![]()
![]()
![]()
Hai Bài Kinh Bát Nhã
Cao Huy Thuần

Tuần vừa qua, một cuốn phim Ðại Hàn ra mắt
khán giả
Thơ và đẹp là chuyện của phim. Bằng im
lặng, cảnh nói thay người, vì người
chẳng có gì để nói. Chẳng có gì để nói
giữa ông thầy và chú tiểu. Chẳng có gì để
nói giữa chú tiểu và cô gái. Giữa ba nhân vật là
một chiếc thuyền, có khi có người chèo, có khi
không có người chèo vẫn trôi, trôi từ bờ bên này
qua bờ bên kia, từ thế giới bên ngoài không hiện
diện qua thế giới ngôi chùa không ai cần nói với
ai. Chiếc thuyền là nét động duy nhất giữa
tĩnh lặng mênh mông, là vùng vẫy giữa lắng
đọng. Nói gì ? Có gì để nói ? Nói gì giữa chú
tiểu và cô gái ? Chuyện xảy ra là chuyện tất
nhiên, bình thường như xuân hạ thu đông, bốn
mùa trôi qua trên mái chùa.
Mới hôm qua, mùa xuân, chú tiểu hãy còn là búp măng, con ai
đem bỏ chùa này, ngây thơ đùa nghịch với cóc
nhái, rắn rít. Hôm nay, khi cô gái đến, tuổi
đời của chú đã bắt đầu vào hạ.
Ðất trời ấm mùa hạ, cô gái ấm mùa hạ, chú
cũng vậy. Chuyện gì xảy ra tất phải
xảy ra, chú tiểu hay ai cũng vậy thôi, đất
đá cũng biết, nói gì, có gì để nói, bình
thường như xuân hạ thu đông, bốn mùa trôi qua.
Cô gái đến chùa để ở lại chữa
bệnh. Khi đến, cô u sầu. Dưới mặt
trời mùa hạ, trời ấm, người ấm, cô
rạng rỡ. Ông sư nói: “Cô lành bệnh rồi
đấy, về nhà được rồi”. Ông biết hết,
nhưng thản nhiên, như không, có gì để nói? Cô gái
xuống thuyền, thuyền đưa cô từ bờ bên
này của núi non qua bờ bên kia của một thế
giới chẳng ai biết. Ðó là thế giới chú tiểu
sắp bước vào, bởi vì, sau khi cô gái đi, chú
tiểu cũng khăn gói rời chùa, làm con bướm
đuổi theo mùi hương. Trong khăn gói, chú cẩn
thận nhét thêm tượng Phật. Nằm trong gói,
chắc tượng Phật nói thầm : “chú tiểu
ơi, chẳng sao đâu, chú đi như thế cũng
tốt như ở, bình thường thôi, xuân hạ thu
đông”.
Chùa hai người, bây giờ chỉ còn một.
Một ông sư già và một con mèo con. Mặt trời
dịu lại, mùa hạ cũng ra đi. Mùa thu dần
đến, núi non vàng rực một màu.
Nhưng chẳng mấy chốc, chú tiểu trở về.
Chú về với râu, với tóc, với tướng mạo
hiên ngang của thanh niên đô thị. Và với con dao ! Con dao
mà chú đã thọc vào cổ của người yêu bây
giờ là người phản. Chú vào chùa, giận dữ
bốc cháy người chú. Trong tay chú, con dao như muốn
thọc vào cả núi non. Thản nhiên như không, ông sư
càng già càng ít nói. Chỉ nói : “ Chú khổ thì người khác
cũng khổ ”. Nghe chừng như chuyện khổ
cũng tất nhiên, nói gì, có gì để nói, chỉ là xuân
hạ thu đông.
Cũng tất nhiên, cảnh sát đến chùa bắt
kẻ sát nhân. Cảnh sát có súng. Sát nhân có dao. Dao ấy
hươi lên trước súng. Máu sẽ đổ chăng
? Ðổ trên sân chùa ? Ðổ trên lưng ông già đang lom khom
nắn nót viết chữ trên sân ? Ðâu có ! Không rời bút,
cũng chẳng nhìn lên, ông bảo chàng thanh niên buông dao. Dao
buông xuống thì dao hết là dao. Dao hết là dao thì súng cũng
hết là súng, cảnh sát hết cảnh sát, thanh niên
hết râu tóc. Chỉ còn chữ viết trên sân. Với con
dao đã buông, ông bảo chú thanh niên tiếp tục khắc
chữ trên nền sân, khắc theo chữ ông viết. Chú
khắc suốt ngày và suốt đêm. Khắc rách da tay,
khắc kiệt sức. Khắc : sắc bất dị
không, không bất dị sắc, sắc tức thị không,
không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức
diệc phục như thị... Bài kinh Bát nhã.
Sáng hôm sau, cảnh sát
dẫn chú lên thuyền qua bên
kia bờ. Mọi chuyện
xảy ra như chẳng có gì để nói, chẳng có gì
để nói nhiều, tất nhiên như thế. Trừ
bài
Bát nhã. .
Mùa thu trôi qua, tuyết mùa đông phủ trắng núi non.
Một mùa tuyết, hai mùa tuyết, chẳng biết bao
nhiêu mùa tuyết trôi qua, chỉ biết ông sư già đã
tịch. Giữa băng giá phủ kín mặt hồ,
bỗng một hôm, giữa mùa tuyết như thế,
một người đàn ông đứng tuổi hiện
ra, đi từ bờ bên kia qua bờ bên này của ngôi chùa
bỏ hoang. Cũng một người ấy thôi, mãn
giấc bướm, mãn tù, mãn cuộc đời, quay
về chùa cũ. Cũng một người ấy thôi,
nhưng không phải người ấy nữa.
Người ấy bây giờ là sư.
Có sư, chùa sống lại. Tượng được
đặt trên bàn thờ, bế lên núi, ngự trên chóp
đỉnh, tạc cả vào băng. Giữa băng giá,
sư mình trần leo núi, thách đố với trời
đất, thách đố với cả chính mình. Sư
thắng. Sư đã từ giã bờ bên kia. Sẽ không còn
ai biết sư là ai nữa, kể cả con thuyền khi
hết băng giá sẽ nối lại hai bờ, kể
cả chính sư. Nhưng từ giã cuộc đời bên
kia đâu có phải là diệt nó. Trái lại, phải
sống với nó. Mà cuộc đời ở bên kia cũng
chẳng để cho sư quên sư đâu. Nó nhắc
nhở hành trình của sư ở chính cái chỗ bắt
đầu : ở tiếng khóc khi bắt đầu sự
sống. Cho nên, giữa giá băng như thế, một
buổi sáng, chùa chưa mở cửa, bỗng vang dội
tiếng khóc sơ sinh trước sân. Một thiếu
phụ, chẳng biết ai, dấu nước mắt,
đem con lên bỏ chùa này, giao cho chùa giọt máu chắc
hẳn là kết quả của một hạnh phúc không
bền hơn sương tan đầu cỏ. Tiếng
khóc! Trẻ thơ! Câu chuyện của chính ông sư, có
lẽ của cả mọi người, sẽ lặng
lẽ diễn ra hàng ngày trước mắt ông. Câu
chuyện đó, ông đã quá biết rồi, cho nên có gì
xảy ra chắc ông đều sẽ thản nhiên,
chẳng nói một lời, nói gì, có gì để nói, bình
thường như xuân hạ thu đông trôi qua trên mái chùa
của ông.
Ðấy, băng giá tan rồi, mùa đông đã trôi qua,
một mùa đông, hai mùa đông ...Rồi mùa xuân ! Trẻ
sơ sinh đã thành chú tiểu nhỏ, ngây thơ đùa
nghịch với cóc nhái, rắn rít đang bò ra khỏi hang.
Chỉ chừng mươi mùa xuân nữa thôi là chú tiểu
sẽ vào tuổi hạ. Coi chừng, chú sắp rút dao.
Sắp khắc trên nền gạch :“có chẳng khác không,
không chẳng khác có...” Nói gì nữa, có gì để nói ?...
Ðáng lẽ người
kể chuyện chấm dứt ở đây. Nhưng xem
phim mới lại nhớ phim cũ. Nhớ quá, không cắt
hai phim ra được, cho nên phải thêm. Cũng tại
bài kinh Bát nhã, năng trừ nhất thiết khổ chân
thật bất hư. Dứt trừ hết khổ ách, chân
thật không hư. Tại sao bài kinh Bát nhã có công năng
như vậy ? Tại vì kinh nhắc chữ có cho ai mê
muội về không, nhắc chữ không cho ai mê muội
về có. Cứ thử mê muội rồi thấm Bát nhã.
“Xuân Hạ Thu Ðông ... rồi Xuân” được sáng tác
giữa thời đại mà dục tính phơi tràn trên màn
ảnh. Ái dục là đề tài của phim, vấn
nạn của nhân vật. Tôi không biết đạo
diễn có lấy hứng từ phim cũ không, nhưng tôi
liên tưởng đến một phim nổi tiếng
của Nhật, Quái Ðàm (Kwaidan) (2), chiếu cách đây trên 35
năm, rút từ một chuyện thiền, chẳng có gì
giống phim mới ngày nay, trừ bài Bát nhã. Chuyện
như sau, tôi kể theo trí nhớ.
Một chú tiểu mù sống trong một ngôi chùa vắng
với một ông sư già. Chú chơi đàn tỳ bà
rất hay, tiếng đàn ai oán, ai nghe cũng rơi
lụy. Một buổi tối mùa hè đầy sao, chú
tiểu đang ngồi trước sân tư lự với
sao trên trời, bỗng nghe bước chân lạ của ai
đến bên cạnh. Tiếng áo giáp khua. Rồi giọng
một võ sĩ : “Chú đừng sợ. Nữ chúa của
ta nghe danh cây tỳ bà của chú nên bí mật tới đây
cùng với cả triều đình của ngài để
mời chú đến đàn cho nghe khúc nhạc kể
lại trận thủy chiến ngày xưa xảy ra trong
vùng này. Ta đưa chú đi”.
Chú tiểu ngần ngại quá, sợ kẻ lạ, sợ
đêm khuya, thầy quở, nhưng võ sĩ nắm tay chú
kéo đi. Chú được dẫn đến trước
một cung điện nguy nga, tráng lệ . Cả một
triều đình bá quan văn võ, quý tộc, công nương,
lễ phục oai vệ, uy nghiêm, ngồi lặng yên
chờ chú. Trên ngai, chủ trì một nữ chúa, trang
phục cực kỳ lộng lẫy. Chú tiểu so dây,
lựa khúc, gảy bản đàn nổi tiếng, rồi
cất tiếng ca não nùng kể lại trận đánh.
Cả triều đình thương cảm, rơi lệ.
Gần sáng, võ sĩ đưa chú về lại chùa, hẹn
tối mai sẽ trở lại, sẽ đàn, sẽ
yến tiệc, sẽ trả công, sẽ gả
người đẹp cho chú, nhưng cấm chú tuyệt
đối không được hé miệng kể cho ai nghe
chuyện này.
Tối hôm sau. Lại tiếng khua của áo giáp. Lại võ
sĩ đến tìm. Lại triều đình oai vệ.
Lại đàn hát, nỉ non, ai oán. Trận thủy chiến
hiện ra qua bài hát, giáo mác, lửa đạn, thây
người, máu chảy, cả triều đình thất
trận nhảy xuống sông, nữ chúa gieo mình xuống
nước, tự vẫn ...
Ðêm hôm đó, đêm hôm sau, đêm sau nữa, cứ
đến đêm là ông sư già để ý thấy chú
tiểu ôm đàn ra khỏi chùa, đến gần sáng
mới về. Ông thầy lo quá, thấy chú tiểu tái xanh,
ngớ ngẩn, xa vắng; Chẳng lẽ chú tới nhà gái
? “Này, tiểu, nhỏ nào hớp hồn chú vậy?” Chú
tiểu lắc đầu, câm miệng, khiến thầy
càng nghi. Tối đó, sư cho người theo dò, nhưng
lạ quá, tiểu đi như lướt trên đất,
chẳng đường sá gì cả, vừa mới theo bóng
chú đã lạc đâu rồi, mất hút. Quay về
lối cũ, bỗng nghe thoảng ra, từ nghĩa trang
gần chùa, tiếng tỳ bà. Vào nghĩa địa thì chú
đấy, đang ngồi đàn một mình trước
mộ hoang của phe thất trận thủy chiến ngày
xưa. Mưa đẫm ướt áo, chú vẫn đàn say
mê . Gọi, chú chẳng nghe. Lay, chú vẫn ngồi. Vẫn
đàn, như không biết gì khác. Phải lôi chú, kéo chú
về chùa.
Thế này thì tiểu bị ma bắt rồi - sư nói.
Thất trận mấy trăm năm, oan hồn vẫn
chưa tan. Vẫn triều đình, vẫn bá quan văn võ,
vẫn nghi vệ oai phong, vẫn lộng lẫy nữ
chúa. Vẫn thủy chiến. Dưới trời sao.
Trước nấm đất hoang. Ông sư mài mực,
chấm bút, bảo chú tiểu cởi hết áo quần,
viết trên toàn thân kín mít chữ, từ chỏm đầu
đến mút chân. Chú tiểu bây giờ chỉ còn là bài kinh
biết đi, sắc bất dị không, không bất
dị sắc ... Sư nói : “tối nay nó lại đến
tìm chú nữa đấy ; cứ tĩnh tọa chú Bát nhã”.
Tối, võ sĩ
lại đến, nhưng chẳng thấy chú tiểu
đâu cả, chỉ thấy cây tỳ bà vẫn gác nơi
vách. Nhìn quanh cây đàn, trống không, chẳng bóng ai, nhưng
ô kìa, sao lại có hai cái tai vễnh lên trước mắt,
đúng là tai của chú tiểu. Võ sĩ kéo tai ; chú tiểu
nhịn đau, chú Bát nhã. Không làm được gì hơn,
võ sĩ rút gươm, cắt tai, mang đi. Sư phụ
ơi, sư phụ ơi, người đã tuyệt vời
năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất
hư kín mít toàn thân, từ chỏm đầu đến
mút chân, chỉ quên khuấy yết đế trên hai tai !
Không mắt, không tai, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, chú
tiểu bây giờ chỉ còn là cây đàn, tai mắt chú là
cây tỳ bà, cây tỳ bà là tai mắt chú, người và
đàn là một. Trong chuyện thiền mà cuốn phim
lấy hứng, chú tiểu trở thành danh cầm bậc
nhất thiên hạ.
***
Hai phim, hai chuyện chẳng giống gì nhau, chỉ cùng
mượn hứng từ bài Bát nhã. Sự đời !
Trăm vạn chuyện khác nhau đến mấy, rốt
cuộc rồi cũng một chữ ấy mà thôi, không
ngộ thì mê, không mê thì ngộ, nói gì, có gì nữa để
nói ?
Cao Huy Thuần
(1) Printemps, été, automne, hiver... et printemps (tên Hàn ngữ là Bom,
yeorum, gaeul, gyeowool, geurigo, bom, 2003), đạo diễn : Kim
Ki-Duk
(2) Phim của Masaki Kobayashi, Nhật Bản (1964). Câu
chuyện tác giả kể lại là một trong 4 chuyện
hợp thành cuốn phim
Kwaidan