Hành
Thiền Để Giải Phóng Tâm
Phạm
Kim Khánh
(Trích: "Con Đường Cũ Xa
Xưa", Trung Tâm Narada, Seattle, Hoa Kỳ, 1993)
Để
kiểm soát, uốn nắn và giải phóng tâm, trong Phật
giáo có hai loại thiền.
Theo một
lối, thiền hành giả gom tâm vào một điểm và
cột chặt tâm lâu dài vào điểm duy nhất ấy
để phát triển vắng lặng, an lạc. Danh
từ Pàli gọi thiền này là samatha bhàvavà, phương
pháp trau giồi tâm nhằm làm cho nó trở nên tĩnh
lặng. Ta gọi là thiền chỉ, thiền định
hay thiền vắng lặng.
Lối
thiền khác là vipassanà, thiền minh sát -- cũng gọi là
thiền quán hay thiền tuệ -- hướng tâm
định soi vào đời sống để chứng
ngộ thực tướng của vạn pháp. Đại
Đức Piyadassi giải thích như sau:
"... Danh từ vipassanà (vi +
passanà), trong một biến thể, có nghĩa là
"thấy một cách phi thường", thấy khác
với lối thấy thông thường, do hai thành phần
"passati" là thấy và "vi" hàm ư đặc
biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy,
vipassanà là thấy vượt ra ngoài cái ǵ thông
thường, là minh tuệ. Đây không phải là nh́n thoáng
qua. Cũng không phải chỉ nh́n bên trên bề mặt,
ở mặt ngoài mà nh́n sâu vào bên trong Thực Tại
của đời sống. Chính nhờ cái nh́n sâu sắc
căn cứ trên tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành
giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô
nhiễm ngủ ngầm để thành mục tiêu cuối
cùng, Niết Bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại
thiền mà chính Đức Phật đă t́m ra, đă
thực hành, đă thành công và đă ban truyền,
trước kia chưa từng có, và ngoài Phật Giáo không có
..."
Thiền Vắng Lặng.
Thí dụ
như hành giả lấy hơi-thở-ra-thở-vô làm
đề mục, trụ tâm vào điểm mà luồng
hơi thở ra và thở vào chạm đến -- có
thể là chót mũi hoặc phía trên môi trên. Khi hành như
thế ít lâu hành giả có thể h́nh dung rơ ràng cảm giác
xúc chạm của luồng gió vào nơi đụng ấy.
Đó là uggaha nimitta, ấn tượng h́nh dung. Không
để gián đoạn, hành giả cố tâm vào cái h́nh
ảnh phát hiện trong tâm ấy một cách liên tục
đến khi phát triển một h́nh ảnh khái niệm
(patibhàga nimitta). Sự khác biệt giữa
ᮠtượng h́nh dung (uggaha nimitta) với
ᮠtượng khái niệm (patibhàga nimitta) là trong ấn
tượng khái niệm, h́nh ảnh phát sanh do tri giác,
được thanh lọc trong sạch, sáng sủa như
mặt trăng không bị mây che, c̣n trong ấn
tượng h́nh dung, h́nh ảnh mù mờ như mặt
trăng nh́n xuyên qua lớp mây.
Trong lúc liên
tục chuyên chú gom tâm vào khái niệm trừu tượng
như vậy năm pháp triền cái tạm thời
được khắc phục, hành giả đạt
đến mức độ gọi là cận định
(upacàra samàdhi).
Vẫn
tiếp tục gia công, vào một lúc nào hành giả có
thể nhập định (appanà samàdhi, định
trọn vẹn) và đắc Thiền (Jhàna), thọ
hưởng trạng thái an tĩnh và vắng lặng
của tâm an trụ. Hai trạng thái cận định và
định chỉ khác nhau ở sức mạnh của các
chi thiền. Lúc cận định vẫn có đầy
đủ năm chi thiền nhưng năng lực của
các chi thiền chưa được vững chắc,
giống như em bé tập đi, khấp khểnh bước
vài bước rồi té xuống. Đứng dậy đi
nữa, rồi té xuống nữa. Khi nhập định
rồi th́ giống như người lớn mạnh
khỏe, đi đứng ngay thẳng, vững vàng. Năm
chi thiền - tầm, sát, phỉ, lạc, trụ --
đồng thời phát sanh mạnh mẽ bao gồm cái
được gọi là Thiền (Jhàna) và năm pháp
triền cái tạm thời được chế ngự.
Hành giả
tiếp tục gia công và phát triển Nhị Thiền.
Đến đây, hai chi thiền đầu tiên -- tầm
và sát -- bị loại đi. Hành giả đă quen thuộc,
không c̣n phải qua hai giai đoạn tầm và sát nữa mà
thẳng vào phỉ và lạc rồi đến trụ.
Đến
Tam Thiền, chi thiền phỉ bị loại, chỉ c̣n
lạc và trụ. Cuối cùng đến Tứ Thiền,
luôn cả lạc cũng không c̣n mà chỉ có xả (upekkhà)
và trụ. Chi thiền xả có tầm quan trọng
đặc biệt về mặt đạo đức và
tâm lư. Đây không phải là thọ xả, tức thọ vô
kư, cảm giác không vui không buồn. Chi thiền xả là
trạng thái tâm b́nh thản giữa những hoàn cảnh
thăm trầm của đời sống, phải do
một ư chí mạnh mẽ phát triển. Nhận
định rằng chi thiền lạc vẫn c̣n thô
kịch, hành giả loại trừ luôn chi thiền ấy
như đă loại trừ ba chi thiền trước và
trau giồi, phát triển chi thiền xả, đắc
Tứ Thiền, tầng cao nhất của Thiền Sắc
Giới.
Đă thành tựu tất
cả bốn tầng thiền của Thiền Sắc
Giới, hành giả chuyên chú gia công trau giồi Thiền Vô
Sắc. Trong phần chú giải quyển Abhidhammattha Sangaha, Đại
Đức Nàrada viết như sau:
"...
Vị hành giả đă có phát triển Thiền Sắc
Giới (Rùpa Jhàna) và bây giờ muốn trau giồi Thiền
Vô Sắc, bắt đầu gom tâm vào ấn tượng
khái niệm (Patibhàga nimitta, đă có đề cập
đến ở phần trên). Khi chuyên chú gom tâm như
vậy một ít lâu hành giả thấy một đốm
sáng nhỏ, yếu, giống như con đôm đốm,
phát ra từ đối tượng. Hành giả ước
nguyện rằng ánh sáng nhỏ này sẽ lớn lên dần
dần cho đến bao trùm toàn thể không gian. Đến
đây hành giả không c̣n thấy ǵ khác, ngoài ánh sáng này, cùng
khắp mọi nơi. Không gian đầy ánh sáng này không có
thiệt, không thật sự hiện hữu, không phải
là một thực tại, mà chỉ là một hiện
hữu, không phải là một thực tại, mà chỉ là
một khái niệm. Gom tâm vào đối tượng này hành
giả niệm "àkàsa ananto", không gian vô tận vô biên,
cho đến khi phát triển Sơ Thiền Vô Sắc,
tầng Thiền Vô Sắc đầu tiên, Không Vô Biên
Xứ, cảnh giới không gian vô biên.
"Lấy
Sơ Thiền làm đề mục, hành giả tiếp
tục gom tâm vào đó và niệm, "vinnanam anantam",
thức vô tận vô biên, cho đến lúc phát sanh Nhị
Thiền Vô Sắc, Thức Vô Biên Xứ, cảnh giới
thức vô biên.
"Để
phát triển Tam Thiền Vô Sắc, Vô Sở Hữu Xứ,
hành giả lấy tâm Sơ Thiền Vô Sắc làm đề
mục và niệm "natthi kinci", không có ǵ hết.
"Tứ Thiền Vô Sắc
được phát triển bằng cách lấy Tam Thiền
Vô Sắc làm đề mục. Tam Thiền Vô Sắc này vi
tế đến độ ta không thể quả quyết
rằng có tâm hay không có tâm. Khi chăm chú ít lâu vào Tam
Thiền hành giả phát triển Tứ Thiền, Phi
Tưởng, Phi Phi Tưởng.
"Bốn
tầng Thiền Sắc Giới khác nhau do các chi thiền.
Bốn tầng Thiền Vô Sắc th́ khác nhau do đề
mục gom tâm. Sơ Thiền và Tam Thiền Vô Sắc có hai
khái niệm (pannati). Đó là khái niệm về tánh cách vô
biên của không gian và khái niệm về hư vô. Tâm Nhị
Thiền lấy tâm Sơ Thiền làm đề mục. Tâm
Tứ Thiền lấy tâm Tam Thiền làm đề mục
... "
Hành giả
đă tiến đạt đến tuyệt đỉnh
của thiền vắng lặng. Tuy nhiên, đến
tầng vắng lặng cao siêu cùng tột này hành giả
vẫn c̣n chưa trọn vẹn phát triển đủ ánh
sáng trí tuệ để đánh tan đêm tối vô minh
ngủ ngầm trong luồng nghiệp. Vô minh và ái dục
giống như hai con thú dữ. Hành giả chỉ nhốt
trong chuồng mà không diệt. Ngày nào sút chuồng nó sẽ
c̣n là tai hại lớn lao. V́ lẽ ấy hành giả
chưa tuyệt đối châu toàn, chưa thoát ra khỏi
ṿng sanh tử trong Tam Giới (Dục Giới, Sắc
Giới và Vô Sắc Giới), chưa hoàn toàn giải thoát.
Trước
ngày Thành Đạo của Bồ Tát Gotama, chỉ có
thiền vắng lặng, samatha bhàvanà. Hai vị đạo
sư lỗi lạc thời bấy giờ, thầy
của Bồ Tát, là những vị đắc thiền cao
nhất, lúc ấy chưa ai đạt đến. Các Ngài
đă tiến đến mức cùng tột của
thiền vắng lặng là Phi Tưởng, Phi Phi
Tưởng. Chắc chắn đây là mức rất cao
của tâm định khi hành giả tạm thời
trọn vẹn đè nén, khắc phục năm triền
cái. Các chi thiền phỉ và lạc phát sanh, đưa
đến trạng thái tâm tuyệt đối vắng
lặng và an lạc. Nhưng Bồ Tát không thỏa măn
với những thành quả ấy. Đă kiểm soát và
khắc phục tâm, tạm thời làm chủ ḿnh, nhưng
Ngài nhận định rằng bấy nhiêu đấy
chưa đủ. Thú dữ vẫn c̣n đó. Phải
tận diệt mọi nhiễm ô và mọi hoặc lậu
mới tuyệt hậu hoạn. Mục tiêu cứu cánh
của Ngài chỉ là chứng ngộ Chân Lư Cùng Tột,
chứng ngộ Thực Tại, thấy sự vật
đúng như sự vật là như vậy, tức là
chứng ngộ ba đặc tướng của các pháp
hữu vi là vô thường, khổ, vô ngă. Chính nhờ trí
tuệ trực giác này mà Bồ Tát đập vỡ tung cái
vỏ Vô Minh dày cứng đă bao phủ Ngài từ vô
lượng kiếp để vượt đến
Thực Tại, để chứng ngộ tận
tường và trọn vẹn Bốn Chân Lư Cao
Thượng "trước kia chưa từng
được nghe".
Thiền Minh Sát.
Pháp hành mà
chúng ta thảo luận đến đây là chú niệm, gom
tâm an trụ vào một điểm duy nhất và không
biết ǵ ngoài điểm ấy. Có một pháp định
tâm khác, gọi là Thiền Minh Sát, không hạn chế
đối tượng của niệm bằng cách chỉ
chú tâm vào một đối tượng bất di dịch
mà hướng tâm vào những trạng thái luôn luôn biến
đổi của tâm và thân, ghi nhận bất luận
hiện tượng nào xảy diễn đến ḿnh. Công
phu hành thiền của hành giả là giữ chú niệm
của ḿnh bám sát vào bất luận ǵ ḿnh tri giác, nhưng
buông bỏ tất cả, không bám níu ǵ hết. Trong khi tu
tập theo dơi ghi nhận như vậy tâm định
của hành giả càng lúc càng kiên cố cho đến
một lúc nọ trở thành nhất điểm tâm,
vững chắc trên mỗi điểm của luồng trôi
chảy luôn luôn biến đổi của sự vật.
Mặc dầu đối tượng đổi thay, di
động như thế nào, tâm nhất điểm
của hành giả luôn luôn an trụ vững vàng vào đó.
Tâm định vừa vững chắc vừa di
động này được phát triển bằng cách
thực hành Tứ Niệm Xứ: niệm thân, niệm thọ,
niệm tâm, niệm pháp, đây là "con đường
duy nhất để chúng sanh tự thanh lọc, để
diệt trừ đau khổ, để thành đạt trí
tuệ và để chứng ngộ Niết Bàn."
Khác biệt giữa Thiền
Vắng Lặng và Thiền Minh Sát.
Thiền
Vắng Lặng là pháp môn nhằm đè nén năm triền
cái và định tâm trong một đối tượng
nhất định. Tâm phỉ lạc đưa
đến chứng đắc các tầng Thiền Sắc
Giới và Vô Sắc Giới. Thiền Minh Sát đưa
đến một loại trí tuệ nhận thức rơ ràng
ba đặc tướng của các pháp hữu vi là vô
thường, khổ, vô ngă.
Trong
thiền vắng lặng, hành giả chọn và xử
dụng một trong số các môn, như nhăn môn hay ư môn. C̣n
các môn khác th́ không dùng. Trong thiền minh sát, hành giả không
nhất thiết chọn một đề mục nào mà dùng
cả sáu môn cùng với sáu đối tượng của
nó.
Trong
thiền vắng lặng, khi hành giả chọn đề
mục, dùng tâm quán tưởng ở trong đề mục
ấy cho đến lúc tâm có đủ năng lực
đè nén năm triền cái, năm chi thiền dần
dần hiện rơ, tâm an trụ vững trong đề
mục và cuối cùng chứng đắc các tầng
Thiền (Jhàna). Năm triền cái đối nghịch
với thiền vắng lặng v́ là chướng ngại,
cản trở tâm an trụ, nhưng không đối
nghịch với thiền minh sát. Niệm về năm
triền cái, tức lấy sự hay biết năm chướng
ngại tinh thần này làm đề mục thiền, là
một phần của Niệm Pháp.
Đối
tượng của thiền minh sát là thực thể pháp
trong thời hiện tại, những ǵ thật sự
xảy diễn trong khoảnh khắc hiện tại.
Đối tượng của thiền minh sát là Tứ
Niệm Xứ. Các đối tượng chế định,
do hành giả tự tạo như ấn chứng, cảm
giác hay h́nh ảnh v.v... không thể dùng làm đối
tượng thiền minh sát, chỉ dùng làm đối
tượng của thiền vắng lặng.
Dầu
thiền vắng lặng và thiền minh sát có sự khác
biệt nhau song thiền vắng lặng có thể làm
nền tảng cho thiền minh sát như trường
hợp Đức Phật. Ngài tiến cao đến
mức cùng tột của thiền vắng lặng là Phi
Tưởng, Phi Phi Tưởng rồi xả thiền, quán
chiếu thân và tâm Ngài, dùng chi thiền phỉ, lạc v.v...
làm đối tượng và thấy rơ vô thường,
khổ, vô ngă. Đó là "thiền minh sát dùng thiền
vắng lặng làm nền tảng."
Ta cũng có thể trực
tiếp hành thiền minh sát mà không qua thiền vắng
lặng, như chỉ quán niệm theo bốn oai nghi,
đi, đứng, nằm, ngồi.
Để
giải đáp m?t câu hỏi về sự khác biệt
giữa thiền vắng lặng và thiền minh sát, Ngài
Acharn Chah -- một thiền sư danh tiếng ở Thái Lan
-- nói:
"... Thật dễ hiểu.
Thiền vắng lặng và thiền minh sát cùng đi chung
với nhau. Trước tiên, do nhờ pháp hành gom tâm an
trụ vào đề mục, tâm trở nên an tĩnh,
vắng lặng. Tâm chỉ vắng lặng trong khi ta
ngồi thiền. Đó là thiền vắng lặng. Căn
bản tâm định sẽ khởi duyên, tạo
điều kiện cho trí tuệ, tuệ minh sát, phát sanh.
Đến mức độ này tâm luôn luôn vẫn an
tĩnh, dầu ta ngồi nhắm mắt tham thiền
nơi vắng vẻ hay đi bách bộ giữa phố
phường nhộn nhịp. Nó là vậy. Ngày nào c̣n là
trẻ con, giờ đây lớn khôn. Ta là người
đứng tuổi. Em bé thủa nào và người
đứng tuổi hiện nay có phải là một không? Có
thể nói là một. Hoặc, theo một lối nh́n khác, có
thể nói là hai người khác biệt. Cùng thế ấy,
ta có thể tách rời thiền vắng lặng và thiền
minh sát.
"Chớ
tin Sư bằng lời. Hăy thực hành đi, rồi
tự ḿnh sẽ thấy. Không cần phải làm ǵ
đặc biệt. Nếu chăm chú quan sát, nhin xem
trạng thái vắng lặng và trí tuệ phát sanh thế
nào, quư vị sẽ tự bản thân thấu đạt
chân lư. Trong những năm sau này người ta quá chú
trọng đến danh từ. Họ gọi pháp hành
của họ là minh sát và coi rẻ thiền vắng
lặng. Hoặc họ gọi thiền của họ là
vắng lặng và hănh diện nói rằng muốn thành công
thiền minh sát phải trải qua giai đoạn hành
thiền vắng lặng. Tất cả những lời qua
tiếng lại ấy là điên cuồng. Chớ nên
bận tâm suy tư. Chỉ giản dị hành. Tự ḿnh
sẽ thấy ...."
Phạm Kim
Khánh (1993)