Giáo
dục nhân cách theo quan điểm Phật giáo
Thích Phước
Đạt
07/12/2005
( Trích : Đến từ trái tim )
|
|
Không
phải ngẫu nhiên nhân cách con người tự
nhiên mà h́nh thành. Một cá nhân hiện hữu
được gọi là người có nhân cách hẳn nhiên
được giáo dục như thế nào đó và
trải nghiệm trong cuộc sống có môi trường
văn hóa ở mức độ cần thiết.
Xem ra nhân
cách con người h́nh thành và phát triển tùy thuộc vào lư
thuyết xây dựng về nhân cách và khả năng
truyền đạt của các nhà giáo dục cũng như
sự tiếp nhận thực thi của người
thọ nhận thể hiện qua các hành vi biểu lộ
bên ngoài. Khái niệm nhân cách thông thường
được hiểu như là một tính cách đặc
biệt của con người bao gồm sự suy tư,
cảm xúc, xử sự, thái độ, tánh t́nh
được thể hiện qua các hành vi, việc làm,
lời nói trong các mối quan hệ của con người.
Có rất nhiều lư thuyết giáo dục nhân cách đă
được xây dựng từ xưa cho đến nay
ở phương Đông cũng như phương Tây.
Người
ta cũng dễ dàng nhận biết khái niệm nhân cách
đă được thiết lập hàng trăm năm
trước Tây lịch ở thời Hy Lạp Cổ và
thời Trung Cổ ở châu Âu. Thế nhưng rơ nét
nhất th́ phải đến những năm đầu
thế kỷ XX, Sigmund Freud mở ra ngành nghiên cưú
mới Tâm phân học, h́nh thành lư thuyết về cơ
cấu nhân cách toàn diện hay tâm lư học về Ego. Tâm phân
học về nhân cách tập trung t́m hiểu rơ sức
mạnh hoạt động trong cá nhân một con
người, cũng như cấu trúc nội tại h́nh
thành và điều động chúng. Freud đặt nền
tảng cho tâm lư học về nhân cách ở ba khái niệm
trong một hệ thống: Ego là nguồn phát sinh ư
thức, lư trí đối lập với vô thức. Nó hầu
như phục vụ các nguyên tắc thực tại, có
thể gọi là tự ngă tư duy. Id có thể xem là
tự ngă bản năng, là toàn bộ bản năng làm
thành nền tảng nhân cách, cũng có thể xem đó là xúc
cảm, cảm tính như là một sự hỗn loạn.
Superego được gọi là siêu ngă tự ngă luân lư, có
thể hiểu là toàn bộ ảo tưởng bị
khống chế bởi các h́nh phạt, kỷ luật làm
cho chúng không được thỏa măn để chúng có
một nhân cách. G. Jung cho rằng không thể dừng
lại ở vô thức cá nhân mà phải bổ sung cho nó
bằng cái vô thức tập thể, vô thức cộng
đồng. Erikson th́ đề nghị lư thuyết có
thể hiểu về sự phát triển nhân cách và có
khả năng chuyển hóa toàn bộ đời sống…
Trong khi
đó, tại phương Đông các lư thuyết về xây
dựng và phát triển nhân cách con người cũng
được triển khai, vận dụng rộng răi trên
cơ sở học thuyết Nho giáo qua từng triều
đại ở Trung Hoa, hẳn nhiên cũng ảnh
hưởng khá mạnh các nước xung quanh châu Á.
Khổng Tử và các môn đệ về sau đă giáo
huấn cho các môn đồ của họ về đạo
lư làm người xoay xung quanh các mối quan hệ. Ông
chủ trương cải tạo nhân tính, để con
người chuyển hóa đi từ cái ác sang cái thiện.
“Tu sửa đạo làm người”, và “làm sáng tỏ
đức sáng” là mục đích tối hậu của giáo
dục trong việc cải tạo nhân tính của Không
Tử. Suy cho cùng, việc giáo dục theo ông không chỉ
mở mang tri thức mà trên hết là việc h́nh thành nhân
cách đầy đủ, thành một con người có
đạo lư…
Phật giáo ra đời trên mảnh đất Ấn
Độ, từ đó nó nhanh chóng lan tỏa bén rể
khắp mọi nơi trên hành tinh này. Lư thuyết Nghiệp
của Phật giáo, người đầu tiên trải
nghiệm và thực chứng là đức Phật Thích Ca và
các bậc Thánh về sau hành tŕ đă chứng minh, soi sáng
cho khái niệm nhân cách được rơ hơn, cụ
thể hơn qua sự cắt nghĩa quá tŕnh h́nh thành và
nhân cách của con người đi đến sự hoàn
thiện mỹ măn. Con người bằng sự tự thân
tu tập, tự thân hành tŕ, có thể chuyển hóa tâm
thức đi từ sự bất thiện sang thiện,
thăng hoa của thiện, sau cùng là chứng ngộ
giải thoát. Tại đây chúng ta có thể thiết
lập các chủ trương, đường lối,
biện pháp giáo dục cụ thể cho từng cá nhân
để xây dựng nhân cách con người hoàn thiện
“đúng nghĩa” đúng như mục đích giáo dục
Phật giáo khởi xướng.
Và như thế, quá tŕnh
h́nh thành và phát triển nhân cách con người theo quan
điểm Phật giáo được giáo dục và
triển khai qua lư thuyết Nghiệp. Đức Phật là
người từng khuyến cáo: “Con người là
chủ nhân ông của nghiệp, là người thừa
tự nghiệp”. Cũng vậy, nhân cách con người là
một quá tŕnh tiếp nhận và thừa kế các hành
động của nghiệp của tự thân sống trong
một gia đ́nh, rộng ra là cộng đồng xă
hội.
Cần
nhận thức rơ nghiệp là hành động tạo tác
của một con người cụ thể. Hành
động nghiễm nhiên được coi là nghiệp khi
và chỉ khi hành động đó có tác ư, ư thức. Khi
một cá nhân tạo một hành động th́ gieo một
chủng tử nghiệp vào trong tâm thức. Tại đây,
chủng tử được cất giữ trong tâm, sau
đó phát triển dần dần chiếm lĩnh vùng ư
thức của tâm- đó là phần của các tưởng
– chúng thực sự tham gia đóng góp vào sự h́nh thành tính
cách – nhân cách con người. Như thế, một số
nghiệp đem lại kết quả trong cùng đời
sống này mà người ấy đang vướng
mắc; một số nghiệp th́ có kết quả ngay
trong đời sống tiếp theo, hay trong đời
sống kế tiếp nữa. Rơ ràng, theo lư thuyết
Nghiệp, mỗi cá nhân tạo ra các hành động
thiện nghiệp ắt hẳn thọ nhận các kết
quả thiện lành, có tác nhân ảnh hưởng thúc
đẩy vươn tới các hành động
tương tự. Ngược lại, cá nhân đó tạo
ra các hành động chất chứa hạt giống
bất thiện th́ phải thọ nhận quả báo
bất hạnh kéo theo sự hệ lụy khổ đau
khác. Đến đây, chúng ta có thể nhận diện
kết quả căn bản về một đời
sống tạo được của con người nào
đó hay nhân cách của người ấy thông qua quá
tŕnh thực thi các hành nghiệp tự thân cá nhân
người đó.
Lư thuyết
Nghiệp c̣n đưa chúng ta đi vào thế giới
tự do hành động và chịu trách nhiệm về hành
động của ḿnh và quyết định đời sống
của ḿnh ngay trong hiện tại, cũng như tạo ra
sự ảnh hưởng đến tương lai. Quá
khứ của một con người có thể ảnh
hưởng đến đời sống hiện tại
nhưng thật sự không thể chi phối khống
chế hiện tại măi hoài. Thấu hiểu điều
này, các quan niệm cố hữu về quyết định
luận, định mệnh luận sẽ tự hủy
diệt trong tâm tưởng con người hay mắc
phải, bởi v́ chính họ nhận thức rằng
nghiệp là phần nhân, quả là của một hành
động tạo ra. Từ đó, con người tích
cực tạo ra các nghiệp thiện lành của ngày hôm sau
để có thể bổ sung cho các hậu quả của
nghiệp c̣n khiếm khuyết của ngày trước
đó.
Không c̣n ǵ
để bàn căi nữa, trách nhiệm của các nhà giáo
dục là không ngừng nỗ lực t́m hiểu nhân cách con
người thuộc nghiệp của từng cá nhân qua
cả quá tŕnh chiêm nghiệm về các hành vi cá nhân ấy,
trong từng hoàn cảnh, điều kiện sống, môi
trường sinh hoạt cụ thể. Chính họ –
những người làm công tác giáo dục phải cung
cấp cho chính tự thân mỗi người các giá trị
chủng tử nghiệp thiện lành mới
để có công năng hủy diệt các mầm mống
chủng tử nghiệp bất thiện cũ có nguy cơ
trỗi dậy, ngơ hầu chuyển hóa nhân cách của
một người.
Các kinh điển Phật giáo đều chứa
đựng nội dung xây dựng nhân cách hoàn thiện con
người. Chẳng hạn, đức Phật khuyến
hóa con người hành thập thiện, hay thực thi
mười hành vi đạo đức như bố thí,
tŕ giới, thiền định, tôn kính, phục vu, hồi
hướng công đức, tùy hỷ công đức, nghe
pháp, thuyết pháp, và sống đúng chánh kiến như là
nội dung giáo dục nhân cách con người để
trưởng thành. Suy cho cùng, con người phải
biết chuyển hóa tâm thức được cất
chứa nhiều chủng tử nghiệp thiện lành bao
gồm kiến thức, tưởng, thọ, tư duy, tánh
hạnh và sự ứng xử tốt đẹp càng
nhiều càng tốt. Được như thế, nó
sẽ có khả năng đẩy lùi những chủng
tử mang hạt nhân bất thiện đă tích lũy trong
quá khứ hay vừa mới tạo ra trước đó. Rơ
ràng nhân cách con người là quá tŕnh được tích
lũy và chuyển hóa các chủng tử thuộc nghiệp
nhân để tạo ra các nghiệp quả như ư
muốn vào các môi trường sống thích ứng do chính
ḿnh tạo ra. Tại đây, công tác giáo dục nhân cách
đóng một vai tṛ vô cùng quan trọng trong việc
định h́nh và phát triển nhân cách hoàn thiện một
con người sống trong một cộng đồng.
Một tâm thức trong sáng thanh tịnh chứa chất
những hạt giống thiện lành sẽ tạo ra
những niềm hạnh phúc an lạc. Đó là mục tiêu
sau cùng của giáo dục Phật giáo.
Điều
cuối cùng đáng nói, chừng nào con người c̣n khát
vọng về hạnh phúc chừng đó con người
càng vươn tới sự hoàn thiện nhân cách theo
mục tiêu Phật giáo đề ra. Mọi tính cách
được xuất phát từ trong tâm tưởng,
thể hiện qua việc làm, hành động, lời nói
đều mang dấu ấn của nghiệp. Trong ư
nghĩa đó, giáo dục nhân cách theo quan điểm
Phật giáo càng có ư nghĩa thiết thực trong đời
sống luôn biến đổi hiện nay trước các
vấn đề đạo đức xă hội đang
nảy sinh.
admin (Theo Lưu dấu Một thời)