HAÛI TRIEÀU
AÂM
NOÄI SAN
HOÏC PHAÄT - VAÊN
HOAÙ
TAÄP 3 –
NAÊM 2007
KÍNH MÖØNG NGAØY PHAÄT THAØNH ÑAÏO
PHAÄT L̉CH 2551

GIA Ñ̀NH CÖ SÓ LIEÂN HOA

HAÛI TRIEÀU AÂM
NOÄI SAN HOÏC
PHAÄT
VAÊN HOAÙ
SOÁ 3 – NAÊM 2007
CÖ SÓ LIEÂN HOA
Thöông taëng :
- Thanh ( Dieäu Ṭnh )
Ngöôøi
vôï vaø laø ngöôøi baïn Ñaïo
vaø hai con : Baûo Vöông- Baûo Laân
Moät thoaùng cuoäc ñôøi, say trong
moäng
Vaàng traêng voâ taän, saéc trôøi
maây
Côơi nguoàn chaân taùnh, theânh
thang thôû
Nhöơng böôùc chaân traàn, sen
ngaùt bay

Cö só Lieân
Hoa
MUÏC LUÏC
Lôøi noùi
ñaàu.
4. *- YÙ nghiaơ Ngaøy Phaät Thaønh Ñaïo, Thaày
Thích Huyeàn Toân 7, *- Moät ñôøi laøm keû Laơng du, ( thô ) Cö
só Lieân Hoa 14. *- Tieåu luaän: Tuyeät phaåm thieân nhieân, Cö
só Lieân Hoa 15. *- Nhöơng tö töôûng ñeå suy nghæ nhaân ñaàu
Naêm Môùi cuûaÑöùc Ñaït Lai Laït Ma thöù 14, Thanh
Lieân ḍch 26. *- Ñi t́m Caùi Ngaơ, Cö
só Lieân Hoa ḍch 29. *- Caàu ngöôøi chaúng baèng caàu ḿnh 37. *-
Beân ñôøi. Töøng soùng voâ t́nh chôû aùnh traêng ( thô ), Cö só Lieân Hoa 38. *-
Phaät giaùo Höơu Thaàn hay Voâ Thaàn,
111. *- Ñoâi ñieàu ghi cheùp
veâàÑaïi Taïng Kinh, Lieân Höông
116. *- Kinh Caùc Phaùp tu Vieân
Thoâng, Thaày Thích Huyeàn Toân ḍch
122. *- Kinh Chuyeån Phaùp Luaân,
Thaày Nhaät Töø ḍch 39. *- Traàn gian moät thöôû mô laøm Boà Taùt, (
thô ) Cö só Lieân Hoa 42. *- Ñöùc Phaät noùi ǵ veà tieàm naêng cuûa
con ngöôøi, Thích Nöơ Ñoàng Anh
47. *- Kinh Phöôùc Ñöùc, Thaày
Nhaát Haïnh ḍch 49. *- Vaøi suy nghæ veá Quan nieäm Ñöùc Phaät
Ḷch söû vaø Ñöùc Phaät Toân giaùo, Thích Tḥ Quaû 52.
*- Phaät
giaùo hoâm nay vaø ngaøy mai, Dieäu Höông ḍch 63. *-
Sô chuyeån Phaùp Luaân, 80. *- Phaät giaùo Höơu Thaàn hay Voâ Thaàn, 111.
*- Ñoâi
ñieàu ghi cheùp veà Ñaïi Taïng Kinh, Lieân Höông 116.
*- Kinh caùc Phaùp tu Vieân Thoâng, HT. Töø Thoâng ḍch 122.
*- Thieàn Ṇ̃nh veà Ñaïi Thaønh Töïu, Cö só Lieân Hoa ḍch 153 .
*- Ñoäc aåm ( thô ), Cö só Lieân Hoa 157.
*- Chaân Ngoân, Cö só Lieân Hoa ḍch 162.
*- Haïnh phuùc coâ ñôn ( thô ), Cö só Lieân Hoa 166.
*- Moät thoaùng beân Meï, ( vaên ) Cö só Lieân Hoa 168 .
*- Toùc xoaơ Töø bi. Moät tieáng rôi ( thô ) Cö só Lieân Hoa 177.
*- Xin caùm ôn Meï. Con laø ngöôøi Vieät
*- Chieác
y vaøng in daáu laù Boâ Ñeà ( thô ), Cö
só Lieân Hoa 222 . *- Nuï cöôøi vang taäân caøn khoân ( thô ), Cö
só Lieân Hoa 223 *-Chuyeän suy
ngaăm 224

LÔØI
NOÙI ÑAÀU
Saùng hoâm nay, vöøa baät TV ñeå
xem nhöơng tin töùc hay nghe nhaïc nheï nhö thöôøng ngaøy. Tieáng haùt cuûa
ngöôøi ca só naøo ñoù vöøa vang leân, chöa ḳp ñeå thöôûng thöùc th́ h́nh aûnh
cuûa cheát choùc laïi xuaát hieän. Chieán tranh nhö ñang ŕnh raäp khaép moïi
nôi, soi moøn teá baøo taâm cuûa moăi nguôøi. Maïng soáng cuûa moïi sinh vaät trôû
neân moûng manh voâ thöôøng…Bao nhieâu tai trôøi aùch nuôùc, bao nhieâu thaûm
caûnh xaûy ra, söï vui chen laăn vôùi noåi buoàn voâ taän, aâu lo, sôï seät nhö
taát caû ñeàu baát ṇ̃nh.
Duø ai coù laø ngöôøi voâ t́nh nhö
theá naøo, cuơng khoâng khoûi caûm thaáy ngaäm nguøi chua xoùt cho thaân phaän
con ngöôøi, hay cho chính ḿnh. Sanh Laơo Beänh Töû laø moät ṇ̃nh luaät taùc
ñoäng leân treân thaân phaän cuûa vaïn phaùp trong vuơ truï naày, tuy raèng,
khoâng moät höơu t́nh naøo mong muoán, nhöng noù vaăn hieän dieän, söøng söûng tröôùc maët.
Caùch ñaây, hôn hai ngaøn naêm
traêm naêm, coù moät con ngöôøi ñaơ vöôït qua cuoäc töû sanh. Döôùi coäi
Boà Ñeà, ngaøn laù caây xao ñoäng, mæm cöôøi chaøo ñoùn moät ngaøy môùi cuơng
laø chaøo ñoùn moät con ngöôøi sieâu vöôït treân con ngöôøi.
Baèng nhöơng chaát lieäu do ba ñoäc toá Tham Saân Si hoaû muø laăn trong röøng
voâ minh, ñaơ ñöa muoân loaøi rong chôi trong cuoäc luaân chuyeån, ñoåi h́nh,
ñoåi daïng. Nh́n thaáy taát caû noåi thoáng khoå cuûa con ngöôøi vaø chæ coù
nhöơng ai ñaơ töøng ñau khoå v́ voâ minh, v́ ba ñoäc tham saân si, môùi hieåu
vaø thöông cho thaân phaän cuûa caùc loaøi. Ngöôøi ñaơ duøng chính nhöơng chaát
lieäu ñaày aáp trong taâm ñeå nuoâi döôơng Ñaïi Nguyeän “ Neáu khoâng thaønh
Chaùnh Giaùc, ta theà khoâng bao giôø rôøi coäi caây Boà Ñeà naày..”
Coù söùc maïnh naøo hôn Ñaïi
Nguyeän ñaït ñeán Giaùc ngoä cho chính ḿnh vaø ñeå cöùu ñoä cho muoân loaøi
thoaùt ra khoûi nguïc tuø cuûa Ba ñoäc. Taát caû caùc coơi trôøi boång nhieân ruùng
ñoäng, caùc ma quaân run sôï, taát caû vuơ truï reo vui möøng ñoùn chaøo ṿ
Ñaïi Giaùc. Ngaøi ñaơ t́m thaáy goác reå cuûa voâ minh ñöôïc xaây döïng treân
12 Nhaân Duyeân chaèng cḥt, vaø ñaơ chöùng quaû Voâ Sanh Baát Dieät.
AÙnh saùng Giaùc Ngoä ñoù ñaơ tieáp
noái Haïnh Nguyeän cuûa Chö Phaät trong möôøi phöông ba ñôøi, ñöôïc
truyeàn baù töø ngaøy ñoù, lan roäng, toaû saùng cho ñeán hoâm nay...
Trong cuoäc nhieåu nhöông cuûa
cuoäc soáng thôøi hieän ñaïi, qua bao nhieâu laø xaùo troän, tröôùc nguy cô
cuûa söï huơy dieät toaøn dieän moâi sinh, ñôøi soáng cuûa moïi sinh vaät…th́
chæ coù taám loøng töø bi v́ söï ñau khoå cuûa muoân loaøi, chæ coù trí
tueä saùng suoát môùi nh́n goác reă cuûa cuoäc ñieâu linh naày, maø hoaù
giaûi haän thuø, söôûi aám laïi t́nh ngöôøi. Do ñoù, Phaät giaùo hieän ñang coù
söù maïng to lôùn, cao caû vaø taát caû nguôøi con Phaät ñeàu mang chung söù
maïng daán thaân ñoù.
V́ hieåu raèng: “Chö haønh voâ
thöôøng. Chö phaùp voâ ngaơ”, cho
neân, söï hieän dieän cuûa ngöôøi con Phaät trong baát cöù hoaøn caûnh naøo
cuơng caàn thieát, vaø söï thaønh töïu naày phaûi ñöôïc baét nguoàn töø Taâm
Boà Ñeà, töø söï tu taäp, quaùn chieáu laïi ḿnh, ñeán nhöơng nguôøi thaân
caän, nhöơng ngöôøi chung quanh- ñoù laø böôùc chaân traàn treân maët ñaát- v́
taát caû ñeàu laø Phaät seơ thaønh. Hoaù thaân cuûa Ñöùc Phaät laø Boà Taùt
Quaùn Theá AÂm vôùi ngaøn tay ngaøn maét, phaûi chaêng muoán noùi ñeán söï
töông ñoàng, ñoaøn keát vaø chung söùc cho söï xaây döïng ñôøi soáng An laønh
Haïnh phuùc treân coơi ñôøi naày.
Ñeå cuùng döôøng Ngaøy Phaät
Thaønh Ñaïo muøng 8 thaùng Chaïp, Phaät ḷch 2551. Gia ñ́nh con xin kính daâng taát
caû taâm thaønh qua vieäc soaïn in Taäp san Haûi Trieàu AÂm Taäp 3, ñeå cuùng
döôøng leân Ñaáng Cha Laønh.
Mong moïi ngöôøi nh́n nhau ñeå
thaáy tieáng goïi naày vang ñoäng trong ñaùy saâu cuûa taâm, vaø ñeå chaép ñoâi
tay laïi, noùi vôùi nhau nhö nhöơng lôøi kinh xöa maø ṿ Boà Taùt Thöôøng Baát
Khinh ñaơ bao laàn ca tuïng: “Toâi khoâng
daùm khinh caùc ngöôøi, v́ caùc ngöôøi seơ laø ṿ Phaät…” vaø tieáng goïi
cuûa Haûi Trieàu AÂm vaăn maơi reo vang, laø tieáng soùng töï ngaøn xöa cuûa
bieån taâm, ñaơ bao laàn thoâi thuùc taâm ngöôøi nhö moät caûnh tænh vaø nhö
moät khai môû cho cuoäc haønh tŕnh trôû veà…
Kính chuùc taát caû moïi ngöôøi
ñeàu soáng an laønh trong boùng haøo quang cuûa Ñöùc Phaät nhaân ngaøy Phaät
Thaønh Ñaïo vaø ñeàu coù moät Muøa Xuaân Di Laëc Haïnh Phuùc- Kieát Töôøng.
Mong laém thay !
Cö só Lieân Hoa
Ư NGHĨA
NGÀY THÀNH ĐẠO
HT.
Thích Huyền Tôn
Điều nên nói là con người có chịu tu tŕ theo giáo pháp đă thành đạo của Đức Phật hay không ? Cơm đă chín rồi mời vào bàn thọ dụng, nếu chúng ta c̣n rẽ rúng th́ cái giá trị “no đủ” sẽ không đến với chúng ta.
Kính thưa chư quí vị,
Trong gịng lịch sử giáng trần của Đức Phật, điều quan trọng nhất là thành đạo. Thành đạo tức là chứng ngộ được Đạo Vô Thượng Bồ-đề Chánh Đẳng Chánh Giác (Phạn ngữ: A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề). Không có thành đạo th́ cơi đời măi măi dài dặc trong tăm tối, sanh linh vẫn lặn ngập trong sáu nẻo luân hồi, không bao giờ có phương pháp để được giải thoát ! Nhưng thành-đạo nghĩa là ǵ ?
Nói đến hai chữ thành-đạo có tới 500 ư nghĩa, trong phạm vi mấy trang hôm nay không tŕnh bày hết được. Thành đạo cũng đồng nghĩa như thành Phật. Phạn ngữ của Thành Phật là Buddho Bhavati và các đồng nghĩa: đắc đạo, thành chánh giác, thành Bồ-đề, chứng Bồ-đề, hiện đẳng giác, đắc Phật quả, chứng vô thượng đạo, chánh biến tri, thập hiệu cụ túc, phiền năo diệt, vô minh tận diệt, diệt hết, làu làu sáng suốt, quá hiện, vị lai biến măn pháp giới, vô lượng vô biên nhiều và nhiều lắm ! Tổng nghĩa là: “nhơn hạnh của Bồ-tát đă đầy đủ, tự lợi đă hoàn thành, đức lợi tha viên măn và đă đến cảnh giới rốt ráo tối thượng của vô thượng Bồ-đề.”
Mặt khác, thành đạo là
Phật đă đi hết, đă cuối đoạn
đường mà Bồ-tát đă phải đi, đă
thể nhập tận cùng trong cái nhỏ tận cùng và trùm
hết cái lớn tận cùng lớn, tức là đă
đạt được bao trùm cả đại
đạo, là bể cả của muôn sông, là không giới
của vũ trụ, là bao hàm cả vũ trụ vô sở
hữu và biến nhập trong tất cả và ngoài của
tất cả và c̣n gọi là nhất thiết chủng
trí...
Cách đây 2589 năm, ở núi Tuyết dưới cội cây Bồ-đề, vùng Hy-mă-lạp sơn, vào thời điểm T.T.L 590; Hồng Bàng kỷ (tức VN Quốc Lịch) năm 2290; Âm-lịch Năm Tân-Mùi, ở Trung Hoa, đời Vua Định-Vương nhà Châu năm thứ 17, bồ-tát Tất-đạt-đa đúng năm 35 tuổi, ngày 20 tháng 10 Âm-lịch, lên ṭa nhuyễn thảo dưới cội cây Bồ-đề (do trời Đế-thích hiện thân cúng dường ṭa cỏ mềm nầy) và Bồ-tát đă lập lời thệ nguyện lớn “ta ngồi ṭa Bồ-đề, nếu không chứng được đạo quả vô thượng, th́ dầu cho thân thể tan nát, ta quyết không đứng lên rời khỏi Bồ-đề nầy”! (Kinh Trang Nghiêm: ...Bồ-tát diện hướng đông phương, ư tịnh thảo thượng, kiết già phu tọa, đoan thân chánh niệm, phát đại thệ ngôn: Ngă kim nhược bất chứng đắc vô thượng Bồ-đề, ninh khả toái kỳ thân chung, bất khởi thử ṭa”). Và Ngài tiếp tục tịnh tọa đến 49 ngày sau, vào đầu đêm mùng 7 tháng 12 năm Tân Mùi trải qua bốn canh đầu, Ngài đạt từng giai đoạn chứng ngộ cao hơn, đến canh 5, sao Mai vừa sáng tỏ, giờ Sửu, mùng 8 tháng Chạp, Bồ-tát “hoát nhiên đại ngộ” chứng thành đạo quả vô thượng bồ-đề.
LƯỢC QUA CÁC BỘ KINH BỔN HẠNH,
NHƠN QUẢ, TRANG NGHIÊM VÀ KINH PHỔ DIỆU
Sau khi chứng thành đạo quả, Kinh Bổ n Hạnh nói: đức Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni. Do Đức Phật Định-Quang thời quá khứ đă thọ kư như vậy. Và ngày nay đúng như vậy.
Đứng về mặt thời gian và nhân hạnh tu tŕ mà nói: sự thành đạo của Phật ngày đó là một kết quả thành tựu do đă trải qua hằng sa vô số kiếp không ngừng tu tập hạnh Bồ-tát: “v́ xót thương chúng sanh. Ngay như v́ thương bao nỗi đói khổ của loài ngạ quỷ nguyện làm thân ngạ quỷ để ở măi trong địa-ngục mà thay thế ngạ quỷ v́ ngạ quỷ ! V́ ḷng từ-bi đối với chúng sanh trên khắp cơi ta-bà đem nhục thân bố thí cho nhiều loài thú đó là v́ loài thú ! Hiến dâng tài sản, quốc thành, vợ con mà không tham tiếc, với loài người v́ loài ngưới ... ! Luân hồi trong 6 nẽo vẫn thực hành muôn hạnh lục độ v.v và ..v.v. v́ chúng sanh ! Chỉ v́ nhất tâm cứu khổ và giải thoát cho chúng sanh.
Về mặt hóa độ chúng sanh mà nói th́ sự thành đạo không chỉ cho riêng Đức Phật mà cho chúng sanh. Sau khi chứng ngộ, Đức Phật đem đạo “giác ngộ chân thật” mà Phật đă chứng ngộ và, suốt 45 năm, tuyên nói vô lượng pháp môn (phương pháp) để d́u dắt không riêng cho con người mà cho nhiều loại sinh linh khác đồng chứng ngộ, được giác ngộ giải thoát như Phật. V́, giá trị nhân bản của con người là giá trị Phật.
Về mặt đưa con người lên giải thoát th́ Đức Phật đă giải bày trong các kinh:
-Kinh A-Hàm: Nhằm giúp cho con người biết về cách tu của bảy đời các Đức Phật thời quá khứ, các cách tu hành và giáo lư căn bản, Tứ đế, 37 phẩm tu chứng lên các thánh quả và A-la-hán...
-Kinh Tứ Thập Nhị Chương: Nói về khổ đau, vô thường, vô ngă và cách mở rộng từ bi, bố thí...
-Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm: Phật chỉ dạy duyên khởi các pháp, về tánh của pháp giới và mật lực siêu việt của Phật Tỳ-lô-giá-na.
-Kinh Đại Bát Niết-bàn: Phật dạy về diệt dục, phiền năo, để thể nhập vào trạng thái an tịnh.
-Kinh An Bang Thủ Ư? Phật chỉ dạy thực hành pháp thiền, quán niệm hơi thở.... nhằm thanh lọc tạp niệm, để vào chánh niệm.
-Kinh A-di-đà, Vô Lượng Thọ và Quán Kinh: nhằm đưa con người qua thế giới Cực-Lạc, vĩnh cữu không khổ đau, phiền năo, không c̣n luân hồi . Được sống trong sự giáo dưỡng của Phật A-di-đà và hộ trợ của đức Thế Âm và Đại thế Chí.
-Kinh Thủ-lăng-nghiêm: Đức Phật chỉ cho con người tự t́m thấy chơn tâm không sanh không diệt của chính ḿnh. A-Nan-đa đại diện cho con người phá vỡ vọng tâm qua 7 lần hiểu sai chơn tâm mà Kinh gọi là “thất xứ trưng tâm.”
-Kinh Pháp Hoa: Đức Phật đưa chúng sanh ra khỏi ngôi nhà lửa “tam giới” qua 28 phẩm giáo, để tu tŕ, và trọng yếu nhất là “tứ gia hạnh” như những pháp tu. Tu tức là cách hành tŕ, coi như một công thức, làm đúng tuần tự theo công thức tất nhiên sẽ có kết quả. Cao siêu của Pháp Hoa là duy nhất chỉ có một Phật thừa. Đưa người đạt đến Phật thừa.
-Mật Giáo: Phật c̣n mở bày phương pháp kín nhiệm cho những người có căn cơ thầm lặng nhưng sâu kín theo phép “ấn, chú” để vào cảnh giới của Tỳ-lô-giá-na mà ra khỏi luân hồi.
-Kinh Di-lặc Hạ Sanh: Đức Phật hướng dẫn con người về cơi trời Đâu-suất, dưới sự giáo dưỡng của Phật Di-lặc và để sớm chứng đạo trong ba pháp hội Long Hoa vào 16 triệu năm sau. Nhiều và c̣n thật nhiều cho con đường giải thoát mà chư Thánh chúng chứng quả, đă cùng ghi chép lại thành ba tạng kinh điển.
Phật tử chỉ nên kính tin các pháp tu vào Tam Tạng kinh điển và nhờ tăng đức y cứ theo đó chỉ dạy thẳng vào đó th́ nên tin, mà không nên tin vào những truyền ngôn, và sự ca ngợi truyền miệng, thiền nầy hay, thiền nọ giỏi, và những bài viết mang tính tự tôn, chỉ diễn dịch cho màu mè hoa bướm, mà thực chất ở họ c̣n ngă nhơn, c̣n tham vọng tiền bạc, xây dựng tài sản cho riêng ḿnh, cho đệ tử riêng của ḿnh, th́ nơi đó, nhất định không hề có giáo lư chân thật, để đưa về chân thật.
Tóm lại, tất cả pháp môn đưa chúng sanh về giác ngộ, đều là kết quả của thành đạo do Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, và “ứng dụng của thành đạo” như một ít kinh điển trong muôn ngàn kinh điển mà chúng tôi vừa giới thiệu, chính là ánh sáng nhiệm mầu kết tinh của vô lượng kiếp tu tŕ của Đức Phật, nhằm khai mở con đường cho chúng sanh sáng tỏ đi lên giải thoát, vượt thoát tam giới luân hồi và thành đạo như Phật. Điều nên nói là con người có chịu tu tŕ theo giáo pháp đă thành đạo của Đức Phật hay không ? Cơm đă chín rồi mời vào bàn thọ dụng, nếu chúng ta c̣n rẽ rúng th́ cái giá trị “no đủ” sẽ không đến với chúng ta. Cái chân giá trị “giải thoát” măi măi c̣n dịu vợi mà không biết thời điểm nào chúng ta sẽ nắm bắt được ? Ngàn năm sau ? Triệu năm sau ? hay vô lượng và vô lượng!
MOÄT ÑÔØI LAØM
KEÛ LAƠNG DU
Xin
ñôøi haơy nguû yeân
Treân bôø vai beù nhoû
Xin ñôøi haơy b́nh yeân
Ñeå
maây bay höơng hôø
Cho
ñôøi nhöơng moäng mô
Cho
qua ñi ngaøy thaùng
Moät
ñôøi say phieâu laơng
Cho
ngöôøi veà vôùi ngöoøi
Xin
töøng gioït möa
Rôùt
treân moâi beù nhoû
Bieán
ñôøi côn soùng nhoû
Thöôû
vaøo ñôøi traêm naêm
Xin trôøi haơy cöôøi vui
Cho
maây theo ngaøy thaùng
Töøng
ñoaøn chim hôùn hôû
Moät
ñôøi laø voâ bieân Cö só Lieân Hoa
TUYỆT PHẨM THIÊN NHIÊN
Cư sĩ
Liên Hoa

Trời vào
Thu mang lại cảm giác lành lạnh, nhẹ nhàng. Qua những
ngày hè oi bức, ai cũng mong đón nhận được
những luồng gió mới, như xoá bỏ cái cũ để
trôi qua, t́m lại bầu không khí mới mẻ.
Cuộc đời là những cái mới
trong những giây phút hiện tại, đó là lời tâm niệm
của những ngựi con Phật, bởi v́ sự mầu
nhiệm của cuộc đời đều bắt đầu
hay khởi sinh từ giờ phút hiện tại nầy.
Vừa ra khỏi
nhà tắm, nh́n Thanh- vợ tôi, tôi chợt hỏi: “ Thanh
chải tóc dùm anh được không?”. Người nầy
mĩm cười, một nụ cười dễ thương
làm sao ấy..( Đây là lời nói được gọi là
nịnh đầm mà lị, nhưng không có nói ra thành lời).
Thanh vội cầm lược chải tóc dùm tôi:” Anh có
cần chẻ ngôi không? Tóc anh rụng nhiều quá. Lúc
trẻ tóc anh thật nhiều, nhiều lắm, nhưng
giờ lại lưa thưa…nh́n thấy xót ruột lắm”.
Nghe được câu nói nầy, ḷng tôi buồn lắm ai ơi!
Nhưng nghỉ
lại th́ không sao v́ vẫn c̣n có sự an ủi khi so sánh với
tóc của Thầy tôi, lúc nào cũng không c̣n, nhất là vào ngày
Rằm hay 30 của tháng ta âm lịch. T́m cách để nâng
tinh thần ḿnh lên, nhưng vẫn không thấy ổn lắm,
v́ Thầy th́ tự nguyện cạo đầu- dù có phải
đúng câu tục ngữ:”Ăn chay rát ruột, cạo đầu
rát da”, c̣n ḿnh th́ cố ráng dưỡng tóc mà “Cái tóc là
vóc con người”, cho nên; phải dùng đủ mọi
thứ thuốc cho mọc tóc, nên rất ư là khác lắm
lắm. Nh́n thấy một sợi tóc non vừa đâm chồi
nẩy nở trên đầu là mừng rỡ, khoe với mọi
người, dù chỉ vài ngày sau th́ nó biến đâu mất.
Chạy theo em, chạy theo
từng sợi tóc
tóc em dài, sao lại ngắn
bửa mai
trong tâm ta, h́nh
hài em là mái tóc
nay đổi
h́nh, phải em đó hay ai ?.
( Minh Thanh
)
Tôi không phải đề cao đến mái tóc, nhưng
mái tóc cũng là một trong khởi đầu của đạo,
sự hoại sắc để đi đến một
bản sắc dấn thân mới. Như vậy là mái tóc tôi
đă tệ đi nhiều rồi, một sân bay sắp
sửa được thành lập, đang chờ kư
hợp đồng. . Đôi khi cuộc sống ở nước
ngoài, thời giờ bận rộn, chi phối thật
nhiều trong cuộc sống, nên thời gian cho mái tóc
cũng eo hẹp, nhiều khi rảnh rổi mà cũng
cảm thấy như bận. Ôi c̣n đâu là thời trai
trẻ, hiên ngang, oai hùng …coi trời như đang ở trên
cao.
Tôi hay quán chiếu đến
những ǵ đang xảy ra thường ngày, chung quanh và
trong tâm của ḿnh. Không cố công để t́m, nhưng
mỗi hiện tượng đều được soi
xét tới để chiêm nghiệm, để thưởng
thức và nhận thức rằng Đức Phật có
mặt ở mọi nơi chốn như câu “ Kính
lạy Ba đời tất cả chư Phật ở
khắp mười phương”. Sở dĩ phải
ṿng vo, nói tới nói lui cũng bởi có nhiều hiện tượng
rất tầm thường, nhưng lại hàm chứa
sự mầu nhiệm có mặt, mà có thể các sự
kiện nầy hiện diện thường xuyên quá, ta
không thèm chú ư tới. Chúng ta chỉ quan tâm đến
những ǵ mà ḿnh nghĩ là liên quan đến ḿnh từ
vật chất đến tinh thần…sao cơ thể ḿnh
hay ph́nh lên xọp xuống quá vậy? ( Câu nầy có nghiă
là trọng lượng không quân b́nh, nay ốm mai mập, nhưng
v́ đây là vấn đề nhạy cảm, nên phải
tế nhị nói cho nó văn vẻ một chút, chứ cơ
thể nào phải là bong bóng ). Sao tóc ḿnh thưa quá không
c̣n đen bóng bẩy nữa, sao mặt mũi ḿnh, quần
áo ḿnh, rồi sao không ai chú ư đến ḿnh hết bởi
v́ dù sao ḿnh cũng là thứ thiệt, ngon lành lắm chư
bộ ( Giống như tôi vậy, nhiều khi tưởng
ḿnh ngon lắm, nhưng khi đụng chuyện ǵ th́ như
bún bị thiêu. Ai từng bị ăn nhầm bún thiêu-
chứ không phải bún riêu- th́ biết liền…). Ồ
chỗ nầy nhộn nhịp quá, chỗ nọ nhiều
cái lạ quá, chứ không quen thuộc, nhàm chán như
những ǵ ḿnh đang hạnh phúc có được. Và sao
người nầy hay quá, giỏi quá v.v…Cứ chạy theo
bóng và quay cuồng theo những mảnh ráp nối của
từng đoạn phim kết lại và một lúc nào đó,
chợt giật ḿnh thấy đă đi quá xa, rời
khỏi thực tế. Ngài Lama Thubten Yeshe nói rằng: “V́
tâm ḿnh chao đảo, đứng núi nầy trong núi nọ,
nên nh́n những đoạn phim được tạo ra
từ ảo tưởng và người khán giả ôm
ảo tường của nhà sản xuất phim, lại
cứ tưởng là thật và ḿnh đang ở trong đó”..
( Trích trong “Nghiệp và Tánh không” do Cư
sĩ Liên Hoa dịch ) Sự khổ đau
cũng bắt đầu từ đó, để chúng ta
không dám đối diện với ḿnh, rồi tự
dối gạt ḿnh, dối gạt mọi người và đến
khi tự suy nghĩ hoài, và đi đến kết luận
rằng: Ôi ta là kẻ cô đơn nhất trần đời,
không ai thèm hiểu ta. Đời sẽ thiếu sót trầm
trọng v́ không nh́n nhận ra ta, một thiên tài trên
thế gian nầy. Ta là kẻ cô đơn… Ôi ta buồn ta đi
lang thang bởi v́ …ta !!!
Đó là tâm trạng chung của chúng ta, v́ luôn chấp vào
ngă ái. Đứng về xă hội, nhiều khi chúng ta may
mắn hạnh phúc hơn biết bao nhiêu người.
Họ khổ sở từ miếng ăn, cái mặc.
Họ thiếu thốn về mọi mặt trong đời
sống, nhưng họ vẫn mỉm cười, dù là ráng
sức, v́ có khóc cũng chẳng ai để ư đến.
Về cơ thể, chúng ta được diễm phúc lành
lặn tay chân, đầu óc minh mẫn…c̣n biết bao người
mù chữ, thất học, cơ thể không c̣n nguyên
vẹn, cụt tay cụt chân v́ chiến tranh hoặc bi
thảm hơn nữa, nhà tan cửa nát, thất lạc người
thân v.v…Về phương diện tinh thần, khi chúng ta
cảm thấy sự cô đơn trống vắng, có nghiă
là chúng ta có sự nhận thức về những cảm
giác, tri giác về những hiện tượng của tâm
nầy và có nghiă là ḿnh đang có đầy đủ
sự sáng suốt để nhận thức, nhưng
bị tri kiến dẫn sai lầm do ái ngă. Trên cuộc đời
nầy, có ǵ là toàn thiện toàn mỹ và tất cả
chỉ là những ǵ sẽ trở thành…trừ những
bậc Thánh Tăng, Bồ tát hay các vị Phật. Như
chính con người tôi, người đang viết bài
nầy, là hiện thân của tất cả sự bất
toàn: Về ngoại h́nh th́ xấu xí, hơi thấp, tóc
rụng …về học thức th́ kém cỏi, chỉ hay
copy, lấy văn của người làm của ḿnh ( nói
đúng là đạo văn, v́ văn người ta hay quá
mà lị). C̣n về tâm hồn, tánh t́nh v.v..th́ rất khác
xa với những ǵ tôi đang viết, đang nói. Thú
thật th́ tôi rất ích kỷ, bỏn xẻn, chấp
nhất, tham lam và rất ư là tệ… v́ hay nghỉ đến
ḿnh mà quên người. Thưa vâng, nói lên được
những điều nầy, phải nói nhờ Phật
Pháp, dám nh́n thẳng vào ḿnh để quán chiếu. Cám ơn Đức Phật và Giáo
pháp của Ngài. Khi ḿnh thấy được những điều
dở về ḿnh, th́ những người bạn hay
tất cả mọi người đều “dễ
tiếp cận với”, v́ đang giao tiếp với
một con nguời b́nh thường, c̣n mang đầy
tục lụy. C̣n những ai nhận thấy con người
nầy tầm thường quá, không đáng gần gủi,
v́ ta là ai ai khác hơn, cao cả hơn, th́ tránh xa ra. Thế
là đủ rồi, ḿnh đành phải vui vẻ chấp
nhận số phận hẩm hiu với tánh nết của
ḿnh như vậy. Hăy để gió cuốn đi… Trong
những cái bất toàn, khi nhận diện được
nó, ta mới cảm nhận được sự tiềm
ẩn của Chân tánh thường hằng không sanh
diệt- đó là Phật tánh, nên cần phải khai
phá và phát triển.
Để nối tiếp là sự cô đơn. Sự
cô đơn là sự trưỏng thành của tâm, khi nó ĺa
xa dần những tham chấp về bản ngă. Cô đơn
không phải để biến chúng ta thành cuồng sĩ,
lang thang sĩ, cô đơn sĩ, la hét sĩ v.v…mà cô đơn
là làm cho chúng ta có giá trị hơn. Tại sao vậy?
Bạn hăy nh́n xem, tất cả các pháp môn tu học học
hay hành tŕ trong Phật giáo, chúng ta nhận thấy đều
bắt nguồn từ sự cô đơn, v́ sự xả
ly, yếm ly, miên mật….Những tích lũy do tham đắm
và trong vô thức chỉ là làm đầy bản ngă yếu đuối-
mặc dù sự gom góp để chật đầy trong tâm
làm cái “chắn che” cho và biến chúng ta thành như một
kẻ anh hùng. Nh́n bề ngoài th́ chúng ta cần phải có
mặt, phải hiểu, cần phải được
nh́n nhận v.v…và rồi, chúng ta phóng tâm đi t́m những bù
đắp qua những sở hữu tiếp nối như
tài sản, danh vọng, t́nh cảm, sắc đẹp
hoặc vi tế hơn- cho cái ngă ái yếu đuối.
Bởi v́ bỏ đi lớp sơn dày bao phủ, chúng ta
thấy nó chỉ là rỗng không, không thực hữu, không
tồn tại biệt lập mà chỉ là duyên sinh duyên
hợp, chúng ta sẽ trống vắng và giả cô đơn.
Bởi thế, theo Đạo Phật, cô đơn là
sự nhận thức và trưởng thành, chứ không
phải là sự phóng ngă, bám víu.
Nhân thức được như vậy, chúng ta mới
cảm thấy ḿnh rất hạnh phúc v́ hưởng
thụ quá nhiều trong đời sống, nhưng ḿnh
lại quên lăng v́ chỉ cầu cạnh cho cái ta hay cái ǵ
của ḿnh, quên nghỉ đến người khác cũng
như cảm giác của họ hay cho những ǵ xung quanh mà
cái ta ḿnh tạo ra.
Qua đó, chúng ta mới cảm thấy có những
thứ t́nh yêu đă làm cho cuộc đời con người
có giá trị nhân bản, làm người- như t́nh hy sinh
của bà mẹ. Sự hy sinh là quên đi bản ngă, quên cái
ta nhỏ bé của ḿnh v́ sự hiện hữu của người
và qua nguời khác, v́ đó chính là sự hiện hữu
của ḿnh- một h́nh ảnh quả tuyệt đẹp.
Bà mẹ lo cho con không phải để cầu được
sự báo đáp, nhưng lo cho con chỉ duy nhất v́
hạnh phúc của con và đó là món quà tinh thần vô giá đối
với mẹ.
Sau cuộc bể dâu biến động của năm
1975, chúng ta chứng kiến rất nhiều những h́nh
ảnh cao đẹp, sáng chói…như những vị Bồ
tát. Chỉ có một số nhỏ người phụ
nữ bị sa ngả, c̣n tuyệt đại đa số
người đàn bà Việt Nam- những người
phụ nữ chân yếu tay mềm ngày nào, nay bổng
trở thành những huyền thoại đầy xúc động,
đầy tính nhân bản qua những sự hy sinh cho
chồng cho con, dù thân thể bị thiệt tḥi, thiếu
thốn. Những sự hy sinh đó, không có bút mực hay
giấy nào có thể nào có thể kể hết được.
Chợt nghỉ đến
những người bạn mà tôi gọi phone thăm sáng
nay. Một người bạn thân đă lâu năm, từ
Louisiana chuyển về định cư ở Florida sau cơn
băo Katrina vừa qua. Sức khoẻ của anh rất kém, v́
bệnh hoạn đă lâu năm, nay lại khám phá ra dưới
chấn thủy ( xương ức) có cục bướu
rất lớn, đang test và chờ mỗ. Một người
th́ hiện ở Louisisana, vợ cũng bệnh nặng…
Cuộc sống xa xứ, những gia đ́nh mà vợ
chồng tôi quen biết đă lâu năm, thân t́nh, gần
gủi hơn là ruột thịt. Chúng tôi thường nói
với nhau “Hăy gọi phone thăm nhau khi nhớ đến
nhau, để biết khoẻ mạnh hay đau yếu ra
sao và để cầu nguyện cho nhau…v́ ai nấy đều
có tuổi đời chồng chất”. Theo chị
bạn ( đang bệnh ) của gia đ́nh kể
lại:” V́ biết em bệnh nặng, nên chồng em
ảnh thường an ủi và nói rằng: Em hăy ráng điều
trị để mong hết bệnh. Nhưng nếu em có
mệnh hệ nào, th́ anh sẽ đi vào chùa, để theo
tu với Thầy…V́ con cái đều cũng đă lớn, đă
trưởng thành hết rồi”. Những lời nói
bộc bạch, chân t́nh của người chồng khi nói
cùng vợ khi vợ đang bệnh, nghe sao thật đẹp,
thật tuyệt vời, khiến ḷng người ấm
lại.
Kể lại những
chuyện trên, chúng tôi không đề cập đến
sự quyến luyến, tham đắm theo những
lời nói, những bận bịu để làm nội
kết cho những kiếp tương lai, như lời
nói: “T́nh đa thiểu tưởng, lưu nhập …”,
th́ đó là một khiá cạnh khác của vấn đề.
C̣n con người- làm được như một con
nguời b́nh thường, quả đă là khó, huống
hồ là một gia đ́nh. Theo Dịch học: “Vạn
vật bồng Dương cơng Âm”. Một cá nhân riêng
lẽ- dù nam hay nữ- cũng đều có những
mâu thuẫn nội tại, cho nên khi hai cá thể hợp
lại để thành vợ chồng hay một gia đ́nh,
cũng đều mang những mâu thuẩn đó để
hoà hợp lại. Trên thế gian nầy, bất cứ gia đ́nh
nào cũng có sóng gió, có xáo trộn, có tranh cải v.v…như
một lẽ đương nhiên v́ những mâu thuẫn như
vừa đề cập ở trên, nhưng tự bản
chất hay trong chiều sâu nội tâm- “con người ai
nấy đều mong cầu hạnh phúc an lạc”, cho
nên những mâu thuẫn đó lại là những biểu
hiện của sự chia xẻ, cùng nắm tay nh́n về
một huớng- v́ gia đ́nh, v́ t́nh yêu và c̣n v́ những
thế hệ kế tiếp. Ở đây, chúng tôi
muốn nói đến tấm ḷng hay chân t́nh. Là một người
b́nh thường theo Tục đế- lời ái
ngữ nầy là t́nh nghiă vợ chồng cho nhau trong
những lúc nguy nan của cuộc đời, v́ bao năm
chung sống th́ những lời nói chia xẻ, an ủi
nầy ít khi được nói ra mà chỉ được
biểu lộ bằng sự trọn vẹn t́nh yêu của
đạo vợ chồng. Nh́n qua Chân đế- v́ là
người Phật tử có tu học, đó là những
lời nói pháp sâu xa để vực dậy một sức
sống, làm hồi sinh một sinh mạng tâm linh để
hiểu và nhận thức về cuộc đời và làm
sao cho có ư nghiă. Sự thịnh suy, vinh nhục, mất mác,
sinh tử v.v..chỉ là những đợt sóng trong muôn vàn đợt
sóng. Chúng ta không cho nhau những giây phút nầy, th́ c̣n ǵ cho
nhau nữa…
Có những dữ kiện
là một định luật thiên nhiên như: sinh già
bệnh chết- không ai có thể thay đổi được.
Chúng ta chỉ có thể thay đổi mọi hoàn cảnh để
làm sao cho cuộc đời có giá trị thực sự.
Trong một bài thơ nói về “Chân tâm”, trong đó có vài câu đă
đi vào tâm tôi:
Em về tóc xoă lưng trời
Đôi vai trĩu nặng đôi bờ
tử sanh
gặp em mới biết luân hồi
Nếu không muôn kiếp, ta c̣n nơi đâu…
( Minh Thanh )
Ta c̣n nơi đâu như
một linh hồn vất vưỡng, hay chúng ta c̣n nơi đâu,
bơ vơ, lạc lỏng giữa cuộc đời?
Không phải bi quan cho cuộc đời, nhưng như
một nhận diện, tiếp cận và chuyển hoá…Ta
không thể kêu thảng thốt lên một cách tuyệt
vọng…
bạn hăy
chỉ dùm tôi- nơi nào tôi ở
cuộc luân
hồi, thay đổi mặt muôn nơi
h́nh hài xưa,
bỗng chốc là hư
ảo
đôi tay
gầy, gỡ nội kết rời bay …
( Minh Thanh )
Thưa bạn, Đạo
Phật chưa bao giờ chỉ cho chúng ta con đường
để bi quan, yếm thế… mà con đường Khổ
Đế- chỉ là nhận diện, v́ chạy trốn
chỉ đem lại khổ đau và đau khổ. Sự
trực diện để chuyển hoá ( Tập đế
)-với chính cái mà ḿnh thấy sai lầm, đó là
một tác phẩm tuyệt đẹp đang thanh h́nh nơi
bạn, nơi chính những hũu t́nh là chúng ta.
Chiều nay, tôi đi bộ quanh bờ hồ sau lưng
nhà. Cái hồ rất rộng, từng míếng xi măng
nối nhau để tạo nên đường đi ṿng
quanh hồ, dành cho những người cư trú trong khu
nầy xử dụng, đi bộ. Nếu dạo chung
quanh hồ, thong thả từng bước một hay đi
hơi vội vả một chút, cũng mất khoảng 25
đến 30 phút. Giữa hồ có 3 cột phun nưóc, xoè
ra những ṿi rồng bắn nước tung toé, tạo nên
những tiếng róc rách như tiếng thác đổ,
thật đẹp và nên thơ. Không khí trong lành, thoáng mát. Đă
dọn về đây hơn ba năm, và nh́n thấy bao
lần mùa thay đổi, nhưng đâu phải lúc nào ta
cũng cảm thấy được những cảnh đẹp
hiện hữu chung quanh.
Những cánh chim bay từ cao xà xuống mặt nước,
rồi lại bay lên. Cạnh đó, có đàn thiên nga đang
vờn vui trong nước một cách thoả thích. Có
những chiếc lá rơi rụng trên mặt hồ, đong
đưa như những chiếc thuyền lơ lững
trên ḍng nuớc cuộc đời.
Thuyền lặng
lẽ, một ḿnh trên biển nước
đi về đâu bao
sóng cuộn luân hồi
nơi bến cũ, một lần thuyền cập
bến sóng muôn trùng, thuyền-bến nơi đâu ????
( Minh Thanh )
Đâu phải hôm nay, mặt hồ mới trẻ trung, đẹp.
Dù là cái hồ nhân tạo, nó cũng hiện diện một
khoảng thời gian qua. Gió vẫn thổi vi vu. Đâu đây
vài tiếng chim hót líu lo, rộn ràng những âm thanh ngọt
ngào. Cảnh Cực Lạc nơi đâu, tôi chưa
thấy v́ chưa đến hay thể nhập được(?),
nhưng không khí êm dịu, lặng lẻ…và nơi đây,
tiếng chim hót, gió, tiếng cỏ non cựa ḿnh, tiếng
lá rơi, tiếng của vạn vật chuyển ḿnh,
bổng trở nên xuất thần như là tiếng
thuyết pháp…những lời pháp âm tuyệt diệu, lóng
lánh như những hạt kim cương trong bài Tâm Kinh Bát
Nhă….năm uẩn có c̣n không, một cơn gió thoảng,
mộng mị vỡ tung, đừng sợ hải, hăy bước
vào đời, vượt qua đi, bằng trái tim
ngọc….trái tim kết bằng những cánh sen…
Tôi không muốn lơ lững trên bầu trời của
âm thanh và màu sắc, v́ nó rực rở ở muôn nơi. Tôi
không muốn gom lại tất cả để chỉ
vừa đủ trọn trong ḷng bàn tay, v́ nó là bầu
trời là đại dương, là thế giới kỳ
vĩ của thiên nhiên, của tâm…mà chính tôi muốn nói đến
những hạt tham sân si đă vô t́nh trút lên thân phận
của thiên nhiên, trong đó là chỗ trú ngụ của chúng
ta trong cuộc làm người.
Chúng ta nói là yêu thiên nhiên, thèm nh́n cảnh có bầu
trời, có mây nuớc, có những không khí trong veo lành
lặn v.v…nhưng chúng ta lại bắt tất cả hy
sinh chỉ để phục vụ cho ḿnh một cách không
thương tiếc. Hiệu ứng nhà kiếng đă làm
bao tai trời ách nước xảy ra. Môi sinh được
chúng ta cải tạo bằng cách như vậy, bằng
chiến tranh, bằng bom đạn, bằng hận thù
v.v…trong lúc biết bao cảnh điêu tàn, đổ nát
diễn ra hằng ngày….
Hăy ngủ đi em, để cho ngày đến b́nh thường
ngủ đi em, để lắng nghe tiếng trống
trường đă điểm
ngủ đi em, để nh́n thấy ánh mắt mẹ
cha ngời sáng
ngủ đi em, con đường nào có hoa vàng, đón
một ngày vui
hăy ngủ đi em, giấc ngủ sẽ đưa em
vào ngày mai
v́ ngày hôm nay, em không là ǵ
v́ ngày hôm nay, em không c̣n ǵ
những hố bom, tan nát cửa nhà
những hố bom, chôn xác bao người
những người c̣n sống, đầu chít khăn
tang
người ốm yếu, c̣n nh́n nhau, mắt ṃn hy
vọng
đôi tay c̣n lại ǵ
đôi mắt nầy c̣n thấy ǵ
ngủ đi em để ngày đến b́nh thường
hăy ngủ đi em, giấc ngủ đưa em vào ngày
mai….
( Minh Thanh )
Có bao giờ chúng ta nghe được tiếng của
cây, của lá, của cỏ ..than van….Bạn ơi! Tôi đă
sống trọn vẹn cho bạn ngày hôm qua, hôm nay và ngày
mai, v́ tôi đă hút hết thán khí độc carbonic để
dành cho bạn hít thở bầu không khí oxy trong lành. Bạn
có nghe được tiếng nước của mặt
hồ không…thân tôi là những tế bào nuớc kết
nối lại, tôi đă bốc khói lên dưới ánh
nắng mặt trời, làm đám mây, làm mưa và là
nuớc…trong thân thể của bạn, của muôn loài đều
có tôi…có bao giờ bạn biết như vậy không?
Chúng ta cô độc trong mùa đông, rạng rở trong
mùa xuân, hối hả trong mùa hè, trầm lặng trong mùa thu
và lại tiếp nối, nhưng bạn có biết bốn
mùa là sự vận chuyển kỳ diệu để nuôi
duỡng vạn vật và cho cả chính bạn.
Tuyệt phẩm thiên nhiên nầy cần phải được
tỉnh giác mới nhận thức, chiêm nghiệm và ǵn
giữ được và bóng dáng của Đấng Đại
Giác lại trở về làm hiển lộ hơn tác
phẩm kỳ vĩ nầy. Chúng ta thường nghe nói “ hiểu
để thương” nhưng lại quên rằng “thương
cũng hiểu”, bởi v́ chúng ta đă phân cách và cắt
đoạn ra để nói, mà quên rằng “hiểu và thương”
là cặp bài trùng, song sinh và không thể cắt phân đoạn
được. Giữa “ tuệ nhật phá chư ám”
và “từ nhản thị chúng sinh”, nơi nào là kẽ
hở để phân chia.
Trong t́nh yêu của Như Lai Tỳ Lô Giá Na dung chứa
cả khắp vũ trụ, vô biên thế giới cũng
tràn đầy ánh sáng của Như Lai Đại Nhật.
Nếu khi nào chúng ta phân đoạn, th́ chúng ta đang sai
lầm v́ cho cái nầy quan trọng hơn cái kia. Vô lượng
vô biên các Đức Phật
cũng như vô lượng vô biên các vị Phật Đồng
Danh Đồng Hiệu đều hiện thân xuống cơi
Ta bà hay các thế giới khác để ban vui cứu
khổ cũng v́ “ hiểu và thương”. Trong những
chặng cuộc đời của tôi đă bao lần
gặp sóng gió. Có những sự việc xảy ra đă làm
cho nuớc mắt tôi nhiều lần chảy xuống,
bế tắc cuộc đời, “tiền lộ mang mang
bất tri hà văng”,
tại sao
lại xảy ra cho tôi? Tôi làm ǵ nên tội? và cảm xúc
khổ đau dâng tràn như những vết dao xẻ
từng thớ thịt, đau và xót xa lắm….Nghiệp
lực không chừa một ai, và đùa giỡn trên sự đớn
đau của ḿnh. Tôi đă cầu nguyện đến
Bổn Tôn của ḿnh- Bồ Tát Đại bi Quán Thế Âm,
Người đă và đang đi bên cạnh tôi trong
những thời gian qua- nhưng không phải tôi cầu
nguyện để cầu xin một tha lực che chở,
giải cứu cho tôi trong nổi bấn loạn nầy. Và
Ngài đă đến, xuyên qua cánh cửa Phổ Môn huyền
diệu, xuất hiện trong tâm tôi….”Dù hoàn cảnh nào,
con cũng đừng bao giờ bỏ mất Tâm Bồ Đề,
v́ khi con c̣n nuôi dưỡng và ǵn giữ tâm Bồ Đề
th́ lúc nào ta cũng có bên con ”. Lời nói êm dịu đó
có sức bật dậy, v́ bao hàm cà “hiểu và thương”,
làm sống trong tôi những lời sám hối.
Thưa bạn, cuộc đời
th́ quá ngắn ngủi, rồi mai nầy ai nấy đều
phải ra đi. Chúng ta không biết lúc nào ḿnh là người
kế tiếp. Có “những cái chết nhẹ như lông
hồng, nhưng cũng có chết nặng tợ núi Thái sơn”.
Kinh qua cuộc làm người với những đau
khổ và hạnh phúc, chúng ta có được bài học
của tỉnh thức. Đạo Phật đánh thức
chúng ta để trở nên con người b́nh thuờng,
quán chiếu lại ḿnh và sống sao cho có ư nghĩa. Đừng
bao giờ đ̣i hỏi ḿnh phải là ǵ, được
ǵ, chứng ǵ…chỉ duy nhất khi biết ḿnh có tánh
Phật, cần phải khai phá tánh giác nầy, cũng
đủ làm đảo lộn cuộc đời và đó
là tác phẩm thiên nhiên cao quí nhất mà bạn có thể dâng
tặng cho cuộc đời. Những lời nầy xin
dâng tặng tất cả mọi người, dù bạn có đồng
ư hay không, xin hăy tự trả lời.
Cuối Thu năm 2006
Viết xong ngày 27.11.06.
NHỮNG TƯ TƯỞNG ĐỂ SUY
NIỆM NHÂN DỊP NĂM MỚI
Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên

MỘT ĐỜI
NGƯỜI QUƯ BÁU
“MỖI NGÀY, KHI THỨC DẬY, QUƯ
VỊ HĂY SUY TƯỞNG:
HÔM NAY TÔI
THẬT MAY MẮN ĐƯỢC
THỨC
DẬY,
TÔI C̉N
SỐNG, TÔI ĐĂ CÓ MỘT ĐỜI
NGƯỜI
QUƯ BÁU,
TÔI SẼ
KHÔNG LĂNG PHÍ NÓ,
TÔI SẼ
SỬ DỤNG TOÀN BỘ NĂNG LỰC
CỦA TÔI
ĐỂ PHÁT TRIỂN BẢN THÂN.
ĐỂ
MỞ RỘNG TRÁI TIM TÔI TỚI
NHỮNG
NGƯỜI KHÁC,
ĐỂ
THÀNH TỰU GIÁC NGỘ V̀ LỢI LẠC
CỦA
TẤT CẢ CHÚNG SINH,
TÔI SẼ CÓ
NHỮNG TƯ TƯỞNG TỐT
LÀNH
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC,
TÔI SẼ
KHÔNG GIẬN DỮ
HAY NGHĨ
XẤU VỀ NGƯỜI KHÁC.
TÔI SẼ
LÀM LỢI ÍCH CHO NGƯỜI KHÁC
CÀNG
NHIỀU CÀNG TỐT TRONG KHẢ
NĂNG
CỦA TÔI.”
A PRECIOUS HUMAN LIFE
"Everyday, think as you wake
up, today I am fortunate to have woken up, I am alive, I have a precious human
life, I am not going to waste it, I am going to use all my energies to develop
myself. To expand my heart out to others, to achieve enlightenment for the
benefit of all beings, I am going to have kind thoughts towards other, I am not
going to get angry, or think badly about others. I am going to benefit others
as much as I can."
by H. H. The 14th Dalai Lama

Ư NGHĨA THỰC SỰ CỦA
CUỘC ĐỜI
“Chúng ta là những lữ khách trên hành tinh
này. Chúng ta có mặt ở đây nhiều lắm là chín
mươi hay một trăm năm. Trong quăng thời gian
đó, với cuộc đời của chúng ta, ta phải
cố gắng làm những điều tốt lành và ích
lợi. Nếu quư vị góp phần vào việc mang lại
hạnh phúc cho người khác, quư vị sẽ t́m thấy
mục đích chân thực, ư nghĩa thực sự của
cuộc đời.”
THE TRUE MEANING OF LIFE
"We are visitors on this planet. we are here for ninety or one
hundred years at the very most. During that period, we must try to do something
good, something useful, with our lives. If you contribute to other people's
happiness, you will find the true goal, the true meaning of life."
by H.H. The 14 th Dalai Lama
ĐI T̀M CÁI NGĂ
SEEKING THE I
Lama Thubten
Zopa Rinpoche
Trích trong Wisdom
Energy 2 Publications for Wisdoms Culture 1979
Cư sĩ
Liên Hoa dịch
Kỷ niệm Ngày Sinh nhật
của Thanh (Diệu Tịnh)
Cho nhau tâm hồn, bàn tay qua Giáo pháp của Đức Từ
phụ để d́u dắt nhau qua những nẻo luân hồi
và để làm lợi ích cho mọi người
Tất cả
mọi vấn đề mà chúng ta đối diện trong ṿng
luân hồi: chu kỳ luân chuyển giữa chết và tái
sanh, đều bắt nguồn từ sự sai lầm chấp
thủ vào các pháp v́ nghĩ nó tự hiện hữu độc
lập. Vị trí của chúng ta trong chu kỳ nầy tương
tự như đang bị mắc bẫy trong một toà nhà
lớn với nhiều pḥng và cửa, nhưng chỉ duy nhất
có một cửa để đi ra. Chúng ta đi từ pḥng
nầy qua pḥng khác của toà nhà với chút hy vọng là t́m được
đúng cái cửa ra. Cánh cửa đưa chúng ta thoát khỏi
luân hồi, đó là tuệ giác nhận thức rơ tánh không của
mọi hiện hữu. Trí tuệ nầy là phương thuốc
chánh để điều trị sự ngu tối đă là
nhân quả làm bám víu vào cái Ta, và tin rằng cái ta hay “Ngă” là tồn
tại cố hữu và riêng biệt. Nói cách khác, cái Ngă sinh
khởi là cái ǵ đó mà nó không phải đúng như: cụ
thể, một khối đồng nhất không thay đổi,
tồn tại riêng biệt, nhưng tâm mê muội của chúng
ta th́ bám víu vào cái nh́n sai lầm nầy. Khi chúng ta bám chặt
vào cái Ta ma quái nầy và tích lũy nó như là một tài sản
vô cùng quí báu. Tuệ giác nhận thức được rằng
mỗi cái ngă tự hiện hữu hoàn toàn không có và do đó,
qua cái nh́n trí tuệ soi thấu, vô minh bị phá vỡ. Trong
kinh điển nhà Phật giáo nói rằng khi có chánh kiến
về tánh không, dù chỉ là trong chốc lát, sẽ làm chấn
động ṿng trầm luân, như một cơn động
đất làm rung chuyển cái nền toà nhà.
Mỗi
một người chúng ta theo bản năng đều tin
chắc vào một cái Ngă hiện hữu cụ thể và độc
lập. Buổi sáng khi thức dậy, chúng ta liền nghĩ
“Tôi phải soạn buổi điểm tâm sáng” hoặc “Tôi
phải đi làm”. Do đó, trực giác về một cái Ta
tồn tại riêng biệt lại tăng thêm và chúng ta ôm chặt
vào sự tin tưởng sai lầm nầy. Nếu có ai nói:”bạn
là kẻ khờ” hoặc” bạn là người thông minh”, làm
cho cái Ta bị đẩy vào chiều sâu của tâm, hoặc
đốt cháy chúng ta bởi sự tức giận hoặc
tự phụ lên v́ kiêu hănh Cái tham chấp về cái ta đă
có lúc vừa mới chào đời- điều mà chúng ta không
có đuợc chỉ dạy từ cha mẹ hay thầy giáo.
Nó có mặt một cách mănh liệt vào lúc có nhiều xúc động
như: khi mà chúng ta bị nguợc đăi, bị lạm dụng
hoặc đang bị ảnh hưỡng bởi xúc phạm
hay hănh diện. Nếu ta là người từng trải qua
cơn động đất hoặc đi xe cộ hay máy
bay gần bị đụng, cái Ngă kinh hải sẽ chế
ngự chúng ta khiến quên lăng tất cả mọi chuyện
khác. Cái cảm giác kiên cố về cái Ta cũng tăng thêm
khi được nhắc đến tên ḿnh.. Nhưng cái Ngă
với cái vẽ bên ngoài như kiên cố, độc lập
lại thực ra không đúng. Nó hoàn toàn không hiện hữu
.
Điều
nầy không có nghiă là chúng ta không tồn tại, mà chỗ nói
đến là sự hiện hữu của cái Ngă có tính qui ước
và thực sự. Đó là cái ta từng kinh nghiệm qua hạnh
phúc và đau khổ, như làm việc, học hành, ăn,
ngủ, thiền quán và chứng đắc giác ngộ. Cái
Ngă nầy th́ tồn tại, nhưng cái ngă kia chỉ là ảo
giác. Tuy nhiên, v́ vô minh, chúng ta bị lẫn lộn về cái
Ngă giả và cái Ngă qui ước và khó có thể phân định
được bên nào.
Sự
việc nầy đôi khi gây trở ngại cho chúng ta v́ lại
khởi lên trong lúc đang quán chiếu về tánh không. “Cái
thân tôi không phải của Tôi, tâm tôi không phài là Tôi, như vậy
có nghiă là Tôi không tồn tại” hoặc”. Từ lúc Tôi không
t́m được cái Ngă, Tôi phải đi đến nhận
thức về tánh không”. Thiền quán mà đem đến những
kết luận nầy thật không đúng, bởi v́ bỏ
quên đi cái ngă qui ước. Người hành giả khi không
nhận thức rơ và nhận diện chính xác về cái giả
Ngă bị không thừa nhận mà thay vào đó, lai đi bác bỏ
cái Ngă phổ quát hoặc sự hiện hữu liên hệ đến.
Nếu sự sai lầm nầy không sửa đổi lại,
sẽ làm tăng thêm quan niệm đoạn kiến đi đến
phủ nhận tất cả mọi sự hiện hữu,
và có thể đưa đến sự phức tạp hơn
cũng như hứng chịu khổ đau hơn thay v́ được
giải thoát.
Trong
truờng hợp nầy, sự khác biêt giữa cái giả
Ngă và cái Ngă qui ước ra sao? Cái giả Ngă chỉ là một
tư tưởng sai lầm mà chúng ta nh́n về cái ta: Là cái
ǵ cụ thể, độc lập và tự tồn tại.
Đó là cái Ta tự hiện hữu độc lập: Sinh
khởi một cái riêng biệt trong thân tâm chúng ta, những
yếu tố tạo thành sự hiện hữu của chúng
ta. Sự tập hợp thân tâm là nền tảng mà những
suy tư nhận thức được đặt tên cho.
Như trường hợp ngọn nến, sáp và ngọn bấc
là căn bản được gọi là “ngọn
nến” như được định danh. Như vậy, cây nến là độc
lập nhờ vào những thành phần của nó và tên của
nó. Không có cây nến riêng ngoài những thành phần nầy.
Cũng như vậy, không có cái Ngă độc lập trong
thân, tâm cũng như tên gọi.
Bất
cứ lúc nào cảm xúc về Ngă sinh khởi, như trong “tôi
đang đói”, cái ngă chấp vô minh tin rằng là cái Ta nầy
hiện hữu cụ thể và cố hữu. Nhưng nếu
chúng ta phân tích cái Ngă nầy, và sẽ nhận thấy rằng
nó được tạo ra do thân - đặc biệt
là khi bao tử trống- và tâm ta tự đồng nhất
nó với cảm thọ của tánh không. Không có cái Ngă gắn
liền với cái đói hiện hữu riêng biệt từ
những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.
Nếu
cái Ta đă độc lập, th́ có nghiă là tự nó có khả
năng tự trị. Ví dụ như, cái Ta có thể vẫn
ngồi đây đọc sách trong lúc đó, thân tôi đi vào
phố. Cái Ngă có thể hạnh phúc trong khi tâm tôi bị căng
thẳng. Nhưng điều nầy khó có thể, do đó
Cái Ngă không thể độc lập được. Khi thân tôi đang ngồi, cái Ngă phải
ngồi. Khi thân tôi đi dạo phố, cái Ngă cũng đi
vào phố. Khi tâm tôi bị chán nản, th́ cái Ngă cũng như
vậy. Tùy thuộc theo những
sinh hoạt thể chất hoặc trạng thái tinh thần
của chúng ta, chúng ta nói rằng
“Tôi đang làm việc” “Tôi đang ăn” “Tôi đang suy nghĩ”
“Tôi đang vui suớng” và v.v…Cái Ngă tùy thuộc vào những
ǵ mà cơ thể hoặc tư tưởng làm; nó bị
coi như mặc nhận vào nền tảng đơn độc.
Ngoài ra không có ǵ khác. Thực ra, không có các cơ sở nào khác
cho mỗi giả định nầy.
Sự độc
lập của cái Ta phải được rơ ràng theo những
dẫn chứng đơn giản nầy. Thấu rơ về
tính phụ thuộc là phương tiện chánh yếu để
nhận thức tánh không, hoặc sự hiện hữu phụ
thuộc của cái Ngă. Tất cả các pháp đều phụ
thuôc lẫn nhau. Ví dụ như: sự h́nh thành thân xác được
cấu tạo bởi những thành phần như: da, máu, xương,
nội tạng và v.v… Tất cả các thành phần nầy
phụ thuộc vào những phần nhỏ như: tế bào,
nguyên tử và những hạt hạ nguyên tử.
Tư
tưởng cũng bị phụ thuộc. Chúng ta cứ tưởng
tượng về ngă với những ǵ hiện thực và
tự hiện hữu và phản ứng lại một cách
mạnh mẽ nếu chúng ta nghe thấy rằng” Bạn có
tư tưởng tốt” hay” Bạn quá rắc rối”. Tâm là một hiện
tượng vô tướng để nhận biết các đối
tượng và bản tính rất trong sạch. Dựa vào nền
tảng mà nó hoạt động, chúng ta đặt tên “tâm”.
Rơ ràng không có những chức năng tâm hoạt động
riêng cho tâm trong những yếu tố nầy. Tâm phụ thuộc
vào những thành phần như: những chập tư tưởng,
tri giác và cảm xúc. Cũng như cái Ngă, sắc và tâm phụ
thuộc vào những thành tố đó và định danh, do đó
tất cả mọi hiện tượng xuất hiện
phụ thuôc lẫn nhau.
Những
quan diểm nầy có thể được thấu rơ qua
những phương tiện của thiền quán để khám phá
làm thế nào mà cái Ngă xuất hiện. Khởi đầu
bằng cách thiền sổ tức (đếm hơi thở)
để thư giản và tâm an tịnh. Và với sự cảnh
giác theo dơi, chậm rải và cẩn thận để nh́n
rơ về cái Ta. Ai hoặc cái ǵ đang suy tư, cảm nhận
và hành thiền? Làm thế nào mà nó có vẻ như hiện hữu?
Nó sinh khởi nơi bạn bằng cách nào? Đó có phải
là cái Ngă được sáng tạo ra trong tâm của bạn
hay đó là một cái ǵ tồn tại cụ thể và độc
lập một cách riêng của nó?
Khi
bạn nhận diện được cái Ngă, nên cố gắng
t́m chỗ của nó trú ngụ? Nó đến từ đâu? Ở
trong đầu…nơi mắt…trong tim…trong đôi bàn tay…trong
dạ dày…hay đôi chân của bạn? Quan sát kỹ đến
từng phần của thân, bao gồm cả những nội
tạng, hệ thống tuần hoàn máu và hệ thần
kinh. Bạn có t́m thấy được Ngă đâu không? Nếu
không, có thể v́ nó quá nhỏ và vi tế, vậy nên chú tâm đến
những tế bào, nguyên tử và những phần của
nguyên tử.
Sau
khi đă quan sát toàn diện cơ thể, một lần nữa
bạn tự hỏi là làm thế nào cái Ngă tự hiển lộ
được. Có phải nó vẫn c̣n biểu lộ một
cách sống động và cụ thể? Thân của bạn
có phải là cái Ta hay không?
Đôi
khi bạn nghĩ rằng tư tưởng của bạn
là cái Ngă. Tư tưởng gồm có những ư nghĩ thường
luôn thay đổi, chuyển biến mau lẹ. Vậy cái
suy nghĩ nào là cái Ta? Là tư tưởng thuộc về t́nh
yêu…suy nghĩ giận hờn…hoặc suy nghĩ nghiêm nghị…hoặc
suy nghĩ yếu đuối? Bạn có thể t́m thấy
Ngă trong tư tưởng không?
Nếu
cái Ngă của bạn không thể t́m thấy trong thân hoặc
tâm, hay nó ở một chỗ nào khác cần t́m đến? Có thể nào cái Ngă
tồn tại một chỗ nào khác hoặc trong một vài
h́nh thái nào khác? Hăy quan sát bất cứ ǵ có thể.
Một
lần nữa, hăy quan sát cách nào mà cái Ta xuất hiện
trong bạn. Có cái ǵ thay đỗi không? Bạn có c̣n tin rằng nó là sự
thật và tồn tại riêng biệt không? Nếu mà Cái Ngă
tự ḿnh hiện hữu vẫn c̣n hiện đó, nên nghĩ
“Đó là cái cái Ngă không thực, không có hiện hữu. Không
có cái Ngă độc lập trong thân và tâm của bạn.
Sau
đó đem tinh thần phân tách cơ thể bạn. Hăy tưởng
tượng những nguyên tử trong thân bạn rời ra
và từng phần di chuyển. Hàng tỉ tỉ các hạt
nhỏ vụn phân tán qua không gian. Hăy h́nh dung rằng chúng ta
quả thực có thể nh́n thấy sự kiện nầy.
Thả lỏng tâm của bạn cách tốt nhất và lắng
tâm lại.
Giờ đây,
th́ bạn đang ở đâu? Cái Ngă tự tồn tại độc
lập c̣n đó không? Hay bạn có thể nhận thức rơ
rằng Ngă không độc lập, chỉ là phụ thuộc
vào sắc và tâm thôi?
Đôi
khi người thiền giả sẽ trải qua kinh nghiệm
về đánh mất cái Ngă hoàn toàn. Người đó không
thể t́m thấy cái ta và cảm giác như thể thân thể
bị biến mất. Không có ǵ nắm bắt đuợc.
Một người tỉnh thức th́ kinh ngiệm nầy
là một sự an lạc lớn, như thể khám phá được
kho báu kỳ diệu. Tuy nhiên, những người có chút ít
tỉnh thức sẽ bị khiếp sợ hoặc cảm
thấy như là vừa bị mất báu vật. Nếu điều
nầy xảy ra, không nên sợ hải là cái Ngă phổ quát đă
bị biến mất- Đó chỉ đơn thuần cảm
giác phát sinh khi chấp trước vào cái Ngă giả dối
là hư vọng.
Qua hành tŕ, sự
thiền quán nầy sẽ giúp làm tan biến từ từ của
quan niệm cứng nhắc về Ngă và ở trong các pháp.Chúng
ta cũng sẽ không c̣n bị chi phối nặng nề bởi
vô minh. Sự nhận thức tinh tế của chúng ta sẽ
thay đổi và mọi pháp xuất hiện dưới một
ánh sáng mới và kỳ diệu..
Quan sát kỷ
các đối tượng, chẳng hạn các h́nh thức,
hiện hữu qua 6 thức của bạn, phân tích bằng
cách nào mà chúng sinh khởi trong bạn. Như thế là phương
pháp bóc trần sự hiện hữu của các pháp sẽ làm
xuất hiện một cách trong sáng trước bạn.
Những
ḍng chữ trên trích từ trong sách “Đại Ấn của
Tánh Không “( The Great Seal of Voidness), văn bản về Đại
Thù Ấn lần đầu tiên của Ngài Panchen Lama ( Ban
Thiền Lạt Ma), chứa đựng chià khoá của tất
cả pháp thiền quán về tánh không. Yếu tố
quan trọng nhất để
nhận thức thấu đáo về Tánh không là chánh kiến
về cái ǵ cần bị loại trừ. Trong các pháp xuất
hiện qua 6 thức của chúng ta, có yếu tố hiện
hữu và yếu tố không hiện hữu.. Cái giả, yếu
tố không hiện hữu cần bị loại bỏ. Sự
chúng đắc tánh không rất là nan giải chừng nào mà
bạn không thừa nhận về Cái Tánh của các pháp
trong ư nghĩa khiếm khuyết,
ví dụ nhự chúng là rỗng không về. Đó là ch́a khoá để
mở kho báu vô tận của tánh không.
Nhưng
sự thừa nhận nầy rất là khó khăn để
chứng đắc và đ̣i hỏi có nền móng về cách
hành tŕ khéo léo. Theo Ngài Lama Tzong-khapa, có 3 vấn đề cần
chú tâm để chuẩn bị cho tâm chúng ta để tự
chứng về tánh không: Truớc nhất, gở bỏ những
chướng ngại và tích lũy phước đức;
thứ hai là , nương theo một vị Thầy tâm
linh; và thứ ba: nghiên cứu
về những đối tượng như là cách hoàn tất
con đường đến giác ngộ và đại thủ
ấn. Bạn sẽ chứng đắc mau chóng nếu
theo 3 lời hướng dẫn nầy. Sự chứng đắc của
chúng ta được thưà nhận tùy thuộc khởi đầu
vào ḷng tin vào vị Thầy. Không có những yếu tố nầy,
dù chúng ta có cố gắng thiền quán nhưng thấy rằng
khó có thể đi sâu vào được, hoặc giả chúng
ta có thể nghe lời giải thích về giáo pháp nhưng t́m
ư nghiă qua những chữ th́ ít kết quả.
Lời giải thích nầy là kinh
nghiệm qua quá tŕnh làm người. Tôi tự ḿnh không có
kinh nghiệm về thiền quán. Tôi thuờng hay quên tánh không,
nhưng thỉnh thoảng Tôi cố gắng tu tập chút ít
giáo pháp. Nếu bạn cũng thực hành như vậy, bạn
có thể tự khám phá ra sự xác thực của những
lời dạy nầy.
Dịch xong ngày 16 tháng 10 năm
2006
Cầu người chẳng bằng cầu ḿnh

Lúc thiền sư Phật Ấn Liêu Nguyên cùng Tô
Đông Pha đi dạo, giữa đường thấy
một tượng đá Mă Đầu Quan Âm, Phật
Ấn lập tức chắp tay lễ bái Quan Âm.
Tô Đông Pha thấy t́nh h́nh
này, không hiểu liền nói:
- Quan
Âm vốn đă là đối tượng để chúng ta
lễ bái, v́ sao trên tay Ngài cũng có xâu chuỗi như chúng
ta rồi cũng chắp tay niệm Phật, rốt
cuộc Quan Âm niệm ai?
Thiền sư Phật Ấn nói:
- Đây cần phải hỏi chính ông.
Tô Đông Pha:
- Tôi làm sao biết Quan Âm lần chuỗi niệm ai?
Phật Ấn:
- Niệm Bồ Tát Quan Thế Âm
Tô Đông Pha:
- Bồ Tát Quan Thế Âm v́ sao phải niệm chính ḿnh?
Phật Ấn:
- Cầu người không bằng cầu chính ḿnh.
(Trích trong thiền thọai Tinh
Hoa Văn Hóa Phương
Đông)
BÊN ĐỜI-
Từng sóng vô thường
chở ánh trăng
Đứng ngắm bên
đời, trường ảo mộng
Hàng
cây núp bóng, tuổi xuân xanh
Bao
năm chăm sóc t́nh ươm nụ
Giọt
nước đêm trăng, vẫn lặng lờ
Những
buổi chiều hoang, mây lặng lẽ
Lá
cây vàng điểm, lá vàng cây
Vi
vu gió thổi muôn trăng rụng
Từng
sóng vô thường chở ánh trăng
Khi
mặt trời xanh, chuông đổ nhẹ
Vô
t́nh huơng nhụy ưóp thinh không
Âm
thanh là sắc hay không nhỉ
Hăy
để nhân gian đón gió về
Giấy
trắng ngàn trang vùng vẫy cánh
Biển
xanh, sóng xoải tận mây nguồn
Suối
huyền tuôn chảy, lời Kinh mở
Rộn
ră tươi cười, buổi sớm mai
03.09.06
Cư
sĩ Liên Hoa

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN
Thaày Thích Nhaät
Töø ḍch
Tôi nghe như vầy, sau khi thành
đạo, Đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp
đầu tiên tại Vườn Nai. Tại đây, Ngài
dạy năm vị Tỳ-kheo đầu tiên rằng:
- Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà
người xuất gia phải tránh xa. Một là
đắm nhiễm các dục thấp hèn, thô bỉ, phàm
tục, không dẫn đến đức hạnh thánh nhân,
không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là
tự làm khổ ḿnh bằng các lối tu khổ hạnh ép
xác, không thích hợp với các phẩm hạnh bậc thánh,
không dẫn đến mục đích giải thoát.
- Này các Tỳ-kheo, vị hành giả có chánh
trí phải loại bỏ hai cực đoan vô ích này. Hăy
đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai
chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhăn và
trí tuệ thấu rơ sự vật, dẫn đến
sự an tịnh, thánh trí, giác ngộ và niết-bàn.
- Này các Tỳ-kheo, con đường Trung
Đạo, chính là tám đường chánh: quan điểm
chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân
chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, ư
niệm chân chánh và thiền định chân chánh.
- Này các Tỳ-kheo, sau đây là bốn chân
lư vi diệu của cuộc đời:
Chân lư thứ nhất là thực tại
đau khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là
khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau
là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong
cầu mà không toại nguyện là khổ và chấp vào
năm nhóm nhân tính là khổ.
Chân lư thứ hai là nguyên nhân
dẫn đến đau khổ. Đó là phiền năo
nhiễm ô, là tâm ái dục, là sự tham đắm và
chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu
ái và phi hữu ái.
Chân lư thứ ba là Niết-bàn, tức là
sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của đau
khổ và những nguyên nhân dẫn đến đau
khổ. Đó là sự ly tham, sự từ bỏ, sự
giải thoát và không c̣n chấp trước.
Chân lư thứ tư là con đường
dẫn đến niết-bàn, đó là tám đường
chánh, là con đường Trung đạo.
- Này các Tỳ-kheo, cần phải liễu
tri về thực tại khổ đau. Đó là
điều trước đây ta chưa từng
được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng
đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật.
Này các Tỳ-kheo, cần phải trừ diệt hoàn toàn
gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là
điều trước đây ta chưa từng
được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng
đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự
vật. Này các Tỳ-kheo, cần phải tu tập
trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn.
Đó là điều trước đây ta chưa từng
được nghe, nay ta đă khám phá, có khả năng
đem lại pháp nhăn và trí tuệ thấu rơ sự vật.
Như vậy, này các Tỳ-kheo chỉ khi
nào tri kiến tuyệt đối như thực của
Như Lai về bốn chân lư vi diệu của cuộc
đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai
khía cạnh đă trở nên hoàn toàn sáng tỏ, th́ khi ấy
Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm
chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn
thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài
người rằng Như Lai đă chứng Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai
đă giải thoát và an tịnh tuyệt đối,
đời sống này là cuối cùng, Như Lai không c̣n
bị luân hồi sanh tử nữa.
Khi bánh xe chánh pháp đầu tiên này
được Như Lai vận chuyển, tuyên bố, các
hàng chư thiên trên địa cầu đều cung kính khen
ngợi: “pháp môn này thật là vi diệu ! Không có Sa-môn,
Bà-la-môn, chư thiên, ma vương hay Phạm thiên nào có
thể thuyết giảng được. Đây là chân lư vi
diệu vừa được Đấng Giác Ngộ khám
phá và truyền bá, đem lại an lạc, hạnh phúc cho
loài trời và loài người.”
Lúc ấy các chư thiên
ở các cơi trời Tứ Đại Thiên vương,
trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời
Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự
Tại, trời Phạm Chúng, trời Đại Phạm,
trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời
Biến Tịnh, trời Quảng Quả, trời Vô
Tưởng, trời Vô Phiền và các chư thiên Phạm
thiên cũng đều đồng thanh khen ngợi
nhiều lần như vậy. Trong khoảng thời gian
ấy, mười ngàn thế giới đều chấn
động và vang rền tiếng pháp. Rồi một
luồng hào quang rộng lớn, rực rỡ phát
chiếu, làm sáng cả vũ trụ. Ngay thời pháp này, tôn
giả Kiều-trần-như đă giác ngộ và
được Đức Phật xác chứng là A-nhă
Kiều-trần-như.


TRẦN GIAN-
MỘT THƯỞ
MƠ LÀM BỒ TÁT
Cư sĩ Liên Hoa
Nếu một mai, em là Bồ Tát
dạo quanh thế giới
dấn thân vào cuộc đời, cứu khổ
nạn tai
ta xin được làm chúng sinh
dâng tâm thành cầu nguyện
vị Bồ Tát vừa thành
nhưng em hăy vun tṛn
nguyện lớn
bước thênh thang đường cầu quả
Phật
mở rộng tấm ḷng cứu vớt sinh linh
xin đừng bận tâm thương xót
một chúng sinh nhỏ nhoi như ta
để nước mắt rơi xuống
làm thành muôn vàn hạt kim cương tràn ngập
trần gian
đời tục lụy lại một lần vô
t́nh vướng bận chân em
hăy để ḿnh ta,
một hũu t́nh, c̣n vương bao phiền năo
đi đứng giữa chợ đời
cất bỏ gánh nặng thân tâm
đi vào cửa nhà thực tại
khi ta lặng ḿnh trong cơi vắng
ở một nơi chốn nào đó
này em, ta đă có bên em
có màng ǵ danh hiệu
chỉ mong làm người b́nh thường
vui với em, năm uẩn không, tṛn lời kinh Bát
nhả
đùa cùng em, mở rộng ḷng, nguồn chú lực
Đại bi
cùng nh́n nhau, mắt Na-la diên sáng rực sao trời
Không tướng
nụ cười cánh sen hồng cơi Hoa Tạng, rạng
ngời tuyệt đẹp….
28.11.06

ĐỨC PHẬT NÓI G̀ VỀ TIỀM NĂNG CỦA CON NGƯỜI
Thích Nữ
Đồng Anh
Khả năng tiềm tàng kỳ diệu chói sáng rực
rỡ của mỗi chúng sanh, nay đă được
Đức Phật, người đầu tiên trong
lịch sử loài người, chứng minh và chỉ rơ.
Đó là Phật tánh, là khả năng thành Phật hay nói
đúng hơn là sự trở về với nguồn tâm
tuệ giác, là sự nhận diện về “Bản lai
diện mục” của chính ḿnh.
Phải chăng trong quá tŕnh tu chứng của
Đức Phật, Đức Phật lịch sử
của nhân loaị đă nói lên ḷng tự tín rằng con
người có một kho tàng vô tận tiềm ẩn;
đó là khả năng nhận chân được sự
vật (dharma), khả năng thẩm thấu nguyên
nhân sinh diệt của các pháp để từ đó
vượt qua được tất cả thú vui vật
chất tạm bợ của cuộc đời. Cái mà dính
vào nó th́ vui ít khổ nhiều. Chính v́ vậy mà Bồ-tát
Tất-đạt-đa ngày đêm nỗ lực không
hề chán nản với mục đích v́ ḷng từ bi
đối với tất cả chúng sanh.
Suốt trong sáu năm khổ hạnh Ngài đă cho con
người bài học về sự nhẫn nại, sự
nỗ lực và t́nh thương của Ngài đôí với
chúng sanh. Và khi từ bỏ hai cực đoan là lợi
dưỡng và khổ hạnh, mà Ngài cho rằng không thích
hợp và không mang lại lợi ích cho người tịnh
hạnh. Ở đây nói lên sự sáng suốt của Ngài,
có một sự quán sát tinh tường của Ngài. V́
vậy Ngài vẫn chấp nhận tất cả những
ǵ thử thách đối với Ngài. Và Ngài ngày đêm
nỗ lực và nỗ lực... Thật cảm
động biết bao!
Và quả thật Ngài đă chứng minh được
tiềm năng vĩ đại của con người. Ôi!
trong lúc sao mai vừa mọc, và chắc chắn trời
đất chuyển rung, nhạc trời trổi dậy,
muôn hoa bừng nở đón mừng một vị Phật
ra đời cứu độ tất cả chúng sanh
đang ch́m đắm trong biển mê.
Ngài đă dựng đứng lại những ǵ bị
quăng bỏ, bị quên lăng. Đó là khả năng
tiềm tàng trong mỗi chúng sanh cái có thể gọi là
”Phật tánh” hay khả năng trí giác thẩm thấu
thật tánh của các pháp. Và chính v́ ḷng từ bi vô
lượng đối với chúng sanh mà Ngài không dấu
diếm điều ǵ trong sự kinh nghiệm tu tập
của ḿnh, sự thấy biết chân thật về các
pháp của nhân sinh vũ trụ. Ngài mạnh dạn tuyên
bố: “nguồn gốc thế gian và con đường
dẫn đến sự chấm dứt thế gian
đều nằm trong tấm thân một trượng
nầy, cùng với tri giác và tư tưởng.”[1] Nghĩa là thế gian vốn là
đau khổ. Do đó, chấm dứt hay tiêu diệt
thế gian là chấm dứt khổ năo tức là
Niết-bàn vậy. 
Rơ ràng Ngài đă xác chứng Niết-bàn có được
trong kiếp sống nầy, trong cộc đời
nầy, hạnh phúc chân thực ngay trong hiện tại
nầy nếu con người thật sự muốn
đạt được nó, với sự nỗ lực
ngày đêm, và lấy Giới- Đinh -Tuệ làm nền
tảng hay lấy Bát Chánh Đạo để diệt trừ
tham sân si, đoạn tận ái dục, đi trên con
đường Trung Đạo và hẳn nhiên vị ấy
với ḷng từ bi vô lượng trong chí ngyện cao
cả đối với tất cả chúng sanh một cách
b́nh đẳng.
Có thể nói Đức Phật là tấm gương
chói sáng về sự nỗ lực của chính ḿnh dành cho
nhân loại và đặc biệt là cho những ai muốn
đi trên con đường an ổn nhất, và thật có
được hạnh phúc như ḿnh mong muốn, chắc
chắn nó không phải nhờ ở sự van xin cầu
lụy ở người nào khác hơn ở sự tinh
tấn nỗ lực của chính ḿnh. Đức Phật
luôn luôn nhắc nhở con người rằng: Hăy tự xem
ḿnh là hải đảo của chính ḿnh. Hăy tự xem ḿnh là
nơi nương tựa của chính ḿnh, không nên t́m
nương tựa nơi ai khác.[2] Và Ngài luôn thiết tha căn
dặn rằng: các ngươi hăy tự ḿnh nỗ lực.
Đấng Như Lai chỉ là Bậc Đạo Sư.[3]
Thật vậy cố gắng cá nhân là yếu tố
cuối cùng để thành tựu mục tiêu. Sự thành
tựu đạo quả giác ngộ vĩ đại
của Đức Phật đă làm cho nhân loại bừng
tỉnh sau đêm dài mộng mị, bỏ đi sự
tự ti mặc cảm của chính ḿnh và có thể nói
đầy tự hào về sự có mặt của ḿnh trong
kiếp người với nhiều thuận duyên trong
cuộc đời nầy. Nhất là được
gặp Phật Pháp, được học hỏi
về bài học “làm người” từ bậc vĩ nhân
để lại. Ngôi nhà chánh pháp của Người không
có một sự phân chia, kỳ thị về chủng
tộc, màu da, về giai cấp cao thấp, giàu nghèo, sang
hèn, nam nữ, già trẻ. Ngài đối với tất
cả chúng sanh bằng một t́nh thương b́nh
đẳng, Ngài muốn tất cả chúng sanh đều
được sống trong t́nh thương vô bờ
ấy và chỉ cho phương pháp để tự ḿnh có
thể vượt thoát khỏi mọi khổ đau và đến
được mục tiêu tối thượng. Ngài
dạy: “khi tự ḿnh làm điều tội lỗi th́
tự ḿnh làm ô nhiễm; khi ta tránh điều tội
lỗi th́ lúc đó chỉ có ta gội rửa cho ta. Trong
sạch hay nhiễm ô là tự nơi ta, không có ai có thể
làm cho người khác trở nên trong sạch.” (Kinh Pháp Cú).[4]
Thật vậy, giáo pháp của Ngài rực rỡ, chói
sáng v́ nó hoàn toàn vượt ra tất cả sự nô lệ
về tinh thần, hoàn toàn chỉ có tự do lựa
chọn và quyết định đời ḿnh theo ư chí ḿnh.
Với Ngài đẳng cấp cao thấp, sang hèn là do hành
động của mỗi người, mỗi chúng sanh
chịu trách nhiệm về hành động của chính ḿnh
chứ không có giai cấp nào làm nên được. Trong kinh
Tăng Chi (Anguttara Nikaya), đại ư của lời
Ngài khuyên bảo dân Kalama rất cảm động, sâu
sắc và rất trí tuệ. Ngài khuyên không làm nô lệ
dưới bất cứ h́nh thức nào, tất cả
bằng sự quan sát, nhận xét của ḿnh những ǵ nên
làm, nên theo, những ǵ không nên làm, không nên theo và có lợi ích
an vui cho ḿnh, cho người hay không. Chứ không thể nào
mù quáng tin theo v́ bất cứ lư do nào khác.
Do vậy, trong sự thành lập giáo hội Tăng
lữ của đức Phật, có lẽ không ai mà không
thấy được sự khoan dung độ
lượng của Ngài; Ngài tiếp nhận tất cả
tầng lớp trong xă hội, trên từ bậc vua quan và
thứ dân cùng đinh hạ tiện, cả tên cướp
sát nhân như Angulimala cho đến hạng gái giang hồ
như Ambapali cũng được Ngài cứu độ và
dạy cho cách tự làm trong sạch chính ḿnh, an lạc chính
ḿnh bằng chánh đạo.
Và đặc biệt, ở đây, có thể nói ḷng
từ bi của Đức Phật ưu tiên nâng đỡ
cho hàng nữ giới, bởi Ngài nhận thấy nữ
giới tay yếu, chân mềm . . . luôn cần
được nhiều sự hỗ trợ. Đây là
điều diễm phúc và đáng vui mừng nhất cho
giới nữ, v́ cũng như người nam,
người nữ có khả năng chứng ngộ chân lư
một cách b́nh đẳng.
Đây là niềm khích lệ lớn, niềm tự hào
lớn không dành cho bất cứ ai mà đây chính là tiềm
năng vĩ đại của con người
được chính con người phát hiện. Quả
đúng thật như vậy, không ai có thể phủ
nhận về sự chứng ngộ chân lư của
Đức Phật lịch sử của nhân loại,
đấng Sakyamuni. Chính sự chứng ngộ lịch
sử đó là niềm tự hào lớn cho nhân loại và
cho tất cả chúng sanh. Chỉ có hành động tạo
tác sai khác của chính ḿnh và sự nắm bắt sai lạc
của chính ḿnh để rồi đắm ch́m trong
biển mê, rồi quên cả lối về, không nhận ra
ḿnh là ai, như chàng cùng tử với hạt châu trong chéo áo
mà phải lang thang dong ruỗi ngược xuôi !
Phải chăng cái khả năng tiềm tàng kỳ
diệu chói sáng rực rỡ của mỗi chúng sanh nay
đă được Đức Phật là người
đầu tiên trong lịch sử loài người,
chứng minh và chỉ rơ. Đó là Phật tánh, là khả
năng thành Phật hay nói đúng hơn là sự trở
về với nguồn tâm tuệ giác, là sự nhận
diện về “Bản lai diện mục” của chính ḿnh.
Do vậy mà Ngài hoàn toàn thoát ra khỏi bất cứ h́nh
thức chấp thủ nào, Ngài thong dong tự tại trong
thể tánh thường tịch chiếu. Đó là những
ǵ mà Đức Phật nói về tiềm năng con
người. Đây cũng chính là điều khiến cho
nhân loại nghĩ về chính ḿnh trong thế kỷ 21
nầy, để lợi ích lớn cho ḿnh, người và
chúng sanh.
[1] S.
[2] D. II. 100.
[3] Kinh
Pháp Cú, kệ 276.
[4] Kinh
Pháp Cú, kệ 165.
KINH PHÖÔÙC ÑÖÙC
Thaày Thích Nhaát Haïnh ḍch
Đây là những điều tôi được nghe
thời Đức Thế Tôn c̣n cư trú gần thành
Xá-vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong
vườn cây Kỳ-đà. Hôm đó trời đă vào khuya,
có một vị thiên hiện xuống tham vấn
Người, hào quang và vẻ đẹp của thiên
giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh
lễ Đức Thế Tôn, vị thiên giả xin tham
vấn Người bằng một bài kệ:
Thiên và nhân thao thức
Muốn biết về
phước đức
Để sống
đời an lành
Xin Thế Tôn chỉ
dạy.
Khi ấy, Đức Thế Tôn tán thán vị thiên nhân
và lần lượt chỉ dạy mười
phương pháp nuôi lớn phước đức như
sau:
1. Phương pháp thứ nhất là
"Lánh
xa kẻ xấu ác,
Luôn thân cận người
hiền,
Tôn kính bậc đáng
kính,
Là phước đức lớn
nhất."
2. Phương pháp thứ hai là
"Sống trong môi trường tốt,
Được tạo tác nhân lành,
Được đi trên đường
chánh,
Là phước đức lớn
nhất."
3. Phương pháp thứ ba là
"Có học
có nghề hay,
Biết hành
tŕ giới luật,
Biết nói
lời ái ngữ,
Là phước đức lớn
nhất."
4. Phương pháp thứ tư là
"Được cung
phụng mẹ cha,
Yêu thương gia
đ́nh ḿnh,
Được hành
nghề thích hợp,
Là phước
đức lớn nhất."
5. Phương pháp thứ năm là
"Sống ngay
thẳng bố thí,
Giúp quyến thuộc thân
bằng,
Hành xử không tỳ vết,
Là phước
đức lớn nhất."
6. Phương pháp thứ sáu là
"Tránh không làm
điều ác,
Không say sưa nghiện
ngập
Tinh cần làm việc
lành,
Là phước đức lớn
nhất."
7. Phương pháp thứ bảy là
"Biết khiêm cung
lễ độ
Biết
đủ và nhớ ơn,
Không
bỏ dịp học đạo,
Là phước đức lớn
nhất."
8. Phương pháp thứ tám là
"Biết kiên tŕ,
phục thiện,
Thân
cận giới xuất gia,
Dự
pháp đàm học hỏi,
Là phước
đức lớn nhất."
9. Phương pháp thứ chín là
"Sống tinh cần
tỉnh thức,
Học chân lư nhiệm
mầu,
Thực chứng
được Niết-bàn,
Là phước
đức lớn nhất."
10. Phương pháp thứ mười là
"Hành xử trong nhân
gian,
Tâm không hề lay
chuyển,
Phiền
năo hết, an nhiên,
Là phước đức
lớn nhất."
Để chấm dứt bài pháp
ngắn gọn nhưng sâu xa và thiết thực này,
Đức Phật đă khuyến khích đại chúng
bằng bài kệ sau đây:
"Ai sống được như
thế
Đi đâu cũng an toàn,
Tới đâu cũng vững mạnh,
Phước đức của tự
thân."
Sau khi nghe Đức Phật tuyên
dương mười cách thức tạo phước
đức, toàn thể đại chúng đều vui
mừng chưa từng có và phát nguyện làm theo.

VÀI SUY NGHĨ VỀ QUAN
NIỆM
ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ VÀ ĐỨC PHẬT TÔN
GIÁO
Thích Thị Quả
Chúng ta không thể nói
đức Phật lịch sử là con người b́nh
thường như những con người khác bởi v́
Ngài không được sinh ra từ nơi bất tịnh,
lớn lên trong đau khổ và chết dần trong đau
khổ. . . Đức Phật trong kinh Đại
thừa không phải là đức Phật tôn giáo mà nhằm
tiêu biểu cho pháp môn mà ngài đang giảng. . . Chúng ta
đừng bao giờ đem những nhăn hiệu
“đức Phật lịch sử” hay “đức Phật
tôn giáo” áp đặt lên Ngài!
Kính quư liệt vị,
Ngày Phật thành đạo
năm nay, chúng ta được về Bồ-đề
Đạo Tràng, nơi đức Phật thành đạo,
để ôn lại ngày lịch sử thiêng liêng ấy, và cùng
thảo luận chuyên về đức Phật và ngày thành
đạo của Ngài. Nhân đây tôi cũng xin
được nói lên vài suy nghĩ của ḿnh về
đức Phật lịch sử và đức Phật tôn
giáo.
Gần đây, có nhiều
học giả thuộc tín đồ của các tôn giáo khác
nghiên cứu Phật học. Một số ít trong họ
đă cho rằng có hai đức Phật. Đó là
đức Phật lịch sử và đức Phật tôn
giáo. Quan điểm này, thực sự đă đưa
đến sự hiểu lầm về đức Phật
cho nhiều thế hệ tín đồ Phật giáo cũng
như những người nghiên cứu Phật
học.
Qua bao năm miệt mài nghiên
cứu Phật pháp, tôi chưa t́m thấy một
đoạn kinh nào trong Tam Tạng Pàli cũng như
Đại thừa đề cập đến vấn
đề: đây là đức Phật lịch sử và
đây là đức Phật tôn giáo.
Trong thực tế, chỉ có
một đức Phật Thích-ca xuất hiện ở
thế gian này. Thế th́ đức Phật nào là
đức Phật lịch sử và đức Phật nào
là đức Phật tôn giáo?
- Phải chăng đức Phật
phóng hào quang, soi sáng mười tám ngàn thế giới
phương đông (phẩm tựa, Kinh Pháp Hoa) là
đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật bày tướng
lưỡi rộng dài đến trời Phạm thiên,
tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng hào quang,
thảy đều soi khắp thế giới mười
phương (phẩm Như Lai Thần Lực) là
đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật mà trên đầu
của Ngài mọc lên một hoa sen ngàn cánh, mỗi cánh có
một hóa Phật ngồi, đồng thời nói thần
chú Lăng-nghiêm và sai ngài Văn Thù đem thần chú ấy
giải thoát cho ngài Anan (Kinh Lăng-nghiêm) là đức
Phật tôn giáo?
- Lại khi ngài Xá-lợi-phất hoang
mang rằng cơi nước chư Phật đều thanh
tịnh mà cơi nước của Phật Thích-ca lại
bất tịnh, biết rơ tâm của ngài Xá-lợi-phất,
Phật bấm ngón chân xuống đất, cơi Ta-bà rung
động và cơi đất lập tức biến thành
Tịnh Độ (phẩm Phật quốc, Kinh Duy Ma) là
đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật có một
đời sống vô lượng vô biên A-tăng-kỳ
kiếp. Ngài có vô lượng hào quang, vô lượng công
đức và ngài đă kiến tạo thế giới
của ngài bằng 48 lời thệ nguyện (Kinh
Đại Bửu Tích và Kinh A-di-đà) là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật, lại là
một thầy thuốc đại tài chuyên chữa trị
cho chúng sanh (Kinh Dược Sư) là đức Phật tôn
giáo?
- Phải chăng đức Phật
Tỳ-lô-giá-na có ba thân trong kinh Hoa Nghiêm là đức
Phật tôn giáo?
- Đức Phật hiện thần
thông làm cho hai thanh niên Bà-la-môn thấy rơ tướng
đại nhân của Ngài (Kinh Lakkhana thuộc Trường
Bộ kinh VI) là đức Phật tôn giáo?
- Đức Phật dùng thần thông
làm cho tên cướp Angulimala chạy hết tốc lực
mà vẫn không đuổi kịp ngài (Kinh Angulimala thuộc
Trung Bộ II) là đức Phật tôn giáo? v.v. . .
Các Ngài không phải là
đức Phật tôn giáo với ư nghĩa như là
những nhân vật thần thoại, hoang đường,
ảo tưởng hay là Thượng đế. Các Ngài không
phải là thần linh vạn năng, bắt buộc con
người phải cúi đầu vâng lệnh. Đức
Phật Thích-ca chính Ngài đă phủ nhận sự hiện
hữu của một oai lực siêu thế, một chúng
sanh toàn năng hay năng lực khởi thuỷ của các
sự vật, cũng không có tính cách thần khải, không
có người truyền đạt tin tức và những
lời sấm của một thần linh từ đâu trên
cao xuống con người (xem Đức Phật và
Phật Pháp của Narada, trang 259).
Đức Phật trong kinh
Đại thừa cũng như trong kinh Pàli là những
nhân vật tiêu biểu cho pháp môn mà đức Phật
đang giảng. Chẳng hạn như đức Phật
trong phẩm tựa Kinh Pháp Hoa là nhân vật biểu
trưng cho tri kiến Phật: nhằm giới thiệu cho
mọi người biết rằng tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh. Muốn ngộ nhập tri
kiến Phật của ḿnh trước tiên hành giả
phải dùng trí tuệ Trung đạo (phóng hào quang giữa
chặng mày) để thấy rơ sáu căn, sáu trần, sáu
thức (mười tám ngàn thế giới phương
đông), thấy rơ từng động tịnh của chúng
sanh (thấy rơ chư Phật, Bồ-tát, Thinh Văn và chúng
sanh ở các cơi kia). Thấy rơ được như
vậy chính là đă ngộ nhập được tri kiến
Phật của ḿnh (xem Thích Từ Thông, Pháp Hoa Trực
Chỉ Đề Cương, phẩm tựa).
Đức Phẩm ở
phẩm Như Lai thần lực, Kinh Pháp Hoa là nhân vật
biểu trưng cho năng lực kỳ diệu của
chơn tâm. Sau khi hành giả đă thấy được
Phật tri kiến, tâm của họ trở nên thuần
tịnh. Từ bản giác diệu minh ấy phát ra trí
tuệ tṛn sáng (những lỗ chân lông đều phát ra vô
số hào quang) và năng lực thuyết pháp của ông
giờ đây trở nên hữu hiệu hơn, có thể
giúp chúng sanh vượt thoát sanh tử luân hồi trong tam
giới (tướng lưỡi rộng dài đến cơi
trời Phạm thiên) (xem Thích Thiện Trí, Pháp Hoa Giảng
Nghĩa, phẩm Như Lai thần lực).
Đức Phật trong phẩm
Phật quốc kinh Duy-ma, là nhân vật biểu trưng cho
pháp môn bất nhị. Nghĩa là Tịnh Độ
(tịnh) và Ta-bà (nhiễm) không hai, chúng sanh và Phật không hai
(Phật bấm ngón chân xuống đất cơi Ta-bà lập
tức biến thành Tịnh độ) và chỉ có tâm
của chúng sanh tịnh hay nhiễm mà thấy cơi Phật
trở nên tịnh hay bất tịnh (xem Thích Từ Thông,
Duy Ma Cật Trực Chỉ Đề Cương, phẩm
Phật Quốc).
Đức Phật A-di-đà
trong kinh Đại Bửu Tích và kinh A-di-đà là nhân vật
biểu trưng cho tự tánh A-di-đà của mỗi chúng
sanh, trong tự tánh ấy có đủ vô lượng
thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức
(xem Chán and Zen Teaching, trang 42).
Đức Phật trong kinh
Dược Sư là nhân vật biểu trưng cho tâm
từ bi, chính nó là môn thuốc chúa, có thể trị lành
bệnh chấp ngă cho chúng sanh (xem 10 lời nguyện
của Phật Dược Sư).
Đức Phật Tỳ-lô-giá-na trong
kinh Hoa Nghiêm là nhân vật tượng trưng cho Pháp thân
Phật. Trong Pháp thân đă có đủ Báo thân và Hóa thân.
Lục Tổ Huệ Năng nói “Pháp thân, Báo thân cập Hóa
thân, tam thân bổn lai thị nhứt thân.” Nghĩa là Pháp
thân, Báo thân và Hóa thân, ba thân ấy vốn là một thân. Và
Lục Tổ c̣n chỉ rơ rằng: “Thanh tịnh Pháp thân
nhữ chi tánh dă, viên măn Báo thân nhữ chi trí dă, thiên bá
ức Hóa thân nhữ chi hành dă.” Nghĩa là Thanh tịnh Pháp
thân là tự tánh thanh tịnh, Viên măn Báo thân là trí tuệ và
Thiên bá ức Hóa thân là hạnh của mỗi chúng ta.
Mỗi chúng sanh đều có đủ ba thân này (xem Pháp
Bảo Đàn Kinh, Taiwan 1962, trang 54 và trang 67, bản chữ
Hán).
Đức Phật trong kinh
Lăng-nghiêm được biểu trưng cho chơn tâm
thường trú, thể tánh tịnh minh của mỗi chúng
sanh. V́ ngài Ananda sống với vọng tâm cho nên ngài bị
Ma-đăng-già quyến rũ. Tuy nhiên vọng tâm không
phải thật có, cho nên đức Phật đă dùng
huyễn pháp (Hóa Phật) để đối trị
huyễn pháp (chú Sat́ cala) giúp cho ngài Ananda thoát khỏi
Ma-đăng-già và sống lại với chơn tâm thanh
tịnh, và bản giác diệu minh của chính ngài (xem
Sùrangama Sutra, trang 01-82).
Đức Phật trong kinh Lakkhana
(Trường Bộ kinh IV) và kinh Angulimala (Trung Bộ II)
giống như đức Phật trong phẩm Như Lai
Thần Lực (kinh Pháp Hoa), đă được viện
dẫn ở trên.
Chính v́ kinh Đại thừa
quá ư trừu tượng, khó hiểu, khó bàn, nên ông Kern,
nhà bác học Hà Lan đă viết trong bài giới thiệu
cho quyển sách đă dịch của ông tên là “The Lotus of the
True Law” rằng: “Kinh Pháp Hoa có ư đề cao đức
Phật Thích-ca như một nhân vật siêu nhân, là thượng
đế của những thượng đế toàn
năng toàn trí ...” (xem Kern, Introduction of the Lotus of true Law, trang
27). Theo ông Kern, đức Phật trong kinh Pháp Hoa là
đức Phật tôn giáo và Ngài được đề
cao như một thượng đế của những
thượng đế.
Dịch giả của quyển
Trường bộ kinh III đă viết ở phần
đại ư của kinh Đại Bổn như sau:
“Chúng ta thấy sự sai khác
giữa hai quan niệm đức Phật lịch sử
như được diễn tả trong Đại
Phẩm (Mahavagga) về đức Phật Thích-ca với
rất ít thần thông, nếu không phải là không có, và
đức Phật tôn giáo như đă diễn tả trong
kinh này (kinh Đại Bổn) với các điềm
tướng xuất hiện các thần thông diệu
dụng. Ở đây chúng ta chứng kiến sự bắt
đầu c̣n dè dặt và thận trọng, đặt
nhẹ dưới h́nh thức một chuyện tiền
thân về đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi)... Sau này
đặc tính tôn giáo lan qua các mẫu tích về đức
Phật Thích-ca Mâu-ni đến nỗi bao phủ con
người lịch sử Sa-môn Gotama như chúng ta
chứng kiến sau này.”
Tác giả bài viết này đă
xuyên tạc bài kinh Đại Bổn và đă gán ghép một
cách phi lư đặc tính tôn giáo (Thượng đế,
mặc khải, mê tín) vào năng lực thần thông
của đức Phật Tỳ-bà-thi và sáu đức
Phật khác trong kinh ấy. Vị này vô t́nh đă gieo
mầm độc vô minh và chấp ngă vào mảnh
đất tâm trong sáng, thanh tịnh của nhiều thế
hệ Tăng Ni và Phật tử, làm cho họ mịt
mờ trên con đường học đạo giác
ngộ!
Nếu cho rằng đức
Phật thần thông là đức Phật tôn giáo, th́
đức Phật Thích-ca Mâu Ni, ngay trong đêm thành
đạo Ngài đă trở thành đức Phật tôn giáo.
V́ rằng đêm ấy Ngài đă chứng được
sáu thứ thần thông. Đó là:
- Thiên nhăn thông: Mắt Ngài có thể
nh́n thấy được vật bên kia vách, vật bên kia
núi, từ cơi Ta-bà, Ngài có thể thấy được
những thế giới xa xăm khác.
- Thiên nhĩ thông: Tai Ngài có thể nghe
và hiểu được tiếng của muôn loài.
- Tha tâm thông: Ngài hiểu rơ
được tâm tư t́nh cảm của mỗi chúng sanh.
- Túc mạng thông: Ngài biết rơ
những kiếp quá khứ của Ngài và của chúng sanh
như một đời, hai đời cho đến vô
số đời.
- Thần túc thông (c̣n gọi là
biến hóa thần thông): Ngài, từ một thân, biến
thành nhiều thân, và từ nhiều thân biến thành một
thân. Ngài có thể đi qua vách, qua núi, đi trên
nước, ngồi trên hư không. Ngài có thể sờ
mặt trăng, mặt trời với bàn tay của Ngài.
- Lậu tận thông: Ngài đă
gọt sạch phiền năo từ tâm của Ngài và dạy
cho người khác về phương pháp đoạn
trừ cấu nhiễm để chứng đạt
Niết bàn (xem Đức Phật và Phật Pháp, trang 51 –
53; xem kinh Maha Sakuludi Dayi, Trung bộ II trang 308, kinh Maha
Sihanada Sutta (Kinh Đại Sư Tử Hống) Trung bo?I,
trang 120).
Như vậy, thần thông không
những chỉ bao phủ con người lịch sử
Sa-môn Gotama mà nó c̣n ăn sâu tận đầu, năo, tim, gan,
qua từng hơi thở và từng bước đi
của con người lịch sử Sa-môn Gotama.
Như chúng ta đă biết,
không những đức Phật mới đặt vấn
đề thần thông trong kinh Đại Bổn mà Ngài
đă giảng nhiều về thần thông trong kinh
Đại Sư Tử Hống, Trung bộ I, kinh Kevadha,
Trường bộ I, kinh Angulimala, Trung bộ II, kinh Lakkhana,
Trường bộ IV, v.v... Quyển “The Buddha and His
Teachings” cũng đă chép những mẫu chuyện về
thần thông của đức Phật: Ngài đă dùng
thần thông độ bà Khema, thứ hậu xinh
đẹp của B́nh Sa Vương; độ bà Patacara
một phụ nữ bất hạnh; hàng phục con
độc long của ngài Ưu-lâu-tần-loa; hàng phục
voi say của vua A-xà-thế. Khi
Đề-bà-đạt-đa từ trên núi cao, xô một
tảng đá to cố ư giết Phật v́ mục đích
muốn làm giáo chủ Tăng đoàn, Đức Phật
đă dùng thần thông làm cho tảng đá ấy vở ra
từng mảnh vụn v.v...
Thần thông không phải là
vấn đề tôn giáo hay không tôn giáo mà nó là năng
lực kỳ diệu của chơn tâm (phẩm Pháp Sư
Công Đức, kinh Pháp Hoa). Mỗi chúng sanh đều có cái
năng lực diệu dụng ấy. Một ngày mà lớp
bụi vô minh bao phủ trên tấm gương sáng trí
tuệ được quét sạch hoàn toàn, th́ cái năng
lực kỳ diệu ấy sẽ xuất hiện.
Nếu chúng ta cho rằng
đức Phật tôn giáo là sản phẩm của ảo
tưởng, hoang đường, thần thoại th́ vô
t́nh chúng ta đă nói đức Phật là “Linh hồn
của những điều kiện không có linh hồn, là
trái tim của thế gian không có trái tim, là nha phiến
của dân chúng” (Marx). Và chính chúng ta tự giới thiệu
ḿnh là người kém hiểu biết về giáo lư thuần
túy của đức Phật.
Về khía cạnh lịch
sử, đức Phật Thích-ca được xem là
đức Phật tôn giáo v́ Ngài là giáo chủ của
một tôn giáo, có giáo đoàn và giáo lư.
Để tỏ ḷng tôn kính
đối với đức Phật, học giả Radha
Krishnan đă viết:
“Nơi đức Phật
Cồ-đàm ta nhận thấy một tinh hoa toàn diện
của người phương Đông. Ảnh
hưởng của Ngài trong tư tưởng và đời
sống nhân loại là một kỳ công hy hữu, cho
đến nay không thua kém ảnh hưởng của
bất cứ vị giáo chủ nào trong lịch sử.
Mọi người đều sùng kính tôn Ngài là
người đă dựng lêm một hệ thống tôn giáo
vô cùng thâm cao huyền diệu, Ngài thuộc về lịch
sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh
của người thiện trí, bởi v́ đứng
về phương diện trí thức, đạo
đức trang nghiêm và tinh thần minh mẫn chắc
chắn Ngài là một trong những bậc vĩ nhân cao
thượng nhất của lịch sử” (xem Gotama the
Buddha, trang 1).
Tôn giáo mà đức Phật
đă dựng lên không phải là một hệ thống tín
ngưỡng và tôn sùng lễ bái, trung thành với một
thần linh siêu nhiên. Niềm tin của người
Phật tử đặt vào đức Phật cũng
giống như người bệnh đặt niềm tin
vào vị lương y tài giỏi, hay niềm tin của
người học tṛ đặt trọn vẹn nơi
thầy. Mặc dù nương tựa nơi đức
Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo
sư, là thầy dắt dẫn trên con đường
giải thoát, người Phật tử không qui phục mù
quáng như kẻ nô lệ, mà họ nương theo giáo pháp
tự nỗ lực để đạt đến giác
ngộ giải thoát. Giáo sư Rhys David đă viết:
“Dầu là Phật tử hay không là
Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn
giáo lớn trên thế giới, trong tất cả tôi không
t́m thấy một tôn giáo nào có cái ǵ đẹp đẽ và
hoàn toàn hơn Bát chánh đạo của đức
Phật. Tôi chỉ c̣n một việc làm là thu xếp
nếp sống cho phù với con đường ấy (xem
The Buddha and His Teachings, trang 160).
Chúng ta không thể nói
đức Phật lịch sử là con người b́nh
thường như những con người khác bởi v́
Ngài không được sinh ra từ nơi bất tịnh,
lớn lên trong đau khổ và chết dần trong đau
khổ (xem phần Bồ-tát nhập thai, kinh Hy Hữu
Vị Tằng Hữu, Trung bộ III, số 123, trang 248).
Theo tinh thần kinh Pháp Hoa,
đức Phật Thích-ca đă thành Phật từ vô
lượng kiếp (phẩm Như Lai Thọ
Lượng). V́ thấy chúng sanh đang bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa tham, sân, si, ưu bi
khổ năo. Hiện thế họ phải chịu nhiều
đau khổ như sanh, già, bịnh, chết: khổ, yêu
thương mà phải xa ĺa: khổ, oán thù gặp nhau:
khổ, cầu mong không được toại ư: khổ,
chấp mắc về thân năm uẩn là khổ. Họ
c̣n chịu nhiều đau khổ hơn nữa trong
địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh trong đời
sống tương lai của họ (phẩm Thí dụ). V́
ḷng thương chúng sanh, v́ an lạc và hạnh phúc cho
chư thiên và loài người, Ngài đă giả vờ sinh
vào đây như một con người; Ngài đă thị
hiện có sinh ra đời, hưởng thọ dục
lạc, xuất gia, tu hành, thành đạo, thuyết pháp
độ chúng sanh và nhập Niết-bàn ở tuổi 80.
Đó là phương tiện của Ngài, nhằm giúp cho
chúng sanh căn cơ hạ liệt biết quay về
với chánh pháp và từng bước dắt họ
tiến gần đến Phật quả (phẩm
Phương Tiện).
V́ lư do này, vừa sinh ra
đời Ngài đă có đủ 32 tướng tốt, 80
vẻ đẹp, có đủ đại từ,
đại bi, thập lực, tứ vô sở úy;
đến nỗi vị Bà-la-môn tên A-tư-đà, một
vị tướng số giỏi nhất thời bấy
giờ, phải sụp lạy dưới chân Ngài, khi
vị này thấy rơ 32 tướng đại nhân của
Phật.
Đức Phật đă
dạy rằng Ngài không phải là Thượng đế,
cũng không phải là thần thánh, cũng không phải là
con người mà Ngài là Phật (xem Nalinaksha Dutt, Mahayana
Buddhism, trang 140).
Chắc chắn Phật không phải
là người thường, Ngài sinh ra với cái nghiệp
phi thường mà Ngài đă tạo ra từ vô lượng
kiếp.
Đến đây xin
được kết luận rằng đức Phật
là đức Phật. Ngài có đủ thần thông diệu
dụng, đại bi đại trí và Ngài đă để
lại cho nhân loại một lịch sử vẻ vang
về cuộc đời của Ngài! Chúng ta đừng bao
giờ đem những nhăn hiệu “Đức Phật
lịch sử” hay “Đức Phật tôn giáo” áp đặt
lên Ngài!

PHẬT GIÁO
HÔM NAY VÀ NGÀY MAI
Tiến sĩ Nandadeva Wijesekera
Diệu
Hương dịch
Rơ ràng rằng Phật giáo rất cần cho thế giới hiện đại ngày nay mặc dù Phật giáo đă xuất hiện hơn 2.500 năm rồi. Bởi v́ thông điệp của Phật giáo luôn luôn phù hợp với mọi thời đại. Thông điệp này mang đến t́nh thương, ḷng từ bi, an lạc, hạnh phúc và ḥa b́nh.
Ḥa b́nh là một đặc tính mà thế giới hiện tại đang bàn bạc và đây là điều quan tâm nhất của các nhà lănh đạo và các tổ chức trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một số đông quần chúng không có tin hẳn vào bức thông điệp do Đức Phật tuyên bố, v́ hai lư do:
Một là thông điệp hoà b́nh, t́nh thương và hạnh phúc của Đức Phật cho tất cả chúng sanh đă được tuyên thuyết ở một giai đoạn khi mà các châu lục bị phân chia bởi vật lư, địa lư, ngôn ngữ, và chủng tộc. Sự cô lập của địa lư, sự giới hạn của thông tin và bị hạn chế theo từng vùng đă khiến cho mê tín tràn lan và Phật pháp không được san sẻ. Trong một t́nh h́nh như vậy cái không biết (tri thức) lấn át cái biết th́ dù các nước hiện tại đă phát triển nhiều về khoa học kỹ thuật trong thế giới hiện đại th́ cũng sẽ trở nên không phát triển hoặc đang phát triển, v́ dân chúng sống trong các lục địa rộng lớn này sẽ không có cơ hội để nghe, biết và hiểu những tinh hoa của giáo lư Đức Phật.
Một yếu tố khác chống lại sự phát triển truyền bá thông điệp của Đức Phật là phương thức phổ biến tôn giáo. Có tôn giáo đă truyền bá bằng gươm đao và chiếm đoạt. So với điều này, Đạo Phật là một tôn giáo không có lực lượng vũ trang, cũng không có thánh chiến trong việc truyền bá giáo lư. Đạo Phật đă lan rộng một cách từ từ nhưng vững vàng chắc chắn đến tất cả các trục lộ giao thông của các nước mà Ấn Độ có quan hệ ngoại giao như: Tây Tạng, Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản và Trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ. Hoàng đế A-dục cũng đă gởi những đoàn truyền giáo Phật giáo gồm tu sĩ và cư sĩ tới các kinh đô ở phía Đông và Tây. Vua A-dục cũng phái hai người con của ḿnh là Hoàng tử Mahinda và công chúa Sanghamitta tới Tích Lan để truyền bá Phật giáo. Chính công chúa Sanghamitta dă mang một cây Bồ-đề con (Ficus religiosa) của cây Bồ-đề nơi Đức Phật thành đạo tới Tích Lan. Cây này cho tới nay vẫn c̣n sum suê xanh tốt và được xem là một cây Bồ-đề có lịch sử cổ xưa nhất trên thế giới. Cây Bồ-đề này là biểu tượng của sự giác ngộ. Từ Tích Lan và Ấn Độ, Phật giáo lại được truyền đến Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Cam-pu-chia và Nam Dương.
Ngày nay thế giới đang được thu hẹp trong kích thước. Các quốc gia đang phát triển và chưa phát triển đă có tiến bộ về khoa học kỹ thuật, trong khi các nước đă phát triển rồi lại trở nên đang phát triển. Trong kỷ nguyên này, việc đi lại trở nên dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi. Thông tin th́ nhanh tức thời. V́ vậy sự phong phú về kiến thức là di sản chung của tất cả mọi người và do đó thông điệp của Đức Phật đă được lan truyền đến các nơi trên thế giới.
VÀI NHẬN XÉT
Mặc dù với kiến thức sẵn có ở mỗi người nhưng vẫn c̣n có sự phê b́nh chỉ trích Phật giáo cũng như những quan niệm và nhận thức sai lầm đối với các lời dạy của Đức Phật. Cũng c̣n có những người có học thức hiểu biết đă cố gắng đánh đồng Phật giáo với Ấn Độ giáo. Cũng có những người uyên bác đă nghĩ rằng Phật giáo đă không có khác với các tôn giáo hữu thần khác. Thậm chí, có một số người cho rằng Phật giáo th́ đầy những niềm tin và tu tập mê tín. Nh́n từ bên ngoài, các điều này dường như là mâu thuẫn khiến ngăn trở sự ḥa hợp về ư thức hệ của các tôn giáo. Sự dường như khác nhau này đúng hơn là chỉ do sự hiểu lầm, thông tin sai lạc và sự tŕnh bày không đúng với những di sản văn hóa và những động lực xă hội mà những mô h́nh phức tạp của nó đồng thời tồn tại trong một cách thức không phô trương trong xă hội đa dạng. Do đó, để hiểu bản chất của lời dạy Đức Phật th́ rất cần thiết và là điều cốt lơi để nghiên cứu sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo đang tồn tại khác để chúng ta có thể làm rơ hơn lời dạy của Đức Phật.
Các tôn giáo khác có chủ trương để thỏa măn các khuynh hướng tâm lư, các thái độ hoài nghi và hiếu kỳ của những người khác; các phương pháp tư duy và ḷng tin của họ th́ quá nhiều đến nỗi mọi sự nghi ngờ đều được giải quyết với phương pháp tốt nhất. Một số những lời giải thích này là dựa trên trí sáng suốt của đấng Tạo Hóa, dựa trên ḷng từ bi bác ái quăng đại của Ngài. Người ta cũng nói rằng một số các yếu tố nền tảng này th́ không được đặt thành vấn đề nữa. Vài người chấp nhận tôn giáo dựa trên đức tin mù quáng hoặc trên những giáo điều độc đoán. Tuy nhiên, những yếu tố này là nhằm thỏa măn tâm linh của những người mộ đạo. Đối với họ không có vấn đề ǵ. Logic và lư lẽ phải đưa đến ḷng sùng đạo. Ḷng tin duy lư, lư luận khoa học, và cách giải thích hợp lư ở mỗi tôn giáo th́ có khác nhau. Điều này khẳng định rằng các phương pháp và các kỹ xảo hiện đại không có chủ định và không thể áp dụng trong trường hợp của tôn giáo. Về cơ bản, tôn giáo được coi là khác với khoa học, bởi v́ với họ tôn giáo chính là sự mặc khải – mệnh lệnh của Thượng Đế. C̣n ngược lại, Phật giáo th́ lại rất hoan nghênh, khuyến khích tinh thần nghiên cứu, suy tầm, quán sát nội tâm một cách hợp t́nh, hợp lư và khoa học. Điều này đă được minh chứng trong kinh Kalama nổi tiếng mà trong đó Đức Phật đă dạy như sau:
"Này các Kalama, đừng nên dựa vào những ǵ đă được nghe nhiều lần, cũng không dựa trên truyền thống, trên tin đồn, chân lư, triết lư lô-gích, thành kiến, năng lực và sự quan tâm của người khác, cũng như không dựa vào ngay cả thầy của chúng ta."
Thông
thường, có người nói chống Phật giáo v́
rằng họ cho rằng Phật giáo tin vào Thượng
đế, chấp nhận đức tin tầm
thường và thờ phượng cây cối, những
h́nh tượng, trời đất, mặt trăng và các
tinh tú. Ở đây những người chỉ trích này
đă phạm lỗi là trộn lẫn các giá trị văn
hóa, các tập quán xă hội và những đức tin
truyền thống trong nhiều giai đoạn khác nhau
của sự thăng hoa lịch sử xă hội. Những
người chỉ trích này đă quên hoặc không biết
rằng đạo Phật không bao giờ loại bỏ
cách sống hiện hữu và các giá trị văn hóa của
đời sống bằng cách áp đặt một cách
sống mới lên trên đó mà trái lại đạo
Phật uyển chuyển t́m cách thích nghi đời sống
văn hóa của mỗi xă hội mà không lạc mất tinh
thần của ḿnh.
Trong tính cách như thế, nếu những người có hoài nghi, chỉ trích và quán sát như vậy sẽ chất vấn một Phật tử, liệu vị ấy có tin vào một mớ hỗn độn của những khái niệm này không, th́ vị Phật tử sẽ trả lời là "có" và cũng có thể là "không," bởi v́ ḷng tin con người th́ dễ dàng thích hợp, sẽ không có điều ǵ không hợp lư trong cách tư duy, logic, trong tổ chức của các lực lượng và năng lực cơ bản của cũ và mới, của không biết và huyền bí. Đối với cá nhân này, Phật giáo và các giới luật đứng trên nền tảng đỉnh cao của niềm tin và mê tín cũ và Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) được đặt ở vị trí cao nhất.
Một trong những điểm đáng lưu ư nhất của Phật giáo là ở chỗ có Phật tử đă tin có thần thánh trong tôn giáo của ḿnh. Cho nên vị ấy cầu nguyện th́ hẳn chúng ta không nên lầm lẫn với Phật tử chân chánh là những người đang tu tập chuyển hóa ḿnh đến trạng thái tâm hoàn thiện- Niết-bàn. Vị ấy ắt hẳn chưa có phẩm chất tự lực như Đức Phật đă dạy. Người có đức tin chân chánh trong niềm tin tôn giáo của họ, th́ tin có năng lực thiện ác, thiện thần và những năng lực siêu nhiên nhân từ và Đức Phật chiếm giữ vị trí cao nhất trên tất cả các thiện thần…
Trong một ư muốn mạnh mẽ để cải đạo, những nhà truyền giáo của tôn giáo khác đă phá hủy tinh thần xă hội, biến họ thành ngu đần và trở thành một mẫu văn hóa và chủng tộc xa lạ. Sự hăm hở của họ là để thay đổi giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống, và những luân lư xă hội sẽ trở thành các h́nh thức, sắc thái tinh thần của sự nỗ lực thay đổi đó để bắt buộc tôn giáo khác cùng với các văn hóa của nó thành những ǵ mà họ nghĩ là một nhóm thấp hơn. V́ vậy, họ đă nỗ lực thay đổi văn hóa, xă hội và tinh thần quốc gia của một dân tộc. Những t́nh trạng như vậy gây ra sự thiệt hại mà không thể phục hồi được về mặt xă hội và tâm lư bởi v́ các nhà truyền giáo đă khử trừ sức sống, và lần lượt làm tê liệt ư chí vươn lên. Bề ngoài, sự cải đạo như vậy dường như có vẻ thành công nhưng bên trong, các lănh vực tâm lư của con người, niềm tin và các giá trị cũ vẫn c̣n tiềm ẩn làm mờ đi tất cả những ánh sáng bên ngoài của các tôn giáo mới. Từ đó, trong xă hội này sẽ nảy sinh một sự mâu thuẫn không chỉ về văn hóa và chủng tộc mà c̣n cả về tôn giáo nữa.
Bất kỳ nơi nào, Phật giáo cũng được nh́n nhận là các lời dạy của Đức Phật không bao giờ xung đột với các giá trị truyền thống của xă hội mới. Cũ và mới, cổ và tân đồng tồn tại bên nhau. Khi tâm đă hướng thượng và đạt tri kiến cao, th́ những phạm vi bùa chú và mê tín, y học và khoa học trở nên yếu đi. Sự tổng hợp này xảy ra toàn bộ hay từng phần và tiến tŕnh được tiến triển cho đến ngày nay. Do đó đối với những người quan sát thiển cận, nhà phê b́nh và những nhà truyền giáo cứng nhắc, th́ những điều này dường như mâu thuẫn không thể ḥa hợp với nhau được. Kết quả là họ lên án Phật giáo là vô minh và có sự khác biệt khi họ quán sát lời Đức Phật dạy. Họ đă suy diễn liên hợp với ảo tưởng, ngay cả chỉ như một phương tiện kỹ xảo tạm thời của con người để đáp ứng sự căng thẳng tâm lư hoặc những khủng hoảng t́nh cảm th́ không phải không là những tín ngưỡng cần thiết. Thêm vào đó, thật là tức cười, v́ họ vẫn chấp nhận nhu cầu của con người cho sự sống c̣n để đạt đến trạng thái hạnh phúc an lạc tối thượng và điều này chỉ đạt được khi diệt trừ các điều ác. Trái lại, Phật tử biết rằng tất cả các pháp là vô thường, khổ và vô ngă.
HIỂU GIÁO LƯ CỦA ĐỨC
PHẬT
Muốn khẳng định rằng tôn giáo trên căn bản có khác với sự hợp lư hóa của khoa học, th́ chúng ta có thể lấy lập luận của A-tỳ-đàm để trả lời cho vấn đề này. Về cơ bản, các giáo lư thâm sâu của Đức Phật gần gũi với khoa học như là sắc và tâm (nama-rupa). Lời dạy chính yếu của Đức Phật là:
"Không làm các
điều ác,
Vâng giữ các điều
lành,
Làm thanh tịnh tâm ư
Đó lời chư Phật dạy"
Điều này xin được nói rộng thêm rằng tất cả các pháp do kết hợp mà thành th́ đều là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngă (anatta). V́ vậy một chúng sanh không ǵ khác hơn là danh và sắc. Sắc là sự biểu thị của những năng lực. Người xưa đă xem chúng như nguyên tử (paramanu). Đức Phật th́ coi chúng như là những thành tố nền tảng của sắc chất. Từ đó chúng ta biết rằng Phật giáo th́ rất cập nhật với những khám phá của khoa học mới đây nhất về bản chất của sự sống.
Theo Phật giáo, sanh được xem là sự hiện hữu. Tiến tŕnh của hiện hữu sẽ được tiến hóa theo ḍng thời gian khởi đầu do bởi vô minh rồi tạo ra một chuỗi mắc xích nhân duyên (paticca-samuppada). Chuỗi nhân duyên đó được thành lập như sau: 1- Do vô minh, hành khởi 2- Do hành, thức khởi 3- Do thức, danh sắc khởi 4- Do danh sắc, lục nhập khởi 5- Do lục nhập, xúc khởi 6- Do xúc, thọ khởi 7- Do thọ, ái khởi 8- Do ái, thủ khởi 9- Do thủ, hữu khởi 10- Do hữu, sanh khởi 11- Do sanh, lăo tử khởi.
Một cách tất yếu, nếu nhân diệt th́ duyên diệt. Điều này nghĩa là, nếu vô minh diệt hoàn toàn th́ sanh tử cũng chấm dứt.
Sau khi đă giải thích nguồn gốc của các pháp hữu vi, sự tham ái và t́nh cảm con người, Phật giáo đă cố gắng giải thích sự biến đổi đời sống giống như một ḍng tương tục của hiện hữu. Tiến tŕnh này không bao giờ thỏa măn. V́ vậy, điều này chứng minh rằng ngay cả việc đạt được những tiến bộ kỹ thuật cao nhất của thế giới hiện đại vẫn phải chịu chi phối bởi quy luật phổ quát 12 nhân duyên này, v́ chính đời sống cũng tùy thuộc vào lư duyên khởi. Không ai có thể tránh và thoát khỏi nó.
Từ giai đoạn này Đức Phật tiếp tục phân tích trạng thái hiện tại và t́m phương cách để chấm dứt vô thường, khổ của tất cả các pháp hữu vi. Thế nên thông điệp của Ngài rất rơ ràng, đây không phải là cách trốn thoát trong sợ hăi do thiếu can đảm và phấn đấu. Đây chính là cách t́m giải pháp cho vấn đề – vấn đề con người sanh tử và biết cách tháo gỡ ra khỏi t́nh trạng khổ đau đó. Điều này luôn luôn hiện hữu trong thế giới hiện tại và tương lai. Để hiểu điều này một cách cụ thể chúng ta nên dùng ví dụ để minh họa như sau: ví như có người đang bị vây hăm trong lửa. Cách thoát duy nhất là ra khỏi lửa và không nên đứng yên trong đó. Hoặc ví như bị nước lụt hay băng qua sông th́ cách duy nhất để khỏi bị ch́m là leo lên thuyền và chèo đến nơi an toàn. Hoặc ví như có người muốn chế ngự khỏi bị rắn cắn th́ phải nên lánh xa nó.
Cũng vậy lửa sân hận có thể tránh và dập tắt bởi t́nh thương. Ḍng thác tham ái phải được vượt qua bằng tâm buông xả và ḍng sông luân hồi phải đi qua bằng tâm trong sáng. Sự năo hại của vọng tưởng có thể được xóa tan bằng cách phát triển chánh tư duy. Về điểm này, Đức Phật đă dạy chúng ta không nên dính mắc vào hai cực đoan (quá khổ hạnh và quá hưởng lạc) mà nên theo con đường lư trí thực tiễn gọi là trung đạo. Nếu bám lấy cực đoan khổ hạnh hoặc cực đoan hưởng lạc th́ có khả năng đưa chúng ta đến nguy hại. Sự nguy hại về tinh thần này vẫn c̣n là điều phổ biến trong thế giới hiện đại ngày nay. Điều này không giới hạn ở thời cổ đại mà ngay thời khoa học kỹ thuật hiện đại cũng không thể vượt qua nó bởi v́ nó liên quan đến trạng thái tâm và các trạng thái này không phải là vật chất để dễ loại bỏ.
V́ vậy con đường đảm bảo hạnh phúc nhưng tu tập rất khó khăn đó là con đường trung đạo. Đây là con đường chân chánh và được gọi là Bát Chánh đạo (Thánh đạo tám ngành). Đây chính là một đáp án cho những vấn đề phức tạp mâu thuẫn trong mỗi con người chúng ta. Nó bao gồm 8 đặc tính và được sắp xếp thành ba cột là: giới (sila), định (samadhi) và tuệ (panna).
- Giới gồm có: Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.
- Định gồm có: Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
- Tuệ gồm có: Chánh kiến và chánh tư duy.
Chứng nghiệm Bát Chánh đạo sẽ đưa chúng ta đạt được trạng thái cứu cánh Niết-bàn.
Ở đây vấn đề được đặt ra là: Tại sao chúng ta lại chối bỏ chính những điều tốt đẹp nhất của cuộc đời. V́ Bát Chánh đạo khó áp dụng lắm phải không? Tại sao người ta không nên hưởng thụ dục lạc trần gian với tất cả niềm hạnh phúc của nó? V́ sau khi chết điều ǵ sẽ xảy ra đối với con người chúng ta? Ai biết? Ai có thể nói? Quay lại cội nguồn, đầu tiên con người chúng ta là sinh vật sống không có tổ chức xă hội, nhưng con người là một sinh vật có lư trí cao nhất trong các loài sinh vật và là loài đặc biệt duy nhất có năng lực chinh phục môi trường cả không gian và vũ trụ. Ngay cả trong một xă hội như vậy, con người không thể sống đơn độc một ḿnh. Người ta phải sống có gia đ́nh, đoàn thể; và sẽ không thể sống hạnh phúc yên ổn, ḥa b́nh nếu mọi người luôn luôn sống trong lo âu sợ hăi lẫn nhau.
V́ vậy quy luật đạo đức là rất cần thiết cho con người sống ḥa b́nh trong xă hội. Ngày nay đức hạnh này vẫn c̣n rất quan trọng trong tâm của tất cả chúng sanh, là những khuôn mẫu đạo đức, do các nhà sáng lập tôn giáo thuyết giảng và càng lúc con người càng ư thức hơn về sự quan trọng của đạo đức khi thấy sự nguy hiểm trong thế giới này khi đối diện với dân số gia tăng trong các đô thị, khi đối diện với sự tàn khốc của chiến tranh, phân biệt chủng tộc, bất b́nh đẳng và nghèo đói. Có quá nhiều mối quan hệ với nhau đến nỗi chúng ta khó mà phân biệt người xấu giữa những người khác. Người ta thích nói chuyện ḥa b́nh nhưng lại không chống đối chiến tranh và giết người. Mạng sống con người là món quà quư giá nhất. Rất ít sự khác biệt giữa hai loại này về mặt yếu tố đời sống. V́ vậy, thật là đạo đức giả khi nói chuyện ḥa b́nh mà không nói về sự ngăn chặn nạn giết người của chiến tranh. Tại sao con người (đau khổ) lại từ bỏ thông điệp ḥa b́nh cứu khổ? Có phải v́ con người không thể và sẽ không sống chỉ v́ ăn? Có phải con người phải đấu tranh ngay cả phải trả giá bằng sinh mạng của đồng loại ḿnh ? Về tinh thần, đây là những vấn đề tranh căi giống nhau mà ảnh hưởng đến các bậc lănh đạo quốc gia đang nỗ lực tiêu diệt các nước yếu hơn; c̣n các nước mạnh hơn th́ lại làm cho yếu đi. Đó là luật của kẻ mạnh đè kẻ yếu (cá lớn nuốt cá bé), luật của khôn sống mống chết về phương diện sức mạnh thân thể, năng lực hóa học và sinh học.
Cũng giống như các đức tính tốt khác: tránh tà dâm, tránh nói dối và tránh sát sanh. Khi xă hội tiến hóa và khi giá trị đạo đức trở nên cần thiết th́ 5 giới này sẽ cung cấp phương thức sống cho nhân loại trong tất cả các xă hội hiện tại và tương lai. Sinh vật có lư trí sống thành xă hội (tức con người) này phải nhất định từ bỏ lối sống thú tính phi đạo đức thời sơ khai để sống ḥa hợp trong xă hội. Một số người sẽ chấp nhận và tuân thủ cách sống đạo đức sớm hơn những người khác. Một số người chỉ có thể áp dụng từng phần nhưng có người có thể giữ cả 5 giới. Có người thực hiện được hết mặc dù không dưới danh nghĩa 5 giới này nhưng nó giống như một cách sống đạo đức đứng đắn.
Hạnh phúc là niềm ước
vọng của con người. Con người từ bây
giờ nên thay đổi để thành con người
đạo đức, biết quan tâm đến những
người xung quanh. Mỗi quốc gia nói chuyện ḥa b́nh
và mỗi người tận tâm mong muốn ḥa b́nh cho chính
bản thân ḿnh. Nhưng c̣n đối với những
người ở gần và xa chúng ta th́ sao? Các nhà lănh
đạo đă nói nhiều thậm chí gào thét cho ḥa b́nh
trên mọi diễn đàn. Nhưng nếu không có những
đức tánh tốt này xuất hiện trong tâm của
từng cá nhân hoặc từng quốc gia th́ có thể mong
đợi ḥa b́nh ở trong cộng đồng hoặc
tại quê hương ḿnh hoặc tại hải ngoại
được chăng? Đó là dấu hiệu hạnh
phúc để thấy được đặc tính
hiểu biết này trong tâm trí của quần chúng, những
người đă đấu tranh ác liệt và đẫm
máu nhất trong các cuộc chiến tranh và các quốc gia
đ̣i hỏi vũ khí tối tân nhất để tiêu
diệt con người. Với sự hiểu biết này,
những đức hạnh khác như: ḷng thương xót
(metta), ḷng cứu khổ (karuna), hoan hỉ trong
niềm vui của người khác (mudita) và tâm tràn
đầy sự buông xả (upekka) cũng cần
được phát triển. Con người có thể trau
dồi được những đức tính này, khi con
người nhận thức và thực hành chúng. Rồi con
người sẽ tiếp cận gần hơn sự
chứng nghiệm hạnh phúc tâm linh trong đời này và
đời vị lai.
SỰ HOÀN THIỆN TRONG LỜI PHẬT
DẠY
Bây giờ vấn đề được đặt ra là tại sao chúng ta lại mang lấy sự rắc rối này trong khi chúng ta đang đi đến cái chết cùng với sự tan ră của thân xác trong cuộc đời này. Nói tóm lại, tại sao chúng ta lại bi quan đến như vậy? Có cảnh giới nào bên ngoài cơi đời này không? Cái ǵ là bản chất cuộc đời? Câu trả lời thông thường là hoặc thiên đàng hoặc địa ngục. Trong cuộc sống, điều đó có lẽ là không phải là câu trả lời rốt ráo. Chúng ta sẽ chưa chấm dứt được luân hồi sanh tử cho đến khi chúng ta đạt được trạng thái an lạc hoàn toàn. Điều này có thể đạt được bằng cách thanh tịnh tâm khỏi các phiền năo như tham (raga), sân (dosa), và si mê (moha). Điều đó có thể đạt được trong thế gian này bởi người luôn trau dồi các trạng thái tâm và dần dần thăng tiến lên trạng thái hoàn hảo tốt đẹp, có thể là ngay bây giờ, khi ḿnh c̣n sống; hoặc một ngày nào đó khi mạng sống sẽ chấm dứt. Làm sao để được như vậy? Và làm sao để thực hành? Hành động của mỗi người có thể là thiện hoặc ác, đạo đức hoặc không đạo đức. Tâm của một người có thể phát triển hoặc không phát triển. Tham của một người có thể nhanh hoặc chậm. Chúng sanh có thể tiếp tục trong chuỗi sanh tử ở nơi đây hoặc một nơi nào đó tùy theo hành động (kamma) của chính ḿnh. Theo ḍng nghiệp của ḿnh, một chúng sanh được sanh ra trong ḍng luân hồi (samsara). Sự kéo dài đời sống của tâm và thân, trạng thái tương tục của tâm do nghiệp lực và hậu quả tái tạo nên chúng sanh trong nhiều kiếp sống. Tiến tŕnh thanh tịnh tâm cần nên liên tục. Các trạng thái đạt được của tâm nên phát triển cho đến khi tâm được trong sáng, hoàn hảo và đạt được trạng thái tâm lư an lạc của Niết-bàn.
Như đă tŕnh bày sự sanh và tái sanh tiếp tục trong trạng thái hoặc trạng thái khác xuyên qua ḍng chảy tương tục của tâm ư theo nghiệp riêng của từng vị. Trong Phật giáo, tiến tŕnh này được giải thích bằng giáo lư nghiệp và tái sanh. Sự sanh tiếp tục cho đến khi nghiệp duy tŕ sự tồn tại của mỗi con người bị chấm dứt. Sự chấm dứt của sanh tử sẽ đưa đến trạng thái hạnh phúc hoàn toàn mà trong Phật giáo gọi là Niết-bàn. Cách sống này tới một mức độ như đă phác họa có thể được áp dụng trong đời này cả trong các xă hội văn minh hoặc kém văn minh. Song mong muốn hiện hữu này không dẫn đến hạnh phúc rốt ráo. Vị ấy phải chấm dứt ḍng sanh tử. Đó là đối tượng và mục đích tối thượng của mỗi chúng sanh. Đó chính là mục tiêu của người Phật tử và vị ấy tu tập giới luật trong niềm hy vọng và cho mục đích này. Trạng thái an lạc này có sẵn ở mỗi chúng ta và chỉ chúng ta phải tự giác ngộ lấy mà thôi.
Ở đây người cư sĩ và đặc biệt những người phương Tây chống lại những vấn đề xa lạ đối với họ, với triết lư cuộc sống và tôn giáo quen thuộc của họ. Đó chính là quan niệm sống sau khi chết trong chuỗi tái sanh vô tận trong vô số h́nh thức. Một điều như vậy có khả năng xảy ra không ? Nhưng những nhà tư tưởng phương Tây và đầu óc phương Tây bây giờ có thể tốt hơn trước đây. Họ thấy rằng một điều như vậy th́ không thể không xảy ra được. Có những biến cố và những bất hạnh nào đó trong đời sống này không thể giải thích được ngoại trừ bằng niềm tin của chúng ta. Năng khiếu khác thường nào đó của trẻ con ở lứa tuổi c̣n rất nhỏ, nh́n chung chúng ta không thể giải thích được. Cho đến nay việc chuyển giao năng khiếu ngang qua di truyền đă có thể chứng minh được. Nhưng kư ức và sự hồi tưởng về những việc xảy ra nào đó trong quá khứ mà do trẻ em kể lại đă đưa ra một vấn đề mà trong đó sự giải đáp hợp lư là tái sanh. Các nhà tâm lư học đang nghiên cứu hiện tượng này và số lượng các trường hợp như vậy được ghi nhận là đang gia tăng. Dĩ nhiên trong Phật giáo khi người đạt được ngũ thông (panca-abhinna) th́ việc hồi tưởng được kiếp trước (pubbe nivasanussatinana) của ḿnh là thông thứ ba, tức Túc mạng thông. Cho đến nay, người ta khó có thể tin và hiểu một số bằng chứng về khả năng thực tế của tái sanh.
Cơ
cấu vận hành của thuyết tái sanh là ǵ? Nghiệp
lực thiện hoặc ác cho là năng lực tái sinh và
như là yếu tố quyết định liên tục
của ḍng luân hồi. Nó không phải là một sự cân
bằng mà trong đó thiện và ác được xóa bỏ
như là các yếu tố cộng trừ, tính ra thành số
nợ hay lăi. Đó là một khái niệm mà từ đó ư
nguyện thiện ở nơi nào, thế nào đó hoặc
ngày nào đó sẽ hưởng quả tốt đẹp
cũng như vậy, nghiệp ác sẽ bị đền
trả bất như ư. Sự chuyển giao nghiệp
lực tiềm tàng có một sự trung gian mà môi giới trung
gian đó th́ siêu h́nh và phi vật chất. Chính cái tiến
tŕnh siêu h́nh giống như năng lực điện trong
thiết bị điện tử. Năng lực tái sanh
chính nó là vốn có trong chính nó, giống như năng
lượng điện tử hay các tầng số âm thanh
và ánh sáng. Ở đây đặc biệt sóng âm thanh
hoặc tia sáng ảo có trong nó toàn bộ tiềm năng cho
việc tái sanh ra bản thân nó nếu sự thiết
lập thích hợp vừa đúng để tiếp
nhận nó. Có lẽ nghiệp lực trong hành động có
thể được giải thích giống như trong ngôn
ngữ b́nh thường. Việc cân bằng cuối cùng sau
rốt là sự đồng nhất nghiệp lực mà
nghiệp lực đó tái sanh ra quả, nghĩa là một
chúng sanh mới là quả của các giai đoạn liên tục
của đời sống. Cái ǵ là sự đồng
nhất của nó? Làm sao có thể giải thích
được điều này?
Có nhiều vấn đề cần phải t́m câu giải đáp. Người cư sĩ phát hiện điều này khó hơn để làm cho ḥa hợp các yếu tố này. Người cư sĩ trong các nước đang phát triển và chưa phát triển th́ khám phá điều này khó hơn để tin là điều này có thể xảy ra. Có người khẳng định rằng những điều này là khái niệm triết học, là học thuyết tôn giáo đă được thảo luận, tranh luận và b́nh luận rất nhiều ở trên. Một sự giải thích về những điều đơn giản nào đó th́ không thể, trừ khi thực sự giác ngộ hoặc tự chính ḿnh chứng nghiệm th́ ánh sáng có thể giải thích một cách dễ dàng. Nhưng một người mù th́ sẽ hầu như không thể hiểu được những ǵ đă giải thích. Một người có thể mô tả con đường hoặc phương tiện để đi đến một nơi. Ngay cả người ấy có thể mô tả rơ nơi đó như thể ḿnh đă từng ở đó. Nhưng người đó không thể cảm nhận nó hoặc nhận thức nó trừ khi chính người đó đă từng ở đó. Cũng như vậy, những điều này được nhận thức bởi chính cá nhân của mỗi người. Phật giáo đă khẳng định con đường này do Đức Phật thuyết giảng. Điều này đă được giải thích. Những người khác cũng có thể tu tập theo giáo lư Đức Phật. Ngoài điều này ra không ai có thể giúp đỡ được. Mỗi người là vị cứu tinh cho chính ḿnh. Không ai có thể cứu người khác được. "Attahi attno natho." Khi một người đă đi theo chánh đạo, tu tập tôn giáo, phát triển tâm ḿnh, người đó không thể không đạt được trạng thái Niết-bàn tối thượng. Trạng thái đó nằm trong tầm tay với của chúng ta.
[Trích
dịch từ nguyên tác tiếng Anh "Buddhism in Today and
Tomorrow," của tiến sĩ Nandadeva Wijesekera trong tác
phẩm Các Viên Ngọc Trí Tuệ của Phật Giáo (Gems of
Buddhist Wisdom), CBBEF,


SƠ CHUYỂN PHÁP LUÂN
Tứ đế, thập nhị nhân duyên.
Cập nhật: 06-02-2007, 12:59 bởi hieutam

Phần giới thiệu:
Bộ Bách khoa Phật giáo
toàn thư do Lại Vĩnh Hải và các đồng sự
của ông chủ biên có thể được xem như là
một hiện tượng độc đáo và nổi
bật trong lănh vực nghiên cứu Phật giáo của Trung
Hoa đương đại. Cơ cấu tổ chức
của bản văn với bề dày 8 quyển-ngót 4.000
trang-có hệ thống tham chiếu nghiêm túc, khởi
đầu từ Kinh điển quyển, Giáo nghĩa
quyển-Nhân vật quyển, Lịch sử quyển, Tông
phái quyển, Nghi quỹ quyển, Thi kệ quyển-Thư
họa quyển, Điêu tố quyển, Kiến trúc
quyển-Danh sơn danh tự quyển. Bằng lối
văn đơn giản và súc tích có thể nghiệm
với tính uyên bác tuyệt vời, nhà biên tập và các
cộng sự đă mô tả toàn diện phối cảnh
của Phật giáo, khởi đi từ dấu ấn Kinh
điển và hành tích ban đầu của đấng
Từ tôn để rồi trải rộng ra khắp
thế giới qua những lịch tŕnh tỏa chiếu
vĩ đại của chư Thắng tử, nhất là
lịch đại Tổ sư của Trung Hoa. Và, thật
vậy, đây là một bản kê biên toàn hảo
đầy tính khoa học, trong đó một hoa văn hoành
tráng cần phải đề cập đến, đó là,
Phật giáo không chỉ có Tam tạng kinh điển không
thôi, mà Phật giáo c̣n có cả một Tạng thứ tư
khổng lồ nữa, đó là Tạng nghệ thuật,
đúng như Henri de Lulac (nguyên G.s Đại học và
Viện trưởng Viện Thần học ở Pháp)
đă có lần nhắc đến qua danh tác Amida bằng
tiếng Pháp của Ông. Ở đây, bộ Bách khoa nói lên
điều đó. Một điểm quan trọng đáng
ngạc nhiên hơn hết, lại là Tạng lịch
sử Phật giáo, ngoài tính chất cụ thể của
không gian và thời gian, hệ thống nguyên văn đă
đề cập đến Lịch sử Phật giáo luôn
vận hành trong tâm nhân loại, nghĩa là, nhiệm vụ
của nó chỉ được thành tựu chừng nào
thế gian hiển nhiên là Niết-bàn chư Phật, có
thể xem quan niệm này như là Tạng thứ năm
của Phật giáo được đồng nhất trong
quyển thứ hai của nguyên văn.
Xét thấy, Giáo nghĩa quyển-Nhân vật quyển là
một bản văn chi tiết hóa Giáo nghĩa Phật
hữu ích cho bản thân người dịch- về
mặt cơ bản Phật học-nói riêng, và cho những
ai cùng duyên, nói chung. Do vậy, tôi xin được phép
chuyển ngữ bản văn ấy trong khả năng
quá kém yếu của ḿnh về Hán văn, mong người
đọc, nhất là được những bậc
thiện trí minh chỉ. Nhân đây, tôi cũng xin G.s Tiến
sĩ Lại Vĩnh Hải-hiện là Viện
trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Trung Hoa,
Đại học Nam Kinh [tức là nhân vật chủ biên
bản văn]— tùy tâm hoan hỷ , khi việc chuyển ngữ
này chưa được sự cho phép của Ngài. N.D.
Phần chánh văn
Theo truyền thuyết,
đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni thành đạo
dưới cội Bồ-đề, nội dung
được Ngài chứng ngộ, trong đó có “Tứ
đế” và “Thập nhị nhân duyên” Đức Thích
tôn “Sơ chuyển pháp luân” tại “Lộc-dă uyển”, giáo
pháp mà Ngài tuyên thuyết cho 5 vị Tỳ-khưu cũng
chính là “Tứ đế” và “Thập nhị nhân duyên”. Sau
này, trong các trường hợp, 2 hệ thống giáo
nghĩa như vậy được Ngài nhiều lần
tuyên thuyết lại. Do đó, “Tứ đế” và
“Thập nhị nhân duyên” chính là giáo nghĩa tối cơ
bản của Phật giáo. Về sau, tùy theo sự phát
triển của học thuyết Phật giáo cho dù có
chuyển biến theo những đường hướng
to lớn nào đi nữa, thế nhưng mọi phát
triển của các học thuyết đó đều
phải dựa trên nền tảng của hai hệ
thống giáo nghĩa ấy. Hơn thế, bất kể là
có những bất đồng nào đó giữa hai bộ
phái Tiểu thừa và Đại thừa, nhưng
đối với hai giáo nghĩa cơ bản vừa nêu
đều được tất cả các bộ phái
thừa nhận. V́ lẽ đó, muốn hiểu rơ Phật
lư, th́ việc lư giải và y cứ ngay từ bước
ban đầu người ta phải dựa trên giáo pháp
căn bản này cái đă.
BỐN ĐẠO LƯ CHÂN THẬT- Tứ
đế
Cái gọi là
“Đế”, tức là cái chỉ cho “chân lư”. Kinh điển
Phật giáo đă quen dùng từ ngữ này để
biểu thị cho “chân lư”, chẳng hạn như “chân
đế”, “tục đế”... Chân đế tức là
chỉ cho “Đạo lư chân chánh”, “Đạo lư chân
thật”, và đây cũng là chân lư tông giáo của Phật
giáo; Tục đế chỉ cho “Chân lư thế tục”, nói
chung, tức là những ǵ thuộc về sự vật
được chúng sinh thế gian quy định là chân lư,
Phật giáo nói rằng chân lư quy ước này là một
loại hư huyễn, hoặc là một loại chân lư
không triệt để. uyển”, giáo pháp mà Ngài tuyên
thuyết cho 5 vị Tỳ-khưu cũng chính là “Tứ
đế” và “Thập nhị nhân duyên”. Sau này, trong các
trường hợp, 2 hệ thống giáo nghĩa như
vậy được Ngài nhiều lần tuyên thuyết
lại. Do đó, “Tứ đế” và “Thập nhị nhân
duyên” chính là giáo nghĩa tối cơ bản của
Phật giáo. Về sau, tùy theo sự phát triển của
học thuyết Phật giáo cho dù có chuyển biến theo
những đường hướng to lớn nào đi
nữa, thế nhưng mọi phát triển của các
học thuyết đó đều phải dựa trên
nền tảng của hai hệ thống giáo nghĩa
ấy. Hơn thế, bất kể là có những bất
đồng nào đó giữa hai bộ phái Tiểu thừa
và Đại thừa, nhưng đối với hai giáo
nghĩa cơ bản vừa nêu đều được
tất cả các bộ phái thừa nhận. V́ lẽ
đó, muốn hiểu rơ Phật lư, th́ việc lư giải
và y cứ ngay từ bước ban đầu người
ta phải dựa trên giáo pháp căn bản này cái đă.
BỐN ĐẠO LƯ CHÂN THẬT-Tứ
đế
Cái gọi là
“Đế”, tức là cái chỉ cho “chân lư”. Kinh điển
Phật giáo đă quen dùng từ ngữ này để
biểu thị cho “chân lư”, chẳng hạn như “chân
đế”, “tục đế”... Chân đế tức là
chỉ cho “Đạo lư chân chánh”, “Đạo lư chân thật”,
và đây cũng là chân lư tông giáo của Phật giáo; Tục
đế chỉ cho “Chân lư thế tục”, nói chung, tức
là những ǵ thuộc về sự vật được
chúng sinh thế gian quy định là chân lư, Phật giáo nói
rằng chân lư quy ước này là một loại hư
huyễn, hoặc là một loại chân lư không triệt
để.Ư nghĩa của “Tứ đế” chính là
“bốn loại đạo lư chân thật”. Bốn loại
chân lư này đề cập đến một chùm có bốn
trạng thái “Khổ, tập, diệt, đạo”.
Những ǵ là bốn? Đó là khổ thánh đế,
khổ tập thánh đế, khổ diệt thánh
đế và khổ diệt đạo thánh đế”
(Trung A-hàm, Phân biệt thánh đế kinh). Thật vậy,
bốn chân lư cao quư vừa nêu là giáo nghĩa tối cơ
bản của Phật giáo. Tương truyền sau khi
đức Phật thành đạo, Ngài giảng dạy giáo
pháp này trước tiên tại Lộc-dă uyển và Ngài
cũng đă giảng đi giảng lại nhiều
lần chân lư ấy cho các đệ tử của ḿnh sau
đó nữa. Như trong Tạp A-hàm, quyển thứ 15
dạy: “Tôi nghe như vậy, một thời, Phật trú
tại nước Ba-la-nại trong vườn Lộc-dă,
tại tiên nhân đọa xứ. Lúc bấy giờ, Thế
Tôn tuyên bố với chư Tỳ-kheo rằng, nếu
như thiện nam tử nào có ḷng tin chân chánh, từ bỏ
gia đ́nh, xuất gia học đạo, người
ấy sẽ phải thấu hiểu toàn diện pháp
Tứ thánh đế. Những ǵ là bốn? Đó là
thấu hiểu Khổ thánh đế, thấu hiểu
Khổ tập thánh đế, thấu hiểu Khổ
diệt thánh đế, thấu hiểu Khổ diệt
đạo thánh đế. Do vậy, này chư Tỳ-kheo!
Chưa từng có sự tách rời ra giữa Tứ thánh
đế, chúng phải là phương tiện tinh yếu,
phải là sự tu hành không gián đoạn. Mọi kinh nói
về Tứ thánh đế sẽ phải nói một cách
toàn diện, y như chương cú này”.
KHỔ
“Khổ đế” là chỉ
cho những loại thống khổ của nhân sinh.
Trong Phật giáo, cái gọi
là khổ, tức là đề cập đến các
loại phiền năo bức bách thân tâm, như trong Phật
địa kinh dạy: “Thân và tâm bị bức bách được
gọi là Khổ”. V́ vậy, theo lư giải của Phật
giáo, trong thực trạng đời sống, Khổ là
một loại hiện tượng tồn tại phổ
quát. Không có ai trên đời này là không khổ đau.
Mục đích tối
chung của việc tu Phật chính là cần giải thoát
khỏi khổ đau bức bách lư luận giáo nghĩa
của Phật giáo đều luôn vi nhiễu, thâm cứu là
v́ sao chúng sinh lại phải lănh thọ hay là giới
hạn đời ḿnh trong sự thống khổ như
vậy và bằng cách nào triển khai phương pháp
giải khổ. Thế th́, “Khổ” đă đóng một
vai tṛ vô cùng trọng yếu trong giáo nghĩa của
Phật giáo. Do vậy, trong chùm “Tứ đế”, “Khổ
đế” đứng ở vị thế đầu tiên.
Phật giáo cho rằng chỉ khi nào thấu hiểu
một cách rơ ràng, rằng chúng sinh tức là Khổ, th́ khi
ấy người ta mới có thể tiến bước
truy t́m nguyên nhân khổ và mới có thể có
được phương pháp giải Khổ. Ta nên
kết luận rằng, học thuyết lư luận về
Khổ là điểm xuất phát của rất nhiều
học thuyết giáo nghĩa của Phật giáo.
Phật giáo cho rằng, mọi nhân sinh trong xă hội
thế tục này - nói theo bản chất của chúng -
đều là thống khổ. Đây là sự phán đoán có
giá trị của Phật giáo đối với nhân loại
và xă hội. Phật giáo cho rằng, một đời
người, từ lúc sinh ra cho đến khi chết,
người ta hoàn toàn đeo lấy các loại thống
khổ và phiền năo. Trong những trạng thái như
vậy, chúng có thể được tiến hành phân tích
bằng nhiều góc độ, nhiều tầng khác nhau
một cách khái quát. Trong kinh điển Phật giáo, sự
thống khổ có khi được mô tả là hai, là ba...
thậm chí có đến hàng trăm trạng thái, cụ
thể là 111 trạng thái.
Nhị
khổ (hai loại khổ)
Tức là ngoại khổ và
nội khổ (cái khổ do nguyên nhân nội tại và cái
khổ do nguyên nthân tâm này. Bao nhiêu phiền năo do chính thân và
tâm của ḿnh đeo hân ngoại tại). Nội khổ là
các loại thống khổ và mang và ngoại khổ là
sự thống khổ do các loại nhân tố của khách
thể đem lại. Luận Đại trí độ,
quyển 19 cho biết: “Nội khổ được
gọi là lăo, bệnh, tử..., ngoại khổ
được gọi là do đao, gậy, lạnh, nóng,
đói, khát, v.v… Có thân là có khổ vậy”. Phân tách tiến
lên một bước nữa, nội khổ vẫn có
thể chia ra làm hai loại: Sự thống khổ trên
mặt sinh lư do các loại tật bệnh mang lại,
gọi là thân khổ; do những trạng thái t́nh cảm
như ghen ghét, đố kỵ, v.v… mang lại, khiến
cho người ta đau khổ và phiền năo trên mặt
tâm lư, các trạng thái này gọi là tâm khổ. Cũng
vậy, ngoại khổ có thể phân ra làm hai: 1/ Khổ
phát sinh do xă hội, chẳng hạn như gặp trộm
cướp bủa vây, hoặc là do tai họa của
chiến tranh. 2/ Khổ do điều kiện tự nhiên,
như gió, mưa, nóng, lạnh, v.v… và các loại thiên tai khác
tạo thành nguyên nhân của thống khổ. Tóm lại:
- Nội khổ: 1/ Thân khổ -
sự thống khổ trên phương diện sinh lư
của chúng sinh do tật bệnh đưa đến. 2/
Tâm khổ - các loại phiền năo thống khổ do tâm lư
và sinh lư làm nguyên nhân phát sinh.
- Ngoại khổ: 1/ Sự thống
khổ tạo thành do nguyên nhân xă hội. 2/ Sự thống
khổ tạo thành do nguyên nhân tự nhiên.
Tam
khổ
Là cảm giác tiếp nhận sự thống khổ
đối với cá thể hữu t́nh mà qua đó, ta có
thể tiến hành phân tích và phân loại thêm. Phật giáo
cho rằng, tính chất phổ biến của chúng sinh
hữu t́nh: Thích vui sợ khổ … Chúng sinh tham luyến thân
này, nên tất nhiên là thân có nguyên nhân được cảm
thọ lạc [thú vui]. T́nh cảm chủ quan của con
người tương tác đối với hoàn cảnh
khách quan làm phát sinh bao loại cảm giác. Ta có thể chia ra
một vài cảm giác như vậy thành ba loại quy mô
với tính cách chung: cảm giác khổ, cảm giác vui và cảm
giác không vui không khổ. Luận Đại trí độ,
quyển 19 dạy: “Do lục t́nh ở bên trong ḥa hợp
với lục trần (6 cảnh trí ở bên ngoài), nên sinh
ra 6 loại thức. Sáu thức sinh ra ba loại cảm
thọ: khổ thọ, lạc thọ và không khổ không
lạc thọ. Mọi chúng sinh ham thích lạc thọ và hoàn
toàn không thích khổ thọ, c̣n không khổ không lạc có
nghĩa là không nắm lấy cũng không xả bỏ
[tức là trạng thái trơ, vô kư]”. Do ba loại cảm
thọ này mà nói đến ba khổ tướng, tức là
khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
1- Khổ khổ
Do tác dụng khách quan tạo nên sự thống khổ
đối với thân và tâm nhân loại, khiến cho thân tâm
của họ phát sinh cảm giác thống khổ, cái
được gọi khổ khổ chính là đây.
Phật giáo cho rằng, tất cả các pháp hữu lậu
đều là khổ khổ (chỉ cho tất cả các
pháp đưa chúng sinh hữu t́nh lưu chuyển trong sinh
tử luân hồi, tức là khổ chồng thêm khổ).
2- Hoại khổ
Nói đến
hoại khổ là nói đến sự tương quan
với lạc thọ. Nếu như thuyết minh về
khổ khổ so ra dễ thuyết minh hơn là hoại
khổ. Nói theo cách liên quan đối đăi để
người ta có thể nhận thức được th́
hoại khổ khó lư giải hơn. Dựa vào bản
chất của chúng sinh, Phật giáo cho rằng, tất
cả đều thích vui sợ khổ, mặc cho t́nh
thức đuổi theo hoàn cảnh vui và thụ dụng
cảm giác khoái lạc. Thế nhưng, cái mà phàm phu cho là
lạc ấy, nó chẳng phải là cái lạc chân thật,
Phật giáo xem đấy chỉ là một loại hiểu
biết [cảm nhận] hư vọng ngu si, cần nên
từ bỏ. Vậy, Phật giáo muốn đề
cập đến cái ǵ? Theo giải thích của Luận
Đại trí độ, cái gọi là lạc, là cái luôn
đối đăi với khổ, do so sánh mà sanh ra một loại
cảm giác. Chẳng hạn, một người bị phán
phải tội chết, nếu như người ấy
được cấp thẩm quyền cao hơn xét
miễn tội hay đại xá, hoặc là phạt tội
bằng h́nh tước [tội đánh bằng gậy] thay
cho tội chết, thế th́ nhất định anh ta vô
cùng mừng vui. H́nh tước vốn là khổ sự,
thế nhưng nó thay cho tội chết, nên khiến cho
tội nhân cảm thấy rất vui. Từ đó có
thể nhận ra rằng, nói đến khổ và lạc
là nói đến việc so sánh, đối đăi giữa
trạng thái này với trạng thái khác, nghĩa là, cái
khổ nhỏ đôi khi cũng là lạc thọ và ngược
lại. Hơn thế, cái mà thế gian cho là lạc,
vốn là “vô thường”. Vô thường là nói về
bản chất của nó, trên mặt thực tế, nó
cũng là khổ thôi. Chúng sinh đắm trước
nơi lạc, mà không biết cái lạc này chưa bao
giờ là cái “lạc” chân thật, nó không thể là cái lạc
lâu bền. Một ngày kia, do điều kiện khách quan và
các tâm tố chủ quan chuyển di biến hóa, th́ cái
lạc ấy chuyển sinh biết bao phiền năo mà thành ra
hoại khổ. Luận Đại trí độ nói: “Hành
giả quán lạc thọ ấy, biết nó một cách
thật sự là không có lạc ǵ cả. (Đă không có
lạc) mà toàn là khổ sự, tại sao vậy? Lạc
được cho là lạc chân thật, th́ không có điên
đảo, mọi lạc thọ của thế gian, đều
[sinh ra] từ điên đảo, lạc ấy không có tính
chân thật”.
3. Hành khổ
Hành khổ
tương ưng cùng cảm giác bất lạc bất
khổ. Phật giáo cho rằng tất cả các pháp hữu
vi, tức là tất cả thế gian đều nằm
ở trong t́nh trạng tương quan liên hệ giữa
hiện tượng tinh thần và vật chất, thời
thời khắc khắc chuyển lưu biến
động, thời thời khắc khắc đều
đang phát sinh biến hóa sinh diệt. Hiện tượng
này cũng chính là vô thường, là không an ẩn, mà vô
thường và không an ẩn chính là khổ, điều
đó được gọi là hành khổ. Hành khổ vận
chuyển trong mọi pháp hữu vi của thế gian,
tức là vận hành trong tất cả hiện
tượng vật chất cũng như tinh thần của
thế gian, do đó, trong hành khổ bao hàm cả hai
trạng thái khổ khổ và hoại khổ nữa. Ta có:
Ba loại cảm thọ: 1/ Khổ thọ. 2/ Lạc
thọ. 3/ Bất khổ bất lạc thọ.
Ba loại khổ: 1/ Khổ khổ. 2/ Lạc khổ. 3/
Hành khổ.
Tứ
khổ
Đó là sinh, lăo, bệnh, tử. Bốn loại này là
sự nhận thức khái quát của Phật giáo
đối với toàn bộ hiện tượng sinh
mệnh thế giới, cũng có thể cho là cách phán
quyết có giá trị của Phật giáo đối với
nhân loại. Phật giáo cho rằng, có sinh hẳn là có
tử, v́ vậy, bản thân của sự sinh vốn
đă bao chúng sinh đều ham sống sợ chết, sao
lại chẳng hàm căn nguyên của sự khổ.
Phần đông biết rằng, sống là mở
đầu cho sự chết? Nói theo một ư nghĩa nào
đó, th́ sự tăng trưởng của sinh mệnh
[mạng sống], cũng là hướng đến
việc tiếp cận với tử vong. Hơn thế,
trong quá tŕnh của mạng sống, bản thân của sinh
hoàn toàn dựa trên sự tồn tại của các loại
thống khổ. Sinh là h́nh thái vận chuyển của các
loại khổ, do vậy, bản thân của sự
sống chính là khổ. Xét theo học thuyết nhân quả
luân hồi của Phật giáo, sinh là bắt đầu
một ṿng quay mới của luân hồi, sự luân hồi
của mạng sống không có viễn cảnh dừng
[cảnh chỉ, 境止]. Phiền năo
và thống khổ cũng y như vậy, muốn nghĩ
đến bất tử, th́ nên biết đến vô sinh.
Ba loại khổ là lăo, bệnh, tử c̣n lại cũng rất
dễ dàng lư giải.
Ngũ
khổ
Bốn loại khổ như trên đă nêu hợp
lại làm một, tức là cái khổ của sinh, lăo,
bệnh, tử. Ngoài ra c̣n bốn cái khổ nữa, đó
là, thương yêu mà bị chia ĺa (ái biệt ly khổ),
khổ v́ không muốn đối mặt với oán thù mà lúc
nào ḿnh cũng phải gặp (oán tắng hội khổ),
khổ v́ mong cầu không được (cầu bất
đắc khổ), khổ v́ năm ấm quá hưng
thịnh (ngũ ấm xí thịnh khổ, chẳng hạn
thân quá đẫy đà nên thường hay khổ v́ tham
dục...). Sinh, lăo, bệnh, tử là hiện tượng
sinh lư của nhân loại, do vậy, chúng là sự thống
khổ trên mặt sinh lư, mà yêu chia ĺa, oán thù hay gặp, và
mong cầu chẳng được là thuộc về
hiện tượng tâm lư, đem thống khổ
đến trên mặt tâm lư.
Bát
khổ
Tám loại khổ này là một trong những pháp
thoại thường thấy trong kinh điển Phật
giáo.Thật ra, bát khổ cũng chính là cách phân hợp
của năm loại khổ vừa nêu. Trong năm
loại khổ vừa nêu, nghĩa là đem cái khổ
của sinh, lăo, bệnh, tử hợp lại làm một,
c̣n trong bát khổ được tách ra mỗi thứ theo
tính loại, thành là bốn sự khổ, rồi cộng
thêm yêu chia ĺa, oán thù hay gặp, mong cầu chẳng
được và khổ v́ năm ấm quá hưng
thịnh thành ra tám loại khổ. Kinh Niết-bàn dạy:
“Tám tướng gây khổ, đó là sinh khổ, lăo khổ,
bệnh khổ, tử khổ, chia ly khổ, oán thù khổ,
cầu không được khổ, năm ấm hưng
thịnh khổ”. Tám loại khổ này, Phật giáo
tiến hành phân tích theo mỗi loại đối với
hiện tượng sinh mệnh của chúng sinh và
đưa ra kết luận, đây là cơ sở thuộc
về quan điểm có giá trị sinh mệnh và nhân sinh
quan của Phật giáo. Phật giáo dạy các loại
khổ tướng như vậy, mục đích chủ
yếu là chỉ cho chúng sinh thấu rơ sự lưu
chuyển sinh tử của sinh mệnh ḿnh, khiến cho
họ khởi tâm sợ hăi và xa rời sinh tử
để t́m cầu giải thoát. Do vậy, khổ là một
trong những học thuyết cơ bản của Phật
giáo.
Nói đến khổ do sinh, bởi v́ sinh là đầu
mối của tử, sự phát triển của sinh
mệnh, chính là quá tŕnh tương tục tiếp cận
tử vong. Cái mà người ta gọi là sinh này, là chỉ
cho tất cả sinh vật có mạng sống có t́nh
thức. Sinh mệnh là kết quả của năm ấm
hoặc cho là kết quả của năm ấm tích tụ
cũng vậy, khi năm ấm đă phân ly rồi, th́ chẳng
có sự hiện hữu nào của sinh mệnh cả. C̣n
một phương diện khác nữa, quá tŕnh hoàn
chỉnh của một sinh mệnh chúng sinh đă là một
quá tŕnh dẫy đầy khổ đau phiền lụy
rồi. Khi sinh mệnh mới chào đời là khổ
đau hiện hữu, trong tiến tŕnh trưởng thành,
sinh mệnh cảm nhận bao phiền năo đớn
đau qua mọi khía cạnh của thân tâm, thế nên nói
sinh là khổ. “Này chư Hiền! Nói sinh là khổ, tức
là nói khi chúng sinh sinh ra, thân nhận lấy sự khổ, là
nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết toàn
diện cảm giác; tâm nhận lấy sự khổ, là tâm
nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết cảm
giác toàn diện; thân tâm nhận lấy sự khổ, là thân
tâm nhận lấy toàn diện cảm thọ, biết toàn diện
cảm giác; thân tâm nóng bức, là thân tâm nhận lấy
cảm thọ toàn diện, biết cảm giác toàn diện;
thân thể cường vượng [sự cường
vượng của thân làm mồi lửa] bừng cháy âu lo
phiền năo, thân nhận lănh cảm thọ toàn diện
biết cảm giác toàn diện, tâm cường vượng
[chất liệu cường vượng của tâm làm
mồi] bừng cháy lo âu phiền năo, tâm nhận lănh cảm
giác toàn diện biết cảm giác toàn diện; thân tâm
cường vượng bừng cháy lo âu phiền năo, thân
tâm nhận lănh cảm thọ toàn diện biết cảm
giác toàn diện. Này chư Hiền! Nói đến sinh là
tử, do vậy nên thuyết ra” (Xem Trung A-hàm, những trích
dẫn bên dưới cũng từ bản kinh này).
Nói bệnh là khổ, bởi v́ khi chúng sinh bệnh, thân
và tâm của họ luôn bị ma bệnh mài cắt dày ṿ,
khiến cho thống khổ vô cùng, do vậy nói bệnh là
khổ.
Nói chết là khổ, bởi v́, chết là sự kết
thúc của sinh, “Này chư Hiền! Chết là mệnh chung
vô thường của chủng loại chúng sinh ấy, là
tử tang tán diệt, là sự phá hoại triệt
để của [tuổi] thọ, là sự đóng bít
mệnh căn, [dữ kiện] ấy được
gọi là sự chết”. Khi chúng sinh lâm chung, thân tâm
nhận lănh bao nỗi thống khổ dày ṿ, do đó mà nói
chết là khổ.
Yêu thương mà chia ĺa là nói đến con người
hay sự vật được chúng sinh yêu thích qua thân và
tâm, thế nhưng luôn luôn đây đó tách ly, chẳng
thể tương phùng như ư nguyện. Đối
với những ǵ mà ta yêu ta thích, đối với thân
bằng quyến thuộc được chính ḿnh
thương mến, người ta luôn kỳ vọng
đoàn tụ vĩnh viễn chung với ḿnh. Niềm vui
tương tụ thân bằng là một “đại lạc
sự” của đời người, thế nhưng “cơi
đời này chưa từng có chiếu chăn nào mà không
hư tán”. Ngày kia chiếu rách người xa, càng hội
ngộ bao nhiêu th́ càng mang đến buồn đau
dường ấy; và có được chăng, nếu
chẳng thể chẳng chia ly với người ḿnh yêu
mến, càng tưởng đến ḷng càng đổ
vỡ đớn đau. “Này chư Hiền! Yêu
thương mà chia ĺa là khổ. Nói rằng chúng sinh thực
có 6 xứ ở bên trong, cái xứ của con mắt,
của mũi, tai, thân và ư, lưu luyến ái dục, chúng
phân tán đặc thù chẳng thể tương ưng,
tách rời không hội tụ, chẳng nhiếp chẳng
tập, và cũng không ḥa hợp nên gọi là khổ.
Như thế ở bất cứ nơi đâu, càng cảm
thọ lạc, càng tưởng tư ái luyến, th́ ở
đó cũng lại y như vậy. Này chư Hiền!
Chúng sinh thật sự có 6 giới [yếu tố], cái
địa giới của ái [cái cơi có yếu tố như
là đất làm phát sinh ái dục], cái giới của
thủy, hỏa, không, phong và thức [tức là năm
yếu tố thuộc về năm đại làm phát sinh
cảm giác], chúng phân tán đặc thù chẳng thể
tương ưng, tách rời không hội tụ, không
nhiếp không tập, không ḥa hợp là khổ, đấy
được gọi là ái biệt ly khổ”. Nói chung, các
chủng loại vừa nêu đều mang đến cho ta
nỗi thống khổ trên cả hai mặt thân và tâm. Do
vậy, ái biệt ly là khổ.
Oán thù mà hay gặp là khổ, cái khổ này gần
giống với ái biệt ly khổ. Chẳng hạn,
một người nào đó chống đối hoặc áp
bức ḿnh hay ngược lại, hoặc các sự vật
đă từng cùng ở chung với ḿnh, y như trên đă
nói, chúng luôn mang đến vô vàn thống khổ. “Này chư
Hiền! Nói oán thù thường hay gặp là khổ, v́ sao mà
nói như thế? Này chư Hiền! Oán thù thường hay
gặp, là nói đến chúng sinh thực có sáu giới,
đó là cái giới của địa, không yêu thích, cái giới
của thủy, hỏa, phong, không, chúng cùng hợp nhất
có nhiếp và tập [thu hút và tụ lại, tức là chúng hay
chiêu vời hận củ, oán xưa, mà thật ra ḿnh không
mong đối diện], cộng hợp là khổ,
đấy được gọi là oán thù mà hay gặp là
khổ.” Tục ngữ có câu: “Oan gia hiệt lộ -
đường oan gia thường hẹp”, hiện
tượng này trong cuộc sống hiện thực
xảy ra rất nhiều, đấy cũng là một
nỗi khổ lớn của nhân sinh.
Cầu bất đắc là chỉ cho cái ǵ hay
đối tượng rất yêu thích nào đó mà chính
bản thân ḿnh mong cầu t́m kiếm, song không bao giờ
sở hữu được, và niềm mong cầu không
được như vậy lại chồng chất trong
tâm thức ta kéo theo các nỗi thống khổ khôn cùng. “Này
chư Hiền! Cái trạng thái sinh mà ta nói, nó là cái pháp sinh
gắn chặt vào chúng sinh, người ta muốn cho
khiến được không sinh, thực ra điều này
không thể lấy ước muốn [tham dục] mà có
được... Trạng thái già, chết, sầu ưu thương
xót mà ta nói, nó là cái pháp thương xót sầu ưu gắn
chặt vào chúng sinh. Người ta muốn được
cái không thương xót, điều này không thể lấy
cái muốn để mà có được... Này chư
Hiền! Thực ra chúng sinh do tư luyến mà phát sinh ái
niệm, cái niệm ấy chính chúng tạo ra vậy.
Nếu người ta tác khởi tư luyến về
sở hữu ái dục, muốn khiến cho nó
được trường cửu thường hằng,
không chuyển di, dời đổi, điều này cũng
không thể lấy cái dục mà thành tựu
được. Này chư Hiền! Thế nên cầu
bất đắc khổ được thuyết ra
như vậy”(Sđd).
Qua tổng hợp đưa đến sự thống
khổ của cả thân và tâm của chúng sinh như đă
nêu, ta có được mọi nguyên nhân của chúng
đều là do điều kiện [duyên] thân tâm cháy rực
của chính nhân loại tạo ra. Phật giáo cho rằng
sinh mệnh con người được hợp thành
bằng 5 nhân tố: sắc, thọ, tưởng, hành và
thức. “Ngũ ấm” hay “ngũ uẩn” là tên gọi khác
của 5 loại nhân tố này, chúng đă bao quát hết
thảy nhân tố tâm lư và sinh lư, hết thảy hiện
tượng vật chất lẫn tinh thần. Ngũ
ấm quá hưng thịnh đưa đến dục
vọng cho sinh mệnh lẫn việc đeo bám đối
với sự vật, từ đó dẫn sinh bao loại
thống khổ trên mặt thân tâm của nhân sinh. Hơn
thế, y cứ vào t́nh trạng biến thiên sinh diệt
của vạn hữu, ta kết luận rằng, bản
thân của cuộc tồn sinh hoàn toàn bị sát-na sinh
diệt chi phối. Trong cái cách thiên biến vạn hóa này,
sự vô thường của sinh mệnh, cho biết,
trạng thái hưng thịnh của ngũ ấm cũng là
thống khổ.
Ngoài trừ những loại thống khổ vừa nêu,
trong kinh điển Phật giáo vẫn c̣n rất nhiều
loại khổ được phân theo tính chất riêng
của chúng cho từng khía cạnh, chẳng hạn, trong
Bồ-tát tạng kinh đề cập đến 10 sự
bức bách khổ của chúng sinh, Hiển dương thánh
giáo kinh dạy có 55 khổ sự, và thậm chí Du-già sư
địa luận tuyên bố có đến 110 loại
khổ, v.v...
Để chúng sinh có được nhận thức sâu
về nỗi khổ của ḿnh và, khiến chúng tỏ
tường chân nghĩa của Khổ đế, Phật
giáo lại vạch ra 4 loại hành tướng nữa,
tức là tướng vô thường, tướng
thống khổ, tướng không và tướng vô ngă
để tiến hành phân giải, khiến cho người
học dựa vào đó thực hành thẩm nghiệm và
nhờ đó mới tiến lên nắm vững
được lư mầu của Tứ đế.
Thường là sở chỉ [cho] tính chất
thường trụ bất biến. Phật giáo dạy
rằng, tất cả sự vật thế gian đều
do nhân duyên ḥa hợp mà thành, đều y vào sự quan
hệ nhân duyên mà tồn tại. Do vậy, khắc khắc
giây giây đều ở trong sinh diệt biến hóa, không
bao giờ có tính chất thường trụ bất
biến, v́ thế, gọi là “vô thường”. Mà, vô
thường tức là khổ nên lấy tướng vô
thường làm một trong 4 hành tướng của
Khổ đế.
Khổ là sở chỉ tính bức bách. Thuyết minh
cụ thể về khổ, đă hiện hữu quá
nhiều trong Phật điển, như 5 khổ, 8
khổ, v.v… như vừa nêu. Phật giáo cho rằng,
nhận thức được khổ là cực kỳ quan
trọng. Đây vừa là cơ sở nhận thức chân
lư Phật giáo vừa là cơ sở cho việc tiến hành
tu học. Thế nhưng hành giả, sau khi quán sát thẩm
nghiệm khổ tướng, tiến lên một
bước nữa thâm cứu diệu lư Tứ đế
và, dần thấu hiểu những ǵ được
chư kinh giảng dạy. Do vậy, trong hành tướng
của Tứ đế, chư kinh lại lập ra
khổ tướng để giảng rộng thêm.
Không, tức là
chỉ cho “phi hữu”, là chỉ cho “vô sở đắc” -
sự hiện hữu không thể nắm bắt
được. Phật giáo dạy rằng, cá thể sinh
mệnh của chúng sinh hữu t́nh được 5 uẩn
cấu thành quy cho cả tinh thần lẫn vật
chất. Tách rời khỏi 5 uẩn này, th́ không có cái ǵ
được gọi là bản thân cá thể hữu t́nh.
Ngũ uẩn phân ly rồi, th́ sinh mệnh cũng cáo chung.
Trong vũ trụ, hiện tượng của sinh mệnh
cá thể hữu t́nh nằm dưới t́nh trạng như
vậy, thậm chí tất cả sự vật cũng
đều y như thế. Mọi hiện tương tâm
vật lư, đều do các loại điều kiện
tập hợp mà thành, tách rời các mối quan hệ có
điều kiện hay nhân duyên này, th́ bản thân sự
vật cũng không tồn tại. Với nguyên lư ấy,
Phật giáo dạy rằng, sự tồn tại của
vạn hữu đều là hư giả bất thật,
đều do tên gọi được đặt ra
[giả danh], do thế mà nói rơ là không tướng. Tuy nhiên,
Phật giáo nhấn mạnh rằng, không hoàn toàn không
phải là không có cái ǵ hết. Giả như, đơn
giản là, người nào cho rằng “không là hoàn toàn không có
một cái ǵ hết”, th́ người đó rớt vào “không
kiến” hay đi theo chủ nghĩa hư vô. Phật giáo
cho rằng một nhận thức dưới dạng
như vậy là không chính xác, là “ác thú không” [tức là
đuổi theo học thuyết phi nhân quả hoặc là
bị học thuyết phi nhân quả lôi kéo vào
đường ác], là một loại nhận thức sai
lầm thuộc về “ngoại đạo”. Nhận
thức chính xác phải bắt đầu từ
phương diện của pháp nhân duyên, phải
được liễu giải và quán triệt chư pháp
hư huyễn bất thực, như huyễn, như
mộng, lại như bong bóng nước, bởi, chúng do
nhân duyên ḥa hợp mà sinh thành. Chỉ có nhận thức
bản chất sự vật đúng như vậy, th́ ta
mới có thể trừ khử được những
quan kiến sai lầm, và rồi đặt tư duy
của ḿnh trên những ǵ đă được trí tuệ
chính xác của Phật giáo đ̣i hỏi.
Ngă, tức là chỉ cho cái chủ tể duy nhất
thường hằng của sinh mệnh cá thể hữu
t́nh. Phật giáo dạy rằng, chúng sinh phàm phu [ấu
trĩ] cùng với những nhà lập thuyết,
thường cho cái “ngă” là có thật [thực hữu] nên
họ thường ôm giữ cái “ngă chấp” như
thế. Đương nhiên, Phật giáo nói những
nhận thức như vậy đều non yếu và
hư vọng. Có thể thấy, “ngă” là cái hư huyễn
bất thực. Suy rộng ra, không chỉ có cá thể
hữu t́nh là như vậy, mà ngay cả sự vật
hữu t́nh với lại phi t́nh, cả đến cái
được gọi là nhất thiết pháp, cũng
đều y như thế. Phân tích đến tận
bản chất của tất cả, tất cả
đều hư huyễn bất thực, cơ bản là
chẳng có cái tự ngă tồn tại nào mang tính chất duy
nhất thường hằng. Do vậy, Phật giáo
dạy, nhất thiết pháp đều “vô ngă”. Cá thể
hữu t́nh toàn do nhân duyên ḥa hợp mà thành, vậy th́ cái
“ngă’ cho là duy nhất thường hằng đó c̣n tồn
tại ở nơi đâu nữa chứ? Du-già sư
địa luận, quyển 34 nói: “Cái mà những hành và
tự tướng của chúng có được,
tương ưng cùng tướng khổ với lại
tướng vô thường. Bởi v́ chúng dựa vào duyên
mà sinh, nên chẳng được tự tại. V́ không
tự tại, nên [chúng] chẳng phải là ngă. Tên gọi
này đặt cho cái hành không tự tại. Vậy, chúng sinh
không có cái hành nào là Ngă cả - nhân vô ngă hành”.
Bốn loại hành
tướng của Khổ đế nói lên rằng v́ sao mà
4 bốn phạm trù liễu giải về khổ
được phát khởi. Phật giáo cho là 4 tính chất
vô thường, khổ, không, vô ngă vốn đă bao hàm trong
Khổ đế rồi, và chúng được cho thấy
bằng quả báo hữu lậu. Hành giả tu tập
Khổ đế, tất nhiên phải tư duy quán sát
về sự hoạt động này của chúng [Khổ
đế tứ loại hành tướng], mà quán pháp
khổ đau như thế là nhằm đối trị
phàm phu so với thế giới và sinh mệnh tác khởi
thành 4 loại tư kiến điên đảo hư
vọng về thường, lạc, ngă, tịnh. Căn
cứ vào lư giải của Du-già sư địa luận,
trong 4 hành tướng của Khổ đế,
tướng vô thường đầu tiên [được
hành giả quán sát], là để đối trị với
sự kiến giải sai lầm về tất cả
sự vật thế giới được phàm phu chấp
là “thường”, tướng khổ thứ 2 là để
đối trị phàm phu so với sự vật thế
giới phát sinh kiến giải sai lầm về
lạc và tịnh, tướng không thứ 3 và tướng
vô ngă thứ 4, là nhằm đối trị kiến
giải sai lầm của phàm phu chấp có cái “ngă” hay cái
“tôi” thực hữu.
TẬP ĐẾ
“Tập đế” chỉ
cho nguyên nhân và nguồn gốc dẫn khởi khổ
đau. Tập có nghĩa là triệu tập hay chiêu vời,
có đủ khả năng dẫn đến tác dụng
chiêu cảm một cách toàn diện các quả khổ
khởi lên cùng một thời điểm. Phật giáo cho
rằng, sự hoạt động của thân và tâm
tương ưng chính xác với sự kết nghiệp,
và hiển nhiên sự kết nghiệp này sẽ đưa
đến quả khổ sinh tử của tương lai
hay đời sau. Do vậy, trạng huống ấy
được mệnh danh là “Tập”. Đế có
nghĩa là đúng như thật không hư dối. Tất
cả hoạt động hữu vi gây phiền năo hay
nghiệp ngu si phiền lụy đều đưa
đến cái khổ quả của 3 đường sinh
tử đúng như thật không hư dối, do vậy,
trạng huống này được mệnh danh là Tập
đế. Nói một cách nôm na, Tập đế cũng
chính là nguyên nhân và nguồn gốc dẫn sinh các loại
thống khổ. Loại khổ đau này bao hàm nhiều
dạng được chúng sinh lănh thọ trên cả 2
mặt tâm lư lẫn sinh lư. Phật giáo cho rằng, nhân sinh
tràn ngập khổ đau mà nguyên nhân và nguồn gốc
đưa đến t́nh trạng này, chính là phiền năo và
“nghiệp”, chúng luôn gắn liền với con người.
Phiền năo, được Phật giáo dạy, hoàn toàn
không giống như ư nghĩa phiền năo mà ta thường
hay nói. Phật giáo dạy phiền năo là cái hay gây nhiễu
loạn thân tâm của chúng sinh, khiến cho thân tâm ta mất
đi an tịnh, từ đó khiến cho ta khổ năo ngu
si. Do đó, Phật giáo c̣n gọi “phiền năo” là
“hoặc”. Có rất nhiều chủng loại phiền năo,
có thể chia thành 6 loại mà ta thường gặp
nhất: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. “Nghiệp”, có
nghĩa là “tạo tác”, gốc chữ Phạn, Hoa dịch
âm là “yết ma”, giảng rộng ra là sự hoạt động
toàn diện thân và tâm của chúng sinh. “Nghiệp” có thể
phân thành 2 dạng: nghiệp hữu lậu, và nghiệp vô
lậu. Nghiệp hữu lậu, chỉ cho hoạt động
của tất cả thân và tâm chúng sinh dẫn đến
sự cảm triệu quả báo hữu lậu. Nghiệp,
nói theo cách thông thường, phần nhiều là chỉ cho
h́nh thái duy nhất này. Nói đến “nghiệp vô lậu”,
đây là chủng loại được chỉ cho
những ai mưu t́m giải thoát, tức là những
hoạt động thực tiển mang tính chất tôn giáo
mà những người Phật tử tu hành với thành
quả sau rốt là giải thoát. Nghiệp, giả như
là nghiệp hữu lậu, nó tương ưng với
phiền năo. Có nhiều chủng loại nghiêp, nói chung, có
thể chia thành 3 phạm trù: thân nghiệp, khẩu nghiệp
và ư nghiệp. Thân nghiệp, thường chỉ cho các lănh
vực hành động liên quan đến bản thân
của nhân loại hay chúng sinh. Ngữ nghiệp, hay nói khác
hơn là khẩu nghiệp, chỉ cho lănh vực ngữ
ngôn của chúng sinh. Và, ư nghiệp chỉ cho lănh vực
tư tưởng của con người. Ngoài ra, c̣n có
rất nhiều h́nh thái khác nữa của nghiệp,
chẳng hạn, tư nghiệp, tư dĩ nghiệp , ác
nghiệp, v.v… Phật giáo cho rằng, kết quả
hoạt động về ngữ ngôn, hành vi và ư thức
tư duy của chúng sinh, phần nhiều khiến cho
người ta sinh ra phiền năo và dục vọng, từ
đó dẫn sinh sự thống khổ cho chúng sinh. Hơn
nữa, có sự sai biệt giữa nghiệp thiện ác, thế
nhưng cả 2 vẫn sẽ được người
ta chắc chắn nhận lănh báo ứng, do thế,
nghiệp được xem như là một trong những
nguyên nhân cơ bản đưa nhân sinh vào đau khổ
[hoặc ngược lại].
Khi quan sát Tập đế, ta cũng thấy có 4 loại
hành tướng hay 4 bốn loại tính chất đặc
thù, tức là nhân tướng [tính chất thuộc về
nguyên nhân], tập tướng [tính chất tụ tập,
chiêu vời], sinh tướng [tính chất phát sinh], duyên
tướng [tính chất tương quan, liên kết hay
tạo điều kiện].
Nghiệp hữu lậu sở hữu của Tập
đế, chiêu vời nguyên nhân các loại quả khổ,
giống như là hột giống hay năng lượng,
một ngày kia có điều kiện sẽ sinh sôi nẩy
nở, đâm chồi mọc rễ, lớn thành lúa mạ,
sẽ có tác dụng thành h́nh, chủng tử này chính là nhân
sinh ra mầm non. Cũng vậy, “Tập” là nhân của
chư quả khổ hữu lậu,
đấy là nhân tướng, là nghiệp hữu lậu
vậy. Chúng sinh hữu t́nh tạo nên môi trường phát
sinh bao loại nghiệp lực, tiềm năng này, chiêu
cảm tư cách và diện mạo đúng như
đồng chủng hữu t́nh. Thí như, bao lọai
nghiệp lực được chúng sinh tạo tác mang
đặc tính thuộc về chúng sinh, th́ cái sức
mạnh của hành vi này sẽ chiêu vời họ vào nhân
đạo, khiến cho họ trở lại làm
người, chẳng cần biết kiếp trước
là ǵ, miễn là hiện hành làm người, cái thân
tướng trưởng thành của họ có những
đặc điểm tương đồng với
người. Việc đưa đến đặc tính
như vậy, chính là tập tướng của chư
nghiệp Tập đế.
|
|
Bản thân của
nghiệp lực có được lực lượng
toàn năng, nó khiến cho sản sinh ở bên trong
sự sai biệt đa dạng của các loại cá
thể chúng sinh hữu t́nh. Một vài sự sai biệt
này sẽ quyết định phương hướng
luân chuyển của đời vị lai, quyết
định đưa họ chuyển sinh vào trong 5 khuynh
hướng của 3 cơi [tam giới ngũ thú], và 6
nẻo luân hồi. Do vậy, sức mạnh của
chư nghiệp tập đế làm nhân cho chúng sinh luân
chuyển, đấy là sinh tướng. Chúng sinh hữu t́nh do tác
dụng của phiền năo và nghiệp mà luân chuyển
trong sinh tử, chúng sinh hữu t́nh do tính chất bất
đồng của phiền năo và nghiệp mà chuyển
sinh luân hồi với những tướng trạng sai
biệt, nghiệp phiền năo này đóng vai tṛ tác duyên cho
chúng sinh luân chuyển, đấy là duyên tướng
vậy.
Diệt đế
cũng gọi là Diệt thánh đế, hoặc gọi
là Tác khổ thánh đế, đây là mục tiêu tối
chung cho việc tu hành Phật giáo. Diệt, tức là diệt
trừ triệt để, thiêu đốt sạch,
diệt tận, tức là diệt trừ rốt ráo
gốc rễ của các loại phiền năo và đau
khổ, đạt đến một trạng thái
được Phật giáo tuyên bố là bất sinh
bất diệt, một cảnh giới tinh thần lư
tưởng của tự do và giải thoát. Phật giáo
cho rằng, cái cảnh giới lư tưởng như
vậy, hẳn nhiên là vĩnh viễn không có bất
cứ sự trói buộc nào của khổ đau và
phiền năo, an trụ trong cảnh giới tinh thần
với trạng thái tịch tịnh măi măi. Một
cảnh giới như vậy, các tông phái Phật giáo
đều có các liễu giải khác nhau, có tông phái gọi
đó là “Niết-bàn”, có tông gọi là “Trạch diệt vô
vi”. Lại có người cho rằng, sự diệt
tận của khổ, tập tức là diệt
đế, cũng có người cho rằng, sự
diệt tận của “Hoặc” là diệt đế.v.v.. Diệt đế có 4 hành
tướng: Diệt tướng, tịnh tướng,
diệu tướng và ly tướng. Diệt
tướng, chính là tận diệt nguyên nhân dẫn
đến phiền năo lưu chuyển sinh tử.
Tịnh tướng, chính là đắc ly [được
cắt dứt] các sự khổ bị ngủ thủ
uẩn tướng bất tịnh nắm chặc.
Diệu tướng, là cắt dứt mọi dư
thừa của phiền năo, lấy trạng thái lạc
tịnh chân thật bẩm sinh làm tự thể, do
vậy gọi là Diệu tướng. Ly tướng, là
nói diệt đế đă tách rời hẳn các phiền
năo mà đắc đại an ẩn. “Câu-xá-luận”
dạy: Khi nói 4 hành tướng của diệt
đế, là nói v́ các uẩn đă tận, nên gọi là
diệt; các mồi lửa của tham, sân, si, đă
tắt ngấm, nên gọi là tịnh; chẳng c̣n các
nhiễu loạn của mọi loại phiền năo, nên
gọi là diệu; tách ly hẳn các loại tai họa, nên
gọi là ly. . “Đạo
đế” c̣n được mệnh danh là Đạo
thánh đế, Khổ diệt đạo đế.
Đạo, vốn là lộ tŕnh đưa vào đạo,
ư nghĩa này có thể dễ thông hiểu. Đạo đế
chỉ cho sự bứt rời khỏi các loại trói
buộc của “khổ đế” và “tập đế”,
chỉ cho phương pháp tu hành và đạo lộ
thực tiển mà cái cứu cánh của “Diệt
đế”. đạt đến là cảnh giới tinh
thần lư tưởng tịch tịnh vừa mới
đề cập. Quyển thứ 25 của
“Câu-xá-luận” thuyết: “Đạo nghĩa là ǵ [ư
nghĩa của lộ tŕnh đưa vào là ǵ]? Đó là
lộ tŕnh đưa đến Niết-bàn. Nương
trên [thừa Niết-bàn đạo] lộ tŕnh này, có
thể đi đến cảnh giới Niết-bàn.” Có
rất nhiều phương pháp và lộ tŕnh, chúng
thường được chỉ riêng cho “Bát chánh
đạo”, hoặc là “Bát thánh đạo”, “Bát chi chánh
đạo”.v.v...Ư nghĩa của những phạm trù này:
“Tám loại đạo tŕnh và phương pháp tu hành chính
xác hướng đến thế giới của bờ
bên kia một cách thông thoáng”, đó là: 1) Chánh kiến, chỉ
đến nhận thức và lư giải có tính chính xác toàn
diện về “chân lư” được Phật giáo tuyên
thuyết. 2) Chánh tư duy, tiến hành
tư duy nhận thức chính xác đối với giáo
nghĩa Phật giáo về “Tứ đế”. 3) Chánh ngữ, hoàn toàn không nói
nghịch lại với sự thật, nghịch lại
với giáo lư giáo nghĩa của Phật giáo, lời nói
không dựa trên vọng tưởng. 4) Chánh nghiệp, mọi
thứ hành vi phải phù hợp với yêu cầu của
giáo nghĩa, chẳng hạn không sát sinh, không trộm
cướp...
6) Chánh tinh tấn, trạng
thái tinh thần không lười biếng, gắn chặc
đời ḿnh theo yêu cầu tu hành của Phật giáo
một cách tương tục. 7) Chánh niệm, trạng thái quán
niệm tư duy chính xác, duy tŕ một cách trong sáng giáo lư,
giáo nghĩa Phật giáo. Thấy như thật bản
chất và h́nh thái tất cả pháp. 8) Chánh định, gằn
chặc tâm thức ḿnh theo yêu cầu của Phật giáo,
tập trung tinh thần, khiến cho tâm thức chuyên chú
vào một cảnh giới nào đó nhằm thể
ngộ chân lư của Phật giáo.
4 hành tướng của
Đạo là đạo tướng, như tướng,
hành tướng và xuất tướng. Đạo
tướng là thuyết minh Thánh đạo cùng với
hành tích của các bậc Thánh giả đă kinh qua sự
chứng đắc lộ tŕnh đưa đến vô
thượng chánh giác, do đó, được gọi là
Đạo. Như tướng, là nói đến Đạo
đế, khởi tu như lư như thật, đối
trị các phiền năo, nên gọi là Như tướng.
Hành tướng, là nói tu hành Đạo đế
khiến cho tâm thức phàm phu được rời
khỏi vĩnh viễn các điên đảo bám dính trong
tâm thức của ḿnh để chứng thật
Bồ-đề. Xuất tướng, là nói đến
công phu tu hành Đạo đế, cho phép hành giả tách
ly phiền năo sinh tử, vĩnh viễn từ bỏ
“hoặc nghiệp”, đắc cứu cánh Niết-bàn,
thế nên, ở đây mệnh danh là Xuất
tướng. Khảo sát Tứ
đế—Khổ, tập, diệt, đạo—theo quan
hệ nhân quả, ta thấy chúng gồm có 2 đặc
tính: Đặc tính thứ nhất, là nhân quả thế
gian, tức là lấy Khổ làm quả, Tập làm nhân;
đặc tính thứ 2 là nhân quả Xuất thế gian,
lấy Diệt làm quả, Đạo làm nhân. Phật giáo
cho rằng, chúng sinh phần nhiều ờ thế gian
đều nổi lên và ch́m xuống [ngụp lặn] trong
phiền năo vô tận với bao niềm khổ đau
sinh, già, bệnh, chết. Đây là quả khổ và,
“Tập” là sự chiêu vời nhân của quả khổ.
Nếu như chúng sinh có thể trừ diệt
đuợc các loại phiền năo cơi trần, giải
thoát quả khổ sinh tử luân hồi của cơi
ấy, tức là thành tựu quả vị xuất
thế gian vĩnh viễn tịch tịnh, cũng
tức là đạt đến cảnh giới Diệt
đế vậy. Bởi v́ tu hành Đạo đế là
lộ tŕnh duy nhất đạt đến quả
vị xuất thế gian này, do vậy “Đạo” là nhân
để xuất thế gian. Phật giáo cho rằng, do
nhân mà đắc quả, cầu quả th́ t́m nhân và
chỉ có như vậy mới có thể liễu giải
và nắm bắt chính xác cách giải thoát khổ đau
với lại quả khổ phiền năo hiện
đời, và chỉ có như vậy mới có thể
đạt được lộ tŕnh đưa
đến Niết-bàn măi măi không c̣n phiền lụy trói
buộc thân tâm nữa. Theo truyền thuyết, sau
khi đức Phật thích-ca thành đạo dưới
cội Bô-đề, Ngài đă thuyết pháp lần
đầu tiên tại ngoại thành Ba-la-nại nơi
vườn Lộc-dă cho những thị giả
trước đây theo Ngài—5 anh em Kiều-trần-như—
Ở đây, pháp được thuyết chính là diệu
lư Tứ đế , và khiến cho họ quán sát nhân
quả thế gian với lại xuất thế gian. Sau
khi nghe được như vậy, 5 anh em
Kiều-trần-như đều tín phục, y pháp tu hành,
liền đắc giải thoát, chứng A-la-hán quả.
Theo Phật kinh ghi lại, đức Phật thích-ca
sơ chuyển pháp luân tại vườn Lộc-dă,
khi Ngài giảng dạy lư Tứ đế, tùy theo căn
tính sai biệt của Tăng chúng, mà Ngài đă giảng
đến 3 lần giáo pháp này. Dựa vào dịch bản
“Tam chuyển pháp luân kinh” của Đường Nghĩa
tịnh (sư Nghĩa tịnh đời nhà
Đường), ban đầu khi đức Thích-ca
thuyết Tứ đế, Ngài luôn đặt trọng tâm
vào việc làm sáng tơ mỗi một pháp trong chuỗi
Tứ đế này như thế nào, nghĩa là, đây là
Khổ đế, đây là Tập đế, đây là
Diệt đế, đây là Đạo đế. Cái yêu
cầu là làm sao chúng đệ tử ghi nhớ
được chân lư ấy, do đó lần thuyết pháp
thứ nhất vế Tứ đế được
xưng là “Thị chuyển”, hoặc “Thị tương
chuyển”. Khi giảng pháp ấy lần thứ 2, Ngài
đặt trọng tâm vào sự khuyến đạo,
chỉ ra pháp môn tu tập Tứ đế cốt ở ư
nghĩa trong thực tiển tu hành mang tính Phật giáo hoàn
chỉnh, Ngài nhấn mạnh đến Khổ
đế “ưng tri” (phải nên biết), Tập
đế “ưng đoạn”, Diệt đế “ưng
chứng”, Đạo đế “ưng tu”. Lân này
được gọi tên là “khuyến chuyển” hoặc
“khuyến tương chuyển”. Lần thứ 3, Ngài nói
đến chính ḿnh đă thể nghiệm tu hành và
cảnh giới mà ḿnh đă đạt đến,
để minh chứng là Ngài đă tự ḿnh đạt
đến cứu cánh của việc tu hành như thế
nào, và nhấn mạnh đối với Khổ
đế “tự tri”, Tập đế “tự
đoạn”, Diệt đế “tự chứng”,
Đạo đế “tự tu”. Lần này
được gọi là “chính chuyển” hoặc “chính
tương chuyển”. Đức Phật tùy theo căn
tính bất đồng của Tăng chúng mà giảng
lại lần thứ 3 pháp Tứ đế, trong Phật
giáo gọi lần này là “Tam chuyển pháp luân”—Bánh xe pháp
được chuyển 3 lần. “Câu-xá-luận” nói
rằng:” Bánh xe pháp được Phật chuyển
3 lần, mỗi lần chuyển pháp, Ngài tùy theo 4
phương diện: quan điểm, nhận thức, trí
tuệ và giải ngộ [của thánh chúng] mà giảng
rộng ra, 4 khía cạnh này gọi là Tứ hành
tướng và 3 lần chuyển pháp cộng lại thành
12 hành tướng”. Phật giáo cho rằng, giáo pháp Tứ
đế là pháp môn trung tâm tu hành của chúng đệ
tử Thanh văn, và cũng là nền tảng của
tất cả Phật pháp, do đó nó hoàn toàn
được tôn quư.
Chuyển ngữ: Pháp Hiền cư
sỹ Theo Weber-Brosamer và Dieter
M.Back, đức Thế Tôn c̣n dạy hạnh
thường lễ Phật nữa, khi Ngài thành
đạo dưới cội Bô-đề, và lễ
Phật đă thành nên truyền thống tôn quư của
Phật giáo được t́m thấy trong kinh tạng
Pāli. “....Der Pāli-kanon, von dem aus wir in etwa auf die
allgenmeine....des Erhabenen unter dem Bodhibaum in Bodh Gayā beginnen
und lehrt gleichzeitig als Inhalt dessen....” (Bedigung / die Philosophie der
Leere). N.D. - Tư nghiệp: Trong
những nghiệp, chúng được người ta phân
đều ra: Tư nghiệp chỉ cho hoạt
động của ư chí, chỉ có trong ư chí hoặc thành
h́nh trong tư niệm mà thôi, chứ chưa thực hiện
hay hiện hành. Tư dĩ nghiệp, nghiệp này đă
được thực hiện qua thân và khẩu. Bất
luật nghi biểu nghiệp, biểu hiện hoàn toàn do
quán tính, nên quyết đoán một cách mănh liệt; do quán
tính nên được gọi là nghiệp hoàn thành nhưng
không chủ tâm. Phi luật nghi phi bất luật nghi
biểu nghiệp, nghiệp này không lộ rơ nét trong
ứng xử, tùy thời tùy nơi mà có thiện có ác, v́
vậy mà được gọi là không lộ ra cũng không
hoàn thành. Cũng có những nghiệp mà hoàn toàn không do
cố ư nhưng không thực hiện chúng, có những nghiệp
mà sự chú ư được loại bỏ, nhưng
lại thực hiện; những nghiệp khác mà sự
chú tâm và biểu lộ bị phủ định và,
cuối cùng, có những nghiệp mà người ta cố
ư và cố ư thực hiện. Hơn thế, c̣n có những
nghiệp được số đông lănh thọ,
tức là cộng nghiệp và những nghiệp chỉ
một cá nhân thọ dụng mà thôi, tức biệt
nghiệp. (Parmi
les karma, on distingue également ceux qui sont accomplis intentionnellement,
ce qui sont projétes mais non accompli, ceux qui sont accomplis mais
involontairement, et ceux qui ne sont ni projetés ni accomplis. Il y a aussi
des actes ‘karma’ dont l’intention est positive ... par un seul individu),
(DALAI LAMA / Le sens de la vie). N.D. SƠ CHUYỂN PHÁP LUÂN (THE FIRST TURNING OF THE WHEEL OF DHARMA)
LẦN CHUYỂN PHÁP THỨ 2: TÁNH KHÔNG LUẬN (THE SECOND TURNING) Trong lần chuyển pháp
luân thứ 2 ở vườn Lộc-dă, đức
Phật đă dạy tạng kinh Bát-nhă
(prajñāpāramitā) được được
biết là những bản kinh thuyết về trí
tuệ.... ở đây, chân lư thứ 3, diệt
đế, được giảng dạy, có
được độ sâu và sự phức tạp
hơn bao giờ hết. Nói chung, không giống như
lần chuyển pháp luân thứ nhất, giáo nghĩa
của lần này vào sâu chi tiết nhất về tự
tánh của Diệt đế, đi sâu vào hành
tướng của chân lư này.v.v... (In the second turning,
discussion of the third Noble truth, true cessation, acquires greater
profundity and complexity. Unlike the sutras belonging to the first turning,
the teachings of the second turning go into great detail on the nature of
cessation in general, its specific characteristics, and so forth) LẦN CHUYỂN PHÁP THỨ 3-PHẬT TÍNH (THE THIRTD TURNING: BUDDHA-NATURE)
|
- Phật giáo -
Hữu Thần hay
Vô Thần
(Nguồn: Tập san Pháp luân số 30)
Cập nhật: 31-10-2006, 13:59 bởi thanhhoa
|
|
Theo nếp suy nghĩ
của chúng ta, mọi vật trong thế giới
đều được chia thành hai đối cực:
có - không, đúng - sai, phải - quấy… Nhưng mà,
vạn vật đâu phải chỉ là sự phân chia ranh
giới rạch ṛi, sự phân chia rạch ṛi đó
chỉ là hệ quả hệ lụy từ trong bản
chất ưa suy luận của chúng ta thôi (kinh Lăng già
gọi là hư luận: prapañca). Cũng theo lối
lập luận ấy, người ta nghĩ về
đạo Phật, kẻ hoan nghênh, người phản
bác, trịnh trọng tuyên bố đạo Phật là
đạo vô thần (atheism). Vậy, nói Phật giáo là vô
thần, đúng sai như thế nào? Phận sự đầu
tiên của mỗi người Phật tử là quy y Tam
bảo - Phật, Pháp, Tăng. Phật trong nhiều
kiếp trước từng là những vị trời
sống ở các cơi trời mà kinh điển, đặc
biệt là Truyện tiền thân (Bổn sanh) thường
kể lại. Trước khi thị hiện thành
Phật, ngài là vị Bồ-tát Trời sống ở cung
trời Đâu-suất. Pháp là giáo lư tốt lành vi diệu,
trong ấy bao trùm cả những pháp đưa
đến những cơi trời. Tăng là hiện thân
của pháp ấy được thực hiện, trong
đó có rất nhiều vị là Bồ-tát bất
thối, hoặc những vị A-la-hán có thể đi
đến những cơi trời. Những vị Bồ-tát
này có thể hóa hiện làm các vị trời để
hướng dẫn chúng sanh tu tập, như Bồ-tát
Quán Thế Âm chẳng hạn. Hơn thế, Tam bảo
không chỉ là nơi quy ngưỡng của con
người trần tục mà c̣n là của chư thiên, các
vị trời cao trọng. Trong kinh kể, nhiều
vị Phạm thiênđă xuống trần để nghe
pháp và sau đó phát tâm quy y tam bảo. Và chúng ta cũng
biết, chính bản thân đức Phật cũng đă
là hiện thân đầy đủ của cả Tam bảo,
v́ Pháp và Tăng đều là những pháp lưu xuất
từ Phật. Sự kết hợp của Pháp và Tăng
là để thực hiện sự hoàn thành Phật tánh vô
biên trong mỗi cá thể. Đức Phật -
đối tượng cho chúng ta quy ngưỡng ở
đây không phải là một vị chúa tể khai sáng
vũ trụ, bởi v́ vũ trụ này được
h́nh thành do cộng nghiệp của tất cả mọi
sinh linh, trong đó có các vị trời. Ngài là vị
Đạo sư của trời và người với
những phẩm đức cao đẹp vượt lên
trên những giới hạn mà loài trời và loài
người đang cố vượt qua - đó là sự
sanh tử luân hồi. Nói về sự hoàn thiện,
tất cả chư Phật trong mười phương
ba đời đều b́nh đẳng và là điểm
quy chiếu của tất cả các hoài vọng cao
đẹp không chỉ cho con người khổ đau mà
cho cả chúng sanh ở các cơi trời đang hưởng
cuộc sống an nhàn tốt đẹp. V́ đức
Phật vượt lên trên các vị trời nên không có lư
do ǵ để những đệ tử của Ngài quy
hướng các vị trời ấy. Vậy chư Phật có
phải là những bậc linh thánh không? Linh thánh là
phẩm chất của những vị thần thánh, trong
đó có các vị trời. Chư Phật có phẩm
chất toàn hảo vượt lên trên các vị trời
nên tất nhiên các Ngài cũng là những bậc linh thánh,
thậm chí c̣n trên cả những khái niệm ấy. Các
Ngài là Trời của tất cả các loài trời, là Vua
trong tất cả các vua, là bậc Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác - Samyaksaṃbodhi. Thế th́ những
người con Phật thuộc vào hệ tư
tưởng nào trong những cái được gọi là
vô thần, độc thần và đa thần? Trả
lời dứt khoát câu hỏi này thật không phải
dễ, bởi v́ ngay việc sử dụng các từ này
cũng đa dạng như chính các vị thần được
người ta kể đến. Tuy nhiên, đạo
Phật cũng có nhận định khái quát về
vấn đề này qua việc t́m về nguồn cội
sự phát triển của thần giáo trong lịch sử
nhân loại, từ đó cho chúng ta cái nh́n đúng
đắn về tôn giáo của ḿnh trong mối
tương quan với những tôn giáo khác. Vào buổi b́nh minh của
nhân loại, do sự thiếu hiểu biết về
bản chất của thế giới nên khi đối
trước các hiện tượng tự nhiên như
thiên tai lũ lụt, hạn hán mất mùa, con
người có xu hướng xem đó như là những
trạng thái t́nh cảm “không ổn định” của
những quyền năng siêu nhiên, đó là nguồn
cội của các vị thần. Nói một cách khác,
tổ tiên của các vị thần là nỗi lo sợ
của lê dân! Con người ban cho mỗi một hiện
tượng kỳ bí một vị thần cai quản.
Từ đó, đa thần giáo được h́nh thành
với sự đa dạng trong tính cách cũng như h́nh
thức và số lượng của chư thần.
Thế rồi, con người cảm thấy chư
thần phức tạp quá, khó có thể làm vừa ḷng
tất cả nên họ muốn đưa chư thần
về dưới sự cai quản của một vị
thần tối cao, để dễ bề thương
lượng đồng thời tránh được
sự hỗn loạn của chư thần. Có lẽ
từ đó mà chủ nghĩa Nhất thần giáo
được h́nh thành. Phật giáo xuất
hiện ở đời cùng với sự hiểu
biết ấy nên chư thần không được quy
ngưỡng như những nơi an ổn tối
thượng. Đức Phật với sự toàn giác
đă xóa đi những đám mây mờ trong nhận
thức của con người về bản chất
của thế giới, của chư thần. Thế
nhưng nói như vậy không có nghĩa là chư thần,
thậm chí thượng đế, không hề tồn
tại. Theo quan niệm của Phật giáo, thế
giới này có đến 36 tầng trời, và mỗi
tầng như thế đều có các chúng sinh trời
cư trú. Đây là những chúng sinh đă tạo những
nghiệp lành trong những kiếp trước. Cuộc
sống ở những nơi ấy tuy sung sướng
đầy đủ nhưng không phải là mục
đích hướng đến của đạo
Phật, bởi v́ họ vẫn đang bị các
phiền năo chi phối và phải chịu tái sinh. Những
loài trời này cũng như con người chúng ta
đang kiếm t́m sự giải thoát rốt ráo ra ngoài
những trói buộc của phiền năo, của luân
hồi, đó là Niết-bàn tự tại. Trong kinh mô tả, vị
Thiên chủ Đế thích, là vị trời luôn nghĩ
rằng ḿnh là chủ nhân đă sáng tạo ra thế
giới, đă thỉnh cầu đức Thế Tôn thuyết
pháp ngay sau khi Ngài thành tựu Chánh giác. Và c̣n nhiều
vị trời khác cũng có những việc làm
tương tự, như bốn vị Thiên vương
ở bốn hướng núi Tu-di trở thành những
vị hộ pháp… Điều đó nói lên rằng, ngay các
vị trời, các vị vua trời cũng đều
hết sức cung kính đức Thế Tôn, họ quy y và
nghe pháp từ ngài bởi họ ư thức được
rằng sự linh thánh của họ không bằng nơi
ngài. Thế th́ Phật giáo
cũng nói đến chư thần và thiên giới
nhưng không xem những vị ấy hoặc những
nơi ấy là bản thể, là đích điểm
cứu cánh hay chỗ quy ngưỡng tối
thượng của con người. Trời và
người đều b́nh đẳng trong khả
năng giác ngộ, chỉ khác nhau ở chỗ
phước đức sâu dày hay nông cạn; nếu so sánh
một cách khiên cưỡng th́ sự khác nhau ấy
giống như sự khác nhau giữa người giàu và
kẻ nghèo. Chư thần không phải là trung tâm
điểm của Phật giáo, không phải là nền
tảng cho giáo lư nhà Phật. Đức Phật dạy,
giác ngộ là mục đích tối thượng, bằng
vào sự nỗ lực tu tập con người có thể
đạt được sự giải thoát như chính
ngài, sự giác ngộ ấy c̣n cao hơn những ǵ mà
chư thiên đang thọ hưởng. Người ta cũng
thường gán ghép chủ nghĩa vô thần với
chủ nghĩa hư vô, một tư tưởng không tin
nhân quả nghiệp báo. Theo nghĩa này th́ Phật giáo
lại càng hoàn toàn không phải vô thần bởi khi đi
sâu vào Tam tạng giáo điển của Phật giáo, chúng
ta thấy Phật giáo tôn trọng tư tưởng nhân
quả nghiệp báo này hơn bất cứ nơi nào.
Mối quan tâm trong tinh thần nhân quả nghiệp báo
của Phật giáo không chỉ dừng lại ở con
người mà c̣n lan tỏa đến những sinh
vật nhỏ bé như con sâu cái kiến…, đến cây
cỏ núi rừng, đến lợi ích cho toàn thể. Đức Phật dạy,
muốn đạt được giải thoát th́
phải tránh xa hai cực đoan. Ở phương
diện này cũng vậy, đạo Phật có nói đến
các vị thần thánh trong trời đất, nhưng
họ không phải là nơi quy ngưỡng cho con
người t́m cầu giác ngộ. Đồng thời
đạo Phật cũng không chủ trương vô
thần để rồi con người sống sa
đọa trong nỗi lạc lơng của sự phủ
nhận đạo lư nhân quả nghiệp báo, phủ nhận
những phẩm đức cao đẹp của cuộc
sống. |
ĐÔI ĐIỀU GHI CHÉP VỀ ĐẠI TẠNG
KINH
Liên Hương
Đại tạng kinh là một công tŕnh tập thành tâm
huyết của bao nhiêu thế hệ Tổ sư, cổ
đức Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly. Nói
một cách ngắn gọn và dễ hiểu, Đại
tạng kinh là một toàn tập bao gồm tất cả
những thánh thư Phật giáo theo hệ thống
Dưới các triều Hiếu Minh đế (516-528)
của nhà Bắc Ngụy, Tề Minh đế (494-498)
của nhà Nam Tề và các đời vua Vũ đế,
Văn đế và Tuyên đế của nhà Trần
(557-583), kinh điển Phật giáo đă được
gom thành toàn tập mệnh danh là Đại tạng kinh và
được sao chép để thờ tại các tự
viện chính. Riêng Tùy Văn đế (581-604) đă hạ
chiếu sao tả 46 bộ Đại tạng kinh để
thờ tại các chùa chính trong mỗi châu, nhưng vẫn
chưa đặt vấn đề tiêu chuẩn hóa Đại
tạng kinh. Tuy thế, danh xưng "Đại tạng
kinh" chỉ xuất hiện vào thời Tùy -
Đường, c̣n trước đó chỉ gọi là
Nhất thiết chúng tạng kinh điển.
Đại tạng kinh được h́nh thành dần
dần. Trước tiên, chỉ kinh Phật
được xếp vào Đại tạng. Một bản
kinh muốn được xếp vào Đại tạng (danh
từ chuyên môn gọi là "nhập tạng") phải
được sự phê chuẩn của nhà vua. Thông
thường, hoàng đế sẽ tham khảo ư kiến
của các vị cao tăng cổ đức xem bản kinh
đó có đúng thật là kinh Phật hay ngụy kinh. Sau
thời Ngũ đại, các trước tác của các tông
phái mới lần lượt được nhập
tạng.
Căn cứ trên thứ tự niên đại, lần
lượt có các bản Đại tạng kinh như sau:
1. Khai
Bảo tạng (c̣n gọi là Bắc Tống tạng
bản, Sắc bản, Thục bản): Đây là bản
Đại tạng kinh đầu tiên được ấn
loát bằng bản gỗ khắc vào năm 971 tại Ích
Châu (Thành Đô) thuộc đất Thục (tỉnh Tứ
Xuyên hiện nay) theo mệnh lệnh của Tống Thái
Tổ. Măi đến năm 983, việc in kinh mới hoàn
thành. Số lượng kinh trong tạng là 1.076 bộ.
Bộ kinh này về sau trở thành cơ sở cho Cao Ly
Đại tạng kinh.
2. Đan
Châu tạng (c̣n gọi là Đan bản, Đan tạng,
Liêu bản): Bản này do vua Liêu Hưng Tông nước
Khất Đan (Đại Liêu) hạ chỉ khắc bản
tại Nam Kinh (nay là thành phố Bắc Kinh. Thời Liêu
gọi Bắc Kinh là Nam Kinh, c̣n thành phố Nam Kinh hiện
nay gọi là Kim Lăng). Công tŕnh này măi đến năm
1072 đời vua Đạo Tông mới hoàn thành. Bản này có
dạng chữ in nhỏ nhất, nay đă thất lạc.
3. Kim
tạng (c̣n gọi là Triệu thành tạng bản, Kim
khắc tạng kinh): Bản này do ông Thôi Pháp Trân ở
Lộ Châu, Sơn Tây chủ xướng, khắc in vào
thời Kim tại chùa Thiên Ninh, Giải Châu (Sơn Tây).
Đến năm 1173 mới hoàn thành, hoàn toàn giống bản
đời Bắc Tống, chỉ khác cách tŕnh bày. Bản
này hiện đă thất lạc, chỉ c̣n một ít
(chừng 4.597 quyển) tại chùa Tiêu Sơn Quảng
Thắng ở huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây vào
năm 1934. Không biết bản này c̣n tồn tại sau
cơn biến nạn Cách mạng văn hóa hay không!
4. Tỳ
Lô tạng (c̣n gọi là Phúc Châu tạng, Phước Châu
Khai Nguyên tự bản): Do các vị Bản Minh, Bản
Ngộ, Hạnh Sủng, Pháp Diêu, Duy Xung, Liễu Nhất
quyên mộ khắc bản tại chùa Khai Nguyên ở Phúc
Châu vào năm 1112 thời Tống.
5. Tư
khê Viên Giác tạng (c̣n gọi là Hồ Châu bản): Do các
ngài Vương Vĩnh Tùng ở Tư Khê (Hồ Châu),
Tịnh Phạm ở viện Đại Từ, Hoài Thâm ở
viện Viên Giác quyên mộ khắc in năm 132 thời Nam
Tống, gồm có 1.412 bộ.
6. Tư Khê Tư Phúc
tạng: Tạng kinh do Tư Phúc Thiền Tự ở
Tư Khê châu An Cát (nay là huyện Ngô Hưng, tỉnh
Triết Giang) gồm 1.464 tác phẩm.
7. Cao
Ly tạng (c̣n gọi là Tiên bản, Ly tạng):
Gồm
nhiều loại:
7.1. Sơ điêu bản: khắc in vào năm 1011 dùng
Thục bản làm gốc, thêm vào các soạn thuật ghi
trong Trinh Nguyên mục lục, hoàn thành năm 1082.
7.2. Tái điêu bản: hiện được cất
giữ tại chùa Hải Ấn (Haeinsa) ở Hàn Quốc.
Bản này được khắc in từ năm 1236
đến năm 1251 để cầu nguyện đẩy
lùi quân Nguyên. Hiện bản này đă được
điện tử hóa và lưu hành dưới dạng CD,
giới nghiên cứu thường mệnh danh bản
Đại tạng này là Tripitaka Koreana.
8. Phổ
Ninh tạng (Nguyên bản): Do các vị Đạo An, Như
Nhất quyên góp khắc in tại chùa Phổ Ninh, huyện
Dư Hàng, tỉnh Triết Giang. Bản này dựa theo
Hồ Châu bản đời Tống thêm vào tác phẩm Tông
Kính Lục của ngài Vĩnh Minh, tổng cộng là 1.437
bộ kinh, luận, trước tác.
9. Hoằng
Pháp tạng: Do vua Nguyên Thế Tổ hạ chỉ
khắc bản tại chùa Hoằng Pháp ở Bắc B́nh vào
năm 1277 đến 1294 mới hoàn thành. Toàn tạng
gồm 1.654 tác phẩm. Mỗi trang in gồm 5 hàng, mỗi
hàng 17 chữ. Nội dung kinh luận được
chọn nhập tạng dựa theo bản Chí Nguyên Pháp
Bảo Khám Đồng Tổng Lục. Hiện nay bản này
hoàn toàn bị thất lạc.
10. Hồng
Vũ
11. Vĩnh
Lạc Nam tạng : Bản này chỉ là bản Hồng
Vũ có thay đổi chút ít, chia thành mười bộ
(nhóm chính): Đại Thừa Kinh, Tiểu Thừa Kinh, Tống
Nguyên Nhập Tạng Chư Đại Tiểu Thừa Kinh, Tây
Độ Thánh Hiền Soạn Tập (các trước tác
của các vị cổ đức Thiên Trúc), Đại
Thừa Luật, Tiểu Thừa Luật, Tục Nhập
Tạng Chư Luật và Thử Phương Soạn
Thuật (các trước tác của chư Tổ Trung Hoa).
Toàn tạng gồm 1.625 bộ, in từ năm 1412
đến 1417 theo h́nh thức mỗi trang 30 hàng, mỗi
hàng 17 chữ. Cứ 5 hàng là một cột.
12.
Long tạng : Đại tạng kinh được khắc
in vào năm 1735 (năm Ung Chánh thứ 13) đến năm
1738 (năm Càn Long thứ 3) mới hoàn thành. V́
được hoàn thành vào đời vua Càn Long nhà Thanh nên
nó được gọi là Càn Long Đại tạng kinh, hay
gọi tắt là Long tạng. Toàn tạng gồm 1.662
bộ. Đây là bản Đại tạng kinh lớn nhất do
hoàng triều khắc in.
13. Trung
Hoa Đại tạng kinh: Do Tu Đính Trung Hoa Đại
Tạng Kinh Hội ấn hành vào năm 1956. Chủ biên là
Thái Niệm Sanh. Toàn tạng gồm bốn đại pháp:
Tuyển tạng, Tục tạng, Dịch tạng và
Tổng mục lục. Từ năm khởi xướng
cho đến 20 năm sau dù liên tục ấn hành, bộ
Đại Tạng này vẫn chưa hoàn thành, nhưng vẫn
được giới nghiên cứu tham khảo rộng
răi.
14. Phật
giáo Đại tạng kinh : Do ngài Quảng Định biên
tu ấn hành tại Đài Loan từ năm 1977 đến 1983
gồm cả Chánh tạng lẫn Tục tạng, gồm
2.643 quyển, chia thành 162 tập. Đây là bộ Đại
tạng tương đối hoàn chỉnh nhất v́
đă tổng hợp các bản Đại Chánh tạng, Tích Sa
tạng, Gia Hưng tạng, Vạn Chánh, Tục tạng
để bổ khuyết, đồng thời du nhập
các bản kinh dịch từ tiếng Tạng và Pali.
15. Súc
Loát Đại tạng kinh (gọi đủ:
Đại Nhật Bản Hiệu Đính Súc Khắc
Đại tạng kinh): Bản này thường
được các nhà học giả Tây phương gọi
là Tokyo Edition. Bản này ấn hành từ năm 1880
đến 1885 dùng bản Cao Ly tạng tàng trữ tại
chùa Tăng Thượng ở Đông Kinh làm gốc,
đối chiếu với Tống bản (Hồ Châu
tạng), Nguyên tạng, Minh tạng, thêm vào các trước
tác của Mật giáo và các tác phẩm của chư cổ
đức Nhật Bản. Toàn tạng gồm 1.918 bộ
kinh, sách.
16. Vạn
Tự Chánh Tục tạng kinh (Đại Nhật
Bản Hiệu Đính Huấn Điểm Đại
tạng kinh): Do thư viện Tàng Kinh ở Kinh Đô (
17. Đại
Chánh tân tu Đại tạng kinh (Taisḥ Shinsu Daiẓkỵ;
gọi tắt là Đại Chánh tạng): Do Đông Kinh Đại
Chánh Nhất Thiết Kinh San Hành Hội ấn hành từ
năm 1924 đến năm 1934 do các vị Cao Nam Thuận
Thứ Lang, Độ Biên Hải Húc và Tiểu Dă Huyền
Diệu chủ biên. Toàn tạng gồm 100 tập, 55
tập đầu quan trọng nhất v́ bao gồm toàn
bộ các kinh, luật, luận trọng yếu. Bản này
hiện thời được coi là bản kinh tiêu
chuẩn v́ mỗi bản kinh, luận đều
được khảo dị, hiệu đính tỉ
mỉ, c̣n ghi chú các thuật ngữ bằng tiếng Pali và
Sanskrit.
Ngoài những bản trên, c̣n có các bản khắc khác,
nhưng chúng tôi lướt qua không nhắc đến v́
chúng ít quan trọng hơn. Chẳng hạn, bản Phật
Quang Sơn Đại tạng kinh do Học hội Phật giáo
Phật Quang Sơn của Pháp sư Tinh Vân biên soạn và
ấn hành dù nội dung rất công phu vẫn không
được phổ biến rộng răi bằng Đại
Chánh và tạng chữ Vạn.
Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ 107 (2-2005)

KINH CÁC PHÁP TU VIÊN THÔNG
Hoaø Thöôïng Thích Töø Thoâng ḍch
Bấy giờ đức Thế Tôn
bảo khắp các đại Bồ-tát và hàng A-la-hán đă
dứt hết lậu hoặc rằng: Các ông là Bồ-tát và
A-la-hán sanh trong Phật Pháp đă chứng quả vô học.
Nay Như Lai hỏi các ông: Lúc mới phát tâm, trong
mười tám giới, các ông tâm đắc ở giới
nào ? Do nhân duyên ǵ ? Nhờ phương tiện nào mà các ông
được Tam-ma-đề viên thông tâm tánh ?
1.
DO THANH TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Lúc đó, Tỳ-kheo Kiều-trần-như từ
chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay
thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn ! Sau
khi Như Lai thành đạo ở Lộc Uyển, chúng con
gặp Phật trước tiên. Chúng con được
Phật khai thị cho về pháp Tứ Diệu
Đế. Do nghe tiếng Pháp của Phật mà con tỏ
ngộ. Lúc đó Đức Thế Tôn hỏi con: Có
hiểu không, con thưa là đă hiểu. Nhơn đó
Thế Tôn đặt cho con cái tên là A-nhă, ấn chứng
chúng con là những người A-la-hán. Nay Phật hỏi viên
thông, đối với con thanh trần là mầu
nhiệm nhất.
2.
DO SẮC TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Ưu-ba Ni-sa-đà đứng dậy
chắp tay cung kính thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn ! Con
cũng được gặp Phật sau những ngày
Như Lai thành đạo không lâu. Trông vào tướng
hảo quang minh của Thế Tôncon quán sâu vào tướng
bất tịnh của sắc thân ô trược. Từ cái
tử thi bắt đầu trương śnh, đến
tướng bạch cốt, vi trần, con sanh ḷng nhàm chán
tột bậc, chợt tỏ ngộ tánh: sắc, không,
không sắc đều chẳng ra ǵ. Như Lai ấn
chứng cho con cái tên là Ni-sa-đà, con được A-la-hán
quả. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên
thông, xin thưa: Đối với con sắc trần
là ưu việt nhất.
3. DO HƯƠNG TRẦN
ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Đồng Tử
Hương Nghiêm đứng dậy cung kính chắp tay
thưa:
- Bạch Đức
Thế Tôn ! Trước đây Như Lai dạy con quán sát
kỹ về các pháp tướng hữu vi. Một hôm con
tĩnh tọa trong giảng đường các tỳ-kheo
đốt hương trầm thủy, mùi hương
thoang thoảng trong tĩnh mịch u nhàn, tác dụng
đến mũi con. Con tư duy quán xét: Hương này
không phải do gỗ, không phải do hư không, không
phải do khói, không phải do lửa. Đi ra không dính vào
đâu. Đến đâu không chỗ dừng trụ. Quán chiếu
như vậy, ư thức phân biệt của con tự
khắc tiêu vong. Trí vô lậu phát sanh, Như Lai ấn
chứng cho con danh hiệu là Hương Nghiêm. V́ do con
thể nghiệm mùi hương mà chứng được
A-la-hán quả. Nay Phật hỏi phương tiện
được viên thông, xin thưa: Với con, hương
trần là tối thắng nhất.
4. DO VỊ TRẦN
ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Hai vị Bồ-tát Dược
Vương, Dược Thượng, cùng năm trăm
Phạm thiên trong hội chúng đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn !
Từ vô lượng kiếp, chúng con là lương y
cứu tế thế nhân. Miệng chúng con thường
nếm những lá hoa cây cỏ kim thạch trong cơi Ta-bà này.
Tất cả những vị: mặn, lạt, chua, cay,
ngọt, đắng… vị biến đổi sanh, vị
ḥa hợp có; vị nào lạnh vị nào nóng thứ có
độc, thứ không con đều biết cả.
Được phục vụ các đức Phật và
tất cả chúng sanh, rơ biết tánh chất của vị
trần: Không phải không, không phải có, không phải
tức thân tâm, không phải ly thân tâm. Nhờ con phân biệt
vị trần mà được khai ngộ. Phật
ấn chứng cho chúng con danh hiệu là Dược
Vương và Dược Thượng. Nay Phật hỏi
nhân duyên và phương tiện được viên thông,
xin thưa: Đối với chúng con vị trần là
ưu việt nhất.
5. DO XÚC TRẦN
ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Bạt-đà-bà-la cùng
với mười sáu vị tăng sĩ đồng là
đạo bạn cùng đứng dậy cung kính chắp
tay thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn ! Chúng con
trước kia ở thời Phật Oai Âm Vương, nghe
pháp xuất gia. Lúc chư Tăng tắm, con theo thứ
lớp vào nhà tắm để tắm. Bỗng nhiên con
tư duy và nhận thức rằng: Nước vốn
không rửa bụi và cũng chẳng rửa chân, trung gian
an nhiên lặng lẽ. Con tâm đắc tột độ
cái chân lư: "Chẳng có ǵ". Tập quán trước
không quên, đến nay con theo Phật xuất gia
được quả vô học. Đức Phật
thuở ấy gọi con với cái tên: Bạt-đà-la
(thiên thủ). Do con phát hiện tánh mầu nhiệm của
xúc trần mà thành Phật tử. Nay Phật hỏi duyên
cớ được viên thông, xin thưa: Đối
với con xúc trần là hơn tất cả.
6. DO PHÁP TRẦN
ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Đại Ca-diếp và
Tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang v.v… đồng đứng
dậy cung kính chắp tay thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn !
Kiếp xa xưa trong cơi này có Phật ra đời hiệu
Nhật Nguyệt Đăng. Sau khi Phật diệt
độ chúng con thắp sáng ngọn đèn chánh pháp
để cúng dường; đem tâm trong sáng vàng thắm
thếp tô Phật tượng. Do đó đời đời
kiếp kiếp thân thường viên măn, rực rỡ
như vàng ṛng. Chúng con quán sát sáu trần luôn luôn biến
hoại. Con trụ tâm trong vắng lặng, nhập
định diệt tận, thân tâm rỗng rang, thời gian
trăm ngh́n kiếp tựa hồ như trong cái khảy
móng tay. Do thành tựu pháp không quán mà con được
quả A-la-hán. Thế Tôn ấn chứng con là:
Đầu-đà đệ nhất; pháp trần thâm
diệu nhờ tuệ nhăn con được khai minh,
lậu hoặc được dứt trừ. Nay Phật
hỏi duyên cớ viên thông, với sở ngộ
chứng của con th́ pháp trần là tối
thượng.
7. DO NHĂN CĂN ĐƯỢC
VIÊN THÔNG
Tôn giả A-na-luật-đà
đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
- Bạch Đức
Thế Tôn ! Lúc con mới xuất gia thường ưa
thích nằm và ngủ li b́. Như Lai quở con là loại
súc sanh. Nghe lời quở của Phật, con thầm khóc,
tủi hổ và tự trách ḿnh. Con cương quyết
thề không ngủ và con thức suốt bảy ngày đêm.
Hai con mắt con bệnh và hư mất. Thế Tôn
thương dạy cho con pháp: Lạc Kiến Chiếu
Minh Kim Cang Tam-muội. Sau khi được tam muội,
con thấy suốt hiện tượng trong mười
phương như trái chanh, trái quít để trên bàn tay.
Như Lai ấn chứng cho con quả A-la-hán. Nay Phật
hỏi nguyên nhơn nào được viên thông, xin
thưa: Theo chỗ tâm đắc của con là xoay tánh
thấy của nhăn căn trở về bản
thể thanh tịnh bản nhiên là ưu việt nhất.
8.
DO TỶ CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc đứng
dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn, con v́ thiếu tŕ
tụng kinh điển nên không có tuệ đa văn. Khi
mới gặp Phật, con xin xuất gia nghe học pháp
Phật con cố nhớ một bài kệ của Như Lai
mà không sao nhớ nổi. Con gắng học suốt cả
một trăm ngày, nhớ câu trước th́ quên câu sau;
nhớ câu sau lại quên câu trước. Phật
thương con ngu muội, dạy con ở một nơi
yên tĩnh tu tập pháp môn điều ḥa hơi thở ra
vào. Bấy giờ con vận dụng quán trí theo dơi từng
hơi thở, từ thô đến vi tế, từng sát na
nhiếp ư, vận dụng tư duy, chia hơi thở thành
bốn thời kỳ: Hít vô gọi là sanh. Đầy
hơi gọi là trụ. Thở ra gọi là dị.
Măn hơi gọi là diệt. Thực hiện một
thời gian, tâm con bừng sáng rỗng rang được
đại vô ngại, các lậu hoặc dứt hết,
thành A-la-hán. Trước pháp ṭa, Phật ấn chứng cho
con thành quả vô học. Nay Phật hỏi viên thông,
theo chỗ sở hành của con: Tập trung tư
tưởng xoay vào quán hơi thở ra vào minh bạch, là
pháp hành hiệu quả nhất.
9.
DO THIỆT CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Kiều-phạm-ba-đề đứng
dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con
mắc khẩu nghiệp trong kiếp quá khứ, nhiều
đời phải tật nhơi măi như trâu. Như Lai
thương, dạy cho con pháp: Nhất vị thanh
tịnh tâm địa. Nhờ đó con diệt phân
biệt, được Tam-ma-đề. Con quán chiếu
rằng: Tánh biết vị không phải do thân thể,
cũng không phải do ở ngoại vật. Do đó, trong
th́ thân tâm giải thoát; ngoài th́ như rời bỏ thế
gian. Viễn ly ba cơi như chim sổ lồng; cấu
nhiễm không c̣n, tiêu vong hóa trần tướng, pháp nhăn
thanh tịnh, được quả A-la-hán. Như Lai
ấn chứng cho con lên hàng Vô học. Nay Phật hỏi
phương tiện được viên thông, xin
thưa: Theo con th́: trả vị về cho phân biệt
của thiệt căn là ưu việt nhất.
10.
DO THÂN CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Tất-lăng-già-bà-ta đứng dậy
cung kính chắp tay bạch Phật rằng: Lúc con mới
phát tâm xuất gia theo Phật, thường nghe Phật
dạy: "Cuộc đời chẳng có ǵ vui".
Đang khi đi khất thực, vừa đi vừa
tư duy lời Phật, bỗng dưng con đạp
phải cái gai độc. Cả thân đều đau
đớn. Trong lúc đau đớn, con quán chiếu tư
duy: Giác tâm thanh tịnh vốn không có cái đau và cái
biết đau ! Một thân thể lẽ đâu lại có
hai tánh biết ! Nhiếp niệm không bao lâu thân tâm bỗng
nhiên rỗng rang thanh tịnh. Hai mươi mốt ngày sau,
các lậu hoặc được tiêu trừ, Phật
ấn chứng cho con lên hàng Vô học chứng A-la-hán
quả. Nay Phật hỏi duyên cớ nào được viên
thông, xin thưa, đối với con: Nắm giữ
giác tánh xem nhẹ thân căn là thành công dễ nhất.
11.
DO Ư CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Tu-bồ-đề đứng dậy cung
kính chắp tay bạch Phật rằng: Từ nhiều
kiếp đến nay, con vẫn được tâm vô
ngại thường trú nơi không tịch. Sự vật
hiện tượng trong mười phương
đối với con trở thành "chân không hóa" chẳng
chút vương víu buộc ràng. Như Lai phát minh tánh giác là
chân không; con tư duy thể nhập: Bảo minh không
hải tam muội, tri kiến đồng như
Phật. Con được Phật ấn chứng lên hàng
vô học A-la-hán. Nay Phật hỏi nhơn duyên
được viên thông, theo chỗ chứng ngộ
của con: Quán các tướng đều là phi
tướng. Cái phi tướng đối tượng
cũng không lưu lại. Nh́n hiện tượng vạn
pháp đúng như thật của nó: "Có mà thật
chẳng có ǵ", đối với con, đó là
phương tiện chinh phục ư căn hữu
hiệu nhất.
12.
DO NHĂN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Xá-lợi-phất
đứng dậy cung kính chắp tay thưa: Bạch
Đức Thế Tôn ! Từ nhiều kiếp đến
nay, sự nhận thức của con thường thanh
tịnh. Số kiếp thọ sanh lên xuống nhiều
như số cát sông Hằng. Do vậy mà các pháp biến hóa
thế gian, xuất thế gian một khi thấy là con
nhận thức không xa chân lư, được vô
chướng ngại. Trong lần gặp gỡ giữa
đường, ba anh em tôn giả Ca-diếp dụng ư theo
con để thuyết pháp. Các ông nói cho con nghe về giáo lư
nhân duyên sâu xa của Phật. Nhân buổi đàm đạo
đó, con được tỏ ngộ; nhận thức
được rằng: "Tâm không ngằn mé".
Rồi con theo Phật xuất gia. Trí tuệ sáng suốt
ngày càng viên măn, được đại vô úy, thành A-la-hán
quả, trưởng tử Phật. Nay Phật hỏi
nguyên nhân tỏ ngộ viên thông, xin thưa: Theo chỗ
chứng đắc của con th́ sự nhận thấy rơ
ràng, nhận thức đánh giá chính xác đúng như
thực của sự vật hiện tượng là thành
công ưu việt nhất.
13.
DO NHĨ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Phổ Hiền đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng con đă từng làm
Pháp vương tử cho các Như Lai nhiều như
số cát sông Hằng. Mười phương Như Lai
dạy các đệ tử Bồ-tát tu hạnh Phổ
Hiền chính là do dựa theo đức tinh tấn của
con mà đặt ra cái tên Phổ Hiền Hạnh.
Bạch Đức Thế Tôn ! Con sử dụng tánh
nghe của tâm mà nhận biết nguyện vọng của
chúng sanh. Do vậy, giả sử ở một phương
khác, cách ngoài hằng sa thế giới, có chúng sanh phát phát
tâm tu hạnh Phổ Hiền th́ liền trong lúc ấy, con
cỡi voi sáu ngà, phân thân trăm ngh́n đến chỗ
người ấy. Giả sử người kia nghiệp
chướng sâu dày chưa thấy được con, con
cũng thầm kín xoa đầu an ủi ủng hộ
khiến cho sở nguyện thành tựu. Nay Phật hỏi
nguyên nhân tu chứng viên thông, con xin thưa: Sử
dụng tánh nghe của nội tâm mà nhận biết tự
tại, đối với con là pháp môn ưu việt
nhất.
14.
DO TỶ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Tôn-đà-la-nan-đà đứng dậy cung
kính chắp tay thưa với Phật: Lúc con mới
xuất gia theo Phật học đạo, trong khi tu tam ma
đề, tâm thường tán loạn. Đức Thế
Tôn dạy con quán điểm trắng ở chót mũi. Con
bắt đầu thực hành, trải qua thời gian hai
mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra
vào như khói; thân tâm trong sáng như ngọc lưu ly.
Tướng khói lần lần không c̣n, tâm con
được khai ngộ, các lậu tận sạch trong,
thành A-la-hán. Thế Tôn thụ kư cho con thành quả Bồ
đề. Nay Phật hỏi sở nhân được viên
thông, xin thưa: Đối với con tập trung ư
niệm, quán hơi thở và điểm trắng ở tỷ
căn là thành tựu hữu hiệu nhất.
15.
DO THIỆT THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử
đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con
từ nhiều kiếp đến nay biện tài vô
ngại, tuyên thuyết các pháp: khổ, không, hiểu sâu
thật tướng, cho đến những pháp môn bí
mật như hằng sa của Như Lai, con có thể
diễn giảng trước đại chúng không hề có
sự sai lầm và sợ sệt. Thế Tôn biết con có
đại biện tài, dạy con tuyên dương chánh pháp,
giúp Phật chuyển pháp luân. Con nhờ giảng nói chánh
pháp mà được quả A-la-hán. Thế Tôn ấn
chứng cho con là: "thuyết pháp đệ nhất".
Nay Phật hỏi nguyên nhân được viên thông,
xin thưa: Con dùng pháp âm hàng phục tà ma ngoại
đạo, tiêu trừ hoặc lậu là ưu việt
nhất.
16.
DO THÂN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Ưu-ba-ly đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng chính con theo Phật
xuất gia, con thấy Như Lai sáu năm cần khổ,
cuối cùng hàng phục tà ma, chế ngự ngoại
đạo, giải thoát các lậu thế gian. Phật
dạy con tŕ giới, giữ ǵn tánh nghiệp và nghiệp
biểu hiện của thân, miệng, ư, giữ vẹn ba
ngh́n oai nghi, tám vạn tế hạnh. Nhờ vậy, thân
tâm tịch tịnh thành quả A-la-hán. Nay làm kỷ
cương trong đại chúng, Như Lai ấn chứng
con là "tŕ luật đệ nhất". Hôm nay Phật
hỏi phương tiện được viên thông,
xin thưa: Đối với con do giữ ǵn thân
được thanh tịnh. Thân đă thanh tịnh th́ tâm
sẽ thanh tịnh theo. Đó là phương pháp uốn
dẹp tu sửa thân tâm hữu hiệu nhất.
17.
DO Ư THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đứng
dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng lúc
nọ con đi khất thực giữa đường
được ba anh em tôn giả Ca-diếp:
Ưu-lâu-tần-loa, Dà-gia và Na-đề giảng nói lư nhân
duyên thậm thâm của Phật, tâm con bừng ngộ thông
suốt rỗng rang. Như Lai ban cho cà-sa mặc vào thân, râu
tóc tự cạo. Con có khả năng du hí khắp
mười phương không trở ngại. Đại
chúng suy tôn con là "thần thông đệ nhất",
trong hàng vô học A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông,
xin thưa: Con xoay ư thức trở về tánh sáng suốt
trạm nhiên. Giống như lóng nước đục,
lóng nước lâu trở về tự thể trong
sạch. Đó là phương tiện tu sửa đối
với con hữu hiệu nhất.
18.
DO HỎA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn giả Ô-sô-sắt-ma đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Con nhớ những kiếp xa
xưa, tánh con nhiều tham dục. Bấy giờ nhằm
thời Đức Phật Không Vương trụ thế.
Đức Không Vương Như Lai bảo rằng:
"Người đa dâm như đống lửa
hồng". Rồi Phật dạy con quán hơi nóng trong
cơ thể cả khắp tứ chi. Nhờ quán như
vậy tinh thần sáng suốt, nội tâm đứng
lặng, tâm háo dâm trở thành lửa trí tuệ. Từ
đó, chư Phật gọi con với cái tên Hỏa
Đầu. Con dùng sức hỏa quang tam muội mà
chứng quả A-la-hán. Con phát đại nguyện, nếu
có chư Phật thành đạo th́ con làm lực sĩ
hầu cận Phật để đánh dẹp bọn tà
ma khuấy phá. Nay Phật hỏi nhân duyên được viên
thông, xin thưa rằng: Do con quán hơi ấm trong thân,
lưu thông không ngăn ngại; từ đó các lậu tiêu
trừ, sanh lửa trí tuệ. Đối với con, đó
là pháp tu hữu hiệu nhất.
19.
DO ĐỊA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Tŕ Địa đứng dậy cung kính
chắp tay bạch Phật: Rằng con nhớ lại trong
những kiếp xa xưa, con từng được
gặp Phật và cúng dường chư Phật như
hằng sa, và cũng từng phục vụ vô lượng
chúng sanh đem đến chúng sanh nhiều lợi lạc.
Trong một kiếp nọ, ở vào thời Phật
Phổ Quang trụ thế, con là một Tỳ-kheo phát tâm
sửa chữa những đoạn đường gồ
ghề sụp lở, những bến xe, bến đ̣
bất tiện cho sự đi lại của nhiều
người. Ngoài những công tŕnh gánh đất, bưng
sỏi, đắp bồi sửa chữa như vậy,
con c̣n mang gánh giúp đỡ những người gánh
gồng nặng nhọc ở chợ búa mà không lấy
tiền công.O
Vào
thời Phật Tỳ-xá-phù trụ thế, nhân gian
nhiều đói kém, con phải cơng giúp nhiều người
không kể gần xa mà chỉ lấy một đồng
tiền… có lúc con ra sức kéo phụ xe trâu qua những
nơi quá lầy lội. Có lúc v́ Phật con sửa
đường bằng phẳng đợi Phật đi
hóa trai.
Một hôm Đức Như Lai Tỳ-xá-phù đi qua
đoạn đường con vừa sửa chữa.
Phật xoa đầu con mà dạy rằng: "Nên b́nh cái
tâm địa th́ đất đai trên thế giới
đều b́nh". Con nghe, tâm liền sáng bừng tỏ
ngộ. Con quán thấy vi trần trong cơ thể cùng
tất cả vi trần tạo thành thế giới bên ngoài
không sai khác ǵ nhau. Tự tánh vi trần không chạm sát
với nhau, cho đến đao binh các thứ tự nó
cũng không va chạm ǵ. Nhờ nhận thức như
vậy, con tỏ ngộ vô sanh nhẫn, thành A-la-hán hồi
tâm. Nay ở trong hàng Bồ-tát nghe Phật dạy: Tri
kiến Phật như diệu liên hoa, con lănh hội
trước tiên, đại chúng suy tôn là thượng
thủ. Nay Phật hỏi nguyên do đạt đến viên
thông, xin thưa: Do con quán trần ở nội thân và
trần cấu của thế giới bên ngoài b́nh
đẳng không sai khác. Tất cả từ Như Lai tàng
tùy duyên biến hiện. Vọng tâm chấp mắc trần
tướng tiêu vong th́ trí tuệ viên măn thành đạo
Bồ Đề. Đó là đối tượng sở
quán, đối với con đem lại thành công ưu
việt nhất.
20.
DO THỦY ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Đồng Tử Nguyệt Quang đứng
dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con
nhớ hằng sa kiếp trước có đức
Phật ra đời hiệu Thủy Thiên. Thủy Thiên
Như Lai dạy các Bồ-tát nên quán về nước để
nhập Tam-ma-đề. Phật dạy quán tánh nước
không ǵ lấn cướp làm cho mất hẳn
được. Từ nước mắt, nước
mũi, nước miếng, nước tiểu,
nước tân dịch trong châu thân… đều quán một
tánh nước đồng nhau. Tánh nước trong tự
thân và tánh nước trong các bể Hương Thủy
của thế giới Hoa Tạng, đồng nhau không sai
khác. Lúc con thành tựu pháp thủy quán này, con chỉ
thấy được tánh đồng của nước
mà chưa thấy được "thân không". Hồi
bấy giờ, con là một tỳ-kheo tọa thiền trong
một tịnh thất, có người đệ tử
trông cửa sổ nh́n vào, thấy toàn là nước. V́
nhỏ dại nó liền lấy một miếng ngói ném vào,
rồi tự bỏ đi. Khi xuất định con
thấy tim đau một cách lạ thường. Truy nguyên
ra duyên cớ, con bảo người đệ tử: Khi
con nhập định, trông thấy nước trong
thất th́ hăy vào nhặt miếng ngói mà người đă
ném ấy ra. Quả thật, khi xuất định, con
không c̣n đau đớn nữa.O
Qua vô lượng kiếp sau con được
gặp vô lượng Phật, nhưng chưa chứng
ngộ. Măi đến thời Như Lai Sơn Hải
Huệ Tự Tại Thông Vương th́ con mới
chứng được "không thân". Bây giờ con
thấy rơ nước trong tự thân cùng với
nước bể Hương Thủy trong mười
phương thế giới đồng một tánh chân
không, không sai khác. Ở nước Phật Sơn Hải
Huệ Tự Tại, con được hiện là
Đồng Chân, dự vào hàng Bồ-tát. Nay Phật hỏi
nguyên nhân được viên thông, xin thưa: Do con quán
tánh nước dung thông mà được vô sanh
nhẫn. Đối với con, pháp Thủy quán là ưu
việt nhất.
21.
DO PHONG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử
đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con
nhớ lại hằng sa kiếp trước có Phật ra
đời hiệu là Vô Lượng Thanh. Phật khai
thị cho các Bồ-tát về: Bản giác diệu minh.
Dạy các Bồ-tát quán: Thế giới và chúng sanh
đều do sự vận động của sức gió
vọng duyên chuyển biến mà h́nh thành. Riêng con, lúc
bấy giờ, con quán không gian an lập; quán thời gian
trôi đi măi; quán thân, khi động khi dừng; quán tâm,
niệm trước diệt, niệm sau sanh… Tất cả
những chuyển động biến diệt, con thấy
không hai không khác. Con nhận thức rơ rằng tánh của
các thứ động: Đến không chỗ từ, đi
không chỗ tới. Tất cả chúng sanh trong tam thiên
đại thiên thế giới có trong pháp giới
mười phương do sức gió vọng duyên mà
h́nh thành, mà sanh hoạt với nhau trong tánh bản giác
diệu minh, chân tâm minh diệu. Giống như hàng
vạn muỗi ṃng trong một cái đồ đựng,
kêu vo vo rầm rỉ, ào ào rối rít với nhau.
Con quán sát tư duy như vậy, không bao lâu, con
được vô sanh pháp nhẫn làm vị Pháp Vương
tử. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Do con
quán tánh phong đại "đi không chỗ từ,
đến không chỗ tới" mà tỏ ngộ tâm
bồ-đề. Đối với con th́ quán phong
đại là đệ nhất.
22.
DO KHÔNG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Hư Không Tạng đứng dậy cung
kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại con cùng
Như Lai đồng chứng được "vô biên
thân" hồi thời Phật Định Quang. Lúc đó
tay con cầm bốn đại bảo châu chiếu sáng cơi
Phật mười phương như số vi trần
đều hóa thành hư không. Bấy giờ tâm con sáng
suốt thành trí Đại Viên Cảnh. Con quán sát khắp
thế giới Liên Hoa Tạng và cùng tột hư không, hoà
quyện trong thân con. Thân con và hư không chẳng ngăn
ngại ǵ nhau. Do vậy, con
khéo vận dụng hài ḥa vào cơi nước như vi
trần làm Phật sự được thuận lợi
lớn lao. Sức thần to lớn đó do con quán sát
tứ đại không có chỗ sở y. Do vọng
tưởng mà thấy có diệt có sanh. Hư không không hai,
cơi Phật vốn đồng. Do con phát minh được
tánh đồng mà chứng được vô sanh pháp
nhẫn. Nay Phật hỏi nhơn duyên nào được viên
thông, xin thưa: Do con quán chiếu hư không vô biên
mà thể nhập Tam-ma-đề là phương tiện
ưu việt nhất.
23.
DO THỨC ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Di-lặc đứng dậy cung kính chắp
tay bạch Phật: Con nhớ lại vi trần kiếp
trước có Đức Phật hiệu Nhật
Nguyệt Đăng Minh. Con được theo Phật xuất
gia, nhưng tâm c̣n trọng hư danh thế gian, ưa giao
du với các hàng vọng tộc. Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh dạy con tu tập định: Duy tâm
thức và con được nhập Tam-ma-đề.
Trải hằng sa số kiếp đến nay, con sử
dụng tam muội ấy,
phụng sự hằng sa chư Phật, tâm cầu danh,
được diệt hết. Đến thời Phật
Nhiên Đăng ra đời con mới chứng được
tam muội thức tâm diệu viên vô thượng.
Bấy giờ con quán thấy cơi nước của chư
Như Lai, tột bờ mé hư không, tịnh uế, có
không đều do thức tâm biến hiện.
Bạch Đức Thế Tôn ! Do con tỏ ngộ Duy
tâm thức, thức tánh của con xuất hiện vô
lượng Như Lai, và hiện nay được
Phật thọ kư, con sẽ được bổ xứ
thành Phật ở cơi Ta-bà sau này. Nay Phật hỏi nguyên
nhân viên thông, xin thưa: Con quán mười
phương đều duy thức. Thức tâm tṛn sáng th́ xa
ĺa tánh biến kế, nhận thức đúng thực
thể của tánh y tha khởi th́ chứng nhập tánh viên
thành thật, được vô sanh nhẫn. Đối
với con đó là pháp quán ưu việt nhất.
24.
DO KIẾN ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát Đại Thế Chí Pháp Vương Tử
cùng với 52 vị Bồ-tát đồng tu một pháp
môn cùng đứng dậy
cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ hằng sa
kiếp trước có Đức Phật ra đời
hiệu Vô Lượng Quang. Thời đó có 12 đức
Phật ra đời trong một kiếp. Đức
Phật sau hết hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang
dạy cho con phép niệm Phật tam-muội: Rằng các
đức Như Lai ở mười phương
thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con.
Nếu con cũng đồng nhớ mẹ như mẹ
nhớ con th́ đời đời mẹ con không xa cách. Tâm
chúng sanh nhớ tưởng Phật th́ tâm ấy là Phật. Nhất định
thấy Phật, không cần phương tiện nào khác. Ví
như người ướp hương th́ toàn thân
thể sẽ thành thơm, ấy gọi là hương quang
trang nghiêm. Chính con nhờ niệm Phật mà được
vô sanh nhẫn. Nay ở cơi Ta Bà, con nguyện hướng
dẫn người niệm Phật để có
được tịnh độ. Phật hỏi nhân duyên
nào được viên thông, xin thưa: Con thu nhiếp
tất cả sáu căn không vọng niệm. Do chánh
niệm tương tục mà được
Tam-ma-đề đối với con đấy là pháp môn
thù thắng nhất..
PHÁP TU NHĨ CĂN VIÊN THÔNG
CỦA BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM
Lúc
bấy giờ Bồ-tát Quán Thế Âm đứng dậy
cung kính chắp tay thưa: Bạch Đức Thế Tôn !
Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức
Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm và con đă
phát bồ-đề tâm thời ấy. Đức Phật
Quán Thế Âm dạy
con phương pháp nghe, suy nghĩ và tu để
được thể nhập chánh định.O
Bạch Đức Thế Tôn !
Trước hết con sử dụng tánh nghe: Nghe
động và nghe tĩnh, rồi con xóa đi ư niệm
động tĩnh ấy; từ đó sức tịch
tĩnh tăng dần, con dứt được chủ
thể nghe và đối tượng nghe. Sức
tịch tĩnh không dừng ở đó bấy giờ giác
tánh con lại hiển hiện ra. Con tiếp tục tư
duy: Dù là giác tánh nhưng tánh "năng giác", "sở
giác" hăy c̣n, con bèn xóa đi về ư niệm giác; bấy
giờ tâm tánh con rỗng rang lặng lẽ như hư
không. Con lại diệt đi cái giác tri "như hư
không" ấy. Cuối cùng con diệt cả cái khái
niệm "diệt". Khi con diệt hết khái niệm
vi tế về "diệt sanh, sanh diệt" bỗng
dưng con nhận thấy toàn thể pháp giới trong
mười phương chỉ c̣n là cảnh giới
"bất nhị" tịch diệt hiện tiền. Tâm
tánh của con viên măn khắp giáp mười phương
vượt hẳn tầm nhận thức thường
t́nh của thế gian, con được hai thù thắng:
Một là tâm con hợp với bản giác nhiệm mầu
của mười phương Thế Tôn, đồng
một từ tâm hướng về cứu độ chúng
sanh. Hai là hợp với tâm của lục đạo chúng
sanh trong mười phương, đồng một bi tâm
hướng thượng cầu vô thượng
bồ-đề.
DO TỪ TÂM, HIỆN 32 ỨNG THÂN
Bạch Đức Thế Tôn! Do cúng dường pháp
đến Đức Như Lai Quán Thế Âm, con
được Phật truyền thụ cho con như
huyễn văn huân văn tu Kim Cang Tam-muội nên thân con
thành tựu 32 ứng thân vào các cơi nước. Bạch
Đức Thế Tôn!
- Một là, nếu các Bồ-tát vào Tam-ma-đề
tiến tu pháp vô lậu, thắng giải viên măn, con
hiện thân Phật v́ họ mà thuyết pháp khiến cho
được giải thoát.
- Hai là, nếu các hàng hữu học tu pháp tịch
tĩnh diệu minh viên măn, con hiện thân Độc Giác v́
họ mà thuyết pháp.
- Ba là, nếu các hàng hữu học dứt
mười nhơn duyên, phát ra thắng tánh viên măn, con
hiện thân Duyên Giác v́ họ mà thuyết pháp.
- Bốn là, nếu các hàng hữu học
được pháp không của tứ đế, tu
đạo đế, thể nhập diệt đế,
thắng tánh viên măn, con hiện thân Thanh Văn v́ họ mà
thuyết pháp.
- Năm là, nếu chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ,
không vướng vào ngũ dục, muốn thân
được thanh tịnh, con hiện thân Phạm
Vương v́ họ mà thuyết pháp.
- Sáu là, nếu chúng sanh muốn làm thiên chủ
thống lănh chư thiên, con hiện thân Đế- thích v́
họ mà thuyết pháp.
- Bảy là, nếu chúng sanh muốn thân
được tự tại dạo khắp mười
phương, con hiện thân Tự Tại Thiên v́ họ mà
thuyết pháp.
- Tám là, nếu chúng sanh muốn thân được
tự tại, bay đi trên hư không, con hiện thân
Đại Tự Tại Thiên v́ họ mà thuyết pháp.
- Chín là, nếu có chúng sanh thích
thống lănh quỷ thần cứu quốc hộ dân, con
hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, v́ họ mà
thuyết pháp.
Mười là, nếu chúng sanh muốn thống lănh
quỷ thần, cứu giúp cơi nước, con hiện thân
Thiên Đại Tướng Quân v́ họ mà thuyết pháp.
- Mười một là, nếu các chúng
sanh muốn sanh ở thiên cung, con hiện thân Thái tử, con
Tứ Thiên Vương v́ họ mà thuyết pháp.
- Mười hai là, nếu các chúng sanh muốn làm vua
cơi người, con hiện thân vua v́ họ mà thuyết pháp.
- Mười ba là, nếu các chúng sanh muốn làm
chủ gia đ́nh danh tiếng, thế gian kính
nhường, con hiện thân trưởng giả v́ họ
mà thuyết pháp.
- Mười bốn là, nếu các chúng sanh thích
luận lời hay, giữ ḿnh trong sạch con hiện thân
cư sĩ v́ họ mà thuyết pháp.
- Mười lăm là, nếu các chúng sanh muốn kinh
bang tế thế, con hiện thân tể quan v́ họ mà
thuyết pháp.
- Mười sáu là, nếu các chúng sanh
thích chú thuật toán số, thu nhiếp nhân tâm, con hiện thân
Bà-la-môn v́ họ mà thuyết pháp.
- Mười bảy là, nếu các thiện nam muốn
xuất gia tu học, con hiện thân tỳ khưu v́ họ
mà thuyết pháp.
- Mười tám là, nếu có người tín nữ
muốn xuất gia, con hiện thân tỳ khưu ni v́
họ mà thuyết pháp.O
- Mười chín là, nếu có người thiện nam
muốn giữ giới tu hành, con hiện thân ưu bà
tắc v́ họ mà thuyết pháp.
- Hai mươi là, nếu có người tín nữ,
muốn thọ năm giới tập tu, con hiện thân
ưu bà di v́ họ mà thuyết pháp.
- Hai mươi mốt là, nếu có người
nữ thích đường chánh trị phụ quốc an
bang con hiện thân mệnh phụ phu nhân, thân nữ chúa v́
họ mà thuyết pháp.
- Hai mươi hai là, nếu có chúng sanh nam căn
chưa ô nhiễm, con hiện thân đồng nam v́ họ mà
thuyết pháp.
- Hai mươi ba là, nếu có người nữ thích
thân xử nữ, con hiện thân đồng nữ v́
họ mà thuyết pháp.
- Hai mươi bốn là, nếu có hàng chư thiên
muốn ra khỏi loài trời, con hiện thân chư thiên v́
họ mà thuyết pháp.
- Hai mươi lăm là, nếu có rồng muốn ra
khỏi loài rồng, con hiện thân rồng v́ họ mà
thuyết pháp.
- Hai mươi sáu là, nếu có dược-xoa muốn
ra khỏi loài ḿnh, con hiện thân dược-xoa v́ họ mà
thuyết pháp.
- Hai mươi bảy là, nếu có càn-thát-bà muốn
thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân càn-thát-bà v́ họ mà
thuyết pháp.
- Hai mươi tám là, nếu có a-tu-la muốn ra
khỏi loài ḿnh, con hiện thân a-tu-la v́ họ mà thuyết
pháp.
- Hai mươi chín là, nếu có khẩn-na-la muốn
thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân khẩn-na-la v́ họ mà
thuyết pháp.
- Ba mươi là, có ma-hầu-la-già muốn thoát
khỏi loài ḿnh, con hiện thân ma-hầu-la-già v́ họ mà
thuyết pháp.
- Ba mươi mốt là, nếu có chúng sanh thích làm
người, con hiện thân người v́ họ mà
thuyết pháp.
- Ba mươi hai là, nếu có loài phi nhân hoặc có
h́nh hoặc không h́nh, hoặc có tưởng hoặc không
tưởng, muốn thoát khỏi loài ḿnh, con hiện thân
như họ v́ họ mà thuyết pháp.
Đó là 32 ứng thân nhiệm mầu có thể
hiện vào các cơi nước trong mười phương,
do kết quả của văn huân văn tu
Tam-muội mà thành tựu sức nhiệm mầu "vô
tác" như vậy.
DO BI TÂM THÀNH TỰU 14 ĐỨC VÔ ÚY THÍ
Bạch Đức Thế Tôn ! Do vô tác diệu lực
“văn huân văn tu” Kim Cang Tam-muội cho nên con và tất
cả sáu đường chúng sanh trong mười
phương ba đời cùng có một bi tâm hướng
thượng cho nên con và tất cả chúng sanh thành tựu
được 14 thứ công đức vô úy:
- Một là, con không quán âm thanh đối tượng
mà con quán cái tâm năng quán của ḿnh, khiến cho chúng sanh
khổ năo trong mười phương quán âm thanh như
vậy th́ được giải thoát.
- Hai là, con xoay tri kiến của ḿnh
soi rọi nội tâm, khiến chúng sanh dù vào trong lửa
(dâm, sân, thù hận) mà lửa không đốt cháy.
- Ba là con quán tánh nghe xoay vào nội tâm, khiến chúng
sanh dù có bị nước (tham ái) to cuốn đi mà không
hề bị ch́m đắm.
- Bốn là con đoạn diệt hết vọng
tưởng, không c̣n tâm sát hại, khiến chúng sanh dù
phải vào trong cơi nước của quỷ (sát, đạo,
dâm, ác), quỷ cũng không hại được.
- Năm là con huân tập cái tánh nghe, nghe vào tự tánh.
Tánh thấy, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc, biết
cũng như vậy, khiến chúng sanh đang khi bị
hại th́ dao mác, vũ khí găy rơi từng khúc chẳng xúc
phạm được.
- Sáu là, con huân tập tánh nghe
đến độ tinh thuần, sáng suốt khắp trùm
pháp giới; tất cả những ǵ đen tối không
tồn tại được, khiến cho chúng sanh dù ở
gần bên
với ác
quỷ: Dược-xoa, cưu-bàn-trà (quỷ thô bạo),
tỳ-xá-xà (quỷ bất nghĩa), phú-đơn-na
(quỷ vô lương) v.v… mà chúng không nh́n thấy
được.
- Bảy là, đối với tánh năng văn con
quán xoay vào, thanh trần đối tượng tiêu vong,
khiến chúng sanh xa tránh tất cả gông cùm xiềng xích
(của pháp ác) không vướng chạm đến thân.
- Tám là con diệt âm thanh đối
tượng, tánh nghe viên măn sanh sức từ cùng khắp,
khiến chúng sanh đi qua đường hiểm mà
giặc cướp phiền năo không thể cướp
được.
- Chín làdo con huân tập tánh nghe được thanh
tịnh, tách khỏi trần tướng. Sắc, thanh…
không cám dỗ được, khiến cho những chúng sanh
đa dâm xa ĺa được ḷng tham dục nặng
nề.
- Mười là con chỉ lưu lại thuần
một viên âm thanh tịnh, không c̣n đối tượng
thanh trần, căn cảnh viên dung, dứt đối
đăi năng văn sở văn khiến chúng sanh xa ĺa
được tham, sân, si phẩn nhuế.
- Mười một là con tiêu diệt thanh trần
đối tượng, rồi con xoay cái nghe về tánh
bản minh, thân tâm cảnh giới trong sáng như lưu ly,
chẳng vương chút trần ai vọng chấp, khiến
chúng sanh xiển-đề mê tối xa ĺa câm điếc
tối tăm.
- Mười hai là, viên dung các hiện tượng, con
xoay tánh nghe trở về bất động. Hài ḥa thế
gian mà không hủy hoại thế gian; cúng dường
Như Lai mười phương như số vi trần,
con ở bên mỗi mỗi Phật làm Pháp Vương
tử, khiến trong pháp giới những chúng sanh không con,
cầu có con trai, sanh được con trai phúc đức
trí tuệ.
- Mười ba là sáu căn con viên thông, soi sáng
không hai, khắp trùm thập phương thế giới,
đứng trước đại viên kính ở trong
Như Lai tàng, con vâng lănh những pháp môn bí mật của
thập phương Như Lai như vi trần không hề
thiếu sót, khiến cho trong pháp giới những chúng sanh
không con mà cầu có con gái, sanh được con gái
tướng tốt đoan chính, phúc đức và dịu
dàng được nhiều người kính quư.
- Mười bốn là trong tam thiên
đại thiên thế giới này các Pháp Vương Tử
đông như số cát 62 sông Hằng. Trí tuệ và
phương tiện giáo hóa chúng sanh mỗi Ngài đều
khác. Vậy mà chúng sanh chấp tŕ một danh hiệu
của con, bằng ngang với công đức chấp tŕ
danh hiệu số lượng Pháp Vương tử nói
trên.
Bạch Đức Thế Tôn! Sở dĩ con
được những điều ưu việt như
vậy là do con tu tập pháp văn huân văn tu Kim Cang
Tam-muội, cho nên con được tánh viên thông
chơn thật, gọi đó là 14 đức vô úy thí đem
lại phúc lành cho tất cả chúng sanh.
BỐN ĐỨC KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Bạch Đức Thế Tôn ! Con được viên
thông vô thượng cho nên có bốn đức vô tác
nhiệm mầu không thể nghĩ bàn:
- Một là con xoay tánh nghe để nghe tiếng
mầu nhiệm của nội tâm. Tánh nghe này không chút
nhiễm ô. Con ngăn dứt tất cả âm thanh
đối tượng của nhĩ căn; bấy
giờ tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết
của sáu căn c̣n là một tánh giác thanh tịnh có thể
dùng thay thế cho nhau mà không ngăn ngại. Con c̣n có
thể hiện ra nhiều h́nh tướng và nói vô số
chân ngôn bí mật; từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu,
7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108 đầu,
1.000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000
đầu. Con có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14
tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, 108 tay rồi 1.000 tay, 10.000 tay
cho đến 84.000 tay uyển chuyển. Con có thể
hiện ra 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, 108 mắt, rồi
1.000 mắt, 10.000 mắt, cho đến 84.000 mắt thanh
tịnh, hoặc từ, hoặc uy, hoặc định,
hoặc tuệ cứu độ chúng sanh được
đại tự tại.
- Hai là tánh nghe và suy nghĩ của con
thoát ngoài sáu trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do
sức nhiệm mầu vô tác, con hiện nhiều h́nh
tướng nói nhiều chơn ngôn đem lại cho chúng
sanh sức vô úy. V́ vậy cơi nước trong mười
phương nhiều như vi trần đều gọi
con là vị Bồ-tát "thí vô úy".
- Ba là sự tu tập của con là phát huy căn
bản thanh tịnh sẵn có nên con được viên
thông mầu nhiệm. Đi đến thế giới
nào, chúng sanh cũng xả thân, hy sinh trân bảo cầu
được con thương xót.
- Bốn là con có được Phật tâm, chứng
ngộ đến chỗ cứu cánh cho nên có thể đem
các thứ trân bảo cúng dường thập phương
Như Lai. Đến như lục đạo chúng sanh trong
pháp giới muốn cầu trường thọ
được trường thọ, cho đến cầu
đại Niết-bàn cũng được đại
Niết-bàn.
Bạch Đức Thế Tôn! Nay Phật hỏi nguyên
nhân chứng đắc viên thông xin thưa rằng: Con
từ cửa ngơ nhĩ căn quán chiếu đến
tột cùng viên măn về âm văn (nghe và tiếng) mà
được tam muội. Đối với con, tư duy
và quán chiếu tánh nghe và tiếng của nhĩ
căn là ưu việt nhất.
Bạch Đức Thế Tôn! Đức Như Lai
Quán Thế Âm từ thuở xa xưa ấy đă khen con
khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại
chúng, Phật thọ kư cho con danh hiệu Quán Thế Âm
bởi v́ tánh nghe và thấy tṛn sáng châu biến
mười phương, danh hiệu Quán Thế Âm
cũng phổ cập trong lục đạo chúng sanh
mười phương thế giới.
CHỌN CĂN
TU ƯU VIỆT NHẤT
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
ngồi trên ṭa sư tử, năm căn đồng phóng
ra ánh sáng báu soi sáng trên đảnh của thập
phương Như Lai, các pháp vương tử, các
Bồ-tát như số vi trần. Các Đức Như Lai
trong mười phương cũng phóng ánh sáng như
vậy soi đến đảnh Phật Thích-ca, các
Bồ-tát và các chúng Thanh Văn trong đại hội.
Rừng cây ao hồ đều diễn ra tiếng pháp, ánh
sáng của chư Phật đan xen như lưới
tơ báu. Tất cả đại chúng được cái
chưa từng có. Trời mưa hoa sen báu đủ màu:
Xanh, vàng, đỏ, trắng xen lộn lẫn nhau.
Mười phương hư không rực màu thất
bảo. Núi sông đất đai ở cơi Ta-bà bỗng nhiên
ẩn mất, chỉ c̣n thấy vô số hành tinh trong
mười phương hợp thành một cơi, tiếng ca
ngâm thanh thoát tự nhiên d́u dặt nổi lên.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù: Ông
hăy xét nghiệm thành quả tu chứng viên thông của
25 vị Bồ-tát và Thanh Văn vừa đă tŕnh bày.
Vẫn biết rằng sáu căn, sáu trần, sáu thức,
bảy đại đều là những dữ kiện tu
chứng viên thông, nhưng nay Như Lai muốn cho ông
A-nan nghe và nhận xét để tự chọn một pháp
môn tu thích hợp. Như Lai cũng cần một pháp môn
phương tiện để dạy cho chúng sanh mạt
thế cơi Ta-bà, những người Đại thừa
cầu vô thượng đạo một phương pháp
tu hành tu hành hiệu quả tốt, chóng thành công phổ
biến mọi căn cơ sau Như Lai diệt
độ.
Bồ-tát Văn-thù vâng
lời Phật cung kính chắp tay, nói bài kệ kính dâng lên
Phật:
Biển giác tánh
lặng trong
Vốn nhiệm
mầu trong sáng
Tánh bản minh
chiếu ra như "sở"
Chấp tướng
"sở" mất tánh bản minh
Do phân biệt vọng
thấy hư không
Tựa hư không h́nh
thành thế giới
Chủng tử vô tri
thành cơi nước
Sắc tâm minh liễu
tức nhơn sinh
Hư không sanh trong "Đại Giác"
Như bong bóng nổi giữa đại dương
Cơi nước hữu lậu như vi trần
Sanh khởi trong bầu hư không ấy
Hư không chưa ví tày nước bể !
Th́ sá chi ba cơi vốn bọt bèo
Về nguồn không hai đích
Phương tiện có nhiều đường
Quả chứng chẳng ngại nhau
Thuận nghịch là phương tiện
Sơ tâm vào tam muội
Mau chậm chẳng đồng nhau.
1. Nhược điểm của sáu trần
Sắc bị vọng tưởng tác động vào
thanh trần làm mất đi cái hồn nhiên như
thị khách quan của sự vật, khó mà tu chứng viên
thông.
Thanh âm kết hợp bởi ngữ ngôn, biểu
hiện cụ thể của âm thanh là danh ngôn và cú nghĩa.
Tác dụng của âm thanh c̣n phiến diện khó mà tu
chứng viên thông.
Hương có hợp mới thành tác dụng; nếu
để ly ra, dù hương có cũng như không.
Hương trần không tương tục hiện
hữu, khó mà tu chứng viên thông.
Vị không phải đương nhiên tự có,
cần phải nếm mới biết có vị. Đối
với vị giác cũng không liên tục, nên khó mà tu
chứng viên thông.
Xúc có vật chạm mới biết, nếu không
biết xúc không thành. Xúc trong lúc hợp, chẳng xúc
được lúc ly, khó mà tu chứng viên thông.
Pháp c̣n gọi là nội trần. Trần là đối
tượng "sở tri". Năng sở khổ là
một khó mà tu chứng viên thông.
2. Nhược điểm của năm căn
Tánh thấy vốn rỗng rang bao quát nhưng chỉ
thấy được phía trước chẳng thấy
được phía sau; bốn hướng tám phương
mất đi một nửa, khó mà tu chứng viên thông.
Mũi thở ra thở vào, chặng giữa không có
thở; không dung thông, c̣n cách trở, khó mà tu chứng viên
thông.
Lưỡi không vị, tánh nếm không thành. Vị
không phải lúc nào cũng sẵn có nên khó mà tu chứng viên
thông.
Thân biết xúc, nhưng phải có đối
tượng. Năng sở xúc không thường liên tục
th́ khó mà tu chứng viên thông.
Ư căn
thường xen với vọng tưởng. Loạn
tưởng dừng th́ chẳng thấy biết ǵ.
Tưởng niệm không dễ ǵ dứt bỏ th́ khó mà tu
chứng viên thông.
3.
Nhược điểm của sáu thức
Cái thấy của mắt
phải có căn trần. Cạn xét tột cùng nó không
tự thể; không tự thể th́ không có ǵ nhất
định nên khó mà tu chứng viên thông.
Sử dụng cái nghe, nghe suốt mười
phương hàng sơ tâm không dễ dàng thực hiện khó
mà tu chứng viên thông.
Quán điểm trắng ở tỷ căn đó
chỉ là quyền phương tiện, nhằm thu
nhiếp để trụ tâm. Trụ mà trở thành
"sở trụ" th́ khó mà tu chứng viên thông.
Thuyết pháp vận dụng âm thanh văn tự
chỉ khai ngộ cho những ai đă trồng sâu giống
Phật. Danh cú, văn tự không phải là vô lậu th́ khó
mà tu chứng viên thông.
Giữ giới chỉ câu thúc cái thân, ngoài cái thân
lấy ǵ câu thúc ? Giới và thân vốn không cùng khắp th́
khó mà tu chứng viên thông.
Thần
thông do tập nhân từ trước, không dính dáng với ư
thức phân biệt pháp trần. Niệm lự, không
rời sự vật th́ khó mà tu chứng viên thông.*
4. Nhược điểm
của bảy đại
Đất, tánh của nó là ngăn ngại, nếu
quán cái tánh của địa đại th́ không thể thông
suốt. Vả lại pháp hữu vi không là giác tánh th́ khó mà
tu chứng viên thông.
Nước do quán mới thấy có. Nếu quán
thủy đại cần vận dụng nhiều quán trí.
Đă là quán th́ không phải chơn, chưa đạt
đến như như phi giác quán, th́ khó mà tu
chứng viên thông.
Lửa đem so sánh với nỗi khổ của dâm
tâm, nếu quán hỏa đại để trừ lửa
dâm ở nội tâm, đó chỉ là người chán cái
khổ hoành hành, chưa phải là viễn ly chơn
thật. Đó là phương tiện không phải phát
xuất bởi tâm ban đầu nên khó mà tu chứng viên
thông.
Gió lúc động lúc yên, nếu quán cái tánh của phong
đại th́ chỉ là pháp đối đăi. C̣n
đối đăi th́ không là tánh giác minh vô thượng, khó
mà tu chứng viên thông.
Không th́ rỗng suốt chẳng có ǵ, nếu quán cái
tánh của không đại th́ đồng như vô tri vô
giác. Vô tri vô giác trái với bồ-đề th́ khó mà tu
chứng viên thông.
Thức th́ sanh diệt không thường, nếu quán
cái tánh của thức đại chỉ là quán sự phân
biệt diệt sanh hư vọng, khó mà tu chứng viên
thông.
Kiến là
tánh thấy, kiến đại biểu hiện qua
tưởng niệm. Tất cả các hành đều vô
thường, tưởng niệm vốn trong ṿng sanh
diệt. Đem nhân sanh diệt, cầu được
quả chân thường bất diệt, khó mà tu chứng viên
thông.
5. Sự ưu việt
của nhĩ căn
Con nay kính bạch Thế Tôn:
Phật ra đời ở cơi Ta-bà
Trong cơi này giáo môn thích ứng
Hiệu quả tốt ở: nói và nghe
Muốn thành tựu được Tam-ma-đề
Phải vận dụng tánh nghe mà vào
Ĺa khổ được giải thoát.
Hay thay Quán Thế Âm
Kiếp số như cát sông Hằng
Vào cơi nước vi trần Phật độ
Sức tự tại không thể nghĩ lường
Vô úy b́nh đẳng thí chúng sanh.O
Quán Thế Âm là Diệu Âm
Quán Thế Âm tức Phạm Âm
Quán Thế Âm, Hải Triều Âm đó
Cứu thế vững an khang
Xuất thế hằng thường trú.
Con kính bạch Như Lai
Như lời Quán Âm nói
Ví như ngồi chỗ tĩnh
Mười phương cùng đánh trống
Mười hướng thảy đồng nghe
Đấy là viên chơn thật
Cách vách nghe âm tưởng
Xa gần có thể nghe