HAI
HƯỚNG VẬN HÀNH CỦA TÂM LÝ
(Thân
tặng Tăng Ni sinh khoá IV)
(
Trích trang nhà Quảng Đức )
I.
Vào đề:
Tâm
lý con người có hai hướng vận
hành: một là khổ đau hay dẫn
đến khổ đau, kia là hạnh phúc hay
dẫn đến hạnh phúc. Hướng thứ
nhất mở ra một thế giới tâm lý
của sinh tử; hướng thứ hai mở ra thế
giới tâm lý của giải thoát. Bởi
sống là đi tìm hạnh phúc chân
thật, nên con người chỉ có một
chọn lựa là đi vào hướng vận hành
thứ hai. Đi vào hướng vận hành
này là đi vào trí tuệ, hay đi
từng bước đi trí tuệ. Thực hiện
con đường thứ hai này có nghĩa
là “xây dựng vương quốc trí
tuệ” của Phật giáo mà thuật
ngữ gọi là Dhammacakkapavattana – thường
được dịch là “Chuyển vận
bánh xe Pháp”.
Trong bài viết
này, tác giả sẽ giới thiệu ngắn,
gọn về hai hướng vận hành của
tâm lý nói trên.
II. Hai
hướng vận hành tâm lý:
Có
nhiều kinh
1. Kinh Chánh Tri
Kiến (Kinh 9, Trung bộ I, Pàli tạng)
Theo
kinh Chánh Tri Kiến, do vì con người
thường tác ý về các ngã
tướng của mọi sự vật, xem các
ngã tướng là có thật nên tham
tâm, sân tâm và si tâm hiện khởi
dẫn đến hệ quả : tâm lý dao
động, tác động lên các hành
động của thân, lời và ý mà
biểu hiện ra mười bất thiện nghiệp
nuôi dưỡng Vô minh và Khổ đau.
Cứ thế, tâm lý vận hành ra một
thế giới tâm của Tam Giới (Tibhava) sinh
diệt, của các ngã tướng sinh diệt.
Nếu, ngược lại, thường tác ý
vô thường tướng, hay như lý tác
ý – Yonisomanasikàro – thì tâm lý
vô tham, vô sân (hay từ), vô si hiện
khởi và điều động các hành
động của thân, lời và ý biểu
hiện ra mười thiện nghiệp, nuôi
dưỡng trí tuệ. Cứ thế, trí tuệ
ấy vận hành thành thế giới của
tâm lý vắng mặt ngã tướng,
ngã tưởng, gọi là Vô sinh. Con
đường chỉ có thế và gọi
là con đường của “trí
quán”.
2. Kinh Kim Cang Bát
Nhã:
Nếu
để tâm đi vào các ngã
tưởng thì tham, sân, si dấy khởi và
sẽ làm tâm lý dao động, không an
trụ. Các ngã tưởng ấy có thể
được giới thiệu qua tám phạm
trù:
a)
Ngã tưởng : Tưởng “Cái
này là của tôi, là của tôi,
là tự ngã của tôi”.
b)
Nhân tưởng : Tưởng rằng
có một ngã thể thường hằng
luân hồi, tái sinh từ đời này qua
đời khác.
c)
Chúng sinh tưởng : Tưởng rằng
có một ngã thể biệt lập của
các hiện hữu, đồng nhất với
chính nó qua các thời điểm khác
nhau.
d)
Thọ giả tưởng : Tưởng rằng
bên trong con người có một ngã thể
thường hằng tồn tại từ khi sinh
đến khi chết.
e)
Pháp tưởng : Tưởng rằng
có các pháp thực sự hiện hữu.
f)
Phi pháp tưởng : Tưởng rằng
có một hiện hữu chân thật ở
ngoài các pháp.
g)
Tưởng : Tin rằng cái tưởng
tạo ra tính chất của các hiện hữu
là có thực trong thực tế.
h)
Phi tưởng : Tin rằng thế giới
chân thật thì ở ngoài tưởng.
Nếu
tâm lý không rơi vào tám phạm
trù ngã tưởng ấy thì sẽ đi ra
khỏi các nhân tố gây ra tâm lý dao
động, và sẽ được an trụ.
Đấy là những gì mà một Bồ
tát hành lục độ Ba-la-mật phải
làm, qua kinh Kim Cương. Đấy là công
phu “như lý tác ý”, hay tác
ý Vô tướng gọi là “thiền
quán”.
3. Pháp Thất
Giác Chi (Tương Ưng V):
Con
đường thực hiện trí tuệ của
Thất Giác Chi tựu trung là:
a)
Liên tục tác ý Vô
tướng, hay “như lý tác ý”
thì sẽ đi đến kết quả: Ngũ
triền cái được đoạn trừ.
b)
Ngũ triền cái là thức ăn
của Vô minh nên khi Ngũ triền cái bị
đoạn thì Vô minh đi đến bị
đoạn trừ, minh khởi.
c)
Nếu tiếp tục thực hành như
thế thù Niệm giác chi sẽ hiện khởi
và lần lượt dẫn đến Trạch
pháp, Hỷ, Khinh an, Định và Xả Giác
Chi hiện khởi. Xả giác chi hiện khởi
sẽ dẫn đến kết quả Minh và Giải
thoát hiện khởi, Vô minh diệt và
khổ đau diệt.
III.
Kết luận :
Con
đường thực hiện trí tuệ của
Phật giáo là thế, giản dị là thế.
Nhưng, bởi con người có các nhận
thức, từ tâm, ý chí và dục
vọng khác nhau nên lòng trăn trở
khác nhau về ngõ đường thực
hiện mà có ra các hệ phái, pháp
môn tu khác nhau.
Nếu
tất cả đều thấy rõ côn phu
chính của giải thoát là “như
lý tác ý” để hàng phục
tâm lý dao động của chính mình,
thì sẽ đi ra khỏi các thắc mắc
về bộ phái, về Đại, Tiểu pháp,
về sự hư, thật của hiện tượng
giới. Bấy giờ vai trò của triết lý
sẽ chấm dứt cùng lúc với các quan
điểm dị biệt, mùa xuân của tâm
thức sẽ ở lại mãi với cuộc
đời như là sự kiện “Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai”