GIÁO
DỤC PHẬT GIÁO
ÐỐI DIỆN NHỮNG VẤN ÐỀ
HIỆN ÐẠI
MINH
CHI
( Trích từ THƯ VIỆN HOA SEN )
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt đạo Phật trong kinh điển – mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết – với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế.
Ðạo
Phật lý thuyết là đạo Phật lý
tưởng. Khoảng cách giữa lý
tưởng và thực tế là chuyện tất
nhiên và tất yếu. Bởi lẽ, nếu
không có khoảng cách đó giữa
đạo Phật lý tưởng và đạo
Phật thực tế, thì mọi người
chúng ta đều thành Phật cả rồi,
và cõi đất này đã là
cõi Phật rồi.
Vì vậy,
khi suy nghĩ và nói tới khoảng cách
đó qua các sự kiện thực tế,
tôi không có mục đích gì
khác là tự nhắc nhủ mình và
nhắc nhủ mọi người luôn luôn có
ý thức về khoảng cách đó và
phấn đấu hết sức mình để thu hẹp
khoảng cách đó.
Chính với
tinh thần và thái độ như vậy
mà tôi xin có một vài suy nghĩ về
một sự đổi mới phương pháp, hình
thức và nội dung của giáo dục Phật
giáo trong thời đại hiện nay.
1. ÐỔI
MỚI VỀ HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG
PHÁP GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
a. Trong giáo dục Phật
giáo, thân giáo là quan trọng hàng
đầu.
Ðiều
này, ai cũng biết cho nên không cần
nói nhiều. Cái khó là chúng ta
không làm, không muốn làm hay là
không làm được.
Tôi cho
rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho
đạo không truyền bá được
vào đời một cách rộng rãi,
khiến cho giáo dục Phật giáo có
hiệu quả hạn chế là vì chúng ta
coi nhẹ thân giáo, tức là những
người làm chức năng giáo dục
Phật giáo, phải thực hành, từ
đó gợi cho người khác thực
hành hàng ngày, hàng giây phút
những giá trị cao cả của đạo
Phật trong cuộc sống của mình.
b. Mở rộng đội ngũ
giáo dục
Cho đến
nay, chúng ta thường hạn chế số
người làm chức năng giáo dục trong
Tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật
giáo trong các buổi thuyết pháp hay là
lên lớp ở các trường Phật học
trung cấp và cao cấp. Một quan điểm
như vậy làm giảm sút hiệu quả
của giáo dục Phật giáo rất nhiều.
Tất cả mọi người không kể là
xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào
chân lý của những giá trị triết
lý đạo đức của đạo Phật
và sống theo đúng những giá trị
đó, đều mặc nhiên trở thành
những nhà giáo dục Phật giáo, bằng
thân giáo, bằng tư tưởng, hành vi
và lời nói của mình. Mọi
người hãy có ý thức đầy
đủ về điều này, và không
nên nghe những người nói rằng truyền
giáo, giáo dục thì phải có văn
bằng, học hàm, học vị, phải nói cho
hùng hồn, điệu bộ cho oai vệ. Suy nghĩ
như vậy sẽ lầm to, và rất có
hại cho sự nghiệp truyền bá của
đạo Phật.
Trần Thái
Tông, một ông vua Phật tử đời
Trần, đã viết trong cuốn Khoá hư
lục rằng : "Mạc vấn đại ẩn tiểu
ẩn, hưu biệt xuất gia tại gia, bất câu
Tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bản
vô nam nữ, hà tu trước tướng ?(Không
phân biệt là sống giữa đời hay
sống ẩn dật trong rừng, không phân
biệt tại gia hay xuất gia, Tăng hay tục, chỉ
cốt biện tâm. Vốn không nam nữ, sao
lại còn chấp tướng?).
Có thể
nói đạo lý bình đẳng của
Phật không có phân biệt đối
đãi xuất gia và tại gia, nam và nữ,
già và trẻ. Tất cả mọi người
đều sẵn có mầm giác ngộ ở
trong mình, tức Phật tánh, cho nên
đều có thể thành Phật. Ðạo
lý bình đẳng này thấy rõ trong
một số kinh Ðại thừa như kinh Duy Ma
Cật, kinh Thắng Man đã được dịch
ra tiếng Việt. Duy Ma Cật là một
trưởng lão có gia đình, nhưng
trình độ giác ngộ của ông ngang
hàng với Bồ tát Văn Thù. Phu nhân
Thắng Man, trong kinh Thắng Man, cũng có một
vị trí cao tương tự. Trong kinh Pháp Hoa
ở phẩm 26, một Long Nữ mới 8 tuổi,
nhờ nghe ngài Văn Thù thuyết pháp
mà trở thành đại Bồ tát và
trong nháy mắt dùng phép thần thông
biến ngay thành nam giới rồi thành Phật.
Những truyện như vậy có thể không
được Phật giáo Theravada (Nam tông)
chấp nhận, nhưng đứng về tinh thần
mà nói, chúng nói lên được
truyền thống bình đẳng và phá
chấp của đạo Phật, và truyền
thống này có ngay từ thời Ðức
Phật còn tại thế.
Phật giáo
Việt Nam từng có Ni sư Diêụ Nhân
đời Lý là một Thiền sư nổi
tiếng thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Ða Lưu
Chi, có Trần Thái Tông và Tuệ Trung
đều là những cư sĩ và là
nhà Phật học xuất sắc đời Trần.
Học trò của hai vị này gồm cả
Tăng sĩ và cư sĩ. Một học trò
xuất sắc của Tuệ Trung chính là
Trần Nhân Tông, là Tổ thứ nhất
của phái Thiền Trúc Lâm đời
Trần. Một học trò thứ hai của Tuệ
Trung là Pháp Loa, là vị Tổ thứ hai
của phái Thiền Trúc Lâm và là
người đứng ra san định bản thảo
Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, đã
được cư sĩ Trúc Thiên dịch ra
Việt văn. Trong thời hiện đại, chúng
ta có cư sĩ Tâm Minh Lê Ðình
Thám, là một nhà Phật học lớn,
nhiều Tăng sĩ vốn là học trò
của ông, nay giữ nhiều vị trí chủ
chốt trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ở
nước Phật giáo nào cũng vậy, cư
sĩ bao giờ cũng chiếm số đông, họ
lại là người có kiến thức thế
tục khá rộng, nếu họ có thêm
kiến thức nội điển nữa thì họ
sẽ trở thành những nhà giáo dục
Phật giáo, những nhà truyền giáo
rất tốt, rất có hiệu quả. Tăng
sĩ vốn số lượng ít hơn, tất
nhiên cũng làm chức năng giáo dục
và truyền giáo, nhưng trước hết
họ là những người duy trì kỷ
cương xuất thế của đạo, và
điều này cũng rất là quan trọng trong
cuộc sống văn minh vật chất và thế
tục hiện nay. Nói tóm lại, phải thu
hút rộng rãi từng lớp cư sĩ
vào đội ngũ giáo dục và truyền
giáo của đạo Phật. Ðó là
một trong những biện pháp chủ chốt
để rút ngắn lại khoảng cách
giữa đạo Phật lý thuyết và
đạo Phật trong thực tế, trong đời
sống.
c. Một vấn đề mang
tính cấp thời là dùng rộng rãi tiếng
dân tộc, tức tiếng Việt, trong công
tác giáo dục và truyền giáo, bớt
dùng chữ Hán, nhất là đối với
các kinh nhật tụng. Các bản Việt dịch
của Ðại tạng kinh Việt Nam phải
được nhuận văn thế nào cho
đông đảo Phật tử đọc mà hiểu
được, và áp dụng được
nội dung vào đời sống hàng ngày,
vấn đề này quá rõ, cho nên
tôi không nói nhiều.
II. GIÁO
DỤC HƯỚNG NỘI VÀ ÐẶC BIỆT COI
TRỌNG MÔN DUY THỨC HỌC
Về nội
dung giáo dục, phải rất chú trọng
môn tâm lý học Phật giáo, tức
là môn Duy thức học. Cho đến nay, ở
các nước phát triển của phương
Tây, người ta chú trọng nghiên cứu
thế giới bên ngoài, hơn là nội
tâm con người. Nói thế giới bên
ngoài, bao gồm cả xã hội và thiên
nhiên. Do đó mà các ngành khoa học
tự nhiên ở phương Tây rất phát
triển, tạo ra nhiều thành tựu thần kỳ
trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và
công nghệ, dẫn tới một sự tăng
trưởng vũ bão của lực lượng
sản xuất. Thành công đó của khoa
học kỹ thuật phương Tây không thể
phủ nhận được. Thế nhưng trong
các ngành khoa học xã hội học thì
chỉ có ngành xã hội học (socialogy)
là phát triển tương đối. Ngay
Mác, khi dẫn chứng một điểm trong
luận cương của Phơ Bách cũng khẳng
định con người là tổng hoà các
mối quan hệ xã hội. Nhưng trên thực
tế, theo quan điểm của triết học và
tôn giáo phương Ðông, đặc
biệt là Phật giáo, thì nội tâm con
người là cả một thế giới mênh
mông sâu thẳm, mà mãi tới thế
kỷ XX, Sigmund Freud mới sơ bộ phát hiện
ra, và trên cơ sở đó xây dựng
môn Phân tâm học nổi tiếng của
ông.
Chúng ta
biết là để trình bày môn Phân
tâm học, một môn học rất mới mẻ
đối với người phương Tây, Freud
đã phải sáng tạo ra cả một pho
ngữ vựng Phân tâm học với những danh
từ, động từ và hình dung từ
rất lạ tai… Thế nhưng môn tâm
lý học Phật giáo cụ thể là
môn Duy thức học Phật giáo so với
môn Phân tâm học của Freud, đã
phân tích nội tâm của con người
sâu sắc và chi tiết hơn nhiều, khiến
cho những học trò danh tiếng của Freud như
Fromm, Carl Jung đã theo nghiên cứu Phật
học và trở thành môn đệ của
Thiền sư Nhật Bản Suzuki (xem Thiền và
Phân tâm học – các bản Anh và
Việt văn).
Vì không
chú trọng đời sống nội tâm, cho
nên ở các nước công nghiệp rất
phát triển của phương Tây, con người
có thể có rất nhiều tiền và
đầy đủ mọi tiện nghi của đời
sống vật chất nhưng lại thiếu sự
bình tĩnh nội tâm và do đó cũng
ít có hạnh phúc. Một nhà báo
người Mỹ nói : "Về vật lý
học, chúng ta đang ở thời đại
nguyên tử; về mặt tâm lý học,
chúng ta đang ở thời đại đồ đá".
Một hình ảnh khác, có sức gợi
cảm mạnh hơn, là hình ảnh của
một con người, một chân thì buộc
vào một chiếc máy bay phản lực,
còn chân kia thì buộc vào một
chiếc xe bò kéo !
Sự mất
thăng bằng giữa tâm lý học (hết
sức lạc hậu) và các môn khoa học
tự nhiên, đặc biệt là vật lý học
(hết sức phát triển) giữa nội tâm
tán loạn, hôn mê vì dục vọng
và ngoại cảnh đầy cám dỗ,
kích thích và diễn biến cực kỳ
nhanh chóng (thời đại hiện nay là
thời đại của tốc độ) là
nguyên nhân của bao nhiêu tai nạn khủng khiếp,
bao nhiêu hiện tượng bạo lực, bạo
hành, khủng bố thật không sao hiểu
được, đang diễn ra hiện nay, có
thể nói là hàng ngày. Những
chuyện giết người hàng loạt một
cách dã man, không phải chỉ xảy ra
ở những nước lạc hậu, kém văn
hoá như ở Campuchia thời Pôn Pốt, ở
Rwanda và Burundi tại châu Phi hiện nay mà ngay
ở trung tâm châu Aâu, ở nước Nam
Tư cũ, ở Nga tại Tchesnia, ở Mỹ (Oklahoma)
và ở Nhật trong các vụ đầu
độc dưới tàu điện ngầm
v.v….
Ðúng
như Einstein dự đoán nhân loại là con
người điên. Khoa học kỹ thuật trao cho
người điên đó cái búa, và
bây giờ, người điên đó đang
dùng cái búa đập phá lung tung.
Duy thức
và Trung quán là hai đỉnh cao của
Phật giáo Ðại thừa. Hai môn học
này bổ sung cho nhau, thay vì mâu thuẫn
và chống đối với nhau như một
vài người lầm tưởng. Nếu môn
học Trung quán chú ý nhiều tới sự
phân tích logic và tư duy biện chứng, do
đó rất thích hợp với các
phương pháp khoa học hiện đại,
thì môn Duy thức học lại chú trọng
phân tích nội tâm, kết hợp với tu
tập thiền định. Không phải không
có lý do mà tông Duy thức còn mang
tên Du Già tông. Dù Già hay Yoga là
một tên gọi khác của Thiền
định, nhưng ý nghĩa của nó có
phần rộng hơn.
Giảng môn
Duy thức học mà không biết kết hợp
với tu tập thiền định thì sẽ
biến thành môn học có tính kinh
viện và sách vở. Chính trong những
giờ phút ngồi thiền và thực hành
thiền quán hay nội quán, mà hành
giả quán thấy mọi sự kiện ngoại
cảnh và nội tâm một cách minh bạch
rõ ràng, đúng như chúng tồn
tại.
III/ GIÁO
DỤC VỀ TINH THẦN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, ÐỀ CAO TÍNH LÝ
TRÍ TRONG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO, CHỐNG
MỌI HÌNH THỨC GIÁO ÐIỀU, CŨNG NHƯ
MÊ TÍN VÀ CUỒNG TÍN
Thời
đại hiện nay là thời đại của khoa
học và dân chủ. Phương pháp
giáo dục Phật giáo, nếu đi
ngược lại hai tinh thần khoa học và
dân chủ, nhất định sẽ kém hiệu
quả, thậm chí đem lại hậu quả
ngược với ý muốn dự định
của chúng ta. Nghĩa là tuyên truyền
đạo Phật mà trở lại phản tuyên
truyền đạo Phật, biến đạo Phật
thành một trò cười cho số đông.
Gần
đây, có người thường nhấn
mạnh tính phi lý, tính trái thường
của những ngữ Thiền. Ðúng là
có một số câu nói nhà Thiền hay
là có những hành vi của một số
Thiền sư là khó hiểu, thậm chí
không hiểu được, đại loại như
câu của phái Thiền Lâm Tế : "Gặp
Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ"
v.v… Tôi không dám phê bình
những câu, những lời thiền như vậy,
mà tôi tin là chỉ có giá trị
giáo dục nhất định, trong những
trường hợp cá biệt nhất định
giữa Thiền sư và thiền sinh, giữa
thầy và trò. Tuy nhiên, những câu
kiểu như vậy không có một giá
trị giáo dục phổ biến.
Ðạo
Phật khác với các tôn giáo thần
khải, không bao giờ phủ định lý
trí như là chuẩn mực đáng tin
cậy của chân lý. Con người là
một động vật có lý trí. Tất
nhiên, con người còn có tình cảm
và ý chí. Nhưng ở nơi con
người, tình cảm và ý chí
phải được soi sáng và hướng
dẫn bởi lý trí. Với lý trí, con
người phải học lập luận một
cách logic chặt chẽ, sử dụng thông
thạo các thao tác như suy lý, diễn
dịch và quy nạp. Do đó, môn logic
học Phật giáo (Nhân minh học) phải
được đưa vào dạy ở các
trường Phật học trung cấp và cao cấp.
Ðó là điều hiện nay chúng ta
chưa làm, thậm chí ngay cả đối
với trường Phật học cao cấp, chứ
đừng nói gì ở các trường
Phật học trung cấp. Khi nói và viết, khi
suy tư, con người phải biết lập luận
một cách logic, nghĩa là có lý có
lẽ, chứ không thể suy nghĩ lung tung, viết
và nói lung tung, thậm chí cả trong khi
giảng dạy.
Nhà bác
học Einstein nói : "Tôn giáo mà
không có khoa học sẽ là tôn giáo
mù, khoa học mà không có tôn giáo
thì sẽ là khoa học què".
Khi Einstein
nói tôn giáo mà không có khoa học
là tôn giáo mù, theo tôi là Einstein
muốn nói tôn giáo không phải chỉ là
lĩnh vực của đức tin thuần túy,
yêu cầu không được bàn cãi, suy
tư, hoài nghi. Tuyệt đối không phải
như vậy. Chính kiểu lập luận như
vậy biến tín đồ thành một
đám người mù, nhắm mắt làm
theo chỉ thị của những người tự
xưng là đạo sư, hay là vô
thượng sư của họ, nhưng trên thực
tế, đôi khi chỉ là những phần
tử cơ hội, có thể không từ một
tội ác nào mà không làm, như
đạo sư của giáo pháp Aum ở
Nhật, đã cho đầu độc hàng loạt
người vô tội, hay là như một số
giáo phái ở Mỹ, tổ chức những
vụ tự sát tập thể….
Ðạo Phật ngay từ
đầu đề cao vai trò của trí tuệ
thay vì niềm tin mù quáng. Phật từng
nói tiếp thu giáo pháp của Phật
mà không hiểu cũng không khác gì
một cái thìa đựng mật, nhưng
không thể biết mùi vị của mật
là gì, Phật lại nói "Chớ
có tiếp thu giáo pháp của Ta chỉ
vì kính nể Ta, trái lại hãy thử
thách nó như là lửa thử vàng
vậy".
Ðạo
Phật không bao giờ có những lời
tuyên bố vô lý như thế này :
"Ðiều này có thể tin được
vì rằng quá ư vô lý, điều
này là đúng vì không có khả
năng xảy ra". Những điều đó,
logic học Phật giáo, tức Nhân minh học,
gọi là thế gian tương vi. Ðạo Phật
khuyến khích mọi người hãy lập
luận một cách logic, dựa trên những
sự kiện thực tế của cuộc sống
hàng ngày. Một lần, Phật nói với
một người Bà la môn : "Có
những người Bà la môn và Sa môn
nói rằng ngày là đêm và
đêm là ngày. Nhưng Ta, này Bà la
môn, Ta nói đêm là đêm, và
ngày là ngày".
Hiện nay,
có một số ít người, kể cả
một số trí thức, thích kể những
chuyện lạ về cõi âm, và cũng
thích bàn về những quyền năng siêu
nhiên, như bay trên không, đi trên
nước, một thân biến thành nhiều
thân, hô phong hoán vũ, sai khiến quỷ
thần.
Trong phương
pháp giáo dục Phật giáo, chúng ta
xử lý những vấn đề đó như
thế nào ?
Trước
hết, đạo Phật thừa nhận có
nhiều cõi sống khác nhau với cõi
người. Có những cõi sống cao cấp
hơn cõi người, mà sách Phật
thường gọi chung là chư Thiên. Có
những cõi trời ở xa, thậm chí rất
xa cõi người trên trái đất
này, nhưng cũng có những cõi trời
ở tương đối gần. Lại có
những cõi sống thấp hơn cõi
người, như cõi sống của loài
vật, cõi quỷ đói và cõi
địa ngục. Ðạo Phật cũng thừa
nhận, con người sau khi chết, mang một cái
thân tạm thời gọi là thân trung ấm,
làm bằng loại vật chất tế nhị, cho
nên mắt người không thấy
được. Các thân trung ấm sống tối
đa 49 ngày, rồi theo nghiệp mà tái sanh
hoặc trở lại làm người hay là qua
một cõi khác hoặc thấp hơn hoặc cao
hơn cõi người. Ðó là một
mặt của vấn đề. Tức là đạo
Phật thừa nhận có những chúng sanh
khác với con người, những cõi sống
khác với cõi người. Còn gọi
họ, và cõi sống của họ bằng
tên gọi gì thì chỉ là vấn
đề quy ước mà thôi.
Nhưng một
số vấn đề khác mà đạo
Phật rất nhấn mạnh, chúng sanh ở
các cõi sống khác nhau, do nghiệp khác
nhau, giác quan khác nhau cho nên cũng không có
quan hệ trực tiếp với nhau gì (trong các
cõi sống khác, có lẽ chỉ có
loài vật (animal) là có quan hệ trực
tiếp với cõi người hơn cả).
Phúc hay họa đến cho con người là do
con người tạo nghiệp tương xứng,
chứ không phải do quỷ thần. Cho nên,
điều người phải làm, không phải
là cúng bái quý thần để
được ban phước hay tránh họa. Họa
hay phước đều do người chứ không
phải do quỷ thần. Nếu chúng ta hàng
ngày làm điều thiện, nói thiện,
nghĩ thiện, nghĩa là thường xuyên
làm việc thiện thì chiùnh quỷ thần
cũng kính nể ta, bảo vệ ta. Còn nếu
chúng ta hàng ngày làm ác, nói
ác, nghĩ ác, thì chúng ta sẽ mang
họa, không chóng thì chầy, không
có quỷ thần nào cứu vớt chúng ta
được. Ðó là thuyết nghiệp
của đạo Phật, một thuyết rất khoa
học, và công bằng.
Theo tinh thần
của đạo Phật, thì không những
quỷ thần không thể can thiệp vào quy
luật nghiệp báo, mà các con người
đối đãi với nhau cũng vậy.
Người thiện thật sự sống thiện, nay
cũng như xưa thì người ác muốn
hại cũng không làm gì được.
Người ác, muốn hại người thiện
cũng như kẻ ngu ngửa mặt lên trời
mà phun nước bọt, hay là đi
ngược gió mà tung bụi… người thiện
sống giữa đời ác độc, cũng
như một bàn tay không thương tích
nhúng vào một bát thuốc độc,
không có quan hệ gì hết.
Còn về
vấn đề thần thông và quyền năng
siêu nhiên, đạo Phật cho rằng đó
là sản phẩm phụ của công phu thiền
định, là một cái gì tự nhiên
đến với người tu tập thiền
định, trong đạo Phật cũng như ở
các đạo khác. Thế nhưng, trong các
loại thần thông, thì loại thần thông
mà Phật đề cao nhất là "Giáo
hóa thần thông", hay là nếu nói
theo từ ngữ thông thường là
"giáo dục thần thông". Phật nói
đó mới là thần thông thật sự,
chuyển hóa con người ác thành con
người thiện, con người ngu thành
người có trí, người dữ thành
người hiền… Còn các loại thần
thông khác như bay trên không, đi trên
nước, chui xuống đất…., Ðức
Phật đều xem như những trò ảo
thuật mà Ðức Phật khuyên học
trò mình không nên làm.
Ðạo
Phật là đạo của trí tuệ, của
tình thương rộng lớn. Ðạo Phật
đem lại cho mọi người nhiệt tình
sống cuộc sống đạo đức, sống
cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc sống trong
sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung…
Ðạo Phật, cũng như bản thân Ðức
Phật, luôn khuyên mọi người hãy tin
ở sức mình, hãy tin ở mình, hãy
tự thắp đuốc lên mà đi ….
"Chớ có vội tin vì đó là
truyền thống do nhiều thế hệ để
lại, chớ tin vì đó là tin đồn,
được nhiều người nói tới,
chớ có tin vì đó là điều
đã viết thành sách bởi một
nhà hiền triết cổ xưa, chớ có tin
vì đó là điều anh thích thú,
cho là tân kỳ, và nghĩ tằng đó
phải là do thần hay một vật kỳ diệu
truyền đạt lại. Chỉ sau khi quan sát
và phân tích, thấy rằng đó
là điều hợp với lý trí, đem
lại sự tốt lành , có lợi cho bản
thân anh và cho mọi người, thì hãy
chấp nhận điều đó và sống theo
điều đó" (Tăng Chi I, kinh Kalama-
các vị ở Kesaputta).
Ðó
quả là một lời dạy đầy minh
triết. Nếu tất cả mọi người
đều vâng theo lời dạy minh triết
đó, sống tỉnh táo, luôn luôn quan
sát và phân tích, dựa vững vàng
vào các dữ kiện thực tế của
đời sống, kể cả đời sống
nội tâm, thì lịch sử nhân loại, kể
cả quá khứ và hiện tại, sẽ
giảm bớt bao nhiêu tội ác, tang tóc,
và đau thương, bao nhiêu máu bớt
chảy, bao nhiêu nước mắt đỡ tuôn
rơi, bao nhiêu quả tim đỡ tan nát…
Có
người nói đạo Phật là tôn
giáo của niềm tin nhưng không phải
là niềm tin ở Thượng đế mà
là niềm tin ở con người, ở lý
trí của conngười biết phán xét
phải trái, ở trái tim của con người
biết yêu thương đồng loại, ở
ý chí của con người vươn tới
cái tối thiện.
Ðạo
Phật là như vậy, và toàn bộ
giáo dục Phật giáo trong thời đại
hiện đại phải đổi mới như
vậy, nhằm mục đích như vậy, theo
hướng như vậy. Ðó sẽ là
đạo Phật của tương lai, của thế
kỷ XXI.
(Nguyệt-san
Giác-Ngộ số 61/2001)