Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền
Trong Phẩm Nhập Bất Tư Nghì
Giải Thoát Cảnh Giới
PHỒ HIỀN HẠNH NGUYỆN
H T. Thích Trí Quảng
Source: Chùa Dược Sư
Tôi tu các hạnh đều
vô lượng,
Được các công đức
bất tư nghì,
An trụ những hạnh rộng lớn
này,
Suốt thấu tất cả thần
công lực.
Theo Phổ Hiền Bồ Tát, việc
làm không có giới hạn, việc gì
cũng làm và làm bất cứ lúc
nào, không nề hà. Chúng ta không
cố định một ngày phải tụng bao
nhiêu thời, bất cứ lúc nào có
việc quan trọng hơn, người cần giúp
sức thì ta sẵn lòng làm. Vì vậy,
chúng ta luôn ý thức tu vô lượng
kiếp, thể hiện vô lượng hạnh.
Lúc tốt nghiệp ở Nhật, trở về
nước, nhiều người lớn tuổi
đến với tôi để tìm an lành cho
tháng ngày còn lại của họ. Tôi
thấy rõ đó là duyên hành
đạo lúc ấy như vậy, không thể
khác hơn. Thấy được việc
trước mắt phải làm, còn quyết
định mình phải làm gì, rồi
chờ đợi, chê bỏ việc khác, e
rằng việc ta mong muốn không đến thì
sao ?
Vì tu vô lượng hạnh nên
được các công đức bất tư
nghì. Nhưng người dù lớn hay nhỏ
ở trong pháp giới đều nhờ ta giúp
đỡ. Đã từng ban ơn cho nhiều
người, việc của ta tất nhiên thành
tựu dễ dàng.
Điển
hình như một bà người Nhật Bản
chuyên ra nghĩa địa tụng kinh Pháp Hoa
và lau rửa mồ mả. Một thời gian sau, bà
có đến ba triệu tín đồ. Điều
này có thể hiểu là những
người quá cố đã thọ ơn tế
độ của bà, nên tái sanh làm
đệ tử, trung thành một cách lạ
lùng và mặc dù bà không học,
nhưng đệ tử lại là những
người có học vị tiến sĩ hoặc
giáo sư đại học.
Thiết nghĩ, khi thấy rõ nhân duyên
hành đạo, chúng ta sử dụng giáo
pháp đúng chỗ, đúng đối
tượng đều có kết quả lợi
lạc. Độ người giàu không
được, chúng ta độ người
nghèo; dạy người sống không
được, chúng ta cứu người quá
vãng.
Được
công đức vô lượng rồi, chúng ta
an trụ công đức đó để hành
đạo; đừng bỏ chạy khỏi môi
trường ấy. Công đức và nhân
duyên tu tạo được, ta nương theo
thành quả ấy mà đi lên. Nếu
khởi tham vọng, nghĩ đến việc cao xa
ngoài cầm tay, sẽ mất hết.
Riêng tôi, trên bước đường tu,
luôn an trụ công đức và đạo
tràng đã dày công xây dựng,
vì biết giỏi dở gì cũng là
quyến thuộc của tôi; từ bỏ để
kiếm cái khác không bao giờ có.
Trí huệ rộng lớn của Văn Thù,
Huệ hạnh Phổ Hiền cũng dường
ấy,
Tôi nay hồi hướng các căn lành,
Thường theo các Ngài mà tu học.
Tấm gương sáng của Bồ Tát
Phổ Hiền và Văn Thù, chúng ta
nguyện học theo. Các Ngài kề cận
với đức Phật, đã thành tựu
những hạnh lành ấy, chúng ta nối
gót theo, xem các Ngài làm gì và so
với việc của mình để điều
chỉnh, chắc chắc cũng thành công.
Chư Phật ba
đời luôn khen ngợi.
Những nguyện rộng lớn khó sánh
bằng,
Tôi nay hồi hướng các căn lành,
Để được Phổ Hiền hạnh
thù thắng.
Ba đời các đức Phật đều khen
ngợi hạnh Phổ Hiền, đều chọn
Ngài làm Trưởng tử, nên chúng ta
biết đó là hạnh tốt. Chúng ta
nguyện đem tất cả phước đức,
nhân duyên đã tu tạo để hồi
hướng cho chúng ta có được hạnh
Phổ Hiền thù thắng.
Chúng ta nguyện như vậy vì tu hành
cần có định hướng rõ ràng,
không mục tiêu khó đi đến nơi,
đến chốn. Vạch ra mục tiêu xong,
chúng ta bắt đầu tích lũy. Như
tôi lập hạnh tu rồi, bằng mọi cách
tạo nên phước và dồn phước
này thành hạnh thù thắng. Nói
khác, tạo được công đức,
chúng ta không dám hưởng, phải dùng
phước ấy để tạo các công
đức khác, vì biết rằng tạo rồi
huởng thì đời đời kiếp kiếp,
cũng chẳng được gì.
Hồi hướng tức để dành, nhưng
để dành ở đâu ?
Đầu tiên, chúng ta tạo phước
báo hữu lậu và sau đó, đổi
sang vô lậu phước báo, hay hồi
hướng về Phật, cúng cho Phật. Nhưng
cúng Phật nghĩa là lo cho chúng sanh. Lo cho
chúng sanh càng nhiều, công đức
càng lớn. Vì vậy, đức Phật
thường dạy thành tựu chúng sanh là
tối thượng cúng dường. Lo cho chúng
sanh, tức gieo vào lòng họ mối thiện
cảm, kế đến chúng ta mới đưa
giáo lý vào nhận thức của họ,
để cải tạo tâm ác xấu thành
tốt đẹp.
Thật vậy, người có cảm tình
rồi mới có thể nghe ta. Lúc ấy mới
đem phải trái dạy họ. Trái lại,
không làm chúng sanh cảm tình, mà chúng
ta cứ răn đe cũng vô ích, người
không nghe, thậm chí họ nghĩ ta không ra
gì mà còn lên mặt dạy đời.
Khi người nghe, mới dạy giáo lý khó
tin, khó làm. Giáo pháp đưa vào
tâm người, tiêu diệt nghiệp
chướng phiền não của họ. Đầu
tư thiện cảm và tri thức cho người,
cả hai đều vô hình, vô ảnh, nên
được chứa đựng trong hư không
tạng, có một sức chứa kỳ diệu.
Từ đó, người cảm nhận
được sự gắn bó mật thiết,
không thể nào giải thích, giữa ta
và họ, giữa họ và Phật.
Chúng ta hồi hướng căn lành theo
Phổ Hiền, thì mặc dù không giữ
tiền, nhưng có đủ tiền làm lợi
ích chúng sanh, đủ trí khôn giải
quyết được mọi việc, đủ sức
làm được tất cả như Ngài. Nay
chúng ta chưa làm được như Ngài,
phải tự biết kiến thức ta còn kém,
sức lực yếu, nên phải làm nhỏ
và tiền ít thì phải để dành.
Tôi cảm nhận sâu sắc hạnh Phổ
Hiền, hồi hướng Phật đạo, nghĩa
là sử dụng tiền của, hiểu biết
của tôi, đầu tư cho Tăng Ni Phật
tử, giúp họ tiếp thu đạo đức
và tri thức, thể hiện trong cuộc sống.
Bấy giờ ta đã biến việc làm
này thành công đức rồi và gởi
cho chúng sanh trong vô tận tạng, không ai
có thể lấy cắp phước báo vô
lậu thánh tài này.
Trong sinh hoạt đời thường, chúng ta
thấy rõ phước báo tuy vô hình,
nhưng nó thể hiện trong cuộc sống, trong
thân tướng của người có
phước. Họ hiện hữu ở nơi nào,
cảnh quang nơi đó cũng thành tốt
đẹp, tiện nghi cũng đầy đủ.
Nhưng người không phước làm vất
vả, phải bòn từng đồng, cái
gì cũng ham, mà có được cho
thì cũng bị mất cắp, không giữ
nổi.
Chư Phật ba đời luôn khen ngợi việc
làm của Phổ Hiền, không có nguyện
nào, hạnh nào so được với Phổ
Hiền. Hòa Thượng Trí Thủ, lúc sanh
tiền, cảm hạnh này mà tặng cho Ban
Hoằng Pháp bài kệ:
Phần hương nhứt niệm pháp không
vương.
Đại hạnh đồng tham biến kiết
tường.
Sát hải trần thân thi diệu lực.
Trầm kha chướng nghiệp tổng an
khương.
Nguyện lớn của Phổ Hiền là luôn
tìm việc khó làm, luôn tìm
người khó độ để tiếp
độ. Ngài thường sanh vào quốc
độ có hoàn cảnh khó khăn
để gánh vác việc lợi ích
chúng hữu tình, nên nguyện của
Ngài khó sánh bằng là vậy.
Hàng Thanh Văn thì nguyện Phật sanh
đâu, các Ngài sanh đó và chỉ
làm việc với Phật thôi. Điều
này dễ hiểu vì ai cũng thích gần
gũi người hiền, giỏi, tốt; chẳng ai
thích chơi với người xấu ác. Bồ
Tát sơ phát tâm cũng nguyện tu ở
thế giới Phật, không hành đạo ở
Ta Bà, nơi toàn người hung ác, ngang
bướng.
Riêng chúng ta cũng vậy, thích về
Tịnh độ vì có toàn thượng
thiện nhân; còn ở đây, khó
lòng kiếm được người tin cậy
để cùng làm việc. Sơ phát tâm
hành đạo, chúng ta không sợ cực,
nhưng phải có bạn đồng tu hiểu ta,
cùng hợp tác, ta mới làm. Tất cả
cùng làm thì vui, còn một mình ta
làm mà tất cả hưởng thụ, chẳng
mấy chốc ta sẽ chán nản, bỏ cuộc.
Bồ Tát Phổ Hiền thì khác, Ngài
tâm niệm ở cõi này không ai làm
Ngài mới có cơ hội hành
đạo. Đối tượng của Bồ Tát
Phổ Hiền là chúng sanh cang cường,
nghiệp chướng sâu dày mà Phổ
Hiền nguyện chữa lành bệnh họ, nên
Phật nói khó có Bồ Tát nào so
với Ngài được. Hạnh Phổ Hiền
thù thắng, Ngài không cần nói,
không dụ dỗ, không mua chuộc mà
người tự qui phục; trong khi người
khác nói hay, nhưng việc làm của họ
không đúng với lời nói, nên
không có sức thuyết phục chúng ta.
Phổ Hiền chủ về hạnh, thể hiện
bằng việc làm thành tựu tốt
đẹp hơn người.
Trên bước đường tu, chúng ta nối
gót theo hạnh Phổ Hiền, là chúng ta
nguyện vượt khó, làm việc khó. Tuy
nhiên, chúng ta muốn đạt được
thù thắng như Phổ Hiền, cần sử
dụng căn lành để tu, nghĩa là
phải triệt tiêu tánh ác và tăng
trưởng tánh lành. Vì tạo
được căn lành trước rồi, nên
ta khởi tu, làm được những việc
thù thắng mà người không làm
nổi. Bình thường, người hay tránh
nặng, tìm nhẹ; nhưng tu hạnh Phổ Hiền
hồi hướng các căn lành, tức
dùng sức khỏe, trí khôn, tiền bạc,
khả năng dồn lại để gánh vác
Phật sự.
Ngoài ra, chúng ta tạo điều kiện cho
người khác làm. Thí dụ ta thể
hiện lời Phật dạy hành bố thí
cúng dường được hưởng quả
báo giàu có. Người thấy ta
được phước như vậy nên họ
bắt chước làm theo và ta sẵn lòng
nhường cho họ, vì có nhiều người
làm việc tốt càng lợi cho đời.
Đức Phật diệt độ, nhiều
người sợ khó khăn hiểm nguy ở
thế giới hung ác này thì Phổ Hiền
Bồ Tát xuất hiện trong phẩm cuối kinh
Pháp Hoa. Ngài khuyến khích mọi
người cứ lo tu, Ngài sẵn sàng ủng
hộ. Nói suông thì không ai nghe, đi
một mình họ cũng không nghe, nên Phổ
Hiền đi với vô số Bồ Tát, bát
bộ thiên long, đến đâu cũng rãi
hoa trời. Ngài biểu dương thế lực
mạnh như vậy cho chúng ta yên tâm tu
hành.
Bản thân tôi tu được cũng nhờ
niềm tin vững chắc nơi Phổ Hiền và
cảm nhận được lực gia bị của
Ngài giúp tôi vượt qua nhiều
chướng nạn trên đường hành
đạo.
Phổ Hiền cho biết ai tu bị ma phá, Ngài
sẽ dùng thần thông lực bắt ma hộ
trì Phật pháp. Thay vì chống ta, lực
Phổ Hiền buộc họ phải theo ta, định
nói xấu thì có lực Phổ Hiền
ngăn cản.
Ta cũng tu tập hồi hường cho có
đủ thần thông lực như Phổ Hiền
Bồ Tát, làm được những việc
khó làm như Ngài mới thực sự
là Trưởng tử của Như Lai,
được chư Phật ba đời khen ngợi./.
Trích Hoa Sen Số 34