Ảnh
hưởng giáo pháp Đạo Phật biểu lộ rất rõ trong thi hào
Nguyễn Du qua đoạn cuối thi phẩm bất hủ mà chúng ta
thường biết đến bằng tựa đề mộc mạc là Truyện Kiều. Sau
mười lăm năm gian truân giữa đắng cay, khổ nhục kiếp
người, Thúy Kiều đã được sư Giác Duyên cứu độ khi nàng
toan kết liễu khổ đau bằng sự yếm thế là trầm mình tự
vẫn dưới dòng sông chảy xiết! Nàng đã được khai ngộ để
nhận diện bản chất đích thực của mỗi chúng sinh vẫn
trong sáng, như nhiên, chẳng hề hoen ố bởi những khổ lụy
trải qua, vì mọi khổ lụy đó chỉ là vô thường, chỉ là sự
vay trả tiếp nối của luân hồi. Trong khi bản chất vẫn
sẵn đó, đồng nhất như nhau, không sinh không diệt, không
đến không đi. Bản chất đó giúp ta nhận diện những Vô
Thường để chuyển hóa thành Thường, nhận diện khổ đau để
thành an lạc …
Thi hào nhìn rõ như thế mà từng thú nhận là đã đọc tụng
Kinh Kim Cương cả ngàn lần, vẫn chẳng hiểu được gì:
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
Cập đáo phần kinh Thạch đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh (*)
Xin tạm dịch:
Ngàn lần tụng đọc Kim Cương
Vẫn như mờ ảo khói sương tơ trời
Trước đài gương, bỗng tỏ ngời
Là: Chân kinh vốn không lời mà thôi.
Thế nên, từ năm ba mươi tuổi, thi hào đã ao ước tìm về
bản thể vốn trong suốt, qua trợ lực của thiên nhiên:
Hà năng lạc phát quy lâm khứ
Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân (*)
Âm hưởng Hán-ngữ hai câu thơ, đọc lên rất hay, tôi cố
gắng chuyển sang lục bát mà không diễn tả nổi hết chủ ý.
Thi hào có đọc tới, xin tha tội. Hậu bối chỉ có thể
chuyển được thế này:
Làm sao xuống tóc về rừng
Nằm nghe gió thoảng hương tùng quyện mây.
Hai câu thơ này bỗng nhiên bật lên trong trí tưởng, khi
tôi thoải mái thả dài chân bên bờ hồ sen Xóm Mới vào một
Ngày Làm Biếng trong dịp về An Cư Kiết Đông.
Ông mặt trời dễ thương quá, đã có mặt với chúng tôi từ
sáng sớm để ngày nghỉ ngơi được khô ráo, ấm áp. Áo quần
đã được bay lượn trên những giây phơi, thơm tho và hạnh
phúc. Các cửa sổ mở tung, mời nắng và gió vào chơi, mang
theo không khí trong lành tới từng hành lang, từng phòng
ốc. Mùa đông ở đây, chúng tôi rất trân quý những ngày
nắng ấm như thế này.
Riêng tôi, sáng nay linh cảm mặt trời sẽ lên, bèn thức
dậy, giặt giũ từ 6 giờ sáng để thảnh thơi thiền hành khi
trời còn mờ sương. Tôi rất thích được một mình chậm bước
thong dong trên lối sỏi dẫn tới thiền đường Trăng Rằm
khi mặt trời chưa lên. Tôi có cảm tưởng rặng thông xanh
mướt hai bên thì thầm với bụi trúc la đà, cùng quán sát
xem bước chân tôi có an lạc hay không. À, đừng làm khó
tôi nhé, mời thông và trúc thử cùng bước với tôi xem
nào!
Mới khởi nghĩ thế, đã nghe ngay tiếng cười khúc khích
của những viên sỏi nhỏ đang reo vui theo từng bước chân.
Nhìn sâu, nghe rõ, ta có thể thấy và nghe được vạn hữu
quanh ta truyện trò. Đó chính là tinh thần kinh A Di Đà
mà Đức Thế Tôn đã vô vấn tự thuyết cho ngài Xá Lợi Phất
về chim thuyết pháp, gió đưa hương. Chúng ta sẽ giầu có
lắm, khi nghe được bằng Tánh Nghe, thấy được bằng Tánh
Thấy; vì với sự nhận biết trong sáng, ta luôn an lạc,
thảnh thơi với những gì quanh ta, bởi ta và vạn hữu là
một, dù ta là hạt cải, ta vẫn có mặt trời trong hạt cải,
dù ta là vỏ ốc, ta vẫn chứa đựng cả đại dương trong vỏ
ốc. Đó cũng là lời dạy “Nhất tức thị đa. Đa tức thị
nhất” của Đức Thế Tôn tự ngàn xưa mà ngày nay khoa
học mới chứng minh được khi khẳng định rằng, mỗi tế bào
li ti đều chứa đựng đầy đủ bản chất của mọi tế bào.
Ngày đẹp quá, ông mặt trời không thể ngủ nướng hơn nên
đã lấp ló phương đông, tỏa những tia nắng đầu ngày xuống
rừng mai, đồi cỏ. Những cây hồng chĩu trái chín, vàng
ửng trên cành đã rụng hết lá xanh. Đồi tiếp đồi, rừng
nối rừng, mây đan mây … Ôi, mênh mông vạn hữu đang mở
tung mọi chân trời, giúp tháo gỡ những cửa ngõ thế gian
còn hẹp hòi, đóng kín! Hãy mời gọi thiên nhiên về cùng
ta, phiền não sẽ bị đẩy lui vì không gịot lệ nào không
được lau khô dưới nắng ấm thế này, và mây xanh thế kia.
Có phải vì tin như thế mà thi hào Nguyễn Du chỉ ao ước
một điều đơn giản là “Làm sao xuống tóc về rừng. Nằm
nghe gió thoảng hương tùng quyện mây”.
Khi còn phải ao ước có nghĩa là chưa đạt được, chưa có
được. May mắn thay, nơi đây, chúng tôi đang có trọn vẹn
điều ước ao đó. Chúng tôi được xuống tóc, làm con Đức
Thế Tôn, buông bỏ mọi hành trang tham dục cồng kềnh để
được thở nhẹ như gió, được bước thong dong như mây. Ba
y, một bát và những bữa cơm rau, chúng tôi có quá nhiều
thảnh thơi để quay nhìn về bản tâm, làm Kẻ Cùng Tử tiếp
nhận gia tài châu báu của cha mình.
Nói như thế, không phải nơi đây khổ đau không có mặt,
nhưng khác là, những khổ đau nơi đây không phải như
những khổ đau u uất của thế gian. Dù thế, khi khổ đau
vừa được nhận diện thì năng lượng xung quanh đã hoan hỷ
tưới tẩm để những hạt mầm khổ đau được nhanh chóng
chuyển hóa thành chồi non hạnh phúc. Khổ đau là một thực
thể. Có khổ đau mới có hạnh phúc. Có bùn mới có bông
sen. Có rác mới có hoa. Nhìn thẳng vào từng bản chất ta
sẽ xây dựng được một hải đảo tự thân vững vàng, để không
còn qụy ngã trước hệ lụy.
Thưa tiên sinh Nguyễn Du, hậu bối trộm nghĩ rằng tiên
sinh không cần phải xuống tóc, cũng không cần phải về
rừng, mà chỉ cần nhìn qua một khung cửa nhỏ, thấy từng
đám mây bay ngang như từng chặng đường khổ nhục của Thúy
Kiều bằng cái nhìn của người chủ nhà, nhìn những khách
trọ đến rồi đi, thì Đoạn Trường Tân Thanh kia đã chẳng
tầm tã lệ rơi! Hậu bối nhớ không lầm thì tiên sinh từng
viết trong bài “La thùy giang thủy cát độc tọa” những
câu như thế này:
Mây đổi hình hài, hôm sớm đổi
Nước trôi cuồn cuộn, cổ kim trôi
Mở đôi mắt mộng, trăm năm hỡi,
Nén nỗi lòng đau, cố lý ơi! (*)
Thưa tiên sinh, nếu trăm năm là mộng, mà ta để “Mộng
trung ngộ mộng trùng mê mộng”, là những giấc mộng lại
chồng lên giấc mộng, thì bao giờ mộng mới tan! Nhưng
Phật dạy, chỉ một sát na tỉnh giác thì mộng kia sẽ tan
ngay. Như lời kinh Pháp Cú, một ánh nến thắp lên, cả căn
phòng tối tăm sẽ bừng sáng, hay trong Chứng Đạo Ca, hậu
bối từng được học:
Trong mộng lao xao bày sáu nẻo
Tỉnh ra bằn bặt chẳng ba nghìn!
Trời mùa đông nơi đây mưa nhiều. Nhưng mưa lại có bao
hạnh phúc của ngày mưa. Tọa thiền trong thiền đường
Trăng Rằm lung linh ánh nến tại Xóm Mới, hay trong thiền
đường Hội Ngàn Sao ấm áp bên Xóm Hạ, mới thấy hạnh phúc
nhường bao, khi trong này có Thầy, có tăng thân và đại
chúng cùng đang ngồi cho Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ; cùng
đang thở cho Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ; cùng mang tâm về
với thân để nhìn thấy qua khung kính, cảm nhận sự tươi
mát chan hòa của rừng trúc, của ngọn thông, của những
lối sỏi nhỏ đang được tắm gội sạch sẽ, ngoài mưa kia!
Nắng có cái vui của nắng, mưa có cái đẹp của mưa, khổ
đau có hạt mầm của hạnh phúc, xum hợp đã bàng bạc ly
tan. Sự luân chuyển đó không ngừng, không chờ ai, đợi
ai, nếu ta không tìm về hơi thở để nhận diện giá trị của
phút giây hiện tại. Hơi thở và phút giây hiện tại này sẽ
thế nào, do chính ta chế tác và cũng chính phút giây này
sẽ trở thành quá khứ, vị lai.
Những bài học chúng tôi cùng học, những thực tập chúng
tôi cùng hành trì đã cho tôi biết trân quý phút giây
hiện tại.
Xin đừng chồng chất những cơn huyễn mộng vào trăm năm
đời ta.
Phút giây này chúng tôi đang cùng được thở chánh niệm để
biết mỉm cười với hiện tại. Một lần, giờ pháp thoại ở
Xóm Hạ, khi giảng về Hiện Pháp Lạc Trú, Thầy nhắn với
các con của Thầy ở phương xa một câu thật cảm động là
“Thầy chỉ mong, ở hoàn cảnh nào, các con vẫn có thể nhìn
nhau, và mỉm cười. Thế thôi, là chúng ta đủ hạnh phúc.
Thầy không đòi hỏi các con gì hơn”
Một áng mây xanh bay ngang, chợt dừng lại, nhìn xuống
đoàn thiền hành đang thong thả “Từng bước nở hoa sen”.
Áng mây? Hay chính là thi hào Nguyễn Du? Vừa khởi nghĩ
thế, tôi đã thấy áng mây mỉm cười. Quả thật, không cần
xuống tóc, thi hào cũng đã về, đã tới, để “nghe gió
thoảng hương tùng quyện mây” vì Bát Nhã Tâm Kinh đã
tỏ tự ngàn xưa qua linh chú:
Đã về,
Đã tới,
Bây giờ,
Ở đây.
Huệ Trân
(Làng Mai, Xóm Mới, một ngày-làm-biếng, tháng
cuối 2009)
(*) Nhật Chiêu dịch từ nguyên bản Hán-tự của thi hào
Nguyễn Du