Vì vậy, mùa An cư kiết hạ của chư
Tăng, Ni thực chất chính là thời kỳ
thuận lợi nhất trong việc thực thi
đời sống hướng thượng, quyết định sự
chuyển hóa tâm thức, là cơ sở thành
tựu phạm hạnh giải thoát tối hậu.
Do
có giá trị cao cả như thế, ngay từ thời
Phật còn tại thế, Ngài đã chú trọng vấn
đề này. Chính Đức Phật đã từng khiển
trách nhóm Tỷ kheo sáu người và khuyến
giáo rằng: “Này các thầy Tỷ kheo, phải
an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời
điểm an cư. Thời điểm trước là ngày kế
của ngày trăng tròn tháng Àsàlha, thời
điểm sau là vào ngày sau ngày trăng tròn
của tháng sau. Này các Tỷ kheo, trong ba
tháng mùa mưa an cư không nên du hành.
Vị nào đi ra ngoài, nếu không có lý do
chính đáng thì phạm Dukkata”.
Rõ
ràng, thời gian an cư có thể nói là thời
gian quan trọng nhất trong năm của bất
cứ hành giả nào hướng tâm giải thoát. Nó
không chỉ có giá trị quyết định vấn đề
thăng chứng tâm linh, phẩm hạnh trí tuệ
của từng cá nhân đoàn thể Tăng già mà
còn có tác động khai mở tâm thức, thiết
lập và phát triển đời sống sinh hoạt tín
ngưỡng của giới Phật tử tại gia thuần
tịnh.
Cho
nên, ta chẳng ngạc nhiên gì, ngày nay
đến thời điểm an cư, giới lãnh đạo Phật
giáo đã chú trọng chỉ đạo thiết lập
những trường hạ quy củ để chư Tăng, Ni
tập trung an cư trong một môi trường
thanh tịnh, thuận lợi cho việc hành trì
tu tập. Giá trị việc thiết lập đạo tràng
an cư không đơn giản là hành giả an cư
phải sống tập trung để tránh mưa, sợ đi
lại nhiều và dẫm đạp trên đất làm chết
côn trùng, mà thật ra còn có ý nghĩa cao
hơn là để Tăng, Ni có điều kiện thanh
tịnh tam nghiệp, học hỏi giáo pháp,
thăng tiến trong lộ trình hành trì giới
định tuệ. Trong ý nghĩa đó, an cư được
minh giải như một quá trình tự thân tu
tập, tự thân hành trì, mục đích cuối
cùng là tự thân giải thoát thành Phật mà
bất cứ người nào hành trì giáo pháp Như
Lai ước nguyện.
Các
bản kinh A hàm và Nikàya
từng thuật lại, nhờ có sự tập trung An
cư kiết hạ mà các hành giả trong thời
gian này đã có sự thăng chứng vượt trội;
kết quả là nhờ sống phạm hạnh mà thành
tựu giới, nhờ thành tựu giới mà chứng
đạt được định, nhờ chứng đạt định mà
khai mở trí tuệ, nhờ có trí tuệ mà chứng
đắc quả Thánh. Kinh Chánh pháp niệm
xứ đề cập đến sự nhiệt tâm tinh tấn
của chư Tăng thật đáng tôn kính, ngoài
việc đi vệ sinh, thì các hành giả an cư
dành toàn bộ thời gian còn lại để ngồi
kiết già, hành trì thiền định cho đến
khi chứng đắc quả Thánh.
Trong đời sống văn minh hiện đại, đạo
tràng An cư kiết hạ là môi trường lý
tưởng để chư Tăng, Ni tập trung thành
một hội chúng hòa hợp, học pháp, hành
trì pháp. Các hành giả Tăng, Ni trẻ tuổi
có cơ may học pháp từ các bậc trưởng
thượng; và các bậc trưởng thượng có
thuận duyên sách tấn giáo huấn đàn hậu
học thăng tiến trưởng thành. Có như thế,
sinh mệnh Tăng già không những trường
tồn mà việc hoằng hóa độ sanh ngày một
hưng thạnh, đem lại lợi ích cho quần
sanh. Đúng như tinh thần Phật dạy theo
kinh Tăng Chi: “Hội chúng nào có
các Tỷ kheo sống không biếng nhác, từ bỏ
các đọa lạc, đi đầu hạnh viễn ly, sống
theo tinh thần tinh tấn để chứng đạt
những gì chưa chứng đạt, để chứng ngộ
những gì chưa chứng ngộ, hội chúng này
sẽ làm lợi ích cho đa số, sẽ làm tăng
trưởng lạc giải thoát”. Chính sự thành
tựu của việc tu tập này, sẽ góp phần đem
lại các chân giá trị hạnh phúc thiết
thực cho tự thân mỗi hành giả tu tập
giải thoát, kết nối sự hòa hợp thanh
tịnh của cả một đoàn thể Tăng già, quyết
định cho sự truyền đăng tục diệm, hưng
thịnh đạo pháp.
Do
đó, việc giới Phật tử tại gia nương theo
các đạo tràng An cư kiết hạ của chư Tăng,
Ni để hướng tâm tu tập giải thoát là
điều tất nhiên. Chính Đức Phật từng tán
thán: “Nơi nào có hội chúng xuất gia
thành tựu pháp, thì nơi đó hội chúng tại
gia được an lạc, hạnh phúc nhờ sự hướng
dẫn thực tập hành pháp của hội chúng
xuất gia”. Kinh nghiệm thực tiễn cho
thấy, giới Phật tử tại gia ngày nay có
nhiều áp lực, lắm nỗi lo toan cần phải
giải quyết trong một nền kinh tế thị
trường khá biến động, thay đổi và đang ở
trong thời kỳ suy thoái khủng hoảng kinh
tế toàn cầu. Việc các trường hạ cũng là
nơi thiết lập đạo tràng cho hội chúng
tại gia có điều kiện nghe pháp, hành trì
pháp, thực tập đời sống hướng nội một
cách thiết thực và hữu hiệu nhất. Kinh
Tăng Chi II nói rằng: “Có 5 lợi
ích cho người sống chung với người an cư
có mục đích. Đó là: 1- Nghe điều chưa
được nghe. 2- Làm cho thanh tịnh điều
được nghe. 3- An trú chánh tín những gì
đã được học. 4- Không cảm xúc bệnh hoạn
trầm trọng. 5- Có được các thiện tri
thức đồng tu tập”.
Đọc
các bản kinh A hàm hay Nikàya,
truyện ký Phật giáo, chúng ta cũng thấy
giới Phật tử tại gia thời Đức Phật, nhờ
biết nương tựa chư Tăng tu hành mà thành
tựu các pháp trong thời kỳ An cư kiết hạ
hàng năm. Thậm chí các Phật tử ở vùng
sâu đã liên kết với bà con quyến thuộc,
các bộ tộc, những người cùng thôn xóm
đến xin Thế Tôn thỉnh cầu một số chư
Tăng về trú xứ của mình an cư để họ có
cơ duyên thân cận thiện tri thức, nghe
pháp và hành thiện, tạo phước điền. Tại
đây, sự kết nối yêu thương được thiết
lập, các giá trị đạo đức, nhân cách, trí
tuệ của mọi người cũng được định hình
nhờ sự tiếp nhận suối nguồn Chánh pháp.
Mọi mâu thuẫn, những áp lực của công
việc, những ham muốn sẽ giảm thiểu, thay
vào đó là sự nảy mầm của các hạt giống
thiện lành làm cho đời xanh tươi lên qua
sự sự trải nghiệm thực hành các hạnh
công đức Ba la mật như bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ mà người Phật tử thường làm như là
một sự hộ trì Chánh pháp cao cả.
Ngày nay, các đạo tràng tịnh nghiệp chư
Tăng, Ni an cư trong ba tháng hạ hàng
năm, các đệ tử tại gia đã không ngừng
thăng tiến trong việc tu tập hướng đến
đời sống hướng thượng. Mô hình tu tập
một ngày an lạc, tu Bát quan trai, niệm
Phật, bái sám,… dưới sự hướng dẫn của
chư Tăng, Ni đã đi trở thành nếp sống
quen thuộc, là truyền thống sinh hoạt
của người Phật tử trong mùa an cư. Hẳn
nhiên, giới Phật tử cũng trở thành người
đóng vai trò hộ trì, cung cấp “tứ sự”
cần thiết cho chư Tăng, Ni và ủng hộ các
việc công ích xã hội khác.
Và
như thế, hội chúng xuất gia cùng hội
chúng tại gia trong mùa an cư có cơ
duyên thân cận, nối kết các thành phần
trong xã hội. Người thầy nỗ lực tu tập
và hoằng pháp; người trò tiếp nhận pháp
và hành pháp trong khả năng, điều kiện
có thể, góp sức cùng cộng đồng xây dựng
đời sống hạnh phúc. Suy cho cùng, đây
chính là mối liên hệ hữu cơ giữa hội
chúng xuất gia và tại gia. Nó là cơ sở
làm cho đạo pháp hưng thịnh, nước nhà an
lạc như Phật dạy: “Tại trú xứ này, đệ tử
xuất gia và tại gia sống hòa hợp, hoan
hỷ, tu tập thiện pháp như nước hòa với
sữa thì tại đó có sự an nhiên tự tại,
thoải mái, có sự lợi ích an lạc”(Tăng
Chi I).
Vậy
là việc An cư kiết hạ của chư Tăng, Ni
thực chất là sự an tịnh, tịnh hóa tâm
thức không chỉ dành cho chư Tăng, Ni mà
cho bất cứ ai hướng tâm tu tập. Chư Tăng,
Ni ba tháng ở yên một chỗ, nỗ lực hành
trì giới định tuệ trong tinh thần hòa
hợp, thanh tịnh để thăng chứng đạo
nghiệp, là cơ sở làm cho đạo pháp hưng
thịnh, chúng sinh được an lạc. Phật tử
tại gia nhờ nhân duyên này, mà chính tự
thân của mỗi người có cơ duyên học pháp,
khai mở trí tuệ, làm các việc lành, tạo
sự nối kết yêu thương cho cộng đồng. Đây
chính là giá trị cao nhất mà việc An cư
kiết hạ đem lại. Thiết nghĩ, mọi giá trị
khác của con người nếu có mặt, chúng
cũng xoay quanh giá trị cơ bản này.
Vạn Hạnh, mùa An cư, tháng 6-2009