Thöa baïn,

HAÛI TRIEÀU AÂM

NOÄI SAN HOÏC PHAÄT - VAÊN HOAÙ

TAÄP 3 – NAÊM 2007

 

KÍNH MÖØNG NGAØY PHAÄT THAØNH ÑAÏO

PHAÄT L̉CH 2551

 

 

 

 

GIA Ñ̀NH CÖ SÓ LIEÂN HOA

 

 

 

HAÛI TRIEÀU AÂM

NOÄI SAN HOÏC PHAÄT

VAÊN HOAÙ

 

SOÁ 3 – NAÊM 2007

 

 

 

LIEÂN HOA


Thöông taëng :

- Thanh ( Dieäu Ṭnh )

Ngöôøi vôï vaø laø ngöôøi baïn Ñaïo

vaø hai con : Baûo Vöông- Baûo Laân

 

 

Moät thoaùng cuoäc ñôøi, say trong moäng

Vaàng traêng voâ taän, saéc trôøi maây

Côơi nguoàn chaân taùnh, theânh thang thôû

Nhöơng böôùc chaân traàn, sen ngaùt bay

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cö só Lieân Hoa



MUÏC LUÏC

 

Lôøi noùi ñaàu. 4. *- YÙ nghiaơ Ngaøy Phaät Thaønh Ñaïo, Thaày Thích Huyeàn Toân 7, *- Moät ñôøi laøm keû Laơng du, ( thô ) Cö só Lieân Hoa 14. *- Tieåu luaän: Tuyeät phaåm thieân nhieân, Cö só Lieân Hoa 15. *- Nhöơng tö töôûng ñeå suy nghæ nhaân ñaàu Naêm Môùi cuûaÑöùc Ñaït Lai Laït Ma thöù 14, Thanh Lieân ḍch 26. *- Ñi t́m Caùi Ngaơ, Cö só Lieân Hoa ḍch 29. *- Caàu ngöôøi chaúng baèng caàu ḿnh 37. *- Beân ñôøi. Töøng soùng voâ t́nh chôû aùnh traêng ( thô ), Cö só Lieân Hoa 38. *- Phaät giaùo Höơu Thaàn hay Voâ Thaàn, 111. *- Ñoâi ñieàu ghi cheùp veâàÑaïi Taïng Kinh, Lieân Höông 116. *- Kinh Caùc Phaùp tu Vieân Thoâng, Thaày Thích Huyeàn Toân ḍch 122. *- Kinh Chuyeån Phaùp Luaân, Thaày Nhaät Töø ḍch 39. *- Traàn gian moät thöôû mô laøm Boà Taùt, ( thô ) Cö só Lieân Hoa 42. *- Ñöùc Phaät noùi ǵ veà tieàm naêng cuûa con ngöôøi, Thích Nöơ Ñoàng Anh 47. *- Kinh Phöôùc Ñöùc, Thaày Nhaát Haïnh ḍch 49. *- Vaøi suy nghæ veá Quan nieäm Ñöùc Phaät Ḷch söû vaø Ñöùc Phaät Toân giaùo, Thích Tḥ Quaû 52.

*- Phaät giaùo hoâm nay vaø ngaøy mai, Dieäu Höông ḍch 63. *- Sô chuyeån Phaùp Luaân, 80. *- Phaät giaùo Höơu Thaàn hay Voâ Thaàn, 111.

*- Ñoâi ñieàu ghi cheùp veà Ñaïi Taïng Kinh, Lieân Höông 116. *- Kinh caùc Phaùp tu Vieân Thoâng, HT. Töø Thoâng ḍch 122. *- Thieàn Ṇ̃nh veà Ñaïi Thaønh Töïu, Cö só Lieân Hoa ḍch 153 . *- Ñoäc aåm ( thô ), Cö só Lieân Hoa 157. *- Chaân Ngoân, Cö só Lieân Hoa ḍch 162. *- Haïnh phuùc coâ ñôn ( thô ), Cö só Lieân Hoa 166. *- Moät thoaùng beân Meï, ( vaên ) Cö só Lieân Hoa 168 . *- Toùc xoaơ Töø bi. Moät tieáng rôi ( thô ) Cö só Lieân Hoa 177. *- Xin caùm ôn Meï. Con laø ngöôøi Vieät Nam ( thô ), Cö só Lieân Hoa 180 . *- Môơ roäng khoâng gian, Cö só Lieân Hoa ḍch 182. *- Taûn maïn veà saéc maøu caùc loaøi hoa ( vaên), Cö só Lieân Hoa 187. *- Nghieäp löïc vaø Taùnh Khoâng, Cö só Lieân Hoa ḍch 193. *- Boùng daùng cuûa Ba ( vaên ), Cö só Lieân Hoa 212. *- Thaø nhö gioït möa, Dieäu Traân ( vaên ) 219.

*- Chieác y vaøng in daáu laù Boâ Ñeà ( thô ), Cö só Lieân Hoa 222 . *- Nuï cöôøi vang taäân caøn khoân ( thô ), Cö só Lieân Hoa 223 *-Chuyeän suy ngaăm 224

 

 

 


LÔØI NOÙI ÑAÀU

 

Saùng hoâm nay, vöøa baät TV ñeå xem nhöơng tin töùc hay nghe nhaïc nheï nhö thöôøng ngaøy. Tieáng haùt cuûa ngöôøi ca só naøo ñoù vöøa vang leân, chöa ḳp ñeå thöôûng thöùc th́ h́nh aûnh cuûa cheát choùc laïi xuaát hieän. Chieán tranh nhö ñang ŕnh raäp khaép moïi nôi, soi moøn teá baøo taâm cuûa moăi nguôøi. Maïng soáng cuûa moïi sinh vaät trôû neân moûng manh voâ thöôøng…Bao nhieâu tai trôøi aùch nuôùc, bao nhieâu thaûm caûnh xaûy ra, söï vui chen laăn vôùi noåi buoàn voâ taän, aâu lo, sôï seät nhö taát caû ñeàu baát ṇ̃nh.

Duø ai coù laø ngöôøi voâ t́nh nhö theá naøo, cuơng khoâng khoûi caûm thaáy ngaäm nguøi chua xoùt cho thaân phaän con ngöôøi, hay cho chính ḿnh. Sanh Laơo Beänh Töû laø moät ṇ̃nh luaät taùc ñoäng leân treân thaân phaän cuûa vaïn phaùp trong vuơ truï naày, tuy raèng, khoâng moät höơu t́nh naøo mong muoán, nhöng noù vaăn hieän dieän, söøng söûng tröôùc maët.

Caùch ñaây, hôn hai ngaøn naêm traêm naêm, coù moät con ngöôøi ñaơ vöôït qua cuoäc töû sanh. Döôùi coäi Boà Ñeà, ngaøn laù caây xao ñoäng, mæm cöôøi chaøo ñoùn moät ngaøy môùi cuơng laø chaøo ñoùn moät con ngöôøi sieâu vöôït treân con ngöôøi. Baèng nhöơng chaát lieäu do ba ñoäc toá Tham Saân Si hoaû muø laăn trong röøng voâ minh, ñaơ ñöa muoân loaøi rong chôi trong cuoäc luaân chuyeån, ñoåi h́nh, ñoåi daïng. Nh́n thaáy taát caû noåi thoáng khoå cuûa con ngöôøi vaø chæ coù nhöơng ai ñaơ töøng ñau khoå v́ voâ minh, v́ ba ñoäc tham saân si, môùi hieåu vaø thöông cho thaân phaän cuûa caùc loaøi. Ngöôøi ñaơ duøng chính nhöơng chaát lieäu ñaày aáp trong taâm ñeå nuoâi döôơng Ñaïi Nguyeän “ Neáu khoâng thaønh Chaùnh Giaùc, ta theà khoâng bao giôø rôøi coäi caây Boà Ñeà naày..”

Coù söùc maïnh naøo hôn Ñaïi Nguyeän ñaït ñeán Giaùc ngoä cho chính ḿnh vaø ñeå cöùu ñoä cho muoân loaøi thoaùt ra khoûi nguïc tuø cuûa Ba ñoäc. Taát caû caùc coơi trôøi boång nhieân ruùng ñoäng, caùc ma quaân run sôï, taát caû vuơ truï reo vui möøng ñoùn chaøo ṿ Ñaïi Giaùc. Ngaøi ñaơ t́m thaáy goác reå cuûa voâ minh ñöôïc xaây döïng treân 12 Nhaân Duyeân chaèng cḥt, vaø ñaơ chöùng quaû Voâ Sanh Baát Dieät.

AÙnh saùng Giaùc Ngoä ñoù ñaơ tieáp noái Haïnh Nguyeän cuûa Chö Phaät trong möôøi phöông ba ñôøi, ñöôïc truyeàn baù töø ngaøy ñoù, lan roäng, toaû saùng cho ñeán hoâm nay...

Trong cuoäc nhieåu nhöông cuûa cuoäc soáng thôøi hieän ñaïi, qua bao nhieâu laø xaùo troän, tröôùc nguy cô cuûa söï huơy dieät toaøn dieän moâi sinh, ñôøi soáng cuûa moïi sinh vaät…th́ chæ coù taám loøng töø bi v́ söï ñau khoå cuûa muoân loaøi, chæ coù trí tueä saùng suoát môùi nh́n goác reă cuûa cuoäc ñieâu linh naày, maø hoaù giaûi haän thuø, söôûi aám laïi t́nh ngöôøi. Do ñoù, Phaät giaùo hieän ñang coù söù maïng to lôùn, cao caû vaø taát caû nguôøi con Phaät ñeàu mang chung söù maïng daán thaân ñoù.

V́ hieåu raèng: “Chö haønh voâ thöôøng. Chö phaùp voâ ngaơ”, cho neân, söï hieän dieän cuûa ngöôøi con Phaät trong baát cöù hoaøn caûnh naøo cuơng caàn thieát, vaø söï thaønh töïu naày phaûi ñöôïc baét nguoàn töø Taâm Boà Ñeà, töø söï tu taäp, quaùn chieáu laïi ḿnh, ñeán nhöơng nguôøi thaân caän, nhöơng ngöôøi chung quanh- ñoù laø böôùc chaân traàn treân maët ñaát- v́ taát caû ñeàu laø Phaät seơ thaønh. Hoaù thaân cuûa Ñöùc Phaät laø Boà Taùt Quaùn Theá AÂm vôùi ngaøn tay ngaøn maét, phaûi chaêng muoán noùi ñeán söï töông ñoàng, ñoaøn keát vaø chung söùc cho söï xaây döïng ñôøi soáng An laønh Haïnh phuùc treân coơi ñôøi naày.

Ñeå cuùng döôøng Ngaøy Phaät Thaønh Ñaïo muøng 8 thaùng Chaïp, Phaät ḷch 2551. Gia ñ́nh con xin kính daâng taát caû taâm thaønh qua vieäc soaïn in Taäp san Haûi Trieàu AÂm Taäp 3, ñeå cuùng döôøng leân Ñaáng Cha Laønh.

Mong moïi ngöôøi nh́n nhau ñeå thaáy tieáng goïi naày vang ñoäng trong ñaùy saâu cuûa taâm, vaø ñeå chaép ñoâi tay laïi, noùi vôùi nhau nhö nhöơng lôøi kinh xöa maø ṿ Boà Taùt Thöôøng Baát Khinh ñaơ bao laàn ca tuïng: “Toâi khoâng daùm khinh caùc ngöôøi, v́ caùc ngöôøi seơ laø ṿ Phaät…” vaø tieáng goïi cuûa Haûi Trieàu AÂm vaăn maơi reo vang, laø tieáng soùng töï ngaøn xöa cuûa bieån taâm, ñaơ bao laàn thoâi thuùc taâm ngöôøi nhö moät caûnh tænh vaø nhö moät khai môû cho cuoäc haønh tŕnh trôû veà…

Kính chuùc taát caû moïi ngöôøi ñeàu soáng an laønh trong boùng haøo quang cuûa Ñöùc Phaät nhaân ngaøy Phaät Thaønh Ñaïo vaø ñeàu coù moät Muøa Xuaân Di Laëc Haïnh Phuùc- Kieát Töôøng.

Mong laém thay !

Cö só Lieân Hoa

 

Ư NGHĨA

NGÀY THÀNH ĐẠO

HT. Thích Huyền Tôn

Điều nên nói là con người có chịu tu tŕ theo giáo pháp đă thành đạo của Đức Phật hay không ? Cơm đă chín rồi mời vào bàn thọ dụng, nếu chúng ta c̣n rẽ rúng th́ cái giá trị “no đủ” sẽ không đến với chúng ta.

Kính thưa chư quí vị,

Trong gịng lịch sử giáng trần của Đức Phật, điều quan trọng nhất là thành đạo. Thành đạo tức là chứng ngộ được Đạo Vô Thượng Bồ-đề Chánh Đẳng Chánh Giác (Phạn ngữ: A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề). Không có thành đạo th́ cơi đời măi măi dài dặc trong tăm tối, sanh linh vẫn lặn ngập trong sáu nẻo luân hồi, không bao giờ có phương pháp để được giải thoát ! Nhưng thành-đạo nghĩa là ǵ ?

Nói đến hai chữ thành-đạo có tới 500 ư nghĩa, trong phạm vi mấy trang hôm nay không tŕnh bày hết được. Thành đạo cũng đồng nghĩa như  thành Phật. Phạn ngữ của Thành Phật là Buddho Bhavati  và các đồng nghĩa: đắc đạo, thành chánh giác, thành Bồ-đề, chứng Bồ-đề, hiện đẳng giác, đắc Phật quả, chứng vô thượng đạo, chánh biến tri, thập hiệu cụ túc, phiền năo diệt, vô minh tận diệt, diệt hết, làu làu sáng suốt, quá hiện, vị lai biến măn pháp giới, vô lượng vô biên nhiều và nhiều lắm ! Tổng nghĩa là: “nhơn hạnh của Bồ-tát đă đầy đủ, tự lợi đă hoàn thành, đức lợi tha viên măn và đă đến cảnh giới rốt ráo tối thượng của vô thượng Bồ-đề.”

Mặt khác, thành đạo là Phật đă đi hết, đă cuối đoạn đường mà Bồ-tát đă phải đi, đă thể nhập tận cùng trong cái nhỏ tận cùng và trùm hết cái lớn tận cùng lớn, tức là đă đạt được bao trùm cả đại đạo, là bể cả của muôn sông, là không giới của vũ trụ, là bao hàm cả vũ trụ vô sở hữu và biến nhập trong tất cả và ngoài của tất cả và c̣n gọi là nhất thiết chủng trí...

Cách đây 2589 năm, ở núi Tuyết dưới cội cây Bồ-đề, vùng Hy-mă-lạp sơn, vào thời điểm T.T.L 590; Hồng Bàng kỷ (tức VN Quốc Lịch) năm 2290; Âm-lịch Năm Tân-Mùi, ở Trung Hoa, đời Vua Định-Vương nhà Châu năm thứ 17, bồ-tát Tất-đạt-đa đúng năm 35 tuổi, ngày 20 tháng 10 Âm-lịch, lên ṭa nhuyễn thảo dưới cội cây Bồ-đề (do trời Đế-thích hiện thân cúng dường ṭa cỏ mềm nầy) và Bồ-tát đă lập lời thệ nguyện lớn “ta ngồi ṭa Bồ-đề, nếu không chứng được đạo quả vô thượng, th́ dầu cho thân thể tan nát, ta quyết không đứng lên rời khỏi Bồ-đề nầy”! (Kinh Trang Nghiêm: ...Bồ-tát diện hướng đông phương, ư tịnh thảo thượng, kiết già phu tọa, đoan thân chánh niệm, phát đại thệ ngôn: Ngă kim nhược bất chứng đắc vô thượng Bồ-đề, ninh khả toái kỳ thân chung, bất khởi thử ṭa”).  Và Ngài tiếp tục tịnh tọa đến 49 ngày sau, vào đầu đêm mùng 7 tháng 12 năm Tân Mùi trải qua bốn canh đầu, Ngài đạt từng giai đoạn chứng ngộ cao hơn, đến canh 5, sao Mai vừa sáng tỏ, giờ Sửu, mùng 8 tháng Chạp, Bồ-tát “hoát nhiên đại ngộ” chứng thành đạo quả vô thượng bồ-đề.

 

LƯỢC QUA CÁC BỘ KINH BỔN HẠNH, NHƠN QUẢ, TRANG NGHIÊM VÀ KINH PHỔ DIỆU

Sau khi chứng thành đạo quả, Kinh Bổ n Hạnh nói: đức Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni. Do Đức Phật Định-Quang thời quá khứ đă thọ kư như vậy. Và ngày nay đúng như vậy.

Đứng về mặt thời gian và nhân hạnh tu tŕ mà nói: sự thành đạo của Phật ngày đó là một kết quả thành tựu do đă trải qua hằng sa vô số kiếp không ngừng tu tập hạnh Bồ-tát: “v́ xót thương chúng sanh. Ngay như v́ thương bao nỗi đói khổ của loài ngạ quỷ nguyện làm thân ngạ quỷ để ở măi trong địa-ngục mà thay thế ngạ quỷ v́ ngạ quỷ ! V́ ḷng từ-bi đối với chúng sanh trên khắp cơi ta-bà đem nhục thân bố thí cho nhiều loài thú đó là v́ loài thú ! Hiến dâng tài sản, quốc thành, vợ con mà không tham tiếc, với loài người v́ loài ngưới ... ! Luân hồi trong 6 nẽo vẫn thực hành muôn hạnh lục độ v.v và ..v.v. v́ chúng sanh ! Chỉ v́ nhất tâm cứu khổ và giải thoát cho chúng sanh.

Về mặt hóa độ chúng sanh mà nói th́ sự thành đạo không chỉ cho riêng Đức Phật mà cho chúng sanh. Sau khi chứng ngộ, Đức Phật đem đạo “giác ngộ chân thật” mà Phật đă chứng ngộ và, suốt 45 năm, tuyên nói vô lượng pháp môn (phương pháp) để d́u dắt không riêng cho con người mà cho nhiều loại sinh linh khác đồng chứng ngộ, được giác ngộ giải thoát như Phật. V́, giá trị nhân bản của con người là giá trị Phật.

Về mặt đưa con người lên giải thoát th́ Đức Phật đă giải bày trong các kinh:

-Kinh A-Hàm: Nhằm giúp cho con người biết về cách tu của bảy đời các Đức Phật thời quá khứ, các cách tu hành và giáo lư căn bản, Tứ đế, 37 phẩm tu chứng lên các thánh quả và A-la-hán...

-Kinh Tứ Thập Nhị Chương: Nói về khổ đau, vô thường, vô ngă và cách mở rộng từ bi, bố thí...

-Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm: Phật chỉ dạy duyên khởi các pháp, về tánh của pháp giới và mật lực siêu việt của Phật Tỳ-lô-giá-na.

-Kinh Đại Bát Niết-bàn: Phật dạy về diệt dục, phiền năo, để thể nhập vào trạng thái an tịnh.

-Kinh An Bang Thủ Ư? Phật chỉ dạy thực hành pháp thiền, quán niệm hơi thở.... nhằm thanh lọc tạp niệm, để vào chánh niệm.

-Kinh A-di-đà, Vô Lượng Thọ và Quán Kinh: nhằm đưa con người qua thế giới Cực-Lạc, vĩnh cữu không khổ đau, phiền năo, không c̣n luân hồi . Được sống trong sự giáo dưỡng của Phật A-di-đà và hộ trợ của đức Thế Âm và Đại thế Chí.

-Kinh Thủ-lăng-nghiêm: Đức Phật chỉ cho con người tự t́m thấy chơn tâm không sanh không diệt của chính ḿnh. A-Nan-đa đại diện cho con người phá vỡ vọng tâm qua 7 lần hiểu sai chơn tâm mà Kinh gọi là “thất xứ trưng tâm.”

-Kinh Pháp Hoa: Đức Phật đưa chúng sanh ra khỏi ngôi nhà lửa “tam giới” qua 28 phẩm giáo, để tu tŕ, và trọng yếu nhất là “tứ gia hạnh” như những pháp tu. Tu tức là cách hành tŕ, coi như một công thức, làm đúng tuần tự theo công thức tất nhiên sẽ có kết quả. Cao siêu của Pháp Hoa là duy nhất chỉ có một Phật thừa. Đưa người đạt đến Phật thừa.

-Mật Giáo: Phật c̣n mở bày phương pháp kín nhiệm cho những người có căn cơ thầm lặng nhưng sâu kín theo phép “ấn, chú” để vào cảnh giới của Tỳ-lô-giá-na mà ra khỏi luân hồi.

-Kinh Di-lặc Hạ Sanh: Đức Phật hướng dẫn con người về cơi trời Đâu-suất, dưới sự giáo dưỡng của Phật Di-lặc và để sớm chứng đạo trong ba pháp hội Long Hoa vào 16 triệu năm sau. Nhiều và c̣n thật nhiều cho con đường giải thoát mà chư Thánh chúng chứng quả, đă cùng ghi chép lại thành ba tạng kinh điển.

Phật tử chỉ nên kính tin các pháp tu vào Tam Tạng kinh điển và nhờ tăng đức y cứ theo đó chỉ dạy thẳng vào đó th́ nên tin, mà không nên tin vào những truyền ngôn, và sự ca ngợi truyền miệng, thiền nầy hay, thiền nọ giỏi, và những bài viết mang tính tự tôn, chỉ diễn dịch cho màu mè hoa bướm, mà thực chất ở họ c̣n ngă nhơn, c̣n tham vọng tiền bạc, xây dựng tài sản cho riêng ḿnh, cho đệ tử riêng của ḿnh, th́ nơi đó, nhất định không hề có giáo lư chân thật, để đưa về chân thật.

Tóm lại, tất cả pháp môn đưa chúng sanh về giác ngộ, đều là kết quả của thành đạo do Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, và “ứng dụng của thành đạo” như một ít kinh điển trong muôn ngàn kinh điển mà chúng tôi vừa giới thiệu, chính là ánh sáng nhiệm mầu kết tinh của vô lượng kiếp tu tŕ của Đức Phật, nhằm khai mở con đường cho chúng sanh sáng tỏ đi lên giải thoát, vượt thoát tam giới luân hồi và thành đạo như Phật. Điều nên nói là con người có chịu tu tŕ theo giáo pháp đă thành đạo của Đức Phật hay không ? Cơm đă chín rồi mời vào bàn thọ dụng, nếu chúng ta c̣n rẽ rúng th́ cái giá trị “no đủ” sẽ không đến với chúng ta. Cái chân giá trị “giải thoát” măi măi c̣n dịu vợi mà không biết thời điểm nào chúng ta sẽ nắm bắt được ? Ngàn năm sau ? Triệu năm sau ? hay vô lượng và vô lượng!

 

MOÄT ÑÔØI LAØM

KEÛ LAƠNG DU

Xin ñôøi haơy nguû yeân

Treân bôø vai beù nhoû

Xin ñôøi haơy b́nh yeân

Ñeå maây bay höơng hôø

 

Cho ñôøi nhöơng moäng mô

Cho qua ñi ngaøy thaùng

Moät ñôøi say phieâu laơng

Cho ngöôøi veà vôùi ngöoøi

 

Xin töøng gioït möa

Rôùt treân moâi beù nhoû

Bieán ñôøi côn soùng nhoû

Thöôû vaøo ñôøi traêm naêm

 

Xin trôøi haơy cöôøi vui

Cho maây theo ngaøy thaùng

Töøng ñoaøn chim hôùn hôû

Moät ñôøi laø voâ bieân Cö só Lieân Hoa


TUYỆT PHẨM THIÊN NHIÊN

Cư sĩ Liên Hoa

Trời vào Thu mang lại cảm giác lành lạnh, nhẹ nhàng. Qua những ngày hè oi bức, ai cũng mong đón nhận được những luồng gió mới, như xoá bỏ cái cũ để trôi qua, t́m lại bầu không khí mới mẻ.

Cuộc đời là những cái mới trong những giây phút hiện tại, đó là lời tâm niệm của những ngựi con Phật, bởi v́ sự mầu nhiệm của cuộc đời đều bắt đầu hay khởi sinh từ giờ phút hiện tại nầy.

Vừa ra khỏi nhà tắm, nh́n Thanh- vợ tôi, tôi chợt hỏi: “ Thanh chải tóc dùm anh được không?”. Người nầy mĩm cười, một nụ cười dễ thương làm sao ấy..( Đây là lời nói được gọi là nịnh đầm mà lị, nhưng không có nói ra thành lời). Thanh vội cầm lược chải tóc dùm tôi:” Anh có cần chẻ ngôi không? Tóc anh rụng nhiều quá. Lúc trẻ tóc anh thật nhiều, nhiều lắm, nhưng giờ lại lưa thưa…nh́n thấy xót ruột lắm”. Nghe được câu nói nầy, ḷng tôi buồn lắm ai ơi!

Nhưng nghỉ lại th́ không sao v́ vẫn c̣n có sự an ủi khi so sánh với tóc của Thầy tôi, lúc nào cũng không c̣n, nhất là vào ngày Rằm hay 30 của tháng ta âm lịch. T́m cách để nâng tinh thần ḿnh lên, nhưng vẫn không thấy ổn lắm, v́ Thầy th́ tự nguyện cạo đầu- dù có phải đúng câu tục ngữ:”Ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da”, c̣n ḿnh th́ cố ráng dưỡng tóc mà “Cái tóc là vóc con người”, cho nên; phải dùng đủ mọi thứ thuốc cho mọc tóc, nên rất ư là khác lắm lắm. Nh́n thấy một sợi tóc non vừa đâm chồi nẩy nở trên đầu là mừng rỡ, khoe với mọi người, dù chỉ vài ngày sau th́ nó biến đâu mất.

Chạy theo em, chạy theo từng sợi tóc

tóc em dài, sao lại ngắn bửa mai

trong tâm ta, h́nh hài em là mái tóc

nay đổi h́nh, phải em đó hay ai ?.

( Minh Thanh )

Tôi không phải đề cao đến mái tóc, nhưng mái tóc cũng là một trong khởi đầu của đạo, sự hoại sắc để đi đến một bản sắc dấn thân mới. Như vậy là mái tóc tôi đă tệ đi nhiều rồi, một sân bay sắp sửa được thành lập, đang chờ kư hợp đồng. . Đôi khi cuộc sống ở nước ngoài, thời giờ bận rộn, chi phối thật nhiều trong cuộc sống, nên thời gian cho mái tóc cũng eo hẹp, nhiều khi rảnh rổi mà cũng cảm thấy như bận. Ôi c̣n đâu là thời trai trẻ, hiên ngang, oai hùng …coi trời như đang ở trên cao.

Tôi hay quán chiếu đến những ǵ đang xảy ra thường ngày, chung quanh và trong tâm của ḿnh. Không cố công để t́m, nhưng mỗi hiện tượng đều được soi xét tới để chiêm nghiệm, để thưởng thức và nhận thức rằng Đức Phật có mặt ở mọi nơi chốn như câu “ Kính lạy Ba đời tất cả chư Phật ở khắp mười phương”. Sở dĩ phải ṿng vo, nói tới nói lui cũng bởi có nhiều hiện tượng rất tầm thường, nhưng lại hàm chứa sự mầu nhiệm có mặt, mà có thể các sự kiện nầy hiện diện thường xuyên quá, ta không thèm chú ư tới. Chúng ta chỉ quan tâm đến những ǵ mà ḿnh nghĩ là liên quan đến ḿnh từ vật chất đến tinh thần…sao cơ thể ḿnh hay ph́nh lên xọp xuống quá vậy? ( Câu nầy có nghiă là trọng lượng không quân b́nh, nay ốm mai mập, nhưng v́ đây là vấn đề nhạy cảm, nên phải tế nhị nói cho nó văn vẻ một chút, chứ cơ thể nào phải là bong bóng ). Sao tóc ḿnh thưa quá không c̣n đen bóng bẩy nữa, sao mặt mũi ḿnh, quần áo ḿnh, rồi sao không ai chú ư đến ḿnh hết bởi v́ dù sao ḿnh cũng là thứ thiệt, ngon lành lắm chư bộ ( Giống như tôi vậy, nhiều khi tưởng ḿnh ngon lắm, nhưng khi đụng chuyện ǵ th́ như bún bị thiêu. Ai từng bị ăn nhầm bún thiêu- chứ không phải bún riêu- th́ biết liền…). Ồ chỗ nầy nhộn nhịp quá, chỗ nọ nhiều cái lạ quá, chứ không quen thuộc, nhàm chán như những ǵ ḿnh đang hạnh phúc có được. Và sao người nầy hay quá, giỏi quá v.v…Cứ chạy theo bóng và quay cuồng theo những mảnh ráp nối của từng đoạn phim kết lại và một lúc nào đó, chợt giật ḿnh thấy đă đi quá xa, rời khỏi thực tế. Ngài Lama Thubten Yeshe nói rằng: “V́ tâm ḿnh chao đảo, đứng núi nầy trong núi nọ, nên nh́n những đoạn phim được tạo ra từ ảo tưởng và người khán giả ôm ảo tường của nhà sản xuất phim, lại cứ tưởng là thật và ḿnh đang ở trong đó”.. ( Trích trong “Nghiệp và Tánh không” do Cư sĩ Liên Hoa dịch ) Sự khổ đau cũng bắt đầu từ đó, để chúng ta không dám đối diện với ḿnh, rồi tự dối gạt ḿnh, dối gạt mọi người và đến khi tự suy nghĩ hoài, và đi đến kết luận rằng: Ôi ta là kẻ cô đơn nhất trần đời, không ai thèm hiểu ta. Đời sẽ thiếu sót trầm trọng v́ không nh́n nhận ra ta, một thiên tài trên thế gian nầy. Ta là kẻ cô đơn… Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi v́ …ta !!!

Đó là tâm trạng chung của chúng ta, v́ luôn chấp vào ngă ái. Đứng về xă hội, nhiều khi chúng ta may mắn hạnh phúc hơn biết bao nhiêu người. Họ khổ sở từ miếng ăn, cái mặc. Họ thiếu thốn về mọi mặt trong đời sống, nhưng họ vẫn mỉm cười, dù là ráng sức, v́ có khóc cũng chẳng ai để ư đến. Về cơ thể, chúng ta được diễm phúc lành lặn tay chân, đầu óc minh mẫn…c̣n biết bao người mù chữ, thất học, cơ thể không c̣n nguyên vẹn, cụt tay cụt chân v́ chiến tranh hoặc bi thảm hơn nữa, nhà tan cửa nát, thất lạc người thân v.v…Về phương diện tinh thần, khi chúng ta cảm thấy sự cô đơn trống vắng, có nghiă là chúng ta có sự nhận thức về những cảm giác, tri giác về những hiện tượng của tâm nầy và có nghiă là ḿnh đang có đầy đủ sự sáng suốt để nhận thức, nhưng bị tri kiến dẫn sai lầm do ái ngă. Trên cuộc đời nầy, có ǵ là toàn thiện toàn mỹ và tất cả chỉ là những ǵ sẽ trở thành…trừ những bậc Thánh Tăng, Bồ tát hay các vị Phật. Như chính con người tôi, người đang viết bài nầy, là hiện thân của tất cả sự bất toàn: Về ngoại h́nh th́ xấu xí, hơi thấp, tóc rụng …về học thức th́ kém cỏi, chỉ hay copy, lấy văn của người làm của ḿnh ( nói đúng là đạo văn, v́ văn người ta hay quá mà lị). C̣n về tâm hồn, tánh t́nh v.v..th́ rất khác xa với những ǵ tôi đang viết, đang nói. Thú thật th́ tôi rất ích kỷ, bỏn xẻn, chấp nhất, tham lam và rất ư là tệ… v́ hay nghỉ đến ḿnh mà quên người. Thưa vâng, nói lên được những điều nầy, phải nói nhờ Phật Pháp, dám nh́n thẳng vào ḿnh để quán chiếu. Cám ơn Đức Phật và Giáo pháp của Ngài. Khi ḿnh thấy được những điều dở về ḿnh, th́ những người bạn hay tất cả mọi người đều “dễ tiếp cận với”, v́ đang giao tiếp với một con nguời b́nh thường, c̣n mang đầy tục lụy. C̣n những ai nhận thấy con người nầy tầm thường quá, không đáng gần gủi, v́ ta là ai ai khác hơn, cao cả hơn, th́ tránh xa ra. Thế là đủ rồi, ḿnh đành phải vui vẻ chấp nhận số phận hẩm hiu với tánh nết của ḿnh như vậy. Hăy để gió cuốn đi… Trong những cái bất toàn, khi nhận diện được nó, ta mới cảm nhận được sự tiềm ẩn của Chân tánh thường hằng không sanh diệt- đó là Phật tánh, nên cần phải khai phá và phát triển.

Để nối tiếp là sự cô đơn. Sự cô đơn là sự trưỏng thành của tâm, khi nó ĺa xa dần những tham chấp về bản ngă. Cô đơn không phải để biến chúng ta thành cuồng sĩ, lang thang sĩ, cô đơn sĩ, la hét sĩ v.v…mà cô đơn là làm cho chúng ta có giá trị hơn. Tại sao vậy? Bạn hăy nh́n xem, tất cả các pháp môn tu học học hay hành tŕ trong Phật giáo, chúng ta nhận thấy đều bắt nguồn từ sự cô đơn, v́ sự xả ly, yếm ly, miên mật….Những tích lũy do tham đắm và trong vô thức chỉ là làm đầy bản ngă yếu đuối- mặc dù sự gom góp để chật đầy trong tâm làm cái “chắn che” cho và biến chúng ta thành như một kẻ anh hùng. Nh́n bề ngoài th́ chúng ta cần phải có mặt, phải hiểu, cần phải được nh́n nhận v.v…và rồi, chúng ta phóng tâm đi t́m những bù đắp qua những sở hữu tiếp nối như tài sản, danh vọng, t́nh cảm, sắc đẹp hoặc vi tế hơn- cho cái ngă ái yếu đuối. Bởi v́ bỏ đi lớp sơn dày bao phủ, chúng ta thấy nó chỉ là rỗng không, không thực hữu, không tồn tại biệt lập mà chỉ là duyên sinh duyên hợp, chúng ta sẽ trống vắng và giả cô đơn. Bởi thế, theo Đạo Phật, cô đơn là sự nhận thức và trưởng thành, chứ không phải là sự phóng ngă, bám víu.

Nhân thức được như vậy, chúng ta mới cảm thấy ḿnh rất hạnh phúc v́ hưởng thụ quá nhiều trong đời sống, nhưng ḿnh lại quên lăng v́ chỉ cầu cạnh cho cái ta hay cái ǵ của ḿnh, quên nghỉ đến người khác cũng như cảm giác của họ hay cho những ǵ xung quanh mà cái ta ḿnh tạo ra.

Qua đó, chúng ta mới cảm thấy có những thứ t́nh yêu đă làm cho cuộc đời con người có giá trị nhân bản, làm người- như t́nh hy sinh của bà mẹ. Sự hy sinh là quên đi bản ngă, quên cái ta nhỏ bé của ḿnh v́ sự hiện hữu của người và qua nguời khác, v́ đó chính là sự hiện hữu của ḿnh- một h́nh ảnh quả tuyệt đẹp. Bà mẹ lo cho con không phải để cầu được sự báo đáp, nhưng lo cho con chỉ duy nhất v́ hạnh phúc của con và đó là món quà tinh thần vô giá đối với mẹ.

Sau cuộc bể dâu biến động của năm 1975, chúng ta chứng kiến rất nhiều những h́nh ảnh cao đẹp, sáng chói…như những vị Bồ tát. Chỉ có một số nhỏ người phụ nữ bị sa ngả, c̣n tuyệt đại đa số người đàn bà Việt Nam- những người phụ nữ chân yếu tay mềm ngày nào, nay bổng trở thành những huyền thoại đầy xúc động, đầy tính nhân bản qua những sự hy sinh cho chồng cho con, dù thân thể bị thiệt tḥi, thiếu thốn. Những sự hy sinh đó, không có bút mực hay giấy nào có thể nào có thể kể hết được.

Chợt nghỉ đến những người bạn mà tôi gọi phone thăm sáng nay. Một người bạn thân đă lâu năm, từ Louisiana chuyển về định cư ở Florida sau cơn băo Katrina vừa qua. Sức khoẻ của anh rất kém, v́ bệnh hoạn đă lâu năm, nay lại khám phá ra dưới chấn thủy ( xương ức) có cục bướu rất lớn, đang test và chờ mỗ. Một người th́ hiện ở Louisisana, vợ cũng bệnh nặng… Cuộc sống xa xứ, những gia đ́nh mà vợ chồng tôi quen biết đă lâu năm, thân t́nh, gần gủi hơn là ruột thịt. Chúng tôi thường nói với nhau “Hăy gọi phone thăm nhau khi nhớ đến nhau, để biết khoẻ mạnh hay đau yếu ra sao và để cầu nguyện cho nhau…v́ ai nấy đều có tuổi đời chồng chất”. Theo chị bạn ( đang bệnh ) của gia đ́nh kể lại:” V́ biết em bệnh nặng, nên chồng em ảnh thường an ủi và nói rằng: Em hăy ráng điều trị để mong hết bệnh. Nhưng nếu em có mệnh hệ nào, th́ anh sẽ đi vào chùa, để theo tu với Thầy…V́ con cái đều cũng đă lớn, đă trưởng thành hết rồi”. Những lời nói bộc bạch, chân t́nh của người chồng khi nói cùng vợ khi vợ đang bệnh, nghe sao thật đẹp, thật tuyệt vời, khiến ḷng người ấm lại.

Kể lại những chuyện trên, chúng tôi không đề cập đến sự quyến luyến, tham đắm theo những lời nói, những bận bịu để làm nội kết cho những kiếp tương lai, như lời nói: “T́nh đa thiểu tưởng, lưu nhập …”, th́ đó là một khiá cạnh khác của vấn đề. C̣n con người- làm được như một con nguời b́nh thường, quả đă là khó, huống hồ là một gia đ́nh. Theo Dịch học: “Vạn vật bồng Dương cơng Âm”. Một cá nhân riêng lẽ- dù nam hay nữ- cũng đều có những mâu thuẫn nội tại, cho nên khi hai cá thể hợp lại để thành vợ chồng hay một gia đ́nh, cũng đều mang những mâu thuẩn đó để hoà hợp lại. Trên thế gian nầy, bất cứ gia đ́nh nào cũng có sóng gió, có xáo trộn, có tranh cải v.v…như một lẽ đương nhiên v́ những mâu thuẫn như vừa đề cập ở trên, nhưng tự bản chất hay trong chiều sâu nội tâm- “con người ai nấy đều mong cầu hạnh phúc an lạc”, cho nên những mâu thuẫn đó lại là những biểu hiện của sự chia xẻ, cùng nắm tay nh́n về một huớng- v́ gia đ́nh, v́ t́nh yêu và c̣n v́ những thế hệ kế tiếp. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến tấm ḷng hay chân t́nh. Là một người b́nh thường theo Tục đế- lời ái ngữ nầy là t́nh nghiă vợ chồng cho nhau trong những lúc nguy nan của cuộc đời, v́ bao năm chung sống th́ những lời nói chia xẻ, an ủi nầy ít khi được nói ra mà chỉ được biểu lộ bằng sự trọn vẹn t́nh yêu của đạo vợ chồng. Nh́n qua Chân đế- v́ là người Phật tử có tu học, đó là những lời nói pháp sâu xa để vực dậy một sức sống, làm hồi sinh một sinh mạng tâm linh để hiểu và nhận thức về cuộc đời và làm sao cho có ư nghiă. Sự thịnh suy, vinh nhục, mất mác, sinh tử v.v..chỉ là những đợt sóng trong muôn vàn đợt sóng. Chúng ta không cho nhau những giây phút nầy, th́ c̣n ǵ cho nhau nữa…

Có những dữ kiện là một định luật thiên nhiên như: sinh già bệnh chết- không ai có thể thay đổi được. Chúng ta chỉ có thể thay đổi mọi hoàn cảnh để làm sao cho cuộc đời có giá trị thực sự. Trong một bài thơ nói về “Chân tâm”, trong đó có vài câu đă đi vào tâm tôi:

Em về tóc xoă lưng trời

Đôi vai trĩu nặng đôi bờ tử sanh

gặp em mới biết luân hồi

Nếu không muôn kiếp, ta c̣n nơi đâu…

( Minh Thanh )

Ta c̣n nơi đâu như một linh hồn vất vưỡng, hay chúng ta c̣n nơi đâu, bơ vơ, lạc lỏng giữa cuộc đời? Không phải bi quan cho cuộc đời, nhưng như một nhận diện, tiếp cận và chuyển hoá…Ta không thể kêu thảng thốt lên một cách tuyệt vọng…

bạn hăy chỉ dùm tôi- nơi nào tôi ở

cuộc luân hồi, thay đổi mặt muôn nơi

h́nh hài xưa, bỗng chốc là hư ảo

đôi tay gầy, gỡ nội kết rời bay …

( Minh Thanh )

Thưa bạn, Đạo Phật chưa bao giờ chỉ cho chúng ta con đường để bi quan, yếm thế… mà con đường Khổ Đế- chỉ là nhận diện, v́ chạy trốn chỉ đem lại khổ đau và đau khổ. Sự trực diện để chuyển hoá ( Tập đế )-với chính cái mà ḿnh thấy sai lầm, đó là một tác phẩm tuyệt đẹp đang thanh h́nh nơi bạn, nơi chính những hũu t́nh là chúng ta.

Chiều nay, tôi đi bộ quanh bờ hồ sau lưng nhà. Cái hồ rất rộng, từng míếng xi măng nối nhau để tạo nên đường đi ṿng quanh hồ, dành cho những người cư trú trong khu nầy xử dụng, đi bộ. Nếu dạo chung quanh hồ, thong thả từng bước một hay đi hơi vội vả một chút, cũng mất khoảng 25 đến 30 phút. Giữa hồ có 3 cột phun nưóc, xoè ra những ṿi rồng bắn nước tung toé, tạo nên những tiếng róc rách như tiếng thác đổ, thật đẹp và nên thơ. Không khí trong lành, thoáng mát. Đă dọn về đây hơn ba năm, và nh́n thấy bao lần mùa thay đổi, nhưng đâu phải lúc nào ta cũng cảm thấy được những cảnh đẹp hiện hữu chung quanh.

Những cánh chim bay từ cao xà xuống mặt nước, rồi lại bay lên. Cạnh đó, có đàn thiên nga đang vờn vui trong nước một cách thoả thích. Có những chiếc lá rơi rụng trên mặt hồ, đong đưa như những chiếc thuyền lơ lững trên ḍng nuớc cuộc đời.

Thuyền lặng lẽ, một ḿnh trên biển nước

đi về đâu bao sóng cuộn luân hồi

nơi bến cũ, một lần thuyền cập bến sóng muôn trùng, thuyền-bến nơi đâu ????

( Minh Thanh )

Đâu phải hôm nay, mặt hồ mới trẻ trung, đẹp. Dù là cái hồ nhân tạo, nó cũng hiện diện một khoảng thời gian qua. Gió vẫn thổi vi vu. Đâu đây vài tiếng chim hót líu lo, rộn ràng những âm thanh ngọt ngào. Cảnh Cực Lạc nơi đâu, tôi chưa thấy v́ chưa đến hay thể nhập được(?), nhưng không khí êm dịu, lặng lẻ…và nơi đây, tiếng chim hót, gió, tiếng cỏ non cựa ḿnh, tiếng lá rơi, tiếng của vạn vật chuyển ḿnh, bổng trở nên xuất thần như là tiếng thuyết pháp…những lời pháp âm tuyệt diệu, lóng lánh như những hạt kim cương trong bài Tâm Kinh Bát Nhă….năm uẩn có c̣n không, một cơn gió thoảng, mộng mị vỡ tung, đừng sợ hải, hăy bước vào đời, vượt qua đi, bằng trái tim ngọc….trái tim kết bằng những cánh sen…

Tôi không muốn lơ lững trên bầu trời của âm thanh và màu sắc, v́ nó rực rở ở muôn nơi. Tôi không muốn gom lại tất cả để chỉ vừa đủ trọn trong ḷng bàn tay, v́ nó là bầu trời là đại dương, là thế giới kỳ vĩ của thiên nhiên, của tâm…mà chính tôi muốn nói đến những hạt tham sân si đă vô t́nh trút lên thân phận của thiên nhiên, trong đó là chỗ trú ngụ của chúng ta trong cuộc làm người.

Chúng ta nói là yêu thiên nhiên, thèm nh́n cảnh có bầu trời, có mây nuớc, có những không khí trong veo lành lặn v.v…nhưng chúng ta lại bắt tất cả hy sinh chỉ để phục vụ cho ḿnh một cách không thương tiếc. Hiệu ứng nhà kiếng đă làm bao tai trời ách nước xảy ra. Môi sinh được chúng ta cải tạo bằng cách như vậy, bằng chiến tranh, bằng bom đạn, bằng hận thù v.v…trong lúc biết bao cảnh điêu tàn, đổ nát diễn ra hằng ngày….

Hăy ngủ đi em, để cho ngày đến b́nh thường

ngủ đi em, để lắng nghe tiếng trống trường đă điểm

ngủ đi em, để nh́n thấy ánh mắt mẹ cha ngời sáng

ngủ đi em, con đường nào có hoa vàng, đón một ngày vui

hăy ngủ đi em, giấc ngủ sẽ đưa em vào ngày mai

v́ ngày hôm nay, em không là ǵ

v́ ngày hôm nay, em không c̣n ǵ

những hố bom, tan nát cửa nhà

những hố bom, chôn xác bao người

những người c̣n sống, đầu chít khăn tang

người ốm yếu, c̣n nh́n nhau, mắt ṃn hy vọng

đôi tay c̣n lại ǵ

đôi mắt nầy c̣n thấy ǵ

ngủ đi em để ngày đến b́nh thường

hăy ngủ đi em, giấc ngủ đưa em vào ngày mai….

( Minh Thanh )

Có bao giờ chúng ta nghe được tiếng của cây, của lá, của cỏ ..than van….Bạn ơi! Tôi đă sống trọn vẹn cho bạn ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai, v́ tôi đă hút hết thán khí độc carbonic để dành cho bạn hít thở bầu không khí oxy trong lành. Bạn có nghe được tiếng nước của mặt hồ không…thân tôi là những tế bào nuớc kết nối lại, tôi đă bốc khói lên dưới ánh nắng mặt trời, làm đám mây, làm mưa và là nuớc…trong thân thể của bạn, của muôn loài đều có tôi…có bao giờ bạn biết như vậy không?

Chúng ta cô độc trong mùa đông, rạng rở trong mùa xuân, hối hả trong mùa hè, trầm lặng trong mùa thu và lại tiếp nối, nhưng bạn có biết bốn mùa là sự vận chuyển kỳ diệu để nuôi duỡng vạn vật và cho cả chính bạn.

Tuyệt phẩm thiên nhiên nầy cần phải được tỉnh giác mới nhận thức, chiêm nghiệm và ǵn giữ được và bóng dáng của Đấng Đại Giác lại trở về làm hiển lộ hơn tác phẩm kỳ vĩ nầy. Chúng ta thường nghe nói “ hiểu để thương” nhưng lại quên rằng “thương cũng hiểu”, bởi v́ chúng ta đă phân cách và cắt đoạn ra để nói, mà quên rằng “hiểu và thương” là cặp bài trùng, song sinh và không thể cắt phân đoạn được. Giữa “ tuệ nhật phá chư ám” và “từ nhản thị chúng sinh”, nơi nào là kẽ hở để phân chia.

Trong t́nh yêu của Như Lai Tỳ Lô Giá Na dung chứa cả khắp vũ trụ, vô biên thế giới cũng tràn đầy ánh sáng của Như Lai Đại Nhật. Nếu khi nào chúng ta phân đoạn, th́ chúng ta đang sai lầm v́ cho cái nầy quan trọng hơn cái kia. Vô lượng vô biên các Đức Phật cũng như vô lượng vô biên các vị Phật Đồng Danh Đồng Hiệu đều hiện thân xuống cơi Ta bà hay các thế giới khác để ban vui cứu khổ cũng v́ “ hiểu và thương”. Trong những chặng cuộc đời của tôi đă bao lần gặp sóng gió. Có những sự việc xảy ra đă làm cho nuớc mắt tôi nhiều lần chảy xuống, bế tắc cuộc đời, “tiền lộ mang mang bất tri hà văng”,

tại sao lại xảy ra cho tôi? Tôi làm ǵ nên tội? và cảm xúc khổ đau dâng tràn như những vết dao xẻ từng thớ thịt, đau và xót xa lắm….Nghiệp lực không chừa một ai, và đùa giỡn trên sự đớn đau của ḿnh. Tôi đă cầu nguyện đến Bổn Tôn của ḿnh- Bồ Tát Đại bi Quán Thế Âm, Người đă và đang đi bên cạnh tôi trong những thời gian qua- nhưng không phải tôi cầu nguyện để cầu xin một tha lực che chở, giải cứu cho tôi trong nổi bấn loạn nầy. Và Ngài đă đến, xuyên qua cánh cửa Phổ Môn huyền diệu, xuất hiện trong tâm tôi….”Dù hoàn cảnh nào, con cũng đừng bao giờ bỏ mất Tâm Bồ Đề, v́ khi con c̣n nuôi dưỡng và ǵn giữ tâm Bồ Đề th́ lúc nào ta cũng có bên con ”. Lời nói êm dịu đó có sức bật dậy, v́ bao hàm cà “hiểu và thương”, làm sống trong tôi những lời sám hối.

Thưa bạn, cuộc đời th́ quá ngắn ngủi, rồi mai nầy ai nấy đều phải ra đi. Chúng ta không biết lúc nào ḿnh là người kế tiếp. Có “những cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng cũng có chết nặng tợ núi Thái sơn”. Kinh qua cuộc làm người với những đau khổ và hạnh phúc, chúng ta có được bài học của tỉnh thức. Đạo Phật đánh thức chúng ta để trở nên con người b́nh thuờng, quán chiếu lại ḿnh và sống sao cho có ư nghĩa. Đừng bao giờ đ̣i hỏi ḿnh phải là ǵ, được ǵ, chứng ǵ…chỉ duy nhất khi biết ḿnh có tánh Phật, cần phải khai phá tánh giác nầy, cũng đủ làm đảo lộn cuộc đời và đó là tác phẩm thiên nhiên cao quí nhất mà bạn có thể dâng tặng cho cuộc đời. Những lời nầy xin dâng tặng tất cả mọi người, dù bạn có đồng ư hay không, xin hăy tự trả lời.

Cuối Thu năm 2006

Viết xong ngày 27.11.06.


NHỮNG TƯ TƯỞNG ĐỂ SUY NIỆM NHÂN DỊP NĂM MỚI

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

MỘT ĐỜI NGƯỜI QUƯ BÁU 

 

“MỖI NGÀY, KHI THỨC DẬY, QUƯ VỊ HĂY SUY TƯỞNG:

HÔM NAY TÔI THẬT MAY MẮN ĐƯỢC

THỨC DẬY,

TÔI C̉N SỐNG, TÔI ĐĂ CÓ MỘT ĐỜI

NGƯỜI QUƯ BÁU,

TÔI SẼ KHÔNG LĂNG PHÍ NÓ,

TÔI SẼ SỬ DỤNG TOÀN BỘ NĂNG LỰC

CỦA TÔI ĐỂ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN.

ĐỂ MỞ RỘNG TRÁI TIM TÔI TỚI

NHỮNG NGƯỜI KHÁC,

ĐỂ THÀNH TỰU GIÁC NGỘ V̀ LỢI LẠC

CỦA TẤT CẢ CHÚNG SINH,

TÔI SẼ CÓ NHỮNG TƯ TƯỞNG TỐT

LÀNH ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC,

TÔI SẼ KHÔNG GIẬN DỮ

HAY NGHĨ XẤU VỀ NGƯỜI KHÁC.

TÔI SẼ LÀM LỢI ÍCH CHO NGƯỜI KHÁC

CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT TRONG KHẢ

NĂNG CỦA TÔI.”

A PRECIOUS HUMAN LIFE

  "Everyday, think as you wake up, today I am fortunate to have woken up, I am alive, I have a precious human life, I am not going to waste it, I am going to use all my energies to develop myself. To expand my heart out to others, to achieve enlightenment for the benefit of all beings, I am going to have kind thoughts towards other, I am not going to get angry, or think badly about others. I am going to benefit others as much as I can."

 by  H. H. The 14th Dalai Lama

 

 

 

 

Ư NGHĨA THỰC SỰ CỦA CUỘC ĐỜI

“Chúng ta là những lữ khách trên hành tinh này. Chúng ta có mặt ở đây nhiều lắm là chín mươi hay một trăm năm. Trong quăng thời gian đó, với cuộc đời của chúng ta, ta phải cố gắng làm những điều tốt lành và ích lợi. Nếu quư vị góp phần vào việc mang lại hạnh phúc cho người khác, quư vị sẽ t́m thấy mục đích chân thực, ư nghĩa thực sự của cuộc đời.”

THE TRUE MEANING OF LIFE

 
 "We are visitors on this planet. we are here for ninety or one hundred years at the very most. During that period, we must try to do something good, something useful, with our lives. If you contribute to other people's happiness, you will find the true goal, the true meaning of life."

by H.H. The 14 th Dalai Lama


ĐI T̀M CÁI NGĂ

SEEKING THE I

Lama Thubten Zopa Rinpoche

Trích trong Wisdom Energy 2 Publications for Wisdoms Culture 1979

Cư sĩ Liên Hoa dịch

 

Kỷ niệm Ngày Sinh nhật

của Thanh (Diệu Tịnh)

Cho nhau tâm hồn, bàn tay qua Giáo pháp của Đức Từ phụ để d́u dắt nhau qua những nẻo luân hồi và để làm lợi ích cho mọi người

 

Tất cả mọi vấn đề mà chúng ta đối diện trong ṿng luân hồi: chu kỳ luân chuyển giữa chết và tái sanh, đều bắt nguồn từ sự sai lầm chấp thủ vào các pháp v́ nghĩ nó tự hiện hữu độc lập. Vị trí của chúng ta trong chu kỳ nầy tương tự như đang bị mắc bẫy trong một toà nhà lớn với nhiều pḥng và cửa, nhưng chỉ duy nhất có một cửa để đi ra. Chúng ta đi từ pḥng nầy qua pḥng khác của toà nhà với chút hy vọng là t́m được đúng cái cửa ra. Cánh cửa đưa chúng ta thoát khỏi luân hồi, đó là tuệ giác nhận thức rơ tánh không của mọi hiện hữu. Trí tuệ nầy là phương thuốc chánh để điều trị sự ngu tối đă là nhân quả làm bám víu vào cái Ta, và tin rằng cái ta hay “Ngă” là tồn tại cố hữu và riêng biệt. Nói cách khác, cái Ngă sinh khởi là cái ǵ đó mà nó không phải đúng như: cụ thể, một khối đồng nhất không thay đổi, tồn tại riêng biệt, nhưng tâm mê muội của chúng ta th́ bám víu vào cái nh́n sai lầm nầy. Khi chúng ta bám chặt vào cái Ta ma quái nầy và tích lũy nó như là một tài sản vô cùng quí báu. Tuệ giác nhận thức được rằng mỗi cái ngă tự hiện hữu hoàn toàn không có và do đó, qua cái nh́n trí tuệ soi thấu, vô minh bị phá vỡ. Trong kinh điển nhà Phật giáo nói rằng khi có chánh kiến về tánh không, dù chỉ là trong chốc lát, sẽ làm chấn động ṿng trầm luân, như một cơn động đất làm rung chuyển cái nền toà nhà.

Mỗi một người chúng ta theo bản năng đều tin chắc vào một cái Ngă hiện hữu cụ thể và độc lập. Buổi sáng khi thức dậy, chúng ta liền nghĩ “Tôi phải soạn buổi điểm tâm sáng” hoặc “Tôi phải đi làm”. Do đó, trực giác về một cái Ta tồn tại riêng biệt lại tăng thêm và chúng ta ôm chặt vào sự tin tưởng sai lầm nầy. Nếu có ai nói:”bạn là kẻ khờ” hoặc” bạn là người thông minh”, làm cho cái Ta bị đẩy vào chiều sâu của tâm, hoặc đốt cháy chúng ta bởi sự tức giận hoặc tự phụ lên v́ kiêu hănh Cái tham chấp về cái ta đă có lúc vừa mới chào đời- điều mà chúng ta không có đuợc chỉ dạy từ cha mẹ hay thầy giáo. Nó có mặt một cách mănh liệt vào lúc có nhiều xúc động như: khi mà chúng ta bị nguợc đăi, bị lạm dụng hoặc đang bị ảnh hưỡng bởi xúc phạm hay hănh diện. Nếu ta là người từng trải qua cơn động đất hoặc đi xe cộ hay máy bay gần bị đụng, cái Ngă kinh hải sẽ chế ngự chúng ta khiến quên lăng tất cả mọi chuyện khác. Cái cảm giác kiên cố về cái Ta cũng tăng thêm khi được nhắc đến tên ḿnh.. Nhưng cái Ngă với cái vẽ bên ngoài như kiên cố, độc lập lại thực ra không đúng. Nó hoàn toàn không hiện hữu .

Điều nầy không có nghiă là chúng ta không tồn tại, mà chỗ nói đến là sự hiện hữu của cái Ngă có tính qui ước và thực sự. Đó là cái ta từng kinh nghiệm qua hạnh phúc và đau khổ, như làm việc, học hành, ăn, ngủ, thiền quán và chứng đắc giác ngộ. Cái Ngă nầy th́ tồn tại, nhưng cái ngă kia chỉ là ảo giác. Tuy nhiên, v́ vô minh, chúng ta bị lẫn lộn về cái Ngă giả và cái Ngă qui ước và khó có thể phân định được bên nào.

Sự việc nầy đôi khi gây trở ngại cho chúng ta v́ lại khởi lên trong lúc đang quán chiếu về tánh không. “Cái thân tôi không phải của Tôi, tâm tôi không phài là Tôi, như vậy có nghiă là Tôi không tồn tại” hoặc”. Từ lúc Tôi không t́m được cái Ngă, Tôi phải đi đến nhận thức về tánh không”. Thiền quán mà đem đến những kết luận nầy thật không đúng, bởi v́ bỏ quên đi cái ngă qui ước. Người hành giả khi không nhận thức rơ và nhận diện chính xác về cái giả Ngă bị không thừa nhận mà thay vào đó, lai đi bác bỏ cái Ngă phổ quát hoặc sự hiện hữu liên hệ đến. Nếu sự sai lầm nầy không sửa đổi lại, sẽ làm tăng thêm quan niệm đoạn kiến đi đến phủ nhận tất cả mọi sự hiện hữu, và có thể đưa đến sự phức tạp hơn cũng như hứng chịu khổ đau hơn thay v́ được giải thoát.

Trong truờng hợp nầy, sự khác biêt giữa cái giả Ngă và cái Ngă qui ước ra sao? Cái giả Ngă chỉ là một tư tưởng sai lầm mà chúng ta nh́n về cái ta: Là cái ǵ cụ thể, độc lập và tự tồn tại. Đó là cái Ta tự hiện hữu độc lập: Sinh khởi một cái riêng biệt trong thân tâm chúng ta, những yếu tố tạo thành sự hiện hữu của chúng ta. Sự tập hợp thân tâm là nền tảng mà những suy tư nhận thức được đặt tên cho. Như trường hợp ngọn nến, sáp và ngọn bấc là căn bản được gọi là “ngọn nến” như được định danh. Như vậy, cây nến là độc lập nhờ vào những thành phần của nó và tên của nó. Không có cây nến riêng ngoài những thành phần nầy. Cũng như vậy, không có cái Ngă độc lập trong thân, tâm cũng như tên gọi.

Bất cứ lúc nào cảm xúc về Ngă sinh khởi, như trong “tôi đang đói”, cái ngă chấp vô minh tin rằng là cái Ta nầy hiện hữu cụ thể và cố hữu. Nhưng nếu chúng ta phân tích cái Ngă nầy, và sẽ nhận thấy rằng nó được tạo ra do thân - đặc biệt là khi bao tử trống- và tâm ta tự đồng nhất nó với cảm thọ của tánh không. Không có cái Ngă gắn liền với cái đói hiện hữu riêng biệt từ những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.

Nếu cái Ta đă độc lập, th́ có nghiă là tự nó có khả năng tự trị. Ví dụ như, cái Ta có thể vẫn ngồi đây đọc sách trong lúc đó, thân tôi đi vào phố. Cái Ngă có thể hạnh phúc trong khi tâm tôi bị căng thẳng. Nhưng điều nầy khó có thể, do đó Cái Ngă không thể độc lập được. Khi thân tôi đang ngồi, cái Ngă phải ngồi. Khi thân tôi đi dạo phố, cái Ngă cũng đi vào phố. Khi tâm tôi bị chán nản, th́ cái Ngă cũng như vậy. Tùy thuộc theo những sinh hoạt thể chất hoặc trạng thái tinh thần của chúng ta, chúng ta nói rằng “Tôi đang làm việc” “Tôi đang ăn” “Tôi đang suy nghĩ” “Tôi đang vui suớng” và v.v…Cái Ngă tùy thuộc vào những ǵ mà cơ thể hoặc tư tưởng làm; nó bị coi như mặc nhận vào nền tảng đơn độc. Ngoài ra không có ǵ khác. Thực ra, không có các cơ sở nào khác cho mỗi giả định nầy.

Sự độc lập của cái Ta phải được rơ ràng theo những dẫn chứng đơn giản nầy. Thấu rơ về tính phụ thuộc là phương tiện chánh yếu để nhận thức tánh không, hoặc sự hiện hữu phụ thuộc của cái Ngă. Tất cả các pháp đều phụ thuôc lẫn nhau. Ví dụ như: sự h́nh thành thân xác được cấu tạo bởi những thành phần như: da, máu, xương, nội tạng và v.v… Tất cả các thành phần nầy phụ thuộc vào những phần nhỏ như: tế bào, nguyên tử và những hạt hạ nguyên tử.

Tư tưởng cũng bị phụ thuộc. Chúng ta cứ tưởng tượng về ngă với những ǵ hiện thực và tự hiện hữu và phản ứng lại một cách mạnh mẽ nếu chúng ta nghe thấy rằng” Bạn có tư tưởng tốt” hay” Bạn quá rắc rối”. Tâm là một hiện tượng vô tướng để nhận biết các đối tượng và bản tính rất trong sạch. Dựa vào nền tảng mà nó hoạt động, chúng ta đặt tên “tâm”. Rơ ràng không có những chức năng tâm hoạt động riêng cho tâm trong những yếu tố nầy. Tâm phụ thuộc vào những thành phần như: những chập tư tưởng, tri giác và cảm xúc. Cũng như cái Ngă, sắc và tâm phụ thuộc vào những thành tố đó và định danh, do đó tất cả mọi hiện tượng xuất hiện phụ thuôc lẫn nhau.

Những quan diểm nầy có thể được thấu rơ qua những phương tiện của thiền quán để khám phá làm thế nào mà cái Ngă xuất hiện. Khởi đầu bằng cách thiền sổ tức (đếm hơi thở) để thư giản và tâm an tịnh. Và với sự cảnh giác theo dơi, chậm rải và cẩn thận để nh́n rơ về cái Ta. Ai hoặc cái ǵ đang suy tư, cảm nhận và hành thiền? Làm thế nào mà nó có vẻ như hiện hữu? Nó sinh khởi nơi bạn bằng cách nào? Đó có phải là cái Ngă được sáng tạo ra trong tâm của bạn hay đó là một cái ǵ tồn tại cụ thể và độc lập một cách riêng của nó?

Khi bạn nhận diện được cái Ngă, nên cố gắng t́m chỗ của nó trú ngụ? Nó đến từ đâu? Ở trong đầu…nơi mắt…trong tim…trong đôi bàn tay…trong dạ dày…hay đôi chân của bạn? Quan sát kỹ đến từng phần của thân, bao gồm cả những nội tạng, hệ thống tuần hoàn máu và hệ thần kinh. Bạn có t́m thấy được Ngă đâu không? Nếu không, có thể v́ nó quá nhỏ và vi tế, vậy nên chú tâm đến những tế bào, nguyên tử và những phần của nguyên tử.

Sau khi đă quan sát toàn diện cơ thể, một lần nữa bạn tự hỏi là làm thế nào cái Ngă tự hiển lộ được. Có phải nó vẫn c̣n biểu lộ một cách sống động và cụ thể? Thân của bạn có phải là cái Ta hay không?

Đôi khi bạn nghĩ rằng tư tưởng của bạn là cái Ngă. Tư tưởng gồm có những ư nghĩ thường luôn thay đổi, chuyển biến mau lẹ. Vậy cái suy nghĩ nào là cái Ta? Là tư tưởng thuộc về t́nh yêu…suy nghĩ giận hờn…hoặc suy nghĩ nghiêm nghị…hoặc suy nghĩ yếu đuối? Bạn có thể t́m thấy Ngă trong tư tưởng không?

Nếu cái Ngă của bạn không thể t́m thấy trong thân hoặc tâm, hay nó ở một chỗ nào khác cần t́m đến? Có thể nào cái Ngă tồn tại một chỗ nào khác hoặc trong một vài h́nh thái nào khác? Hăy quan sát bất cứ ǵ có thể.

Một lần nữa, hăy quan sát cách nào mà cái Ta xuất hiện trong bạn. Có cái ǵ thay đỗi không? Bạn có c̣n tin rằng nó là sự thật và tồn tại riêng biệt không? Nếu mà Cái Ngă tự ḿnh hiện hữu vẫn c̣n hiện đó, nên nghĩ “Đó là cái cái Ngă không thực, không có hiện hữu. Không có cái Ngă độc lập trong thân và tâm của bạn.

Sau đó đem tinh thần phân tách cơ thể bạn. Hăy tưởng tượng những nguyên tử trong thân bạn rời ra và từng phần di chuyển. Hàng tỉ tỉ các hạt nhỏ vụn phân tán qua không gian. Hăy h́nh dung rằng chúng ta quả thực có thể nh́n thấy sự kiện nầy. Thả lỏng tâm của bạn cách tốt nhất và lắng tâm lại.

Giờ đây, th́ bạn đang ở đâu? Cái Ngă tự tồn tại độc lập c̣n đó không? Hay bạn có thể nhận thức rơ rằng Ngă không độc lập, chỉ là phụ thuộc vào sắc và tâm thôi?

Đôi khi người thiền giả sẽ trải qua kinh nghiệm về đánh mất cái Ngă hoàn toàn. Người đó không thể t́m thấy cái ta và cảm giác như thể thân thể bị biến mất. Không có ǵ nắm bắt đuợc. Một người tỉnh thức th́ kinh ngiệm nầy là một sự an lạc lớn, như thể khám phá được kho báu kỳ diệu. Tuy nhiên, những người có chút ít tỉnh thức sẽ bị khiếp sợ hoặc cảm thấy như là vừa bị mất báu vật. Nếu điều nầy xảy ra, không nên sợ hải là cái Ngă phổ quát đă bị biến mất- Đó chỉ đơn thuần cảm giác phát sinh khi chấp trước vào cái Ngă giả dối là hư vọng.

Qua hành tŕ, sự thiền quán nầy sẽ giúp làm tan biến từ từ của quan niệm cứng nhắc về Ngă và ở trong các pháp.Chúng ta cũng sẽ không c̣n bị chi phối nặng nề bởi vô minh. Sự nhận thức tinh tế của chúng ta sẽ thay đổi và mọi pháp xuất hiện dưới một ánh sáng mới và kỳ diệu..

Quan sát kỷ các đối tượng, chẳng hạn các h́nh thức, hiện hữu qua 6 thức của bạn, phân tích bằng cách nào mà chúng sinh khởi trong bạn. Như thế là phương pháp bóc trần sự hiện hữu của các pháp sẽ làm xuất hiện một cách trong sáng trước bạn.

Những ḍng chữ trên trích từ trong sách “Đại Ấn của Tánh Không “( The Great Seal of Voidness), văn bản về Đại Thù Ấn lần đầu tiên của Ngài Panchen Lama ( Ban Thiền Lạt Ma), chứa đựng chià khoá của tất cả pháp thiền quán về tánh không. Yếu tố quan trọng nhất để nhận thức thấu đáo về Tánh không là chánh kiến về cái ǵ cần bị loại trừ. Trong các pháp xuất hiện qua 6 thức của chúng ta, có yếu tố hiện hữu và yếu tố không hiện hữu.. Cái giả, yếu tố không hiện hữu cần bị loại bỏ. Sự chúng đắc tánh không rất là nan giải chừng nào mà bạn không thừa nhận về Cái Tánh của các pháp trong ư nghĩa khiếm khuyết, ví dụ nhự chúng là rỗng không về. Đó là ch́a khoá để mở kho báu vô tận của tánh không.

Nhưng sự thừa nhận nầy rất là khó khăn để chứng đắc và đ̣i hỏi có nền móng về cách hành tŕ khéo léo. Theo Ngài Lama Tzong-khapa, có 3 vấn đề cần chú tâm để chuẩn bị cho tâm chúng ta để tự chứng về tánh không: Truớc nhất, gở bỏ những chướng ngại và tích lũy phước đức; thứ hai là , nương theo một vị Thầy tâm linh; và thứ ba: nghiên cứu về những đối tượng như là cách hoàn tất con đường đến giác ngộ và đại thủ ấn. Bạn sẽ chứng đắc mau chóng nếu theo 3 lời hướng dẫn nầy. Sự chứng đắc của chúng ta được thưà nhận tùy thuộc khởi đầu vào ḷng tin vào vị Thầy. Không có những yếu tố nầy, dù chúng ta có cố gắng thiền quán nhưng thấy rằng khó có thể đi sâu vào được, hoặc giả chúng ta có thể nghe lời giải thích về giáo pháp nhưng t́m ư nghiă qua những chữ th́ ít kết quả.

Lời giải thích nầy là kinh nghiệm qua quá tŕnh làm người. Tôi tự ḿnh không có kinh nghiệm về thiền quán. Tôi thuờng hay quên tánh không, nhưng thỉnh thoảng Tôi cố gắng tu tập chút ít giáo pháp. Nếu bạn cũng thực hành như vậy, bạn có thể tự khám phá ra sự xác thực của những lời dạy nầy.

 

Dịch xong ngày 16 tháng 10 năm 2006

 

 

Cu người chng bng cu ḿnh


Lúc thiền sư Phật Ấn Liêu Nguyên cùng Tô Đông Pha đi dạo, giữa đường thấy một tượng đá Mă Đầu Quan Âm, Phật Ấn lập tức chắp tay lễ bái Quan Âm.

Tô Đông Pha thấy t́nh h́nh này, không hiểu liền nói:

- Quan Âm vốn đă là đối tượng để chúng ta lễ bái, v́ sao trên tay Ngài cũng có xâu chuỗi như chúng ta rồi cũng chắp tay niệm Phật, rốt cuộc Quan Âm niệm ai?

Thiền sư Phật Ấn nói:
- Đây cần phải hỏi chính ông.
Tô Đông Pha:
- Tôi làm sao biết Quan Âm lần chuỗi niệm ai?
Phật Ấn:
- Niệm Bồ Tát Quan Thế Âm
Tô Đông Pha:
- Bồ Tát Quan Thế Âm v́ sao phải niệm chính ḿnh?
Phật Ấn:
- Cầu người không bằng cầu chính ḿnh.

(Trích trong thiền thọai Tinh Hoa Văn Hóa Phương Đông)

BÊN ĐỜI-

Từng sóng vô thường chở ánh trăng

 

 

 

 

 

 

Đứng ngắm bên đời, trường ảo mộng

Hàng cây núp bóng, tuổi xuân xanh

Bao năm chăm sóc t́nh ươm nụ

Giọt nước đêm trăng, vẫn lặng lờ

 

Những buổi chiều hoang, mây lặng lẽ

Lá cây vàng điểm, lá vàng cây

Vi vu gió thổi muôn trăng rụng

Từng sóng vô thường chở ánh trăng

 

Khi mặt trời xanh, chuông đổ nhẹ

Vô t́nh huơng nhụy ưóp thinh không

Âm thanh là sắc hay không nhỉ

Hăy để nhân gian đón gió về

 

Giấy trắng ngàn trang vùng vẫy cánh

Biển xanh, sóng xoải tận mây nguồn

Suối huyền tuôn chảy, lời Kinh mở

Rộn ră tươi cười, buổi sớm mai

 

03.09.06

Cư sĩ Liên Hoa

 

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

 

Thaày Thích Nhaät Töø ḍch

Tôi nghe như vầy, sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp đầu tiên tại Vườn Nai. Tại đây, Ngài dạy năm vị Tỳ-kheo đầu tiên rằng:

- Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia phải tránh xa. Một là đắm nhiễm các dục thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không dẫn đến đức hạnh thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là tự làm khổ ḿnh bằng các lối tu khổ hạnh ép xác, không thích hợp với các phẩm hạnh bậc thánh, không dẫn đến mục đích giải thoát.

- Này các Tỳ-kheo, vị hành giả có chánh trí phải loại bỏ hai cực đoan vô ích này. Hăy đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật, dẫn đến sự an tịnh, thánh trí, giác ngộ và niết-bàn.

- Này các Tỳ-kheo, con đường Trung Đạo, chính là tám đường chánh: quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, ư niệm chân chánh và thiền định chân chánh.

- Này các Tỳ-kheo, sau đây là bốn chân lư vi diệu của cuộc đời:

Chân lư thứ nhất là thực tại đau khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ và chấp vào năm nhóm nhân tính là khổ. 

Chân lư thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là phiền năo nhiễm ô, là tâm ái dục, là sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. 

Chân lư thứ ba là Niết-bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của đau khổ và những nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là sự ly tham, sự từ bỏ, sự giải thoát và không c̣n chấp trước.  

Chân lư thứ tư là con đường dẫn đến niết-bàn, đó là tám đường chánh, là con đường Trung đạo.  

- Này các Tỳ-kheo, cần phải liễu tri về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật. Này các Tỳ-kheo, cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật.  Này các Tỳ-kheo, cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật.  

Như vậy, này các Tỳ-kheo chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lư vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai khía cạnh đă trở nên hoàn toàn sáng tỏ, th́ khi ấy Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài người rằng Như Lai đă chứng Vô Thượng  Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai đă giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là cuối cùng, Như Lai không c̣n bị luân hồi sanh tử nữa.                          

Khi bánh xe chánh pháp đầu tiên này được Như Lai vận chuyển, tuyên bố, các hàng chư thiên trên địa cầu đều cung kính khen ngợi: “pháp môn này thật là vi diệu ! Không có Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương hay Phạm thiên nào có thể thuyết giảng được. Đây là chân lư vi diệu vừa được Đấng Giác Ngộ khám phá và truyền bá, đem lại an lạc, hạnh phúc cho loài trời và loài người.”  

Lúc ấy các chư thiên ở các cơi trời Tứ Đại Thiên vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Đại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Biến Tịnh, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền và các chư thiên Phạm thiên cũng đều đồng thanh khen ngợi nhiều lần như vậy. Trong khoảng thời gian ấy, mười ngàn thế giới đều chấn động và vang rền tiếng pháp. Rồi một luồng hào quang rộng lớn, rực rỡ phát chiếu, làm sáng cả vũ trụ. Ngay thời pháp này, tôn giả Kiều-trần-như đă giác ngộ và được Đức Phật xác chứng là A-nhă Kiều-trần-như.  


 

 

 

 

TRẦN GIAN-

MỘT THƯỞ MƠ LÀM BỒ TÁT

 

Cư sĩ Liên Hoa

 

Nếu một mai, em là Bồ Tát

dạo quanh thế giới

dấn thân vào cuộc đời, cứu khổ nạn tai

ta xin được làm chúng sinh

dâng tâm thành cầu nguyện

vị Bồ Tát vừa thành

nhưng em hăy vun tṛn nguyện lớn

bước thênh thang đường cầu quả Phật

mở rộng tấm ḷng cứu vớt sinh linh

xin đừng bận tâm thương xót

một chúng sinh nhỏ nhoi như ta

để nước mắt rơi xuống

làm thành muôn vàn hạt kim cương tràn ngập trần gian

đời tục lụy lại một lần vô t́nh vướng bận chân em

hăy để ḿnh ta,

một hũu t́nh, c̣n vương bao phiền năo

đi đứng giữa chợ đời

cất bỏ gánh nặng thân tâm

đi vào cửa nhà thực tại

khi ta lặng ḿnh trong cơi vắng

ở một nơi chốn nào đó

này em, ta đă có bên em

có màng ǵ danh hiệu

chỉ mong làm người b́nh thường

vui với em, năm uẩn không, tṛn lời kinh Bát nhả

đùa cùng em, mở rộng ḷng, nguồn chú lực Đại bi

cùng nh́n nhau, mắt Na-la diên sáng rực sao trời Không tướng

nụ cười cánh sen hồng cơi Hoa Tạng, rạng ngời tuyệt đẹp….

 

28.11.06

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỨC PHẬT NÓI VỀ TIỀM NĂNG CỦA CON NGƯỜI

 

Thích Nữ Đồng Anh

 

Khả năng tiềm tàng kỳ diệu chói sáng rực rỡ của mỗi chúng sanh, nay đă được Đức Phật, người đầu tiên trong lịch sử loài người, chứng minh và chỉ rơ. Đó là Phật tánh, là khả năng thành Phật hay nói đúng hơn là sự trở về với nguồn tâm tuệ giác, là sự nhận diện về “Bản lai diện mục” của chính ḿnh.

Phải chăng trong quá tŕnh tu chứng của Đức Phật, Đức Phật lịch sử của nhân loaị đă nói lên ḷng tự tín rằng con người có một kho tàng vô tận tiềm ẩn; đó là khả năng nhận chân được sự vật (dharma), khả năng thẩm thấu nguyên nhân sinh diệt của các pháp để từ đó vượt qua được tất cả thú vui vật chất tạm bợ của cuộc đời. Cái mà dính vào nó th́ vui ít khổ nhiều. Chính v́ vậy mà Bồ-tát Tất-đạt-đa ngày đêm nỗ lực không hề chán nản với mục đích v́ ḷng từ bi đối với tất cả chúng sanh.

Suốt trong sáu năm khổ hạnh Ngài đă cho con người bài học về sự nhẫn nại, sự nỗ lực và t́nh thương của Ngài đôí với chúng sanh. Và khi từ bỏ hai cực đoan là lợi dưỡng và khổ hạnh, mà Ngài cho rằng không thích hợp và không mang lại lợi ích cho người tịnh hạnh. Ở đây nói lên sự sáng suốt của Ngài, có một sự quán sát tinh tường của Ngài. V́ vậy Ngài vẫn chấp nhận tất cả những ǵ thử thách đối với Ngài. Và Ngài ngày đêm nỗ lực và nỗ lực... Thật cảm động biết bao!

Và quả thật Ngài đă chứng minh được tiềm năng vĩ đại của con người. Ôi! trong lúc sao mai vừa mọc, và chắc chắn trời đất chuyển rung, nhạc trời trổi dậy, muôn hoa bừng nở đón mừng một vị Phật ra đời cứu độ tất cả chúng sanh đang ch́m đắm trong biển mê.

Ngài đă dựng đứng lại những ǵ bị quăng bỏ, bị quên lăng. Đó là khả năng tiềm tàng trong mỗi chúng sanh cái có thể gọi là ”Phật tánh” hay khả năng trí giác thẩm thấu thật tánh của các pháp. Và chính v́ ḷng từ bi vô lượng đối với chúng sanh mà Ngài không dấu diếm điều ǵ trong sự kinh nghiệm tu tập của ḿnh, sự thấy biết chân thật về các pháp của nhân sinh vũ trụ. Ngài mạnh dạn tuyên bố: “nguồn gốc thế gian và con đường dẫn đến sự chấm dứt thế gian đều nằm trong tấm thân một trượng nầy, cùng với tri giác và tư tưởng.”[1] Nghĩa là thế gian vốn là đau khổ. Do đó, chấm dứt hay tiêu diệt thế gian là chấm dứt khổ năo tức là Niết-bàn vậy.

Rơ ràng Ngài đă xác chứng Niết-bàn có được trong kiếp sống nầy, trong cộc đời nầy, hạnh phúc chân thực ngay trong hiện tại nầy nếu con người thật sự muốn đạt được nó, với sự nỗ lực ngày đêm, và lấy Giới- Đinh -Tuệ làm nền tảng hay lấy Bát Chánh Đạo để diệt trừ tham sân si, đoạn tận ái dục, đi trên con đường Trung Đạo và hẳn nhiên vị ấy với ḷng từ bi vô lượng trong chí ngyện cao cả đối với tất cả chúng sanh một cách b́nh đẳng.

Có thể nói Đức Phật là tấm gương chói sáng về sự nỗ lực của chính ḿnh dành cho nhân loại và đặc biệt là cho những ai muốn đi trên con đường an ổn nhất, và thật có được hạnh phúc như ḿnh mong muốn, chắc chắn nó không phải nhờ ở sự van xin cầu lụy ở người nào khác hơn ở sự tinh tấn nỗ lực của chính ḿnh. Đức Phật luôn luôn nhắc nhở con người rằng: Hăy tự xem ḿnh là hải đảo của chính ḿnh. Hăy tự xem ḿnh là nơi nương tựa của chính ḿnh, không nên t́m nương tựa nơi ai khác.[2] Và Ngài luôn thiết tha căn dặn rằng: các ngươi hăy tự ḿnh nỗ lực. Đấng Như Lai chỉ là Bậc Đạo Sư.[3]

Thật vậy cố gắng cá nhân là yếu tố cuối cùng để thành tựu mục tiêu. Sự thành tựu đạo quả giác ngộ vĩ đại của Đức Phật đă làm cho nhân loại bừng tỉnh sau đêm dài mộng mị, bỏ đi sự tự ti mặc cảm của chính ḿnh và có thể nói đầy tự hào về sự có mặt của ḿnh trong kiếp người với nhiều thuận duyên trong cuộc đời nầy. Nhất là được gặp  Phật Pháp, được học hỏi về bài học “làm người” từ bậc vĩ nhân để lại. Ngôi nhà chánh pháp của Người không có một sự phân chia, kỳ thị về chủng tộc, màu da, về giai cấp cao thấp, giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, già trẻ. Ngài đối với tất cả chúng sanh bằng một t́nh thương b́nh đẳng, Ngài muốn tất cả chúng sanh đều được sống trong t́nh thương vô bờ ấy và chỉ cho phương pháp để tự ḿnh có thể vượt thoát khỏi mọi khổ đau và đến được mục tiêu tối thượng. Ngài dạy: “khi tự ḿnh làm điều tội lỗi th́ tự ḿnh làm ô nhiễm; khi ta tránh điều tội lỗi th́ lúc đó chỉ có ta gội rửa cho ta. Trong sạch hay nhiễm ô là tự nơi ta, không có ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch.” (Kinh Pháp Cú).[4]

Thật vậy, giáo pháp của Ngài rực rỡ, chói sáng v́ nó hoàn toàn vượt ra tất cả sự nô lệ về tinh thần, hoàn toàn chỉ có tự do lựa chọn và quyết định đời ḿnh theo ư chí ḿnh. Với Ngài đẳng cấp cao thấp, sang hèn là do hành động của mỗi người, mỗi chúng sanh chịu trách nhiệm về hành động của chính ḿnh chứ không có giai cấp nào làm nên được. Trong kinh Tăng Chi (Anguttara Nikaya), đại ư của lời Ngài khuyên bảo dân Kalama rất cảm động, sâu sắc và rất trí tuệ. Ngài khuyên không làm nô lệ dưới bất cứ h́nh thức nào, tất cả bằng sự quan sát, nhận xét của ḿnh những ǵ nên làm, nên theo, những ǵ không nên làm, không nên theo và có lợi ích an vui cho ḿnh, cho người hay không. Chứ không thể nào mù quáng tin theo v́ bất cứ lư do nào khác.

Do vậy, trong sự thành lập giáo hội Tăng lữ của đức Phật, có lẽ không ai mà không thấy được sự khoan dung độ lượng của Ngài; Ngài tiếp nhận tất cả tầng lớp trong xă hội, trên từ bậc vua quan và thứ dân cùng đinh hạ tiện, cả tên cướp sát nhân như Angulimala cho đến hạng gái giang hồ như Ambapali cũng được Ngài cứu độ và dạy cho cách tự làm trong sạch chính ḿnh, an lạc chính ḿnh bằng chánh đạo.

Và đặc biệt, ở đây, có thể nói ḷng từ bi của Đức Phật ưu tiên nâng đỡ cho hàng nữ giới, bởi Ngài nhận thấy nữ giới tay yếu, chân mềm . . . luôn cần được nhiều sự hỗ trợ. Đây là điều diễm phúc và đáng vui mừng nhất cho giới nữ, v́ cũng như người nam, người nữ có khả năng chứng ngộ chân lư một cách b́nh đẳng.

Đây là niềm khích lệ lớn, niềm tự hào lớn không dành cho bất cứ ai mà đây chính là tiềm năng vĩ đại của con người được chính con người phát hiện. Quả đúng thật như vậy, không ai có thể phủ nhận về sự chứng ngộ chân lư của Đức Phật lịch sử của nhân loại, đấng Sakyamuni. Chính sự chứng ngộ lịch sử đó là niềm tự hào lớn cho nhân loại và cho tất cả chúng sanh. Chỉ có hành động tạo tác sai khác của chính ḿnh và sự nắm bắt sai lạc của chính ḿnh để rồi đắm ch́m trong biển mê, rồi quên cả lối về, không nhận ra ḿnh là ai, như chàng cùng tử với hạt châu trong chéo áo mà phải lang thang dong ruỗi ngược xuôi !

Phải chăng cái khả năng tiềm tàng kỳ diệu chói sáng rực rỡ của mỗi chúng sanh nay đă được Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử loài người, chứng minh và chỉ rơ. Đó là Phật tánh, là khả năng thành Phật hay nói đúng hơn là sự trở về với nguồn tâm tuệ giác, là sự nhận diện về “Bản lai diện mục” của chính ḿnh.

Do vậy mà Ngài hoàn toàn thoát ra khỏi bất cứ h́nh thức chấp thủ nào, Ngài thong dong tự tại trong thể tánh thường tịch chiếu. Đó là những ǵ mà Đức Phật nói về tiềm năng con người. Đây cũng chính là điều khiến cho nhân loại nghĩ về chính ḿnh trong thế kỷ 21 nầy, để lợi ích lớn cho ḿnh, người và chúng sanh.


[1] S. I. 62.

[2] D. II. 100.

[3] Kinh Pháp Cú, kệ 276.

[4] Kinh Pháp Cú, kệ 165.

 

KINH PHÖÔÙC ÑÖÙC

Thaày Thích Nhaát Haïnh ḍch

 

Đây là những điều tôi được nghe thời Đức Thế Tôn c̣n cư trú gần thành Xá-vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây Kỳ-đà. Hôm đó trời đă vào khuya, có một vị thiên hiện xuống tham vấn Người, hào quang và vẻ đẹp của thiên giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị thiên giả xin tham vấn Người bằng một bài kệ:

Thiên và nhân thao thức 

Muốn biết về phước đức 

Để sống đời an lành 

Xin Thế Tôn chỉ dạy. 

Khi ấy, Đức Thế Tôn tán thán vị thiên nhân và lần lượt chỉ dạy mười phương pháp nuôi lớn phước đức như sau: 

1. Phương pháp thứ nhất là 

"Lánh xa kẻ xấu ác, 

Luôn thân cận người hiền, 

Tôn kính bậc đáng kính, 

Là phước đức lớn nhất."    

2. Phương pháp thứ hai là 

"Sống trong môi trường tốt, 

Được tạo tác nhân lành, 

Được đi trên đường chánh, 

Là phước đức lớn nhất."   

3. Phương pháp thứ ba là 

"Có học có nghề hay, 

Biết hành tŕ giới luật, 

Biết nói lời ái ngữ, 

Là phước đức lớn nhất."     

4. Phương pháp thứ tư là 

"Được cung phụng mẹ cha, 

Yêu thương gia đ́nh ḿnh, 

Được hành nghề thích hợp, 

Là phước đức lớn nhất."    

5. Phương pháp thứ năm là 

"Sống ngay thẳng bố thí, 

Giúp quyến thuộc thân bằng, 

Hành xử không tỳ vết, 

Là phước đức lớn nhất."    

6. Phương pháp thứ sáu là 

"Tránh không làm điều ác, 

Không say sưa nghiện ngập 

Tinh cần làm việc lành, 

Là phước đức lớn nhất."    

7. Phương pháp thứ bảy là 

"Biết khiêm cung lễ độ 

Biết đủ và nhớ ơn, 

Không bỏ dịp học đạo, 

Là phước đức lớn nhất."     

8. Phương pháp thứ tám là 

"Biết kiên tŕ, phục thiện, 

Thân cận giới xuất gia, 

Dự pháp đàm học hỏi, 

Là phước đức lớn nhất."    

9. Phương pháp thứ chín là 

"Sống tinh cần tỉnh thức, 

Học chân lư nhiệm mầu, 

Thực chứng được Niết-bàn, 

Là phước đức lớn nhất."    

10. Phương pháp thứ mười là 

"Hành xử trong nhân gian, 

Tâm không hề lay chuyển, 

Phiền năo hết, an nhiên, 

Là phước đức lớn nhất."  

Để chấm dứt bài pháp ngắn gọn nhưng sâu xa và thiết thực này, Đức Phật đă khuyến khích đại chúng bằng bài kệ sau đây: 

"Ai sống được như thế 

Đi đâu cũng an toàn, 

Tới đâu cũng vững mạnh, 

Phước đức của tự thân." 

Sau khi nghe Đức Phật tuyên dương mười cách thức tạo phước đức, toàn thể đại chúng đều vui mừng chưa từng có và phát nguyện làm theo. 

 

 

 

 

 

 

 

VÀI SUY NGHĨ VỀ QUAN NIỆM
ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ VÀ ĐỨC PHẬT TÔN GIÁO

Thích Thị Quả

Chúng ta không thể nói đức Phật lịch sử là con người b́nh thường như những con người khác bởi v́ Ngài không được sinh ra từ nơi bất tịnh, lớn lên trong đau khổ và chết dần trong đau khổ. . .  Đức Phật trong kinh Đại thừa không phải là đức Phật tôn giáo mà nhằm tiêu biểu cho pháp môn mà ngài đang giảng. . . Chúng ta đừng bao giờ đem những nhăn hiệu “đức Phật lịch sử” hay “đức Phật tôn giáo” áp đặt lên Ngài!

 

Kính quư liệt vị,

Ngày Phật thành đạo năm nay, chúng ta được về Bồ-đề Đạo Tràng, nơi đức Phật thành đạo, để ôn lại ngày lịch sử thiêng liêng ấy, và cùng thảo luận chuyên về đức Phật và ngày thành đạo của Ngài. Nhân đây tôi cũng xin được nói lên vài suy nghĩ của ḿnh về đức Phật lịch sử và đức Phật tôn giáo.

Gần đây, có nhiều học giả thuộc tín đồ của các tôn giáo khác nghiên cứu Phật học. Một số ít trong họ đă cho rằng có hai đức Phật. Đó là đức Phật lịch sử và đức Phật tôn giáo. Quan điểm này, thực sự đă đưa đến sự hiểu lầm về đức Phật cho nhiều thế hệ tín đồ Phật giáo cũng như  những người nghiên cứu Phật học.

Qua bao năm miệt mài nghiên cứu Phật pháp, tôi chưa t́m thấy một đoạn kinh nào trong Tam Tạng Pàli cũng như Đại thừa đề cập đến vấn đề: đây là đức Phật lịch sử và đây là đức Phật tôn giáo.

Trong thực tế, chỉ có một đức Phật Thích-ca xuất hiện ở thế gian này. Thế th́ đức Phật nào là đức Phật lịch sử và đức Phật nào là đức Phật tôn giáo?

- Phải chăng đức Phật phóng hào quang, soi sáng mười tám ngàn thế giới phương đông (phẩm tựa, Kinh Pháp Hoa) là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật bày tướng lưỡi rộng dài đến trời Phạm thiên, tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng hào quang, thảy đều soi khắp thế giới mười phương (phẩm Như Lai Thần Lực) là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật mà trên đầu của Ngài mọc lên một hoa sen ngàn cánh, mỗi cánh có một hóa Phật ngồi, đồng thời nói thần chú Lăng-nghiêm và sai ngài Văn Thù đem thần chú ấy giải thoát cho ngài Anan (Kinh Lăng-nghiêm) là đức Phật tôn giáo?

- Lại khi ngài Xá-lợi-phất hoang mang rằng cơi nước chư Phật đều thanh tịnh mà cơi nước của Phật Thích-ca lại bất tịnh, biết rơ tâm của ngài Xá-lợi-phất, Phật bấm ngón chân xuống đất, cơi Ta-bà rung động và cơi đất lập tức biến thành Tịnh Độ (phẩm Phật quốc, Kinh Duy Ma) là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật có một đời sống vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp. Ngài có vô lượng hào quang, vô lượng công đức và ngài đă kiến tạo thế giới của ngài bằng 48 lời thệ nguyện (Kinh Đại Bửu Tích và Kinh A-di-đà) là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật, lại là một thầy thuốc đại tài chuyên chữa trị cho chúng sanh (Kinh Dược Sư) là đức Phật tôn giáo?

- Phải chăng đức Phật Tỳ-lô-giá-na có ba thân trong kinh Hoa Nghiêm là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật hiện thần thông làm cho hai thanh niên Bà-la-môn thấy rơ tướng đại nhân của Ngài (Kinh Lakkhana thuộc Trường Bộ kinh VI) là đức Phật tôn giáo?

- Đức Phật dùng thần thông làm cho tên cướp Angulimala chạy hết tốc lực mà vẫn không đuổi kịp ngài (Kinh Angulimala thuộc Trung Bộ II) là đức Phật tôn giáo? v.v. . .

Các Ngài không phải là đức Phật tôn giáo với ư nghĩa như là những nhân vật thần thoại, hoang đường, ảo tưởng hay là Thượng đế. Các Ngài không phải là thần linh vạn năng, bắt buộc con người phải cúi đầu vâng lệnh. Đức Phật Thích-ca chính Ngài đă phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu thế, một chúng sanh toàn năng hay năng lực khởi thuỷ của các sự vật, cũng không có tính cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những lời sấm của một thần linh từ đâu trên cao xuống con người (xem Đức Phật và Phật Pháp của Narada, trang 259).

Đức Phật trong kinh Đại thừa cũng như trong kinh Pàli là những nhân vật tiêu biểu cho pháp môn mà đức Phật đang giảng. Chẳng hạn như đức Phật trong phẩm tựa Kinh Pháp Hoa là nhân vật biểu trưng cho tri kiến Phật: nhằm giới thiệu cho mọi người biết rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Muốn ngộ nhập tri kiến Phật của ḿnh trước tiên hành giả phải dùng trí tuệ Trung đạo (phóng hào quang giữa chặng mày) để thấy rơ sáu căn, sáu trần, sáu thức (mười tám ngàn thế giới phương đông), thấy rơ từng động tịnh của chúng sanh (thấy rơ chư Phật, Bồ-tát, Thinh Văn và chúng sanh ở các cơi kia). Thấy rơ được như vậy chính là đă ngộ nhập được tri kiến Phật của ḿnh (xem Thích Từ Thông, Pháp Hoa Trực Chỉ Đề Cương, phẩm tựa).

Đức Phẩm ở phẩm Như Lai thần lực, Kinh Pháp Hoa là nhân vật biểu trưng cho năng lực kỳ diệu của chơn tâm. Sau khi hành giả đă thấy được Phật tri kiến, tâm của họ trở nên thuần tịnh. Từ bản giác diệu minh ấy phát ra trí tuệ tṛn sáng (những lỗ chân lông đều phát ra vô số hào quang) và năng lực thuyết pháp của ông giờ đây trở nên hữu hiệu hơn, có thể giúp chúng sanh vượt thoát sanh tử luân hồi trong tam giới (tướng lưỡi rộng dài đến cơi trời Phạm thiên) (xem Thích Thiện Trí, Pháp Hoa Giảng Nghĩa, phẩm Như Lai thần lực).

Đức Phật trong phẩm Phật quốc kinh Duy-ma, là nhân vật biểu trưng cho pháp môn bất nhị. Nghĩa là Tịnh Độ (tịnh) và Ta-bà (nhiễm) không hai, chúng sanh và Phật không hai (Phật bấm ngón chân xuống đất cơi Ta-bà lập tức biến thành Tịnh độ) và chỉ có tâm của chúng sanh tịnh hay nhiễm mà thấy cơi Phật trở nên tịnh hay bất tịnh (xem Thích Từ Thông, Duy Ma Cật Trực Chỉ Đề Cương, phẩm Phật Quốc).

Đức Phật A-di-đà trong kinh Đại Bửu Tích và kinh A-di-đà là nhân vật biểu trưng cho tự tánh A-di-đà của mỗi chúng sanh, trong tự tánh ấy có đủ vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức (xem Chán and Zen Teaching, trang 42).

Đức Phật trong kinh Dược Sư là nhân vật biểu trưng cho tâm từ bi, chính nó là môn thuốc chúa, có thể trị lành bệnh chấp ngă cho chúng sanh (xem 10 lời nguyện của Phật Dược Sư).

Đức Phật Tỳ-lô-giá-na trong kinh Hoa Nghiêm là nhân vật tượng trưng cho Pháp thân Phật. Trong Pháp thân đă có đủ Báo thân và Hóa thân. Lục Tổ Huệ Năng nói “Pháp thân, Báo thân cập Hóa thân, tam thân bổn lai thị nhứt thân.” Nghĩa là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân, ba thân ấy vốn là một thân. Và Lục Tổ c̣n chỉ rơ rằng: “Thanh tịnh Pháp thân nhữ chi tánh dă, viên măn Báo thân nhữ chi trí dă, thiên bá ức Hóa thân nhữ chi hành dă.” Nghĩa là Thanh tịnh Pháp thân là tự tánh thanh tịnh, Viên măn Báo thân là trí tuệ và Thiên bá ức Hóa thân là hạnh của mỗi chúng ta. Mỗi chúng sanh đều có đủ ba thân này (xem Pháp Bảo Đàn Kinh, Taiwan 1962, trang 54 và trang 67, bản chữ Hán).

Đức Phật trong kinh Lăng-nghiêm được biểu trưng cho chơn tâm thường trú, thể tánh tịnh minh của mỗi chúng sanh. V́ ngài Ananda sống với vọng tâm cho nên ngài bị Ma-đăng-già quyến rũ. Tuy nhiên vọng tâm không phải thật có, cho nên đức Phật đă dùng huyễn pháp (Hóa Phật) để đối trị huyễn pháp (chú Sat́ cala) giúp cho ngài Ananda thoát khỏi Ma-đăng-già và sống lại với chơn tâm thanh tịnh, và bản giác diệu minh của chính ngài (xem Sùrangama Sutra, trang 01-82).

Đức Phật trong kinh Lakkhana (Trường Bộ kinh IV) và kinh Angulimala (Trung Bộ II) giống như đức Phật trong phẩm Như Lai Thần Lực (kinh Pháp Hoa), đă được viện dẫn ở trên.

Chính v́ kinh Đại thừa quá ư trừu tượng, khó hiểu, khó bàn, nên ông Kern, nhà bác học Hà Lan đă viết trong bài giới thiệu cho quyển sách đă dịch của ông tên là “The Lotus of the True Law” rằng: “Kinh Pháp Hoa có ư đề cao đức Phật Thích-ca như một nhân vật siêu nhân, là thượng đế của những thượng đế toàn năng toàn trí ...” (xem Kern, Introduction of the Lotus of true Law, trang 27). Theo ông Kern, đức Phật trong kinh Pháp Hoa là đức Phật tôn giáo và Ngài được đề cao như một thượng đế của những thượng đế.

Dịch giả của quyển Trường bộ kinh III đă viết ở phần đại ư của kinh Đại Bổn như sau:

“Chúng ta thấy sự sai khác giữa hai quan niệm đức Phật lịch sử như được diễn tả trong Đại Phẩm (Mahavagga) về đức Phật Thích-ca với rất ít thần thông, nếu không phải là không có, và đức Phật tôn giáo như đă diễn tả trong kinh này (kinh Đại Bổn) với các điềm tướng xuất hiện các thần thông diệu dụng. Ở đây chúng ta chứng kiến sự bắt đầu c̣n dè dặt và thận trọng, đặt nhẹ dưới h́nh thức một chuyện tiền thân về đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi)... Sau này đặc tính tôn giáo lan qua các mẫu tích về đức Phật Thích-ca Mâu-ni đến nỗi bao phủ con người lịch sử Sa-môn Gotama như chúng ta chứng kiến sau này.”

Tác giả bài viết này đă xuyên tạc bài kinh Đại Bổn và đă gán ghép một cách phi lư đặc tính tôn giáo (Thượng đế, mặc khải, mê tín) vào năng lực thần thông của đức Phật Tỳ-bà-thi và sáu đức Phật khác trong kinh ấy. Vị này vô t́nh đă gieo mầm độc vô minh và chấp ngă vào mảnh đất tâm trong sáng, thanh tịnh của nhiều thế hệ Tăng Ni và Phật tử, làm cho họ mịt mờ trên con đường học đạo giác ngộ!

Nếu cho rằng đức Phật thần thông là đức Phật tôn giáo, th́ đức Phật Thích-ca Mâu Ni, ngay trong đêm thành đạo Ngài đă trở thành đức Phật tôn giáo. V́ rằng đêm ấy Ngài đă chứng được sáu thứ thần thông. Đó là:

- Thiên nhăn thông: Mắt Ngài có thể nh́n thấy được vật bên kia vách, vật bên kia núi, từ cơi Ta-bà, Ngài có thể thấy được những thế giới xa xăm khác.

- Thiên nhĩ thông: Tai Ngài có thể nghe và hiểu được tiếng của muôn loài.

- Tha tâm thông: Ngài hiểu rơ được tâm tư t́nh cảm của mỗi chúng sanh.

- Túc mạng thông: Ngài biết rơ những kiếp quá khứ của Ngài và của chúng sanh như một đời, hai đời cho đến vô số đời.

- Thần túc thông (c̣n gọi là biến hóa thần thông): Ngài, từ một thân, biến thành nhiều thân, và từ nhiều thân biến thành một thân. Ngài có thể đi qua vách, qua núi, đi trên nước, ngồi trên hư không. Ngài có thể sờ mặt trăng, mặt trời với bàn tay của Ngài.

- Lậu tận thông: Ngài đă gọt sạch phiền năo từ tâm của Ngài và dạy cho người khác về phương pháp đoạn trừ cấu nhiễm để chứng đạt Niết bàn (xem Đức Phật và Phật Pháp, trang 51 – 53; xem kinh Maha Sakuludi Dayi, Trung bộ II trang 308, kinh Maha Sihanada Sutta (Kinh Đại Sư Tử Hống) Trung bo?I, trang 120).

Như vậy, thần thông không những chỉ bao phủ con người lịch sử Sa-môn Gotama mà nó c̣n ăn sâu tận đầu, năo, tim, gan, qua từng hơi thở và từng bước đi của con người lịch sử Sa-môn Gotama.

Như chúng ta đă biết, không những đức Phật mới đặt vấn đề thần thông trong kinh Đại Bổn mà Ngài đă giảng nhiều về thần thông trong kinh Đại Sư Tử Hống, Trung bộ I, kinh Kevadha, Trường bộ I, kinh Angulimala, Trung bộ II, kinh Lakkhana, Trường bộ IV, v.v... Quyển “The Buddha and His Teachings” cũng đă chép những mẫu chuyện về thần thông của đức Phật: Ngài đă dùng thần thông độ bà Khema, thứ hậu xinh đẹp của B́nh Sa Vương; độ bà Patacara một phụ nữ bất hạnh; hàng phục con độc long của ngài Ưu-lâu-tần-loa; hàng phục voi say của vua A-xà-thế. Khi Đề-bà-đạt-đa từ trên núi cao, xô một tảng đá to cố ư giết Phật v́ mục đích muốn làm giáo chủ Tăng đoàn, Đức Phật đă dùng thần thông làm cho tảng đá ấy vở ra từng mảnh vụn v.v...

Thần thông không phải là vấn đề tôn giáo hay không tôn giáo mà nó là năng lực kỳ diệu của chơn tâm (phẩm Pháp Sư Công Đức, kinh Pháp Hoa). Mỗi chúng sanh đều có cái năng lực diệu dụng ấy. Một ngày mà lớp bụi vô minh bao phủ trên tấm gương sáng trí tuệ được quét sạch hoàn toàn, th́ cái năng lực kỳ diệu ấy sẽ xuất hiện.

Nếu chúng ta cho rằng đức Phật tôn giáo là sản phẩm của ảo tưởng, hoang đường, thần thoại th́ vô t́nh chúng ta đă nói đức Phật là “Linh hồn của những điều kiện không có linh hồn, là trái tim của thế gian không có trái tim, là nha phiến của dân chúng” (Marx). Và chính chúng ta tự giới thiệu ḿnh là người kém hiểu biết về giáo lư thuần túy của đức Phật.

Về khía cạnh lịch sử, đức Phật Thích-ca được xem là đức Phật tôn giáo v́ Ngài là giáo chủ của một tôn giáo, có giáo đoàn và giáo lư.

Để tỏ ḷng tôn kính đối với đức Phật, học giả Radha Krishnan đă viết:

“Nơi đức Phật Cồ-đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn diện của người phương Đông. Ảnh hưởng của Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hy hữu, cho đến nay không thua kém ảnh hưởng của bất cứ vị giáo chủ nào trong lịch sử. Mọi người đều sùng kính tôn Ngài là người đă dựng lêm một hệ thống tôn giáo vô cùng thâm cao huyền diệu, Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí, bởi v́ đứng về phương diện trí thức, đạo đức trang nghiêm và tinh thần minh mẫn chắc chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử” (xem Gotama the Buddha, trang 1).

Tôn giáo mà đức Phật đă dựng lên không phải là một hệ thống tín ngưỡng và tôn sùng lễ bái, trung thành với một thần linh siêu nhiên. Niềm tin của người Phật tử đặt vào đức Phật cũng giống như người bệnh đặt niềm tin vào vị lương y tài giỏi, hay niềm tin của người học tṛ đặt trọn vẹn nơi thầy. Mặc dù nương tựa nơi đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo sư, là thầy dắt dẫn trên con đường giải thoát, người Phật tử không qui phục mù quáng như kẻ nô lệ, mà họ nương theo giáo pháp tự nỗ lực để đạt đến giác ngộ giải thoát. Giáo sư Rhys David đă viết:

“Dầu là Phật tử hay không là Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế giới, trong tất cả tôi không t́m thấy một tôn giáo nào có cái ǵ đẹp đẽ và hoàn toàn hơn Bát chánh đạo của đức Phật. Tôi chỉ c̣n một việc làm là thu xếp nếp sống cho phù với con đường ấy (xem The Buddha and His Teachings, trang 160).

Chúng ta không thể nói đức Phật lịch sử là con người b́nh thường như những con người khác bởi v́ Ngài không được sinh ra từ nơi bất tịnh, lớn lên trong đau khổ và chết dần trong đau khổ (xem phần Bồ-tát nhập thai, kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu, Trung bộ III, số 123, trang 248).

Theo tinh thần kinh Pháp Hoa, đức Phật Thích-ca đă thành Phật từ vô lượng kiếp (phẩm Như Lai Thọ Lượng). V́ thấy chúng sanh đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa tham, sân, si, ưu bi khổ năo. Hiện thế họ phải chịu nhiều đau khổ như sanh, già, bịnh, chết: khổ, yêu thương mà phải xa ĺa: khổ, oán thù gặp nhau: khổ, cầu mong không được toại ư: khổ, chấp mắc về thân năm uẩn là khổ. Họ c̣n chịu nhiều đau khổ hơn nữa trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh trong đời sống tương lai của họ (phẩm Thí dụ). V́ ḷng thương chúng sanh, v́ an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, Ngài đă giả vờ sinh vào đây như một con người; Ngài đă thị hiện có sinh ra đời, hưởng thọ dục lạc, xuất gia, tu hành, thành đạo, thuyết pháp độ chúng sanh và nhập Niết-bàn ở tuổi 80. Đó là phương tiện của Ngài, nhằm giúp cho chúng sanh căn cơ hạ liệt biết quay về với chánh pháp và từng bước dắt họ tiến gần đến Phật quả (phẩm Phương Tiện).

V́ lư do này, vừa sinh ra đời Ngài đă có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, có đủ đại từ, đại bi, thập lực, tứ vô sở úy; đến nỗi vị Bà-la-môn tên A-tư-đà, một vị tướng số giỏi nhất thời bấy giờ, phải sụp lạy dưới chân Ngài, khi vị này thấy rơ 32 tướng đại nhân của Phật.

Đức Phật đă dạy rằng Ngài không phải là Thượng đế, cũng không phải là thần thánh, cũng không phải là con người mà Ngài là Phật (xem Nalinaksha Dutt, Mahayana Buddhism, trang 140).

Chắc chắn Phật không phải là người thường, Ngài sinh ra với cái nghiệp phi thường mà Ngài đă tạo ra từ vô lượng kiếp.

Đến đây xin được kết luận rằng đức Phật là đức Phật. Ngài có đủ thần thông diệu dụng, đại bi đại trí và Ngài đă để lại cho nhân loại một lịch sử vẻ vang về cuộc đời của Ngài! Chúng ta đừng bao giờ đem những nhăn hiệu “Đức Phật lịch sử” hay “Đức Phật tôn giáo” áp đặt lên Ngài!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẬT GIÁO

HÔM NAY VÀ NGÀY MAI

Tiến sĩ Nandadeva Wijesekera
Diệu Hương dịch

Rơ ràng rằng Phật giáo rất cần cho thế giới hiện đại ngày nay mặc dù Phật giáo đă xuất hiện hơn 2.500 năm rồi. Bởi v́ thông điệp của Phật giáo luôn luôn phù hợp với mọi thời đại. Thông điệp này mang đến t́nh thương, ḷng từ bi, an lạc, hạnh phúc và ḥa b́nh.

Ḥa b́nh là một đặc tính mà thế giới hiện tại đang bàn bạc và đây là điều quan tâm nhất của các nhà lănh đạo và các tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một số đông quần chúng không có tin hẳn vào bức thông điệp do Đức Phật tuyên bố, v́ hai lư do:

Một là thông điệp hoà b́nh, t́nh thương và hạnh phúc của Đức Phật cho tất cả chúng sanh đă được tuyên thuyết ở một giai đoạn khi mà các châu lục bị phân chia bởi vật lư, địa lư, ngôn ngữ, và chủng tộc. Sự cô lập của địa lư, sự giới hạn của thông tin và bị hạn chế theo từng vùng đă khiến cho mê tín tràn lan và Phật pháp không được san sẻ. Trong một t́nh h́nh như vậy cái không biết (tri thức) lấn át cái biết th́ dù các nước hiện tại đă phát triển nhiều về khoa học kỹ thuật trong thế giới hiện đại th́ cũng sẽ trở nên không phát triển hoặc đang phát triển, v́ dân chúng sống trong các lục địa rộng lớn này sẽ không có cơ hội để nghe, biết và hiểu những tinh hoa của giáo lư Đức Phật.

Một yếu tố khác chống lại sự phát triển truyền bá thông điệp của Đức Phật là phương thức phổ biến tôn giáo. Có tôn giáo đă truyền bá bằng gươm đao và chiếm đoạt. So với điều này, Đạo Phật là một tôn giáo không có lực lượng vũ trang, cũng không có thánh chiến trong việc truyền bá giáo lư. Đạo Phật đă lan rộng một cách từ từ nhưng vững vàng chắc chắn đến tất cả các trục lộ giao thông của các nước mà Ấn Độ có quan hệ ngoại giao như: Tây Tạng, Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản và Trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ. Hoàng đế A-dục cũng đă gởi những đoàn truyền giáo Phật giáo gồm tu sĩ và cư sĩ tới các kinh đô ở phía Đông và Tây. Vua A-dục cũng phái hai người con của ḿnh là Hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamitta tới Tích Lan để truyền bá Phật giáo. Chính công chúa Sanghamitta dă mang một cây Bồ-đề con (Ficus religiosa) của cây Bồ-đề nơi Đức Phật thành đạo tới Tích Lan. Cây này cho tới nay vẫn c̣n sum suê xanh tốt và được xem là một cây Bồ-đề có lịch sử cổ xưa nhất trên thế giới. Cây Bồ-đề này là biểu tượng của sự giác ngộ. Từ Tích Lan và Ấn Độ, Phật giáo lại được truyền đến Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Cam-pu-chia và Nam Dương.

Ngày nay thế giới đang được thu hẹp trong kích thước. Các quốc gia đang phát triển và chưa phát triển đă có tiến bộ về khoa học kỹ thuật, trong khi các nước đă phát triển rồi lại trở nên đang phát triển. Trong kỷ nguyên này, việc đi lại trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi. Thông tin th́ nhanh tức thời. V́ vậy sự phong phú về kiến thức là di sản chung của tất cả mọi người và do đó thông điệp của Đức Phật đă được lan truyền đến các nơi trên thế giới.

VÀI NHẬN XÉT

 

Mặc dù với kiến thức sẵn có ở mỗi người nhưng vẫn c̣n có sự phê b́nh chỉ trích Phật giáo cũng như những quan niệm và nhận thức sai lầm đối với các lời dạy của Đức Phật. Cũng c̣n có những người có học thức hiểu biết đă cố gắng đánh đồng Phật giáo với Ấn Độ giáo. Cũng có những người uyên bác đă nghĩ rằng Phật giáo đă không có khác với các tôn giáo hữu thần khác. Thậm chí, có một số người cho rằng Phật giáo th́ đầy những niềm tin và tu tập mê tín. Nh́n từ bên ngoài, các điều này dường như là mâu thuẫn khiến ngăn trở sự ḥa hợp về ư thức hệ của các tôn giáo. Sự dường như khác nhau này đúng hơn là chỉ do sự hiểu lầm, thông tin sai lạc và sự tŕnh bày không đúng với những di sản văn hóa và những động lực xă hội mà những mô h́nh phức tạp của nó đồng thời tồn tại trong một cách thức không phô trương trong xă hội đa dạng. Do đó, để hiểu bản chất của lời dạy Đức Phật th́ rất cần thiết và là điều cốt lơi để nghiên cứu sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo đang tồn tại khác để chúng ta có thể làm rơ hơn lời dạy của Đức Phật.

Các tôn giáo khác có chủ trương để thỏa măn các khuynh hướng tâm lư, các thái độ hoài nghi và hiếu kỳ của những người khác; các phương pháp tư duy và ḷng tin của họ th́ quá nhiều đến nỗi mọi sự nghi ngờ đều được giải quyết với phương pháp tốt nhất. Một số những lời giải thích này là dựa trên trí sáng suốt của đấng Tạo Hóa, dựa trên ḷng từ bi bác ái quăng đại của Ngài. Người ta cũng nói rằng một số các yếu tố nền tảng này th́ không được đặt thành vấn đề nữa. Vài người chấp nhận tôn giáo dựa trên đức tin mù quáng hoặc trên những giáo điều độc đoán. Tuy nhiên, những yếu tố này là nhằm thỏa măn tâm linh của những người mộ đạo. Đối với họ không có vấn đề ǵ. Logic và lư lẽ phải đưa đến ḷng sùng đạo. Ḷng tin duy lư, lư luận khoa học, và cách giải thích hợp lư ở mỗi tôn giáo th́ có khác nhau. Điều này khẳng định rằng các phương pháp và các kỹ xảo hiện đại không có chủ định và không thể áp dụng trong trường hợp của tôn giáo. Về cơ bản, tôn giáo được coi là khác với khoa học, bởi v́ với họ tôn giáo chính là sự mặc khải – mệnh lệnh của Thượng Đế. C̣n ngược lại, Phật giáo th́ lại rất hoan nghênh, khuyến khích tinh thần nghiên cứu, suy tầm, quán sát nội tâm một cách hợp t́nh, hợp lư và khoa học. Điều này đă được minh chứng trong kinh Kalama nổi tiếng mà trong đó Đức Phật đă dạy như sau:

"Này các Kalama, đừng nên dựa vào những ǵ đă được nghe nhiều lần, cũng không dựa trên truyền thống, trên tin đồn, chân lư, triết lư lô-gích, thành kiến, năng lực và sự quan tâm của người khác, cũng như không dựa vào ngay cả thầy của chúng ta."

Thông thường, có người nói chống Phật giáo v́ rằng họ cho rằng Phật giáo tin vào Thượng đế, chấp nhận đức tin tầm thường và thờ phượng cây cối, những h́nh tượng, trời đất, mặt trăng và các tinh tú. Ở đây những người chỉ trích này đă phạm lỗi là trộn lẫn các giá trị văn hóa, các tập quán xă hội và những đức tin truyền thống trong nhiều giai đoạn khác nhau của sự thăng hoa lịch sử xă hội. Những người chỉ trích này đă quên hoặc không biết rằng đạo Phật không bao giờ loại bỏ cách sống hiện hữu và các giá trị văn hóa của đời sống bằng cách áp đặt một cách sống mới lên trên đó mà trái lại đạo Phật uyển chuyển t́m cách thích nghi đời sống văn hóa của mỗi xă hội mà không lạc mất tinh thần của ḿnh.

Trong tính cách như thế, nếu những người có hoài nghi, chỉ trích và quán sát như vậy sẽ chất vấn một Phật tử, liệu vị ấy có tin vào một mớ hỗn độn của những khái niệm này không, th́ vị Phật tử sẽ trả lời là "có" và cũng có thể là "không," bởi v́ ḷng tin con người th́ dễ dàng thích hợp, sẽ không có điều ǵ không hợp lư trong cách tư duy, logic, trong tổ chức của các lực lượng và năng lực cơ bản của cũ và mới, của không biết và huyền bí. Đối với cá nhân này, Phật giáo và các giới luật đứng trên nền tảng đỉnh cao của niềm tin và mê tín cũ và Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) được đặt ở vị trí cao nhất.

Một trong những điểm đáng lưu ư nhất của Phật giáo là ở chỗ có Phật tử đă tin có thần thánh trong tôn giáo của ḿnh. Cho nên vị ấy cầu nguyện th́ hẳn chúng ta không nên lầm lẫn với Phật tử chân chánh là những người đang tu tập chuyển hóa ḿnh đến trạng thái tâm hoàn thiện- Niết-bàn. Vị ấy ắt hẳn chưa có phẩm chất tự lực như Đức Phật đă dạy. Người có đức tin chân chánh trong niềm tin tôn giáo của họ, th́ tin có năng lực thiện ác, thiện thần và những năng lực siêu nhiên nhân từ và Đức Phật chiếm giữ vị trí cao nhất trên tất cả các thiện thần…

Trong một ư muốn mạnh mẽ để cải đạo, những nhà truyền giáo của tôn giáo khác đă phá hủy tinh thần xă hội, biến họ thành ngu đần và trở thành một mẫu văn hóa và chủng tộc xa lạ. Sự hăm hở của họ là để thay đổi giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống, và những luân lư xă hội sẽ trở thành các h́nh thức, sắc thái tinh thần của sự nỗ lực thay đổi đó để bắt buộc tôn giáo khác cùng với các văn hóa của nó thành những ǵ mà họ nghĩ là một nhóm thấp hơn. V́ vậy, họ đă nỗ lực thay đổi văn hóa, xă hội và tinh thần quốc gia của một dân tộc. Những t́nh trạng như vậy gây ra sự thiệt hại mà không thể phục hồi được về mặt xă hội và tâm lư bởi v́ các nhà truyền giáo đă khử trừ sức sống, và lần lượt làm tê liệt ư chí vươn lên. Bề ngoài, sự cải đạo như vậy dường như có vẻ thành công nhưng bên trong, các lănh vực tâm lư của con người, niềm tin và các giá trị cũ vẫn c̣n tiềm ẩn làm mờ đi tất cả những ánh sáng bên ngoài của các tôn giáo mới. Từ đó, trong xă hội này sẽ nảy sinh một sự mâu thuẫn không chỉ về văn hóa và chủng tộc mà c̣n cả về tôn giáo nữa.

Bất kỳ nơi nào, Phật giáo cũng được nh́n nhận là các lời dạy của Đức Phật không bao giờ xung đột với các giá trị truyền thống của xă hội mới. Cũ và mới, cổ và tân đồng tồn tại bên nhau. Khi tâm đă hướng thượng và đạt tri kiến cao, th́ những phạm vi bùa chú và mê tín, y học và khoa học trở nên yếu đi. Sự tổng hợp này xảy ra toàn bộ hay từng phần và tiến tŕnh được tiến triển cho đến ngày nay. Do đó đối với những người quan sát thiển cận, nhà phê b́nh và những nhà truyền giáo cứng nhắc, th́ những điều này dường như mâu thuẫn không thể ḥa hợp với nhau được. Kết quả là họ lên án Phật giáo là vô minh và có sự khác biệt khi họ quán sát lời Đức Phật dạy. Họ đă suy diễn liên hợp với ảo tưởng, ngay cả chỉ như một phương tiện kỹ xảo tạm thời của con người để đáp ứng sự căng thẳng tâm lư hoặc những khủng hoảng t́nh cảm th́ không phải không là những tín ngưỡng cần thiết. Thêm vào đó, thật là tức cười, v́ họ vẫn chấp nhận nhu cầu của con người cho sự sống c̣n để đạt đến trạng thái hạnh phúc an lạc tối thượng và điều này chỉ đạt được khi diệt trừ các điều ác. Trái lại, Phật tử biết rằng tất cả các pháp là vô thường, khổ và vô ngă.

 

HIỂU GIÁO LƯ CỦA ĐỨC PHẬT

 

Muốn khẳng định rằng tôn giáo trên căn bản có khác với sự hợp lư hóa của khoa học, th́ chúng ta có thể lấy lập luận của A-tỳ-đàm để trả lời cho vấn đề này. Về cơ bản, các giáo lư thâm sâu của Đức Phật gần gũi với khoa học như là sắc và tâm (nama-rupa). Lời dạy chính yếu của Đức Phật là:

"Không làm các điều ác,

Vâng giữ các điều lành,

Làm thanh tịnh tâm ư

Đó lời chư Phật dạy"

Điều này xin được nói rộng thêm rằng tất cả các pháp do kết hợp mà thành th́ đều là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngă (anatta). V́ vậy một chúng sanh không ǵ khác hơn là danh và sắc. Sắc là sự biểu thị của những năng lực. Người xưa đă xem chúng như nguyên tử (paramanu). Đức Phật th́ coi chúng như là những thành tố nền tảng của sắc chất. Từ đó chúng ta biết rằng Phật giáo th́ rất cập nhật với những khám phá của khoa học mới đây nhất về bản chất của sự sống.

Theo Phật giáo, sanh được xem là sự hiện hữu. Tiến tŕnh của hiện hữu sẽ được tiến hóa theo ḍng thời gian khởi đầu do bởi vô minh rồi tạo ra một chuỗi mắc xích nhân duyên (paticca-samuppada). Chuỗi nhân duyên đó được thành lập như sau: 1- Do vô minh, hành khởi 2- Do hành, thức khởi 3- Do thức, danh sắc khởi 4- Do danh sắc, lục nhập khởi 5- Do lục nhập, xúc khởi 6- Do xúc, thọ khởi 7- Do thọ, ái khởi 8- Do ái, thủ khởi 9- Do thủ, hữu khởi 10- Do hữu, sanh khởi 11- Do sanh, lăo tử khởi.

Một cách tất yếu, nếu nhân diệt th́ duyên diệt. Điều này nghĩa là, nếu vô minh diệt hoàn toàn th́ sanh tử cũng chấm dứt.

Sau khi đă giải thích nguồn gốc của các pháp hữu vi, sự tham ái và t́nh cảm con người, Phật giáo đă cố gắng giải thích sự biến đổi đời sống giống như một ḍng tương tục của hiện hữu. Tiến tŕnh này không bao giờ thỏa măn. V́ vậy, điều này chứng minh rằng ngay cả việc đạt được những tiến bộ kỹ thuật cao nhất của thế giới hiện đại vẫn phải chịu chi phối bởi quy luật phổ quát 12 nhân duyên này, v́ chính đời sống cũng tùy thuộc vào lư duyên khởi. Không ai có thể tránh và thoát khỏi nó.

Từ giai đoạn này Đức Phật tiếp tục phân tích trạng thái hiện tại và t́m phương cách để chấm dứt vô thường, khổ của tất cả các pháp hữu vi. Thế nên thông điệp của Ngài rất rơ ràng, đây không phải là cách trốn thoát trong sợ hăi do thiếu can đảm và phấn đấu. Đây chính là cách t́m giải pháp cho vấn đề – vấn đề con người sanh tử và biết cách tháo gỡ ra khỏi t́nh trạng khổ đau đó. Điều này luôn luôn hiện hữu trong thế giới hiện tại và tương lai. Để hiểu điều này một cách cụ thể chúng ta nên dùng ví dụ để minh họa như sau: ví như có người đang bị vây hăm trong lửa. Cách thoát duy nhất là ra khỏi lửa và không nên đứng yên trong đó. Hoặc ví như bị nước lụt hay băng qua sông th́ cách duy nhất để khỏi bị ch́m là leo lên thuyền và chèo đến nơi an toàn. Hoặc ví như có người muốn chế ngự khỏi bị rắn cắn th́ phải nên lánh xa nó.

Cũng vậy lửa sân hận có thể tránh và dập tắt bởi t́nh thương. Ḍng thác tham ái phải được vượt qua bằng tâm buông xả và ḍng sông luân hồi phải đi qua bằng tâm trong sáng. Sự năo hại của vọng tưởng có thể được xóa tan bằng cách phát triển chánh tư duy. Về điểm này, Đức Phật đă dạy chúng ta không nên dính mắc vào hai cực đoan (quá khổ hạnh và quá hưởng lạc) mà nên theo con đường lư trí thực tiễn gọi là trung đạo. Nếu bám lấy cực đoan khổ hạnh hoặc cực đoan hưởng lạc th́ có khả năng đưa chúng ta đến nguy hại. Sự nguy hại về tinh thần này vẫn c̣n là điều phổ biến trong thế giới hiện đại ngày nay. Điều này không giới hạn ở thời cổ đại mà ngay thời khoa học kỹ thuật hiện đại cũng không thể vượt qua nó bởi v́ nó liên quan đến trạng thái tâm và các trạng thái này không phải là vật chất để dễ loại bỏ.

V́ vậy con đường đảm bảo hạnh phúc nhưng tu tập rất khó khăn đó là con đường trung đạo. Đây là con đường chân chánh và được gọi là Bát Chánh đạo (Thánh đạo tám ngành). Đây chính là một đáp án cho những vấn đề phức tạp mâu thuẫn trong mỗi con người chúng ta. Nó bao gồm 8 đặc tính và được sắp xếp thành ba cột là: giới (sila), định (samadhi) và tuệ (panna).

- Giới gồm có: Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

- Định gồm có: Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

- Tuệ gồm có: Chánh kiến và chánh tư duy.

Chứng nghiệm Bát Chánh đạo sẽ đưa chúng ta đạt được trạng thái cứu cánh Niết-bàn.

Ở đây vấn đề được đặt ra là: Tại sao chúng ta lại chối bỏ chính những điều tốt đẹp nhất của cuộc đời. V́ Bát Chánh đạo khó áp dụng lắm phải không? Tại sao người ta không nên hưởng thụ dục lạc trần gian với tất cả niềm hạnh phúc của nó? V́ sau khi chết điều ǵ sẽ xảy ra đối với con người chúng ta? Ai biết? Ai có thể nói? Quay lại cội nguồn, đầu tiên con người chúng ta là sinh vật sống không có tổ chức xă hội, nhưng con người là một sinh vật có lư trí cao nhất trong các loài sinh vật và là loài đặc biệt duy nhất có năng lực chinh phục môi trường cả không gian và vũ trụ. Ngay cả trong một xă hội như vậy, con người không thể sống đơn độc một ḿnh. Người ta phải sống có gia đ́nh, đoàn thể; và sẽ không thể sống hạnh phúc yên ổn, ḥa b́nh nếu mọi người luôn luôn sống trong lo âu sợ hăi lẫn nhau.

V́ vậy quy luật đạo đức là rất cần thiết cho con người sống ḥa b́nh trong xă hội. Ngày nay đức hạnh này vẫn c̣n rất quan trọng trong tâm của tất cả chúng sanh, là những khuôn mẫu đạo đức, do các nhà sáng lập tôn giáo thuyết giảng và càng lúc con người càng ư thức hơn về sự quan trọng của đạo đức khi thấy sự nguy hiểm trong thế giới này khi đối diện với dân số gia tăng trong các đô thị, khi đối diện với sự tàn khốc của chiến tranh, phân biệt chủng tộc, bất b́nh đẳng và nghèo đói. Có quá nhiều mối quan hệ với nhau đến nỗi chúng ta khó mà phân biệt người xấu giữa những người khác. Người ta thích nói chuyện ḥa b́nh nhưng lại không chống đối chiến tranh và giết người. Mạng sống con người là món quà quư giá nhất. Rất ít sự khác biệt giữa hai loại này về mặt yếu tố đời sống. V́ vậy, thật là đạo đức giả khi nói chuyện ḥa b́nh mà không nói về sự ngăn chặn nạn giết người của chiến tranh. Tại sao con người (đau khổ) lại từ bỏ thông điệp ḥa b́nh cứu khổ? Có phải v́ con người không thể và sẽ không sống chỉ v́ ăn? Có phải con người phải đấu tranh ngay cả phải trả giá bằng sinh mạng của đồng loại ḿnh ? Về tinh thần, đây là những vấn đề tranh căi giống nhau mà ảnh hưởng đến các bậc lănh đạo quốc gia đang nỗ lực tiêu diệt các nước yếu hơn; c̣n các nước mạnh hơn th́ lại làm cho yếu đi. Đó là luật của kẻ mạnh đè kẻ yếu (cá lớn nuốt cá bé), luật của khôn sống mống chết về phương diện sức mạnh thân thể, năng lực hóa học và sinh học.

Cũng giống như các đức tính tốt khác: tránh tà dâm, tránh nói dối và tránh sát sanh. Khi xă hội tiến hóa và khi giá trị đạo đức trở nên cần thiết th́ 5 giới này sẽ cung cấp phương thức sống cho nhân loại trong tất cả các xă hội hiện tại và tương lai. Sinh vật có lư trí sống thành xă hội (tức con người) này phải nhất định từ bỏ lối sống thú tính phi đạo đức thời sơ khai để sống ḥa hợp trong xă hội. Một số người sẽ chấp nhận và tuân thủ cách sống đạo đức sớm hơn những người khác. Một số người chỉ có thể áp dụng từng phần nhưng có người có thể giữ cả 5 giới. Có người thực hiện được hết mặc dù không dưới danh nghĩa 5 giới này nhưng nó giống như một cách sống đạo đức đứng đắn.

Hạnh phúc là niềm ước vọng của con người. Con người từ bây giờ nên thay đổi để thành con người đạo đức, biết quan tâm đến những người xung quanh. Mỗi quốc gia nói chuyện ḥa b́nh và mỗi người tận tâm mong muốn ḥa b́nh cho chính bản thân ḿnh. Nhưng c̣n đối với những người ở gần và xa chúng ta th́ sao? Các nhà lănh đạo đă nói nhiều thậm chí gào thét cho ḥa b́nh trên mọi diễn đàn. Nhưng nếu không có những đức tánh tốt này xuất hiện trong tâm của từng cá nhân hoặc từng quốc gia th́ có thể mong đợi ḥa b́nh ở trong cộng đồng hoặc tại quê hương ḿnh hoặc tại hải ngoại được chăng? Đó là dấu hiệu hạnh phúc để thấy được đặc tính hiểu biết này trong tâm trí của quần chúng, những người đă đấu tranh ác liệt và đẫm máu nhất trong các cuộc chiến tranh và các quốc gia đ̣i hỏi vũ khí tối tân nhất để tiêu diệt con người. Với sự hiểu biết này, những đức hạnh khác như: ḷng thương xót (metta), ḷng cứu khổ (karuna), hoan hỉ trong niềm vui của người khác (mudita) và tâm tràn đầy sự buông xả (upekka) cũng cần được phát triển. Con người có thể trau dồi được những đức tính này, khi con người nhận thức và thực hành chúng. Rồi con người sẽ tiếp cận gần hơn sự chứng nghiệm hạnh phúc tâm linh trong đời này và đời vị lai.

 SỰ HOÀN THIỆN TRONG LỜI PHẬT DẠY

 

Bây giờ vấn đề được đặt ra là tại sao chúng ta lại mang lấy sự rắc rối này trong khi chúng ta đang đi đến cái chết cùng với sự tan ră của thân xác trong cuộc đời này. Nói tóm lại, tại sao chúng ta lại bi quan đến như vậy? Có cảnh giới nào bên ngoài cơi đời này không? Cái ǵ là bản chất cuộc đời? Câu trả lời thông thường là hoặc thiên đàng hoặc địa ngục. Trong cuộc sống, điều đó có lẽ là không phải là câu trả lời rốt ráo. Chúng ta sẽ chưa chấm dứt được luân hồi sanh tử cho đến khi chúng ta đạt được trạng thái an lạc hoàn toàn. Điều này có thể đạt được bằng cách thanh tịnh tâm khỏi các phiền năo như tham (raga), sân (dosa), và si mê (moha). Điều đó có thể đạt được trong thế gian này bởi người luôn trau dồi các trạng thái tâm và dần dần thăng tiến lên trạng thái hoàn hảo tốt đẹp, có thể là ngay bây giờ, khi ḿnh c̣n sống; hoặc một ngày nào đó khi mạng sống sẽ chấm dứt. Làm sao để được như vậy? Và làm sao để thực hành? Hành động của mỗi người có thể là thiện hoặc ác, đạo đức hoặc không đạo đức. Tâm của một người có thể phát triển hoặc không phát triển. Tham của một người có thể nhanh hoặc chậm. Chúng sanh có thể tiếp tục trong chuỗi sanh tử ở nơi đây hoặc một nơi nào đó tùy theo hành động (kamma) của chính ḿnh. Theo ḍng nghiệp của ḿnh, một chúng sanh được sanh ra trong ḍng luân hồi (samsara). Sự kéo dài đời sống của tâm và thân, trạng thái tương tục của tâm do nghiệp lực và hậu quả tái tạo nên chúng sanh trong nhiều kiếp sống. Tiến tŕnh thanh tịnh tâm cần nên liên tục. Các trạng thái đạt được của tâm nên phát triển cho đến khi tâm được trong sáng, hoàn hảo và đạt được trạng thái tâm lư an lạc của Niết-bàn.

Như đă tŕnh bày sự sanh và tái sanh tiếp tục trong trạng thái hoặc trạng thái khác xuyên qua ḍng chảy tương tục của tâm ư theo nghiệp riêng của từng vị. Trong Phật giáo, tiến tŕnh này được giải thích bằng giáo lư nghiệp và tái sanh. Sự sanh tiếp tục cho đến khi nghiệp duy tŕ sự tồn tại của mỗi con người bị chấm dứt. Sự chấm dứt của sanh tử sẽ đưa đến trạng thái hạnh phúc hoàn toàn mà trong Phật giáo gọi là Niết-bàn. Cách sống này tới một mức độ như đă phác họa có thể được áp dụng trong đời này cả trong các xă hội văn minh hoặc kém văn minh. Song mong muốn hiện hữu này không dẫn đến hạnh phúc rốt ráo. Vị ấy phải chấm dứt ḍng sanh tử. Đó là đối tượng và mục đích tối thượng của mỗi chúng sanh. Đó chính là mục tiêu của người Phật tử và vị ấy tu tập giới luật trong niềm hy vọng và cho mục đích này. Trạng thái an lạc này có sẵn ở mỗi chúng ta và chỉ chúng ta phải tự giác ngộ lấy mà thôi.

Ở đây người cư sĩ và đặc biệt những người phương Tây chống lại những vấn đề xa lạ đối với họ, với triết lư cuộc sống và tôn giáo quen thuộc của họ. Đó chính là quan niệm sống sau khi chết trong chuỗi tái sanh vô tận trong vô số h́nh thức. Một điều như vậy có khả năng xảy ra không ? Nhưng những nhà tư tưởng phương Tây và đầu óc phương Tây bây giờ có thể tốt hơn trước đây. Họ thấy rằng một điều như vậy th́ không thể không xảy ra được. Có những biến cố và những bất hạnh nào đó trong đời sống này không thể giải thích được ngoại trừ bằng niềm tin của chúng ta. Năng khiếu khác thường nào đó của trẻ con ở lứa tuổi c̣n rất nhỏ, nh́n chung chúng ta không thể giải thích được. Cho đến nay việc chuyển giao năng khiếu ngang qua di truyền đă có thể chứng minh được. Nhưng kư ức và sự hồi tưởng về những việc xảy ra nào đó trong quá khứ mà do trẻ em kể lại đă đưa ra một vấn đề mà trong đó sự giải đáp hợp lư là tái sanh. Các nhà tâm lư học đang nghiên cứu hiện tượng này và số lượng các trường hợp như vậy được ghi nhận là đang gia tăng. Dĩ nhiên trong Phật giáo khi người đạt được ngũ thông (panca-abhinna) th́ việc hồi tưởng được kiếp trước (pubbe nivasanussatinana) của ḿnh là thông thứ ba, tức Túc mạng thông. Cho đến nay, người ta khó có thể tin và hiểu một số bằng chứng về khả năng thực tế của tái sanh.

Cơ cấu vận hành của thuyết tái sanh là ǵ? Nghiệp lực thiện hoặc ác cho là năng lực tái sinh và như là yếu tố quyết định liên tục của ḍng luân hồi. Nó không phải là một sự cân bằng mà trong đó thiện và ác được xóa bỏ như là các yếu tố cộng trừ, tính ra thành số nợ hay lăi. Đó là một khái niệm mà từ đó ư nguyện thiện ở nơi nào, thế nào đó hoặc ngày nào đó sẽ hưởng quả tốt đẹp cũng như vậy, nghiệp ác sẽ bị đền trả bất như ư. Sự chuyển giao nghiệp lực tiềm tàng có một sự trung gian mà môi giới trung gian đó th́ siêu h́nh và phi vật chất. Chính cái tiến tŕnh siêu h́nh giống như năng lực điện trong thiết bị điện tử. Năng lực tái sanh chính nó là vốn có trong chính nó, giống như năng lượng điện tử hay các tầng số âm thanh và ánh sáng. Ở đây đặc biệt sóng âm thanh hoặc tia sáng ảo có trong nó toàn bộ tiềm năng cho việc tái sanh ra bản thân nó nếu sự thiết lập thích hợp vừa đúng để tiếp nhận nó. Có lẽ nghiệp lực trong hành động có thể được giải thích giống như trong ngôn ngữ b́nh thường. Việc cân bằng cuối cùng sau rốt là sự đồng nhất nghiệp lực mà nghiệp lực đó tái sanh ra quả, nghĩa là một chúng sanh mới là quả của các giai đoạn liên tục của đời sống. Cái ǵ là sự đồng nhất của nó? Làm sao có thể giải thích được điều này?

Có nhiều vấn đề cần phải t́m câu giải đáp. Người cư sĩ phát hiện điều này khó hơn để làm cho ḥa hợp các yếu tố này. Người cư sĩ trong các nước đang phát triển và chưa phát triển th́ khám phá điều này khó hơn để tin là điều này có thể xảy ra. Có người khẳng định rằng những điều này là khái niệm triết học, là học thuyết tôn giáo đă được thảo luận, tranh luận và b́nh luận rất nhiều ở trên. Một sự giải thích về những điều đơn giản nào đó th́ không thể, trừ khi thực sự giác ngộ hoặc tự chính ḿnh chứng nghiệm th́ ánh sáng có thể giải thích một cách dễ dàng. Nhưng một người mù th́ sẽ hầu như không thể hiểu được những ǵ đă giải thích. Một người có thể mô tả con đường hoặc phương tiện để đi đến một nơi. Ngay cả người ấy có thể mô tả rơ nơi đó như thể ḿnh đă từng ở đó. Nhưng người đó không thể cảm nhận nó hoặc nhận thức nó trừ khi chính người đó đă từng ở đó. Cũng như vậy, những điều này được nhận thức bởi chính cá nhân của mỗi người. Phật giáo đă khẳng định con đường này do Đức Phật thuyết giảng. Điều này đă được giải thích. Những người khác cũng có thể tu tập theo giáo lư Đức Phật. Ngoài điều này ra không ai có thể giúp đỡ được. Mỗi người là vị cứu tinh cho chính ḿnh. Không ai có thể cứu người khác được. "Attahi attno natho." Khi một người đă đi theo chánh đạo, tu tập tôn giáo, phát triển tâm ḿnh, người đó không thể không đạt được trạng thái Niết-bàn tối thượng. Trạng thái đó nằm trong tầm tay với của chúng ta.

[Trích dịch từ nguyên tác tiếng Anh "Buddhism in Today and Tomorrow," của tiến sĩ Nandadeva Wijesekera trong tác phẩm Các Viên Ngọc Trí Tuệ của Phật Giáo (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 51-67].

 

 

 

 

 

 


SƠ CHUYỂN PHÁP LUÂN

Tứ đế, thập nhị nhân duyên.

Cập nhật: 06-02-2007, 12:59 bởi hieutam

 

Phần giới thiệu:

 

Bộ Bách khoa Phật giáo toàn thư do Lại Vĩnh Hải và các đồng sự của ông chủ biên có thể được xem như là một hiện tượng độc đáo và nổi bật trong lănh vực nghiên cứu Phật giáo của Trung Hoa đương đại. Cơ cấu tổ chức của bản văn với bề dày 8 quyển-ngót 4.000 trang-có hệ thống tham chiếu nghiêm túc, khởi đầu từ Kinh điển quyển, Giáo nghĩa quyển-Nhân vật quyển, Lịch sử quyển, Tông phái quyển, Nghi quỹ quyển, Thi kệ quyển-Thư họa quyển, Điêu tố quyển, Kiến trúc quyển-Danh sơn danh tự quyển. Bằng lối văn đơn giản và súc tích có thể nghiệm với tính uyên bác tuyệt vời, nhà biên tập và các cộng sự đă mô tả toàn diện phối cảnh của Phật giáo, khởi đi từ dấu ấn Kinh điển và hành tích ban đầu của đấng Từ tôn để rồi trải rộng ra khắp thế giới qua những lịch tŕnh tỏa chiếu vĩ đại của chư Thắng tử, nhất là lịch đại Tổ sư của Trung Hoa. Và, thật vậy, đây là một bản kê biên toàn hảo đầy tính khoa học, trong đó một hoa văn hoành tráng cần phải đề cập đến, đó là, Phật giáo không chỉ có Tam tạng kinh điển không thôi, mà Phật giáo c̣n có cả một Tạng thứ tư khổng lồ nữa, đó là Tạng nghệ thuật, đúng như Henri de Lulac (nguyên G.s Đại học và Viện trưởng Viện Thần học ở Pháp) đă có lần nhắc đến qua danh tác Amida bằng tiếng Pháp của Ông. Ở đây, bộ Bách khoa nói lên điều đó. Một điểm quan trọng đáng ngạc nhiên hơn hết, lại là Tạng lịch sử Phật giáo, ngoài tính chất cụ thể của không gian và thời gian, hệ thống nguyên văn đă đề cập đến Lịch sử Phật giáo luôn vận hành trong tâm nhân loại, nghĩa là, nhiệm vụ của nó chỉ được thành tựu chừng nào thế gian hiển nhiên là Niết-bàn chư Phật, có thể xem quan niệm này như là Tạng thứ năm của Phật giáo được đồng nhất trong quyển thứ hai của nguyên văn.

Xét thấy, Giáo nghĩa quyển-Nhân vật quyển là một bản văn chi tiết hóa Giáo nghĩa Phật hữu ích cho bản thân người dịch- về mặt cơ bản Phật học-nói riêng, và cho những ai cùng duyên, nói chung. Do vậy, tôi xin được phép chuyển ngữ bản văn ấy trong khả năng quá kém yếu của ḿnh về Hán văn, mong người đọc, nhất là được những bậc thiện trí minh chỉ. Nhân đây, tôi cũng xin G.s Tiến sĩ Lại Vĩnh Hải-hiện là Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Trung Hoa, Đại học Nam Kinh [tức là nhân vật chủ biên bản văn]— tùy tâm hoan hỷ , khi việc chuyển ngữ này chưa được sự cho phép của Ngài. N.D.

Phần chánh văn


Theo truyền thuyết, đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni thành đạo dưới cội Bồ-đề, nội dung được Ngài chứng ngộ, trong đó có “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên”  Đức Thích tôn “Sơ chuyển pháp luân” tại “Lộc-dă uyển”, giáo pháp mà Ngài tuyên thuyết cho 5 vị Tỳ-khưu cũng chính là “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên”. Sau này, trong các trường hợp, 2 hệ thống giáo nghĩa như vậy được Ngài nhiều lần tuyên thuyết lại. Do đó, “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên” chính là giáo nghĩa tối cơ bản của Phật giáo. Về sau, tùy theo sự phát triển của học thuyết Phật giáo cho dù có chuyển biến theo những đường hướng to lớn nào đi nữa, thế nhưng mọi phát triển của các học thuyết đó đều phải dựa trên nền tảng của hai hệ thống giáo nghĩa ấy. Hơn thế, bất kể là có những bất đồng nào đó giữa hai bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa, nhưng đối với hai giáo nghĩa cơ bản vừa nêu đều được tất cả các bộ phái thừa nhận. V́ lẽ đó, muốn hiểu rơ Phật lư, th́ việc lư giải và y cứ ngay từ bước ban đầu người ta phải dựa trên giáo pháp căn bản này cái đă.


BỐN ĐẠO LƯ CHÂN THẬT- Tứ đế


Cái gọi là “Đế”, tức là cái chỉ cho “chân lư”. Kinh điển Phật giáo đă quen dùng từ ngữ này để biểu thị cho “chân lư”, chẳng hạn như “chân đế”, “tục đế”... Chân đế tức là chỉ cho “Đạo lư chân chánh”, “Đạo lư chân thật”, và đây cũng là chân lư tông giáo của Phật giáo; Tục đế chỉ cho “Chân lư thế tục”, nói chung, tức là những ǵ thuộc về sự vật được chúng sinh thế gian quy định là chân lư, Phật giáo nói rằng chân lư quy ước này là một loại hư huyễn, hoặc là một loại chân lư không triệt để. uyển”, giáo pháp mà Ngài tuyên thuyết cho 5 vị Tỳ-khưu cũng chính là “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên”. Sau này, trong các trường hợp, 2 hệ thống giáo nghĩa như vậy được Ngài nhiều lần tuyên thuyết lại. Do đó, “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên” chính là giáo nghĩa tối cơ bản của Phật giáo. Về sau, tùy theo sự phát triển của học thuyết Phật giáo cho dù có chuyển biến theo những đường hướng to lớn nào đi nữa, thế nhưng mọi phát triển của các học thuyết đó đều phải dựa trên nền tảng của hai hệ thống giáo nghĩa ấy. Hơn thế, bất kể là có những bất đồng nào đó giữa hai bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa, nhưng đối với hai giáo nghĩa cơ bản vừa nêu đều được tất cả các bộ phái thừa nhận. V́ lẽ đó, muốn hiểu rơ Phật lư, th́ việc lư giải và y cứ ngay từ bước ban đầu người ta phải dựa trên giáo pháp căn bản này cái đă.


BỐN ĐẠO LƯ CHÂN THẬT-Tứ đế


Cái gọi là “Đế”, tức là cái chỉ cho “chân lư”. Kinh điển Phật giáo đă quen dùng từ ngữ này để biểu thị cho “chân lư”, chẳng hạn như “chân đế”, “tục đế”... Chân đế tức là chỉ cho “Đạo lư chân chánh”, “Đạo lư chân thật”, và đây cũng là chân lư tông giáo của Phật giáo; Tục đế chỉ cho “Chân lư thế tục”, nói chung, tức là những ǵ thuộc về sự vật được chúng sinh thế gian quy định là chân lư, Phật giáo nói rằng chân lư quy ước này là một loại hư huyễn, hoặc là một loại chân lư không triệt để.Ư nghĩa của “Tứ đế” chính là “bốn loại đạo lư chân thật”. Bốn loại chân lư này đề cập đến một chùm có bốn trạng thái “Khổ, tập, diệt, đạo”. Những ǵ là bốn? Đó là khổ thánh đế, khổ tập thánh đế, khổ diệt thánh đế và khổ diệt đạo thánh đế” (Trung A-hàm, Phân biệt thánh đế kinh). Thật vậy, bốn chân lư cao quư vừa nêu là giáo nghĩa tối cơ bản của Phật giáo. Tương truyền sau khi đức Phật thành đạo, Ngài giảng dạy giáo pháp này trước tiên  tại Lộc-dă uyển và Ngài cũng đă giảng đi giảng lại nhiều lần chân lư ấy cho các đệ tử của ḿnh sau đó nữa. Như trong Tạp A-hàm, quyển thứ 15 dạy: “Tôi nghe như vậy, một thời, Phật trú tại nước Ba-la-nại trong vườn Lộc-dă, tại tiên nhân đọa xứ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn tuyên bố với chư Tỳ-kheo rằng, nếu như thiện nam tử nào có ḷng tin chân chánh, từ bỏ gia đ́nh, xuất gia học đạo, người ấy sẽ phải thấu hiểu toàn diện pháp Tứ thánh đế. Những ǵ là bốn? Đó là thấu hiểu Khổ thánh đế, thấu hiểu Khổ tập thánh đế, thấu hiểu Khổ diệt thánh đế, thấu hiểu Khổ diệt đạo thánh đế. Do vậy, này chư Tỳ-kheo! Chưa từng có sự tách rời ra giữa Tứ thánh đế, chúng phải là phương tiện tinh yếu, phải là sự tu hành không gián đoạn. Mọi kinh nói về Tứ thánh đế sẽ phải nói một cách toàn diện, y như chương cú này”.


KHỔ

 

“Khổ đế” là chỉ cho những loại thống khổ của nhân sinh.

Trong Phật giáo, cái gọi là khổ, tức là đề cập đến các loại phiền năo bức bách thân tâm, như trong Phật địa kinh dạy: “Thân và tâm bị bức bách được gọi là Khổ”. V́ vậy, theo lư giải của Phật giáo, trong thực trạng đời sống, Khổ là một loại hiện tượng tồn tại phổ quát. Không có ai trên đời này là không khổ đau. Mục đích tối
chung của việc tu Phật chính là cần giải thoát khỏi khổ đau bức bách lư luận giáo nghĩa của Phật giáo đều luôn vi nhiễu, thâm cứu là v́ sao chúng sinh lại phải lănh thọ hay là giới hạn đời ḿnh trong sự thống khổ như vậy và bằng cách nào triển khai phương pháp giải khổ. Thế th́, “Khổ” đă đóng một vai tṛ vô cùng trọng yếu trong giáo nghĩa của Phật giáo. Do vậy, trong chùm “Tứ đế”, “Khổ đế” đứng ở vị thế đầu tiên. Phật giáo cho rằng chỉ khi nào thấu hiểu một cách rơ ràng, rằng chúng sinh tức là Khổ, th́ khi ấy người ta mới có thể tiến bước truy t́m nguyên nhân khổ và mới có thể có được phương pháp giải Khổ. Ta nên kết luận rằng, học thuyết lư luận về Khổ là điểm xuất phát của rất nhiều học thuyết giáo nghĩa của Phật giáo.

Phật giáo cho rằng, mọi nhân sinh trong xă hội thế tục này - nói theo bản chất của chúng - đều là thống khổ. Đây là sự phán đoán có giá trị của Phật giáo đối với nhân loại và xă hội. Phật giáo cho rằng, một đời người, từ lúc sinh ra cho đến khi chết, người ta hoàn toàn đeo lấy các loại thống khổ và phiền năo. Trong những trạng thái như vậy, chúng có thể được tiến hành phân tích bằng nhiều góc độ, nhiều tầng khác nhau một cách khái quát. Trong kinh điển Phật giáo, sự thống khổ có khi được mô tả là hai, là ba... thậm chí có đến hàng trăm trạng thái, cụ thể là 111 trạng thái.

 

Nhị khổ (hai loại khổ)

 

Tức là ngoại khổ và nội khổ (cái khổ do nguyên nhân nội tại và cái khổ do nguyên nthân tâm này. Bao nhiêu phiền năo do chính thân và tâm của ḿnh đeo hân ngoại tại). Nội khổ là các loại thống khổ và mang và ngoại khổ là sự thống khổ do các loại nhân tố của khách thể đem lại. Luận Đại trí độ, quyển 19 cho biết: “Nội khổ được gọi là lăo, bệnh, tử..., ngoại khổ được gọi là do đao, gậy, lạnh, nóng, đói, khát, v.v… Có thân là có khổ vậy”. Phân tách tiến lên một bước nữa, nội khổ vẫn có thể chia ra làm hai loại: Sự thống khổ trên mặt sinh lư do các loại tật bệnh mang lại, gọi là thân khổ; do những trạng thái t́nh cảm như ghen ghét, đố kỵ, v.v… mang lại, khiến cho người ta đau khổ và phiền năo trên mặt tâm lư, các trạng thái này gọi là tâm khổ. Cũng vậy, ngoại khổ có thể phân ra làm hai: 1/ Khổ phát sinh do xă hội, chẳng hạn như gặp trộm cướp bủa vây, hoặc là do tai họa của chiến tranh. 2/ Khổ do điều kiện tự nhiên, như gió, mưa, nóng, lạnh, v.v… và các loại thiên tai khác tạo thành nguyên nhân của thống khổ. Tóm lại:

- Nội khổ: 1/ Thân khổ - sự thống khổ trên phương diện sinh lư của chúng sinh do tật bệnh đưa đến. 2/ Tâm khổ - các loại phiền năo thống khổ do tâm lư và sinh lư làm nguyên nhân phát sinh.

- Ngoại khổ: 1/ Sự thống khổ tạo thành do nguyên nhân xă hội. 2/ Sự thống khổ tạo thành do nguyên nhân tự nhiên.

 

Tam khổ

 

Là cảm giác tiếp nhận sự thống khổ đối với cá thể hữu t́nh mà qua đó, ta có thể tiến hành phân tích và phân loại thêm. Phật giáo cho rằng, tính chất phổ biến của chúng sinh hữu t́nh: Thích vui sợ khổ … Chúng sinh tham luyến thân này, nên tất nhiên là thân có nguyên nhân được cảm thọ lạc [thú vui]. T́nh cảm chủ quan của con người tương tác đối với hoàn cảnh khách quan làm phát sinh bao loại cảm giác. Ta có thể chia ra một vài cảm giác như vậy thành ba loại quy mô với tính cách chung: cảm giác khổ, cảm giác vui và cảm giác không vui không khổ. Luận Đại trí độ, quyển 19 dạy: “Do lục t́nh ở bên trong ḥa hợp với lục trần (6 cảnh trí ở bên ngoài), nên sinh ra 6 loại thức. Sáu thức sinh ra ba loại cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ. Mọi chúng sinh ham thích lạc thọ và hoàn toàn không thích khổ thọ, c̣n không khổ không lạc có nghĩa là không nắm lấy cũng không xả bỏ [tức là trạng thái trơ, vô kư]”. Do ba loại cảm thọ này mà nói đến ba khổ tướng, tức là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

1-      Khổ khổ

Do tác dụng khách quan tạo nên sự thống khổ đối với thân và tâm nhân loại, khiến cho thân tâm của họ phát sinh cảm giác thống khổ, cái được gọi khổ khổ chính là đây. Phật giáo cho rằng, tất cả các pháp hữu lậu đều là khổ khổ (chỉ cho tất cả các pháp đưa chúng sinh hữu t́nh lưu chuyển trong sinh tử luân hồi, tức là khổ chồng thêm khổ).

2- Hoại khổ

Nói đến hoại khổ là nói đến sự tương quan với lạc thọ. Nếu như thuyết minh về khổ khổ so ra dễ thuyết minh hơn là hoại khổ. Nói theo cách liên quan đối đăi để người ta có thể nhận thức được th́ hoại khổ khó lư giải hơn. Dựa vào bản chất của chúng sinh, Phật giáo cho rằng, tất cả đều thích vui sợ khổ, mặc cho t́nh thức đuổi theo hoàn cảnh vui và thụ dụng cảm giác khoái lạc. Thế nhưng, cái mà phàm phu cho là lạc ấy, nó chẳng phải là cái lạc chân thật, Phật giáo xem đấy chỉ là một loại hiểu biết [cảm nhận] hư vọng ngu si, cần nên từ bỏ. Vậy, Phật giáo muốn đề cập đến cái ǵ? Theo giải thích của Luận Đại trí độ, cái gọi là lạc, là cái luôn đối đăi với khổ, do so sánh mà sanh ra một loại cảm giác. Chẳng hạn, một người bị phán phải tội chết, nếu như người ấy được cấp thẩm quyền cao hơn xét miễn tội hay đại xá, hoặc là phạt tội bằng h́nh tước [tội đánh bằng gậy] thay cho tội chết, thế th́ nhất định anh ta vô cùng mừng vui. H́nh tước vốn là khổ sự, thế nhưng nó thay cho tội chết, nên khiến cho tội nhân cảm thấy rất vui. Từ đó có thể nhận ra rằng, nói đến khổ và lạc là nói đến việc so sánh, đối đăi giữa trạng thái này với trạng thái khác, nghĩa là, cái khổ nhỏ đôi khi cũng là lạc thọ và ngược lại. Hơn thế, cái mà thế gian cho là lạc, vốn là “vô thường”. Vô thường là nói về bản chất của nó, trên mặt thực tế, nó cũng là khổ thôi. Chúng sinh đắm trước nơi lạc, mà không biết cái lạc này chưa bao giờ là cái “lạc” chân thật, nó không thể là cái lạc lâu bền. Một ngày kia, do điều kiện khách quan và các tâm tố chủ quan chuyển di biến hóa, th́ cái lạc ấy chuyển sinh biết bao phiền năo mà thành ra hoại khổ. Luận Đại trí độ nói: “Hành giả quán lạc thọ ấy, biết nó một cách thật sự là không có lạc ǵ cả. (Đă không có lạc) mà toàn là khổ sự, tại sao vậy? Lạc được cho là lạc chân thật, th́ không có điên đảo, mọi lạc thọ của thế gian, đều [sinh ra] từ điên đảo, lạc ấy không có tính chân thật”.
3. Hành khổ

Hành khổ tương ưng cùng cảm giác bất lạc bất khổ. Phật giáo cho rằng tất cả các pháp hữu vi, tức là tất cả thế gian đều nằm ở trong t́nh trạng tương quan liên hệ giữa hiện tượng tinh thần và vật chất, thời thời khắc khắc chuyển lưu biến động, thời thời khắc khắc đều đang phát sinh biến hóa sinh diệt. Hiện tượng này cũng chính là vô thường, là không an ẩn, mà vô thường và không an ẩn chính là khổ, điều đó được gọi là hành khổ. Hành khổ vận chuyển trong mọi pháp hữu vi của thế gian, tức là vận hành trong tất cả hiện tượng vật chất cũng như tinh thần của thế gian, do đó, trong hành khổ bao hàm cả hai trạng thái khổ khổ và hoại khổ nữa. Ta có:

Ba loại cảm thọ: 1/ Khổ thọ. 2/ Lạc thọ. 3/ Bất khổ bất lạc thọ.

Ba loại khổ: 1/ Khổ khổ. 2/ Lạc khổ. 3/ Hành khổ.

 

Tứ khổ

 

Đó là sinh, lăo, bệnh, tử. Bốn loại này là sự nhận thức khái quát của Phật giáo đối với toàn bộ hiện tượng sinh mệnh thế giới, cũng có thể cho là cách phán quyết có giá trị của Phật giáo đối với nhân loại. Phật giáo cho rằng, có sinh hẳn là có tử, v́ vậy, bản thân của sự sinh vốn đă bao chúng sinh đều ham sống sợ chết, sao lại chẳng hàm căn nguyên của sự khổ. Phần đông biết rằng, sống là mở đầu cho sự chết? Nói theo một ư nghĩa nào đó, th́ sự tăng trưởng của sinh mệnh [mạng sống], cũng là hướng đến việc tiếp cận với tử vong. Hơn thế, trong quá tŕnh của mạng sống, bản thân của sinh hoàn toàn dựa trên sự tồn tại của các loại thống khổ. Sinh là h́nh thái vận chuyển của các loại khổ, do vậy, bản thân của sự sống chính là khổ. Xét theo học thuyết nhân quả luân hồi của Phật giáo, sinh là bắt đầu một ṿng quay mới của luân hồi, sự luân hồi của mạng sống không có viễn cảnh dừng [cảnh chỉ, 境止]. Phiền năo và thống khổ cũng y như vậy, muốn nghĩ đến bất tử, th́ nên biết đến vô sinh. Ba loại khổ là lăo, bệnh, tử c̣n lại cũng rất dễ dàng lư giải.

 

Ngũ khổ

 

Bốn loại khổ như trên đă nêu hợp lại làm một, tức là cái khổ của sinh, lăo, bệnh, tử. Ngoài ra c̣n bốn cái khổ nữa, đó là, thương yêu mà bị chia ĺa (ái biệt ly khổ), khổ v́ không muốn đối mặt với oán thù mà lúc nào ḿnh cũng phải gặp (oán tắng hội khổ), khổ v́ mong cầu không được (cầu bất đắc khổ), khổ v́ năm ấm quá hưng thịnh (ngũ ấm xí thịnh khổ, chẳng hạn thân quá đẫy đà nên thường hay khổ v́ tham dục...). Sinh, lăo, bệnh, tử là hiện tượng sinh lư của nhân loại, do vậy, chúng là sự thống khổ trên mặt sinh lư, mà yêu chia ĺa, oán thù hay gặp, và mong cầu chẳng được là thuộc về hiện tượng tâm lư, đem thống khổ đến trên mặt tâm lư.

 

Bát khổ

 

Tám loại khổ này là một trong những pháp thoại thường thấy trong kinh điển Phật giáo.Thật ra, bát khổ cũng chính là cách phân hợp của năm loại khổ vừa nêu. Trong năm loại khổ vừa nêu, nghĩa là đem cái khổ của sinh, lăo, bệnh, tử hợp lại làm một, c̣n trong bát khổ được tách ra mỗi thứ theo tính loại, thành là bốn sự khổ, rồi cộng thêm yêu chia ĺa, oán thù hay gặp, mong cầu chẳng được và khổ v́ năm ấm quá hưng thịnh thành ra tám loại khổ. Kinh Niết-bàn dạy: “Tám tướng gây khổ, đó là sinh khổ, lăo khổ, bệnh khổ, tử khổ, chia ly khổ, oán thù khổ, cầu không được khổ, năm ấm hưng thịnh khổ”. Tám loại khổ này, Phật giáo tiến hành phân tích theo mỗi loại đối với hiện tượng sinh mệnh của chúng sinh và đưa ra kết luận, đây là cơ sở thuộc về quan điểm có giá trị sinh mệnh và nhân sinh quan của Phật giáo. Phật giáo dạy các loại khổ tướng như vậy, mục đích chủ yếu là chỉ cho chúng sinh thấu rơ sự lưu chuyển sinh tử của sinh mệnh ḿnh, khiến cho họ khởi tâm sợ hăi và xa rời sinh tử để t́m cầu giải thoát. Do vậy, khổ là một trong những học thuyết cơ bản của Phật giáo.

Nói đến khổ do sinh, bởi v́ sinh là đầu mối của tử, sự phát triển của sinh mệnh, chính là quá tŕnh tương tục tiếp cận tử vong. Cái mà người ta gọi là sinh này, là chỉ cho tất cả sinh vật có mạng sống có t́nh thức. Sinh mệnh là kết quả của năm ấm hoặc cho là kết quả của năm ấm tích tụ cũng vậy, khi năm ấm đă phân ly rồi, th́ chẳng có sự hiện hữu nào của sinh mệnh cả. C̣n một phương diện khác nữa, quá tŕnh hoàn chỉnh của một sinh mệnh chúng sinh đă là một quá tŕnh dẫy đầy khổ đau phiền lụy rồi. Khi sinh mệnh mới chào đời là khổ đau hiện hữu, trong tiến tŕnh trưởng thành, sinh mệnh cảm nhận bao phiền năo đớn đau qua mọi khía cạnh của thân tâm, thế nên nói sinh là khổ. “Này chư Hiền! Nói sinh là khổ, tức là nói khi chúng sinh sinh ra, thân nhận lấy sự khổ, là nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết toàn diện cảm giác; tâm nhận lấy sự khổ, là tâm nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết cảm giác toàn diện; thân tâm nhận lấy sự khổ, là thân tâm nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết toàn diện cảm giác; thân tâm nóng bức, là thân tâm nhận lấy cảm thọ toàn diện, biết cảm giác toàn diện; thân thể cường vượng [sự cường vượng của thân làm mồi lửa] bừng cháy âu lo phiền năo, thân nhận lănh cảm thọ toàn diện biết cảm giác toàn diện, tâm cường vượng [chất liệu cường vượng của tâm làm mồi] bừng cháy lo âu phiền năo, tâm nhận lănh cảm giác toàn diện biết cảm giác toàn diện; thân tâm cường vượng bừng cháy lo âu phiền năo, thân tâm nhận lănh cảm thọ toàn diện biết cảm giác toàn diện. Này chư Hiền! Nói đến sinh là tử, do vậy nên thuyết ra” (Xem Trung A-hàm, những trích dẫn bên dưới cũng từ bản kinh này).

Nói bệnh là khổ, bởi v́ khi chúng sinh bệnh, thân và tâm của họ luôn bị ma bệnh mài cắt dày ṿ, khiến cho thống khổ vô cùng, do vậy nói bệnh là khổ.

Nói chết là khổ, bởi v́, chết là sự kết thúc của sinh, “Này chư Hiền! Chết là mệnh chung vô thường của chủng loại chúng sinh ấy, là tử tang tán diệt, là sự phá hoại triệt để của [tuổi] thọ, là sự đóng bít mệnh căn, [dữ kiện] ấy được gọi là sự chết”. Khi chúng sinh lâm chung, thân tâm nhận lănh bao nỗi thống khổ dày ṿ, do đó mà nói chết là khổ.

Yêu thương mà chia ĺa là nói đến con người hay sự vật được chúng sinh yêu thích qua thân và tâm, thế nhưng luôn luôn đây đó tách ly, chẳng thể tương phùng như ư nguyện. Đối với những ǵ mà ta yêu ta thích, đối với thân bằng quyến thuộc được chính ḿnh thương mến, người ta luôn kỳ vọng đoàn tụ vĩnh viễn chung với ḿnh. Niềm vui tương tụ thân bằng là một “đại lạc sự” của đời người, thế nhưng “cơi đời này chưa từng có chiếu chăn nào mà không hư tán”. Ngày kia chiếu rách người xa, càng hội ngộ bao nhiêu th́ càng mang đến buồn đau dường ấy; và có được chăng, nếu chẳng thể chẳng chia ly với người ḿnh yêu mến, càng tưởng đến ḷng càng đổ vỡ đớn đau. “Này chư Hiền! Yêu thương mà chia ĺa là khổ. Nói rằng chúng sinh thực có 6 xứ ở bên trong, cái xứ của con mắt, của mũi, tai, thân và ư, lưu luyến ái dục, chúng phân tán đặc thù chẳng thể tương ưng, tách rời không hội tụ, chẳng nhiếp chẳng tập, và cũng không ḥa hợp nên gọi là khổ. Như thế ở bất cứ nơi đâu, càng cảm thọ lạc, càng tưởng tư ái luyến, th́ ở đó cũng lại y như vậy. Này chư Hiền! Chúng sinh thật sự có 6 giới [yếu tố], cái địa giới của ái [cái cơi có yếu tố như là đất làm phát sinh ái dục], cái giới của thủy, hỏa, không, phong và thức [tức là năm yếu tố thuộc về năm đại làm phát sinh cảm giác], chúng phân tán đặc thù chẳng thể tương ưng, tách rời không hội tụ, không nhiếp không tập, không ḥa hợp là khổ, đấy được gọi là ái biệt ly khổ”. Nói chung, các chủng loại vừa nêu đều mang đến cho ta nỗi thống khổ trên cả hai mặt thân và tâm. Do vậy, ái biệt ly là khổ.

Oán thù mà hay gặp là khổ, cái khổ này gần giống với ái biệt ly khổ. Chẳng hạn, một người nào đó chống đối hoặc áp bức ḿnh hay ngược lại, hoặc các sự vật đă từng cùng ở chung với ḿnh, y như trên đă nói, chúng luôn mang đến vô vàn thống khổ. “Này chư Hiền! Nói oán thù thường hay gặp là khổ, v́ sao mà nói như thế? Này chư Hiền! Oán thù thường hay gặp, là nói đến chúng sinh thực có sáu giới, đó là cái giới của địa, không yêu thích, cái giới của thủy, hỏa, phong, không, chúng cùng hợp nhất có nhiếp và tập [thu hút và tụ lại, tức là chúng hay chiêu vời hận củ, oán xưa, mà thật ra ḿnh không mong đối diện], cộng hợp là khổ, đấy được gọi là oán thù mà hay gặp là khổ.” Tục ngữ có câu: “Oan gia hiệt lộ - đường oan gia thường hẹp”, hiện tượng này trong cuộc sống hiện thực xảy ra rất nhiều, đấy cũng là một nỗi khổ lớn của nhân sinh.

Cầu bất đắc là chỉ cho cái ǵ hay đối tượng rất yêu thích nào đó mà chính bản thân ḿnh mong cầu t́m kiếm, song không bao giờ sở hữu được, và niềm mong cầu không được như vậy lại chồng chất trong tâm thức ta kéo theo các nỗi thống khổ khôn cùng. “Này chư Hiền! Cái trạng thái sinh mà ta nói, nó là cái pháp sinh gắn chặt vào chúng sinh, người ta muốn cho khiến được không sinh, thực ra điều này không thể lấy ước muốn [tham dục] mà có được... Trạng thái già, chết, sầu ưu thương xót mà ta nói, nó là cái pháp thương xót sầu ưu gắn chặt vào chúng sinh. Người ta muốn được cái không thương xót, điều này không thể lấy cái muốn để mà có được... Này chư Hiền! Thực ra chúng sinh do tư luyến mà phát sinh ái niệm, cái niệm ấy chính chúng tạo ra vậy. Nếu người ta tác khởi tư luyến về sở hữu ái dục, muốn khiến cho nó được trường cửu thường hằng, không chuyển di, dời đổi, điều này cũng không thể lấy cái dục mà thành tựu được. Này chư Hiền! Thế nên cầu bất đắc khổ được thuyết ra như vậy”(Sđd).

Qua tổng hợp đưa đến sự thống khổ của cả thân và tâm của chúng sinh như đă nêu, ta có được mọi nguyên nhân của chúng đều là do điều kiện [duyên] thân tâm cháy rực của chính nhân loại tạo ra. Phật giáo cho rằng sinh mệnh con người được hợp thành bằng 5 nhân tố: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. “Ngũ ấm” hay “ngũ uẩn” là tên gọi khác của 5 loại nhân tố này, chúng đă bao quát hết thảy nhân tố tâm lư và sinh lư, hết thảy hiện tượng vật chất lẫn tinh thần. Ngũ ấm quá hưng thịnh đưa đến dục vọng cho sinh mệnh lẫn việc đeo bám đối với sự vật, từ đó dẫn sinh bao loại thống khổ trên mặt thân tâm của nhân sinh. Hơn thế, y cứ vào t́nh trạng biến thiên sinh diệt của vạn hữu, ta kết luận rằng, bản thân của cuộc tồn sinh hoàn toàn bị sát-na sinh diệt chi phối. Trong cái cách thiên biến vạn hóa này, sự vô thường của sinh mệnh, cho biết, trạng thái hưng thịnh của ngũ ấm cũng là thống khổ.

Ngoài trừ những loại thống khổ vừa nêu, trong kinh điển Phật giáo vẫn c̣n rất nhiều loại khổ được phân theo tính chất riêng của chúng cho từng khía cạnh, chẳng hạn, trong Bồ-tát tạng kinh đề cập đến 10 sự bức bách khổ của chúng sinh, Hiển dương thánh giáo kinh dạy có 55 khổ sự, và thậm chí Du-già sư địa luận tuyên bố có đến 110 loại khổ, v.v...

Để chúng sinh có được nhận thức sâu về nỗi khổ của ḿnh và, khiến chúng tỏ tường chân nghĩa của Khổ đế, Phật giáo lại vạch ra 4 loại hành tướng nữa, tức là tướng vô thường, tướng thống khổ, tướng không và tướng vô ngă để tiến hành phân giải, khiến cho người học dựa vào đó thực hành thẩm nghiệm và nhờ đó mới tiến lên nắm vững được lư mầu của Tứ đế.

Thường là sở chỉ [cho] tính chất thường trụ bất biến. Phật giáo dạy rằng, tất cả sự vật thế gian đều do nhân duyên ḥa hợp mà thành, đều y vào sự quan hệ nhân duyên mà tồn tại. Do vậy, khắc khắc giây giây đều ở trong sinh diệt biến hóa, không bao giờ có tính chất thường trụ bất biến, v́ thế, gọi là “vô thường”. Mà, vô thường tức là khổ nên lấy tướng vô thường làm một trong 4 hành tướng của Khổ đế.

Khổ là sở chỉ tính bức bách. Thuyết minh cụ thể về khổ, đă hiện hữu quá nhiều trong Phật điển, như 5 khổ, 8 khổ, v.v… như vừa nêu. Phật giáo cho rằng, nhận thức được khổ là cực kỳ quan trọng. Đây vừa là cơ sở nhận thức chân lư Phật giáo vừa là cơ sở cho việc tiến hành tu học. Thế nhưng hành giả, sau khi quán sát thẩm nghiệm khổ tướng, tiến lên một bước nữa thâm cứu diệu lư Tứ đế và, dần thấu hiểu những ǵ được chư kinh giảng dạy. Do vậy, trong hành tướng của Tứ đế, chư kinh lại lập ra khổ tướng để giảng rộng thêm.

Không, tức là chỉ cho “phi hữu”, là chỉ cho “vô sở đắc” - sự hiện hữu không thể nắm bắt được. Phật giáo dạy rằng, cá thể sinh mệnh của chúng sinh hữu t́nh được 5 uẩn cấu thành quy cho cả tinh thần lẫn vật chất. Tách rời khỏi 5 uẩn này, th́ không có cái ǵ được gọi là bản thân cá thể hữu t́nh. Ngũ uẩn phân ly rồi, th́ sinh mệnh cũng cáo chung. Trong vũ trụ, hiện tượng của sinh mệnh cá thể hữu t́nh nằm dưới t́nh trạng như vậy, thậm chí tất cả sự vật cũng đều y như thế. Mọi hiện tương tâm vật lư, đều do các loại điều kiện tập hợp mà thành, tách rời các mối quan hệ có điều kiện hay nhân duyên này, th́ bản thân sự vật cũng không tồn tại. Với nguyên lư ấy, Phật giáo dạy rằng, sự tồn tại của vạn hữu đều là hư giả bất thật, đều do tên gọi được đặt ra [giả danh], do thế mà nói rơ là không tướng. Tuy nhiên, Phật giáo nhấn mạnh rằng, không hoàn toàn không phải là không có cái ǵ hết. Giả như, đơn giản là, người nào cho rằng “không là hoàn toàn không có một cái ǵ hết”, th́ người đó rớt vào “không kiến” hay đi theo chủ nghĩa hư vô. Phật giáo cho rằng một nhận thức dưới dạng như vậy là không chính xác, là “ác thú không” [tức là đuổi theo học thuyết phi nhân quả hoặc là bị học thuyết phi nhân quả lôi kéo vào đường ác], là một loại nhận thức sai lầm thuộc về “ngoại đạo”. Nhận thức chính xác phải bắt đầu từ phương diện của pháp nhân duyên, phải được liễu giải và quán triệt chư pháp hư huyễn bất thực, như huyễn, như mộng, lại như bong bóng nước, bởi, chúng do nhân duyên ḥa hợp mà sinh thành. Chỉ có nhận thức bản chất sự vật đúng như vậy, th́ ta mới có thể trừ khử được những quan kiến sai lầm, và rồi đặt tư duy của ḿnh trên những ǵ đă được trí tuệ chính xác của Phật giáo đ̣i hỏi.
Ngă, tức là chỉ cho cái chủ tể duy nhất thường hằng của sinh mệnh cá thể hữu t́nh. Phật giáo dạy rằng, chúng sinh phàm phu [ấu trĩ] cùng với những nhà lập thuyết, thường cho cái “ngă” là có thật [thực hữu] nên họ thường ôm giữ cái “ngă chấp” như thế. Đương nhiên, Phật giáo nói những nhận thức như vậy đều non yếu và hư vọng. Có thể thấy, “ngă” là cái hư huyễn bất thực. Suy rộng ra, không chỉ có cá thể hữu t́nh là như vậy, mà ngay cả sự vật hữu t́nh với lại phi t́nh, cả đến cái được gọi là nhất thiết pháp, cũng đều y như thế. Phân tích đến tận bản chất của tất cả, tất cả đều hư huyễn bất thực, cơ bản là chẳng có cái tự ngă tồn tại nào mang tính chất duy nhất thường hằng. Do vậy, Phật giáo dạy, nhất thiết pháp đều “vô ngă”. Cá thể hữu t́nh toàn do nhân duyên ḥa hợp mà thành, vậy th́ cái “ngă’ cho là duy nhất thường hằng đó c̣n tồn tại ở nơi đâu nữa chứ? Du-già sư địa luận, quyển 34 nói: “Cái mà những hành và tự tướng của chúng có được, tương ưng cùng tướng khổ với lại tướng vô thường. Bởi v́ chúng dựa vào duyên mà sinh, nên chẳng được tự tại. V́ không tự tại, nên [chúng] chẳng phải là ngă. Tên gọi này đặt cho cái hành không tự tại. Vậy, chúng sinh không có cái hành nào là Ngă cả - nhân vô ngă hành”.
Bốn loại hành tướng của Khổ đế nói lên rằng v́ sao mà 4 bốn phạm trù liễu giải về khổ được phát khởi. Phật giáo cho là 4 tính chất vô thường, khổ, không, vô ngă vốn đă bao hàm trong Khổ đế rồi, và chúng được cho thấy bằng quả báo hữu lậu. Hành giả tu tập Khổ đế, tất nhiên phải tư duy quán sát về sự hoạt động này của chúng [Khổ đế tứ loại hành tướng], mà quán pháp khổ đau như thế là nhằm đối trị phàm phu so với thế giới và sinh mệnh tác khởi thành 4 loại tư kiến điên đảo hư vọng về thường, lạc, ngă, tịnh. Căn cứ vào lư giải của Du-già sư địa luận, trong 4 hành tướng của Khổ đế, tướng vô thường đầu tiên [được hành giả quán sát], là để đối trị với sự kiến giải sai lầm về tất cả sự vật thế giới được phàm phu chấp là “thường”, tướng khổ thứ 2 là để đối trị phàm phu so với sự vật thế giới phát sinh kiến giải sai lầm về  lạc và tịnh, tướng không thứ 3 và tướng vô ngă thứ 4, là nhằm đối trị kiến giải sai lầm của phàm phu chấp có cái “ngă” hay cái “tôi” thực hữu.


TẬP ĐẾ

 

“Tập đế” chỉ cho nguyên nhân và nguồn gốc dẫn khởi khổ đau. Tập có nghĩa là triệu tập hay chiêu vời, có đủ khả năng dẫn đến tác dụng chiêu cảm một cách toàn diện các quả khổ khởi lên cùng một thời điểm. Phật giáo cho rằng, sự hoạt động của thân và tâm tương ưng chính xác với sự kết nghiệp, và hiển nhiên sự kết nghiệp này sẽ đưa đến quả khổ sinh tử của tương lai hay đời sau. Do vậy, trạng huống ấy được mệnh danh là “Tập”. Đế có nghĩa là đúng như thật không hư dối. Tất cả hoạt động hữu vi gây phiền năo hay nghiệp ngu si phiền lụy đều đưa đến cái khổ quả của 3 đường sinh tử đúng như thật không hư dối, do vậy, trạng huống này được mệnh danh là Tập đế. Nói một cách nôm na, Tập đế cũng chính là nguyên nhân và nguồn gốc dẫn sinh các loại thống khổ. Loại khổ đau này bao hàm nhiều dạng được chúng sinh lănh thọ trên cả 2 mặt tâm lư lẫn sinh lư. Phật giáo cho rằng, nhân sinh tràn ngập khổ đau mà nguyên nhân và nguồn gốc đưa đến t́nh trạng này, chính là phiền năo và “nghiệp”, chúng luôn gắn liền với con người. Phiền năo, được Phật giáo dạy, hoàn toàn không giống như ư nghĩa phiền năo mà ta thường hay nói. Phật giáo dạy phiền năo là cái hay gây nhiễu loạn thân tâm của chúng sinh, khiến cho thân tâm ta mất đi an tịnh, từ đó khiến cho ta khổ năo ngu si. Do đó, Phật giáo c̣n gọi “phiền năo” là “hoặc”. Có rất nhiều chủng loại phiền năo, có thể chia thành 6 loại mà ta thường gặp nhất: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. “Nghiệp”, có nghĩa là “tạo tác”, gốc chữ Phạn, Hoa dịch âm là “yết ma”, giảng rộng ra là sự hoạt động toàn diện thân và tâm của chúng sinh. “Nghiệp” có thể phân thành 2 dạng: nghiệp hữu lậu, và nghiệp vô lậu. Nghiệp hữu lậu, chỉ cho hoạt động của tất cả thân và tâm chúng sinh dẫn đến sự cảm triệu quả báo hữu lậu. Nghiệp, nói theo cách thông thường, phần nhiều là chỉ cho h́nh thái duy nhất này. Nói đến “nghiệp vô lậu”, đây là chủng loại được chỉ cho những ai mưu t́m giải thoát, tức là những hoạt động thực tiển mang tính chất tôn giáo mà những người Phật tử tu hành với thành quả sau rốt là giải thoát. Nghiệp, giả như là nghiệp hữu lậu, nó tương ưng với phiền năo. Có nhiều chủng loại nghiêp, nói chung, có thể chia thành 3 phạm trù: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ư nghiệp. Thân nghiệp, thường chỉ cho các lănh vực hành động liên quan đến bản thân của nhân loại hay chúng sinh. Ngữ nghiệp, hay nói khác hơn là khẩu nghiệp, chỉ cho lănh vực ngữ ngôn của chúng sinh. Và, ư nghiệp chỉ cho lănh vực tư tưởng của con người. Ngoài ra, c̣n có rất nhiều h́nh thái khác nữa của nghiệp, chẳng hạn, tư nghiệp, tư dĩ nghiệp , ác nghiệp, v.v… Phật giáo cho rằng, kết quả hoạt động về ngữ ngôn, hành vi và ư thức tư duy của chúng sinh, phần nhiều khiến cho người ta sinh ra phiền năo và dục vọng, từ đó dẫn sinh sự thống khổ cho chúng sinh. Hơn nữa, có sự sai biệt giữa nghiệp thiện ác, thế nhưng cả 2 vẫn sẽ được người ta chắc chắn nhận lănh báo ứng, do thế, nghiệp được xem như là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa nhân sinh vào đau khổ [hoặc ngược lại].
Khi quan sát Tập đế, ta cũng thấy có 4 loại hành tướng hay 4 bốn loại tính chất đặc thù, tức là nhân tướng [tính chất thuộc về nguyên nhân], tập tướng [tính chất tụ tập, chiêu vời], sinh tướng [tính chất phát sinh], duyên tướng [tính chất tương quan, liên kết hay tạo điều kiện].

Nghiệp hữu lậu sở hữu của Tập đế, chiêu vời nguyên nhân các loại quả khổ, giống như là hột giống hay năng lượng, một ngày kia có điều kiện sẽ sinh sôi nẩy nở, đâm chồi mọc rễ, lớn thành lúa mạ, sẽ có tác dụng thành h́nh, chủng tử này chính là nhân sinh ra mầm non. Cũng vậy, “Tập” là nhân của chư quả khổ hữu lậu,
đấy là nhân tướng, là nghiệp hữu lậu vậy. Chúng sinh hữu t́nh tạo nên môi trường phát sinh bao loại nghiệp lực, tiềm năng này, chiêu cảm tư cách và diện mạo đúng như đồng chủng hữu t́nh. Thí như, bao lọai nghiệp lực được chúng sinh tạo tác mang đặc tính thuộc về chúng sinh, th́ cái sức mạnh của hành vi này sẽ chiêu vời họ vào nhân đạo, khiến cho họ trở lại làm người, chẳng cần biết kiếp trước là ǵ, miễn là hiện hành làm người, cái thân tướng trưởng thành của họ có những đặc điểm tương đồng với người. Việc đưa đến đặc tính như vậy, chính là tập tướng của chư nghiệp Tập đế.

 

Bản thân của nghiệp lực có được lực lượng toàn năng, nó khiến cho sản sinh ở bên trong  sự sai biệt đa dạng của các loại cá thể chúng sinh hữu t́nh. Một vài sự sai biệt này sẽ quyết định phương hướng luân chuyển của đời vị lai, quyết định đưa họ chuyển sinh vào trong 5 khuynh hướng của 3 cơi [tam giới ngũ thú], và 6 nẻo luân hồi. Do vậy, sức mạnh của chư nghiệp tập đế làm nhân cho chúng sinh luân chuyển, đấy là sinh tướng.

Chúng sinh hữu t́nh do tác dụng của phiền năo và nghiệp mà luân chuyển trong sinh tử, chúng sinh hữu t́nh do tính chất bất đồng của phiền năo và nghiệp mà chuyển sinh luân hồi với những tướng trạng sai biệt, nghiệp phiền năo này đóng vai tṛ tác duyên cho chúng sinh luân chuyển, đấy là duyên tướng vậy.

Chư hành giả Phật giáo do tu hành quán sát Tập đế mà chứng đắc 4 tính chất: nhân, tập, sinh và duyên chính là để đối trị với những quan điểm sai lầm về thường, lạc, ngă, tịnh – quan điểm lầm lạc này khiến cho bao loại tham ái phát sinh.


DIỆT ĐẾ

 

 Diệt đế cũng gọi là Diệt thánh đế, hoặc gọi là Tác khổ thánh đế, đây là mục tiêu tối chung cho việc tu hành Phật giáo. Diệt, tức là diệt trừ triệt để, thiêu đốt sạch, diệt tận, tức là diệt trừ rốt ráo gốc rễ của các loại phiền năo và đau khổ, đạt đến một trạng thái  được Phật giáo tuyên bố là bất sinh bất diệt, một cảnh giới tinh thần lư tưởng của tự do và giải thoát. Phật giáo cho rằng, cái cảnh giới lư tưởng như vậy, hẳn nhiên là vĩnh viễn không có bất cứ sự trói buộc nào của khổ đau và phiền năo, an trụ trong cảnh giới tinh thần với trạng thái tịch tịnh măi măi. Một cảnh giới như vậy, các tông phái Phật giáo đều có các liễu giải khác nhau, có tông phái gọi đó là “Niết-bàn”, có tông gọi là “Trạch diệt vô vi”. Lại có người cho rằng, sự diệt tận của khổ, tập tức là diệt đế, cũng có người cho rằng, sự diệt tận của “Hoặc” là diệt đế.v.v..

Diệt đế có 4 hành tướng: Diệt tướng, tịnh tướng, diệu tướng và ly tướng. Diệt tướng, chính là tận diệt nguyên nhân dẫn đến phiền năo lưu chuyển sinh tử. Tịnh tướng, chính là đắc ly [được cắt dứt] các sự khổ bị ngủ thủ uẩn tướng bất tịnh nắm chặc. Diệu tướng, là cắt dứt mọi dư thừa của phiền năo, lấy trạng thái lạc tịnh chân thật bẩm sinh làm tự thể, do vậy gọi là Diệu tướng. Ly tướng, là nói diệt đế đă tách rời hẳn các phiền năo mà đắc đại an ẩn. “Câu-xá-luận” dạy: Khi nói 4 hành tướng của diệt đế, là nói v́ các uẩn đă tận, nên gọi là diệt; các mồi lửa của tham, sân, si, đă tắt ngấm, nên gọi là tịnh; chẳng c̣n các nhiễu loạn của mọi loại phiền năo, nên gọi là diệu; tách ly hẳn các loại tai họa, nên gọi là ly.

.
ĐẠO ĐẾ

 

“Đạo đế” c̣n được mệnh danh là Đạo thánh đế, Khổ diệt đạo đế. Đạo, vốn là lộ tŕnh đưa vào đạo, ư nghĩa này có thể dễ thông hiểu. Đạo đế chỉ cho sự bứt rời khỏi các loại trói buộc của “khổ đế” và “tập đế”, chỉ cho phương pháp tu hành và đạo lộ thực tiển mà cái cứu cánh của “Diệt đế”. đạt đến là cảnh giới tinh thần lư tưởng tịch tịnh vừa mới đề cập. Quyển thứ 25 của “Câu-xá-luận” thuyết: “Đạo nghĩa là ǵ [ư nghĩa của lộ tŕnh đưa vào là ǵ]? Đó là lộ tŕnh đưa đến Niết-bàn. Nương trên [thừa Niết-bàn đạo] lộ tŕnh này, có thể đi đến cảnh giới Niết-bàn.” Có rất nhiều phương pháp và lộ tŕnh, chúng thường được chỉ riêng cho “Bát chánh đạo”, hoặc là “Bát thánh đạo”, “Bát chi chánh đạo”.v.v...Ư nghĩa của những phạm trù này: “Tám loại đạo tŕnh và phương pháp tu hành chính xác hướng đến thế giới của bờ bên kia một cách thông thoáng”, đó là:

 

1) Chánh kiến, chỉ đến nhận thức và lư giải có tính chính xác toàn diện về “chân lư” được Phật giáo tuyên thuyết.

  2) Chánh tư duy, tiến hành tư duy nhận thức chính xác đối với giáo nghĩa Phật giáo về “Tứ đế”.

  3) Chánh ngữ, hoàn toàn không nói nghịch lại với sự thật, nghịch lại với giáo lư giáo nghĩa của Phật giáo, lời nói không dựa trên vọng tưởng.

 4) Chánh nghiệp, mọi thứ hành vi phải phù hợp với yêu cầu của giáo nghĩa, chẳng hạn không sát sinh, không trộm cướp...


  5) Chánh mệnh, là sống đời chân chánh phù hợp giáo nghĩa, duy tŕ huệ mạng, nghiêm giữ giáo quy, thanh tịnh 3 nghiệp thân, khẩu, ư, thụ dụng vật thực thường ngày vừa đủ theo chánh pháp.

  6) Chánh tinh tấn,  trạng thái tinh thần không lười biếng, gắn chặc đời ḿnh theo yêu cầu tu hành của Phật giáo một cách tương tục.

  7) Chánh niệm, trạng thái quán niệm tư duy chính xác, duy tŕ một cách trong sáng giáo lư, giáo nghĩa Phật giáo. Thấy như thật bản chất và h́nh thái tất cả pháp.

  8) Chánh định, gằn chặc tâm thức ḿnh theo yêu cầu của Phật giáo, tập trung tinh thần, khiến cho tâm thức chuyên chú vào một cảnh giới nào đó nhằm thể ngộ chân lư của Phật giáo.


  Tóm lại “Bát chánh đạo” là những luật định ứng dụng cho cả thân và tâm, Bát chánh đạo muốn chúng ta tiếp nhận và phản ảnh như thật bản thân của giáo pháp ấy qua cuộc sống và tư duy của ḿnh—Tiến hành rèn luyện thân tâm theo đúng chánh pháp. Bất cứ ngôn hạnh nào cũng đều phải tùy thuận với giáo lư giáo nghĩa, thông qua sự tu tập thực tiển như vậy, cuối cùng chúng ta sẽ đạt đến cảnh giới tinh thần tối thượng được Phật-đà tuyên dạy. Người ta dùng Bát chánh đạo làm nội dung căn bản của Đạo đế, điều này đă được giảng dạy toàn diện trong “4 bộ A-hàm” và cũng đă được phổ biến trong chư kinh luận khác nữa. Ngoài Bát chánh đạo ra, trong những kinh luận như: Thành thật luận, Đại trí độ luận, Tứ đế kinh luận, đều có giảng rộng ra theo hướng vĩ mô:” 37 phẩm trợ đạo, hoặc là 37 giác chi”. 37 đạo phẩm này gốm có Tứ niệm trụ, tứ chánh cần, tứ thần túc, ngủ căn, ngủ lực, thất giác chi, bát chánh đạo.

4 hành tướng của Đạo là đạo tướng, như tướng, hành tướng và xuất tướng. Đạo tướng là thuyết minh Thánh đạo cùng với hành tích của các bậc Thánh giả đă kinh qua sự chứng đắc lộ tŕnh đưa đến vô thượng chánh giác, do đó, được gọi là Đạo. Như tướng, là nói đến Đạo đế, khởi tu như lư như thật, đối trị các phiền năo, nên gọi là Như tướng. Hành tướng, là nói tu hành Đạo đế khiến cho tâm thức phàm phu được rời khỏi vĩnh viễn các điên đảo bám dính trong tâm thức của ḿnh để chứng thật Bồ-đề. Xuất tướng, là nói đến công phu tu hành Đạo đế, cho phép hành giả tách ly phiền năo sinh tử, vĩnh viễn từ bỏ “hoặc nghiệp”, đắc cứu cánh Niết-bàn, thế nên, ở đây mệnh danh là Xuất tướng.
Tứ thánh đế— Khổ, tập, diệt, đạo— như vừa nói đến, cho biết, trong mỗi một Đế, lại có 4 hành tướng, cộng lại ta có được chùm Tứ đế 16 hành tướng. Phật giáo cho rằng, chùm Tứ đế 16 hành tướng này cộng thông với tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.

Khảo sát Tứ đế—Khổ, tập, diệt, đạo—theo quan hệ nhân quả, ta thấy chúng gồm có 2 đặc tính: Đặc tính thứ nhất, là nhân quả thế gian, tức là lấy Khổ làm quả, Tập làm nhân; đặc tính thứ 2 là nhân quả Xuất thế gian, lấy Diệt làm quả, Đạo làm nhân. Phật giáo cho rằng, chúng sinh phần nhiều ờ thế gian đều nổi lên và ch́m xuống [ngụp lặn] trong phiền năo vô tận với bao niềm khổ đau sinh, già, bệnh, chết. Đây là  quả khổ và, “Tập” là sự chiêu vời nhân của quả khổ. Nếu như chúng sinh có thể trừ diệt đuợc các loại phiền năo cơi trần, giải thoát quả khổ sinh tử luân hồi của cơi ấy, tức là thành tựu quả vị xuất thế gian vĩnh viễn tịch tịnh, cũng tức là đạt đến cảnh giới Diệt đế vậy. Bởi v́ tu hành Đạo đế là lộ tŕnh duy nhất đạt đến quả vị xuất thế gian này, do vậy “Đạo” là nhân để xuất thế gian. Phật giáo cho rằng, do nhân mà đắc quả, cầu quả th́ t́m nhân và chỉ có như vậy mới có thể liễu giải và nắm bắt chính xác cách giải thoát khổ đau với lại quả khổ phiền năo hiện đời, và chỉ có như vậy mới có thể đạt được lộ tŕnh đưa đến Niết-bàn măi măi không c̣n phiền lụy trói buộc thân tâm nữa.

Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật thích-ca thành đạo dưới cội Bô-đề, Ngài đă thuyết pháp lần đầu tiên tại ngoại thành Ba-la-nại nơi vườn Lộc-dă cho những thị giả trước đây theo Ngài—5 anh em Kiều-trần-như— Ở đây, pháp được thuyết chính là diệu lư Tứ đế , và khiến cho họ quán sát nhân quả thế gian với lại xuất thế gian. Sau khi nghe được như vậy, 5 anh em Kiều-trần-như đều tín phục, y pháp tu hành, liền đắc giải thoát, chứng A-la-hán quả. Theo Phật kinh ghi lại, đức Phật thích-ca sơ chuyển pháp luân  tại vườn Lộc-dă, khi Ngài giảng dạy lư Tứ đế, tùy theo căn tính sai biệt của Tăng chúng, mà Ngài đă giảng đến 3 lần giáo pháp này. Dựa vào dịch bản “Tam chuyển pháp luân kinh” của Đường Nghĩa tịnh (sư Nghĩa tịnh đời nhà Đường), ban đầu khi đức Thích-ca thuyết Tứ đế, Ngài luôn đặt trọng tâm vào việc làm sáng tơ mỗi một pháp trong chuỗi Tứ đế này như thế nào, nghĩa là, đây là Khổ đế, đây là Tập đế, đây là Diệt đế, đây là Đạo đế. Cái yêu cầu là làm sao chúng đệ tử ghi nhớ được chân lư ấy, do đó lần thuyết pháp thứ nhất vế Tứ đế được xưng là “Thị chuyển”, hoặc “Thị tương chuyển”. Khi giảng pháp ấy lần thứ 2, Ngài đặt trọng tâm vào sự khuyến đạo, chỉ ra pháp môn tu tập Tứ đế cốt ở ư nghĩa trong thực tiển tu hành mang tính Phật giáo hoàn chỉnh, Ngài nhấn mạnh đến Khổ đế “ưng tri” (phải nên biết), Tập đế “ưng đoạn”, Diệt đế “ưng chứng”, Đạo đế “ưng tu”. Lân này được gọi tên là “khuyến chuyển” hoặc “khuyến tương chuyển”. Lần thứ 3, Ngài nói đến chính ḿnh đă thể nghiệm tu hành và cảnh giới mà ḿnh đă đạt đến, để minh chứng là Ngài đă tự ḿnh đạt đến cứu cánh của việc tu hành như thế nào, và nhấn mạnh đối với Khổ đế “tự tri”, Tập đế “tự đoạn”, Diệt đế “tự chứng”, Đạo đế “tự tu”. Lần này được gọi là “chính chuyển” hoặc “chính tương chuyển”. Đức Phật tùy theo căn tính bất đồng của Tăng chúng mà giảng lại lần thứ 3 pháp Tứ đế, trong Phật giáo gọi lần này là “Tam chuyển pháp luân”—Bánh xe pháp được chuyển 3 lần. “Câu-xá-luận” nói rằng:” Bánh xe pháp  được Phật chuyển 3 lần, mỗi lần chuyển pháp, Ngài tùy theo 4 phương diện: quan điểm, nhận thức, trí tuệ và giải ngộ [của thánh chúng] mà giảng rộng ra, 4 khía cạnh này gọi là Tứ hành tướng và 3 lần chuyển pháp cộng lại thành 12 hành tướng”. Phật giáo cho rằng, giáo pháp Tứ đế là pháp môn trung tâm tu hành của chúng đệ tử Thanh văn, và cũng là nền tảng của tất cả Phật pháp, do đó nó hoàn toàn được tôn quư.

(c̣n tiếp)

 

 

 

 

Chuyển ngữ: Pháp Hiền cư sỹ
Nguồn: Tập san Pháp luân 34-35

Chú thích:

Theo Weber-Brosamer và Dieter M.Back, đức Thế Tôn c̣n dạy hạnh thường lễ Phật nữa, khi Ngài thành đạo dưới cội Bô-đề, và lễ Phật đă thành nên truyền thống tôn quư của Phật giáo được t́m thấy trong kinh tạng Pāli. “....Der Pāli-kanon, von dem aus wir in etwa auf die allgenmeine....des Erhabenen unter dem Bodhibaum in Bodh Gayā beginnen und lehrt gleichzeitig als Inhalt dessen....” (Bedigung / die Philosophie der Leere). N.D.

 

- Tư nghiệp: Trong những nghiệp, chúng được người ta phân đều ra: Tư nghiệp chỉ cho hoạt động của ư chí, chỉ có trong ư chí hoặc thành h́nh trong tư niệm mà thôi, chứ chưa thực hiện hay hiện hành. Tư dĩ nghiệp, nghiệp này đă được thực hiện qua thân và khẩu. Bất luật nghi biểu nghiệp, biểu hiện hoàn toàn do quán tính, nên quyết đoán một cách mănh liệt; do quán tính nên được gọi là nghiệp hoàn thành nhưng không chủ tâm. Phi luật nghi phi bất luật nghi biểu nghiệp, nghiệp này không lộ rơ nét trong ứng xử, tùy thời tùy nơi mà có thiện có ác, v́ vậy mà được gọi là không lộ ra cũng không hoàn thành. Cũng có những nghiệp mà hoàn toàn không do cố ư nhưng không thực hiện chúng, có những nghiệp mà sự chú ư được loại bỏ, nhưng lại thực hiện; những nghiệp khác mà sự chú tâm và biểu lộ bị phủ định và, cuối cùng, có những nghiệp mà người ta cố ư và cố ư thực hiện. Hơn thế, c̣n có những nghiệp được số đông lănh thọ, tức là cộng nghiệp và những nghiệp chỉ một cá nhân thọ dụng mà thôi, tức biệt nghiệp. (Parmi les karma, on distingue également ceux qui sont accomplis intentionnellement, ce qui sont projétes mais non accompli, ceux qui sont accomplis mais involontairement, et ceux qui ne sont ni projetés ni accomplis. Il y a aussi des actes ‘karma’ dont l’intention est positive ... par un seul individu), (DALAI LAMA / Le sens de la vie). N.D.

 

SƠ CHUYỂN PHÁP LUÂN

(THE FIRST TURNING OF THE WHEEL OF DHARMA)


“Theo kinh văn nói về LẦN CHUYỂN PHÁP LUÂN THỨ 1, khi đức Phật dạy Tứ đế, Ngài đă dạy chúng trong ngữ thể chứa 3 yếu tố: bản chất của chính Tứ đế, hiệu quả của chúng và sự toàn đắc.
Yếu tố thứ nhất, bản chất của những sự thật cá biệt. Yếu tố thứ 2, gải thích tầm quan trọng mà hành giả cần phải lănh hội ư nghĩa đặc trưng của mỗi một đế: Cụ thể là, khổ đau phải nhận ra, và nguồn gốc của nó phải được loại trừ; dứt khổ được thành tựu và, thực chứng lộ tŕnh dứt khổ (Diệt đế). Nôi dung của 3 yếu tố này, đức Phật giảng dạy cứu cánh Tứ đế hay là sự toàn đắc—Nghĩa là, nhận biết khổ đau toàn diện, chặt dứt toàn diện khổ đau, thực hiện toàn diện sự dừng dứt khổ đau, và thành tựu trọn vẹn lộ tŕnh dừng dứt.” (According to the sutra the first turning, when the Buddha taught the Fourt Noble Truths, he taught them within the context of three factors: the nature of the truths themselves... the completed actualization of the path to cessation)


 

LẦN CHUYỂN PHÁP THỨ 2:

TÁNH KHÔNG LUẬN

(THE SECOND TURNING)

 

Trong lần chuyển pháp luân thứ 2 ở vườn Lộc-dă, đức Phật đă dạy tạng kinh Bát-nhă (prajñāpāramitā) được được biết là những bản kinh thuyết về trí tuệ.... ở đây, chân lư thứ 3, diệt đế, được giảng dạy, có được độ sâu và sự phức tạp hơn bao giờ hết. Nói chung, không giống như lần chuyển pháp luân thứ nhất, giáo nghĩa của lần này vào sâu chi tiết nhất về tự tánh của Diệt đế, đi sâu vào hành tướng của chân lư này.v.v... (In the second turning, discussion of the third Noble truth, true cessation, acquires greater profundity and complexity. Unlike the sutras belonging to the first turning, the teachings of the second turning go into great detail on the nature of cessation in general, its specific characteristics, and so forth)

 

LẦN CHUYỂN PHÁP THỨ 3-PHẬT TÍNH

(THE THIRTD TURNING:

BUDDHA-NATURE)


Lần chuyển pháp thử chứa đựng nhiều bản kinh khác biệt, quan trọng hơn hết là bản kinh NHƯ LAI TẠNG KINH (Tathāgatagarbhasūtra), mô tả trong tự thể chúng ta có tiềm năng giác ngộ: Yếu tánh đạt được giác ngộ hay Phật tánh của chúng ta. Bản kinh này thật sự là nguồn sinh xuất tạng kệ tung của bồ tát Long thọ., và cũng là nguồn của Di-lạc tạng, tức là bản kinh ĐẠI THỪA TỐI THƯỢNG MẬT CHÚ LUẬN (Mahāyāna-uttaratantraśāstra). (The world of Tibetan Buddhism / DALAI LAMA) N.D.

- Phật giáo -

Hữu Thần hay

Vô Thần

 

(Nguồn: Tập san Pháp luân số 30)

Cập nhật: 31-10-2006, 13:59 bởi thanhhoa

 

 

 

 

Theo nếp suy nghĩ của chúng ta, mọi vật trong thế giới đều được chia thành hai đối cực: có - không, đúng - sai, phải - quấy… Nhưng mà, vạn vật đâu phải chỉ là sự phân chia ranh giới rạch ṛi, sự phân chia rạch ṛi đó chỉ là hệ quả hệ lụy từ trong bản chất ưa suy luận của chúng ta thôi (kinh Lăng già gọi là hư luận: prapañca).

Cũng  theo lối lập luận ấy, người ta nghĩ về đạo Phật, kẻ hoan nghênh, người phản bác, trịnh trọng tuyên bố đạo Phật là đạo vô thần (atheism).
Giở lại từ điển để xem, Từ điển những tôn giáo thế giới (The Oxford Dictionary of World Religions) định nghĩa “chủ nghĩa vô thần (atheism) là phủ nhận sự hiện hữu của Trời (God)” (Trời được hiểu như một chủ vật, chẳng hạn như Phạm thiên, Chúa, Thượng đế…). Trời ở đây thực ra rất đa dạng, tùy theo mỗi hệ thống tín ngưỡng mà có những danh xưng và vai tṛ khác nhau. Trong các tôn giáo độc thần th́ cho đó là vị chủ tể khai sáng dựng lập thế giới, trong tôn giáo đa thần th́ đó là những vị thần có quyền năng siêu việt. Nói chung, họ là những sinh thể khả kính về mặt phẩm đức cũng như năng lực.

Vậy, nói Phật giáo là vô thần, đúng sai như thế nào?

Phận sự đầu tiên của mỗi người Phật tử là quy y Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng. Phật trong nhiều kiếp trước từng là những vị trời sống ở các cơi trời mà kinh điển, đặc biệt là Truyện tiền thân (Bổn sanh) thường kể lại. Trước khi thị hiện thành Phật, ngài là vị Bồ-tát Trời sống ở cung trời Đâu-suất. Pháp là giáo lư tốt lành vi diệu, trong ấy bao trùm cả những pháp đưa đến những cơi trời. Tăng là hiện thân của pháp ấy được thực hiện, trong đó có rất nhiều vị là Bồ-tát bất thối, hoặc những vị A-la-hán có thể đi đến những cơi trời. Những vị Bồ-tát này có thể hóa hiện làm các vị trời để hướng dẫn chúng sanh tu tập, như Bồ-tát Quán Thế Âm chẳng hạn. Hơn thế, Tam bảo không chỉ là nơi quy ngưỡng của con người trần tục mà c̣n là của chư thiên, các vị trời cao trọng. Trong kinh kể, nhiều vị Phạm thiênđă xuống trần để nghe pháp và sau đó phát tâm quy y tam bảo. Và chúng ta cũng biết, chính bản thân đức Phật cũng đă là hiện thân đầy đủ của cả Tam bảo, v́ Pháp và Tăng đều là những pháp lưu xuất từ Phật. Sự kết hợp của Pháp và Tăng là để thực hiện sự hoàn thành Phật tánh vô biên trong mỗi cá thể.

Đức Phật - đối tượng cho chúng ta quy ngưỡng ở đây không phải là một vị chúa tể khai sáng vũ trụ, bởi v́ vũ trụ này được h́nh thành do cộng nghiệp của tất cả mọi sinh linh, trong đó có các vị trời. Ngài là vị Đạo sư của trời và người với những phẩm đức cao đẹp vượt lên trên những giới hạn mà loài trời và loài người đang cố vượt qua - đó là sự sanh tử luân hồi. Nói về sự hoàn thiện, tất cả chư Phật trong mười phương ba đời đều b́nh đẳng và là điểm quy chiếu của tất cả các hoài vọng cao đẹp không chỉ cho con người khổ đau mà cho cả chúng sanh ở các cơi trời đang hưởng cuộc sống an nhàn tốt đẹp. V́ đức Phật vượt lên trên các vị trời nên không có lư do ǵ để những đệ tử của Ngài quy hướng các vị trời ấy.

Vậy chư Phật có phải là những bậc linh thánh không? Linh thánh là phẩm chất của những vị thần thánh, trong đó có các vị trời. Chư Phật có phẩm chất toàn hảo vượt lên trên các vị trời nên tất nhiên các Ngài cũng là những bậc linh thánh, thậm chí c̣n trên cả những khái niệm ấy. Các Ngài là Trời của tất cả các loài trời, là Vua trong tất cả các vua, là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác - Samyaksabodhi.

Thế th́ những người con Phật thuộc vào hệ tư tưởng nào trong những cái được gọi là vô thần, độc thần và đa thần? Trả lời dứt khoát câu hỏi này thật không phải dễ, bởi v́ ngay việc sử dụng các từ này cũng đa dạng như chính các vị thần được người ta kể đến. Tuy nhiên, đạo Phật cũng có nhận định khái quát về vấn đề này qua việc t́m về nguồn cội sự phát triển của thần giáo trong lịch sử nhân loại, từ đó cho chúng ta cái nh́n đúng đắn về tôn giáo của ḿnh trong mối tương quan với những tôn giáo khác.

Vào buổi b́nh minh của nhân loại, do sự thiếu hiểu biết về bản chất của thế giới nên khi đối trước các hiện tượng tự nhiên như thiên tai lũ lụt, hạn hán mất mùa, con người có xu hướng xem đó như là những trạng thái t́nh cảm “không ổn định” của những quyền năng siêu nhiên, đó là nguồn cội của các vị thần. Nói một cách khác, tổ tiên của các vị thần là nỗi lo sợ của lê dân! Con người ban cho mỗi một hiện tượng kỳ bí một vị thần cai quản. Từ đó, đa thần giáo được h́nh thành với sự đa dạng trong tính cách cũng như h́nh thức và số lượng của chư thần. Thế rồi, con người cảm thấy chư thần phức tạp quá, khó có thể làm vừa ḷng tất cả nên họ muốn đưa chư thần về dưới sự cai quản của một vị thần tối cao, để dễ bề thương lượng đồng thời tránh được sự hỗn loạn của chư thần. Có lẽ từ đó mà chủ nghĩa Nhất thần giáo được h́nh thành.

Phật giáo xuất hiện ở đời cùng với sự hiểu biết ấy nên chư thần không được quy ngưỡng như những nơi an ổn tối thượng. Đức Phật với sự toàn giác đă xóa đi những đám mây mờ trong nhận thức của con người về bản chất của thế giới, của chư thần. Thế nhưng nói như vậy không có nghĩa là chư thần, thậm chí thượng đế, không hề tồn tại. Theo quan niệm của Phật giáo, thế giới này có đến 36 tầng trời, và mỗi tầng như thế đều có các chúng sinh trời cư trú. Đây là những chúng sinh đă tạo những nghiệp lành trong những kiếp trước. Cuộc sống ở những nơi ấy tuy sung sướng đầy đủ nhưng không phải là mục đích hướng đến của đạo Phật, bởi v́ họ vẫn đang bị các phiền năo chi phối và phải chịu tái sinh. Những loài trời này cũng như con người chúng ta đang kiếm t́m sự giải thoát rốt ráo ra ngoài những trói buộc của phiền năo, của luân hồi, đó là Niết-bàn tự tại.

Trong kinh mô tả, vị Thiên chủ Đế thích, là vị trời luôn nghĩ rằng ḿnh là chủ nhân đă sáng tạo ra thế giới, đă thỉnh cầu đức Thế Tôn thuyết pháp ngay sau khi Ngài thành tựu Chánh giác. Và c̣n nhiều vị trời khác cũng có những việc làm tương tự, như bốn vị Thiên vương ở bốn hướng núi Tu-di trở thành những vị hộ pháp… Điều đó nói lên rằng, ngay các vị trời, các vị vua trời cũng đều hết sức cung kính đức Thế Tôn, họ quy y và nghe pháp từ ngài bởi họ ư thức được rằng sự linh thánh của họ không bằng nơi ngài.

Thế th́ Phật giáo cũng nói đến chư thần và thiên giới nhưng không xem những vị ấy hoặc những nơi ấy là bản thể, là đích điểm cứu cánh hay chỗ quy ngưỡng tối thượng của con người. Trời và người đều b́nh đẳng trong khả năng giác ngộ, chỉ khác nhau ở chỗ phước đức sâu dày hay nông cạn; nếu so sánh một cách khiên cưỡng th́ sự khác nhau ấy giống như sự khác nhau giữa người giàu và kẻ nghèo. Chư thần không phải là trung tâm điểm của Phật giáo, không phải là nền tảng cho giáo lư nhà Phật. Đức Phật dạy, giác ngộ là mục đích tối thượng, bằng vào sự nỗ lực tu tập con người có thể đạt được sự giải thoát như chính ngài, sự giác ngộ ấy c̣n cao hơn những ǵ mà chư thiên đang thọ hưởng.

Người ta cũng thường gán ghép chủ nghĩa vô thần với chủ nghĩa hư vô, một tư tưởng không tin nhân quả nghiệp báo. Theo nghĩa này th́ Phật giáo lại càng hoàn toàn không phải vô thần bởi khi đi sâu vào Tam tạng giáo điển của Phật giáo, chúng ta thấy Phật giáo tôn trọng tư tưởng nhân quả nghiệp báo này hơn bất cứ nơi nào. Mối quan tâm trong tinh thần nhân quả nghiệp báo của Phật giáo không chỉ dừng lại ở con người mà c̣n lan tỏa đến những sinh vật nhỏ bé như con sâu cái kiến…, đến cây cỏ núi rừng, đến lợi ích cho toàn thể.

Đức Phật dạy, muốn đạt được giải thoát th́ phải tránh xa hai cực đoan. Ở phương diện này cũng vậy, đạo Phật có nói đến các vị thần thánh trong trời đất, nhưng họ không phải là nơi quy ngưỡng cho con người t́m cầu giác ngộ. Đồng thời đạo Phật cũng không chủ trương vô thần để rồi con người sống sa đọa trong nỗi lạc lơng của sự phủ nhận đạo lư nhân quả nghiệp báo, phủ nhận những phẩm đức cao đẹp của cuộc sống.

 

ĐÔI ĐIỀU GHI CHÉP VỀ ĐẠI TẠNG KINH

 

Liên Hương

 

Đại tạng kinh là một công tŕnh tập thành tâm huyết của bao nhiêu thế hệ Tổ sư, cổ đức Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly. Nói một cách ngắn gọn và dễ hiểu, Đại tạng kinh là một toàn tập bao gồm tất cả những thánh thư Phật giáo theo hệ thống Nam truyền và Bắc truyền, chia thành ba nhóm lớn: Kinh, Luật, Luận. Nhân đây, chúng tôi xin điểm qua vài nét về Đại tạng kinh.

Dưới các triều Hiếu Minh đế (516-528) của nhà Bắc Ngụy, Tề Minh đế (494-498) của nhà Nam Tề và các đời vua Vũ đế, Văn đế và Tuyên đế của nhà Trần (557-583), kinh điển Phật giáo đă được gom thành toàn tập mệnh danh là Đại tạng kinh và được sao chép để thờ tại các tự viện chính. Riêng Tùy Văn đế (581-604) đă hạ chiếu sao tả 46 bộ Đại tạng kinh để thờ tại các chùa chính trong mỗi châu, nhưng vẫn chưa đặt vấn đề tiêu chuẩn hóa Đại tạng kinh. Tuy thế, danh xưng "Đại tạng kinh" chỉ xuất hiện vào thời Tùy - Đường, c̣n trước đó chỉ gọi là Nhất thiết chúng tạng kinh điển.

Đại tạng kinh được h́nh thành dần dần. Trước tiên, chỉ kinh Phật được xếp vào Đại tạng. Một bản kinh muốn được xếp vào Đại tạng (danh từ chuyên môn gọi là "nhập tạng") phải được sự phê chuẩn của nhà vua. Thông thường, hoàng đế sẽ tham khảo ư kiến của các vị cao tăng cổ đức xem bản kinh đó có đúng thật là kinh Phật hay ngụy kinh. Sau thời Ngũ đại, các trước tác của các tông phái mới lần lượt được nhập tạng.

Căn cứ trên thứ tự niên đại, lần lượt có các bản Đại tạng kinh như sau:

1. Khai Bảo tạng (c̣n gọi là Bắc Tống tạng bản, Sắc bản, Thục bản): Đây là bản Đại tạng kinh đầu tiên được ấn loát bằng bản gỗ khắc vào năm 971 tại Ích Châu (Thành Đô) thuộc đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên hiện nay) theo mệnh lệnh của Tống Thái Tổ. Măi đến năm 983, việc in kinh mới hoàn thành. Số lượng kinh trong tạng là 1.076 bộ. Bộ kinh này về sau trở thành cơ sở cho Cao Ly Đại tạng kinh.

2. Đan Châu tạng (c̣n gọi là Đan bản, Đan tạng, Liêu bản): Bản này do vua Liêu Hưng Tông nước Khất Đan (Đại Liêu) hạ chỉ khắc bản tại Nam Kinh (nay là thành phố Bắc Kinh. Thời Liêu gọi Bắc Kinh là Nam Kinh, c̣n thành phố Nam Kinh hiện nay gọi là Kim Lăng). Công tŕnh này măi đến năm 1072 đời vua Đạo Tông mới hoàn thành. Bản này có dạng chữ in nhỏ nhất, nay đă thất lạc.

3. Kim tạng (c̣n gọi là Triệu thành tạng bản, Kim khắc tạng kinh): Bản này do ông Thôi Pháp Trân ở Lộ Châu, Sơn Tây chủ xướng, khắc in vào thời Kim tại chùa Thiên Ninh, Giải Châu (Sơn Tây). Đến năm 1173 mới hoàn thành, hoàn toàn giống bản đời Bắc Tống, chỉ khác cách tŕnh bày. Bản này hiện đă thất lạc, chỉ c̣n một ít (chừng 4.597 quyển) tại chùa Tiêu Sơn Quảng Thắng ở huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây vào năm 1934. Không biết bản này c̣n tồn tại sau cơn biến nạn Cách mạng văn hóa hay không!

4. Tỳ Lô tạng (c̣n gọi là Phúc Châu tạng, Phước Châu Khai Nguyên tự bản): Do các vị Bản Minh, Bản Ngộ, Hạnh Sủng, Pháp Diêu, Duy Xung, Liễu Nhất quyên mộ khắc bản tại chùa Khai Nguyên ở Phúc Châu vào năm 1112 thời Tống.

5. Tư khê Viên Giác tạng (c̣n gọi là Hồ Châu bản): Do các ngài Vương Vĩnh Tùng ở Tư Khê (Hồ Châu), Tịnh Phạm ở viện Đại Từ, Hoài Thâm ở viện Viên Giác quyên mộ khắc in năm 132 thời Nam Tống, gồm có 1.412 bộ.

6. Tư Khê Tư Phúc tạng: Tạng kinh do Tư Phúc Thiền Tự ở Tư Khê châu An Cát (nay là huyện Ngô Hưng, tỉnh Triết Giang) gồm 1.464 tác phẩm.

7. Cao Ly tạng (c̣n gọi là Tiên bản, Ly tạng):

Gồm nhiều loại:

7.1. Sơ điêu bản: khắc in vào năm 1011 dùng Thục bản làm gốc, thêm vào các soạn thuật ghi trong Trinh Nguyên mục lục, hoàn thành năm 1082.

7.2. Tái điêu bản: hiện được cất giữ tại chùa Hải Ấn (Haeinsa) ở Hàn Quốc. Bản này được khắc in từ năm 1236 đến năm 1251 để cầu nguyện đẩy lùi quân Nguyên. Hiện bản này đă được điện tử hóa và lưu hành dưới dạng CD, giới nghiên cứu thường mệnh danh bản Đại tạng này là Tripitaka Koreana. 

8. Phổ Ninh tạng (Nguyên bản): Do các vị Đạo An, Như Nhất quyên góp khắc in tại chùa Phổ Ninh, huyện Dư Hàng, tỉnh Triết Giang. Bản này dựa theo Hồ Châu bản đời Tống thêm vào tác phẩm Tông Kính Lục của ngài Vĩnh Minh, tổng cộng là 1.437 bộ kinh, luận, trước tác.

9. Hoằng Pháp tạng: Do vua Nguyên Thế Tổ hạ chỉ khắc bản tại chùa Hoằng Pháp ở Bắc B́nh vào năm 1277 đến 1294 mới hoàn thành. Toàn tạng gồm 1.654 tác phẩm. Mỗi trang in gồm 5 hàng, mỗi hàng 17 chữ. Nội dung kinh luận được chọn nhập tạng dựa theo bản Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục. Hiện nay bản này hoàn toàn bị thất lạc.

10. Hồng Vũ Nam tạng : Đại tạng kinh do vua Minh Thái Tổ khắc in tại chùa Tường Sơn ở Kim Lăng năm 1372 (niên hiệu Hồng Vũ) đến năm 1403 thời Minh Thành Tổ mới hoàn thành. Bản này gồm 1.625 tác phẩm.

11. Vĩnh Lạc Nam tạng : Bản này chỉ là bản Hồng Vũ có thay đổi chút ít, chia thành mười bộ (nhóm chính): Đại Thừa Kinh, Tiểu Thừa Kinh, Tống Nguyên Nhập Tạng Chư Đại Tiểu Thừa Kinh, Tây Độ Thánh Hiền Soạn Tập (các trước tác của các vị cổ đức Thiên Trúc), Đại Thừa Luật, Tiểu Thừa Luật, Tục Nhập Tạng Chư Luật và Thử Phương Soạn Thuật (các trước tác của chư Tổ Trung Hoa). Toàn tạng gồm 1.625 bộ, in từ năm 1412 đến 1417 theo h́nh thức mỗi trang 30 hàng, mỗi hàng 17 chữ. Cứ 5 hàng là một cột.

12. Long tạng : Đại tạng kinh được khắc in vào năm 1735 (năm Ung Chánh thứ 13) đến năm 1738 (năm Càn Long thứ 3) mới hoàn thành. V́ được hoàn thành vào đời vua Càn Long nhà Thanh nên nó được gọi là Càn Long Đại tạng kinh, hay gọi tắt là Long tạng. Toàn tạng gồm 1.662 bộ. Đây là bản Đại tạng kinh lớn nhất do hoàng triều khắc in.

13. Trung Hoa Đại tạng kinh: Do Tu Đính Trung Hoa Đại Tạng Kinh Hội ấn hành vào năm 1956. Chủ biên là Thái Niệm Sanh. Toàn tạng gồm bốn đại pháp: Tuyển tạng, Tục tạng, Dịch tạng và Tổng mục lục. Từ năm khởi xướng cho đến 20 năm sau dù liên tục ấn hành, bộ Đại Tạng này vẫn chưa hoàn thành, nhưng vẫn được giới nghiên cứu tham khảo rộng răi.

14. Phật giáo Đại tạng kinh : Do ngài Quảng Định biên tu ấn hành tại Đài Loan từ năm 1977 đến 1983 gồm cả Chánh tạng lẫn Tục tạng, gồm 2.643 quyển, chia thành 162 tập. Đây là bộ Đại tạng tương đối hoàn chỉnh nhất v́ đă tổng hợp các bản Đại Chánh tạng, Tích Sa tạng, Gia Hưng tạng, Vạn Chánh, Tục tạng để bổ khuyết, đồng thời du nhập các bản kinh dịch từ tiếng Tạng và Pali.

15. Súc Loát Đại tạng kinh (gọi đủ: Đại Nhật Bản Hiệu Đính Súc Khắc Đại tạng kinh): Bản này thường được các nhà học giả Tây phương gọi là Tokyo Edition. Bản này ấn hành từ năm 1880 đến 1885 dùng bản Cao Ly tạng tàng trữ tại chùa Tăng Thượng ở Đông Kinh làm gốc, đối chiếu với Tống bản (Hồ Châu tạng), Nguyên tạng, Minh tạng, thêm vào các trước tác của Mật giáo và các tác phẩm của chư cổ đức Nhật Bản. Toàn tạng gồm 1.918 bộ kinh, sách.

16. Vạn Tự Chánh Tục tạng kinh (Đại Nhật Bản Hiệu Đính Huấn Điểm Đại tạng kinh): Do thư viện Tàng Kinh ở Kinh Đô (Kyoto) ấn hành. Bản này do ngài Nhẫn Trừng hiệu đính, ấn hành từ năm 1902 đến năm 1905. Bản này gồm 1.625 bộ. Sau khi Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh ấn hành, bản này ít được thông dụng hơn. Năm 1905-1912, lại in thêm Đại Nhật Bản Tục tạng kinh gồm 750 tập chép hơn 950 tác phẩm. Cùng với Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh, bản này thường được đối chiếu để khảo cứu. Ta quen gọi tắt là "tạng chữ Vạn".

17. Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh (Taisḥ Shinsu Daiẓkỵ; gọi tắt là Đại Chánh tạng): Do Đông Kinh Đại Chánh Nhất Thiết Kinh San Hành Hội ấn hành từ năm 1924 đến năm 1934 do các vị Cao Nam Thuận Thứ Lang, Độ Biên Hải Húc và Tiểu Dă Huyền Diệu chủ biên. Toàn tạng gồm 100 tập, 55 tập đầu quan trọng nhất v́ bao gồm toàn bộ các kinh, luật, luận trọng yếu. Bản này hiện thời được coi là bản kinh tiêu chuẩn v́ mỗi bản kinh, luận đều được khảo dị, hiệu đính tỉ mỉ, c̣n ghi chú các thuật ngữ bằng tiếng Pali và Sanskrit.

Ngoài những bản trên, c̣n có các bản khắc khác, nhưng chúng tôi lướt qua không nhắc đến v́ chúng ít quan trọng hơn. Chẳng hạn, bản Phật Quang Sơn Đại tạng kinh do Học hội Phật giáo Phật Quang Sơn của Pháp sư Tinh Vân biên soạn và ấn hành dù nội dung rất công phu vẫn không được phổ biến rộng răi bằng Đại Chánh và tạng chữ Vạn.  

Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ 107 (2-2005)

 

 

 

 

 

 

 

KINH CÁC PHÁP TU VIÊN THÔNG

 

Hoaø Thöôïng Thích Töø Thoâng ḍch

 

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo khắp các đại Bồ-tát và hàng A-la-hán đă dứt hết lậu hoặc rằng: Các ông là Bồ-tát và A-la-hán sanh trong Phật Pháp đă chứng quả vô học. Nay Như Lai hỏi các ông: Lúc mới phát tâm, trong mười tám giới, các ông tâm đắc ở giới nào ? Do nhân duyên ǵ ? Nhờ phương tiện nào mà các ông được Tam-ma-đề viên thông tâm tánh ?

1. DO THANH TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Lúc đó, Tỳ-kheo Kiều-trần-như từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai thành đạo ở Lộc Uyển, chúng con gặp Phật trước tiên. Chúng con được Phật khai thị cho về pháp Tứ Diệu Đế. Do nghe tiếng Pháp của Phật mà con tỏ ngộ. Lúc đó Đức Thế Tôn hỏi con: Có hiểu không, con thưa là đă hiểu. Nhơn đó Thế Tôn đặt cho con cái tên là A-nhă, ấn chứng chúng con là những người A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông, đối với con thanh trần là mầu nhiệm nhất.

 

2. DO SẮC TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Ưu-ba Ni-sa-đà đứng dậy chắp tay cung kính thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn ! Con cũng được gặp Phật sau những ngày Như Lai thành đạo không lâu. Trông vào tướng hảo quang minh của Thế Tôncon quán sâu vào tướng bất tịnh của sắc thân ô trược. Từ cái tử thi bắt đầu trương śnh, đến tướng bạch cốt, vi trần, con sanh ḷng nhàm chán tột bậc, chợt tỏ ngộ tánh: sắc, không, không sắc đều chẳng ra ǵ. Như Lai ấn chứng cho con cái tên là Ni-sa-đà, con được A-la-hán quả. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên thông, xin thưa: Đối với con sắc trần là ưu việt nhất.

3. DO HƯƠNG TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Đồng Tử Hương Nghiêm đứng dậy cung kính chắp tay thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn ! Trước đây Như Lai dạy con quán sát kỹ về các pháp tướng hữu vi. Một hôm con tĩnh tọa trong giảng đường các tỳ-kheo đốt hương trầm thủy, mùi hương thoang thoảng trong tĩnh mịch u nhàn, tác dụng đến mũi con. Con tư duy quán xét: Hương này không phải do gỗ, không phải do hư không, không phải do khói, không phải do lửa. Đi ra không dính vào đâu. Đến đâu không chỗ dừng trụ. Quán chiếu như vậy, ư thức phân biệt của con tự khắc tiêu vong. Trí vô lậu phát sanh, Như Lai ấn chứng cho con danh hiệu là Hương Nghiêm. V́ do con thể nghiệm mùi hương mà chứng được A-la-hán quả. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông, xin thưa: Với con, hương trần là tối thắng nhất.

 

4. DO VỊ TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Hai vị Bồ-tát Dược Vương, Dược Thượng, cùng năm trăm Phạm thiên trong hội chúng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn ! Từ vô lượng kiếp, chúng con là lương y cứu tế thế nhân. Miệng chúng con thường nếm những lá hoa cây cỏ kim thạch trong cơi Ta-bà này. Tất cả những vị: mặn, lạt, chua, cay, ngọt, đắng… vị biến đổi sanh, vị ḥa hợp có; vị nào lạnh vị nào nóng thứ có độc, thứ không con đều biết cả. Được phục vụ các đức Phật và tất cả chúng sanh, rơ biết tánh chất của vị trần: Không phải không, không phải có, không phải tức thân tâm, không phải ly thân tâm. Nhờ con phân biệt vị trần mà được khai ngộ. Phật ấn chứng cho chúng con danh hiệu là Dược Vương và Dược Thượng. Nay Phật hỏi nhân duyên và phương tiện được viên thông, xin thưa: Đối với chúng con vị trần là ưu việt nhất.

 

5. DO XÚC TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Bạt-đà-bà-la cùng với mười sáu vị tăng sĩ đồng là đạo bạn cùng đứng dậy cung kính chắp tay thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn ! Chúng con trước kia ở thời Phật Oai Âm Vương, nghe pháp xuất gia. Lúc chư Tăng tắm, con theo thứ lớp vào nhà tắm để tắm. Bỗng nhiên con tư duy và nhận thức rằng: Nước vốn không rửa bụi và cũng chẳng rửa chân, trung gian an nhiên lặng lẽ. Con tâm đắc tột độ cái chân lư: "Chẳng có ǵ". Tập quán trước không quên, đến nay con theo Phật xuất gia được quả vô học. Đức Phật thuở ấy gọi con với cái tên: Bạt-đà-la (thiên thủ). Do con phát hiện tánh mầu nhiệm của xúc trần mà thành Phật tử. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên thông, xin thưa: Đối với con xúc trần là hơn tất cả.

 

6. DO PHÁP TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Đại Ca-diếp và Tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang v.v… đồng đứng dậy cung kính chắp tay thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn ! Kiếp xa xưa trong cơi này có Phật ra đời hiệu Nhật Nguyệt Đăng. Sau khi Phật diệt độ chúng con thắp sáng ngọn đèn chánh pháp để cúng dường; đem tâm trong sáng vàng thắm thếp tô Phật tượng. Do đó đời đời kiếp kiếp thân thường viên măn, rực rỡ như vàng ṛng. Chúng con quán sát sáu trần luôn luôn biến hoại. Con trụ tâm trong vắng lặng, nhập định diệt tận, thân tâm rỗng rang, thời gian trăm ngh́n kiếp tựa hồ như trong cái khảy móng tay. Do thành tựu pháp không quán mà con được quả A-la-hán. Thế Tôn ấn chứng con là: Đầu-đà đệ nhất; pháp trần thâm diệu nhờ tuệ nhăn con được khai minh, lậu hoặc được dứt trừ. Nay Phật hỏi duyên cớ viên thông, với sở ngộ chứng của con th́ pháp trần là tối thượng.

 

7. DO NHĂN CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả A-na-luật-đà đứng dậy cung kính chắp tay thưa: 

- Bạch Đức Thế Tôn ! Lúc con mới xuất gia thường ưa thích nằm và ngủ li b́. Như Lai quở con là loại súc sanh. Nghe lời quở của Phật, con thầm khóc, tủi hổ và tự trách ḿnh. Con cương quyết thề không ngủ và con thức suốt bảy ngày đêm. Hai con mắt con bệnh và hư mất. Thế Tôn thương dạy cho con pháp: Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam-muội. Sau khi được tam muội, con thấy suốt hiện tượng trong mười phương như trái chanh, trái quít để trên bàn tay. Như Lai ấn chứng cho con quả A-la-hán. Nay Phật hỏi nguyên nhơn nào được viên thông, xin thưa: Theo chỗ tâm đắc của con là xoay tánh thấy của nhăn căn trở về bản thể thanh tịnh bản nhiên là ưu việt nhất.

 

8. DO TỶ CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn, con v́ thiếu tŕ tụng kinh điển nên không có tuệ đa văn. Khi mới gặp Phật, con xin xuất gia nghe học pháp Phật con cố nhớ một bài kệ của Như Lai mà không sao nhớ nổi. Con gắng học suốt cả một trăm ngày, nhớ câu trước th́ quên câu sau; nhớ câu sau lại quên câu trước. Phật thương con ngu muội, dạy con ở một nơi yên tĩnh tu tập pháp môn điều ḥa hơi thở ra vào. Bấy giờ con vận dụng quán trí theo dơi từng hơi thở, từ thô đến vi tế, từng sát na nhiếp ư, vận dụng tư duy, chia hơi thở thành bốn thời kỳ: Hít vô gọi là sanh. Đầy hơi gọi là trụ. Thở ra gọi là dị. Măn hơi gọi là diệt. Thực hiện một thời gian, tâm con bừng sáng rỗng rang được đại vô ngại, các lậu hoặc dứt hết, thành A-la-hán. Trước pháp ṭa, Phật ấn chứng cho con thành quả vô học. Nay Phật hỏi viên thông, theo chỗ sở hành của con: Tập trung tư tưởng xoay vào quán hơi thở ra vào minh bạch, là pháp hành hiệu quả nhất.

 

9. DO THIỆT CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Kiều-phạm-ba-đề đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con mắc khẩu nghiệp trong kiếp quá khứ, nhiều đời phải tật nhơi măi như trâu. Như Lai thương, dạy cho con pháp: Nhất vị thanh tịnh tâm địa. Nhờ đó con diệt phân biệt, được Tam-ma-đề. Con quán chiếu rằng: Tánh biết vị không phải do thân thể, cũng không phải do ở ngoại vật. Do đó, trong th́ thân tâm giải thoát; ngoài th́ như rời bỏ thế gian. Viễn ly ba cơi như chim sổ lồng; cấu nhiễm không c̣n, tiêu vong hóa trần tướng, pháp nhăn thanh tịnh, được quả A-la-hán. Như Lai ấn chứng cho con lên hàng Vô học. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông, xin thưa: Theo con th́: trả vị về cho phân biệt của thiệt căn là ưu việt nhất.

 

10. DO THÂN CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Tất-lăng-già-bà-ta đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng: Lúc con mới phát tâm xuất gia theo Phật, thường nghe Phật dạy: "Cuộc đời chẳng có ǵ vui". Đang khi đi khất thực, vừa đi vừa tư duy lời Phật, bỗng dưng con đạp phải cái gai độc. Cả thân đều đau đớn. Trong lúc đau đớn, con quán chiếu tư duy: Giác tâm thanh tịnh vốn không có cái đau và cái biết đau ! Một thân thể lẽ đâu lại có hai tánh biết ! Nhiếp niệm không bao lâu thân tâm bỗng nhiên rỗng rang thanh tịnh. Hai mươi mốt ngày sau, các lậu hoặc được tiêu trừ, Phật ấn chứng cho con lên hàng Vô học chứng A-la-hán quả. Nay Phật hỏi duyên cớ nào được viên thông, xin thưa, đối với con: Nắm giữ giác tánh xem nhẹ thân căn là thành công dễ nhất.

 

11. DO Ư CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Tu-bồ-đề đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng: Từ nhiều kiếp đến nay, con vẫn được tâm vô ngại thường trú nơi không tịch. Sự vật hiện tượng trong mười phương đối với con trở thành "chân không hóa" chẳng chút vương víu buộc ràng. Như Lai phát minh tánh giác là chân không; con tư duy thể nhập: Bảo minh không hải tam muội, tri kiến đồng như Phật. Con được Phật ấn chứng lên hàng vô học A-la-hán. Nay Phật hỏi nhơn duyên được viên thông, theo chỗ chứng ngộ của con: Quán các tướng đều là phi tướng. Cái phi tướng đối tượng cũng không lưu lại. Nh́n hiện tượng vạn pháp đúng như thật của nó: "Có mà thật chẳng có ǵ", đối với con, đó là phương tiện chinh phục ư căn hữu hiệu nhất.

 

12. DO NHĂN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Xá-lợi-phất đứng dậy cung kính chắp tay thưa: Bạch Đức Thế Tôn ! Từ nhiều kiếp đến nay, sự nhận thức của con thường thanh tịnh. Số kiếp thọ sanh lên xuống nhiều như số cát sông Hằng. Do vậy mà các pháp biến hóa thế gian, xuất thế gian một khi thấy là con nhận thức không xa chân lư, được vô chướng ngại. Trong lần gặp gỡ giữa đường, ba anh em tôn giả Ca-diếp dụng ư theo con để thuyết pháp. Các ông nói cho con nghe về giáo lư nhân duyên sâu xa của Phật. Nhân buổi đàm đạo đó, con được tỏ ngộ; nhận thức được rằng: "Tâm không ngằn mé". Rồi con theo Phật xuất gia. Trí tuệ sáng suốt ngày càng viên măn, được đại vô úy, thành A-la-hán quả, trưởng tử Phật. Nay Phật hỏi nguyên nhân tỏ ngộ viên thông, xin thưa: Theo chỗ chứng đắc của con th́ sự nhận thấy rơ ràng, nhận thức đánh giá chính xác đúng như thực của sự vật hiện tượng là thành công ưu việt nhất.

 

13. DO NHĨ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Phổ Hiền đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con đă từng làm Pháp vương tử cho các Như Lai nhiều như số cát sông Hằng. Mười phương Như Lai dạy các đệ tử Bồ-tát tu hạnh Phổ Hiền chính là do dựa theo đức tinh tấn của con mà đặt ra cái tên Phổ Hiền Hạnh.

Bạch Đức Thế Tôn ! Con sử dụng tánh nghe của tâm mà nhận biết nguyện vọng của chúng sanh. Do vậy, giả sử ở một phương khác, cách ngoài hằng sa thế giới, có chúng sanh phát phát tâm tu hạnh Phổ Hiền th́ liền trong lúc ấy, con cỡi voi sáu ngà, phân thân trăm ngh́n đến chỗ người ấy. Giả sử người kia nghiệp chướng sâu dày chưa thấy được con, con cũng thầm kín xoa đầu an ủi ủng hộ khiến cho sở nguyện thành tựu. Nay Phật hỏi nguyên nhân tu chứng viên thông, con xin thưa: Sử dụng tánh nghe của nội tâm mà nhận biết tự tại, đối với con là pháp môn ưu việt nhất.

 

14. DO TỶ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Tôn-đà-la-nan-đà đứng dậy cung kính chắp tay thưa với Phật: Lúc con mới xuất gia theo Phật học đạo, trong khi tu tam ma đề, tâm thường tán loạn. Đức Thế Tôn dạy con quán điểm trắng ở chót mũi. Con bắt đầu thực hành, trải qua thời gian hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như khói; thân tâm trong sáng như ngọc lưu ly. Tướng khói lần lần không c̣n, tâm con được khai ngộ, các lậu tận sạch trong, thành A-la-hán. Thế Tôn thụ kư cho con thành quả Bồ đề. Nay Phật hỏi sở nhân được viên thông, xin thưa: Đối với con tập trung ư niệm, quán hơi thở và điểm trắng ở tỷ căn là thành tựu hữu hiệu nhất.

 

15. DO THIỆT THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con từ nhiều kiếp đến nay biện tài vô ngại, tuyên thuyết các pháp: khổ, không, hiểu sâu thật tướng, cho đến những pháp môn bí mật như hằng sa của Như Lai, con có thể diễn giảng trước đại chúng không hề có sự sai lầm và sợ sệt. Thế Tôn biết con có đại biện tài, dạy con tuyên dương chánh pháp, giúp Phật chuyển pháp luân. Con nhờ giảng nói chánh pháp mà được quả A-la-hán. Thế Tôn ấn chứng cho con là: "thuyết pháp đệ nhất". Nay Phật hỏi nguyên nhân được viên thông, xin thưa: Con dùng pháp âm hàng phục tà ma ngoại đạo, tiêu trừ hoặc lậu là ưu việt nhất.

 

16. DO THÂN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Ưu-ba-ly đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng chính con theo Phật xuất gia, con thấy Như Lai sáu năm cần khổ, cuối cùng hàng phục tà ma, chế ngự ngoại đạo, giải thoát các lậu thế gian. Phật dạy con tŕ giới, giữ ǵn tánh nghiệp và nghiệp biểu hiện của thân, miệng, ư, giữ vẹn ba ngh́n oai nghi, tám vạn tế hạnh. Nhờ vậy, thân tâm tịch tịnh thành quả A-la-hán. Nay làm kỷ cương trong đại chúng, Như Lai ấn chứng con là "tŕ luật đệ nhất". Hôm nay Phật hỏi phương tiện được viên thông, xin thưa: Đối với con do giữ ǵn thân được thanh tịnh. Thân đă thanh tịnh th́ tâm sẽ thanh tịnh theo. Đó là phương pháp uốn dẹp tu sửa thân tâm hữu hiệu nhất.

 

17. DO Ư THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng lúc nọ con đi khất thực giữa đường được ba anh em tôn giả Ca-diếp: Ưu-lâu-tần-loa, Dà-gia và Na-đề giảng nói lư nhân duyên thậm thâm của Phật, tâm con bừng ngộ thông suốt rỗng rang. Như Lai ban cho cà-sa mặc vào thân, râu tóc tự cạo. Con có khả năng du hí khắp mười phương không trở ngại. Đại chúng suy tôn con là "thần thông đệ nhất", trong hàng vô học A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Con xoay ư thức trở về tánh sáng suốt trạm nhiên. Giống như lóng nước đục, lóng nước lâu trở về tự thể trong sạch. Đó là phương tiện tu sửa đối với con hữu hiệu nhất.

 

18. DO HỎA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Tôn giả Ô-sô-sắt-ma đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ những kiếp xa xưa, tánh con nhiều tham dục. Bấy giờ nhằm thời Đức Phật Không Vương trụ thế. Đức Không Vương Như Lai bảo rằng: "Người đa dâm như đống lửa hồng". Rồi Phật dạy con quán hơi nóng trong cơ thể cả khắp tứ chi. Nhờ quán như vậy tinh thần sáng suốt, nội tâm đứng lặng, tâm háo dâm trở thành lửa trí tuệ. Từ đó, chư Phật gọi con với cái tên Hỏa Đầu. Con dùng sức hỏa quang tam muội mà chứng quả A-la-hán. Con phát đại nguyện, nếu có chư Phật thành đạo th́ con làm lực sĩ hầu cận Phật để đánh dẹp bọn tà ma khuấy phá. Nay Phật hỏi nhân duyên được viên thông, xin thưa rằng: Do con quán hơi ấm trong thân, lưu thông không ngăn ngại; từ đó các lậu tiêu trừ, sanh lửa trí tuệ. Đối với con, đó là pháp tu hữu hiệu nhất.

 

19. DO ĐỊA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Tŕ Địa đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con nhớ lại trong những kiếp xa xưa, con từng được gặp Phật và cúng dường chư Phật như hằng sa, và cũng từng phục vụ vô lượng chúng sanh đem đến chúng sanh nhiều lợi lạc. Trong một kiếp nọ, ở vào thời Phật Phổ Quang trụ thế, con là một Tỳ-kheo phát tâm sửa chữa những đoạn đường gồ ghề sụp lở, những bến xe, bến đ̣ bất tiện cho sự đi lại của nhiều người. Ngoài những công tŕnh gánh đất, bưng sỏi, đắp bồi sửa chữa như vậy, con c̣n mang gánh giúp đỡ những người gánh gồng nặng nhọc ở chợ búa mà không lấy tiền công.O

Vào thời Phật Tỳ-xá-phù trụ thế, nhân gian nhiều đói kém, con phải cơng giúp nhiều người không kể gần xa mà chỉ lấy một đồng tiền… có lúc con ra sức kéo phụ xe trâu qua những nơi quá lầy lội. Có lúc v́ Phật con sửa đường bằng phẳng đợi Phật đi hóa trai.

Một hôm Đức Như Lai Tỳ-xá-phù đi qua đoạn đường con vừa sửa chữa. Phật xoa đầu con mà dạy rằng: "Nên b́nh cái tâm địa th́ đất đai trên thế giới đều b́nh". Con nghe, tâm liền sáng bừng tỏ ngộ. Con quán thấy vi trần trong cơ thể cùng tất cả vi trần tạo thành thế giới bên ngoài không sai khác ǵ nhau. Tự tánh vi trần không chạm sát với nhau, cho đến đao binh các thứ tự nó cũng không va chạm ǵ. Nhờ nhận thức như vậy, con tỏ ngộ vô sanh nhẫn, thành A-la-hán hồi tâm. Nay ở trong hàng Bồ-tát nghe Phật dạy: Tri kiến Phật như diệu liên hoa, con lănh hội trước tiên, đại chúng suy tôn là thượng thủ. Nay Phật hỏi nguyên do đạt đến viên thông, xin thưa: Do con quán trần ở nội thân và trần cấu của thế giới bên ngoài b́nh đẳng không sai khác. Tất cả từ Như Lai tàng tùy duyên biến hiện. Vọng tâm chấp mắc trần tướng tiêu vong th́ trí tuệ viên măn thành đạo Bồ Đề. Đó là đối tượng sở quán, đối với con đem lại thành công ưu việt nhất.

 

20. DO THỦY ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Đồng Tử Nguyệt Quang đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con nhớ hằng sa kiếp trước có đức Phật ra đời hiệu Thủy Thiên. Thủy Thiên Như Lai dạy các Bồ-tát nên quán về nước để nhập Tam-ma-đề. Phật dạy quán tánh nước không ǵ lấn cướp làm cho mất hẳn được. Từ nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước tiểu, nước tân dịch trong châu thân… đều quán một tánh nước đồng nhau. Tánh nước trong tự thân và tánh nước trong các bể Hương Thủy của thế giới Hoa Tạng, đồng nhau không sai khác. Lúc con thành tựu pháp thủy quán này, con chỉ thấy được tánh đồng của nước mà chưa thấy được "thân không". Hồi bấy giờ, con là một tỳ-kheo tọa thiền trong một tịnh thất, có người đệ tử trông cửa sổ nh́n vào, thấy toàn là nước. V́ nhỏ dại nó liền lấy một miếng ngói ném vào, rồi tự bỏ đi. Khi xuất định con thấy tim đau một cách lạ thường. Truy nguyên ra duyên cớ, con bảo người đệ tử: Khi con nhập định, trông thấy nước trong thất th́ hăy vào nhặt miếng ngói mà người đă ném ấy ra. Quả thật, khi xuất định, con không c̣n đau đớn nữa.O

Qua vô lượng kiếp sau con được gặp vô lượng Phật, nhưng chưa chứng ngộ. Măi đến thời Như Lai Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương th́ con mới chứng được "không thân". Bây giờ con thấy rơ nước trong tự thân cùng với nước bể Hương Thủy trong mười phương thế giới đồng một tánh chân không, không sai khác. Ở nước Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại, con được hiện là Đồng Chân, dự vào hàng Bồ-tát. Nay Phật hỏi nguyên nhân được viên thông, xin thưa: Do con quán tánh nước dung thông mà được vô sanh nhẫn. Đối với con, pháp Thủy quán là ưu việt nhất.

21. DO PHONG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại hằng sa kiếp trước có Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Thanh. Phật khai thị cho các Bồ-tát về: Bản giác diệu minh. Dạy các Bồ-tát quán: Thế giới và chúng sanh đều do sự vận động của sức gió vọng duyên chuyển biến mà h́nh thành. Riêng con, lúc bấy giờ, con quán không gian an lập; quán thời gian trôi đi măi; quán thân, khi động khi dừng; quán tâm, niệm trước diệt, niệm sau sanh… Tất cả những chuyển động biến diệt, con thấy không hai không khác. Con nhận thức rơ rằng tánh của các thứ động: Đến không chỗ từ, đi không chỗ tới. Tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới có trong pháp giới mười phương do sức gió vọng duyên mà h́nh thành, mà sanh hoạt với nhau trong tánh bản giác diệu minh, chân tâm minh diệu. Giống như hàng vạn muỗi ṃng trong một cái đồ đựng, kêu vo vo rầm rỉ, ào ào rối rít với nhau.

Con quán sát tư duy như vậy, không bao lâu, con được vô sanh pháp nhẫn làm vị Pháp Vương tử. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Do con quán tánh phong đại "đi không chỗ từ, đến không chỗ tới" mà tỏ ngộ tâm bồ-đề. Đối với con th́ quán phong đại là đệ nhất.

 

22. DO KHÔNG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Hư Không Tạng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại con cùng Như Lai đồng chứng được "vô biên thân" hồi thời Phật Định Quang. Lúc đó tay con cầm bốn đại bảo châu chiếu sáng cơi Phật mười phương như số vi trần đều hóa thành hư không. Bấy giờ tâm con sáng suốt thành trí Đại Viên Cảnh. Con quán sát khắp thế giới Liên Hoa Tạng và cùng tột hư không, hoà quyện trong thân con. Thân con và hư không chẳng ngăn ngại ǵ nhau. Do vậy, con khéo vận dụng hài ḥa vào cơi nước như vi trần làm Phật sự được thuận lợi lớn lao. Sức thần to lớn đó do con quán sát tứ đại không có chỗ sở y. Do vọng tưởng mà thấy có diệt có sanh. Hư không không hai, cơi Phật vốn đồng. Do con phát minh được tánh đồng mà chứng được vô sanh pháp nhẫn. Nay Phật hỏi nhơn duyên nào được viên thông, xin thưa: Do con quán chiếu hư không vô biên mà thể nhập Tam-ma-đề là phương tiện ưu việt nhất. 

 

23. DO THỨC ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Di-lặc đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại vi trần kiếp trước có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Con được theo Phật xuất gia, nhưng tâm c̣n trọng hư danh thế gian, ưa giao du với các hàng vọng tộc. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh dạy con tu tập định: Duy tâm thức và con được nhập Tam-ma-đề. Trải hằng sa số kiếp đến nay, con sử dụng tam muội ấy, phụng sự hằng sa chư Phật, tâm cầu danh, được diệt hết. Đến thời Phật Nhiên Đăng ra đời con mới chứng được tam muội thức tâm diệu viên vô thượng. Bấy giờ con quán thấy cơi nước của chư Như Lai, tột bờ mé hư không, tịnh uế, có không đều do thức tâm biến hiện.

Bạch Đức Thế Tôn ! Do con tỏ ngộ Duy tâm thức, thức tánh của con xuất hiện vô lượng Như Lai, và hiện nay được Phật thọ kư, con sẽ được bổ xứ thành Phật ở cơi Ta-bà sau này. Nay Phật hỏi nguyên nhân viên thông, xin thưa: Con quán mười phương đều duy thức. Thức tâm tṛn sáng th́ xa ĺa tánh biến kế, nhận thức đúng thực thể của tánh y tha khởi th́ chứng nhập tánh viên thành thật, được vô sanh nhẫn. Đối với con đó là pháp quán ưu việt nhất.

 

24. DO KIẾN ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG

Bồ-tát Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ-tát đồng tu một pháp môn cùng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ hằng sa kiếp trước có Đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng Quang. Thời đó có 12 đức Phật ra đời trong một kiếp. Đức Phật sau hết hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy cho con phép niệm Phật tam-muội: Rằng các đức Như Lai ở mười phương thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cũng đồng nhớ mẹ như mẹ nhớ con th́ đời đời mẹ con không xa cách. Tâm chúng sanh nhớ tưởng Phật th́ tâm ấy là Phật. Nhất định thấy Phật, không cần phương tiện nào khác. Ví như người ướp hương th́ toàn thân thể sẽ thành thơm, ấy gọi là hương quang trang nghiêm. Chính con nhờ niệm Phật mà được vô sanh nhẫn. Nay ở cơi Ta Bà, con nguyện hướng dẫn người niệm Phật để có được tịnh độ. Phật hỏi nhân duyên nào được viên thông, xin thưa: Con thu nhiếp tất cả sáu căn không vọng niệm. Do chánh niệm tương tục mà được Tam-ma-đề đối với con đấy là pháp môn thù thắng nhất..

 

 

 

PHÁP TU NHĨ CĂN VIÊN THÔNG

CỦA BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM

 

Lúc bấy giờ Bồ-tát Quán Thế Âm đứng dậy cung kính chắp tay thưa: Bạch Đức Thế Tôn ! Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm và con đă phát bồ-đề tâm thời ấy. Đức Phật Quán Thế Âm dạy con phương pháp nghe, suy nghĩtu để được thể nhập chánh định.O

Bạch Đức Thế Tôn ! Trước hết con sử dụng tánh nghe: Nghe động và nghe tĩnh, rồi con xóa đi ư niệm động tĩnh ấy; từ đó sức tịch tĩnh tăng dần, con dứt được chủ thể nghe đối tượng nghe. Sức tịch tĩnh không dừng ở đó bấy giờ giác tánh con lại hiển hiện ra. Con tiếp tục tư duy: Dù là giác tánh nhưng tánh "năng giác", "sở giác" hăy c̣n, con bèn xóa đi về ư niệm giác; bấy giờ tâm tánh con rỗng rang lặng lẽ như hư không. Con lại diệt đi cái giác tri "như hư không" ấy. Cuối cùng con diệt cả cái khái niệm "diệt". Khi con diệt hết khái niệm vi tế về "diệt sanh, sanh diệt" bỗng dưng con nhận thấy toàn thể pháp giới trong mười phương chỉ c̣n là cảnh giới "bất nhị" tịch diệt hiện tiền. Tâm tánh của con viên măn khắp giáp mười phương vượt hẳn tầm nhận thức thường t́nh của thế gian, con được hai thù thắng: Một là tâm con hợp với bản giác nhiệm mầu của mười phương Thế Tôn, đồng một từ tâm hướng về cứu độ chúng sanh. Hai là hợp với tâm của lục đạo chúng sanh trong mười phương, đồng một bi tâm hướng thượng cầu vô thượng bồ-đề.

 

DO TỪ TÂM, HIỆN 32 ỨNG THÂN

 

Bạch Đức Thế Tôn! Do cúng dường pháp đến Đức Như Lai Quán Thế Âm, con được Phật truyền thụ cho con như huyễn văn huân văn tu Kim Cang Tam-muội nên thân con thành tựu 32 ứng thân vào các cơi nước. Bạch Đức Thế Tôn!

- Một là, nếu các Bồ-tát vào Tam-ma-đề tiến tu pháp vô lậu, thắng giải viên măn, con hiện thân Phật v́ họ mà thuyết pháp khiến cho được giải thoát.

- Hai là, nếu các hàng hữu học tu pháp tịch tĩnh diệu minh viên măn, con hiện thân Độc Giác v́ họ mà thuyết pháp.

- Ba là, nếu các hàng hữu học dứt mười nhơn duyên, phát ra thắng tánh viên măn, con hiện thân Duyên Giác v́ họ mà thuyết pháp.

- Bốn là, nếu các hàng hữu học được pháp không của tứ đế, tu đạo đế, thể nhập diệt đế, thắng tánh viên măn, con hiện thân Thanh Văn v́ họ mà thuyết pháp.

- Năm là, nếu chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, không vướng vào ngũ dục, muốn thân được thanh tịnh, con hiện thân Phạm Vương v́ họ mà thuyết pháp.

- Sáu là, nếu chúng sanh muốn làm thiên chủ thống lănh chư thiên, con hiện thân Đế- thích v́ họ mà thuyết pháp.

- Bảy là, nếu chúng sanh muốn thân được tự tại dạo khắp mười phương, con hiện thân Tự Tại Thiên v́ họ mà thuyết pháp.

- Tám là, nếu chúng sanh muốn thân được tự tại, bay đi trên hư không, con hiện thân Đại Tự Tại Thiên v́ họ mà thuyết pháp.

- Chín là, nếu có chúng sanh thích thống lănh quỷ thần cứu quốc hộ dân, con hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, v́ họ mà thuyết pháp. 

Mười là, nếu chúng sanh muốn thống lănh quỷ thần, cứu giúp cơi nước, con hiện thân Thiên Đại Tướng Quân v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười một là, nếu các chúng sanh muốn sanh ở thiên cung, con hiện thân Thái tử, con Tứ Thiên Vương v́ họ mà thuyết pháp.  

- Mười hai là, nếu các chúng sanh muốn làm vua cơi người, con hiện thân vua v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười ba là, nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đ́nh danh tiếng, thế gian kính nhường, con hiện thân trưởng giả v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười bốn là, nếu các chúng sanh thích luận lời hay, giữ ḿnh trong sạch con hiện thân cư sĩ v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười lăm là, nếu các chúng sanh muốn kinh bang tế thế, con hiện thân tể quan v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười sáu là, nếu các chúng sanh thích chú thuật toán số, thu nhiếp nhân tâm, con hiện thân Bà-la-môn v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười bảy là, nếu các thiện nam muốn xuất gia tu học, con hiện thân tỳ khưu v́ họ mà thuyết pháp.

- Mười tám là, nếu có người tín nữ muốn xuất gia, con hiện thân tỳ khưu ni v́ họ mà thuyết pháp.O

- Mười chín là, nếu có người thiện nam muốn giữ giới tu hành, con hiện thân ưu bà tắc v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi là, nếu có người tín nữ, muốn thọ năm giới tập tu, con hiện thân ưu bà di v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi mốt là, nếu có người nữ thích đường chánh trị phụ quốc an bang con hiện thân mệnh phụ phu nhân, thân nữ chúa v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi hai là, nếu có chúng sanh nam căn chưa ô nhiễm, con hiện thân đồng nam v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi ba là, nếu có người nữ thích thân xử nữ, con hiện thân đồng nữ v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi bốn là, nếu có hàng chư thiên muốn ra khỏi loài trời, con hiện thân chư thiên v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi lăm là, nếu có rồng muốn ra khỏi loài rồng, con hiện thân rồng v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi sáu là, nếu có dược-xoa muốn ra khỏi loài ḿnh, con hiện thân dược-xoa v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi bảy là, nếu có càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân càn-thát-bà v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi tám là, nếu có a-tu-la muốn ra khỏi loài ḿnh, con hiện thân a-tu-la v́ họ mà thuyết pháp.

- Hai mươi chín là, nếu có khẩn-na-la muốn thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân khẩn-na-la v́ họ mà thuyết pháp.

- Ba mươi là, có ma-hầu-la-già muốn thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân ma-hầu-la-già v́ họ mà thuyết pháp.

- Ba mươi mốt là, nếu có chúng sanh thích làm người, con hiện thân người v́ họ mà thuyết pháp.

- Ba mươi hai là, nếu có loài phi nhân hoặc có h́nh hoặc không h́nh, hoặc có tưởng hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân như họ v́ họ mà thuyết pháp.

Đó là 32 ứng thân nhiệm mầu có thể hiện vào các cơi nước trong mười phương, do kết quả của văn huân văn tu Tam-muội mà thành tựu sức nhiệm mầu "vô tác" như vậy.

 

DO BI TÂM THÀNH TỰU 14 ĐỨC VÔ ÚY THÍ

 

Bạch Đức Thế Tôn ! Do vô tác diệu lực “văn huân văn tu” Kim Cang Tam-muội cho nên con và tất cả sáu đường chúng sanh trong mười phương ba đời cùng có một bi tâm hướng thượng cho nên con và tất cả chúng sanh thành tựu được 14 thứ công đức vô úy:

- Một là, con không quán âm thanh đối tượng mà con quán cái tâm năng quán của ḿnh, khiến cho chúng sanh khổ năo trong mười phương quán âm thanh như vậy th́ được giải thoát.

- Hai là, con xoay tri kiến của ḿnh soi rọi nội tâm, khiến chúng sanh dù vào trong lửa (dâm, sân, thù hận) mà lửa không đốt cháy.

- Ba là con quán tánh nghe xoay vào nội tâm, khiến chúng sanh dù có bị nước (tham ái) to cuốn đi mà không hề bị ch́m đắm.

- Bốn là con đoạn diệt hết vọng tưởng, không c̣n tâm sát hại, khiến chúng sanh dù phải vào trong cơi nước của quỷ (sát, đạo, dâm, ác), quỷ cũng không hại được.

- Năm là con huân tập cái tánh nghe, nghe vào tự tánh. Tánh thấy, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc, biết cũng như vậy, khiến chúng sanh đang khi bị hại th́ dao mác, vũ khí găy rơi từng khúc chẳng xúc phạm được.

- Sáu là, con huân tập tánh nghe đến độ tinh thuần, sáng suốt khắp trùm pháp giới; tất cả những ǵ đen tối không tồn tại được, khiến cho chúng sanh dù ở gần bên 

với ác quỷ: Dược-xoa, cưu-bàn-trà (quỷ thô bạo), tỳ-xá-xà (quỷ bất nghĩa), phú-đơn-na (quỷ vô lương) v.v… mà chúng không nh́n thấy được.

- Bảy là, đối với tánh năng văn con quán xoay vào, thanh trần đối tượng tiêu vong, khiến chúng sanh xa tránh tất cả gông cùm xiềng xích (của pháp ác) không vướng chạm đến thân.

- Tám là con diệt âm thanh đối tượng, tánh nghe viên măn sanh sức từ cùng khắp, khiến chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc cướp phiền năo không thể cướp được.

- Chín làdo con huân tập tánh nghe được thanh tịnh, tách khỏi trần tướng. Sắc, thanh… không cám dỗ được, khiến cho những chúng sanh đa dâm xa ĺa được ḷng tham dục nặng nề.

- Mười là con chỉ lưu lại thuần một viên âm thanh tịnh, không c̣n đối tượng thanh trần, căn cảnh viên dung, dứt đối đăi năng văn sở văn khiến chúng sanh xa ĺa được tham, sân, si phẩn nhuế.

- Mười một là con tiêu diệt thanh trần đối tượng, rồi con xoay cái nghe về tánh bản minh, thân tâm cảnh giới trong sáng như lưu ly, chẳng vương chút trần ai vọng chấp, khiến chúng sanh xiển-đề mê tối xa ĺa câm điếc tối tăm.

- Mười hai là, viên dung các hiện tượng, con xoay tánh nghe trở về bất động. Hài ḥa thế gian mà không hủy hoại thế gian; cúng dường Như Lai mười phương như số vi trần, con ở bên mỗi mỗi Phật làm Pháp Vương tử, khiến trong pháp giới những chúng sanh không con, cầu có con trai, sanh được con trai phúc đức trí tuệ.

- Mười ba là sáu căn con viên thông, soi sáng không hai, khắp trùm thập phương thế giới, đứng trước đại viên kính ở trong Như Lai tàng, con vâng lănh những pháp môn bí mật của thập phương Như Lai như vi trần không hề thiếu sót, khiến cho trong pháp giới những chúng sanh không con mà cầu có con gái, sanh được con gái tướng tốt đoan chính, phúc đức và dịu dàng được nhiều người kính quư.

- Mười bốn là trong tam thiên đại thiên thế giới này các Pháp Vương Tử đông như số cát 62 sông Hằng. Trí tuệ và phương tiện giáo hóa chúng sanh mỗi Ngài đều khác. Vậy mà chúng sanh chấp tŕ một danh hiệu của con, bằng ngang với công đức chấp tŕ danh hiệu số lượng Pháp Vương tử nói trên. 

Bạch Đức Thế Tôn! Sở dĩ con được những điều ưu việt như vậy là do con tu tập pháp văn huân văn tu Kim Cang Tam-muội, cho nên con được tánh viên thông chơn thật, gọi đó là 14 đức vô úy thí đem lại phúc lành cho tất cả chúng sanh.

BỐN ĐỨC KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

 

Bạch Đức Thế Tôn ! Con được viên thông vô thượng cho nên có bốn đức vô tác nhiệm mầu không thể nghĩ bàn:

- Một là con xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu nhiệm của nội tâm. Tánh nghe này không chút nhiễm ô. Con ngăn dứt tất cả âm thanh đối tượng của nhĩ căn; bấy giờ tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của sáu căn c̣n là một tánh giác thanh tịnh có thể dùng thay thế cho nhau mà không ngăn ngại. Con c̣n có thể hiện ra nhiều h́nh tướng và nói vô số chân ngôn bí mật; từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108 đầu, 1.000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000 đầu. Con có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14 tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, 108 tay rồi 1.000 tay, 10.000 tay cho đến 84.000 tay uyển chuyển. Con có thể hiện ra 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, 108 mắt, rồi 1.000 mắt, 10.000 mắt, cho đến 84.000 mắt thanh tịnh, hoặc từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ cứu độ chúng sanh được đại tự tại.

- Hai là tánh nghe và suy nghĩ của con thoát ngoài sáu trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm mầu vô tác, con hiện nhiều h́nh tướng nói nhiều chơn ngôn đem lại cho chúng sanh sức vô úy. V́ vậy cơi nước trong mười phương nhiều như vi trần đều gọi con là vị Bồ-tát "thí vô úy".

- Ba là sự tu tập của con là phát huy căn bản thanh tịnh sẵn có nên con được viên thông mầu nhiệm. Đi đến thế giới nào, chúng sanh cũng xả thân, hy sinh trân bảo cầu được con thương xót.

- Bốn là con có được Phật tâm, chứng ngộ đến chỗ cứu cánh cho nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường thập phương Như Lai. Đến như lục đạo chúng sanh trong pháp giới muốn cầu trường thọ được trường thọ, cho đến cầu đại Niết-bàn cũng được đại Niết-bàn.

Bạch Đức Thế Tôn! Nay Phật hỏi nguyên nhân chứng đắc viên thông xin thưa rằng: Con từ cửa ngơ nhĩ căn quán chiếu đến tột cùng viên măn về âm văn (nghe và tiếng) mà được tam muội. Đối với con, tư duy và quán chiếu tánh nghe tiếng của nhĩ căn là ưu việt nhất.

Bạch Đức Thế Tôn! Đức Như Lai Quán Thế Âm từ thuở xa xưa ấy đă khen con khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại chúng, Phật thọ kư cho con danh hiệu Quán Thế Âm bởi v́ tánh nghethấy tṛn sáng châu biến mười phương, danh hiệu Quán Thế Âm cũng phổ cập trong lục đạo chúng sanh mười phương thế giới.

 

CHỌN CĂN TU ƯU VIỆT NHẤT

 

Bấy giờ, Đức Thế Tôn ngồi trên ṭa sư tử, năm căn đồng phóng ra ánh sáng báu soi sáng trên đảnh của thập phương Như Lai, các pháp vương tử, các Bồ-tát như số vi trần. Các Đức Như Lai trong mười phương cũng phóng ánh sáng như vậy soi đến đảnh Phật Thích-ca, các Bồ-tát và các chúng Thanh Văn trong đại hội. Rừng cây ao hồ đều diễn ra tiếng pháp, ánh sáng của chư Phật đan xen như lưới tơ báu. Tất cả đại chúng được cái chưa từng có. Trời mưa hoa sen báu đủ màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng xen lộn lẫn nhau. Mười phương hư không rực màu thất bảo. Núi sông đất đai ở cơi Ta-bà bỗng nhiên ẩn mất, chỉ c̣n thấy vô số hành tinh trong mười phương hợp thành một cơi, tiếng ca ngâm thanh thoát tự nhiên d́u dặt nổi lên.

Phật bảo Bồ-tát Văn-thù: Ông hăy xét nghiệm thành quả tu chứng viên thông của 25 vị Bồ-tát và Thanh Văn vừa đă tŕnh bày. Vẫn biết rằng sáu căn, sáu trần, sáu thức, bảy đại đều là những dữ kiện tu chứng viên thông, nhưng nay Như Lai muốn cho ông A-nan nghe và nhận xét để tự chọn một pháp môn tu thích hợp. Như Lai cũng cần một pháp môn phương tiện để dạy cho chúng sanh mạt thế cơi Ta-bà, những người Đại thừa cầu vô thượng đạo một phương pháp tu hành tu hành hiệu quả tốt, chóng thành công phổ biến mọi căn cơ sau Như Lai diệt độ.

Bồ-tát Văn-thù vâng lời Phật cung kính chắp tay, nói bài kệ kính dâng lên Phật:

Biển giác tánh lặng trong

Vốn nhiệm mầu trong sáng

Tánh bản minh chiếu ra như "sở"

Chấp tướng "sở" mất tánh bản minh

Do phân biệt vọng thấy hư không

Tựa hư không h́nh thành thế giới

Chủng tử vô tri thành cơi nước

Sắc tâm minh liễu tức nhơn sinh

Hư không sanh trong "Đại Giác"

Như bong bóng nổi giữa đại dương

Cơi nước hữu lậu như vi trần

Sanh khởi trong bầu hư không ấy

Hư không chưa ví tày nước bể !

Th́ sá chi ba cơi vốn bọt bèo

Về nguồn không hai đích

Phương tiện có nhiều đường

Quả chứng chẳng ngại nhau

Thuận nghịch là phương tiện

Sơ tâm vào tam muội

Mau chậm chẳng đồng nhau.

 

1. Nhược điểm của sáu trần

 

Sắc bị vọng tưởng tác động vào thanh trần làm mất đi cái hồn nhiên như thị khách quan của sự vật, khó mà tu chứng viên thông.

Thanh âm kết hợp bởi ngữ ngôn, biểu hiện cụ thể của âm thanh là danh ngôn và cú nghĩa. Tác dụng của âm thanh c̣n phiến diện khó mà tu chứng viên thông.

Hương có hợp mới thành tác dụng; nếu để ly ra, dù hương có cũng như không. Hương trần không tương tục hiện hữu, khó mà tu chứng viên thông.

Vị không phải đương nhiên tự có, cần phải nếm mới biết có vị. Đối với vị giác cũng không liên tục, nên khó mà tu chứng viên thông.

Xúc có vật chạm mới biết, nếu không biết xúc không thành. Xúc trong lúc hợp, chẳng xúc được lúc ly, khó mà tu chứng viên thông.

Pháp c̣n gọi là nội trần. Trần là đối tượng "sở tri". Năng sở khổ là một khó mà tu chứng viên thông.

 

2. Nhược điểm của năm căn

 

Tánh thấy vốn rỗng rang bao quát nhưng chỉ thấy được phía trước chẳng thấy được phía sau; bốn hướng tám phương mất đi một nửa, khó mà tu chứng viên thông.

Mũi thở ra thở vào, chặng giữa không có thở; không dung thông, c̣n cách trở, khó mà tu chứng viên thông.

Lưỡi không vị, tánh nếm không thành. Vị không phải lúc nào cũng sẵn có nên khó mà tu chứng viên thông.

Thân biết xúc, nhưng phải có đối tượng. Năng sở xúc không thường liên tục th́ khó mà tu chứng viên thông.

Ư căn thường xen với vọng tưởng. Loạn tưởng dừng th́ chẳng thấy biết ǵ. Tưởng niệm không dễ ǵ dứt bỏ th́ khó mà tu chứng viên thông.

 

 

3. Nhược điểm của sáu thức

 

Cái thấy của mắt phải có căn trần. Cạn xét tột cùng nó không tự thể; không tự thể th́ không có ǵ nhất định nên khó mà tu chứng viên thông.

Sử dụng cái nghe, nghe suốt mười phương hàng sơ tâm không dễ dàng thực hiện khó mà tu chứng viên thông.

Quán điểm trắng ở tỷ căn đó chỉ là quyền phương tiện, nhằm thu nhiếp để trụ tâm. Trụ mà trở thành "sở trụ" th́ khó mà tu chứng viên thông.

Thuyết pháp vận dụng âm thanh văn tự chỉ khai ngộ cho những ai đă trồng sâu giống Phật. Danh cú, văn tự không phải là vô lậu th́ khó mà tu chứng viên thông.

Giữ giới chỉ câu thúc cái thân, ngoài cái thân lấy ǵ câu thúc ? Giới và thân vốn không cùng khắp th́ khó mà tu chứng viên thông.

Thần thông do tập nhân từ trước, không dính dáng với ư thức phân biệt pháp trần. Niệm lự, không rời sự vật th́ khó mà tu chứng viên thông.*

 

4. Nhược điểm của bảy đại

 

Đất, tánh của nó là ngăn ngại, nếu quán cái tánh của địa đại th́ không thể thông suốt. Vả lại pháp hữu vi không là giác tánh th́ khó mà tu chứng viên thông.

Nước do quán mới thấy có. Nếu quán thủy đại cần vận dụng nhiều quán trí. Đă là quán th́ không phải chơn, chưa đạt đến như như phi giác quán, th́ khó mà tu chứng viên thông.

Lửa đem so sánh với nỗi khổ của dâm tâm, nếu quán hỏa đại để trừ lửa dâm ở nội tâm, đó chỉ là người chán cái khổ hoành hành, chưa phải là viễn ly chơn thật. Đó là phương tiện không phải phát xuất bởi tâm ban đầu nên khó mà tu chứng viên thông.

Gió lúc động lúc yên, nếu quán cái tánh của phong đại th́ chỉ là pháp đối đăi. C̣n đối đăi th́ không là tánh giác minh vô thượng, khó mà tu chứng viên thông.

Không th́ rỗng suốt chẳng có ǵ, nếu quán cái tánh của không đại th́ đồng như vô tri vô giác. Vô tri vô giác trái với bồ-đề th́ khó mà tu chứng viên thông.

Thức th́ sanh diệt không thường, nếu quán cái tánh của thức đại chỉ là quán sự phân biệt diệt sanh hư vọng, khó mà tu chứng viên thông.

Kiến là tánh thấy, kiến đại biểu hiện qua tưởng niệm. Tất cả các hành đều vô thường, tưởng niệm vốn trong ṿng sanh diệt. Đem nhân sanh diệt, cầu được quả chân thường bất diệt, khó mà tu chứng viên thông.

5. Sự ưu việt của nhĩ căn

 

Con nay kính bạch Thế Tôn:

Phật ra đời ở cơi Ta-bà

Trong cơi này giáo môn thích ứng

Hiệu quả tốt ở: nói nghe

Muốn thành tựu được Tam-ma-đề

Phải vận dụng tánh nghe mà vào

Ĺa khổ được giải thoát.

Hay thay Quán Thế Âm

Kiếp số như cát sông Hằng

Vào cơi nước vi trần Phật độ

Sức tự tại không thể nghĩ lường

Vô úy b́nh đẳng thí chúng sanh.O

Quán Thế Âm là Diệu Âm

Quán Thế Âm tức Phạm Âm

Quán Thế Âm, Hải Triều Âm đó

Cứu thế vững an khang

Xuất thế hằng thường trú.

Con kính bạch Như Lai

Như lời Quán Âm nói

Ví như ngồi chỗ tĩnh

Mười phương cùng đánh trống

Mười hướng thảy đồng nghe

Đấy là viên chơn thật

Cách vách nghe âm tưởng

Xa gần có thể nghe