DUYÊN-SINH (1)
(Tức:
Phật Thuyết Đại-Thừa Đạo-Can Kinh)
-
Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ
Việt
Chính tôi
được nghe: Một thời kia đức
Thế-Tôn ở trong núi Kỳ-Xà-Quật
thuộc thành Vương-Xá, cùng với
một nghìn hai trăm năm mươi vị
Đại Tỳ-Khưu và các vị Đại
Bồ-Tát.
Bấy giờ,
Cụ Thọ(2) Xá-Lỵ-Tử đến chốn
kinh-hành (3) của Đại Bồ-Tát Di-Lặc.
Đến nơi, hai vị cùng hỏi thăm nhau và
cùng ngồi trên bàn đá rộng
lớn. Liền đó, Cụ Thọ:
Xá-Lỵ-Tử hướng vào Đại
Bồ-Tát Di-Lặc nói rằng:
"Bồ-Tát Di-Lặc! Hôm nay đức
Thế-Tôn quán-sát thấy những lúa
nếp nơi đồng nội, Ngài bảo các
vị Tỳ-Khưu: "Các vị Tỳ-Khưu
Nếu ai thấy được Nhân-duyên, tức
là người ấy thấy được
Pháp; nếu ai thấy được Pháp,
tức là người ấy thấy được
Phật". Ngài nói những lời ấy
rồi, Ngài lặng thinh không nói gì
nữa. Bồ-Tát Di-Lặc! Đấng
Thiện-Thệ(4) cớ sao lại nói ra những
lời ấy? Việc ấy thế nào? - Gì
là Nhân-duyên? - Gì là Pháp? -
Gì là Phật? Thế nào là thấy
được Nhân-duyên, tức là thấy
được Pháp? - Thế nào là thấy
được Pháp, tức là thấy
được Phật?
Cụ Thọ
Xá-Lỵ-Tử nói lời ấy rồi,
Đại Bồ-Tát Di-Lặc đáp lại
Cụ Thọ Xá-Lỵ-Tử rằng: "Nay
Phật, Pháp-Vương, Chánh-Biến-Tri(5) bảo
các vị Tỳ-Khưu: "Nếu ai thấy
được Nhân-duyên, tức là
người ấy thấy được Pháp;
nếu ai thấy được Pháp tức là
người ấy thấy được Phật",
vậy trong này thời cái gì là
Nhân-duyên? Nói là Nhân-duyên,
thời: "đây có nên kia có,
đây sinh nên kia sinh". Như: Vô-minh duyên
cho Hành, Hành duyên cho Thức, Thức duyên
cho Danh-sắc, Danh-sắc duyên cho Lục-nhập,
Lục-nhập duyên cho Xúc, Xúc duyên cho
Thụ, Thụ duyên cho Ái, Ái duyên cho
Thủ, Thủ duyên cho Hữu, Hữu duyên cho Sinh,
Sinh duyên cho Lão-tử, sầu, thán, khổ,
ưu, não, sinh-khởi được. Như thế,
là chỉ sinh-khởi sự kết-tụ những
khổ đau lớn-lao, thuần-nhất, cùng cực
vậy.(6)
Cũng trong
này, Vô-minh diệt nên Hành diệt, Hành
diệt nên Thức diệt, Thức diệt nên
Danh-sắc diệt, Danh-sắc diệt nên
Lục-nhập diệt, Lục-nhập diệt nên
Xúc diệt, Xúc diệt nên Thụ diệt,
Thụ diệt nên Ái diệt, Ái diệt
nên Thủ diệt, Thủ diệt nên Hữu
diệt, Hữu diệt nên Sinh diệt, Sinh diệt
nên Lão-tử, sầu, thán, khổ, ưu,
não cũng diệt được. Như thế
là chỉ diệt sự kết-tụ những
khổ đau lớn-lao, thuần-nhất, cùng-cực
là được(7). Đó là đức
Thế-Tôn nói ra pháp Nhân-duyên vậy.
- Gì là
Pháp? - Là tám Thánh-đạo:
chính-kiến (thấy rõ lý
chính-xác), chính-tư-duy (suy-nghĩ
chân-chính), chính-ngữ (nói-năng
chân-chính), chính-nghiệp
(hành-động chân-chính), chính-mệnh
(mưu-sinh chân-chính), chính-tinh-tiến
(cố-gắng trong chân-chính), chính-niệm
(ghi nhớ rõ lẽ chân-chính), và
chính-định (chú-định vào
chính-lý, chính-đạo). Thế là
tám Thánh-đạo-quả và
Niết-Bàn, đức Thế-Tôn nói ra,
gọi đấy là Pháp.(8)
- Gì là
Phật? - Là bậc biết hết thảy pháp,
gọi là Phật. Tuệ-nhãn (con mắt
trí-tuệ), Pháp- thân
(pháp-tính-thân) của bậc kia trông
thấy hết thảy pháp, tạo-tác nhân
Bồ-Đề(9) và đạt tới
địa-vị Học, Vô-học-pháp.)10)
- Thế nào
là thấy được Nhân-duyên? - Như
đức Phật nói: "Nếu ai thấy
được những pháp của nhân-duyên là
thấy được nhân-duyên. Những pháp
ấy là: thường (thường còn không
sinh-diệt), vô thọ (không còn có
hình-sắc, thọ-mệnh liên-tục), ly thọ
(xa lìa cả lời nói về thọ-mệnh
vắn hay dài), như-thực-tính (tính
thuộc chân-không, như thực),
vô-thác-mậu-tính (tính chân-không,
như thực, phổ-biến không chút sai-lầm
thiên-lệch), vô-sinh (tính như thực
nên không còn sinh-diệt), vô khởi
(không phát-khởi), vô tác (không
tạo-tác), vô vi (không tác-vi),
vô-chướng-ngại (không còn bị
ngăn-cản), vô-cảnh-giới (không còn
chia ranh giới), tịch-tĩnh (thường hằng
vắng-lặng), vô úy (không có
sợ-hãi), vô xâm-đoạt (không bị
xâm đoạt) và bất
tịch-tĩnh-tướng (không còn có
cả hình tướng của tịch-tĩnh
vắng-lặng).(11)
Nếu ai
thấy được pháp của nhân-duyên
như thế rồi, đối với Pháp ấy
cũng phải thấy là: thường, vô
thọ, ly thọ, như-thực-tính, vô
thác-mậu-tính, vô sinh, vô khởi, vô
tác, vô vi, vô chướng-ngại, vô
cảnh-giới, tịch-tĩnh, vô úy, vô
xâm-đoạt, bất tịch-tĩnh-tướng(12).
Được Chính-trí ngộ được
Thắng-pháp, dùng Vô-thượng
Pháp-thân mà thấy Phật.(13)
Hỏi: Tại
sao gọi là Nhân-Duyên?
Đáp:
Có Nhân, có Duyên gọi là
Nhân-duyên, không phải là không có
nhân, không có duyên, nên gọi là
nhân-duyên-pháp. Đức Thế-Tôn
nói qua về hành-tướng của
nhân-duyên rằng: Do duyên kia sinh ra quả,
nên dù Như-Lai xuất-hiện ra đời hay
không xuất-hiện ra đời đi nữa,
tính của mọi pháp (sự-vật) vẫn
thường-trụ. Cho đến pháp-tính
(nhân-duyên-tính), pháp-trụ-tính
(tính trong pháp của nhân-duyên vẫn
thường-trụ), pháp-định-tính
(tính của mọi pháp quyết-định như
thế), dữ nhân-duyên
tương-ứng-tính (tính cùng
nhân-duyên ứng-hợp nhau), chân như
tính (tính của mọi pháp là như
thực), vô-thác-mậu-tính (tính
chân-như phổ-biến không sai-lầm,
thiên-lệch), vô biến dị-tính (tính
chân-như không thay đổi sai khác),
chân-thực-tính (tính chân-thực),
thực-tế-tính (tính thực-tế), bất
hư-vọng-tính (tính không giả-dối),
bất điên-đảo-tính (tính không
xáo-lộn) v.v... Đó là đức
Thế-Tôn nói những lời nói như
thế.(14)
Nhân-duyên-pháp
này, vì hai thứ mà nó sinh-khởi
được. Hai thứ ấy là gì? - Là:
Nhân-tương-ứng và Duyên-tương-ứng.
Nhân-duyên kia lại có hai thứ:
ngoại-nhân-duyên và nội-
nhân-duyên.(15)
Trong này
gì là ngoại-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng? - Từ hạt giống sinh ra
mầm, từ mầm sinh ra lá, từ lá sinh ra
thân cây, từ thân cây sinh ra đốt,
từ đốt sinh ra nụ, từ nụ sinh ra hoa,
từ hoa sinh ra trái; nếu không có hạt
giống, mầm tức không sinh, cho đến nếu
không có hoa, trái cũng không sinh
được. Có hạt giống, mầm mới sinh
được, như thế thời có hoa, trái
cũng mới sinh được.(16)
Song, hạt
giống kia cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta sinh ra mầm". Mầm cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta từ hạt giống sinh ra". Cho
đến hoa cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta sinh ra trái". Trái cũng không
khởi ra ý-niệm: "ta từ hoa sinh ra".(17)
Tuy thế,
vì có hạt giống mà mầm
được sinh ra và cũng như thế, vì
có hoa mà trái liền được
thành tựu.
Nên
quán-sát cái nghĩa "ngoại
nhân-duyên-pháp, nhân-tương-ứng"
như thế!
- Nên
quán-sát ngoại-nhân-duyên-pháp,
duyên-tương-ứng như thế nào? -
Cần sáu giới (giới-phận) hòa-hợp. -
Gì là sáu giới hòa-hợp? - Là:
địa-giới (đất), thủy-giới
(nước), hỏa-giới (lửa), phong-giới
(gió), không-giới (không-gian) và thời
(thời-gian). Những giới-phận ấy
hòa-hợp với nhau, thời
ngoại-nhân-duyên-pháp sinh khởi
được.
Nên
quán-sát cái nghĩa
"ngoại-nhân-duyên-pháp,
duyên-tướng-ứng" như thế!(18)
Nói về
Địa-giới là thứ thường giữ
gìn cho hạt giống; Thủy-giới là thứ
thường nhuần-thấm cho hạt giống;
Hỏa-giới là thứ thường giúp hơi
ấm cho hạt giống; Phong-giới là thứ
thường giúp sự dao-động cho hạt
giống; Không-giới là thứ không làm
chướng-ngại cho hạt giống; Thời, thời
có thể làm cho hạt giống biến
đổi. Nếu không có những duyên
ấy, hạt giống không thể nào sinh ra
mầm được.
Nếu
ngoài, địa-giới hoàn-toàn
đầy-đủ, cho đến thủy, hỏa, phong,
không, thời-giới... cũng hoàn-toàn
đầy-đủ như thế, lại hết thảy
hòa-hợp, thời khi hạt giống diệt
rồi, mầm sinh ra được.(19)
Và, trong
này địa-giới cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta thường giữ-gìn hạt
giống". Cùng như thế, thủy-giới
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta
thường nhuần-thấm cho hạt giống";
hỏa-giới cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta thường giúp hơi ấm cho hạt
giống"; phong-giới cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta thường giúp sự dao-động cho
hạt giống"; không-giới cũng không
khởi ra ý-niệm: "ta thường không
làm chướng-ngại cho hạt giống"; thời
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta
thường làm cho hạt giống
biến-đổi". Hạt giống cũng không
khởi ra ý-niệm: "ta thường sinh ra
mầm"; mầm cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta nay từ những duyên ấy
mà sinh ra".(20)
Tuy thế,
có những duyên ấy, khi hạt giống
diệt rồi, mầm liền sinh ra được.
Và, cũng như thế, khi có hoa, trái
liền sinh ra được. Thế là, mầm kia
cũng không phải tự mình tạo-tác,
cũng không phải là cái khác
tạo-tác, không phải tự nó (mầm)
cùng cái khác tạo-tác, không phải
là tự-tại tạo-tác, cũng không
phải là thời biến-đổi, không
phải là tự-tính sinh ra, cũng không
phải là không có nhân mà sinh ra
được. Dù vậy, địa, thủy,
hỏa, phong, không, thời-giới... hòa-hợp,
khi hạt giống diệt rồi, mầm được
sinh ra.(21)
Nên
quán-sát cái nghĩa
"ngoại-nhân-duyên-pháp,
duyên-tương-ứng" như thế!
Nên đem
năm thứ quán-pháp, quán
ngoại-nhân-duyên-pháp kia. Năm thứ ấy
là gì? - Là: không thường còn
(bất thường), không dứt đoạn (bất
đoạn), không chuyển dời (bất di), từ
nhân nhỏ sinh quả lớn và cùng
tương-tự với nhân cũ kia.
Thế nào
là không thường còn? - Vì, mầm
cùng hạt giống, hai đàng đều
khác biệt nhau; mầm kia không phải là
hạt giống; không phải khi hạt giống
hoại rồi, mầm mới sinh ra, cũng không
phải là hạt giống không diệt, mà
mầm sinh-khởi được; khi hạt giống
hoại đi, mầm sinh ra được, nên là
"không thường còn".
Thế nào
là không dứt đoạn? - Không phải
là hạt giống của quá-khứ hoại
đi, mà sinh ra mầm, cùng không phải
là hạt giống không diệt, mầm
sinh-khởi được, hạt giống cũng
hoại, đương trong khi ấy, nó chỉ
như cán cân cao, thấp một chút, mà
mầm sinh ra được, nên là "không
dứt đoạn".
Thế nào
là không chuyển dời? - Vì, mầm và
hạt giống khác nhau, mầm không phải là
hạt giống, nên là "không chuyển
dời".
Thế nào
là nhân nhỏ sinh quả lớn? - Từ hạt
giống nhỏ, sinh ra quả lớn, nên gọi
là "Từ nhân nhỏ, sinh ra quả
lớn".
Thế nào
là cùng tương-tự với nhân cũ
kia? - Vì, như hạt giống khi mới trồng,
sinh ra quả kia, nên gọi là "cùng
tương-tự với nhân cũ kia".
Thế là
đem năm thứ quán-pháp, quán
ngoại-nhân-duyên-pháp!(22)
- Cũng như
thế, nội-nhân-duyên-pháp cũng do hai
thứ mà được sinh-khởi. Hai thứ
ấy là gì? - Là: nhân-tương-ứng
và duyên-tương-ứng.
- Thế nào
mà có nghĩa gọi là
nội-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng? - Nghĩa là, trước
từ vô-minh duyên cho hành, cho đến sinh
duyên cho lão-tử. Nếu vô-minh không sinh,
hành cũng không có, cho đến nếu
không có sinh, lão-tử cũng không
có. Như thế, có vô-minh nên hành mới
sinh ra được, cho đến có sinh nên
lão-tử mới có được.(23)
Song, vô-minh
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta sinh ra
hành"; hành cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta từ nơi vô-minh mà sinh
ra"; cho đến sinh cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta sinh ra lão-tử";
lão-tử cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta từ nơi sinh mà có".(24)
Tuy thế,
vì có vô-minh, hành mới sinh
được; cũng như thế, vì có sinh,
lão-tử mới có được.(25)
Vì vậy,
nên quán-sát nghĩa
"nội-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng" như thế!
- Nên
quán-sát sự của
nội-nhân-duyên-pháp, duyên-tương-ứng
thế nào? - Cần sáu giới hòa-hợp.
Sáu giới hòa-hợp là gì? - Là:
địa-giới, thủy-giới, hỏa-giới,
phong-giới, không-giới và thức-giới
hòa-hợp.
Nên
quán-sát sự của
"nội-nhân-duyên-pháp,
duyên-tương-ứng" như thế!(26)
- Gì là
hành-tướng của sáu giới, trong nội-nhân-duyên-pháp?
- Thứ làm cho trong thân này bền-chắc,
gọi là "địa-giới"; thứ làm
cho thân này tụ-tập lại, gọi là
"thủy-giới"; thứ làm tiêu hóa
những thức ăn, uống trong thân này,
gọi là "hỏa-giới"; thứ làm cho
hơi thở ra, vào trong, ngoài trong thân
này, gọi là "phong-giới"; chứ
làm cho thân này rỗng thông, gọi
là "không-giới" năm thức của
thân tương-ứng (hợp nhau) cùng
hữu-lậu ý-thức, cũng như bó cây
lau, thành-tựu được cái mầm
danh-sắc (tâm, thân) của thân này, gọi
là "Thức-giới"(27). Nếu không
có những duyên ấy, thời không sinh ra
thân được. Nếu nội-địa-giới
hoàn-toàn đầy đủ, và cùng
như thế, cho đến thủy, hỏa, phong,
không, thức-giới cũng hoàn-toàn
đầy đủ, lại hết thảy
hòa-hợp với nhau, thời thân liền sinh ra
được.(28)
Song,
địa-giới kia cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta thường làm những sự
bền chắc trong thân"; thủy-giới cũng
không khởi ra ý-niệm: "ta thường
vì thân làm những sự tụ-tập";
hỏa-giới cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta thường làm tiêu-hóa những
thức ăn, uống trong thân"; phong-giới
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta
thường làm cho hơi thở ra, vào trong,
ngoài thân"; không-giới cũng không
khởi ra ý-niệm: "ta thường làm
những sự rỗng thông trong thân";
thức-giới cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta thường làm thành-tựu cái
mầm danh-sắc của thân này; thân cũng
không khởi ra ý-niệm: "ta từ nơi
mọi duyên này mà sinh ra". Tuy thế,
có thời của các duyên này, thân
liền sinh ra được. Nhưng, địa-giới
kia cũng không phải là Ta, không phải
là chúng sanh, không phải là
mệnh-giả, không phải là sinh-giả,
không phải là Nho-đồng, không phải
là tác-giả, không phải là con trai,
không phải là con gái, không phải
giống Hoàng-môn, không phải tự-tại,
không phải ngã-sở, cũng không phải
là những thứ gì khác. Cho đến,
thủy-giới, hỏa-giới, phong-giới, không-giới,
thức-giới cũng không phải là Ta,
không phải là chúng-sanh, không phải
là mệnh-giả, không phải là
sinh-giả, không phải là Nho-đồng,
không phải là tác-giả, không phải
là con trai, không phải là con gái,
không phải là giống Hoàng-môn,
không phải tự-tại, không phải
ngã-sở, cũng không phải là những
thứ gì khác như thế.(29)
- Gì là
Vô-minh? - Đối với sáu giới này
khởi ra nhất-tưởng (tưởng là
nhất thể), nhất-hợp-tưởng (tưởng
là thực-thể do các pháp
hợp-thành), thường-tưởng (tưởng
là thường còn vĩnh-viễn),
kiên-lao-tưởng (tưởng là bền chắc),
bất-hoại-tưởng (tưởng là không
hoại-diệt), an-lạc-tưởng (tưởng
là được an-vui) tưởng là
chúng-sinh, mệnh, sinh-giả, dưỡng-dục,
sĩ-phu, nhân (người), Nho-đồng,
tác-giả, ngã, ngã sở v.v...(30) cùng
nhiều thứ vô tri (không biết) khác,
thế là "vô-minh".
Có
vô-minh, đối với các cảnh-giới
khởi ra: tham, sân, si; cái đối với
cái cảnh-giới khởi ra: tham, sân, si ấy,
ấy là vô-minh duyên cho hành; cái
mà đối với mọi sự thường
phân-biệt rõ-ràng, gọi là
"thức"; cùng với thức đồng sinh
bốn uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành),
gọi là danh-sắc; y vào các căn của
danh-sắc, gọi là lục-nhập; ba pháp
hòa-hợp (căn, trần, thức) gọi là
xúc; biết cảm-thụ sự xúc-chạm
ấy, gọi là thụ; tham-đắm vào
sự cảm-thụ ấy, gọi là ái;
tăng-trưởng sự tham-ái ấy, gọi
là thủ; từ chỗ chấp-thủ ấy sinh ra
"năng-sinh-nghiệp" (chủ-động trong
hành-động sinh danh-sắc khác), gọi
là hữu; mà từ nhân kia (nghiệp) sinh ra
năm uẩn (danh-sắc), gọi là sinh; sinh ra
rồi năm uẩn thành-thục, gọi là
lão (già); lão rồi năm uẩn
diệt-hoại, gọi là tử (chết); trong khi
sắp mất, nội-tâm đủ cả
tham-đắm và nhiệt-não, gọi là
sầu (buồn rầu); từ chỗ sầu bi ấy,
sinh ra những lời nói, gọi là thán
(than-thở); thân của năm thức chịu
khổ, gọi là khổ; tác-ý (khởi ra
ý-tưởng); ý-thức chịu mọi sự
khổ, gọi là ưu (lo); đủ những
thứ trên như thế cùng những
phiền-não tùy-thuộc, gọi là
não.(31)
Đen tối
nhiều nên gọi là vô-minh; tạo-tác,
nên gọi là chư hành (mọi
hành-động); phân-biệt rõ ràng,
nên gọi là thức; nương-dựa nhau,
nên gọi là danh-sắc; làm cửa
sinh-khởi, nên gọi là lục-nhập;
xúc-chạm nên gọi là xúc;
cảm-thụ nên gọi là thụ; khát-khao
nên gọi là ái; chấp lấy, nên
gọi là thủ; sinh-khởi sự có thân
sau này (hậu-hữu thân) nên gọi là
hữu; sinh ra năm uẩn nên gọi là sinh;
năm uẩn thành-thục nên gọi là
lão; năm uẩn diệt-hoại, nên gọi
là tử; buồn-rầu nên gọi là
sầu; than-thở nên gọi là thán; não
thân gọi là khổ; não tâm gọi
là ưu; phiền-não nên gọi là
não.(32)
Hơn nữa,
không rõ chân-tính, điên-đảo
không biết, gọi là "vô-minh".
Vì có "vô-minh" như thế, thành
ra ba thứ hành (hành-động):
phúc-hành (làm phúc), tội-hành
(làm tội) và bất-động-hành
(làm trong sự không dao-động)(33). Từ
nơi phúc-hành (làm phúc) sinh ra
phúc-hành-thức (nghiệp-thức trong việc
làm phúc), ấy là vô-minh duyên cho
hành; từ nơi tội-hành (làm tội),
sinh ra tội-hành-thức (nghiệp-thức trong
việc làm tội), ấy thời gọi là
hành duyên cho thức; từ nơi
bất-động-hành (làm trong sự không
dao-động), sinh ra bất-động-hành-thức
(nghiệp-thức trong việc làm không
dao-động), ấy thời gọi là thức
duyên cho danh-sắc. Vì sắc tăng-trưởng,
từ trong cửa lục-nhập thành sự việc,
ấy là danh-sắc duyên cho lục-nhập.
Từ lục-nhập mà sinh ra sáu thứ
tụ-tập, xúc-chạm, ấy là
lục-nhập duyên cho xúc. Từ nơi
xúc-chạm mà sinh ra cái kia, cái kia
cảm-thụ nhau, ấy thời gọi là xúc
duyên cho thụ. Phân-biệt rõ-ràng sự
cảm-thụ rồi, mà sinh ra nhiễm-ái,
đam-chước, ấy thời gọi là thụ
duyên cho ái. Biết rồi mà sinh
nhiễm-ái, đam-chước, không muốn
xa-lìa sắc đẹp và ở nơi yên vui
mà sinh ra ý-nguyện hoan-lạc, ấy là
ái duyên cho thủ. Sinh ra ý-nguyện hoan-lạc
rồi, từ nơi thân, miệng, ý tạo ra
hậu-hữu-nghiệp (nghiệp của sự có
thân sau này), ấy là thủ duyên cho
hữu. Từ nghiệp của hữu kia sẽ sinh ra năm
uẩn, ấy là hữu duyên cho sinh. Sinh rồi,
năm uẩn kia thành-thục và diệt-hoại,
ấy thời gọi là sinh duyên cho
lão-tử.(34)
Thế nên
mười hai chi pháp nhân-duyên kia, làm
nhân lẫn nhau, làm duyên lẫn nhau, không
phải thường, không phải
vô-thường, không phải hữu-vi (có
sự tạo-tác), không phải vô-vi (không
có sự tác-vi), không phải là không
có nhân, không phải là không có
duyên, không phải cảm-thụ
"hữu-nghiệp", không phải là
pháp (nhân-duyên) hết, không phải
là pháp hoại, không phải là pháp
diệt; từ vô-thỉ đến nay, nó vẫn
như dòng nước chảy dốc, không
có đoạn-tuyệt.(35)
Tuy thế,
mười hai chi pháp nhân-duyên ấy, làm
nhân lẫn nhau, làm duyên lẫn nhau, không
phải thường, không phải
vô-thường, không phải hữu-vi, không
phải vô-vi, không phải là không có
nhân, không phải là không có duyên,
không phải cảm-thụ "hữu-nghiệp",
không phải là pháp hết, không phải
là pháp hoại, không phải là pháp
diệt; từ vô-thỉ đến nay, nó vẫn
như dòng nước chảy dốc, không
có đoạn-tuyệt và nó có bốn
chi thường nhiếp-thủ mười hai
nhân-duyên-pháp. Bốn chi ấy là gì?
- Là: vô-minh, ái, nghiệp, thức.
"Thức",
lấy chủng-tử-tính làm nhân.
"Nghiệp" lấy điền-tính(36) làm
nhân. "Vô minh" và "ái" lấy
phiền-não-tính làm nhân. Trong này,
"nghiệp" và "phiền-não", sinh ra
"thức" của chủng- tử (hạt giống).
"Nghiệp" thời làm mảnh ruộng cho
"thức" của chủng-tử, "ái"
thời nhuần-thấm cho "thức" của
chủng-tử, "vô-minh" thời sinh nở cho
"thức" của chủng-tử. Nếu không
có những duyên ấy, "thức" của
chủng-tử không thể thành
được.(37)
Song, nghiệp kia
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta nay
làm mảnh ruộng cho "thức" của
chủng-tử; ái cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta nay làm nhuần-thấm cho
"thức" của chủng-tử"; vô-minh
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta nay
làm sinh-nở cho "thức" của
chủng-tử"; "thức" của
chủng-tử kia cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta nay từ mọi duyên ấy sinh
ra".(38)
Tuy thế,
"thức" của chủng-tử, y vào nơi
ruộng nghiệp và ái kia nhuần-thấm,
phẩn vô-minh sinh nở, vào trong thai mẹ sinh ra
mầm danh-sắc(39). Mầm danh-sắc kia cũng
không phải tự-tác (mình làm ra),
cũng không phải tha-tác (cái khác
làm ra), không phải mình và cái
khác đều làm ra, không phải
tự-tại hóa ra, cũng không phải thời
biến; không phải tự-tính sinh, không
phải là tác-giả tạm bợ
(dả-tác-giả), cũng không phải là
không có nhân mà sinh.(40)
Tuy thế, khi
phụ mẫu hòa-hợp cùng khi các duyên
khác hòa-hợp, pháp (nhân-duyên):
vô-ngã (không có cái TA), vô-ngã,
ngã-sở (không có cái TA, cái của
TA), cũng như hư-không. Các huyễn-pháp
kia, nhân và các duyên hoàn-toàn
đầy đủ, y nơi sinh của nhân-duyên
kia, vào trong thai mẹ, thời thành-tựu
được cái "thức", giữ lấy
thai mẹ, là cái mầm danh-sắc.(41)
Như khi sinh ra
nhãn-thức, nếu đủ năm duyên thời
sinh ra được. Năm duyên ấy là
gì? - Là: y vào mắt (nhãn),
hình-sắc (sắc), ánh-sáng (minh),
không-gian (không) và y vào tác-ý
(khởi ra ý-tưởng), nên nhãn-thức
sinh ra được. Trong này, mắt thời làm
nơi nương-tựa cho nhãn-thức,
hình-sắc thời làm cảnh cho
nhãn-thức, ánh-sáng thời làm việc
hiển-hiện, không-gian thời làm việc
không ngăn che, tác-ý thời làm việc
tư-tưởng. Nếu không có các
duyên ấy, nhãn-thức không sinh
được. Nếu khi bên trong sự
tiếp-nhập của mắt, hoàn-toàn
đầy-đủ, cho đến hình-sắc,
ánh-sáng, không-gian, tác-ý, cũng
hoàn-toàn đầy đủ như thế,
hết thảy hòa hợp, nhãn-thức sinh ra
được.(42)
Song, mắt kia
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta nay là
chỗ nương-tựa của nhãn-thức",
hình-sắc cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta nay làm cảnh cho nhãn-thức"; ánh-sáng
cũng không khởi ra ý-niệm: "ta nay
làm việc hiển-hiện cho nhãn-thức";
không-gian cũng không khởi ra ý-niệm:
"ta nay làm việc không ngăn-che cho
nhãn-thức"; tác-ý cũng không
khởi ra ý-niệm: "ta nay làm chỗ
tư-tưởng cho nhãn-thức";
nhãn-thức kia cũng không khởi ra
ý-niệm: "ta là từ các duyên
ấy mà có". Tuy thế, có các
duyên ấy nhãn-thức mới sinh ra
được; cho đến các căn khác,
tùy từng loại của nó sẽ biết
được nó.(43)
Như thế,
không có chút pháp (nhân, duyên)
nào từ đời này di-chuyển đến
đời khác; dù vậy, nhân và
các duyên, được hoàn-toàn
đầy-đủ, thời nghiệp-quả
(kết-quả của nghiệp-thức) cũng
hiện.(44)
Ví như
trong tấm gương sáng hiện ra
diện-tượng, tuy diện-tượng kia không
dời gương, nhân và các duyên,
được hoàn-toàn đầy đủ,
nên diện-tượng cũng hiện. Như thế,
không có chút ít vật gì từ
nơi này diệt, sinh sang nơi khác, nhân
và các duyên hoàn-toàn
đầy-đủ, nên nghiệp-quả cũng
hiện(45).
Ví như
vầng trăng, vận-hành trên đây
chừng bốn vạn hai nghìn do-tuần, thế
mà hình tượng vầng trăng kia hiện
trong cái bát nhỏ có nước, vậy
vầng trăng kia cũng không phải từ nơi
kia di-chuyển đến cái bát có
nước này. Tuy thế, nhân và các
duyên hoàn-toàn đầy-đủ, nên
vầng trăng cũng hiện. Như thế, không
có chút ít vật gì từ nơi
này diệt, sinh sang nơi khác, mà nhân
và các duyên hoàn-toàn đầy
đủ, nên nghiệp-quả cũng hiện.(46)
Ví như
lửa, nhân và các duyên nếu không
đầy đủ, thời không cháy
được, khi nhân và các duyên
đầy đủ, mới có thể cháy
được. Như thế, pháp vô-ngã,
vô ngã ngã sở cũng như hư-không;
y vào huyễn-pháp kia nhân và các
duyên hoàn-toàn đầy-đủ, y nơi
sở sinh, vào trong thai mẹ, thời
thành-tựu được cái thức của
chủng-tử, nghiệp và phiền-não sinh ra
mầm danh-sắc.(47)
Vậy nên,
cần quán-sát về sự:
nội-nhân-duyên-pháp,
duyên-tương-ứng" như thế!
Nên đem
năm thứ quán-pháp, quán-sát
nội-nhân-duyên-pháp. Năm thứ ấy
là gì? - Là: không thường còn
(bất thường), không dứt đoạn (bất
đoạn), không chuyển dời (bất di), từ
nhân nhỏ sinh quả lớn và cùng
tương-tự với nhân cũ kia.
Thế nào
là không thường còn? Nghĩa là
năm uẩn tối-hậu của báo-thân kia
diệt đi, cùng với năm uẩn đang
chịu phần sinh ra kia, hai đàng đều
khác nhau, vì năm uẩn tối-hậu diệt
đi, không phải là năm uẩn đang
chịu phần sinh ra; báo-thân tối-hậu kia
diệt, năm uẩn cũng diệt, năm uẩn
đang chịu phần sinh ra cũng hiện ra
được nên gọi là "không
thường còn".(48)
Thế nào
là không dứt đọan? - Không phải y
vào khi diệt hoại của năm uẩn
tối-hậu diệt, mà năm uẩn đang
chịu phần sinh ra, có được; và
cũng không phải là không diệt,
báo-thân tối-hậu kia diệt, năm uẩn
cũng diệt, đương trong khi ấy, năm
uẩn đang chịu phần sinh ra, nó chỉ như
cán cân, cao, thấp một chút, mà sinh ra
được, nên gọi là "không dứt
đoạn.(49)
Thế nào
là không chuyển dời? - Vì, các
loài hữu-tình, từ nơi không phải
là "chúng-đồng-phận", sinh ra nơi
"chúng-đồng-phận", nên gọi
là "không chuyển dời".(50)
Thế nào
là từ nhân nhỏ, sinh quả lớn? - Làm
nghiệp nhỏ, cảm quả dị-thục(51) lớn,
nên từ nhân nhỏ mà sinh quả lớn.
- Như làm
nhân kia, cảm được quả kia, cùng
tương-tự với nhân kia, nên gọi
là "tương-tự".
Bởi thế,
nên đem năm thứ quán-pháp,
quán-nhân-duyên-pháp!
Tôn-giả
Xá-Lỵ-Tử! Nếu có người dùng
chính trí, quán-sát những pháp
của nhân-duyên, mà đức Như-Lai
nói ra, như vô thọ, ly thọ,
như-thực-tính, vô-thác-mậu-tính,
vô-sinh, vô khởi, vô tác, vô vi, vô
chướng ngại, vô cảnh-giới,
tịch-tĩnh, vô úy, vô xâm-đọat,
vô tận, bất-tịch-tĩnh-tướng(52),
bất-hữu (không có sự chân-thực),
hư (dả-dối), cuồng (lừa gạt không
thực), vô kiên-thực (không bền,
thực), như bệnh (như người đau), như
ung (như người có nhọt), như tiễn
(như bị tên bắn), quá thất
(lỗi-lầm), vô thường (không
thường còn), khổ, không, vô ngã
(không có TA), vậy: ta trong đời
quá-khứ có sinh hay là không sinh, mà
không phân-biệt được bờ cõi
của thuở quá-khứ? Trong đời vị-lai
sinh ở chốn nào, mà cũng không
phân-biệt được bờ cõi của
thuở vị-lai? Đây (hiện-tại) là
gì? Đây lại là thế nào, mà
làm ra vật gì? Các loài hữu-tình
này từ đâu lại? Từ đây
diệt đi sẽ sinh vào chốn nào? Mà
cũng không phân-biệt được cái
"có" của hiện-tại.)53)
Lại diệt
những tà-kiến (tư-tưởng
lệch-lạc) bất đồng của hàng
Sa-môn, Bà-la-môn(54) ở thế-gian, là
ngã-kiến, chúng-sinh-kiến,
thọ-giả-kiến, nhân-kiến, hy-hữu-kiến,
cát-tường-kiến, khai-hợp-kiến. Biết
được rành-rẽ, như cây Đa-la,
đoạn trừ sạch mọi căn rồi, trong
đời mai sau, chứng được pháp vô
sinh, vô diệt.(55)
Tôn-giả
Xá-Lỵ-Tử! Nếu có người
đầy đủ được "vô sinh
pháp-nhẫn"(56) như thế, là người
phân-biệt rõ ràng được
nhân-duyên-pháp ấy, Như-Lai,
Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri,
Minh-Hành-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải,
Vô-Thượng-Sĩ,
Điều-Ngự-Trượng-Phu, Thiên- Nhân-Sư,
Phật, Thế-Tôn(57), liền thụ-ký cho
đạo-quả Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác.
Bấy giờ,
Đại Bồ-Tát Di-Lặc nói lời ấy
rồi, Cụ Thọ Xá-Lỵ-Tử cùng hết
thảy những người trong thế-gian, Thiên, Nhân,
A-Tu-La, Càn-Thát-Bà v.v..., nghe Đại
Bồ-Tát Di-Lặc nói pháp ấy,
đều tín-thụ phụng-hành.
Chú
thích:
(1) Xét trong Đại-Tạng Kinh, thời kinh
này cùng một tỷ-dụ, cùng một
chân-nghĩa mà có 5 bản dịch khác
nhau: 1) Liễu bản sinh-tử kinh: số 708, do
Cư-Sĩ Chi-Khiêm dịch. 2) Phật thuyết
Đạo-Can kinh: số 709, mất tên người
dịch, phụ vào Đông-Tấn-Lục. 3)
Từ-Thị Bồ-Tát sở thuyết
Đại-thừa Duyên-sinh Đạo-can dụ kinh:
số 710, do Sa-Môn Bất-Không dịch. 4)
Đại-thừa Xá-Lê-Sa-Đảm-Ma kinh:
số 711, do Pháp-Sư: Thí-Hộ dịch. 5)
Phật thuyết Đại-thừa Đạo-can kinh:
số 712, mất tên người dịch. Kinh này
thuyết-minh lý nhân-duyên-sinh trong 12
nhân-duyên. Để cho các hàng
Phật-tử trông đề-mục kinh, đã
biết được nội-dung của kinh bằng
cách dễ-dàng, nên tạm mượn hai
chữ "duyên-sinh", trong bản dịch thứ 3
(ghi trên) làm đề-kinh, còn toàn kinh
dịch đúng bản "Phật thuyết
Đại-thừa Đạo-can kinh". (Lời
Dịch-giả).
- Đạo-Can kinh: tiếng Phạm (Ấn-độ)
gọi là Xá-Lê-Sa-Đảm-Ma kinh
(Salistambasutra). Đạo-Can nghĩa là lúa
nếp. Đức Phật nhân trông thấy
cánh đồng lúa nếp Ngài nói ra
lý nhân-duyên-sinh này.
(2) Cụ Thọ: Tiếng gọi thông
thường, chỉ cho những vị có
đầy-đủ thọ-mệnh thế-gian và
pháp-thân thọ-mệnh.
(3) Kinh-hành: Nơi đặc-biệt để sau
khi ngồi Thiền, đi đi, lại lại nuôi
dưỡng thân-thể và trừ khỏi
bệnh-hoạn. Hoặc là nơi để đi
đi, lại lại sau bữa ăn cho tiêu cơm.
(4) Thiện-Thệ: Tiếng Phạm gọi là
Tu-già-đà (Sugata) có nghĩa là đi
trong đường chính, đạt tới nơi
tốt đẹp. Đấng Giác-ngộ dùng
Nhất-thiết-trí làm xe, đi trên
đường bát chính, rảo tới nơi
Niết-bàn, nên gọi là Thiện-Thệ.
(5) Phật, Pháp-Vương, Chính-Biến-Tri:
Phật (Buddha): Là bậc giác-ngộ hoàn
toàn. Pháp-Vương: Phật đối với
pháp (sự, vật) tự-tại, nên gọi
là Pháp-Vương. Chính-Biến-Tri: Tiếng
Phạm gọi là Tam-miệu tam Phật-Đà
(Samya Ksambuddha) nghĩa là chính thực biết
khắp hết thảy mọi pháp, nên gọi
là "Chính-Biến-Tri".
(6) Trên đây Bồ-Tát Di-Lặc
đáp câu hỏi của Cụ Thọ
Xá-Lỵ-Tử về hai chữ Nhân-duyên.
Nhân là nguyên-nhân, duyên là những
cái giúp-đỡ (hoàn-cảnh) cho
nguyên-nhân phát-sinh và đạt tới
kết-quả: "Đây có nên kia có, đây
sinh nên kia sinh", đó là nghĩa của
nhân-duyên-sinh vậy. Chúng-sinh hay sự,
vật có ra hình-sắc đều do sự
tạo-tác tiếp nối của 12 nhân-duyên:
1) Vô-minh: Tức là si-mê, một trong 6
phiền-não căn-bản và có nghĩa
là không hiểu rõ sự, lý của
sự-vật luôn luôn vọng-chấp theo
vọng-niệm phân-biệt. 2) Hành:
Hành-động. Là chủ-động
dẫn-dắt hành-nghiệp sinh-tử
nghiệp-báo. Nghĩa là vì vô-minh nên
phát-khởi ra những hành-động sai
lầm. 3) Thức: Nghiệp-thức phân-biệt. Do
sự si-mê và hành-động trên kết
thành nghiệp-thức phân-biệt sai lầm.
Vì phân-biệt nên chấp có Mình
có Người có Năng (chủ-quan), có
Sở (khách-quan) nên thành động-lực
sinh-tử luân-chuyển. 4) Danh-sắc: Là
tổng-báo-thân của sự vật. "Danh"
là tên gọi của tâm hay là tinh-thần
linh-hoạt: "Sắc" tức là
hình-sắc do tứ đại (đất,
nước, gió, lửa) hòa hợp tạo
thành. Đã có nghiệp-thức tất
nhiên phải có sự kết thành
hình-sắc, trong đó có sự linh hoạt
để bảo vệ, sai sử hình-sắc ấy.
5) Lục Nhập: Có Danh-Sắc rồi dĩ nhiên
là có 6 căn (6 quan-năng): mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý tiếp-nhập với 6
trần (cảnh vật): sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, nên gọi là "lục
nhập". 6) Xúc: Có sự tiếp nhập
rồi, hai đàng phải có sự xúc
chạm với nhau, nên gọi là
"xúc". 7) Thụ: Đã có sự
xúc chạm là có sự cảm-thụ,
lĩnh-thụ, nên gọi là "thụ". 8)
Ái: Đã có sự cảm-thụ,
lĩnh-thụ sẽ sinh ra yêu mến, nên gọi
là "ái". 9) Thủ: Đã yêu
mến nên cố tâm gìn giữ lấy,
nên gọi là "thủ". 10) Hữu: Vì
sự cố thủ ấy mà lại sẽ thành
ra có cái thân hình lưu chuyển của
sau này, nên gọi là "hữu". 11) Sinh:
Đã có sự kết tinh của thân
hình mai sau, đương nhiên sẽ sinh ra,
nên gọi là "sinh". 12) Lão-Tử:
Đã có thân hình sinh ra, theo sự
biến-chuyển lại sẽ già (tàn lụi) và
chết. Nhưng, trong khi ấy chịu đựng bao
nỗi: buồn rầu, than thở, khổ đau, lo
lắng, áo não, nên gọi là
"lão-tử sầu, thán, khổ, ưu,
não". Tóm lại, do 12 nhân-duyên này
hỗ-tương tiếp nối, chỉ là
phát-sinh ra sự kết-tụ khổ đau cùng
cực vậy (cuối kinh có giải rộng).
(7) Trước đây đã nói về
sự sinh khởi của nhân-duyên, nay đây
nói về sự đoạn diệt nhân-duyên.
Biết rằng có ra lão-tử là do duyên
nơi: sinh, hữu, thủ, ái, thụ, xúc,
lục-nhập, danh-sắc, thức, hành, vô-minh
liên lạc, tiếp nối nhau sinh khởi, nay muốn
đoạn diệt cần đoạn diệt vô-minh,
thời các duyên kia đều diệt. Hết
thảy đều diệt, thời sinh-tử,
phiền-não diệt hẳn, nỗi khổ đau
lớn lao, thuần nhất, cùng cực kia, biến
thành cực-lạc thanh-tịnh.
(8) Tu tám Thánh-đạo tới chỗ cứu
cánh là sẽ chứng được 4 quả
của Thanh-Văn: Tu-Đà-Hoàn,
Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm, A-La-Hán, và
y vào quả-trí ấy, giải-thoát
được sinh-tử, nên gọi là
Thánh-đạo-quả và Niết-bàn. Và,
đức Phật nói ra những pháp ấy,
đó là Phật pháp.
(9) Nhân Bồ-Đề: Tức là
nguyên-nhân để giác-ngộ, như
thực-hành 8 Thánh-đạo, đoạn 12
nhân-duyên v.v...
(10) Học, Vô-Học: Người đạt
chân-lý cứu cánh, vọng hoặc diệt
hết, không còn tu, học, là
"Vô-học". Người còn phải
nghiên-cứu chân-lý để diệt hẳn
vọng hoặc, là "Hữu-học". Ba quả
trên của Tiểu-Thừa là "Hữu-học",
A-La-Hán là "Vô-học". Thập
địa Bồ-Tát của Đại-thừa
là "Hữu-học", Phật là
"Vô-học".
(11) Đây là hiển minh nghĩa tối
thắng của pháp trong nhân-duyên.
(12) Trên kia đã từ 12 nhân-duyên
quán-sát Nhân-Duyên, đoạn này
từ nơi tám Thánh-đạo quán-sát
Pháp. Quán-sát tính của
nhân-duyên là Thường, Vô Thọ... nay
quán-sát tính của Pháp cũng thế.
(13) Đây là quán-sát về Phật.
Phật là bậc được trí-tuệ,
hiểu biết hết thảy bằng các
chính-xác (chính-trí). Đã có
chính-trí, tất nhiên giác-ngộ hết
thảy nghĩa tối-thắng của Pháp (ngộ
được thắng-pháp). Ngộ được
thắng-pháp tức là chứng-ngộ
đệ-nhất nghĩa pháp-tính làm
Vô-thượng pháp-thân của Phật,
tức là thấy Phật. Nói cho dễ hiểu,
muốn thấy Phật phải chứng được
Chính-trí, có Chính-trí mới hiểu
được bản-thể của sự-vật
(pháp), hiểu được bản-thể
sự-vật gọi là Pháp-tính, là
Pháp-thân Phật, là thấy Phật.
Xét chung lại: muốn thấy được
Nhân-Duyên phải quán-sát được
những Pháp trong nhân-duyên; muốn thấy
được Pháp, phải quán-sát
được bản-thể của các pháp
và muốn thấy được Phật, phải có
chính-trí, chứng-ngộ bản-thể
tối-thắng của các pháp, tức là
Pháp-tính, thành Pháp-thân-Phật.
(14) Đây nói: có nhân là có
duyên, không có nhân là không có
duyên. Có cái này là có cái kia
như thế, tức là bản-thể (tính)
của sự-vật (pháp) như thế. Đã
như thế, là thường hằng, không
biến-đổi, sai-khác... thời dù Phật
ra đời hay không ra đời nói pháp,
sự-vật (pháp) vẫn như thế, nghĩa
là Nhân thì Duyên.
(15) Đây nói: Mặc dầu
nhân-duyên-pháp là lẽ thường
hằng như thế, nhưng đứng trên
phương-diện tạo-thành và
liên-tục, nhân-duyên phải hợp với
nhau (tương-ứng) mới được. Sự
tương-ứng này có hai 1/
Nhân-tương-ứng: nhân hợp nhau với duyên
mới thành 2/ Duyên-tương-ứng: duyên
hợp nhau với nhân mới được. Trong
Nhân và Duyên Tương-Ứng này
phân-tích ra sẽ thành 4 loại: 1/ Ngoại
Nhân-Duyên-Pháp, Nhân-Tương-Ứng:
Nhân-tương-ứng, hợp với những
pháp thuộc nhân-duyên ngoại-phụ. 2/
Ngoại-Nhân-Duyên-Pháp, Duyên-Tương-Ứng:
Duyên-tương-ứng, hợp với những
pháp thuộc nhân-duyên ngoại-phụ. 3/
Nội-Nhân-Duyên-Pháp,
Nhân-Tương-Ứng: Nhân-tương-ứng,
hợp với những pháp thuộc nhân-duyên
nội-chính. 4/ Nội-Nhân-Duyên-Pháp,
Duyên Tương-Ứng: Duyên-tương-ứng
hợp với những pháp thuộc nhân-duyên
nội-chính. Và trong 4 loại này, mỗi
loại đều chia làm hai phần: phần công
nhận có sự tạo-thành nhân và
phần phủ-nhận, vì mỗi pháp, không
có tự-thể.
(16) Đây nói về phần tạo-thành
nhân của ngoại-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng.
(17) Đây nói về phần không có
tự-thể của ngoại-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng.
(18) Trên đây là quán-sát chung
về 6 giới, tức là
ngoại-nhân-duyên-pháp,
duyên-tương-ứng. Sau sẽ quán-sát
riêng từng giới một.
(19) Đây nói về
sự tạo thành của 6 giới.
(20) Đây nói về
phần không có tự-thể của 6 giới.
(21) Đây nói về sự viên-dung.
(22) Để ngăn-ngừa những ác-kiến
mê-lầm, ngoài sự quán-sát nội,
ngoại-nhân-duyên tương-ứng trên kia,
cần quán-sát thêm 5 thứ quán-sát
này.
(23) Đây nói về
phần tạc-thành nhân của
nội-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng.
(24) Đây nói về phần không có
tự-thể của nội-nhân-duyên-pháp,
nhân-tương-ứng.
(25) Ý nói về sự viên-dung.
(26) Trên đây
là quán-sát chung về 6 giới. Sau
đây quán-sát riêng từng giới
một.
(27) Thức: là do 5 thức: nhãn-thức
(mắt), nhĩ-thức (tai), tỵ-thức (mũi),
thiệt-thức (lưỡi), thân-thức
(thân-thể) hợp nhau cùng với ý-thức
thứ 6 mà thành ra Danh (tâm) Sắc
(hình-sắc: thân): "Thức" có
nghĩa là phân-biệt rành-rẽ. Do
phân-biệt tạo nghiệp phải lưu-chuyển
sinh-tử, nên gọi là "Hữu-lậu
ý-thức".
(28) Đây nói về phần tạo-thành
nhân của 6 giới.
(29) Đây nói về phần không có
tự-thể của 6 giới, vì chính nó
không phải là: TA (thực-thể thường
hằng, bất biến), Chúng-Sanh (sinh-loại qua
nhiều sinh-tử). Mệnh-Giả (người tạo ra
thân-mệnh), Sinh-Giả (người sinh-thành ra),
Nho-Đồng (tức là tạo-vật
chủ-tể, Nho-đồng như chữ
"Hóa-nhi", ta thường gọi),
Tác-Giả (người tạo-tác ra), Con Trai
(đàn ông), Con Gái (đàn bà).
Hoàng-Môn (người không phải đàn
ông, không phải đàn bà).
Tự-Tại (tự-do không bó buộc). Ngã-Sở
(cái của ta).
(30) Nghĩa như trang 23 đã giải.
(31) Đoạn văn trên đây biện-minh
về thể-tướng.
(32) Trên đây là giải-thích về
danh-nghĩa.
(33) Bất-Động-Hành: Là sự
hành-động trong Thiền-định của
cõi Sắc và Vô-sắc. Và còn
có nghĩa là hành-động trong sự
im-lặng, không dao-động.
(34) Biện-minh sự tương-tục của 12
nhân-duyên.
(35) Trên đây nói về nhân-duyên
là hỗ-tương và tương-tục,
chứ không phải nhất-định là
nhân hay nhất định là duyên, không
phải định thường và không phải
diệt hẳn, mà nó cứ thế làm
nhân-duyên cho nhau, truyền tiếp mãi mãi.
(36) Điền-Tính: Nghiệp như mảnh
ruộng, tạo-tác ra các chủng-tử (hạt
giống).
(37) Đây giải-thích về tác-dụng
của: vô-minh, ái, nghiệp, thức.
(38) Đây nói về phần không có
tự-thể của bốn chi.
(39) Đây nói về duyên-vô-tác.
(40) Đây nói về quả-vô-tác.
(41) Nói tổng-quát tuy là không có
tự-thể, không tạo-tác, nhưng hạt
giống của thức, y vào ruộng nghiệp,
được nước tham-ái, phẩn vô-minh
tẩm-nhuận, sinh nở, nhân-duyên
hòa-hợp, vào trong thai mẹ, kết thành
hình-thể (mầm danh-sắc) và
hình-thể ấy có ra sáu căn để
tiếp nhập với sáu trần (lục-nhập)
thành thân-tâm người thật sự.
(42) Đây thuộc về hiện-nghiệp,
nhưng nói về sự tạo thành của
nhãn-thức.
(43) Đây nói về phần không
tự-thể và nghĩa viên-dung của năm
duyên.
(44) Đây nói
mặc dù không có tự-thể, nhưng
nhân-duyên đầy-đủ, quả-báo
cũng hiện.
(45) Đây là
ví-dụ về sinh-nghiệp.
(46) Đây là ví-dụ về
hậu-nghiệp.
(47) Đây là ví-dụ về
bất-động-nghiệp.
(48) Đây nói: Cái thân do
nghiệp-báo mà có này (báo-thân)
gồm năm uẩn: sắc, thụ, tưởng,
hành, thức. Báo-thân này đến khi
mất đi, thời năm uẩn ấy cũng không
còn. Đã không còn trong báo-thân
trước, mà báo-thân sau có năm
uẩn trong đó, sẽ không giống với
báo-thân và năm uẩn trước. Nói
rõ hơn, thân-tâm (danh-sắc) trước
không giống với thân-tâm sau, gọi là
"không thường còn".
(49) Đây nói: Tuy rằng báo-thân
và năm uẩn trước diệt, nhưng
không phải không có sự liên-lạc
gì với báo-thân và 5 uẩn sau. Nó
có sự liên-lạc với nhau trong khoảng
thời-gian tích-tắc, như cán cân hơi
cao, thấp một chút mà thôi, nên gọi
là:không dứt đoạn". Nghĩa là
vẫn có sự liên-lạc với nhau từng
tích tắc, không dứt đoạn hẳn.
(50) Chúng-Đồng-Phận: Nghĩa là
chúng-sinh (động-vật) đồng có
cái nhân quả-báo tương-tự nhau.
Đây nói báo-thân của loài
động-vật sinh trong đời sau này, không
phải là báo-thân của đời
trước chuyển dời đến, vì,
báo-thân đời trước diệt trong
đời trước rồi, nên gọi là
"không chuyển-dời".
(51) Đây nói: Nghiệp-nhân nhỏ,
mà đến một thời khác
nghiệp-nhân ấy thành-thục đạt
tới kết-quả lại lớn hơn nhân
trước, gọi là "cảm quả
dị-thục lớn". Tỷ-dụ: một hạt cam
trồng thành cây cam, khi cam có quả
thành nhiều, chứ không phải có một
hạt cam như trước.
(52) Xem trang 11 đã giải.
(53) Đây nói nên trừ bỏ sự
mê-lầm trong ba đời: quá-khứ,
hiện-tại, vị-lai. Vì, nhân trong ba
đời chỉ là giả-định, không
có tự-thể: nhân-duyên-quá-khứ
hòa-hợp thời thành quá-khứ,
nhân-duyên vị-lai hòa-hợp thời
thành vị-lai, nhân-duyên hiện-tại
hòa-hợp thời thành hiện-tại.
Quá-khứ giả-định và vô cùng,
mê chi mà đi tìm về sự có sinh hay
không sinh! Vị-lai cũng giả-định và
vô-tận, mê chi mà đi tìm xem sinh ở
chốn nào! Hiện-tượng (cái có)
của hiện-tại phân-tích đến
cực-để vô cùng, mê chi mà đi tìm-tòi!
(54) Sa-Môn, Bà-La-Môn: Sa-Môn đây
không hẳn là chỉ cho các đệ-tử
Phật đi xuất-gia, mà là danh-từ gọi
chung cho những người tu-hành. Bà-la-môn
là một giai-cấp trí-thức tối-cao
của nước Ấn-Độ xưa,
quản-chướng về lễ-nghi, văn-hóa.
(55) Những Tà-Kiến: 1/ Ngã-kiến:
Tư-tưởng chấp cái thân do năm uẩn
giả-hợp là cái TA có thực. 2/
Chúng-sinh-kiến: Tư-tưởng cố chấp
chúng-sinh là có thực. 3/
Thọ-giả-kiến: Tư-tưởng cho
thọ-mệnh của cái Ta này chỉ có
một thời hạn là hết. 4/ Nhân-kiến:
Tư-tưởng chấp có ta và người. 5/
Hy-hữu-kiến: Tư-tưởng kỳ-quái
hiếm có. 6/ Cát-tường-kiến:
Tư-tưởng xem về ngày, giờ tốt,
xấu... 7/ Khai-hợp-kiến: Tư-tưởng khi
có, khi không, hoặc nhiều, hoặc ít.
Đây nói: nên trừ bỏ hết
các tà-kiến, như cây Đa-la đã
đẵn gốc rồi không còn mọc chồi
lên nữa. Và, nếu trừ bỏ
được thế, mai sau sẽ chứng
được pháp không sinh, diệt.
(56) Vô Sinh Pháp Nhẫn: Chân-như
thực-tướng lý-thể, xa lìa sự sinh,
diệt vậy. Chân-trí an-trụ nơi
lý-thể ấy mà không động, là
"vô sinh pháp nhẫn". Nói rõ
hơn, chứng được pháp không sinh,
diệt rồi, không tạo-tác, không sinh
khởi ra các nghiệp-hành nữa.
(57) Xem kinh Quán-Âm thụ-ký đã
giải rõ.