo. Có nhiều tần số, hay có nhân duyên
căn lành của chúng ta gieo trồng từ đời trước nên đời này
mới kết nối được với chư Phật, chư Bồ tát. Có nhân duyên với
vị Phật hay vị Bồ tát nào thì thấy vị đó; không có nhân
duyên thì dù có mở ra cũng không thấy được. Hoặc mở TV nhưng
hình ảnh mờ không thấy rõ vì TV bị nhiễu sóng; thấy Phật
không rõ là tâm chúng ta bị loạn động, chưa thanh tịnh.
Cũng như trong đại dương có những đợt sóng ngầm, tâm thức
chúng ta cũng có những nghiệp sóng ngầm khởi lên làm chúng
ta không thấy được Phật. Nhận thức yếu nghĩa này, tôi luôn
để tượng Phật trên bàn viết trước mặt mình. Khi tập trung mà
không thấy được Phật, thì phải nhìn vào tượng Phật, để tâm
vào tượng Phật để thấy Phật. Còn đi ra ngoài, làm sao ôm
tượng Phật theo, cho nên trước kia tôi đeo tượng Phật để khi
đợt sóng ngầm trong tâm mình nổi dậy, có thể cầm tượng Phật
lên nhìn. Có thầy nói rằng tôi là thầy tu mà còn đeo tượng
Phật. Đeo tượng Phật cốt để trấn tâm, không phải để trang
sức. Đặc biệt tôi thích tượng Quan Âm vì tôi sanh trong thời
kỳ chiến tranh đầy nguy hiểm, nên luôn hướng tâm về vị Bồ
tát này mà được an lành.
Khi tâm ta hoàn toàn thanh tịnh, Bồ tát Quan Âm, hay cảnh
Tây phương hiện rõ; nhưng tâm mình bị những đợt sóng ngầm là
tham sân si nổi dậy thì cảnh Cực lạc liền biến mất, Quan Âm
cũng không còn. Trên bước đường tu, ai cũng còn trạng thái
này. Ngồi yên, vụt nhớ việc nào ác, hay nhớ người nào xử sự
tệ với ta thì ta phát giận liền người đó, hoặc nhớ đến những
cơ hội tốt mình lỡ bỏ qua thì liền cảm thấy tiếc nuối, v.v…
Tất cả những sự kiện xảy ra trong cuộc sống chúng ta đều
được lưu giữ đầy đủ trong lòng mình và nó có thể nổi dậy bất
cứ lúc nào, khi đó hình ảnh Phật bị nhòe đi, giống như TV bị
nhiễu sóng. Nếu biết khắc phục, lắng nghiệp thì hình ảnh
Phật sẽ từ từ hiện rõ trở lại. Vì vậy, do chúng ta điều
chỉnh TV mà hình ảnh rõ màu đẹp, người tu cũng điều chỉnh
tâm mình cho thanh tịnh để thấy thế giới Phật rõ hơn, nghe
âm thanh Phật rõ hơn. Và người điều chỉnh được tâm thanh
tịnh đến mức độ cao nhất là Đức Quan Âm mà Tâm kinh diễn tả
là ngài hành thâm Bát nhã Ba la mật đa. Cho nên đối với Bồ
tát Quan Âm, âm thanh của tất cả chúng sinh và ánh sáng của
thế giới chúng sinh đều hiện rõ nét, vì Ngài đã chiếu kiến
ngũ uẩn giai không. Đó chính là pháp quan trọng nhất trong
đạo Phật. Chúng ta nhìn tất cả mọi thứ ở khắp mọi nơi đều bị
vướng mắc trong ngũ uẩn, tức kẹt vào sắc, thanh, hương, vị,
xúc. Trong khi chiếu kiến ngũ uẩn giai không thì không vướng
mắc gì cả, tất cả những gì do mắt thấy tai nghe, do cảm thọ,
do tưởng tượng, nói chung do sự tác động của Thức uẩn, đều
biến mất trong tâm thức, không có một niệm nào khởi lên gọi
là tâm Không. Còn nhớ quá khứ, suy tính tương lai, thấy đối
tượng buồn vui, là tâm thức còn khởi động. Nhưng chiếu kiến
ngũ uẩn giai không là tất cả mọi việc trước mắt biến mất;
nói cách khác, tuy có, nhưng coi như không, gọi là quán
Không, hay vào cửa Không. Còn việc có mà chúng ta nói không
là sai; Bồ tát Quan Âm không phải như thế, vì Ngài thấy thật
tướng Không.
Ví dụ mọi người trong đạo tràng này hiện diện trước mặt tôi
là có, không phải không; nhưng tôi biết rằng trước kia và
sau này, quý vị đều không có ở đây, nên không thật. Ý này
được Bồ tát Long Thọ dạy rằng quán Không, quán giả và quán
trung. Đầu tiên, tu theo Quan Âm, quán Không để rời bỏ tâm
chấp trước. Mọi việc, mọi người có hay không có, chúng ta
cũng không quan tâm đến để được giải thoát. Vì chúng ta coi
mọi vật không cần thiết, nên bỏ. Bỏ vật bên ngoài cho đến bỏ
vật trong tâm và thậm chí sắc uẩn này cũng không cần. Như
vậy, chúng ta bỏ tâm chấp trước, không phải bỏ vật; hiểu bỏ
vật là sai. Và bỏ tâm chấp trước rồi, sự vật vẫn là sự vật,
thì Phật dạy rằng sự vật thế nào, chúng ta nói đúng như vậy;
không phải có mà nói không. Có nói có, không nói không;
nhưng sự vật này không thực tồn tại mãi. Trước 6g sáng, ở
giảng đường này trống không và sau 6g chiều, quý vị về hết
thì ở đây cũng trống không. Hoặc xa hơn, trước khi sinh ra,
chúng ta không có mặt trên cuộc đời này, là không và sau khi
chúng ta từ giã cuộc đời thì cũng không, là tất cánh Không.
Ta có mặt trên cuộc đời là sự hiện hữu giả tạm; vì thân vật
chất này thay đổi theo từng sát na, không đứng yên và kế đến
là sự thay đổi về tâm, tâm lý chúng ta cũng luôn biến dạng.
Nhờ quán sát đúng đắn như vậy, chúng ta không cố chấp vào
thân tâm, không cố chấp vào sự vật và mọi người bên ngoài;
cho nên vượt được tất cả nỗi khổ trong lòng chúng ta, gọi là
khổ tâm. Những việc không đáng khổ cũng tưởng tượng ra để
khổ, đó là cái khổ lớn nhất của phàm phu. Còn thân vật chất
có khổ, nhưng nếu chúng ta không màng đến thì cũng chẳng
thấy khổ. Khi còn có sự kết hợp của thân ngũ uẩn và thân tứ
đại thì gọi là còn sống; nhưng nếu thân vật chất này chết
rồi thì có còn khổ vui hay không. Quán sâu lý Không, đạt
được “Hành thâm Bát nhã” như Đức Quan Âm, nên vượt được tất
cả khổ vui của thế nhân.
Chúng ta chưa vượt được tất cả khổ vui, vinh nhục, tình ái
của trần gian này mà cứu đời là tự chuốc lấy tai họa cho
mình. Dù cuộc đời như thế nào, tâm của hành giả vẫn như như
bất động, là độ nhứt thiết khổ ách. Nhận ra yếu nghĩa này,
phải độ mình giải thoát mới nghĩ đến độ người. Bồ tát Quan
Âm là hành giả kiểu mẫu thể hiện cốt tủy của pháp này. Ngài
đạt được trí Bát nhã cao tột, phiền não không còn, mới phát
đại bi tâm, tức từ chơn như tâm là đỉnh cao nhất của trí tuệ
mà phát tâm vào đời cứu độ chúng sinh. Việc làm của Đức Quan
Âm nhắc nhở chúng ta làm đạo, thương người nhưng phải có trí
tuệ chỉ đạo. Còn không phát được từ tâm chơn như hay trí Bát
nhã, chúng ta dễ bị ma quái mê hoặc. Nó thấy ta thương người
nên nó giả dạng làm người để dụ dỗ và ta làm theo nó là bị
lệ thuộc chặt chẽ vào quỹ đạo của ma, khó thoát ra được. Ví
dụ ta muốn phóng sanh thì họ đem lồng chim đến xúi mình mua
thả. Nghe nói phóng sanh có phước, ta dặn họ bắt giùm bao
nhiêu con chim, bao nhiêu ký cá để thả. Đó là hành Bồ tát
đạo không có trí Bát nhã. Có trí Bát nhã thấy người đáng cứu,
chúng ta cứu, không bị nó mê hoặc hay lợi dụng. Thấy người
bắt cá ăn thịt, chúng ta mua thả nó và biết thả ra sông nó
sống được.
Làm việc bằng tâm đại bi được phát khởi từ tâm chơn như, hay
trí Bát nhã, mới có kết quả tốt đẹp. Với trí Bát nhã chỉ đạo,
Đức Quan Âm khi hiện thân làm tiểu vương, khi hiện thân Bà
la môn, hoặc hiện thân phụ nữ mà cứu được người. Nhờ trí Bát
nhã soi sáng, Ngài biết rõ tới đâu cần mang hình tướng gì để
cứu giúp chúng sinh, ngài liền có thân hình tương ưng nên
cứu được. Thử nghĩ xem đến nước mà họ chỉ tin theo ngoại đạo
nào đó, chắc chắn mang hình thức tu sĩ Phật giáo chẳng những
không được tiếp đón, có khi còn bị mất mạng.
Tóm lại, áp dụng lời Phật dạy, chúng ta niệm danh hiệu Bồ
tát Quan Âm, đồng thời thể hiện Chánh pháp trong cuộc sống
của chính mình thì hành đạo ở nơi nào, sống ở chỗ nào, cũng
được Đức Quan Âm gia hộ, thoát được khổ nạn và mang lại an
vui, lợi ích cho nhiều người giống như Bồ tát Quan Âm.