DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT
KINH
TRỰC CHỈ
ĐỀ CƯƠNG
GIÁO ÁN TRUNG CAO CẤP PHẬT HỌC
Tập I và II
Pháp Sư Thích Từ Thông dịch giải
Source: Quảng Đức.com
CHƯƠNG 1 CÕI NƯỚC PHẬT
- Phải làm gì
để xây dựng một cõi Phật?
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN
- Giáo lý phương
tiện và việc làm phương tiện.
CHƯƠNG 3 THANH VĂN
CHƯƠNG 4 BỒ TÁT
CHƯƠNG 5 - Văn Thù Bồ tát thăm bệnh.
CHƯƠNG 6 - Bất tư nghì.
CHƯƠNG 7 - Quán chúng sanh.
CHƯƠNG 8 - Con đường Phật.
CHƯƠNG 9 - Chứng nhập pháp môn không hai.
CHƯƠNG 10 - Phật Hương Tích.
CHƯƠNG 11 - Việc làm của Bồ Tát.
CHƯƠNG 12 - Thấy Vô Động Như Lai, thế giới Diệu Hỉ.
CHƯƠNG 13 - Cúng dường pháp.
CHƯƠNG 14 - Chúc lũy.
LỜI TỰA TẬP I
Kinh Duy Ma Cật là bộ kinh thuộc hệ
tư tưởng Đại thừa Viên đốn,
là thứ giáo lý mãn tự. Giáo
lý kinh Duy Ma Cật dạy cho mọi người
về pháp môn giải thoát bất tư
nghì. Hành giả thực hiện được
là thành Phật như đức Phật
Thích Ca và thập phương chư Phật
đã thành. Ai có khả năng đoạn
sạch vô minh, trừ hết phiền não thì
tức thân thành Phật và cõi
nước Phật hiển hiện ngay cõi đời
này. Giáo lý kinh Duy Ma Cật dạy rằng:
Quả vô thượng Bồ Đề không
phải là cái hứa hẹn để cho mọi
người mõi mòn hy vọng ước mơ. Mà
mọi người ai cũng có khả năng
đạt đến bằng nghị lực và
trí tuệ của mình.
Trưởng giả Duy Ma Cật là
người bất tư nghì. Ngài thuyết
bất tư nghì pháp, trình diễn bất
tư nghì cảnh, tập họp bất tư
nghì chúng, khiến mọi người phát
bất tư nghì tâm, chung qui tán thán
bất tư nghì công đức của Phật.
Quả vô thượng Bồ Đề, Phật
là mục đích đến, mà Bồ
tát Duy Ma Cật vận dụng vô số bất
tư nghì sự để hướng dẫn cho
mọi người.
Giáo lý Tiểu thừa có
đề cập, phước báo nhơn thiên
có nói đến, nhưng nói nhơn
thiên để phủ định phước báo
nhơn thiên. Đề cập Tiểu thừa
để khiển trách họ về Niết Bàn
sở đắc.
Ba lần hiện Tịnh độ nhằm
phổ cáo với đại chúng về thần
lực bất tư nghì:
- Với sức thần bất tư nghì
của Phật nhãn, đại chúng trông
thấy cõi Tịnh độ ở ngay nơi Ta
bà uế độ.
- Với sức thần bất tư nghì của
tuệ nhãn, đại chúng trông thấy,
ngoài Ta bà uế độ, còn có
Tịnh- độ của Phật Hương Tích
rực rỡ trang nghiêm và xa thẳm.
- Với sức thần bất tư nghì
của tuệ nhãn họp cùng Phật nhãn,
đại chúng trông thấy Tịnh độ
của đức Vô Động Như Lai sáp
nhập với uế độ Ta bà mà không
có tướng rộng hẹp, khiến cho đại
chúng bừng tỉnh ngộ: Uế độ và
tịnh độ không rời cảnh giới
này.
Bộ kinh Duy Ma Cật, từ Tây vức
truyền sang Trung quốc, trước sau có sáu
nhà dịch:
1.- Đời Hậu Hán (25-220 TL) Ngài
Nghiêm Phật Điều dịch, nhan đề:
Cổ Duy Ma Kinh.
2.- Đời nhà Ngô (221-280) cư sĩ
Chí Khiêm dịch, nhan đề: Duy Ma Cật
Sở Thuyết Bất Tư Nghì Pháp Môn.
3.- Đời Tây Tấn (265-317) Ngài
Trúc Pháp Hộ dịch, nhan đề: Duy Ma
Cật Sở Thuyết Pháp Môn Kinh.
4.- Ngài Trúc Pháp Lan dịch, nhan
đề: Tỳ La Cật Kinh.
5.- Đời Diêu Tần (344-413) Ngài
Cưu Ma La Thập dịch, nhan đề: Phật
Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh.
6.- Nội dung tư tưởng các bản
dịch đại thể không khác nhau nhiều,
nhưng ý nhị uyên thâm thì có
sâu có cạn. Do vậy, suốt quá trình
dịch sử cho đến ngày nay, các tòng
lâm Phật học đều ái mộ
bản dịch với nhan đề: “DUY MA CẬT
SỞ THUYẾT KINH” của Tam Tạng Pháp
sư Cưu Ma La Thập.
Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, ở Trung Hoa
xưa nay tiền bối sớ giải rất nhiều.
Ở Việt
Phát xuất từ quan điểm nhận
thức đó, nhìn qua các bản dịch
tại nước ta, tôi thấy cần tham dự
đóng góp kiến giải Phật học
của mình. Trước là “Ôn cố tri
tân” đồng thời cung ứng cho hàng
Phật tử hữu duyên cùng đi trên con
đường đạo.
Kinh “Duy Ma Cật Sở Thuyết”
của Ngài Cưu Ma La Thập, sau khi dịch ra
tiếng Việt, tôi viết thêm phần
“TRỰC CHỈ” ở sau mỗi chương
hoặc sau mỗi đoạn, thay vì lời
sớ giải mà các tiền bối cổ kim
thường làm.
TRỰC CHỈ có nghĩa là chỉ
thẳng, ý tứ tiềm ẩn, phân tích
rõ ràng nghĩa lý sâu xa bàng bạc
ở kinh văn, nhằm hướng dẫn cho
người đọc nắm được trọng
tâm, biết rõ chủ đích từng
bài pháp của mỗi vấn đề.
Nhưng than ôi!
Ý Phật nhiệm mầu trông như
mây phủ ở đầu non, đến
được đầu non mây xa tít.
Cơ thiền bảng lảng tưởng
chừng trăng trôi mặt nước, hớt tan
mặt nước trăng sâu mù.
Do vậy, không thể nào TRỰC
CHỈ hết mọi mặt của ý kinh. Cho nên
tôi chọn nhan đề của công trình nho
nhỏ này là: “DUY MA CẬT SỞ THUYẾT
KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG”.
Tôi hy vọng giáo án này, -
tôi gọi là giáo án, vì những kinh
luận của tôi biên soạn nhằm để
triển khai hướng dẫn mọi người
đệ tử Phật, học chánh pháp,
hành chánh pháp, sống theo chánh pháp
và truyền bá chánh pháp chớ không
chủ trương đem tụng trước bàn
thờ Phật. Giáo án này được
đến tay Tăng, Ni sinh trung cao Phật học các
trường, tôi xem đó là một cơ
hội đóng góp phần nho nhỏ của
mình trong sự nghiệp tục diệm truyền
đăng.
Đối
với hàng Phật tử tại gia tín tâm
đã phát khởi với chủng tánh
Đại thừa vốn có của mình,
đọc học được kinh này thì
đường tu tập vững bước tiến
lên, không một thế lực ma quân tà
đạo nào dám lấy mắt mà nhìn,
đừng nói chi chuyện manh tâm mê hoặc.
“Học, học nữa và học
mãi”
Học cho đến khi:
- Bồ-Đề quả thục, nhất
chân phi sắc phi không.
- Bát Nhã hoa khai, vạn pháp tức
Tâm tức Phật.
Viết tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Ngày 16 tháng 12 năm 1991
Pháp Sư : Thích Từ Thông
Kính đề.
Bộ kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết gồm
cả thảy mười bốn chương,
được chia thành hai tập. Tập Một
có năm chương và tập Hai có
chín chương. Khi nghiên cứu bộ kinh
này, kính mong quý đọc giả lưu
ý:
1.- Phần nguyên văn được in
chữ đứng. Đó là phần dịch
đúng nguyên bản của kinh văn.
2.- Phần Trực chỉ in chữ nghiêng
để cho đọc giả dễ phân biệt.
Phần này do tôi đóng góp bằng
kiến giải của riêng mình. Hy vọng
phần Trực chỉ sẽ giúp cho đọc
giả manh mối để tư duy, gợi trí
nhận xét khi các Ngài thiền tọa.
3.- Đoạn kinh văn dài, có
nhiều ý, tôi đánh số 1, 2, 3 v.v...
Đoạn có đánh số là có
tiềm ẩn ý nghĩa sâu xa. Tôi phân
tích diễn giải phần ý nghĩa tiềm
ẩn đó trong phần Trực chỉ sau
chương hoặc sau đoạn kinh văn đó.
Mấy lời kính cáo, mong chư
đọc giả lưu tâm. Việc tác phẩm
hoàn bị hay chưa, giúp ích cho đời
được nhiều hay ít, thiết tưởng
không có gì đáng nói.
Tôi cho rằng tất cả chúng ta
ngày nào còn sống trên cõi
đời, thì còn phải: “Học, học
nữa và học mãi”
Pháp Sư : Thích Từ Thông
Cẩn chí.
CHƯƠNG
THỨ NHẤT
CÕI NƯỚC PHẬT
1.- Lúc bấy giờ đức Phật
ở vườn xoài địa phận thành
Tỳ Da Ly cùng với số chúng Tỳ Kheo
và Bồ Tát đông đến hàng
ngàn người. Tất cả là những
người đã trồng sâu cội đức
tri hành tự tại trong sự nghiệp giải
thoát giác ngộ, các vị gìn giữ
chánh đạo, làm tường thành hộ
pháp, truyền bá chánh pháp là
bạn lành của chúng sanh.
Thi hành nhiệm vụ nối dòng Tam
bảo, hàng phục ma quân chế ngự ngoại
đạo. Tâm hành của các Ngài thanh
tịnh, xa lìa ngũ cái, thập triền,
niệm định không rời, biện tài
vô ngại. Nói pháp lục độ: bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ, các Ngài
thành tựu viên mãn. Được vô
sanh nhẫn mà không khởi tâm sở
đắc. Tùy thuận căn cơ mà
chuyển pháp luân. Thấu rõ thực
tướng các pháp, biết suốt căn
tánh chúng sanh. Công đức và trí
huệ vượt hơn đại chúng.
Tướng hảo đoan nghiêm, uy đức vòi
vọi. Đức tin vững chắc thường mưa
pháp nhủ độ sanh. Thuyết phục nhơn
tâm, truyền đạt pháp âm vi diệu.
Thâm nhập chân lý, thấy rõ vạn pháp
duyên sanh. Dứt hết tà kiến không
kẹt hai bên. Hoặc lậu tam giới không
còn, thuyết pháp như sư tử
hống. Trí tuệ biện tài vô ngại.
Được thập lực, tứ vô sở
úy, thập bát bất cộng pháp. Từng
đóng bít các cửa ác thú mà
hiện thân trong ngũ đạo làm vị
đại y vương. Tùy bệnh chúng sanh
mà cho thuốc pháp. Bản vị của các
Ngài vốn là những người đã
thành tựu vô lượng công đức
trang nghiêm trong cõi nước chư Phật
mười phương.
2.- Danh hiệu của các Ngài là:
Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng
Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng
Quán Bồ Tát, Định Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ
Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm
Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện
Tích Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn
Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát
v. v...
Lại có Phạm Thiên Vương
Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ. Có
các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc,Ưu
Bà Di tham dự thính pháp rất đông.
3.- Hôm nay trong thành Tỳ Da Ly có
vị trưởng giả tử tên là Bảo
Tích cùng với năm trăm trưởng
giả tử, mỗi vị cầm một cây lọng
thất bảo đồng đến đảnh
lễ Phật, rồi cùng dâng tất cả
lọng ấy cúng dường Phật.
Do uy thần Phật, năm trăm cây
lọng hợp thành một. Cõi nước trong
ba ngàn đại thiên thế giới; các
núi Tu Di, núi Tuyết. Các biển cả,
sông ngòi...mặt trời, mặt trăng vô
vàn tinh tú. Các Thiên cung, Long cung, Thần
cung và cảnh giới chư Phật thuyết
pháp, nhập Niết bàn trong mười
phương đều hiện rõ trong cây lọng
báu.
Đại chúng trông thấy sức
thần Phật, đồng tán thán: là
một sự kiện hi hữu. Đại chiêm
ngưởng Phật sững sờ không nháy
mắt.
4.- Bấy giờ trưởng giả tử
Bảo Tích thay lời đại chúng
trước Phật, nói lên bài kệ
phát xuất từ lòng ái mộ, tôn
kính vô biên:
Mắt Phật
đẹp như hoa sen xanh
Tâm Phật
hằng trụ trong Thiền định
Tịnh nghiệp
tích lũy từ lâu đời
Đại chúng
cúi đầu nguyền tu học.
Sức thần
Phật vượt quá nghĩ bàn
Hiện rõ mười
phương vô lượng cõi
Chư Phật
thuyết pháp hành Phật sự
Đại chúng
hết thảy được thấy nghe.
Pháp vương,
pháp lực vượt quần sanh
Thí pháp,
thí tài cho tất cả
Phân biệt
dạy rành các pháp tướng
Chân lý
đệ nhất nghĩa siêu tuyệt.
Thế tôn tự
tại trước các pháp
Đại chúng
đãnh lễ đấng pháp vương
Thuyết pháp:
không có cũng không không
Có nhân
duyên Như Lai nói có.
Pháp vốn
vô ngã, vô thọ giả
Thiện ác
nghiệp không bao giờ mất
Khi xưa tịnh
tọa cội Bồ đề
Được
giải thoát chứng thành đại giác
Diệt tâm,
diệt hành ý rổng rang.
Cho nên chế
phục hàng ngoại đạo
Ba lần thuyết
pháp cõi đại thiên
Pháp luân
ấy bản lai thanh tịnh
Trời người
chứng đạo nhờ nương đó.
Tam bảo giờ
hiện hữu cõi đời
Phật dùng
pháp dược độ quần sanh
Bệnh, lão,
tử : đại y vương Phật
Kính lễ
đức pháp hải vô biên.
Khen chê bất
động Diệu cao sơn
Tốt xấu xử
dụng một tâm từ
Tâm hành
bình đẳng như hư không
Ai nghe đấng
nhân hảo : cung kính.
Con dâng Thế
tôn cây lọng mọn
Tam thiên thế
giới hiện trong đây
Đại chúng
tán thán điều hi hữu
Chúng con
đãnh lễ đấng Từ tôn.
Đấng pháp
vương nhiều người qui ngưỡng
Tâm tịnh
nhìn Phật thấy an vui
Tự thấy Thế
tôn ở trước mình.
Đấy là
sức thần bất cộng pháp
Phật thuyết
pháp đồng một pháp âm
Các cơ tùy
hiểu hợp cơ mình
Tự nhủ: Thế
Tôn vì ta nói.
Đấy là
thần lực pháp bất cộng
Phật thuyết
pháp cùng một diệu pháp
Chúng sanh tùy
tánh hiểu khác nhau
Dù hiểu
khác đều được lợi ích
Đấy là
thần lực pháp bất cộng
Phật thuyết
pháp đồng một pháp âm
Nghe ra hoặc sợ
hoặc vui mừng
Yểm ly trần
tục hoặc đoạn nghi.
Đấy là
thần lực pháp bất cộng
Kính lễ
đấng Thập lực viên mãn
Kính lễ
đấng vô sở úy viên mãn
Kính lễ
đấng bất cộng pháp viên mãn
Kính lễ
đấng đạo sư của chúng sanh
Kính lễ
đấng viễn ly triền phược
Kính lễ
đấng đã đến bờ bên kia
Kính lễ
đấng vượt khỏi thế gian
Kính lễ
đấng vĩnh ly đường sanh tử
Kính lễ
đấng vô sở y như hư không
Không nhiễm
thế gian như hoa sen
Hằng trụ an
nhiên hạnh không tịnh.
Sau khi nói bài kệ xong, Trưởng
giả tử bèn thưa với Phật: “Bạch
Thế Tôn, năm trăm trưởng giả tử
nầy đã từng phát tâm cầu Vô
thượng Bồ Đề. Hôm nay chúng con
muốn được nghe Phật dạy cho chúng con
về cõi nước thanh tịnh của Phật
và xin Phật dạy cho chúng con trên đường
tu hành muốn xây dựng cho mình cõi
Phật thanh tịnh thì phải làm sao?
5.- Phật dạy: Bảo Tích và
các trưởng-giả tử hảy lắng nghe.
Hôm nay Như Lai sẽ dạy cho các Ông về
vấn đề xây dựng cho mình có
được cõi Phật thanh tịnh.
Này Bảo Tích: Mọi tầng lớp
chúng sinh chính là cõi Phật thanh tịnh
của Bồ Tát. Vìsao? Vì Bồ Tát
dựa trên công hạnh giáo hóa chúng
sanh mà có được cõi Phật thanh
tịnh. Tùy sự điều phục chúng sanh
mà có được cõi Phật thanh
tịnh. Tùy sự bồi dưỡng trí tuệ
cho chúng sanh mà có được cõi
Phật thanh tịnh. Tùy sự gieo trồng Phật
chủng cho chúng sanh mà Bồ Tát có
được cõi Phật thanh tịnh.
Này Bảo Tích: Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh là
dựa trên công hạnh làm lợi lạc cho
chúng sanh. Ví như người muốn xây
cất lâu đài phải xây nền móng
trên đất vậy. Nếu không có
đất, không thể xây cất lâu
đài. Lại cũng ví như hoa sen. Sen
không mọc trên đỉnh núi đá cao
trơ trọi. Sen và hoa sen phải được
mọc và trổ tự bùn lầy.
Bồ Tát cũng như vậy, do làm
lợi lạc cho chúng sanh mà Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh và
nhận thấy cõi nước ấy.
Này Bảo Tích, Ông nên biết:
Như thế đó Bảo Tích! dựa
trên trực tâm mà phát hạnh, do
phát hạnh mà được thâm tâm. Do
thâm tâm mà ý được điều
phục. Do ý điều phục mà việc
làm đúng lời nói. Do lời nói
và việc làm đúng mà được
hồi hướng. Do hồi hướng mà có
phương tiện. Do phương tiện mà
hóa độ chúng sanh. Do hóa độ
chúng sanh mà có được cõi
Phật thanh tịnh. Do cõi Phật thanh tịnh
mà thuyết pháp thanh tịnh. Do thuyết
pháp thanh tịnh mà trí tuệ thanh tịnh.
Do trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh.
Do tâm thanh tịnh mà có tất cả công
đức thanh tịnh.
Như thế đó Bảo Tích! Bồ
Tát muốn có cõi Phật thanh tịnh
thì phải tu sửa tâm mình thanh tịnh,
tâm thanh tịnh thì Bồ Tát có
được cõi Phật thanh tịnh.
6.- Lúc bấy giờ Ông Xá Lợi
Phất khởi ý hoài nghi rằng:
Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh
thì có cõi nước Phật thanh tịnh;
vậy Thế Tôn ta xưa kia khi tu nhân, hành
Bồ Tát hạnh có lẽ nào tâm
không thanh tịnh hay sao mà cõi Phật
ngày nay không thanh tịnh như thế này.
Phật biết ý niệm hoài nghi
của Ông Xá Lợi Phất, liền bảo:
Xá Lợi Phất! Ông nghĩ thế
nào? Mặt trời, mặt trăng há chẳng
sáng sao? Thế mà những người mù
không thấy?
Ông Xá Lợi Phất thưa: Bạch
Thế Tôn, có. Mặt trời, mặt trăng
vẫn sáng nhưng người mù không
thấy, lỗi tại mắt họ mù!
Phật dạy: Xá Lợi Phất! Do
vì tội chướng của chúng sanh làm
cho chúng sanh không thấy cõi nước thanh
tịnh trang nghiêm của Phật; chứ không
phải cõi nước của Phật không thanh
tịnh trang nghiêm.
Xá Lợi Phất! cõi nước
của Phật vốn thanh tịnh tại Ông không
thấy.
Bấy giờ Trời Loa Kế Phạm
Vương nói với Ông Xá Lợi Phất:
Ông đừng nghĩ như vậy, không nên
cho rằng cõi Phật của Thế Tôn ta
không thanh tịnh. Chính tôi thấy cõi
Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh như cung
của Trời Tự Tại; như cõi nước
của chư Phật trong mười phương.
Ông Xá Lợi Phất nói:
Tôi thấy cõi này gò nỗng,
gai gốc, núi non, rừng rú và nhiều
những thứ cấu uế.
Loa Kế Phạm Vương nói: Tại
vì tâm của Ngài còn phân biệt
thấp cao cho nên Ngài thấy cảnh giới
có thấp cao, gò nỗng. Tại Ngài
không xử dụng tuệ nhãn cho nên Ngài
thấy cõi nước Phật không thanh tịnh!
Thưa Ngài Xá Lợi Phật! Bồ Tát
nhìn thấy tất cả chúng sanh bằng
cái thấy bình đẳng. Phát xuất
từ thâm tâm thanh tịnh và xử dụng
trí tuệ thanh tịnh thì Ngài sẽ thấy
cõi nước Phật thanh tịnh.
Bấy giờ đức Phật dùng
ngón chân ấn xuống đất, tức
thì ba ngàn đại thiên thế giới
hiển hiện trang nghiêm đẹp đẽ như
muôn ngàn thứ trân bảo hợp thành,
chẳng khác gì cõi nước của
đức Phật Bảo Trang nghiêm kết hợp
bằng vô lượng bảo trang nghiêm công
đức.
Đại chúng xem thấy hớn hở vui
mừng và tán thán là việc thế gian
chưa từng có. Mọi người bỗng
nhiên tự thấy mình đang ngồi trên
tòa sen báu.
Phật bảo: Xá Lợi Phất! Ông
đã thấy cõi Phật trang nghiêm thanh
tịnh ấy chưa?
Bạch Thế Tôn! Ông Xá Lợi
Phất thưa: Đúng vậy. Thế Tôn,
việc này từ trước đến nay con
chưa từng thấy và cũng chưa
được nghe.
Xá Lợi Phất: Cõi nước
của ta thường thanh tịnh trang nghiêm như
thế. Chỉ vì người nghiệp chướng
nặng nề, phước đức mỏng manh mà
thấy toàn những cảnh bất tịnh nhơ
xấu. Cũng như số chư Thiên cùng
thọ dụng một bát quí đựng cơm,
vậy mà tùy phước đức của
mỗi chư Thiên mà màu cơm và mùi
hương có khác.
Xá Lợi Phất! Nếu tâm của
người thanh tịnh thì nhìn thấy cõi
nầy là cõi vô lượng công
đức trang nghiêm thanh tịnh.
Đang lúc Phật hiện cõi
nước trang nghiêm thanh tịnh và dạy
về chân lý liễu nghĩa thượng
thừa này thì Bảo Tích và năm
trăm trưởng giả tử cùng thể nhập
được vô sanh pháp nhẫn. Rất
nhiều người phát tâm cầu vô
thượng Bồ Đề; nhiều hàng Trời,
người tỏ ngộ pháp hữu vi vô
thường, xa lìa trần cấu, tâm ý
rỗng rang trong sáng.
Đức Phật thâu nhiếp thần
lực, thế giới Ta Bà trở lại trạng
thái cũ, vẽ đẹp trang nghiêm thanh
tịnh không còn.
TRỰC
CHỈ
1.-
Phật quốc là cõi nước Phật.
Nói cách khác là cảnh giới của
người tỉnh thức hoàn toàn và
giác ngộ chân lý trọn vẹn.
Cõi
nước Phật không ở cao cũng chẳng
phải ở xa. Cõi nước Phật tại
tâm người. Tâm người dứt hết
các vô minh phiền não, tâm người
sáng suốt giác ngộ chân lý trọn
vẹn và sống đúng chân lý thì
tâm đó là Phật. Người có
tâm Phật ở đâu thì cõi nước
đó trở thành cõi nước Phật
là Phật quốc.
Thế
cho nên cõi Ta bà đối với chúng
sanh là cõi chúng sanh phải chịu nhiều
khổ lụy bất bình. Vậy mà đối
với đức Thích Ca Mâu Ni Phật thì
ngay nơi cõi Ta bà trở thành Phật
quốc đẹp đẻ trang nghiêm thanh tịnh:
“Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật
độ tịnh”. Hể tâm người thanh
tịnh thì có cõi Phật thanh tịnh.
2.-
Danh hiệu của Bồ Tát tiêu biểu cho
đức độ và hạnh nguyện của
vị Bồ Tát đó.
Đẳng
Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát
thường xử dụng quán trí nhận
thức bên mặt “bình đẳng”
trên phương diện bản thể chung cùng.
Bất
Đẳng Quán Bồ Tát là vị Bồ
Tát thường xử dụng quán trí
nhận thức vạn pháp bên mặt “sai
biệt” trên phương diện hiện
tượng tùy duyên.
Đẳng
Bất Đẳng Quán Bồ Tát là vị
Bồ Tát vận dụng quán trí toàn
diện nhận thức vạn pháp cả hai
mặt bản thể và hiện trạng,
bình đẳng lẫn sai biệt.
Tất
cả Bồ Tát qua danh hiệu, người học
Phật có thể nhận biết tổng quát
về các Ngài...
3.-Phật nhận 500 cây
lọng của các trưởng-giả tử
cúng dường.
Phật
dùng sức thần hợp 500 cây lọng
thành một. Hiện tượng này, nhằm
dạy cho đại chúng bài pháp:
“Tất cả là một” và “Một
là tất cả”.
Hiện
tượng vạn pháp duyên sanh nhiều vô
lượng. Nhưng bản thể của chúng
thì chung cùng. Trong một cái nầy có
chất liệu của cái kia. Trong những cái
kia có chất liệu của một cái nầy.
Tam
thiên đại thiên thế giới và
cõi nước của chư Phật mười
phương hiện rõ trong cây lọng. Sự
kiện đó đức Phật muốn dạy cho
đại chúng bài pháp: “Nhất chơn
pháp giới” và “Pháp giới bất
nhị”.
Khi
mê thì tứ Thánh lục phàm có ranh
giới. Có khổ có vui. Nhưng nhìn
pháp giới qua Phật nhãn, qua sức thần
Phật thì pháp giới trở thành nhất
chơn, xóa hết ranh giới phân chia và
ngăn cách.
Người
đời mơ ước cái “Thế giới
đại đồng” nguyên tắc chung cũng
gần giống như vậy. Khi con người “Giác
ngộ” thân thương nhau như ruột thịt
thì bờ cõi đất nước còn
ngăn ranh cắt giới để làm gì.
4.-
Các trưởng giả tử vì quá
kính mộ, nói kệ tán thán Phật.
Việc làm đáng khen. Nhưng những lời
lẽ tán thán đó, chẳng khác
nào trẻ con khen ngọc kim cương đẹp.
Làm sao lũ trẻ hiểu hết
được giá trị màu sắc cúa
ngọc kim cương.
5.-Muốn
có cõi Phật thanh tịnh trước phải
tịnh tâm. Tâm thanh tịnh thì có
cõi Phật thanh tịnh.
Muốn
xây dựng cõi Phật, Bồ Tát phải
dựa nơi chúng sanh. Chúng sanh là cơ
sở để Bồ Tát xây dựng cõi
Phật cho mình. Bồ Tát rời chúng sanh
thì không còn đối tượng để
thi thố Bồ Tát hạnh.
Xây
lâu đài phải xây trên đất,
cũng như hoa sen đẹp phải mọc từ
bùn.
Do
có chúng sanh, do sự điều phục và
giáo hóa chúng sanh, Bồ Tát xây
dựng cho mình một lâu đài Phật
quốc. Dựa trên cơ sở chúng sanh Bồ
Tát có thể thực hiện.
Trực
tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm, Tứ
vô lượng tâm, Bố thí, Trì
giới, Nhẫn nhục,Tinh tấn, Thiền định,
Trí tuệ... Đó là chất liệu,
Bồ Tát xây dựng nên cõi Phật.
6.-
Cõi Phật của đức Phật Thích Ca
vẫn trang nghiêm thanh tịnh không kém gì
cõi nước của chư Phật mười
phương. Thế mà Ông Xá Lợi Phất
lại thấy không thanh tịnh chẳng trang
nghiêm.
Cái
ví dụ người mù đứng dưới
ánh nắng ban mai trước cảnh trăm hoa
đua nở mà chàng ta không thể thấy
sáng, cũng chẳng có gì đẹp
đẽ tí nào.
Lỗi
tại ai? Mọi người đã rõ.
CHƯƠNG
THỨ HAI
1.-
Bấy giờ thành Tỳ Da Ly có một vị
Trưởng giả tên là DUY MA CẬT.
Trưởng giả Duy Ma Cật là người
đã từng cúng dường vô
lượng chư Phật, gốc rễ lành
trồng sâu, cho nên Ông đã
được vô sanh pháp nhẫn. Trong hàng
Bồ Tát, Duy Ma Cật là vị Bồ Tát
biện tài vô ngại. Du hí thần thông.
Hàng phục các ma được vô sở
uý. Thể nhập sâu sắc các pháp
môn. Trí tuệ siêu tuyệt. Phương
tiện linh hoạt. Biết rõ tâm tưởng
của chúng sanh, phân biệt độn căn,
lợi căn của đối tượng. Ở trong Phật
đạo từ lâu, đã thuần thục
thâm tín đại thừa. Việc làm
vững chãi, suy nghĩ chín chắn, trụ oai
nghi Phật, tâm lớn như biển. Chư Phật
ngợi khen, hàng trời cung kính. Vì muốn
độ người, Trưởng giả Duy Ma Cật
phương tiện ở thành Tỳ Da Ly.
2.- Vì muốn cãm hóa những
người nghèo, Ngài Duy Ma Cật bố thí
rất nhiều của cải. Để cảm hóa
người phạm giới, Ngài trì giới thanh
tịnh. Để cảm hóa người nóng
nảy, Ngài biểu lộ hạnh kiên nhẫn
ôn hòa. Để độ người giải
đải, Ngài thực hành tinh tấn.
Để cảm hóa người loạn tâm, Ngài
thiền định nhất tâm. Để cảm
hóa người vô trí, Ngài hướng
dẫn phát huy trí tuệ. Dù Ngài là
bạch y mà phụng trì luật hạnh của
Sa môn. Dù ở tại gia mà không lưu
luyến tam giới. Giả có vợ con mà
thường tu phạm hạnh. Hiện có quyến
thuộc mà thường thích viễn ly. Dù
phục sức đồ quí mà lòng cưu
mang thân tướng hảo. Dù có ăn
uống như thế gian vị chính là vui trong
thiền định. Có lúc tham gia sòng
bạc, cốt yếu nhằm để độ
người. Lúc tùy thuận ngoại đạo
mà chánh tín không lung lạc. Đọc
hiểu suốt sách vở thế gian mà thường
vui với giáo pháp Phật. Nhằm cảm
hóa mọi người mà giữ gìn
chánh pháp. Kinh doanh được tiền của,
nhưng chẳng lấy đó làm vui. Dạo
chơi khắp phố phường để làm
điều lợi ích chúng sanh. Có lúc
tham gia trị chánh, nhằm để cứu
độ quốc dân. Có khi tham dự các
diễn đàn hội thảo, cốt lèo
lái hướng dẫn mọi người đi
vào đường chánh đạo đại
thừa. Vào học đường nhằm để
dẫn dắt tuổi thơ. Có lúc đến
thanh lâu nhằm chỉ rõ cho mọi người
tai họa của ái dục. Vào quán
rượu như mọi người mhằm để
nêu gương tự chủ.
3.- Ở cương vị trưởng giả,
Ông Duy Ma Cật gương mẫu trong hàng
trưởng giả, vì họ mà nói
chánh pháp. Ở trong cư sĩ, gương
mẫu trong hàng cư sĩ, dứt hết các
tham nhiễm tầm thường. Ở trong dòng
Sát đế lỵ, gương mẫu trong hàng
Sát đế lỵ, để dạy họ về
đức nhẫn nhục. Ở trong trong dòng Bà
la môn, gương mẫu trong hàng Bà la
môn dạy trừ bỏ tánh ngã mạn.
Ở trong nội chính đại thần, gương
mẫu trong hàng đại thần nhằm dạy
họ học chánh pháp. Ở trong hàng
vương tử, gương mẫu trong hàng
vương tử để dạy họ về
đạo lý hiếu trung. Ở trong nội quan,
gương mẫu trong hàng hoạn quan để
dạy các cung tần về chánh tâm
chánh hạnh. Ở trong thứ dân, gương
mẫu trong hàng thứ dân để hướng
dẫn họ làm điều phước thiện.
Ở trong hàng Phạm Thiên, gương mẫu
trong các Phạm Thiên để dạy họ tu
về thắng tuệ. Ở trong Đế Thích,
gương mẫu trong hàng Đế Thích
nhằm dạy họ về chân lý vô
thường của hiện tượng vạn pháp.
Ở trong cương vị hộ thế thì
gương mẫu trong hàng hộ thế nhằm
hộ độ nhân dân lạc nhiệp an cư.
Duy Ma Cật trưởng giả vận dụng
vô số phương tiện như thế để
đem lại lợi lạc cho chúng sanh. Và
hôm nay Trưởng giả lại hiện thân
có bệnh.
Nghe Trưởng giả Duy Ma Cật
bị bệnh, Quốc vương, đại thần,
trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn,
các vương tử và các thân thuộc
cả mấy ngàn người lần lượt
đến tịnh thất của Trưởng giả
để vấn an. Nhân cơ hội có nhiều
người đến thăm bệnh, Duy Ma Cật
trưởng giả thừa cơ thuyết chánh
pháp:
4.- Thưa chư nhân giả: thân nầy
vô thường, không mạnh, không dai,
không bền, không chắc. Nó là cái
thứ mau mục nát, dễ rệu rã chẳng
đáng tin cậy. Nó là cái khối
chứa nhóm các khổ đau, buồn phiền
và nhiều bệnh tật.
5.- Thưa chư nhân giả: người
trí không tin cậy ở thân. Nó như
bọt nước không thể cầm nắm. Như
bong bóng không tồn tại được
lâu. Như bóng nắng, do khát ái mà
thấy có. Thân nầy như cây chuối, do
bẹ hợp lại thành cây, trong đó
không có cái nào rắn chắc. Thân
nầy như huyễn từ điên đảo
khởi sanh. Thân nầy như mộng, do vọng
kiến thực chẳng có gì. Thân nầy
như ảnh, do nghiệp duyên hiện sanh. Thân
nầy như vang, do nhân duyên mà có.
Thân nầy như mây nổi phút chốc tan
mất. Thân nầy như chớp niệm niệm
không ngừng. Thân nầy vô chủ ví
như núi. Thân nầy vô ngã ví
như lửa. Thân nầy vô thọ ví như
gió. Thân nầy vô nhơn ví như
nước. Thân nầy không thật vì
là sự tổ hợp của tứ đại.
Thân nầy vốn không, vì không có
ngã, ngã sở. Thân nầy vô trí
như cỏ cây, ngói gạch. Thân nầy
vô tác giả, do sức gió nghiệp
chuyển sanh. Thân nầy bất tịnh đầy
dẫy uế trược xấu xa. Thân nầy
tạm bợ, rỗng không, dù có ăn
mặc, tắm rửa nhưng chung qui cũng tiêu ma
hoại diệt. Thân nầy là tai họa chứa
nhóm một trăm lẻ một bệnh khổ
sầu đau. Thân nầy như giếng trên
đất gò, bao nhiêu lão bệnh bức
ngặt thường xuyên. Thân nầy không
cố định, vì không biết sẽ chết
lúùc nào. Thân nầy như rắn
độc, như giặc thù, như hội tụ
hư không, do ngũ ấm, lục nhập, thập
nhị xứ, thập bát giới gá hợp
mà thành.
6.- Thưa chư nhân giả: phải sanh
tâm khinh rẻ cái thân nầy và nên
sanh tâm ham mến thân Phật. Vì thân
Phật là pháp thân. Thân Phật từ
vô lượng công đức trí tuệ sanh.
Từ giới, định tuệ, giải thoát
và giải thoát tri kiến sanh. Từ từ, bi,
hỉ, xả sanh. Từ bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí
tuệ sanh. Từ phương tiện sanh. Từ lục
thông sanh. Từ tam minh sanh.Từ ba mươi bảy
phẩm trợ đạo sanh. Từ chỉ quán sanh.
Từ thập lực, tứ vô sở úy, thập
bát bất cộng pháp sanh. Từ chỗ dứt
hết tất cả các pháp bất thiện,
chứa nhóm tất cả thiện nghiệp sanh.
Từ không phóng dật sanh. Từ vô
lượng pháp thanh tịnh như thế màsanh
thân Như Lai!
Thưa chư nhân giả: muốn
được thân Phật, muốn vứt bỏ
cái thân nhiều bệnh khổ của chúng
sanh thì phải phát tâm vô thượng
Bồ Đề!
Trưởng giả Duy Ma Cật vì những
người đến thăm bệnh, nói những
pháp ứng cơ như thế, khiến cho
vô số nghìn người phát tâm vô
thượng Bồ Đề.
TRỰC
CHỈ
1.- Tạo cái cớ qui
tụ đông người đến để
thuyết pháp, Bồ Tát Duy Ma Cật không
bệnh giả bệnh. Đó là phương
tiện về việc làm.
Pháp
được nói ở phẩm kinh nầy chưa
đá động gì đến pháp
Đại thừa. Chỉ nói thuần pháp
Tiểu thừa. Đó là phương tiện
về thuyết pháp. Hướng dẫn tư
tưởng của đại chúng từ suy nghĩ
về thân để chán ngán xem thường
thân vì sự mục bở, sự bất
tịnh, sự không bền chắc. Khuyến
khích mọi người hãy phát tâm ham
mộ Phật thân. Thân Phật là thân Kim
cang bất hoại cô động bởi vô
lượng công đức và là sự
thể hiện của Bồ Đề Niết Bàn
vô thượng. Đó là phương
tiện về tư tưởng trong sự nghiệp
giáo hóa độ sanh.
2.-Qua thành tích, Bồ
Tát Duy Ma Cật có gần đủ những
đức tính từ bi, trí tuệ, phương
tiện biện tài... của Phật.
Bồ
Tát Duy Ma Cật rõ là thành phần
tích hạ bản cao.
Thành
ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ. Đó là
đạo đức của các nhà chánh
trị cổ kim, vì sự nghiệp ích quốc
lợi dân cho một nước.
Bồ
Tát Duy Ma Cật ở giai cấp nào gương
mẫu trong giai cấp đó.
Có
vậy, chúng sanh mới nghe, mới tin, mới
phục, thì lý tưởng và mục
đích của Bồ Tát mới hiện thực
và tồn tại ở trong lòng chúng sanh.
3.-
Muốn bắt hùm phải vào hang cọp.
Muốn cảm hóa giới nào phải
đồng sự với họ. Đường lối
đó Bồ Tát Quán Thế Âm
đã làm. Đó là “thủ
đoạn” nhưng đem lại hiệu quả cao.
Thực
ra “thủ đoạn” và “phương
tiện” là một. Là thủ đoạn hay
là phương tiện, chỉ biết sau khi kết
quả của việc làm cụ thể hình
thành.
4.-
Thân vô thường, khổ, vô ngã,
bất tịnh.Thân như mộng, huyễn, bào,
ảnh, như ba tiêu, như Càn thát bà
thành...Cần phải yểm ly khinh sẽ nó.
Đó
là cái nhìn của chủng tánh Tiểu
thừa.
Chừng
nào nhận thấy được các đức
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của hiện
tượng vạn pháp, mới là người
đích thực chứng ngộ chân lý.
Đó
là cái thấy của người chủng
tánh Đại thừa.
5.-Yểm
ly thân nầy ham cầu thân Phật, chưa
phải là người thể nhập tri kiến
Phật của chính mình.
Vì
vậy pháp mà Bồ Tát Duy Ma Cật
thuyết ở phẩm kinh nầy là pháp
phương tiện.
CHƯƠNG
THỨ BA
THANH VĂN
I.- VẤN ĐỀ THIỀN
Bây giờ Trưởng giả Duy Ma Cật
tự nghĩ: nay mình nhuốm bệnh nằm một
mình một giường và một thất,
đức Thế Tôn là bậc đại từ
rồi đây thế nào cũng xót
thương và sai người đến thăm
bệnh. Phật biết thâm ý của
Trưởng giả Duy Ma Cật, bèn gọi Ông
Xá Lợi Phất đến và bảo:
1.- Xá Lợi Phất! Thầy hãy đi
thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật. Hiện
nay Ông ấy có bệnh.
Ông Xá Lợi Phất thưa:
Bạch Thế Tôn! Con xin Thế Tôn
thương cho! Con không kham lãnh trách nhiệm
đến thăm bệnh Ông ấy.
Bạch Thế Tôn! Vì trước
đây có một hôm nọ, con đang ở
trong rừng ngồi thiền dưới một cội
cây. Tình cờ Ông Duy Ma Cật đến,
nói với con rằng:
Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Ngài
bất tất phải ngồi như thế mới
là ngồi thiền! Luận về việc ngồi
thiền, thiền giả không dính mắc tam
giới mà thân tâm vẫn sinh hoạt mới
là ngồi thiền. Sinh hoạt trong oai nghi như
bình nhật mà không rời diệt tận
định mới là ngồi thiền. Làm
mọi việc như kẻ phàm phu mà không
xao lãng đạo pháp mới là ngồi
thiền. Tâm không cột vào trong mà
cũng không tản mạn ra ngoài mới là
ngồi thiền. Trước bao nhiêu tà kiến,
bao nhiêu dị thuyết, bao nhiêu chuyện mê
tín, hoang đường mà tâm không
bị lay động, không bị mê hoặc,
cám dỗ, xiêu lòng, vững tâm trong 37
phần trợ đạo, thế mới là ngồi
thiền. Không khởi tâm đoạn trừ
phiền não mà vẫn có Niết bàn,
thế mới là ngồi thiền.
Ngồi được như thế thì
đó là thứ thiền được Phật
ngợi khen và ấn khả, thưa Ngài Xá
Lơi Phất.
Bạch Thế Tôn! Ông Xá Lợi
Phất thưa. Sau khi con nghe những lời như
thế, con lặng người ra gần như sảng
sốt, chẳng trả lời được với
Ông Duy Ma Cật câu nào. Vì vậy con
không dám lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh.
TRỰC
CHỈ
1.- Thiền là pháp
môn tu phổ biến trong đạo Phật.
Sau
Phật Niết Bàn, giáo lý Phật bị
phân hóa. Tùy căn cơ nhận thức,
họ chia thành bộ phái. Từ bộ phái
tiến tới chỗ lập tông chỉ riêng.
Từ đó có cái từ “Tông
phái”.
Lập
trường của các Tông phái “Tiểu
dị đại đồng”. Nghĩa là bên
mặt hình thức thì mỗi tông phái có
khác. Nhưng tất cả đều xử dụng
chất liệu Thiền để phát huy hiệu
quả trên đường thăng tiến Bồ
Đề vô thượng.
Tu
mà không có Thiền giống như ăn
cơm không có muối. Dù có
được ăn, nhưng yếu đuối, èo
uột, ngày chết chẳng còn xa.
Người
thọ tam qui, ngũ giới cũng phải học
Thiền. Có Thiền mới nhớ Phật, nhớ
Pháp, nhớ Tăng. Có Thiền mới
chận đứng những sai trái mình sắp làm.
Tu
Thập thiện nghiệp để hưởng
phước báu người, Trời, cũng phải
học Thiền, tham thiền.
-
Sơ thiền, tham đề tài “Ly” cấp
I.
-
Nhị thiền, tham đề tài
“ĐỊNH”.
-
Tam thiền, tham đề tài “LY” cấp II.
-
Tứ thiền, tham đề tài “XÔ...
Đó là quá
trình hành thiền của Thiên thừa
Phật giáo.
Để
được A LA HÁN quả, thiền phải
tích cực hơn nhiều. Phải thường
xuyên liên tục để thu nhiếp tâm
và làm chủ tự tâm. Vì vậy Ngài
Xá Lợi Phất say sưa trong tỉnh tọa ở
mé suối ven rừng. Ngài Duy Ma Cật có
dịp gặp gỡ luận đàm thiền vị.
Ba
mươi bảy phần trợ đạo là
đề mục thiền của hàng Thinh Văn tham
tọa:
|
-TỨ NIỆM XỨ: |
1.- Quán thân bất
tịnh. |
|
|
|
|
- TỨ CHÁNH CẦN: |
1.- Việc ác chưa sanh cố gắng ngăn
chận. |
|
|
|
|
- TỨ NHƯ Ý TÚC: |
1.- Mong muốn điều thiện. |
|
|
|
|
- NGŨ CĂN: |
1.- Luôn bồi dưỡng đức tin Tam
Bảo. |
|
|
|
|
- NGŨ LỰC: |
1.- Tín tâm kiên cố. |
|
|
|
|
- THẤT GIÁC CHI: |
1.- Trạch pháp. |
|
|
|
|
- BÁT CHÁNH ĐẠO: |
1.- Chánh kiến. |
Bồ Tát thừa thi
hành Thiền và phát huy Thiền theo quá
trình tiệm tiến qua Lục độ:
|
- LỤC
ĐỘ: |
1.- Bố
thí thiền. |
Năm độ trước
thiền phát huy phước đức. Độ
thứ sáu thiền phát huy trí tuệ,
để Bồ Tát hoàn thành Phước
Huệ song tu và chuẩn bị bước lên
đỉnh cao Bồ Đề vô thượng.
Đến
Phật quả gọi là Như Lai thiền.
Huyền Giác thiền sư nói:
“Đốn
giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên”
Bồ-Tát
Duy Ma Cật luận về thiền và giới
thiệu cho Ngài Xá Lợi Phất về Như
Lai thiền ấy.
Như
Lai thiền không nhất thiết phải
“tọa” mới có “thiền”. Như
Lai thiền đi, đứng, nằm, ngồi đều
hiệu quả như nhau.
Thiền
định có nghĩa “Tư duy tu”.
Đối cảnh thì tư duy, có đề
tài thì quán chiếu. Không luận
đứng, đi, nằm, ngồi.
Thiền định còn
có nghĩa là “Tĩnh lự”. Thiền
giả “Tư lự” một đề tài
trong lúc tâm thật yên tĩnh.
Một
câu thoại đầu là một đề
tài. Một công án là một đề
tài. Thoại đầu công án là
đề tài cũ sao chép của người
xưa. Có đề tài lạc hậu không
còn tác dụng trong thời hiện đại.
Thiền
giả có thể sáng tác đề tài
thiền trong mọi chốn nơi, ở mọi hoàn
cảnh và mọi thời gian.
Rút
lại, thiền là pháp tu phổ biến trong
toàn bộ giáo lý Phật. Học kinh,
luật, luận rồi phải hành thiền mới
đem lại kết quả.Các tông: Thiền
tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông triển
khai thiền thiên nặng về pháp tánh.
Duy
Thức tông, Tam luận tông, Luật tông,
Tịnh Độ tông, Chân ngôn tông
triển khai thiền thiên nặng về pháp
tướng.
Do
vậy, chỗ ở của người tu sĩ Phật
giáo được gọi “Thiền môn”.
*****
Đức Phật gọi Ông Đại
Mục Kiền Liên bảo: “Mục Kiền
Liên! Thầy hãy đến thăm bệnh
trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông Mục Kiền Liên thưa:
“Bạch Thế Tôn! Con không dám
lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
ấy. Bạch Thế Tôn! Trước đây
có lần con đi vào thành Tỳ Da Ly. Trong
một thôn xóm nọ, con vì một nhóm
cư sĩ nói pháp cho họ nghe. Bây giờ
trưởng giả Duy Ma Cật đến nói
với con rằng:
1.- Thưa Ngài Mục Kiền Liên!
Vì hàng bạch y cư sĩ nói pháp
Ngài không nên nói những pháp như
vậy. Phàm nói pháp phải nói pháp
“NHƯ” của pháp. Bởi vì pháp
không có tướng chúng sanh, xa lìa
sự cấu nhiễm về chúng sanh. Pháp
không có tướng thọ mệnh, xa lìa sanh
tử ưu bi. Pháp không có tướng
nhơn, vì thời gian trước và thời gian
sau không phải là một. Pháp thường
vắng lặng, vì dứt bặt các
tướng. Pháp ly tất cả tướng, vì
nó không phải đối tượng sở
duyên. Pháp không có tên, không có
lời để gọi, vì ngoài sự nghỉ
ngơi nói năng. Pháp không có gì
để nói, vì nó ly các giác
quán. Pháp không hình tướng, vì
nó như hư không. Pháp không như trò
giởn, vì nó hoàn toàn rỗng lặng.
Pháp không phải là ngã sở, vì
nó rời ngoài ngã sở. Pháp không
thể phân biệt, vì nó vượt
ngoài sự nhận thức đánh giá.
Pháp không có thể so sánh, vì nó
không ở trong vòng đối đải.
Pháp không lệ thuộc vào nhơn, vì
pháp tồn tại ở duyên. Pháp hoà
đồng pháp tánh, vì nó dung nhập
với pháp tánh. Pháp tùy thuận với
pháp “Như”, vì nó không chỗ
tùy. Pháp trụ nơi thật tế, vì
pháp bất đồng với bên hữu bên
vô, bên đoạn bên thường. Pháp
không có giao động, vì nó không
tương can với lục trần. Pháp không
có đến đi, vì pháp vốn là
bất trụ. Pháp thuận với không, tùy
vô tướng, hợp với vô tác. Pháp
rời tốt xấu. Pháp không tăng nhiều,
khônggiãm thiểu. Pháp không có chỗ
qui thú, nó vượt qua nhãn, nhỉ, tỷ,
thiệt, thân tâm. Pháp không có cao
thấp, pháp thường trú bất động.
Pháp xa lìa tất cả sự nghĩ ngợi
và thi thố.
Thưa Ngài Mục Kiền Liên! Pháp
như thế thì làm sao mà có thể
nói được?
Luận đến chỗ cứu kính
của vấn đề thuyết pháp thì
người nói không nói gì hết,
không phô bày gì hết. Người nghe
không nghe gì hết và không được
có một sở đắc nào. Ví như ảo
thuật sư làm ra người ảo, người
ảo lại nói chuyện ảo. Phải xác
lập ý thức kiên định như thế
rồi mới nên thuyết pháp.
2.- Còn nữa, thưa Ngài Mục
Kiền Liên! Người thuyết pháp phải
biết căn tánh của chúng sanh. Trước
một hay nhiều đối tượng phải
đọc thấy rõ rằng căn tánh của
họ lợi hay độn, phải lấy tâm
đại bi mà khen ngợi đại thừa.
Phải nghĩ rằng thuyết pháp là truyền
bá, duy trì cho ngôi Tam Bảo cửu trụ
thế gian.
Thuyết pháp nhằm để báo
đáp thâm ân Phật. Phải lập chí
như vậy, rồi sau mới thuyết pháp.
Bạch Thế Tôn! Ông Mục Kiền
Liên thưa. Sau khi trươüng giả Duy Ma Cật
nói thời pháp đó, có 800 cư sĩ
phát tâm vô thượng Bồ Đề.
Bạch Thế Tôn! Con không
đươc biện tài như thế, cho nên con
không dám lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
1.- Pháp có pháp
tánh và pháp tướng. Pháp liễu
nghĩa, pháp bầt liễu nghĩa, pháp
đại thừa, pháp tiểu thừa.
Về
pháp tánh, khởi ý nghĩ đã sai.
Mở lời nói không đúng. Bồ Tát
Duy Ma Cật gọi thứ pháp tánh đó
là pháp NHƯ.
Như
có nghĩa là tự nó sao để vậy.
Đừng nói càn đừng nghĩ ngợi.
Vì nó ly tất cả. Ly văn tự, ly ngôn
thuyết, ly tâm duyên.
Người
nói được pháp tánh phải là
người thành thạo diễn đạt nghĩa
lý của chữ “BẤT” và “VÔ”.
Đại
Mục Kiền Liên là Thanh văn chủng
tánh chưa hiểu diệu lý: “...Chư
pháp không tướng, BẤT sanh, BẤT diệt,
BẤT cấu, BẤT tịnh, BẤT tăng, BẤT
giãm...”
Chưa
hiểu được: “VÔ sắc, VÔ thọ,
VÔ tưởng, VÔ hành, VÔ thức...
VÔ nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân,
ý...”
Người
thể nhập diệu lý đó, khi thuyết
pháp thường thuyết pháp NHƯ.
Bồ
Tát Duy Ma Cật muốn Ngài Đại Mục
Kiền Liên truyền đạt pháp Như cho
mọi người. Có vậy, người nghe
pháp mới được lợi ích lớn.
2.-
Theo Bồ Tát Duy Ma Cật, nhìn đối
tượng, nhận xét căn cơ là một
chi tiết không thể thiếu của một vị
pháp sư.
Phải quán cơ rồi
mới nên thuyết pháp. Thuyết đúng
đối tượng pháp đó mới đem
lại lợi ích cho người nghe. Người
nói thì đền đáp được thâm
ân Phật.
*****
Đức Phật gọi Ông Đại Ca
Diếp đến và bảo: “Đại Ca
Diếp! Thầy hãy đến thăm bệnh
trưởng giả Duy Ma Cật, ông ấy đang
có bệnh”.
Ông Ca Diếp thưa: “Bạch Thế
Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
Bạch Thế Tôn! Vì con nhớ
trước đây, một hôm nọ con đi
khất thực trong một xóm nghèo, Ông Duy Ma
Cật gặp và thuyết pháp cho con một
thời pháp dài rằng: “Thưa Ngài
Đại Ca Diếp, Ngài có tâm từ
mà không phổ biến, chẳng bình
đẳng đối với chúng sanh. Ngài
chừa nhà giàu, tìm nhà nghèo
để mà khất thực. Thưa Ngài
Đại Ca Diếp! Hãy nên trụ ở
pháp bình đẳng, khất thực theo thứ
tự của xóm làng. Không phải vì
ăn mà khất thực thì mới nên đi
khất thực. Nhằm hoại diệt cái thân
tướng hòa hiệp này mà nhận
lấy thức ăn nắm vắt đấy. Phải xử
dụng cái ý tưởng không thọ
nhận, mới thọ nhận thức ăn. Vào
làng xóm, phải tưởng như đến
chỗ không người. Thấy sắc mà như
đui. Nghe thanh như nghe vang. Ngửi hương như
hít gió. Nếm vị nhưng không phân
biệt. Thọ xúc như tri chứng. Biết
tướng của các pháp như huyễn,
xưa vốn không sanh cho nên nay không có
diệt.
Còn nữa thưa Ngài Đại Ca
Diếp! Có thể không cần rời bỏ
bát tà mà được bát giải
thoát. Ngay nơi tà pháp mà thể
nhập chánh pháp. Một chút thức ăn
có thể đem bố thí cho tất cả,
có thể cúng dường chư Phật và
các hiền thánh, sau đó mới
đáng ăn!
Ăn bằng cách như vậy, sẽ
không có phiền não cũng không rời
phiền não. Không dụng ý nhập
định cũng không dụng ý xã
định. Kkông trụ thế gian cũng không
trụ Niết Bàn. Người thí chủ
không có phước lớn cũng không
có phước nhỏ, không thêm công
đức cũng chẳng mất công đức.
Đấy là con đường vào Phật
thừa đạo chơn chánh, không chờn
vờn khập khểnh ở cổ xe bé bỏng
của Thanh văn.
Thưa Ngài Đại Ca Diếp! Nếu
được như thế mà ăn thì mới
không luống uổng thức ăn của
người thí chủ cúng dường”.
“Bạch Thế Tôn! Ông Ca Diếp
thưa. Lúc con nghe bài pháp ấy rồi, con
được cái chưa từng có. Ngay lúc
đó con sanh tâm cung kính chư Bồ Tát
một cách thân thiết chân thành. Vì
con nghĩ rằng, ngoài địa vị Bồ
Tát, không ai có thể có trí
tuệ biện tài thâm diệu như thế.
Thảo nào người nghe ai mà chẳng
phát tâm vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Từ đó về sau con không
khuyên dạy ai học tu theo pháp Thanh văn,
Bích chi Phật nữa. Vì lẽ đó con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.
TRỰC
CHỈ
Khất thực là một
hạnh trong mười hai hạnh đầu đà.
Sống đời khất thực có thể phủi
dũ được từng phần phiền não,
cởi mở được một ít mối manh
ràng buộc.
Giàu
nghèo là chuyện của xã hội, của
chúng sanh, ai có phần nấy.
Nghèo
không hẳn khổ. Biết đạo đức,
sống tri túc, nghèo cũng có thể an
vui hạnh phúc.
“Thanh bần thường lạc” là
chuyện có thật.
Giàu
không hẳn vui. Làm giàu bằng bất
chánh, bất lương, bất nhân, bất
nghĩa. Bên ngoài giàu, bên trong lo âu
sợ sệt, đau khổ triền miên.
“Trọc phú đa ưu” là chuyện
có thật.
Quan niệm
giàu là người đầy đủ
phước đức, được hưởng
nhiều hạnh phúc là sai.
Quan niệm
nghèo là kẻ đáng
thương, cần giúp đở để cho
họ được hưởng phần
nào hạnh-phúc, cũng sai.
Người
tu sĩ, nhìn bằng tuệ nhãn không
đánh giá khổ vui qua hình thức
sự nghiệp nghèo, giàu.
BÌNH ĐẲNG là tiêu chuẩn đo
đạo đức và quả chứng của
người đạo sĩ.
Từ
vô lượng tâm của Phật thể hiện
tiêu chuẩn đó.
Phải ban
bố lòng từ bình đẳng như
ánh sáng mặt trời chiếu xuống
trần gian cho sanh linh vạn vật.
Nhằm tạo phước đức cho
người nghèo, lòng từ đó có
đối tượng, ví như ánh sáng
của chiếc đèn “pin”.
Ý
niệm năng độ, sở độ, hành vi
năng thí, sở thọ còn, thì quả
Bồ đề vô thượng hy vọng
còn lâu.
Quan
điểm khất thực của Bồ Tát,
ăn là phụ, giáo hóa chúng sanh
là chánh. Tạo phước cho chúng sanh
là phụ, dạy cho chúng sanh thành
Phật là chánh. Thuyết pháp cho chúng
sanh là phụ, đoạn trừ vô minh phiền
não cho mình là chánh. Dạy cho
chúng sanh thành Phật là phụ, bồi
dưỡng trí tuệ Phật cho mình là
chánh.
Pháp
liễu nghĩa thượng thừa không chủ
trương cúng dường để
được phước đức.
Cũng
không chủ trương chú nguyện ban
phước đức cho người cúng
dường.
Chủ
trương người thí, người nhận
đều là “Xứng tánh khởi tu”,
“Tùy thuận pháp tánh".
Người
thí và người nhận đều thành
Phật. Đến đó mới đạt mục
tiêu
*****
Đức Phật gọi Ông Tu Bồ Đề
bảo: “Hiện giờ trưởng giả Duy Ma
Cật đang bị bệnh. Tu Bồ Đề! Thầy
hãy đi thăm bệnh Ông ấy”.
1.- Ông Tu Bồ Đề thưa:
“Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma
Cật. Bởi vì trước đây, có
lần đi khất thực con ghé nơi nhà
Ông, lúc bấy giờ Ông lấy bình
bát của con sớt đầy một bát cơm
và nói với con rằng:
Thưa Ngài Tu Bồ Đề: người
khất thực ở nơi vật thực có tâm
bình đẳng, ở nơi các pháp cũng
có tâm bình đẳng. Ngược lại,
ở nơi các pháp có tâm bình
đẳng, ở nơi vật thực cũng có
tâm bình đẳng. Khất thực được
như thế, người khất thực mới xứng
đáng nhận lấy vật thực của
người thí chủ cúng dường.
2.- Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không
cần đoạn trừ dâm nộ si, mà cũng
tùy thuận với dâm nộ si. Không cần
hủy hoại thân nầy mà vẫn tùy
thuận tướng nhất (Nhất chơn pháp
giới), không cần diệt si ái mà cũng
có giải thoát. Ngay nơi tướng ngũ
đạo mà được giải thoát.
Không mở cũng không cột, không học
hạnh Tứ đế, không phải không học
hạnh Tứ đế. Không đắc quả,
không phải không đắc quả. Không
phải phàm phu, không phải xa rời pháp
phàm phu. Không phải Thánh nhân, không
phải không Thánh nhân. Dù thành
tựu tất cả pháp mà rời ngoài
cái tướng của tất cả pháp.
Được vậy, mới nên nhận
lấy vật thực của người cúng
dường.
3.-Còn nữa, thưa Ngài Tu Bồ
Đề! Không cần tìm gặp Phật.
Không cần nghe pháp Phật. Bọn lục sư
ngoại-đạo: Phú Lâu Na Ca Diếp, Mạc
Già Lê Câu Xa Lê Tử, Xan Xà Dạ
Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Da Xí Xá Khâm
Bà La, Ca La Câu Đà Ca Chiên Diên, Ni
Kiền Đà Nhã Đề Tử... Bọn
đó phải là thầy của Ngài. Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài hãy y chỉ
vào họ mà xuất gia. Họ đọa địa
ngục Ngài cũng đọa theo. Được
vậy mới xứng đáng tho ïnhận vật
thực của thí chủ cúng dường.
4.- Còn nữa, thưa Ngài Tu Bồ
Đề! Cứ xông pha trong các thứ tà
kiến, không cần tránh né để
đến Niết Bàn. Phải ở ngay trong bát
nạn, không được không nạn. Nhập
cuộc với phiền não, xa lìa pháp thanh
tịnh đi. Ngài được Tam muội vô
tránh, tất cả chúng sanh cũng
được Tam muội đó. Người thí
chủ của Ngài không được gọi
là gieo giống phước điền, kẻ
cúng dường Ngài đọa trong ba
đường ác. Họ là một cánh tay
của bọn ma khuấy rối. Ngài cùng
các bọn ma và các trần lao không
hơn kém. Đối với tất cả chúng
sanh phải có tâm oán. Chê báng
Phật, hủy mạ pháp, không làm Tăng
và không cần Niết Bàn. Nếu Ngài
được như thế thì mới xứng
đáng nhận lấy vật thực cúng
dường.
Bạch Thế Tôn! Ngài Tu Bồ
Đề thưa: Khi nghe những điều đó
tâm trí con mờ mịt, không còn biết
phải nói lời gì, và không biết
phải đối đáp ra sao. Con bèn để
bình bát xuống và muốn mau
được đi khỏi nhà Ông Duy Ma Cật.
Như đoán được ý con, Ông Duy Ma
Cật nói tiếp:
Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Ngài
cứ nhận lấy bát cơm đi, đừng
sợ. Ngài nghĩ thế nào? Giả như
đức Như Lai hóa hiện ra một
người, đem những điều như thế
đàm luận với Ngài thì Ngài
có sợ chăng...?
- Không sợ. Bạch Thế Tôn! Con
đáp như thế.
Ông Duy Ma Cật lại nói tiếp:
Tất cả các pháp như huyễn,
như hóa, Ngài không nên có ý sợ
sệt. Tất cả ngôn thuyết cũng là
huyễn hóa. Bậc trí giả không dính
mắc văn tự cho nên không có gì,
vì tánh của văn tự vốn không.
Hiểu được rằng văn tự vốn
không có tánh thì người đó
được giải thoát. Vì cái
tướng giải thoát chính là
tướng các pháp vậy.
Bạch Thế Tôn! Ông Tu Bồ
Đề thưa. Sau khi Trưởng giả Duy Ma Cật
nói thời pháp ấy rồi, có hai trăm
vị thiên tử được pháp nhãn
thanh tịnh. Do vậy, con không kham lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
1.- Ngài Đại Ca
Diếp khất thực bỏ nhà giàu, tìm
nhà nghèo đã sai. Ngài Tu Bồ
Đề bỏ nhà nghèo, tìm khất
thực nhà giàu lý lẽ cũng không
đúng.
Bỏ
giàu tìm nghèo, biểu lộ tánh chấp
trong việc làm. Bỏ nghèo tìm giàu,
biết đâu đó là thứ chứng
bệnh phổ biến của chúng sanh.
Dù
là tánh chấp hay là chứng bệnh cũng
là cái không nên có của một
đạo sĩ.
Phải
vận dụng tâm BÌNH ĐẲNG, thực
hiện tứ vô lượng tâm, đi con
đường “Trung đạo” noi dấu
chân Phật mà đi.
Giàu
nghèo là chuyện của chúng sanh,
người đạo sĩ không tham dự lo cái
lo đó.
Người
đạo sĩ có cái lo riêng, kể từ
lúc thế phát xuất gia hành đạo.
“...Nội
cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng
bất tránh chi đức”.
Đó
là mối lo chánh đáng của một
đạo sĩ.
2.-
Thâm ngộ “Thật tướng” là
vấn đề then chốt đối với một
đạo sĩ.
Không
thâm ngộ “Thật tướng” dù
có nói ”tu” thế nầy,
“Đọan” thế kia “Trừ” như
thế nọ chỉ là hí luận.
“Bất
cầu vọng tưởng bất cầu chơn”.
Thâm
nhập thật tướng, người đạo sĩ
đối diện với tất cả, không né
tránh, không trốn chạy, không dụng
công Đoạn, không gắng sức Trừ...
3.-
Gặp Phật qua 32 tướng tốt; gặp Phật
qua giọng thuyết pháp hay, chưa hẳn
đã gặp được Phật Như Lai.
Gặp
Như Lai Viên giác Diệu tâm mới thật
gặp được Phật và mới nghe
được pháp Phật.
*****
Đức
Phật gọi Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni
Tử đến bảo:
“Phú
Lâu Na! Ông hãy đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông
Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn! Con
không dám lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh Ông ấy.
Bạch
Thế Tôn! Trước đây vào một
hôm nọ, con ở trong khu rừng đại lâm,
cùng với một số tân học Tỳ Kheo
ngồi dưới bóng mát của một cây
cổ thụ. Lúc con đang thuyết pháp dạy
cho số Tỳ Kheo tân học, tình cờ
Trưởng giả Duy Ma Cật đến, nói
với con:
Thưa
Ngài Phú Lâu Na! Trước hết Ngài
phải nhập định quán xét tâm
tánh của các vị Tỳ Kheo, rồi sau
đó hãy thuyết pháp.
Thưa
Ngài Phú Lâu Na! Ngài không nên đem
thức ăn thiu bẩn mà đựng trong chén
ngọc đĩa vàng. Ngài phải biết
ý niệm của các vị Tỳ Kheo đang nghĩ
tưởng gì, nhiên hậu sẽ thuyết
pháp. Không nên xử dụng một thứ
nhìn đồng nhất rồi cho rằng lưu ly
và thủy tinh là một. Ngài chưa biết
căn cơ chủng tánh của chúng sanh thì
đừng đem pháp tiểu thừa mà dạy
cho họ. Họ vốn không có ghẻ,
đừng làm cho lở loét một con
người. Họ muốn đi đại lộ,
đừng chỉ cho họ ngõ hẹp quanh co.
Ngài đừng đem nước biển đựng
vào dấu chân trâu. Đừng lấy
ánh sáng mặt trời mà đọ với
ánh lập lòe của đom đóm.
Thưa Ngài Phú Lâu Na! Các vị
Tỳ Kheo ấy đã phát tâm đại
thừa từ lâu, khoảng giữa họ quên
đi tâm ý đó. Tại sao Ngài lấy
pháp tiểu thừa hướng dẫn cho họ
làm chi? Tôi nghĩ rằng thứ trí tuệ
của hàng tiểu thừa nhỏ nhen, cạn cợt
chẳng khác người đui. Họ không
thể phân biệt được ai độn
căn, ai lợi căn trong số chúng sanh, tâm
họ vốn còn trong trắng. Bấy giờ Ông
Duy Ma Cật liền nhập tam muội truyền một
lực tĩnh tâm khiến cho các vị Tỳ Kheo
kia tự biết túc mệnh của mình: Rằng
họ đã từng trồng sâu gốc rễ
phước ở 500 đức Phật từ thuở xa
xưa.
Mọi người tự xoay về quả
vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Thoạt nhiên họ liền trở lại
tâm đại thừa vốn có. Lúc bấy
giờ các vị Tỳ Kheo ấy đảnh lễ
dưới chân Ông Duy Ma Cật.
Sau thời pháp của Trưởng giả Duy
Ma Cật, các vị Tỳ Kheo ấy không còn
thoái chuyển đối với ngôi vị vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Bạch Thế Tôn! Ông Phú Lâu Na
thưa. Qua sự kiện đó con suy nghĩ rằng
hàng Thanh văn không thể quán xét
căn tánh của người thì không
nên thuyết pháp. Do vậy, hôm nay con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
Ông Duy Ma Cật!
TRỰC
CHỈ
Như ta đã biết.
Pháp có pháp liễu nghĩa và bất
liễu nghĩa. Có pháp Đại thừa
và Tiểu thừa. Có pháp cứu cánh
và pháp phương tiện.
Thế
nên thuyết pháp cần phải quán căn
cơ, nhìn đối tượng.
Hồi
tại thế, đức Phật thường vận
dụng “Tứ tất đàn” mỗi khi
thuyết pháp.
Do vậy, pháp Phật có ngũ thừa.
Ngài
Phú Lâu Na thuyết pháp không phải sai
pháp, nhưng sai đối tượng.
Sai
đối tượng người nghe không có
kết quả, pháp đúng trở thành sai.
Chiếc
áo trắng khi đã nhúng chàm, chiếc
áo sẽ không còn nhuộm màu đẹp
hơn được nữa.
Nhuộm
tâm hồn người ta bằng màu sắc
tiểu thừa là làm bẩn một tâm
hồn trong trắng.
Cầu
thần, khấn quỉ, van cô, lạy cậu,
truyền bá thứ đức tin đó lại
càng tệ lậu hơn nhiều. Người trí
gọi đó là mê tín.
Người
ta có khả năng đi đại lộ, không
nên chỉ ngõ hẽm quanh co. Chỉ sai
đường làm chận trễ bước
tiến của người đi, ơn không ra ơn
mà có thể còn là một cái
tội.
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh
thì tất cả chúng sanh đều có
chủng tánh Đại thừa. Được
hướng dẫn bằng pháp Đại thừa
thì hạt giống Đại thừa sẽ phát
triển.
Tu
mà cầu phước báu là chưa biết
giáo lý Phật.
Được
quả A La Hán là phước báu ư?
Được Niết Bàn an lạc là
phước báu ư? Thành Phật là
phước báu ư? Nói bậy!
Bồ
Đề, Niết Bàn là tự tánh vốn
có của mọi người. Ở địa vị
Thanh văn nó không tăng thêm, ở phàm
phu nó không giảm bớt.
Nước
trong trăng hiện, mây đen tan trời xanh hiện,
phiền não vô minh hết, Phật tánh
hiện.
Tất
cả quả vị “Chứng đắc”
không ai ban cho. Bồ Đề, Niết Bàn
không do Phật thưởng.
Nói
phước báu là nhằm dẫn dụ những
người sơ cơ. Đó là phương
tiện ở trong phương tiện.
Trâu
sắt không sợ tiếng rống của sư
tử. Người nộm không có ý bắt
chim sẻ. Thể nhập thật tướng còn ngu
si đâu nữa để kỳ thị với
bọn ngoại đạo lục sư.
Ngũ
uẩn thân hợp tan như mây nổi. Tham,
sân, si chìm nổi như bọt bèo. Thì
ai tạo nghiệp, ai chịu khổ?
4.-
Không đoạn vọng, chẳng cầu chơn.
Vì vọng chơn cả hai đều vọng.
Ở
trong nước đừng nhọc công kiếm
nước. Đứng trên non chớ phí sức
tìm non.
Ở
trong phiền não mà nhận lấy Bồ
Đề. Ở trong sanh tử thọ hưởng
Niết Bàn tự tại.
Được
như thế, người đạo sĩ xứng
đáng nhận lấy thức ăn. Và mục
đích khất thực mới đạt yêu
cầu.
*****
Đức Phật gọi Ông Ca Chiên
Diên bảo: “Ca Chiên Diên! Thầy hãy
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma
Cật”.
1.- Ông Ca Chiên Diên thưa:
“Bạch Thế Tôn! Trước kia con đã
từng được nghe Phật nói pháp
yếu cho các Tỳ kheo. Hôm nọ con cùng
các Tỳ Kheo hội họp lại, con bèn
trùng tuyên diễn nói lại về ý
nghĩa vô thường, khổ ,không, vô
ngã và tịch diệt...Lúc bấy giờ
Trưởng giả Duy Ma Cật đến, nói
với con rằng:
2.- Thưa Ngài Ca Chiên Diên! Ngài
không nên dùng tâm hành sanh diệt
mà nói pháp thật tướng. Thưa
Ngài, các pháp không sanh không diệt,
đó là nghĩa vô thường. Ngũ
ấm rỗng không, không có điểm sanh
khởi, đó là nghĩa khổ. Các
pháp rốt ráo không, không có nguồn
gốc, đó là nghĩa không. Ngã
và vô ngã không hai, đó mới
là nghĩa vô ngã. Các pháp xưa
không sanh, nay không diệt, đó là
nghĩa tịch diệt.
Sau khi Ông Duy Ma Cật diễn nói về
những pháp yếu đó, các Tỳ Kheo
tâm được cởi mở. Vì vậy
hôm nay con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.
TRỰC
CHỈ
Học Phật phải tập
nhìn vạn pháp qua hai mặt. Thuyết pháp
cũng vậy.
Pháp
có pháp tánh và pháp tướng.
Chưa ngộ nhập “thật tướng”,
chỉ nói được pháp tướng.
Thể nhập thật tướng mới được
pháp tánh.
Thấy
cái ta thật có, cho nên thấy cái ta
vô ngã.
Muốn
ngã và ngã sở trường cửu nên
thấy vạn pháp giai không.
Thấy
phiền não là thật, cho nên thấy
tịch diệt Niết Bàn.
Vô
thường, khổ, không, vô ngã, tịch
diệt, Ông Ca Chiên Diên càng diễn
giải tỉ mỉ chi ly, càng chứng tỏ tâm
Ông bị dính mắc càng nhiều.
Thật
tướng vạn pháp là CHƠN THƯỜNG.
Vì các pháp sanh không thật sanh. Các
pháp diệt không thật diệt. Sanh diệt
là hiện tượng tùy duyên, nhìn
bên mặt pháp tướng. Không sanh không
diệt là thật tướng các pháp
nhìn bên mặt pháp tánh.
Vì
thật tướng “VÔ” tướng.
Vì
thấy vạn pháp sanh diệt VÔ THƯỜNG cho
nên KHỔ.
Vì
thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ cho nên thấy
vạn pháp KHÔNG.
Vì
thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, cho nên
thấy vạn pháp VÔ NGÃ.
Vì
thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ
NGÃ, cho nên thấy TỊCH DIỆT NIẾT
BÀN cầu mong chứng đắc.
Nhìn
qua cái nhìn pháp nhãn của Thanh văn
là thế.
Nhận
biết thật tướng vạn pháp không sanh
diệt, cho nên biết vạn pháp THƯỜNG.
Vì biết vạn pháp THƯỜNG, cho nên
có CHƠN LẠC.
Vì biết vạn pháp CHƠN THƯỜNG,
CHƠN LẠC, cho nên có CHƠN NGÃ.
Vì biết vạn pháp CHƠN THƯỜNG,
CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, cho nên có CHƠN
TỊNH.
Với tuệ nhãn của Bồ Tát thì
vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC,
CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH.
Nhìn
vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC,
CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH thì NIẾT BÀN
TỊCH DIỆT còn dùng vào đâu
mà cầu mong “chứng” với
“đắc”.
Nhằm
xiển dương “thật tướng vô
tướng” của các pháp, Bồ Tát
Duy Ma Cật tung đòn “đối trị tất
đàn” để khủng bố tư
tưởng tiểu thừa của Ông Ca Chiên
Diên:
“Các
pháp không sanh không diệt là VÔ
THƯỜNG”.
“Ngũ
uẩn giai không là KHỔ”
*****
Đức Phật gọi Ông A Na Luật
bảo: “A Na Luật! Thầy hãy đi thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông A Na Luật thưa: “Bạch Thế
Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.
Bởi vì con nhớ một hôm nọ, con đang
kinh hành, bấy giờ có vị Phạm
Vương tên là Nghiêm Tịnh và
hàng ngàn Phạm Vương khác phóng
hào quang đến chỗ con, dập đầu
làm lễ và hỏi con rằng:
- Thưa Ngài A Na Luật! Thiên nhãn
Ngài chứng được có thể quan
sát thấy được bao xa?
Bạch Thế Tôn! Con trả lời với
Phạm Thiên Vương rằng: “Thiên
nhãn của tôi trông thấy cõi Tam
thiên Đại thiên thế giới của
đức Phật Thích Ca như xem trái quít
để trên bàn tay”.
Bạch Thế Tôn! Lúc bấy giờ Trưởng
giả Duy Ma Cật đến hỏi con:
Thưa Ngài A Na Luật! Thiên nhãn
của Ngài khi thấy có khởi tướng
tác ý hay không có tác ý? Giả
sử có khởi tướng tác ý thì
giống như cái thấy của bọn người
ngoại đạo được ngũ thông.
Còn như không khởi tướng tác ý
là vô vi, lẽ ra không có thấy.
Bạch Thế Tôn! Lúc đó con
chẳng biết nói gì, đành im lặng.
Các Phạm Thiên thì được sự
khinh an chưa từng có. Họ bèn làm
lễ Ông Duy Ma Cật và hỏi:
- Thưa Trưởng giả! Trên đời
nầy có ai là người được
chơn thiên nhãn?
Ông Duy Ma Cật đáp: Chỉ có
Phật Thế Tôn là người được
chơn thiên nhãn, thường ở trong chánh
định và thấy tất cả cõi
nước chư Phật không có tướng hai.
Bấy giờ Nghiêm Tịnh Phạm
Vương và năm trăm Phạm Thiên
Vương quyến thuộc đều phát tâm
vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Tất cả lễ lạy dưới chân
Ông Duy Ma Cật và thoạt nhiên biến
mất.
Vì duyên cớ đó, con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC CHỈ
“Nhục
nhãn ngại phi thông
Thiên nhãn thông phi ngại
Pháp nhãn quan nhất thể
Tuệ nhãn liễu tri không
Phật nhãn thể dụng đồng”.
Thiên
nhãn của Ngài A Na Luật do tu chứng.
Thiên nhãn của các Phạm Vương do
quả báo.
Thiên nhãn của Chư Thiên do “báo
đắc”, xử dụng tự nhiên, không
cần tác tướng.
Thiên nhãn của Ngài A Na Luật do
“chứng đắc”, khi xử dụng có
tác tướng.
Tác
tướng tức là khởi ý dụng công.
Dù
báo đắc hay chứng đắc, thiên
nhãn vẫn là thiên nhãn.
Biết
rộng là tối cần, thấy xa chưa quan
trọng
Thấy
để mà thấy. Dù thấy gần thấy
xa cũng vậy thôi.
Thấy
và biết toàn diện, thấy biết tận
nguồn gốc vạn pháp, đó là CHƠN
THIÊN NHÃN.
Với
CHƠN THIÊN NHÃN nhìn pháp giới
“bất nhị” không có tướng hai.
“Cần
phải tu học, nhìn pháp giới không
có tướng hai” ấy.
Đem
thiên nhãn “chứng đắc” so sánh
với thiên nhãn “báo đắc”
rốt cuộc chỉ là hý luận.
Mừng
rằng mình được thiên nhãn! Hãy
coi chừng! Ngày trở thành ngoại đạo
tà kiến không xa.
*****
Đức Phật gọi Ông Ưu Ba Ly bảo:
“Ưu Ba Ly! Thầy hãy đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông Ưu Ba Ly thưa: “Bạch Thế
Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.
Bạch Thế Tôn! Còn nhớ một
lần nọ có hai vị Tỳ Kheo lỡ phạm
luật hạnh, họ lấy làm xấu hổ
không dám đem việc ấy ra thưa với
Phật mà đến hỏi con rằng:
Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Hai chúng tôi
đã lỡ phạm luật hạnh, chúng
tôi lấy làm xấu hổ, không dám
đến thưa với Phật. Vậy xin Ngài
hãy chỉ giáo cho chúng tôi phải
làm gì để xóa hết được
cái lỗi ấy.
Bạch Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa.
Con liền như Luật mà giải đáp
rằng: Tứ khí thì tẩn xuất. Tội
tăng tàn thì bất cộng trú...
Bấy giờ Ông Duy Ma Cật đến
bảo con rằng: Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Ngài
đừng làm tăng tội cho hai vị Tỳ Kheo
kia. Hãy dừng ngay cách phán xử luật
nghi của Ngài đi! Thưa Ngài Ưu Ba Ly!
Tánh của tội không ở trong, không ở
ngoài, không ở chặng giữa. Đức
Phật đã từng dạy: Tâm cấu cho
nên chúng sanh cấu. Tâm tịnh thì
chúng sanh tịnh. Tâm cũng không ở trong,
không ở ngoài, không ở chặng giữa.
Tâm vốn đã NHƯ, tội cấu cũng
NHƯ và các pháp cũng NHƯ. Tất
cả không vượt ngoài tánh NHƯ.
Cũng như Ngài trong khi Ngài xử dụng
cái tướng của tâm giải thoát,
vậy lúc đó tâm Ngài còn có
cấu không?
- Không. Bạch Thế Tôn! Con đáp
như thế.
Ông Duy Ma Cật giảng tiếp:
“Tâm của tất cả chúng sanh cũng
giống như vậy, vốn không có
tướng cấu. Vọng tưởng là cấu,
không vọng tưởng là tịnh. Điên
đảo là cấu, không điên đảo
là tịnh. Chấp ngã là cấu, không
chấp ngã là tịnh.
Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Tất cả
pháp sanh diệt cũng dừng, như huyễn
hóa, như điện chớp không có chờ
nhau, cho đến trong một niệm cũng không
có trụ. Các pháp đều do vọng
thấy như chiêm bao, như ngấn nước
giữa cơn nắng gắt, như trăng đáy nước,
như bóng trong gương. Tất cả đều
do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết
kỹ những việc đó mới là người
trì luật chơn chánh. Người nào
hiểu rõ những điều đó mới
là người luận giải luật đúng
ý Phật.
Bạch Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa.
Sau giây phút lãnh hội pháp ngữ
hùng hồn siêu việt của Ông Duy Ma
Cật, hai vị Tỳ Kheo bèn tán thán:
Ôi! thượng trí thay! Ngài Ưu Ba Ly
không bằng được.
Đấy mới là người trì
luật tối thượng. Đấy mới là
người luận giải luật đệ nhất.
Tuyệt diệu thay! Không còn ngôn từ
tán thán cho vừa.
Bạch Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa.
Lúc đó con cũng cảm kích và
xúc động. Con nghĩ rằng: Ngoài
đức Như Lai ra, chưa có một vị Thanh
Văn, Bồ Tát nào có biện tài
lạc thuyết vô ngại của một bậc
trí tuệ thông đạt tuyệt luân như
vậy.
Bạch Thế Tôn! Khi bấy giờ hai
vị Tỳ Kheo kia dứt trừ mọi hoang mang sợ
sệt và dõng mãnh phát tâm vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Vì duyên cớ đó, con không dám
lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy
Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
Tội lỗi không có tánh cố
định. Cũng như phiền não vô minh
không có tánh cố định.
Lỡ làm sai, biết là sai thì
tội đã tự giảm khinh. Biết tội sanh
tâm hổ thẹn, tội đó phải
được xem như hết.
“Tội tánh bổn không”.
Tội không ở trong, không ở
ngoài, không ở chặng giữa. Tâm tạo
tội cũng không ở trong, không ở
ngoài, không ở chặng giữa.
“Tội tòng tâm khởi tòng
tâm diệt”.
Tâm cũng NHƯ. Tội cũng NHƯ.
Vạn pháp cũng NHƯ. Giải thoát cũng
NHƯ.
Tìm tâm trong ba thời, không có:
Tâm NHƯ.
Tìm tội trong ba thời, không có:
Tội NHƯ.
Tìm pháp trong ba thời, không trụ:
Pháp NHƯ.
Tìm tướng giải thoát trong ba
thời, không có: Giải thoát NHƯ.
NHƯ tức là NHƯ NHƯ, cũng
tức CHƠN NHƯ. Muốn đánh đổ
phá hoại, không phá hoại được.
Muốn xây dựng bồi bổ, không bồi
bổ được. NHƯ là tánh viên
mãn tự nhiên, tánh ly ngôn thuyết.
Tất cả pháp sanh diệt không
dừng, như huyễn như hóa. Tội cấu
cũng như vậy.
Không linh hoạt trong nguyên tắc: KHAI,
TRÌ, GIÁ, PHẠM vô tình tăng tội cho
người thêm nặng.
Bấy
giờ đức Thế Tôn gọi La hầu La
bảo: “La Hầu La! Thầy nên đi thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.
Ông La Hầu La thưa: “BạchThế
Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh trưởng giả! Bởi vì
trước đây có lần các
trưởng giả tử trong thành Tỳ Da Ly
đến chỗ con, cúi đầu làm lễ
và hỏi con rằng:
- Thưa Ngài La Hầu La! Ngài là con
của Phật, Ngài bỏ địa vị chuyển
luân thánh vương đi xuất gia hành
đạo. Vậy xin hỏi việc xuất gia
đó có được lợi ích gì?
Bạch Thế Tôn! Con vì các
trưởng giả tử, nói rõ những
cái lợi và công đức của việc
xuất gia. Bấy giờ Ông Duy Ma Cật đến
nói với con rằng:
1.- Thưa Ngài La Hầu La! Ngài không
nên nói về cái lợi và cũng
không nên nói về công đức của
việc xuất gia. Vì sao? Bởi vì không
có lợi, không có công đức mới
xuất gia. Bởi vì xuất gia thuộc về
pháp vô vi. Pháp vô vi không có
lợi và không có công đức.
Thưa Ngài La Hầu La! Luận về
xuất gia là không kia, không đây.
Không có cái giữa. Rời sáu
mươi hai thứ kiến chấp mà ở chỗ
Niết Bàn. Là việc của người
trí cảm nhận, bậc thánh thường
hành. Hàng phục các ma. Cứu độ
ngũ đạo.Thanh tịnh ngũ nhãn. Thành
tựu ngũ lực. Làm chủ ngũ căn.
Không não hại người. Xa lìa xấu
ác. Dẹp các ngoại đạo. Vượt
khỏi các giả danh. Ra khỏi bùn lầy
phiền não. Không có người buộc.
Không có ngã sở hữu. Không có
cái sở thọ. Lòng không khát vọng.
Giữ ý an vui. Thuận theo thiền định. Xa
rời các lỗi lầm. Nếu được
như thế, chính là chơn xuất gia.
Tiếp theo Ông Duy Ma Cật nói với
các trưởng giả tử:
2.- “Các vị hãy ở trong
chánh pháp và nên xuất gia trong chánh
pháp. Bởi vì người sanh ra trong đời
gặp được Phật rất là
khó”.
Các trưởng giả tử nói:
- Thưa cư sĩ! Chúng tôi nghe
Phật nói rằng, nếu cha mẹ không cho
thì không được xuất gia.
- Đúng vậy! Ông Duy Ma Cật
đáp: Nhưng các trưởng giả tử
đừng lo! Khi nào các vị phát tâm
vô thượng chánh đẳng chánh
giác thì chính lúc đó
được xem như xuất gia rồi và
đã thọ giới cụ túc rồi!
Khi bấy giờ có 32 vị trưởng
giả phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Bạch Thế Tôn! Vì duyên cớ
ấy, con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh!”.
TRỰC
CHỈ
Xuất
gia mục đích không phải vì lợi,
cũng không phải vì công đức.
Lợi
và công đức, chỉ để nói
với người có trí bậc hạ và
bậc trung. Bậc thượng trí vừa nghe,
đã biết sai từ căn bản.
1.-
Xuất gia là ra khỏi nhà tam giới, nhà
phiền não, tham, sân, si, mạn. Mục
đích tối hậu là đến bảo
sở Bồ Đề, Niết Bàn vô
thượng.
Xuất
gia là pháp vô vi. Không được
nói lợi, không được đề cập
công đức.
Xuất
gia là việc của người trí cảm
nhận, của bậc Thánh thường hành.
2.-
Xuất gia là quí. Phải xuất gia theo
chánh pháp, sống đúng chánh pháp.
Đó là:
“Thân xuất gia, tâm xuất gia”.
Xuất
gia đúng chánh pháp, sống không
đúng chánh pháp. Đó là:
“Thân xuất gia, tâm không xuất gia”.
Các
trưởng giả tử chưa có điều
kiện xuất gia hãy phát tâm cầu vô
thượng Bồ Đề.
Kể
từ phút phát tâm, xem như xuất gia
rồi, thọ cụ túc giới rồi. Đó
là:
“Tâm xuất gia, thân không xuất gia”.
*****
Đức
Phật gọi Ông A Nan và bảo: “A Nan!
Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả
Duy Ma Cật!”.
1.-
Ông A Nan thưa: “Bạch Thế Tôn! Con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh trưởng giả. Bởi vì trước
đây, có lần Như Lai trong người
hơi có chút bệnh, phải cần dùng
sữa. Con mang bình bát đến đứng
trước nhà của một đại Bà La
Môn để xin. Bấy giờ, Trưởng giả
Duy Ma Cật đến nói với con rằng:
-
Thưa Ngài A Nan! Ngài làm gì mang bình
bát đến đứng ở đây sớm
thế?
Con
đáp rằng:
-
Như Lai trong người hơi có bệnh, cần
phải dùng sữa, tôi đến đây
hóa duyên xin sữa cho Như Lai.
Ông Duy Ma Cật nói:
-
Thôi! Thôi! A Nan! Ngài đừng nói như
vậy. Thân Như Lai là thân Kim Cang, các
xấu ác đã hết, chứa nhóm tất
cả công đức thiện, nào có bệnh
tật, não hại gì?
Hãy
im! và đi đi! Ngài nói như vậy
là phỉ báng Như Lai đó. Đừng
để cho người ngoài họ nghe
được những lời bất kính đó!
Đừng để cho các hàng chư
Thiên đại oai đức và các Bồ
Tát ở các cõi Tịnh độ khác
nghe được những lời ấy!
2.-
Thưa Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh
Vương chỉ có phước đức chút
ít mà còn không bệnh, huống chi Như
Lai là thân Kim Cang hội tụ vô lượng
phước đức!
Hãy
đi đi, Ngài A Nan! Đừng để chúng
tôi phải chịu sự xấu hổ đó!
Hàng ngoại đạo Phạm Chí họ nghe
được những điều đó, họ
sẽ nghĩ gì về một bậc thầy của
chúng ta!
Bản
thân một vị thầy có bệnh mà
không thể tự cứu thì làm sao cứu
bệnh cho ai? Ngài hãy âm thầm đi nhanh
đi. Đừng để lộ ra cho người
ngoài nghe biết!
A
Nan! Ngài nên biết rằng: Thân của Như
Lai là pháp thân, không phải thân do
tư dục. Phật là bậc Thế Tôn
vượt ngoài tam giới. Thân Phật vô
lậu, vì các lậu đã hết. Thân
Phật vô vi, không đối đãi với các
số. Thân như thế thì còn có
bệnh gì?
-
Bạch Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Lúc
đó con rất là xấu hổ. Nghĩ rằng
con được hầu bên Phật há lại
nghe lầm ư? Liền đó, con tư nghe có
tiếng trong không trung vọng đến: A Nan! Lời
cư sĩ như thế là đúng, nhưng
vì Phật xuất hiện trong đời ngũ
trược ác thế thị hiện ra việc
làm như vậy nhằm hoá độ chúng
sanh. A Nan! Ông hãy đi xin sữa, đừng
có hổ thẹn!
Bạch
Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Ông Duy Ma Cật
có sức trí tuệ biện tài vô
ngại như thế, con không dám lãnh
trách nhiệm đến thăm bệnh.
Ngoài
mười vị đại đệ tử Thanh Văn
này, còn có năm trăm vị nữa ở
trước Phật đến trình bày duyên
cớ đã từng gặp Ông Duy Ma Cật
trước kia.
Tất
cả đồng xưng tán Trưởng giả Duy
Ma Cật và đồng thưa lên Phật,
rằng không dám đi thăm bệnh.
TRỰC
CHỈ
1.-
Người Thanh Văn xử dụng “pháp
nhãn” nhìn vạn pháp chỉ thấy
được pháp tướng.
Bồ
Tát nhìn vạn pháp bằng “tuệ
nhãn”, biết suốt căn nguyên, thấy
tột pháp tánh.
Nhìn
pháp chỉ thấy “pháp tướng”
thì nhìn Phật chỉ thấy “Phật
tướng”.
Thấy
“Phật tướng” thì rõ ràng
Phật có bệnh, Ông A Nan đi xin sữa
là phải.
Nếu
chỉ biết có “Phật tướng”, tu
sĩ dễ lạc “tà đạo” không
biết được Như Lai Phật.
2.-
Phải thâm nhập ngộ pháp tánh, mới
nhận thức rõ pháp thân.
Pháp
thân Phật là “bản thể ”của
ứng thân Phật.
Ứng
thân Phật là “tướng dụng”
của pháp thân.
Pháp
thân biến nhất thiết xứ. Là thể
bất sanh, bất diệt, vô thỉ, vô chung.
Nhìn
bằng tuệ nhãn sẽ thấy pháp thân
Phật không hề có bệnh.
Phải
hiểu Phật qua pháp thân mới thật
hiểu Phật.
Ứng
hóa thân chỉ là công cụ phương
tiện của Như Lai.
Nói
là: “tiếng vọng trong không trung”
người trí phải hiểu đó là
“tiếng lòng” phản tỉnh của Ông
A Nan qua những giây phút tiếp thu hơi ấm
lửa Đại thừa. Người khơi dậy
ngọn lửa trong đống tro tàn là Ông
Duy Ma Cật.
Trở
về với “pháp tướng” nhớ
“Phật tướng” ở tịnh xá
mà Ông A Nan phải tiếp tục đi xin sữa
cho Phật dùng!
CHƯƠNG
THỨ TƯ
BỒ
TÁT
Bấy
giờ đức Phật gọi Bồ Tát Di Lặc
bảo: “Di Lặc! Ông hãy đi thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật!”
Bồ Tát Di Lặc thưa: “Bạch
Thế Tôn! Con không kham nhận trách nhiệm
đi thăm bệnh trưởng giả! Bởi vì
trước đây, trong một hôm nọ con
vì Đâu Suất Thiên Vương và
một số chư Thiên quyến thuộc, dạy cho
họ về hạnh bất thối chuyển đối
với quả vô thượng Bồ Đề.
Bấy giờ Ông Duy Ma Cật đến bảo con
rằng:
- Thưa Ngài Di Lặc! Thế Tôn
thọ ký cho Ngài một đời sẽ
thành vô thượng Bồ Đề; vậy
Ngài định dùng đời nào, khi
Ngài nhận sự thọ ký ấy? Đời
quá khứ? Đời hiện tại? Hay đời
vị lai ư? Nếu đời quá khứ thì
đã qua rồi! Đời vị lai thì chưa
đến! Đời hiện tại? Có hiện
tại nào lại không vận động biến
chuyển? Có hiện tại nào tồn tại
cố định? Đức Phật đã
thường dạy: “Nầy các thầy Tỳ
Kheo! Ngay bây giờ, các thầy vừa có sanh,
vừa có lão, vừa có diệt vong!” Hay
là Ngài định xử dụng cái vô
sanh mà cho rằng được thọ ký ư?
Nói đến vô sanh tức là chánh
vị. Đã là chánh vị thì không
có vấn đề thọ ký và cũng
không có cái gọi là
“được” quả vô thượng
Bồ Đề. Thế thì làm sao Ngài Di
Lặc lại “được thọ ký” một
đời? Hay là Ngài dựa theo đời
của chân như sanh mà được thọ
ký? Hay là đời của chân như
diệt mà được thọ ký? Nếu
dựa theo đời của chân như sanh không
được. Vì chân như không có sanh.
Nếu dựa theo đời của chân như
diệt cũng không được. Vì chân
như không có diệt. Ngài nên biết
tất cả chúng sanh đều NHƯ. Tất
cả pháp đều NHƯ. Các thánh
hiền cũng NHƯ. Chính Di Lặc ngài cũng
NHƯ. Nếu Ngài được thọ ký
thì tất cả chúng sanh lẽ ra cũng
được thọ ký. Vì luận về
nghĩa NHƯ thì không còn có cái hai.
Không có cái nào khác với cái
nào. Nếu Ngài được vô
thượng Bồ Đề lẽ ra tất cả
chúng sanh cũng được quả vô
thượng Bồ Đề! Vì tất cả
chúng sanh là tướng của Bồ Đề.
Nếu Ngài được diệt độ thì
tất cả chúng sanh cũng phải được
diệt độ. Vì chư Phật biết tất
cả chúng sanh là tướng của Niết
Bàn vốn đã vĩnh cửu tịch diệt.
Cho nên chẳng còn gì để diệt
nữa. Vì vậy, Ngài không nên lấy pháp
bất thối chuyển mà dạy cho các
Thiên tử. Thực ra không có người
phát tâm vô thượng Bồ Đề
và cũng không có người thối
thất với quả vô thượng Bồ
Đề. Ngài nên hướng dẫn cho các
Thiên tử này xã bỏ quan niệm chấp
mắc về quả Bồ Đề. Vì sao? Vì
Bồ Đề không phải được từ
nơi thân, cũng không phải được
từ nơi tâm.
Tịch diệt là Bồ Đề, vì
diệt hết các tướng chấp.
Bất quán là Bồ Đề, vì
xa lìa hết các trần duyên.
Bất hành là Bồ Đề, vì
không lưu một ức niệm, một hy vọng
nào.
Đoạn là Bồ Đề, vì xa
lìa tất cả kiến chấp.
Ly là Bồ Đề, vì lìa xa
tất cả vọng tưởng.
Chướng là Bồ Đề, vì
chống lại tất cả mong muốn.
Bất nhập là Bồ Đề, vì
không dính dáng vào chuyện tục
lụy.
Thuận là Bồ Đề, vì
thuận theo chân như.
Trụ là Bồ Đề, vì hằng
trụ ở pháp tánh.
Chí là Bồ Đề, vì
đạt đến chỗ thật tế của
chân lý.
Bất nhị là Bồ Đề, vì xa
rời ý căn và pháp trần.
Đẳng là Bồ Đề, vì
bình đẳng như hư không.
Vô vi là Bồ Đề, vì
không sanh, không trụ, không dị, không
diệt.
Tri là Bồ Đề, vì rõ
biết hết tâm hành của chúng sanh.
Bất hội là Bồ Đề, vì
các nhập không nhóm được.
Bất hiệp là Bồ Đề, vì
dẹp tan hết các phiền não.
Giả danh là Bồ Đề, vì
biết rõ tánh của ngôn ngữ văn
tự vốn không.
Như hóa là Bồ Đề, vì
không còn dính ở thủ, xã hai bên.
Vô loạn là Bồ Đề, vì
tự tâm thường trụ tướng tịch
tĩnh.
Thiện tịch là Bồ Đề, vì
thể tự tánh lúc nào cũng vắng
lặng.
Bất thủ là Bồ Đề, vì xa
lìa hết các phan duyên.
Bất dị là Bồ Đề, vì
nhìn các pháp bằng cái thấy bình
đẳng.
Vô tỉ là Bồ Đề, vì
các pháp không có tướng đối
đải để so sánh.
Vi diệu là Bồ Đề, vì
các pháp khó biết mà biết rõ
tất cả.
-Bạch Thế Tôn! Bồ Tát Di Lặc
thưa. Khi Trưởng giả Duy Ma Cật thuyết
thời pháp ấy, hai trăm Thiên tử
được vô sanh pháp nhẫn. Vì vậy,
con không dám lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh”.
TRỰC
CHỈ
Kinh Phật thường
gọi đức Di Lặc là Bồ Tát nhất
sanh bổ xứ. Được Phật thọ ký
một đời sẽ thành vô thượng
Bồ Đề.
Tự
tin mình một đời sẽ thành tựu
quả vô thượng Bồ Đề. Bồ
Tát Di Lặc chẳng có lỗi gì. Đem
hạnh nguyện bất thối chuyển dạy cho
chư Thiên Đâu Suất cung, khiến cho
“bất thối chuyển” quả vô
thượng Bồ Đề, Bồ Tát Di Lặc
cũng chẳng có lỗi gì. Vì lợi tha
là Bồ Tát hạnh.
Điểm
yếu của Bồ Tát Di Lặc ở chỗ:
1.-
Tin vào ngữ ngôn Thọ Ký.
2.- Tin ở văn tự Một Đời.
3.- Tin ở quả chứng Bồ Đề.
Kinh
Hoa Nghiêm, “Nhật xuất tiên chiếu”
Phật dạy:
“Tất
cả chúng sanh sẽ thành Phật. Vì
tất cả chúng sanh đều có phước
đức trí tuệ Phật”.
Kinh
Pháp Hoa, “Nhật một hoàn chiếu”
Phật dạy:
“Tất
cả chúng sanh đã thành Phật”.
Xem
thế, không phải chỉ có Bồ Tát Di
Lặc được “Thọ ký” mà
tất cả chúng sanh cũng đã
được Phật thọ ký từ lâu
rồi.
Đời,
nói cách khác là Thời gian. Thời gian
thì không có “Mốc”. Chỉ dựa
trên hiện tượng vật chất, người
ta đánh giá “Mốc thời gian”.
Thời
gian thọ mệnh của rùa...
Thời gian thọ mệnh của người...
Thời gian thọ mệnh của “Cẩu”,
của “Kê”...
Thời gian thọ trưởng của cây tùng,
cây bách..
Thời gian thọ trưởng cam, quít, lựu,
lê...
Xóa
bỏ vật chất ra sẽ không có Đời.
Dựa trên vật chất để đánh
giá Đời, thì Đời chẳng có
gì để làm tiêu chuẩn.
Tin ở
ngữ ngôn văn tự, Bồ Tát Di Lặc
bị “Hố”, đối với chân lý
đệ nhất nghĩa.
Xưa kia
đức Thích Ca cũng có lần
được Phật Nhiên Đăng thọ ký
thành Phật sau này. Đức Thích Ca
hồi ấy có nghe; mà không để
lòng nghĩ ngợi đặt hy vọng ở lời
Thọ Ký của Phật Nhiên Đăng. Nhờ
vậy, đức Thích Ca thành Phật
trước.
Người thực khách
thông minh, không tin ở tấm biển “MAI
ĂN KHỎI TRẢ TIỀN” của tiệm ăn
quảng cáo có nhiều đặc sản ấy.
Trông
chờ hy vọng “quả vô thương Bồ
Đề”. Coi chừng! Sai một ly, đi một
dặm.
“Nhật
hành lãnh thượng mạc tầm sơn”!
Cần
phải khai quật Bồ Đề tâm, phát huy
Bồ Đề tự tánh. Đó mới là
con đường tiến đến vô thượng
Bồ Đề. Đi theo con đường đó
thì:
* Tịch
diệt là Bồ đề.
* Bất
quán là Bồ đề.
* Bất
hành là Bồ đề.
*
Đoạn là Bồ đề.
* Ly là
Bồ đề.
*
Chướng là Bồ đề
* Bất
nhập là Bồ đề.
* Thuận
là Bồ đề.
* Trụ
là Bồ đề.
* Bất
nhị là Bồ đề.
*
Đẳng là Bồ đề.
* Vô vi
là Bồ đề.
* Tri là
Bồ đề.
* Bất
hội là Bồ đề.
* Bất
hiệp là Bồ đề.
* Vô
xứ là Bồ đề.
* Giả
danh là Bồ đề.
* Như
huyễn là Bồ đề.
* Vô
loạn là Bồ đề.
* Thiện
tịch là Bồ đề.
* Vô
thủ là Bồ đề.
* Vô
dị là Bồ đề.
* Vô
tỷ là Bồ đề
* Vi diệu
là Bồ đề.
Bồ
Đề đạo là đạo tỉnh thức.
Bồ
Đề giả là người tỉnh thức.
Luôn
luôn tỉnh thức sống đúng, sống
hợp chân lý là sống trong Bồ
Đề đạo, không cần phải lo lắng
vấn đề “thối chuyển”. Ôm
tâm trạng “Sợ” thối chuyển là
đã sụp đổ một góc lâu
đài Niết Bàn rồi.
Cố
học và giữ gìn cái “Hạnh
bất thối chuyển”, càng làm
cho tòa Niết Bàn mờ ảo xa xăm hơn
Trước
mắt, Bồ Đề chưa thấy mà Niết
Bàn của các Thiên vương cứ sụp
đổ và mất hút dần.
Chưa
thâm ngộ “thật tướng” học
pháp “bất liễu nghĩa”, thực
hành pháp “bất liễu nghĩa”
thường bị “kẹt”. Nhìn Bồ
Đề Niết Bàn, còn bị bao phủ
những lớp sương mù “chấp
mắc”.
Đức Phật gọi Quang Nghiêm
Đồng Tử bảo: "Quang Nghiêm! Ông
hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma
Cật".
Quang Nghiêm Đồng Tử thưa:
"Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng
giả Duy Ma Cật! Bởi vì, trước
đây vào một hôm nọ, con từ
thành Tỳ Da Ly đi ra, Ngài Duy Ma Cật thì
từ ngoại thành đi vào. Con lễ phép
chào và hỏi:
- Thưa cư sĩ! Ngài từ
đâu đến đây?
Ông Duy Ma Cật đáp: Tôi
từ đạo tràng đến.
Con lấy làm lạ hỏi: Ngài
nói đạo tràng, vậy đạo tràng
nào? Ở đâu?
Ông Duy Ma Cật đáp:
Trực tâm là đạo tràng:
Tâm hạnh thành thật, thẳng thắn
không hư dối quanh co.
Phát hạnh là đạo tràng:
Siêng năng tinh tấn làm tất cả việc.
Thâm tâm là đạo tràng:
Luôn luôn vun bồi công đức và
làm tăng trưởng công đức.
Bồ đề tâm là đạo
tràng: Vận dụng trí tuệ trong sự
thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết...để
tránh mọi si mê lầm lạc.
Bố thí là đạo tràng:
Thí tài, thí pháp và thí cả
vô úy cho chúng sanh mà không hy vọng
đáp đền ơn nghĩa.
Trì giới là đạo tràng:
Giữ giới thanh tịnh đúng như chí
nguyện mong ước lúc phát khởi sơ
tâm.
Nhẫn nhục là đạo tràng:
Tâm được điều thuận, nhu nhuyễn
đối với tất cả chúng sanh không
còn bị chướng ngại.
Tinh tấn là đạo tràng: Không
lúc nào giải đãi trong việc học
chánh pháp, hành chánh pháp và
sống trong chánh pháp.
Thiền định là đạo tràng:
Tâm nhu hòa an ổn, không rong rủi ở
lục dục thất tình.
Trí tuệ là đạo tràng:
Thấy rõ bản chất vô thường, vô
ngã và bất tịnh của các pháp
đúng như thật.
Từ là đạo tràng:
Đối với tất cả chúng sanh đều
thương như con một.
Bi là đạo tràng: Vận dụng
mọi phương tiện cứu khổ cho chúng
sanh.
Hỉ là đạo tràng: Lúc
nào cũng vui mừng khi thấy người khác
được vui.
Xã là đạo tràng: Đoạn
hết mọi ý niệm ghét thương trong
lòng.
Thần thông là đạo
tràng: Thành tựu đầy đủ lục
thông.
Giải thoát là đạo tràng:
Luôn luôn vận dụng pháp bội xã
và sống trong pháp bội xã.
Phương tiện là đạo tràng:
Giáo hóa chúng sanh bằng nhiều hình
thức, tùy căn cơ, đối tượng.
Tứ nhiếp là đạo tràng:
Thuyết pháp độ chúng sanh bằng nhiều
cách và tùy cơ duyên mà hóa
độ.
Đa văn là đạo tràng: Nghe
chánh pháp rồi thực hành đúng
chánh pháp.
Phục tâm là đạo tràng:
Vận dụng chánh quán mà quán các
pháp.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo
là đạo tràng: Rời bỏ hết các
pháp hữu vi.
Tứ đế là đạo tràng:
Thấy đúng như thật, biết đúng
như thật, nói đúng như thật các
pháp thế gian.
Duyên khởi là đạo tràng:
Biết rõ từ vô minh cho đến lão
tử đều không có cái hết.
Các phiền não là đạo
tràng: Vì nhận biết sự tác hại
của phiền não một cách quyết
định.
Chúng sanh là đạo tràng: Vì
nhận biết sự hòa hợp, sự nương
gá tạm bợ, biết rõ tánh chất
vô thường vô ngã của chúng.
Tất cả pháp là đạo
tràng: Vì biết rõ tất cả pháp
vốn không.
Hàng ma là đạo tràng: Vì
biết trước các thế lực bất hảo
của ma.
Tam giới là đạo tràng: Dù
nhận có tam giới mà không bị ràng
buộc trong tam giới.
Sư tử hống là đạo tràng:
Vì sự thuyết pháp độ sanh đạt
đến vô sở úy.
Thập lực, tứ vô sở úy,
thập bát bất cộng pháp là đạo
tràng: Vì thân, khẩu, ý đã
thuần thục đạt đến chỗ tột
cùng của thanh tịnh, không còn có
sự sai lầm.
Tam minh là đạo tràng: Nhận
thức các pháp thấu suốt tận gốc,
tột nguồn.
Nhất niệm tri nhất thiết pháp
là đạo tràng: Vì thành tựu
nhất thiết chủng trí.
Thế đấy! Quang Nghiêm đồng
tử! Bồ Tát nếu ứng dụng trí
tuệ ba la mật giáo hóa chúng sanh thì
mọi hành động giở chân lên, hạ
chân xuống đều từ đạo tràng
đến và lúc nào cũng ở trong
Phật pháp vậy.
Bạch Thế Tôn! Quang Nghiêm thưa.
Trưởng giả Duy Ma Cật nói thời pháp
ấy rồi có năm trăm trời, người
đều phát tâm vô thượng Bồ
đề. Vì vậy con không dám lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh".
TRỰC
CHỈ
ĐẠO TRÀNG, thông thường
người ta có ba cách nghĩ:
Một, chỗ đức Phật thành
đạo dưới cội Bồ Đề
Hai, chỗ tụ hội của một tập
thể đông đảo.
Ba, chỗ làm chay có xô đàn
thí rế, cầu siêu, bạc tiền...
Trong nhận thức của Quang Nghiêm
đồng tử cũng chưa vượt ra ba ý
nghĩa đó.
Bồ Tát Duy Ma Cật trong dáng vẻ
ung dung tự tại đi vào nội thành Tỳ
Da Ly, khiến cho Quang Nghiêm đồng tử rất
ngạc nhiên khi nghe Ông Duy Ma Cật trả lời:
"Tôi từ đạo tràng
đến".
Một câu trả lời bình
thường như bao nhiêu ngữ ngôn bình
thường. Vậy mà sức công phá
hết sức lớn lao. Nó xé toạc màn
vô minh vĩnh viễn cho thế hệ tương lai,
vén mây ngút chỉ trời xanh cho những
người thức giả lúc bấy giờ
rằng:
Đạo tràng không phải là
chỗ Phật ngồi. Cũng không phải là
chỗ tụ hội của một nhóm người
đông đảo, cũng không phải
đám làm chay có xô đàn thí
rế, tụng tán chóc cheng...
- Trực tâm là đạo tràng.
- Thâm tâm là đạo tràng.
- Bồ Đề tâm là đạo
tràng.
- Phát hạnh là đạo tràng.
- Bố thí là đạo tràng.
- Trì giới là đạo tràng.
- Nhẫn nhục là đạo tràng.
- Tinh tấn là đạo tràng.
- Thiền định là đạo
tràng.
- Trí tuệ là đạo tràng.
- Từ là đạo tràng.
- Bi là đạo tràng.
- Hỉ là đạo tràng.
- Xã là đạo tràng.
- Đoạn là đạo tràng.
- Thần thông là đạo tràng.
- Giải thoát là đạo tràng.
- Phương tiện là đạo
tràng.
- Tứ nhiếp là đạo tràng.
- Đa văn là đạo tràng.
- Phục tâm là đạo tràng.
- Ba mươi bảy phẩm trợ đạo
là đạo tràng.
- Tứ đế là đạo tràng.
- Thập nhị nhân duyên là
đạo tràng.
- Các phiền não là đạo
tràng.
- Chúng sanh là đạo tràng.
- Tất cả pháp là đạo
tràng.
- Hàng ma là đạo tràng.
- Tam giới là đạo tràng.
- Sư tử hống là đạo
tràng.
- Thập lực là đạo tràng.
- Tứ vô sở úy là đạo
tràng.
- Thập bát bất cộng pháp là
đạo tràng.
- Tam minh là đạo tràng.
- Nhất niệm tri nhứt thiết pháp
là đạo tràng.
Bồ Tát sống trong các Ba la mật
môn, giáo hóa chúng sanh khiến cho họ
phát tâm thì nhất cử, nhất
động, giở chân lên, để chân
xuống đều từ đạo tràng đến
và ở chỗ nào, cũng là ở trong
Phật pháp.
Đức Phật gọi Bồ Tát Trì
Thế bảo: "Trì Thế! Ông hãy đi
thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật".
Bồ Tát Trì Thế thưa:
"Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng
giả.
Bạch Thế Tôn! Con còn nhớ một
hôm nọ con đang ở nơi tịnh thất,
bấy giờ có ma Ba tuần đem theo cả một
vạn hai ngàn Thiên nữ, giả dạng y như
Trời Đế Thích. Họ đánh trống
thổi kèn, đàn nhạc, ca hát, đi
đến chỗ con. Một số đông dập
đầu lễ lạy dưới chân con; rồi
chấp tay cung kính đứng trước con,
hàng ngũ trang nghiêm trật tự. Con nghĩ
họ là Trời Đế Thích. Con bèn
thuyết pháp cho họ rằng:
Quí hóa thay! Kiều Thi Ca! Các vị
có phước báu, nhưng không nên
buông lung, trong khi hưởng phước. Phải
quán ngũ dục là vô thường,
để trồng sâu cội phúc. Dựa trên
tự thân, trên của cải vô thường
mà tu tập quán chiếu, ngõ hầu
được cái thân bền chắc...!
Bấy giờ trong số người đó
nói với con rằng: Thưa Chánh sĩ!
Chúng tôi xin hiến cho Ngài, hai nghìn
Thiên nữ này, Ngài hãy nhận
để làm người hầu hạ. Họ sẽ
giúp đở cho Ngài công việc khi cần.
Bạch Thế Tôn! Lúc bấy giờ con
bèn nói với họ: Kiều Thi Ca! Không
nên đem hàng Thiên nữ như thế
mà hiến tặng cho sa môn Thích tử
chúng tôi. Việc làm đó phi pháp,
hàng sa môn Thích tử chúng tôi
không thể nhận những người như
thế để giúp việc.
Con nói chưa dứt lời thì Ông
Duy Ma Cật đến, bảo con rằng:
Nầy Ngài Trì Thế! Họ không
phải là Đế Thích. Họ là ma
đến để trêu ghẹo ông đấy.
Ông Duy Ma Cật bèn nói với
các ma: Các cô gái kia ơi! Hãy
hiến các cô cho tôi! Như tôi đây
mới là người đáng nhận sự
hầu hạ giúp đở của các cô.
Bấy giờ bọn ma rất sợ hãi,
nghĩ rằng: Có thể Ông Duy Ma Cật sẽ
làm bức não chúng ta!
Tất cả đều muốn biến
hình trốn đi, nhưng vẫn không biến
được. Chúng vận hết sức thần
cũng không sao ẩn hình trốn thoát.
Bỗng nhiên, trên không trung có tiếng
vọng lên rằng: "Ma Ba tuần hãy hiến
tặng các cô gái ấy đi thì mới
có thể rời khỏi nơi đó".
Bọn ma cả sợ, lạy sấp, lạy
ngửa mà dâng.
Bấy giờ Ông Duy Ma Cật bảo
các cô gái rằng: Ma đã hiến
các cô cho tôi rồi! Các cô nên
phát tâm vô thượng Bồ Đề
đi!
Sau đó, tùy căn tánh mỗi
người, trưởng giả Duy Ma Cật thuyết
pháp khiến cho hàng ma nữ vui mừng phát
tâm hướng về Phật đạo...
Trưởng giả Duy Ma Cật dạy tiếp:
Các cô đã phát tâm theo Phật
đạo, các cô sẽ có cái vui
chính của các cô, mà không cần
đến cái vui của ngũ dục nữa.
Thiên nữ hỏi: Cái vui đó
là thế nào?
Ông Duy Ma Cật đáp: Vui thường
tin Phật. Vui ham nghe Pháp. Vui cúng dường
Tăng. Vui vĩnh ly ngũ dục. Vui quán ngũ
ấm như ác tặc. Vui quán tứ đại
như độc xà. Vui quán nội nhập
như rỗng không. Vui thuận theo ý đạo.
Vui lợi ích chúng sanh. Vui kính trọng
và cúng dường sư trưởng. Vui
làm bố thí được nhiều. Vui giữ
giới kiên trì và thanh tịnh. Vui nhẫn
nhục nhu hòa. Vui siêng nhóm thiện căn.
Vui thiền định không loạn. Vui cấu
hết, tuệ sanh. Vui được tâm Bồ
Đề rộng lớn. Vui hàng phục các ma.
Vui đoạn các phiền não. Vui thấy
cõi Phật thanh tịnh. Vui thành tựu tướng
hảo. Vui tu các công đức lành. Vui trang
nghiêm đạo tràng. Vui nghe pháp sâu xa
mà không sợ. Vui với tam giải thoát
môn. Vui gần bạn đồng học. Vui ở trong
chỗ phi đồng học mà tâm không
bị chướng. Vui chuyển hóa được
những người ác tri thức. Vui tâm
thường thanh tịnh. Vui tu vô lượng
đạo phẩm. Đó là pháp vui của
Bồ Tát, các cô nên biết. Khi bấy
giờ, Ma Ba tuần bảo các ma nữ rằng: Ta
muốn các ngươi cùng ta hãy trở
về thiên cung.
Các ma nữ nói: đã hiến
chúng tôi cho cư sĩ, bấy giờ chúng
tôi có được pháp vui, chúng tôi
vui lắm rồi. Từ đây chúng tôi
không thích cái vui ngũ dục nữa.
Ma Ba tuần nói: Thưa cư sĩ! Mong
Ngài thả các cô ấy đi! Theo chúng
tôi biết Bồ Tát hạnh là xả
thí tất cả các sở hữu của
mình cho người khác.
Ông Duy Ma Cật nói: Tôi đã
thả rồi, các cô tự ý mà đi.
Các cô hãy nhớ làm thế nào cho
chúng sanh đều được học chánh
pháp như các cô vậy.
Bấy giờ các cô gái hỏi
Ông Duy Ma Cật: Khi trở về cung ma, chúng
tôi phải làm gì? Thưa Ngài Duy Ma
Cật!
Ông Duy Ma Cật bảo: Này các
cô! Có pháp môn tên là :"Vô
tận đăng", các cô hãy siêng
năng tu học. Vô tận đăng có nghĩa
là cây đèn vô tận. Ví như
một ngọn đèn đem mồi thêm ra cả
trăm ngọn đèn, khiến cho chỗ tối
được sáng, sáng rộng và sáng
mãi mà ngọn đèn nguyên thủy
chẳng hao mòn chút ánh sáng nào.
Cũng như vậy, thưa các cô! Bồ
Tát có thể dạy dỗ cho trăm, ngàn
chúng sanh khiến cho họ phát tâm vô
thượng Bồ Đề mà đạo tâm và
đạo hạnh của Bồ Tát chẳng có
giảm sút. Ví như ngọn vô tận
đăng ấy! Các cô dù ở cung ma xử
dụng pháp "Vô tận đăng"
khiến cho chư Thiên tử, thiên nữ phát
tâm vô thượng Bồ Đề, thì
chính các cô đã đền đáp
thâm ân Phật.
Bấy giờ các Thiên nữ đầu
mặt lễ dưới chân Ông Duy Ma Cật.
Lễ xong, cùng theo thiên ma về cung. Tất
cả hốt nhiên biến mất.
Bạch Thế Tôn! Bồ Tát Trì
Thế thưa: Trưởng giả Duy Ma Cật có
trí biện tài tự tại như thế, cho
nên con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh".
TRỰC
CHỈ
Ma Ba Tuần mà nhận là Thiên
Đế Thích. Thế là lầm lẫn
đối tượng trong khi thuyết pháp.
Pháp thuyết sai đối tượng
không phát huy được công dụng
của pháp. Thuốc hay trị không đúng
bệnh mất đi công hiệu của thuốc.
Bệnh trị không đúng thuốc, uống
thuốc cũng như không.
Sợ ma bị ma nhiểu loạn. Không
sợ ma, ma sợ lại. Bồ Tát Trì Thế
không dám nhận "Thiên nữ", lại
được ép tặng 'Thiên nữ" cho.
Bồ-Tát Duy Ma Cật rất bằng lòng
nhận các "Thiên nữ", tất cả
"Thiên nữ" đều kinh tâm táng
đởm.
Đối với ma quân, Bồ Tát
gặp lúc cần phải trực diện
đương đầu. Từ đó thi thố
khả năng điều phục.
Phật tánh tùy duyên nhi bất
biến. Bất biến nhi tùy duyên.
Dù là "Nữ thiên ma", khi
gặp thiện tri thức khai thị Phật tri kiến
cho mình, ma có khả năng quay về chánh
đạo, phát tâm cầu tiến vô
thượng Bồ Đề.
Vui trong ngũ dục, là cái vui của
người nướng mình trên hầm lửa.
Cái vui của con người bệnh hoạn.
nhiễm nặng vi rút vô minh.
Người trí chọn cho mình cái
vui trường cửu ở mọi hoàn cảnh
ở mọi thời gian. Bồ Tát Duy Ma
Cật nói:
Vui thường tin Phật. Vui ham nghe Pháp.
Vui cúng dường Tăng.Vui vĩnh ly ngũ dục.
Vui quán ngũ ấm như oán tặc. Vui
quán tứ đại như độc xà. Vui
thuận theo ý đạo. Vui lợi ích chúng
sanh. Vui kính trọng sư trưởng. Vui bố
thí được nhiều. Vui giữ giới thanh
tịnh. Vui nhẫn nhục nhu hòa. Vui tinh tấn
thiện hạnh. Vui thiền định không loạn.
Vui trí tuệ tăng trưởng.
Dù là thiên ma, khi phát Bồ
đề tâm là đã "Hồi đầu
thị ngạn". Bấy giờ các thiên nữ
có cái vui chân thật không còn
thích cái vui ngũ dục nữa. Các cô
từ chối không muốn trở lại ma cung.
Bồ Tát Duy Ma Cật cho rằng các
cô có thể trở về ma cung mà chẳng
có tổn hại gì.
"Ngọc trắng dù ở trong bùn
bẩn, không vì vậy mà hoen ố sắc
màu".
"Người phát Bồ Đề
tâm dù ở trong cảnh trược, không
vì vậy nhiễm loạn chất thanh cao".
Điều cốt yếu, các cô
hãy luôn luôn bồi dưỡng trí
tuệ, phát Bồ đề tâm ngày thêm
rộng lớn.
Để đền đáp ơn Phật,
các cô hãy mồi thêm mãi "Vô
tận đăng" khiến cho chỗ tối
được sáng, chỗ sáng được
rực rỡ huy hoàng.
Vô tận đăng tức là ngọn
đèn chánh pháp. Học Bồ Tát
hạnh, các cô có trách nhiệm truyền
bá rộng rãi đến tất cả, khiến
cho thiên tử, thiên nữ phát Bồ
đề tâm thì các cô đền
đáp được thâm ân Phật.
*****
Bấy giờ Phật gọi trưởng
giả tử Thiện Đức bảo: "Thiện
Đức! Ông hãy đi thăm bệnh
trưởng giả Duy Ma Cật".
Thiện Đức thưa: "Bạch Thế
Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Vì trước
đây, lúc ở tại nhà của thân
phụ, con có thiết lập một hội
đại thí, kỳ hạn bảy ngày cúng
dường các sa môn, Bà la môn, ngoại
đạo và bố thí cho tất cả những
người nghèo khó, cho những kẻ ăn xin.
Khi bấy giờ, Ông Duy Ma Cật đến nói
với con rằng:
Thưa trưởng giả tử! Hội
đại thí lập như vậy chưa
đúng. Ngài lập hội tài thí trong
bảy ngày, những người được
thọ thí đở khổ trong bảy ngày. Sau
bảy ngày họ không còn gì nương
cậy. Ngài nên lập hội pháp thí
mới đem lại lợi ích lâu dài cho
người thọ thí.
Con hỏi: Hội pháp thí là
thế nào?
Ông Duy Ma Cật nói: Hội pháp
thí không phải chỉ có lợi cho thời
gian trước hay thời gian sau, trong một thời
cúng dường cho tất cả chúng sanh.
- Thế nghĩa là sao? Thưa cư sĩ,
con hỏi.
- Nghĩa là vì vô thượng
Bồ đề, khởi từ tâm. Vì cứu
độ chúng sanh, khởi bi tâm. Vì hộ
trì chánh pháp, khởi hỉ tâm. Vì
sự nghiệp trí tuệ, khởi xả tâm.
Vì hóa độ xan tham khởi bố thí ba
la mật. Vì hóa độ phạm giới,
khởi trì giới ba la mật. Vì biết
rõ tánh vô ngã của các pháp,
khởi nhẫn nhục ba la mật. Vì biết
rõ thân tâm như huyễn, khởi tinh tấn
ba la mật. Vì Bồ đề, khởi thiền
định ba la mật. Vì nhất thiết chủng
trí, khởi bát nhã ba la mật. Vì
giáo hóa chúng sanh, khởi quán vạn
pháp giai không. Nhằm trực diện với
các pháp hữu vi, khởi quán chư
tướng vô tướng. Thị hiện thọ
sanh, mà khởi quán không, vô tác. Nhằm
truyền bá chánh pháp, khởi nhiều
phương tiện. Nhằm hóa độ chúng
sanh, thực hành pháp tứ nhiếp. Vì cung
kính tất cả, khởi trừ tâm ngã mạn.
Vì biết rõ thân mệnh tài như
huyễn, khởi ái mộ pháp thân, bát
nhã và giải thoát. Đối với
lục niệm, thường khởi tưởng niệm.
Đối với pháp lục hòa, khởi tâm
chánh trực. Dùng tâm hoan hỉ, khởi
ý gần gủi thánh hiền. Khởi tâm
điều phục, không ghét người ác.
Với pháp xuất gia, khởi tâm kính
mộ. Vì tri hành không lệch lạc,
khởi ý chí đa văn. Nhằm tránh
mọi ràng buộc, khởi ý đặt
mình như ở chỗ cô tịch. Nhằm
đạt đến Phật tuệ, khởi chí
tọa thiền. Vì ái mộ cõi Phật thanh
tịnh, khởi làm việc phước đức.
Thế đấy, Thiện nam tử! Nếu
Bồ Tát lập hội pháp thí như
thế, thì vừa là đại thí chủ
vừa là phước điền cho tất cả
chúng sanh.
Bạch Thế Tôn! Trưởng giả
tử Thiện Đức thưa. Ông Duy Ma Cật
thuyết thời pháp ấy, có hai trăm Bà
la môn phát tâm vô thượng Bồ
Đề. Riêng con cảm thấy tâm mình
được cởi mở nhẹ nhàng thanh
thoát. Con đảnh lễ dưới chân Ông
và cởi xâu chuổi anh lạc giá trị trăm
ngàn vàng dâng cúng; nhưng Ông Duy Ma
Cật không nhận.
Sau lời thỉnh cầu, hiến dâng
thành khẩn của con, Ông Duy Ma Cật nhận
lấy và liền chia làm hai phần. Một
phần bố thí cho người hành khất
tối hạ cơ cực nhất. Một phần Ông
dâng cúng đức Nan Thắng Như Lai. Khi
bấy giờ cả chúng hội đều được
thấy cõi nước trang nghiêm của
đức Nan Thắng. Đồng thời thấy
chuỗi anh lạc biến thành bốn trụ cột
của một bảo đài. Bốn mặt
đài đẹp đẽ trang nghiêm và trong
suốt không chướng ngại nhau.
Ông Duy Ma Cật nói với đại
chúng rằng: Một thí chủ bố thí cho
người hành khất tối hạ bằng tấm
lòng bình đẳng y như cúng dường
đấng Như Lai phước điền tối
thượng. Cúng dường và bố thí
phát xuất từ một bi tâm. Không hy
vọng trả ơn không mong cầu phước
báu.
Đó là mô hình của hội
pháp thí viên mãn nhất.
Bạch Thế Tôn! Trưởng giả
tử Thiện Đức thưa: Những người
hành khất tối hạ thấy thần lực
của Ông Duy Ma Cật và nghe thuyết những
pháp thậm thâm như thế, họ đều
phát tâm hướng về vô thượng
Bồ Đề. Vì duyên cớ đó, con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm
bệnh trưởng giả Duy Ma Cật".
Nhiều vị Bồ Tát ở trước
Phật cùng trình bày những trường
hợp bị khiển trách của mình. Tất
cả đều từ khước không dám
đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
TRỰC
CHỈ
Bố thí cúng dường là
hạnh thứ nhất trong lục độ Ba la mật.
Bố thí cúng dường đúng
chánh pháp, lợi mình, lợi người,
lợi ở hiện tại và tương lai.
Bố thí cúng dường không
đúng chánh pháp có thể đem
lại cho mình hậu quả khổ đau đời
nầy kiếp nọ. Phật là người trí
mới thấy biết hết điều nầy.
Bố thí cúng dường có hai
cách: Một, thí tài. Hai, thí pháp.
Bố thí tài có hai cách:
Một, nội tài. Hai, ngoại tài.
Nội tài, người tại gia hay
xuất gia đều làm được.
Ngoại tài, để cho vua quan, cư
sĩ, cận sự nam, cận sự nữ.
Cúng dường đồng nghĩa như
bố thí. Cúng dường là bố thí
cho kẻ bề trên. Bố thí là cúng
dường, không phân biệt đối
tượng.
Người thọ lễ cúng dường,
kẻ nhận quà bố thí, thực chất
đều là "Khất thực", không ai
hãnh diện hơn ai.
Đó là dụng ý thâm sâu
của Thế Tôn ta về bài học "Diệt
ngã vì vô ngã".
Tài thí giúp cho người
"đở ngặt" chưa giúp được
"đỡ nghèo". Yêu cầu "đở
khổ" tài thí chẳng gíúp
được gì.
Đạo Phật lấy sự cứu khổ
là chánh: Cứu ngặt, cứu nghèo,
phần việc đó có vua, quan, cư
sĩ...Các nhà khoa học, kỹ thuật, kinh
tế gia chăm lo việc xã hội ấy.
Lập hội pháp thí mới là
cứu khổ cho tất cả mọi người trong
mọi giai tầng xã hội. Lợi ích của
pháp thí không có biên giới. Vua. quan,
cư sĩ giàu nghèo, sang hèn đều
có khổ. Chỉ khác nhau hoàn cảnh
và môi trường. Khổ không có ranh
giới quá khứ, hiện tại hay tương lai.
Chỉ có hội pháp thí trong
một thời mới có thể cúng dường
cho tất cả.
Người hoàn thành pháp thí
hội, vừa là đại thí chủ, vừa
là phước điền cho tất cả chúng
sanh.
Người hoàn thành pháp thí
hội phải là người làm được
những việc sau:
- Vì vô thượng Bồ Đề,
khởi tâm Từ.
- Vì cứu độ chúng sanh, khởi
tâm Bi.
- Vì hộ trì chánh pháp,
khởi tâm Hỉ.
- Vì sự nghiệp trí tuệ, khởi
tâm Xả.
- Vì độ xan tham, khởi Bố thí
ba la mật.
- Vì độ sai trái của ba
nghiệp, khởi Trì giới Ba la mật.
- Vì độ tánh chấp ngã,
khởi Nhẫn nhục Ba la mật.
- Vì nhận rõ thân tâm như
huyễn, khởi Tinh tấn Ba la mật.
- Vì Bồ Đề, khởi Thiền
định Ba la mật.
- Vì nhất thiết chủng trí,
khởi Trí tuệ Ba la mật.
- Vì giáo hóa chúng sanh, khởi
Vạn pháp giai không.
- Vì đối diện các pháp
hữu vi, khởi Chư pháp vô tướng.
- Vẫn thọ sanh khởi Không vô
tác.
- Vì hoành dương chánh pháp,
khởi nhiều Phương tiện.
- Vì hóa độ chúng sanh, khởi
Tứ nhiếp pháp.
- Vì biết rõ thân, mệnh,
tài như huyễn, khởi tâm ham mộ Pháp
thân Bát nhã, giải thoát.
- Vì tri hành chân lý, khởi
Đa văn.
- Vì giải thoát triền phược,
khởi Cô tịch độc hành.
- Vì Phật trí tuệ, khởi Tọa
Thiền...
Nói tóm lại, những kinh điển
Đại thừa khó nghe, khó hiểu, khó
tin, khó hành. Mà nghe được, hiểu
được, tin được và thực hành
được. Từ đó, mình được
giác ngộ, giải thoát trước rồi
mới truyền bá cho mọi người học tu
để cùng được giác ngộ,
giải thoát.
Đó là cách cúng dường
ưu việt nhất. "Chư cúng dường
trung, pháp cúng dường tối".
Người cúng chuỗi anh lạc phát
xuất từ tâm thanh tịnh vô cầu.
Người nhận chuỗi, không thấy
nhận, thỏa lòng ham muốn.
Một phần cúng dường người
ăn xin tối hạ. Một phần cúng
dường đức Nan Thắng Như Lai tối
thượng.
Tuyệt diệu thay! Tinh thần Bình
đẳng!
Năng sở bình đẳng. Cao hạ
bình đẳng.
Do vậy chuỗi anh lạc kết thành
bốn cột trụ trong suốt của tòa bảo
đài chân lý.
CHƯƠNG THỨ NĂM
Bấy giờ đức Phật bảo Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi: "Văn Thù!
Ông hãy đi thăm bệnh Trưởng giả
Duy Ma Cật".
Bồ Tát Văn Thù thưa:
"Bạch Thế Tôn! Bậc thượng nhân
kia khó đối đáp với Ông khi
đàm đạo. Ông đã quán
triệt sâu sắc thực tướng. Thuyết pháp
rất giỏi. Biện tài vô ngại, trí
tuệ siêu thường. Ông biết hết
pháp thức của Bồ Tát. Thâm nhập kho
tàng bí mật của chư Phật. Hàng
phục ma quân. Thần thông du hí. Trí
tuệ, phương tiện đáng làm thầy
người. Dù vậy, vâng lời Phật, con
sẽ đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma
Cật".
Các Bồ Tát, Thinh văn, Phạm
Thiên, Đế Thích, Tứ Thiên vương
cùng có ý niệm: Nay hai vị đại
sĩ Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật
đàm đạo, chắc sẽ nói những
pháp mầu nhiệm sâu xa. Chúng hội cả
mấy ngàn người đều muốn tháp
tùng.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi
cùng đại chúng tùy tùng hàng
hàng, lớp lớp trang nghiêm cung kính đi
vào Tỳ Da Ly đại thành để thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.
1.- Ông Duy Ma Cật biết Bồ Tát
Văn Thù và đại chúng sắp
đến. Ông cho dẹp hết các vật sở
hữu chỉ để tịnh thất trống.
Không có thị giả và độc nhất
có một cái giường, bệnh nhân
là Ông Duy Ma Cật nằm choán hết.
2.- Bồ Tát Văn Thù vào thất
thấy sự kiện có vẻ lạ thường
chưa hỏi han được gì, trưởng
giả Duy Ma Cật cất tiếng:
- Quý hóa thay! Ngài Văn Thù
Sư Lợi đến mà không có
tướng đến. Thấy mà không có
tướng thấy.
Bồ Tát Văn Thù đáp:
Đúng vậy, thưa cư sĩ. Nếu đến
thì lại chẳng đến. Nếu đi thì
lại chẳng đi. Bởi vì đến không
chỗ "Từ". Đi không chỗ
"Tới". Gọi là "Thấy" kỳ
thật chẳng thấy gì.
Thôi chúng ta gác lại chuyện
ấy. Xin hỏi bệnh của cư sĩ có
được đở chưa! Trị liệu có
bớt không? Thế Tôn ân cần thăm
hỏi và lo lắng lắm đó.
Do nguyên nhân gì cư sĩ phát
sanh bệnh như thế? Bệnh đã bao lâu
rồi và phải làm sao cho hết?
3.- Ông Duy Ma Cật nói: Vì có si
mê ái nhiễm mà bệnh của tôi sanh.
Vì tất cả chúng sanh bệnh cho nên
tôi bệnh. Nếu tất cả chúng sanh
không bệnh thì bệnh của tôi lành.
Bởi vì Bồ Tát vì chúng sanh cho
nên vào trong sanh tử. Có sanh tử thì
có bệnh. Nếu chúng sanh khỏi bệnh
thì Bồ Tát không còn bệnh nữa.
Ví như trưởng giả có một
đứa con, đứa con bệnh, cha mẹ cũng
bệnh theo. Nếu bệnh của con lành thì
bệnh của cha mẹ cũng lành. Bồ Tát
cũng như vậy. Với chúng sanh thương
như con một. Chúng sanh bệnh thì Bồ
Tát bệnh. Chúng sanh lành bệnh thì
bệnh của Bồ Tát cũng lành.
Ngài hỏi: Do nguyên nhân gì,
bệnh của tôi phát sanh.
4.- Xin thưa: Bệnh của Bồ Tát
phát sanh do tâm đại bi.
Bồ Tát Văn Thù hỏi: Vì sao
thất của Ngài trống không và không
có thị giả?
Trưởng giả Duy Ma Cật đáp:
- Cõi nước của chư Phật
cũng không như vậy.
- Do đâu mà biết không?
- Do trống không cho nên biết không.
- Dùng không để không cái
gì?
- Dùng không để không phân
biệt.
- Đã không thì phân biệt
được gì?
- Phân biệt cũng không.
- Tìm cái không ở đâu,
dựa vào đâu để nhận biết?
- Dựa vào 62 kiến chấp của
ngoại đạo.
- 62 kiến chấp phải tìm ở
đâu?
- Tìm trong đức giải thoát
của chư Phật.
- Đức giải thoát của chư
Phật tìm ở đâu?
- Tìm nơi tâm tánh của tất
cả chúng sanh.
5.- Thưa Ngài Văn Thù! Ngài
hỏi vì sao tôi không có thị giả.
Thưa Ngài: Tất cả ma quân và các
ngoại đạo là thị giả của tôi.
Bởi vì ma quân rất ưa sanh tử, mà
Bồ Tát thì ở trong sanh tử không xa
rời. Ngoại đạo ưa kiến chấp, Bồ
Tát thì ở trong kiến chấp mà không
động.
5.- Bồ Tát Văn Thù hỏi: Bệnh
của cư sĩ trạng huống ra sao?
- Bệnh của tôi không hình
trạng không thấy được.
- Bệnh của Ngài thuộc thân hay
thuộc tâm?
- Không phải thuộc thân vì
tôi đã ly cái tướng thân. Cũng
không phải thuộc tâm, vì tâm như
huyễn.
- Địa, thủy, hỏa, phong, trong bốn
đại, Ngài bệnh đại nào?
- Bệnh của tôi không phải
địa đại nhưng không rời địa
đại. Không phải thủy, hỏa, phong; cũng
không rời thủy, hỏa, phong. Bệnh của
chúng sanh phát từ tứ đại. Chúng
sanh bệnh cho nên tôi bệnh.
7.- Bồ Tát Văn Thù hỏi: Khi
một Bồ Tát nhuốm bệnh, vị Bồ
Tát đi thăm bệnh phải thăm hỏi
thế nào, nói những gì?
Ông Duy Ma Cật đáp: "Bồ
Tát đi thăm bệnh nên nói: Rằng
thân vô thường, nhưng không bảo
phải chán bỏ thân. Rằng thân là
khổ, nhưng không khuyên nhận cái vui
Niết Bàn. Rằng thân là vô ngã,
mà khuyến khích tích cực giáo hóa
chúng sanh. Rằng thân rỗng lặng như hư
không, nhưng không nói vĩnh viễn không
như sừng thỏ, lông rùa. Rằng nên
ăn năn tội trước, nhưng không nên ôm
ấp những lỗi đã qua. Hãy quán
xét bệnh của mình mà thương
xót người đang có bệnh. Phải tự
thức tỉnh rằng: ta đã từng khổ
đau trong nhiều kiếp, mà đừng quên
nghĩ đến việc lợi lạc cho chúng sanh.
Nhớ làm phước đức, luôn nghĩ
tường đến đời sống trong sạch.
Không nên sanh tâm buồn rầu, thường
khởi tâm tinh tấn. Ta phải làm vị
đại y vương để trị bệnh cho
tất cả chúng sanh.
Bồ Tát đi thăm bệnh phải thăm
hỏi như thế, an ủi như thế khiến cho
Bồ Tát có bệnh phát khởi hoan hỉ.
8.- Văn Thù Sư Lợi hỏi: Thưa
cư sĩ! Bồ Tát có bệnh phải
điều phục tâm mình như thế nào?
Trưởng giả Duy Ma Cật đáp:
Bồ Tát có bệnh nên quán chiếu
và tư duy rằng, bệnh của ta hôm nay là
do các phiền não vọng tưởng
điên đảo đời này, đời
trước mà sanh ra. Nó là pháp không
thật thì ai là người thọ bệnh!
Thân nầy là kết quả của
sự tổ hợp, nương gá tứ đại
mà thành. Tứ đại không có chủ
tể thì thân nầy là vật vô
ngã. Bệnh sanh khởi là do chấp ngã.
Vì vậy, đối với bản ngã không
nên sanh tâm luyến ái chấp mắc.
9.- Đã biết nguồn gốc của
bệnh, cần phải trừ bỏ quan
niệm"chấp ngã" và "chúng
sanh". Chỉ lưu lại ý tưởng về
"pháp". Do các pháp hợp lại
mà thành thân. Sanh chỉ là pháp sanh;
diệt chỉ là pháp diệt. Pháp thì
chẳng biết gì nhau. Khi sanh nó chẳng
nói ta sanh. Khi diệt chẳng nói ta diệt.
Tư duy như vậy, Bồ Tát có bệnh
trừ diệt quan niệm về "pháp".
Lại tư duy rằng: quan niệm về
"pháp" cũng chỉ là một thứ
điên đảo. Điên đảo còn
thì còn khổ não, còn bệnh hoạn.
Thế nên Bồ Tát khởi ý tưởng
"Ly".
- Ly là thế nào?
- Ly ngã và ngã sở.
- Ly ngã, ngã sở là sao?
- Ly cả hai pháp.
- Ly cả hai pháp là thế nào?
- Ly nội tâm, ly ngoại cảnh, thể
hiện tánh bình đẳng.
- Bình đẳng như thế nào?
- Bình đẳng về ý niệm
ngã và bình đẳng về ý niệm
Niết bàn. Nhận thức rõ rằng: Ngã
vốn không, Niết-bàn cũng chẳng có.
Ngã và Niết bàn đều không.
- Do gì biết đó là không?
- Tư duy rằng chúng chỉ dựa
trên văn tự mà giả lập. Chúng
không có tính quyết định. Hiểu
được tính bình đẳng đó
thì không còn bệnh nào khác., chỉ
có bệnh "không". Cuối cùng
"không" cũng không. Bấy giờ Bồ
Tát có bệnh xử dụng vô sở thọ
mà thọ cái thọ. Khi nào Phật pháp
chưa đầy đủ, cũng không diệt
thọ để nhận lấy quả sở chứng.
Giả sử thân có khổ, nhớ nghĩ
chúng sanh trong ác thú mà khởi lòng
đại bi: rằng ta đã điều phục
cũng sẽ điều phục cho chúng sanh. Vì
vậy chỉ trừ bỏ bệnh chấp mà
không trừ bỏ "pháp". Vì muốn
trị dứt gốc bệnh của chúng sanh mà
giáo hóa họ.
10.- Thế nào là gốc bệnh?
- Gốc bệnh có vì có tâm
phan duyên. Chừng nào còn có tâm phan
duyên thì gốc bệnh còn.
- Đối tượng phan duyên là
gì?
- Đối tượng phan duyên là tam
giới.
- Làm sao đoạn được phan
duyên?
11.- Muốn đoạn phan duyên phải
vô sở đắc. Vô sở đắc thì
hết phan duyên.
- Sao gọi là vô sở đắc?
- Vô sở đắc có nghĩa là
vĩnh ly hai thứ kiến chấp.
- Hai thứ kiến chấp là gì?
- Là nội kiến và ngoại kiến.
Nội kiến là chấp bản ngã của
tự thân.Ngoại kiến là chấp hiện
tượng vạn pháp bên ngoài.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Đây là những điều Bồ Tát
có bệnh phải điều phục tâm
mình. Nhằm dứt trừ các khổ, lão,
bệnh, tử. Đó là Bồ Đề của
Bồ Tát. Nếu không như thế thì
việc tu sửa của mình sẽ không có
được trí tuệ sắc bén. Ví
như có chiến thắng đối thủ ngoan
cường thì mới gọi là chàng
dũng sĩ! Được vậy, Bồ Tát
gọi đó là người chiến sĩ
tiêu trừ giặc cướp: lão, bệnh,
tử.
12.- Bồ Tát có bệnh còn
quán chiếu tư duy rằng: Bệnh của ta
đây không thật có. Bệnh của
chúng sanh cũng không thật có. Quán
chiếu tư duy như thế đối với
chúng sanh. Nếu sanh khởi lòng đại bi
ái kiến thì cần phải xả ly. Bởi
vì Bồ Tát nhằm đoạn trừ khách
trần phiền não mà phát khởi lòng
đại bi. Nếu lòng đại bi còn có
tâm ái kiến thì ở trong sanh tử sẽ
có lúc mỏi mệt mà thoái thoát
đạo tâm. Xa lìa đại bi ái kiến
thì hóa độ chúng sanh đời nầy,
kiếp khác cùng không có chán nản
mỏi mệt. Người không bị ràng
buộc mới dạy cách mở cho người
ràng buộc. Đang bị ràng buộc mà dạy
cách mở ràng buộc cho người khác
là chuyện không thể có. Mình không
bị ràng buộc, mở ràng buộc giúp
cho người khác là việc dễ dàng!
Thế nên Bồ Tát không nên làm
những điều gì khiến cho mình bị
ràng buộc.
13.- Thế nào là bị ràng
buộc. Thế nào là được mở
ràng buộc?
- Đam mê thiền vị là Bồ
Tát bị ràng buộc. Xử dụng các
phương tiện trong sinh hoạt bình thường
là Bồ Tát không bị ràng buộc.
Lại nữa Bồ Tát không
phương tiện, không trí tuệ là
bị ràng buộc. Có phương tiện
có trí tuệ là Bồ Tát
được mở ràng buộc.
- Thế nào là không phương
tiện, không trí tuệ, Bồ Tát bị
ràng buộc?
- Nghĩa là Bồ Tát dùng tâm
ái kiến mà trang nghiêm cõi Phật
hóa độ chúng sanh. Dùng
"không", "vô tướng", "vô
tác" mà điều phục tâm mình.
Đó là Bồ Tát không phương
tiện, không trí tuệ, Bồ Tát bị
ràng buộc.
- Có trí tuệ, có phương
tiện, Bồ Tát được mở ràng
buộc là thế nào?
- Nghĩa là Bồ Tát lìa xa
các tham dục, sân nhuế tà kiến,
các phiền não mà trồng cội
phước, hồi hướng thẳng vô
thượng Bồ Đề. Đó là có
trí tuệ, có phương tiện, Bồ
Tát được mở ràng buộc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Bồ Tát có bệnh phải nên quán
các pháp như thế.
Lại nữa, quán thân vô
thường, khổ, không, vô ngã. Đó
là trí tuệ. Thân dù có bệnh
mà ở trong sanh tử làm lợi ích cho
chúng sanh không chán nản, mỏi mệt.
Đó là có phương tiện.
Lại quán về thân. Thân không
rời bệnh, bệnh không rời thân. Thân
ấy, bệnh ấy không phải mới, không
phải cũ gọi đó là trí tuệ.
Thân dù có bệnh mà không diệt
thân, gọi đó là phương tiện.
14.- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi!
Bồ Tát có bệnh nên như thế mà
điều phục tâm mình. Không trụ ở
tâm điều phục, cũng không trụ ở
tâm bất điều phục. Vì trụ tâm
bất điều phục là pháp của
phàm phu. Trụ ở tâm điều phục
là pháp của Thanh văn. Thế nên, Bồ
Tát không trụ ở tâm điều phục
và tâm bất điều phục. Ly đuợc
cả hai pháp, thì Bồ Tát làm việc
ở sanh tử mà không bị nhiễm ô.
Trụ ở Niết bàn mà không diệt
độ hẳn. Thế nên Bồ Tát hạnh
không phải là hạnh phàm phu cũng
không phải là hạnh hiền thánh.
Bồ Tát hạnh không phải hạnh cấu,
cũng không phải hạnh tịnh.
15.- Bồ tát hạnh dù vượt
quá hạnh ma mà hiện hàng phục các
ma.
Bồ tát hạnh cầu nhất thiết
trí mà không cầu phi thời.
Bồ tát hạnh dù quán các
pháp không sanh mà không vào chánh vị.
Bồ tát hạnh dù quán thập
nhị nhân duyên mà tham nhập các tà
kiến.
Bồ tát hạnh dù chinh phục
tất cả chúng sanh mà không luyến
ái.
Bồ tát hạnh dù ưa vui với
hạnh viễn ly mà không có ý
tưởng diệt hết tướng thân tâm.
Bồ tát hạnh dù sanh hoạt trong tam
giới mà không tổn hoại pháp tánh.
Bồ tát hạnh dù không chấp
ở việc làm phúc đức mà vẫn
trồng các cội phước đức.
Bồ tát hạnh dù thấy tất
cả vô tướng mà vẫn cứu độ
chúng sanh.
Bồ tát hạnh dù biết vạn
pháp vô tác mà vẫn hiện thọ
thân.
Bồ tát hạnh dù việc làm
vô khởi mà khởi các hạnh lành.
Bồ tát hạnh dù thực hành
lục ba la mật mà phổ biến khắp
đủ tâm và tâm sở pháp của
chúng sanh.
Bồ tát hạnh dù thực hành
đủ lục thông mà không hết hoặc
lậu.
Bồ tát hạnh dù thực hành
tứ vô lượng tâm mà không tham
đắm sanh cõi Phạm thế.
Bồ tát hạnh dù thực hành
thiền định, giải thoát tam muội mà
không đam nhiễm vị thiền.
Bồ tát hạnh dù thực hành
tứ niệm xứ mà không vĩnh viễn xa
lìa thân, thọ, tâm, pháp.
Bồ tát hạnh dù thực hành
tứ chánh cần mà không bỏ rời
sự tinh tấn của thân tâm.
Bồ tát hạnh dù hành tứ
như ý túc mà được tự tại
thần thông.
Bồ tát hạnh dù thực hành
ngũ căn mà phân biệt các căn lợi
độn của chúng sanh.
Bồ tát hạnh dù thực hành
ngũ lực mà ưa cầu thập lực.
Bồ tát hạnh dù thực hành
thất giác chi mà phân biệt trí tuệ
Phật.
Bồ tát hạnh dù thực hành
bát chánh đạo mà ưa thực hành
vô lượng Phật đạo.
Bồ tát hạnh dù thực hành
pháp chỉ quán trợ đạo mà
không bị rơi vào tịch diệt hoàn
toàn.
Bồ tát hạnh dù biết rõ
các pháp không sanh, không diệt mà
vẫn dùng tướng hảo trang nghiêm thân.
Bồ tát hạnh dù hiện oai nghi Thanh
văn, Duyên giác mà không rời pháp
Phật.
Bồ tát hạnh dù tùy thuận
thật tướng mà vẫn tùy thuận
chỗ hiện thân cần thiết.
Bồ tát hạnh dù quán
đất nước chư Phật vắng lặng
như hư không mà hiện cảnh trí thanh
tịnh của cõi Phật.
Bồ tát hạnh dù được
thành Phật đạo, chuyển pháp luân,
nhập Niết bàn mà không rời bỏ
đạo Bồ tát.
Sau khi Trưởng gia Duy Ma Cật nói
thời pháp ấy có tám ngàn Thiên
chúng tùy tùng phát tâm cầu vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
TRỰC
CHỈ
1.- Tịnh thất trống, tiêu biểu
"Nhất chân pháp giới, vạn pháp giai
không" nhằm xiển dương chân lý:
"Sắc chẳng khác không, không
chẳng khác sắc. Sắc là không, không
là sắc".
Một giường, một thân. Một
thân nằm trên một giường, tiêu
biểu pháp thân và huyễn thân bất
ly. Pháp thân không rời huyễn thân.
Huyễn thân ở trong pháp thân.
"Huyễn hóa không thân tức
pháp thân".
2.- Nếu đứng bên mé sông,
trên bờ biển, người ta sẽ thấy
chiếc thuyền đi từ địa điểm
này đến địa điểm nọ: Đi
từ Thái Bình Dương sang đến
Đại Tây Dương chẳng hạn...
Qua sự thấy biết đó,
người ta cho rằng chiếc thuyền có Đi
có Đến.
Giả sử người ta được
nhìn thấy qua cái nhìn thấy cao rộng
của phi hành gia vũ trụ thì sự Đi
và Đến của chiếc thuyền kia chẳng
có nghĩa lý gì cả, vì nó
chưa có phút giây tạm rời khỏi
mặt địa cầu.
Sự di chuyển "Đến",
"Đi" của con người trong pháp giới
"nhất chân" cũng chẳng có nghĩa
gì.
Nhìn bằng tuệ nhãn, Bồ tát
thấy rõ:
"Đến mà không có
tướng đến"
"Đi không chỗ khởi hành"
Bởi trong quá trình Đi, Đến
không có giây phút tạm rời pháp
giới nhất chân.
"Tánh thấy" và "đối
tượng thấy". Phải học cách nhìn
"Pháp nhĩ như thị", người
đệ tử Phật mới có cơ may nhận
thức được chân lý.
Pháp nhĩ như thị nghĩa là
thấy mà không có tướng thấy.
Thấy cũng như không thấy, không thấy
cũng như thấy. Có cũng như không
có. Không có cũng như có. Có
là không. Không là có. Vì biết
rằng: thật tướng của các Pháp
là vô tướng.
3.- Sanh, lão, bệnh, tử đối
với Bồ tát không có gì đáng
nói. Vì đó là quy luật phổ
biến. Nó là chân lý của cuộc
đời. Có gì phải bận tâm Bồ
tát.
Bồ tát Duy Ma Cật bệnh, chỉ
là một cái cớ được tạo ra
nhằm triển khai thật tướng, chỉ bày
pháp tánh, giới thiệu pháp thân,
xiển dương đệ nhất nghĩa của
Đại thừa.
Vì gió độc si ái làm cho
Bồ tát sanh bệnh. Vì chúng sanh bệnh
mà Bồ tát bệnh. Chừng nào chúng
sanh hết bệnh, thì bệnh Bồ tát
lành.
Bồ tát thương chúng sanh như
cha mẹ thương con. Con bệnh cha mẹ bệnh theo.
Con lành bệnh, bệnh cha mẹ cũng lành.
Bệnh của Bồ tát phát sanh do
tâm đại bi.
4.- Cõi nước của chư Phật
cũng trống không, thất của Bồ tát Duy
Ma Cật cũng trống không, nhằm khai thị
đạo lý "Hành thâm Bát Nhã,
chiếu kiến ngũ uẩn giai không".
Tuy nhiên người đạt đạo
phải tìm thấy "Cái không ngay trong
cái có".
Đó là cái nhìn cũa tuệ
nhãn: Đương thể tức không của
Bồ tát.
5.- Ma quân ưa sanh tử. Bồ tát
ở trong sanh tử không rời. Ngoại đạo
đam mê kiến chấp, Bồ tát ở trong
kiến chấp mà không động.
Do vậy Bồ tát không cô
đơn. Ma quân và ngoại đạo là
người hầu cận, là "thị giả"
rồi.
6.- Bệnh của Bồ tát không
thuộc thân, vì Bồ tát đã ly
"thân tướng". Cũng không phải
thuộc tâm, vì Bồ tát biết rõ
"tâm như huyễn".
7.- Khi thăm bệnh, Bồ tát cần
nhắc nhở bệnh nhân về sự vô
thường, khổ, không, vô ngã, bất
tịnh của thân, nhưng không khuyến
khích chán nản thân, bi quan, yếm thế
và tiêu cực vì thân.
Hãy quán xét bệnh của
mình, mà nghĩ đến bệnh khổ của
chúng sanh. Hãy phát chí nguyện làm
vị đại y vương để trị bệnh
cho tất cả.
8.- Bồ tát có bệnh nên tự
quán chiếu rằng: Bệnh của ta do phiền
não vọng tưởng điên đảo, do
chấp ngã pháp mà sanh. Có điên
đảo thì có bệnh khổ.
9.- Muốn trừ diệt bệnh khổ, Bồ
tát khởi ý tưởng "Ly". Ly ngã,
ngã sở. Ly nội tâm, ly ngoại cảnh.
Khởi ý niệm bình đẳng rằng:
Ngã vốn không và Niết bàn cũng
chẳng có.
10.- Gốc bệnh của chúng sanh là
tâm phan duyên. Chừng nào chúng sanh còn
tâm phan duyên thì gốc bệnh còn.
11.- Muốn đoạn tâm phan duyên
phải "Vô sở đắc".Muốn
được vô sở đắc phải viễn ly
chấp ngã và chấp pháp.
12.- Bồ tát cứu độ chúng sanh
không được có lẫn tâm ái
kiến. Nếu lòng đại bi mà có
lẫn ái kiến thì việc độ sanh
sẽ có lúc mỏi mệt nản lòng.
13.- Trong việc độ sanh, thực hiện
đúng chánh pháp, Bồ tát tự
tại trong nhiệm vụ lợi tha. Thực hiện sai
chánh pháp, Bồ tát có thể bị
ràng buộc, mắc mứu, chướng ngại
sự giải thoát giác ngộ của mình.
Nếu Bồ tát còn mống niệm
đam mê, trụ chấp dù là đam mê
trụ chấp thiền định lục ba la mật,
Bồ đề, Niết bàn, Bồ tát bị
ràng buộc rồi.
Bồ tát phải thường
xuyên xử dụng trí tuệ, luôn luôn
vận dụng phương tiện trong việc độ
sanh là Bồ tát được cởi mở
ràng buộc.
14.- Bồ tát có bệnh điều
phục tâm mình bằng cách: không trụ
ở tâm điều phục, cũng không trụ
ở tâm bất điều phục. Bởi vì
trụ ở tâm điều phục là pháp
của Thanh văn. Trụ ở tâm bất điều
phục là pháp của phàm phu.
15.- Bồ
tát phải thể hiện Bồ tát hạnh.
Không thể hiện Bồ tát hạnh thực
nghĩa Bồ tát không còn.
Bồ tát hạnh không phải là
hạnh phàm phu, cũng không phải là
hạnh hiền thánh. Bồ tát hạnh không
phải hạnh cấu nhiễm cũng không phải
hạnh thanh tịnh.
Bồ tát hạnh: "Ưng vô sở
trụ, nhi sanh kỳ tâm".
LỜI
TỰA TẬP II
THIỀN và QUÁN là tông chỉ của
đạo Phật. Trên đường tu Phật,
thiền, quán là phương tiện đặc
thù không thể không có đối với
một Phật tử. Bồ đề, Niết bàn
là mục đích cần đạt đến
mà Thiền Quán được ví như hai
cổ xe chuyên chở lữ hành trên suốt
lộ trình tiến về mục đích ấy.
Muốn hiểu kinh Duy Ma Cật học giả
phải vận dụng công phu trong việc "Tư
duy", phải xử dụng nhiều "Quán
trí". Có "Tư duy tu" trong "tĩnh
lự" có quán chiếu sâu sắc mới
thật thấy, thật biết và thật chứng
nhiều điều trong kinh nói. "Thập huyền
duyên khởi" là những đề tài Thiền
Quán vi diệu thậm thâm. Đọc, nghiên
cứu kinh Bất Tư Nghì Giải Thoát
Pháp Môn mà không có khả năng
tư duy không thể nhập Thập huyền duyên
khởi thì không thể nào hiểu
đúng được tông chỉ mục
đích của kinh.
Để chuẩn bị tư tưởng,
trước khi nghiên cứu tập hai của bộ
kinh Duy Ma Cật, tôi trân trọng giới thiệu
cùng quý đọc giả về những
đề tài Thiền Quán vi diệu thậm
thâm ấy:
1.- Đồng thời cụ túc tương
ứng môn.
2.- Nhất đa tương dung bất
đồng môn.
3.- Chư pháp tương túc tự
tại môn.
4.- Nhân đà la võng cảnh giới
môn.
5.- Vi tế tương dung an lập môn.
6.- Bí mật ẩn hiển câu thành
môn.
7.- Chư tàng thuần tạp cụ
đức môn.
8.- Thập thế cách pháp dị
thành môn.
9.- Duy tâm hồi chuyển thiện thành
môn.
10.- Thác sự hiển pháp sanh giải
môn.
Thiền giả tư duy vạn pháp,
nhận thức vạn pháp qua "mười
mặt" của một vấn đề. Thể
nhập sâu sắc "Thập huyền duyên
khởi". Thiền giả sẽ lý giải
đúng ý nghĩa, quán triệt hết
tông chỉ mục đích của toàn kinh.
Những chuyện nghe như hoang đường, thần
thoại, sau khi lý giải đúng tông chỉ
mục đích của kinh, thì ra đó
không phải kinh có ý nghĩ chép
chuyện thần thoại hoang đường. Mà
đó là nhằm mục đích hướng
dẫn cho người đệ tử Phật cách
nhận thức vạn pháp trong vũ trụ qua
"mười mặt" của một vấn
đề. Phải nhận thức như thế mới
biết bằng cái biết toàn diện, thấy
bằng cái thấy toàn diện của
"một pháp".
Thiền của kinh Duy Ma Cật là
Đại thừa thiền. Thiền mà không
cần trốn tránh trách nhiệm, không
từ chối bổn phận trong việc lợi lạc
chúng sanh. Thiền giả có thể làm
tất cả việc, mà không luyến ái
chấp thủ ở sự nghiệp, ở thành
tích của mình làm. Thiền giả cũng
không cần xua đuổi chối bỏ thành
tích để hy vọng đổi lấy cảnh
giới Niết bàn, Bồ đề nào ở
một thế giới xa xăm nếu có.
"Bất tận hữu vi, bất trụ
vô vi" là tinh thần Thiền của Duy Ma
Cật. Về tục đế, không một việc
gì lợi ích chúng sanh mà không
làm. Bên chân đế, không thủ
đắc một pháp dù đó là
Bồ đề, Niết bàn vô thượng.
Tu học kinh Duy Ma Cật là tu học
Bất Tư Nghì Giải Thoát Pháp Môn,
cho nên thành quả của hành giả
chứng đắc phải là Cảnh giới bất
tư nghì giải thoát, nghĩa là giải
thoát ngay trong cuộc sống hiện tại, giải
thoát ở trên mặt đất này, ở
trong mọi hoàn cảnh mà kinh điển
thường gọi :"Bất ly ư đương
xứ".
Viết tại Huỳnh Mai Tịnh
Thất
Ngày 20 tháng 12 năm 1991.
Pháp sư THÍCH TỪ
THÔNG
Kính đề.
CHƯƠNG
THỨ SÁU
1.- Ông Xá Lợi Phất thấy
trong tịnh thất không có giường cũng
chẳng có một chiếc ghế nào. Ông
bèn khởi ý nghĩ: Tịnh thất trống
trơn như thế này, chư Bồ tát và
Thanh văn chúng rồi sẽ ngồi vào
đâu?
Biết ý nghĩ của Ông Xá
Lợi Phất, trưởng giả Duy Ma Cật bèn
hỏi:
- Thưa ngài Xá Lợi Phất!
ngài vì pháp đến đây hay vì
chỗ ngồi mà đến?
- Tôi vì pháp mà đến
chớ không phải vì chỗ ngồi. Ông
Xá Lợi Phất đáp.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất!
người thực tâm cầu pháp, thân
mạng còn không đáng tiếc hà huống
phải quan tâm nghĩ đến chỗ ngồi.
Cầu pháp phải quên đi cái thân
ngũ uẩn. Cầu pháp phải đóng
bít lục căn, cắt đứt lục trần
và vô hiệu hóa hết cả lục
thức.
Cầu pháp không cầu những
pháp triền phược tương quan trong cõi
Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất!
người cầu pháp không phải vì ham
quả vị Phật. Cầu pháp không phải
vì đam mê giáo pháp. Cầu pháp
không phải vì cảm tình với chúng
Tăng. Không vì thấy khổ mà cầu
pháp. Không vì đoạn tập mà cầu
pháp. Không vì chứng đắc Niết
bàn mà cầu pháp. Và cũng không
vì nguyên nhân chứng đắc Niết
bàn mà cầu pháp. Vì sao? Vì
pháp không phải hý luận. Nếu nói rằng
ta vì thấy khổ, vì đoạn tập,
vì chứng Niết bàn, vì tu đạo
mà cầu pháp thì pháp đó trở
thành hý luận, không phải cầu
pháp.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất!
Pháp là tịch diệt. Nếu biểu hiện
qua hành vi sanh diệt thì đó là
cầu sanh diệt, chớ không phải cầu
pháp.
Pháp là vô nhiễm. Nếu nhiễm
ở pháp cho đến nhiễm Niết bàn,
thế là cầu nhiễm chớ không phải
cầu pháp.
Pháp không năng hành, sở
hành. Nếu dụng ý hành ở nơi
pháp, đó là cầu năng hành sở
hành chớ không phải cầu pháp.
Pháp không có thủ xả.
Đối với pháp mà có ý thủ
xả, đó là cầu thủ xả chớ
không phải cầu pháp.
Pháp không có xứ sở. Nếu
chấp nê xứ sở, đó là cầu
xứ sở chớ không phải cầu pháp.
Pháp là vô tướng. Nếu
dựa trên tướng để nhận biết,
đó là cầu tướng chớ không
phải cầu pháp.
Pháp không được trụ. Nếu
trụ ở nơi pháp, đó là cầu
trụ chớ không phải cầu pháp.
Pháp không phải thấy, nghe, hiểu
biết. Nếu biểu hiện qua thấy, nghe, hiểu
biết đó là cầu thấy, nghe, hiểu
biết chớ không phải cầu pháp.
Pháp là vô vi. Nếu hiểu qua
hữu vi, đó là cầu hữu vi chớ
không phải cầu pháp. Vì vậy cho
nên:
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! nếu
là người cầu pháp, đối với
tất cả không nên khởi ý niệm
cầu.
Ông Duy Ma Cật nói xong những
điều trên, bấy giờ có năm trăm
thiên tử đối với các pháp có
được cái nhận thức thanh tịnh (
đắc pháp nhãn tịnh).
2.- Ông Duy Ma Cật hỏi Bồ tát
Văn Thù rằng: Nhân giả từng vân du
vô lượng vô số cõi nước,
Ngài biết cõi Phật nào có tòa
sư tử đẹp nhất do công đức trang
nghiêm thành tựu?
- Có, thưa cư sĩ. Bồ tát
Văn Thù đáp. Ở về phương
Đông, từ đây phải trải qua ba
mươi sáu hằng hà sa nước, có
thế giới tên Tu Di Tướng, đức
Phật ở cõi nước đó hiệu Tu Di
Đăng Vương đang trụ thế. Thân Phật
lớn tám muôn bốn ngàn do tuần. Tòa
sư tử của Phật cũng cao tám muôn
bốn ngàn do tuần, lộng lẫy trang nghiêm
bậc nhất.
Ông Duy Ma Cật vận dụng hiện
sức thần thông khiến ba muôn hai ngàn
tòa sư tử lộng lẫy trang nghiêm cao
rộng tự chuyển vào trong tịnh thất
của ông trong khoảnh khắc.
Chư Bồ tát, các đại
đệ tử, Đế thích, Phạm thiên
nghĩ rằng việc này từ trước
đến nay chưa từng thấy. Chu vi ngôi
tịnh thất hữu hạn chừng ấy, lại bao
dung cả ba muôn hai ngàn tòa sư tử
đồ sộ thế kia mà không chướng
ngại gì nhau. Thành Tỳ Da Ly cũng có
chừng mực phạm vi của nó thế mà
mọi hiện trạng đều y nguyên như
cũ, không chật chội hơn chút nào!
Ông Duy Ma Cật mời Bồ tát Văn
Thù và chư đại Bồ tát an tọa.
Các Bồ tát được thần thông
tự biến thân cao lớn bốn muôn hai
ngàn do tuần, mới lên tòa ngồi
được. Các Bồ tát tân phát
ý và hàng Thanh văn đại đệ
tử đều không lên ngồi được.
Trưởng giả Duy Ma Cật mời ông
Xá Lợi Phất thăng tòa.
Ông Xá Lợi Phất nói: Thưa
cư sĩ, tòa cao quá tôi không lên
được.
Trưởng giả Duy Ma Cật nói: Xá
Lợi Phất! Ngài làm lễ đức Tu Di
Đăng Vương Như Lai rồi có thể
lên tòa ngồi được.
Hàng tân phát ý Bồ tát
và tất cả đại đệ tử Thanh
Văn làm lễ đức Tu Di Đăng
Vương Như Lai, bấy giờ mọi người
đều lên được tòa ngồi.
Ông Xá Lợi Phất nói: Thưa
cư sĩ! Quả là việc lạ lùng chưa
từng có. Diện tích của ngôi tịnh
thất hữu hạn này mà lại có
thể dung chứa hàng mấy muôn cái
tòa cao rộng. Thành Tỳ Da Ly, xóm làng,
cõi nước đều không chật chội
trở ngại gì nhau. Đây là việc
chưa từng có!
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ông
Duy Ma Cật nói: Chư Phật, Bồ tát có
pháp môn giải thoát gọi là
"Bất khả tư nghì". Nếu Bồ
tát trụ trong pháp môn giải thoát
đó, có thể lấy núi Tu Di cao rộng
để vào trong một hạt cải, mà
núi Tu Di vẫn y nguyên trạng, hạt cải
cũng không thêm bớt chút nào. Trời
Tứ Thiên vương, Đao Lợi, chư Thiên
không thể hay biết cảnh giới chư Thiên
đang ở trong hạt cải. Chỉ có những
người đáng độ (Bồ tát
đăng địa), mới thấy biết núi Tu
Di được đặt vào trong hạt cải.
Bồ tát trụ bất tư nghì
giải thoát, có thể lấy nước
biển cả để vào lỗ chân lông
mà nước biển cả vẫn y nhiên. Các
loài thủy tộc cá, tôm, rùa, trạnh
v.v...không bị khuấy động, Long vương,
quỷ thần, A tu La...không hề hay biết và
họ chẳng bị nhiễu hại chút nào.
Bồ tát trụ bất tư nghì
giải thoát, còn xắn lấy ba ngàn
đại thiên thế giới để trên
bàn tay và ném qua hằng hà sa thế
giới, rồi thu về đặt lại chỗ cũ,
mà thế giới vẫn y nhiên. Người
người ở trong các thế giới kia không
hề hay biết về sự đi lại của
mình.
3.- Còn nữa thưa ngài Xá Lợi
Phất! Nếu có chúng sanh thích sống
lâu ở đời, vì hóa độ họ,
trong khoảng bảy ngày, Bồ tát nói
với họ là một kiếp, khiến chúng
sanh kia tin nhận là một kiếp. Hoặc có
chúng sanh không thích sống lâu ở
đời, vì hóa độ họ, Bồ
tát rút ngắn một kiếp nói là
bảy ngày, khiến chúng sanh kia tin nhận
là bảy ngày.
Còn nữa thưa ngài Xá Lợi
Phất! Trụ bất tư nghì giải thoát,
Bồ tát lấy những sự trang trí
đẹp đẽ của tất cả cõi Phật
nhóm lại ở một chỗ chỉ bày cho
chúng sanh xem thấy rõ ràng. Bồ tát
lại lấy tất cả chúng sanh và cõi
Phật để trên bàn tay bay đến khắp
mười phương, chỉ rõ cho tất cả
mà "bổn xứ" không hề động
chuyển.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Những
món đồ cúng dường chư Phật trong
mười phương, Bồ tát có thể
đem vào trong một lỗ chân lông khiến
cho ai cũng có thể được thấy.
Mười phương cõi nước
có bao nhiêu nhật nguyệt, tinh tú gom về
trong một lỗ chân lông, khiến cho xem thấy
dễ dàng.
Mười phương thế giới có
bao nhiêu gió, Bồ tát hớp vào
miệng mà thân không hề tổn hại.
Tất cả cỏ cây bên ngoài không
bị gãy đổ.
Mười phương thế giới, khi
kiếp tận, lửa cháy ngút trời, Bồ
tát hút tất cả lửa vào trong bụng,
mà thân không bị hại.
Bồ tát có thể lấy một
cõi Phật ở hằng hà sa thế giới
ở hạ phương, cầm đem lên cách
hằng hà sa số thế giới ở thượng
phương như cầm một que tăm găm vào
một lá táo, không khó khăn mệt
nhọc chút nào.
Còn nữa thưa ngài Xá Lợi
Phất! Trụ bất tu nghì giải thoát,
Bồ tát có thể dùng thần thông
hiện thân Bích chi Phật, hoặc hiện
thân Thanh văn, hoặc hiện thân Đế
thích, hoặc hiện thân Phạm vương.
hoặc hiện thân Chuyển luân vương.
Lại nữa, trong mười phương
thế giới có bao nhiêu thứ âm thanh, thượng,
trung, hạ đều có thể biến thành
âm thanh Phật, diễn nói những pháp
của chư Phật trong mười phương
đã nói như vô thường, khổ,
không, vô ngã khiến cho chúng sanh hữu
duyên đều được nghe.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tôi
lược nói về thần lực bất khả
tư nghì giải thoát của Bồ tát
là thế. Nếu nói rộng suốt kiếp
cũng không thể nói hết được.
4.- Ngài Đại Ca Diếp, sau khi nghe
pháp môn bất khả tư nghì giải
thoát, rất hoan hỉ, tán thán và
nói với ông Xá Lợi Phất rằng:
Ví như sắc tượng hiện hữu
ngay trước mắt người mù nhưng
người mù không sao thấy được.
Cũng vậy, với pháp môn bất khả
tư nghì giải thoát, hàng Thanh văn
dù có nghe nhưng cũng không hiểu rõ
được.
Người trí ai nghe mà chẳng
phát tâm vô thượng Bồ đề.
Hàng Thanh văn chúng ta vì sao lại
dứt hẳn hạt giống đại thừa
để cho mầm tược cháy khô! Tất
cả hàng Thanh văn nghe pháp môn bất
khả tư nghì giải thoát, nên khóc
rống lên đi! Khóc cho vang động cả ba
ngàn đại thiên thế giới! Còn
tất cả những Bồ tát, những
người chủng tánh đại thừa nên
hoan hỉ tiếp thụ, kê đầu đội
lấy pháp môn này.
Bồ tát tin và hiểu pháp môn
bất khả tư nghì giải thoát, tất
cả các ma dù có thế lực bao nhiêu
đi nữa cũng không làm gì động
chuyển.
Ngài Đại Ca Diếp nói xong, khi
bấy giờ có ba muôn hai ngàn thiên
tử phát tâm vô thượng Bồ
đề.
Ông Duy Ma Cật nói với ngài
Đại Ca Diếp:
5.- Thưa nhân giả! Trong thập
phương vô lượng A tăng kỳ thế
giới, những người làm ma vương
phần nhiều là Bồ tát trụ bất
tư nghì giải thoát, dùng sức
phương tiện giáo hóa chúng sanh mà
hiện làm ma vương như vậy.
Lại nữa, thưa ngài Ca Diếp! Bồ
tát trong mười phương nhiều vô
số. Có khi người ta theo các ngài
để xin mắt, mũi, tay, chân, máu thịt,
xương tủy, đầu óc...Xin quốc
thành thê tử, tượng mã, kim
ngân...xin cả y phục và thức ăn.
Người xin như vậy, phần nhiều là
Bồ tát trụ bất khả tư nghì
giải thoát dùng sức phương tiện
để thử thách hạnh sở hành của
Bồ tát khiến cho sức kiên cố càng
thêm kiên cố.
Thử thách như vậy để làm
gì?
Bởi vì Bồ tát trụ bất
tư nghì giải thoát có nghị lực
và uy đức lớn lao, cho nên dùng
những hành động bức bách dồn
ép làm những việc khó làm để
biểu thị sức tinh tấn, chỉ bày
đức nhẫn nhục...vì sự nghiệp
giáo hóa chúng sanh.
Hạng phàm phu hạ liệt không
có uy lực, không thể kham chịu những
sự bức bách nghiệt ngã như Bồ
tát được. Ví như sức lừa
không thể chịu nổi sự dẫm đạp
của long tượng.
Đó là pháp môn phương
tiện và trí tuệ của Bồ tát
trụ bất khả tư nghì giải thoát
pháp môn.
TRỰC
CHỈ
Bất khả tư nghì có nghĩa
là vượt ngoài khái niệm suy tư
phân biệt của sự hiểu biết
thường tình. Sự kiện bất tư
nghì đồng nghĩa với những gì xưa
nay chưa từng có mà nay có.
Duy Ma Cật là người bất tư
nghì. Ông thuyết bất tư nghì pháp,
tập hợp bất tư nghì chúng để
khởi động bất tư nghì tâm, khiến
cho những ai còn mơ hồ về khả
năng trí tuệ của đại thừa,
nhân cơ hội này đều được nghe
qua sự trình diễn "bất tư nghì
cảnh", của vị Bồ tát tại gia
là trưởng giả Duy Ma Cật.
1.- Tịnh thất trống không tiêu
biểu chân lý: vạn pháp giai không.
Một thân nằm trên một
giường, tiêu biểu pháp giới thân
và pháp giới độ viên dung, bất ly,
bất tức.
Phật có "Pháp thân, Báo
thân, và Ứng thân". Con người ai ai
cũng có ba thân như vậy. Về pháp
thân thì ở Thánh cũng không thể
tốt thêm ra, ở phàm cũng không xấu
bớt, nghĩa là pháp thân thì Phật
và chúng sanh cùng có y nhau. Chỉ có
Báo và Ứng hai thân này thì sự
thọ dụng tùy phước đức và
trí huệ riêng khác của mỗi con
người.
Vì vậy, một thân nằm choán
trên một giường và chỉ một
giường bệnh đơn độc ở trong
một tịnh thất trống, đó là một
báo hiệu mở màn cho những thời
pháp bất tư nghì ở các chương
sắp tới.
Đi nghe pháp cốt để học
chánh pháp, hành chánh pháp và
sống theo chánh pháp. Sống đúng
chánh pháp tức là sống trong Bồ
đề Niết bàn rồi. Cho nên nghe pháp,
học pháp không nên dụng ý khởi
tâm mong cầu. Cầu chứng đắc Bồ
đề, Niết bàn vẫn đã là sai
huống chi cầu chỗ ngồi, nghĩ đến
chỗ ngồi và khởi tâm mong cầu những
điều gì khác.
Sống đúng theo chánh pháp
đồng nghĩa với sống đúng pháp
tánh. Sống đúng pháp tánh tức
là mình sống với Phật tánh của
mình rồi. Vì Phật tánh và Pháp
tánh không hai. Vì tánh thanh tịnh bản
nhiên của chúng sanh vô tình trong vũ
trụ vạn hữu gọi là pháp tánh.
Tánh thanh tịnh bản nhiên của chúng sanh
hữu tình, của con người gọi là
Phật tánh. Ví như cùng là lửa do
đốt rơm hay đốt than đá mà
tên của lửa và độ nóng của
lửa khác nhau.
2.- Bồ tát trụ trong pháp môn
bất tư nghì có thể làm tất cả
việc bất tư nghì do Bồ tát xử
dụng "Quán trí" bất tư nghì vậy.
Xử dụng Quán trí bất tư
nghì, Bồ tát thấy và hiểu biết
rõ tánh duyên khởi huyền diệu của
vạn pháp như sau:
a.- Đồng thời cụ túc tương
ứng môn : Bồ tát xử dụng quán
trí biết và thấy rõ ràng một
pháp có đủ chủng tử, chất liệu
của vạn pháp tự nó ứng hợp
lại với nhau mà hình thành.
b.- Nhất đa tương dung bất
đồng môn: Một là một của cái
nhiều. Nhiều là nhiều của cái một.
Một và nhiều dung nhiếp quyện chặt
với nhau. Trong cái nhiều có nhiều cái
một. Cái một là yếu tố cấu
tạo nên cái nhiều. Dù vậy
tướng một và tướng nhiều không
hai mà cũng không phải một.
c.- Chư pháp tương tức tự
tại môn: Pháp này tức là pháp
kia. Pháp kia tức là pháp này. Trong
pháp này hàm chứa chủng tử của
pháp kia. Trong tất cả pháp kia có chứa
chất liệu chủng tử của pháp này.
Chủng tử của vạn pháp trùng trùng
duyên khởi cho nhau, tương túc tương
nhập một cách tự tại.
d.- Nhân đà la
võng cảnh giới môn: Nhân đà la
võng là màn lưới châu nhiều
lớp của Thiên Đế Thích. Lưới
châu này ánh hiện hình ảnh trùng
trùng, cho nên sự phản chiếu và
ánh hiện của lưới châu vô tận.
Hiện tượng vạn pháp tương ưng,
tương dung, tương tức, tương nhập
tác dụng lẫn nhau mà hình thành,
sự tương quan tác dụng đó như
sự ánh hiện của lưới châu trời.
e.- Vi tế tương dung an
lập môn: Dù vật nhỏ như một
mảy may hay ở một điểm vi tế nào
cũng hàm dung chất liệu của tất cả
hiện tượng vạn pháp. Ví như
đầu mảy lông của con sư tử vàng
cùng với chất vàng của toàn thân
con sư tử tương dung tương tức mà
an lập hình thành ra sư tử vàng.
f.- Bí mật ẩn hiển
câu thành môn: Một pháp tức là
tất cả các pháp. Khi thấy biết một
pháp thì một pháp hiển, tất cả
pháp ẩn. Bấy giờ, tất cả pháp
tức là một pháp. Khi thấy biết tất
cả pháp thì tất cả pháp hiển,
một pháp ẩn. Bấy giờ, một pháp
là tất cả pháp. Ví như ngôi
nhà và nguyên liệu xây dựng ngôi
nhà.
g.- Chư tàng thuần tạp
cụ đức môn: Mỗi pháp là
một chỉnh thể hàm tàng hỗn hợp.
Những pháp do hỗn hợp nhiều chất
liệu, nhiều yếu tố mà thành gọi
là tạp. Có pháp không do nhiều
chất tương đối có tính đơn
thuần hỗn hợp mà vẫn được
thành, gọi đó là thuần. Dù
thuần dù tạp pháp nào cũng có
vị trí của nó và tương quan
tác dụng với nhau để hình thành
vạn pháp trong thế giới hiện tượng.
h.- Thập thế cách
pháp dị thành môn: Dựa trên bảy
môn trên, thiền giả quán chiếu nhận
thức vạn pháp bên mặt không gian,
không có pháp nào đơn độc
tự nó hình thành ra nó. Về mặt
thời gian cũng thế. Khái niệm thời gian
là dựa trên quá trình vận
động biến chuyển vô thường của
sự vật hiện tượng. Đã là
biến chuyển vận động vô thường
thì không thể có một phút giây
dừng đứng. Cho nên, đời chỉ là
một khái niệm ước định nhận
thức của con người. Chơn thật mà
nói, đời không có gì làm
điểm tựa. Quá, hiện. vị lai gọi
là ba đời. Kỳ thật trong quá khứ
đã có đủ quá, hiện, vị lai.
Trong hiện tại đã có quá, hiện,
vị lai và vị lai vẫn đã có
quá, hiện, vị lai. Chín đời tổng
hợp thành một đời. Một đời do
chín đời hợp lại. Cho nên gọi
là thập thế cách pháp dị thành
nghĩa là chín đời dị biệt lại
có thể thành tựu một đời.
i.- Duy tâm hồi chuyển
thiện thành môn: Duy tâm tức là Duy
Như Lai tàng tâm. Tất cả vạn pháp
duy Như Lai tàng tâm mà chuyển biến xoay
vần, duyên khởi tác dụng vào nhau
hình thành một cách mầu nhiệm. Cho
nên gọi là Duy tâm hồi chuyển thiện
thành.
j.- Thác sự hiển pháp
sanh giải môn: Dựa trên sự vật cụ
thể phô diễn trước mắt, người ta
có thể suy luận, tư duy và nhận thức
vạn pháp một cách không khó khăn
về cả hai mặt: không gian và thời gian.
Người thiền giả nhận thức rõ sự
tổ hợp hình thành của vạn pháp
với chân lý trùng trùng duyên khởi
qua Thập huyền môn cũng là một chân
lý hiển nhiển không khó khăn gì.
Thể nhập sâu sắc chân lý
của vạn pháp qua thập huyền duyên
khởi, người học Phật mới cắt
nghĩa được những bất tư nghì
sự của Bồ tát thi thố, mới hiểu
đúng những bất tư nghì pháp
của Bồ tát nói, mới thật thấy
mà không phải thấy thật những bất
tư nghì cảnh giới mà Bồ tát
trình diễn ở kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết
này.
Tòa sư tử cao rộng 84.000 do tuần
(một do tuần 30 km), vậy 84.000 x 30 = 2.520.000 km.
Thế là một tòa sư tử chiếm
diện tích: hai triệu năm trăm hai chục
ngàn cây số. Vậy mà trưởng giả
Duy Ma Cật mượn về và đem vào
tịnh thất của mình ba muôn hai ngàn
tòa sư tử cao rộng như thế. Thế
mà tịnh thất vẫn dung chứa hết.
Thành Tỳ Da Ly, xóm làng cũng không
chật chội hơn chút nào.
Sự kiện này, kinh Duy Ma Cật muốn
nói gì đây? Người đệ tử
Phật phải tin hiểu cách nào? Pháp
sư truyền bá chánh pháp phải giảng
dạy như thế nào để cho người
đệ tử Phật sau khi học pháp không ngu
đần mê tín dị đoan hơn lúc chưa
đi nghe pháp.
Giải đáp mấy nghi vấn vừa
nêu, người học Phật chỉ có một
con đường duy nhất phải hành thiền,
phải tư duy và quán chiếu thập huyền
duyên khởi cho thấu triệt, thể nhập
tận tường. Bấy giờ trí tuệ của
thiền giả phát triển thì sự thấy
nghe và nhận thức vạn pháp xuyên qua kinh
điển không lầm.
Bồ tát trụ bất tư nghì
giải thoát làm những việc bất tư
nghì...là cách vận dụng ngôn ngữ
để chuyên chở trí tuệ bất tư
nghì của con người thành tựu nhất
thiết chủng trí.
Xử dụng nhất thiết chủng trí
nhìn bất cứ một pháp nào đều
thấy :Đồng thời cụ túc tương
ứng.
Xử dụng nhất thiết chủng trí
nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ thấy:
Chư pháp tương tức tự tại.
Xử dụng nhất thiết chủng trí
nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ thấy:
Nhất đa tương dung bất đồng.
Xử dụng nhất thiết chủng trí
nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ biết:
Quảng hiếp tự tại vô ngại.
Kinh nói trưởng giả Duy Ma Cật
mượn ba muôn hai ngàn tòa sư tử cao
rộng 84.000 do tuần ở thế giới thượng
phương đem vào trong thất mà tịnh
thất vẫn dung nạp hết. Thành Tỳ Da Ly
và xóm làng không hề chật chội
và chẳng trở ngại gì.
Mở gút nghi ngờ đó, thiền
giả phải xử dụng nhất thiết chủng
trí nhìn vạn pháp qua tri kiến: Quảng
hiếp tự tại vô ngại. Thiền giả
thấy rằng: sự rộng, hẹp, lớn, nhỏ
của vạn pháp trên hiện tượng
chỉ là hiện tượng. Còn bản thể
của vạn pháp thì tương ứng,
tương dung, tương tức, tương nhập,
tương thành.
Người học Phật và là
đệ tử Phật chơn chánh tuyệt
đối không được khởi niệm tin
rằng Bồ tát Duy Ma Cật có tài
phép biến hóa như một nhà ảo
thuật, như một thôi miên gia...
3.-Nói về việc kéo dài thời
gian ngắn ra dài, dài rút ngắn để
đáp ứng nguyện vọng của chúng sanh
cốt là khiến cho họ quay về với Phật
pháp.
Làm được điều đó,
thiền giả chỉ cần xử dụng quán
trí: Thập thế cách pháp dị thành.
Thành tựu phép quán đó, thiền giả
chợt thấy thời gian chẳng có giá
trị chơn thật. Khái niệm thời gian
chỉ là dựa trên sự vô thường
vận động chuyển biến của các
pháp hữu vi vẫn luôn luôn chuyển
biến vận động vô thường.
Do vậy, dưới mắt của người
thành tựu nhất thiết chủng trí thời
gian ngắn dài chỉ là hí luận
để luận thuyết với những ai còn
mê mộng chân lý cuộc đời.
Xử dụng nhất thiết chủng trí
nhìn vạn pháp qua lăng kính Bát
nhã Ba la mật, thiền giả sẽ thấy vạn
pháp giai không thì không gian và thời
gian dù có diễn tả thiên ngôn vạn
ngữ bùi tai đẹp ý cách nào
thì cũng chỉ là hí luận mà
thôi.
Người học Phật không tư duy
sâu sắc, không thể nhập ý nghĩa
Thập huyền duyên khởi mà đem kinh Duy Ma
Cật ra giảng nói lếu láo, qua loa càng
khiến cho những người Phật tử chưa
có điều kiện học Phật vốn
đã mê tín, sau thời gian đi nghe
giảng kinh Duy Ma, óc mê tín càng tăng
thêm vạn bội.
Bởi vì trưởng giả Duy Ma Cật
là người bất tư nghì, tập hợp
bất tư nghì chúng, thuyết bất tư
nghì pháp, làm bất tư nghì sự,
trình diễn bất tư nghì cảnh giới,
trụ bất tư nghì giải thoát pháp
môn, nhưng bất tư nghì không
được hiểu như người có tài
phép biến hóa. Càng không được
hiểu bất tư nghì đồng nghĩa với
sự khéo tay trình diễn trước công
chúng của các nhà ảo thuật thiên
tài.
4.- Hàng Thanh văn sau khi nghe bất tư
nghì sự của Bồ tát rồi tự
trách về tri kiến mình và sau đó,
phát tâm Vô thượng Bồ đề,
đó là chân lý đương nhiên
vậy.
5.- Có lửa cao mới biết tuổi
vàng. Có chiến đấu mới thể
hiện khả năng của dũng sĩ. Bồ tát
thì phải làm cho được những
việc khó làm. Để trắc nghiệm
mức độ thành công của Bồ tát
là những sự bức bách, những bất
như ý, khó khăn Bồ tát phải
vận dụng sức trí tuệ đáp ứng
mọi tình huống, mọi yêu cầu để
hoàn thành hạnh nguyện. Vì tất cả
chủng loại chúng sanh là Tịnh Độ
của Bồ tát.
CHƯƠNG
THỨ BẢY
1.- Bồ tát Văn Thù Sư Lợi
hỏi ông Duy Ma Cật rằng: Đối với
chúng sanh, Bồ tát quán chiếu và
thấy như thế nào?
Ông Duy Ma Cật nói: Bồ tát quán
thấy chúng sanh như nhà huyễn thuật
thấy người huyễn do huyễn thuật hóa
ra. Lại ví như như người trí
thấy trăng trong nước, như bóng trong
gương, như sóng nắng lúc trời
nắng gắt của ngày hè, như vang của
tiếng, như mây trong không, như bọt
trên mặt nước, như bong bóng dưới
cơn mưa, như sự bền chắc của cây
chuối, như sự dừng lâu của tia chớp
lưng trời, như đại thứ tám, như
ấm thứ sáu, như nhập thứ mười
ba, như giới thứ mười chín.
Bồ tát quán chúng sanh như
thế đấy.
Lại nữa, Bồ tát quán thấy
chúng sanh: như sắc chất trong cõi vô
sắc, như mầm của thóc rang, như thân
kiến của người được quả Tu
Đà hoàn, như sự nhập thai của
người được quả A la hán, như tham,
sân, si của Bồ tát được chứng
pháp vô sanh nhẫn, như phiền não tập
khí của Phật, như sự thấy màu
sắc của người mù, như dấu chim trong
hư không, như con của thạch nữ, như
phiền não của huyễn nhơn, như chiêm
bao lúc thức, như lửa không khói.
Bồ tát quán thấy chúng sanh
như thế đấy. Thưa ngài Văn Thù
Sư Lợi!
2.- Bồ tát Văn Thù Sư Lợi
hỏi: Bồ tát đã khởi quán chúng
sanh như vậy, thế còn hạnh từ bi Bồ
tát phải thực hiện hạnh từ bi của
mình đối với chúng sanh bằng cách nào?
Ông Duy Ma Cật nói: Bồ tát
khởi quán như thế rồi tự nghĩ
rằng ta sẽ vì chúng sanh mà nói
pháp như thế đó là hành chơn
thật từ. Tiếp đến, Bồ tát vận
dụng:
Hành
tịch diệt từ biết rõ các pháp
vốn không sanh.
Hành bất nhiệt từ không để cho
phiền não sanh khởi trong lòng.
Hành bình đẳng từ với quá
khứ, hiện tại, vị lai thời nào tâm
cũng bình đẳng.
Hành vô tránh từ không khởi ý
tranh cải thị phi.
Hành bất nhị từ cắt đứt ý
phân biệt ngoại cảnh nội tâm.
Hành bất hoại từ biết rõ tánh
rốt ráo không của các pháp.
Hành kiên cố từ tâm thâm tín
chánh pháp không gì lay động nổi.
Hành thanh tịnh từ biết rõ tánh
của vạn pháp vốn thanh tịnh.
Hành vô biên từ tâm rỗng lặng
cởi mở như hư không.
Hành La hán từ đề cao cảnh giác
hóa giải hết những phiền não kiết
sử.
Hành Bồ tát từ sẳn sàng đem
lại mọi an ổn hạnh phúc cho chúng sanh.
Hành Như lai từ thể nhập cái
tướng như của vạn pháp.
Hành Phật đà từ đem hết cuộc
đời mình truyền bá tư tưởng
tỉnh thức giác ngộ cho chúng sanh.
Hành tự nhiên từ biết rõ quả
sở chứng không hề có đắc.
Hành Bồ đề từ biết rõ tất
cả giáo pháp Phật chỉ có một
vị đó là vị giải thoát.
Hành vô đẳng từ cắt đứt
trọn vẹn các ái tưởng nhiễm
tâm.
Hành đại bi từ dắt dẫn mọi
người vào đại thừa đạo.
Hành vô yểm từ tâm luôn luôn
trụ trong quán trí vô ngã và
không.
Hành pháp thí từ không dấu diếm
chúng sanh về sự hiểu biết chánh
pháp của mình.
Hành trì giới từ sẳn sàng giúp
đở, cảm hóa những ai phạm giới.
Hành nhẫn nhục từ giúp đở
người khác như giúp đở cho
chính ta.
Hành tinh tấn từ gánh vác trọng
trách giáo hóa chúng sanh.
Hành thiền định từ không đam mê
vị khinh an của thiền định.
Hành trí tuệ từ luôn luôn biết
việc, biết thời, biết tà, biết
chánh.
Hành phương tiện từ tất cả thi vi
hành động đều là việc làm
của thị hiện.
Hành vô ẩn từ tâm lúc nào
cũng trực và luôn luôn thanh tịnh.
Hành thâm tâm từ dù hành các
hạnh mà không có tạp hạnh.
Hành vô cuống từ không làm những
gì có tánh dối gạt phỉnh phờ.
Hành an lạc từ bằng mọi cách khiến
cho mọi người thọ dụng được
cái vui của Phật đạo.
Thưa ngài đại trí Văn
Thù! Thực hiện hạnh từ của Bồ
tát là như thế đấy.
- Bồ tát Văn Thù hỏi: Thưa
cư sĩ! Thế nào là Bi tâm của Bồ
tát?
- Ông Duy Ma Cật đáp: tất cả
công đức của Bồ tát làm
đều cho chúng sanh hết.
- Hỉ tâm của Bồ tát thế
nào?
- Chúng sanh được những lợi
lạc gì, Bồ tát đều tán thán
vui mừng không có hối tiếc.
- Xả tâm của Bồ tát thế
nào?
- Bồ tát làm bao nhiêu việc
phước đức, cứu độ cho chúng sanh
được những gì không có niệm ta
là kẻ thi ân và đặt hy vọng
chờ ngày đền trả.
3.- Đường sanh tử rất đáng
sợ, Bồ tát phải nương tựa nơi
gì để được an ổn?
- Nương nơi nghị lực và
công đức Như Lai.
- Bồ tát muốn nương tựa
nghị lực và công đức Như lai cần
phải trụ tâm ở nơi nào?
- Trụ ở tâm độ thoát tất
cả chúng sanh.
- Muốn độ thoát tất cả
chúng sanh, Bồ tát phải trừ bỏ
những gì?
- Phải trừ bỏ tất cả những
phiền não.
- Muốn trừ bỏ phiền não, Bồ
tát phải thực hành những gì?
- Phải thực hành chánh niệm.
- Thực hành chánh niệm phải
làm sao?
- Muốn thực hành chánh niệm
phải hành bất sanh, bất diệt.
- Pháp nào bất sanh, pháp nào
bất diệt?
- Pháp bất thiện bất sanh. Pháp
thiện bất diệt.
- Pháp thiện và bất thiện
lấy gì làm gốc?
- Thân làm gốc.
- Thân lấy gì làm gốc?
- Dục và tham làm gốc.
- Dục và tham lấy gì làm
gốc?
- Hư vọng phân biệt làm gốc.
- Hư vọng phân biệt lấy gì
làm gốc?
- Tướng điên đảo làm
gốc.
- Tướng điên đảo lấy
gì làm gốc?
- Vô trụ làm gốc.
- Vô trụ lấy gì làm gốc?
- Vô trụ thì không có gốc.
Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi!
Ông Duy Ma Cật nói: Từ chỗ vô trụ
mà an lập tất cả pháp.
4.- Trong tịnh thất của ngài Duy Ma
Cật có vị thiên nữ. Thấy hàng
nhơn thiên nghe pháp, thiên nữ bèn
hiện thân và dùng hoa cõi trời tung
rải trên các hàng Bồ tát và
đại đệ tử Thanh văn cúng
dường. Hoa rơi đến các Bồ tát,
rớt xuống bình thường. Những hoa rơi
nhằm các đại đệ tử thì dính
trên người không rớt. Các đại
đệ tử dùng hết thần lực phủi
bỏ những hoa kia nhưng phủi mãi mà hoa
không rớt được.
Thiên nữ hỏi ông Xá Lợi
Phất: Vì sao ngài Xá Lợi Phất lại
phủi hoa như thế?
Ông Xá Lợi Phất đáp:
Vì hoa này không đúng pháp
đối với một tu sĩ như chúng tôi.
Thiên nữ nói: Đừng cho rằng
hoa này không đúng pháp. Vì sao?
Vì hoa không có phân biệt, tại vì
Xá Lợi Phất ngài có cái
tướng phân biệt đấy thôi. Ở trong
Phật pháp, xuất gia mà còn có
phân biệt đó là không đúng
pháp. Nếu không phân biệt thế mới
là đúng pháp.
Xá Lợi Phất! Ngài hãy xem kia,
các Bồ tát hoa không dính các
ngài vì Bồ tát đã dứt hết
tướng phân biệt. Ví như người hay
sợ thì quỷ mị mới có dịp
khuấy phá khủng bố. Các hàng
đệ tử Thanh văn sợ sanh tử cho nên
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trở
thành đối tượng nhiễu loạn cõi
lòng. Nếu đã ly sự sợ hãi
thì ngũ dục không làm gì
được. Chỉ vì tập khí kiết
sử của ngài chưa hết cho nên hoa
dính mắc vào thân, khi nào tập
khí hết hoa sẽ không còn dính nữa.
5.- Ông Xá Lợi Phất hỏi:
Thiên nữ ở tại tịnh thất này
đã lâu rồi chứ?
- Thiên nữ đáp: Tôi ở
tại tịnh thất này như sự giải
thoát của bậc kỳ cựu cao niên.
- Vậy có lâu chưa?
- Sự giải thoát của bậc kỳ
cựu cao niên há cũng có lâu sao?
Ông Xá Lợi Phất lặng thinh
không biết phải nói gì.
Thiên nữ nói: Bậc kỳ cựu
đại trí như ngài Xá Lợi Phất
sao lại lặng thinh?
- Sự giải thoát vượt ngoài
ngôn thuyết văn tự cho nên tôi không
biết phải nói gì!
- Văn tự ngôn thuyết là
tướng giải thoát đấy chứ! Vì
sao? Vì giải thoát không ở trong, không
ở ngoài, không ở trung gian. Văn tự
cũng không ở trong, không ở ngoài,
cũng không ở trung gian.
Thế cho nên không rời văn tự
mà nói giải thoát thưa ngài Xá
Lợi Phất! Bởi vì sao? Vì tất cả
các pháp là tướng giải thoát.
- Không xa lìa dâm nộ si vẫn
được giải thoát nữa sao?
- Đúng vậy, Phật vì hạng
người tăng thượng mạn nói: Phải
xa lìa dâm nộ si để được
giải thoát. Nếu không phải hạng tăng
thượng mạn, Phật nói tánh của
dâm nộ si là tánh giải thoát.
6.- Ông Xá Lợi Phất tán
thán: Quí hóa thay! Quí hóa thay Thiên
nữ! Cô đắc gì? Cô chứng
được gì mà cô có
được sức biện tài như thế?
- Tôi không đắc gì hết
cũng không chứng gì hết nên tôi
mới có được biện tài như
thế. Vì sao? Bởi vì có chứng có
đắc ở trong Phật pháp là người
tăng thượng mạn. 7.- Ông Xá Lợi
Phất hỏi thiên nử: Ở trong ba thừa cô
cầu thừa nào?
- Thiên nữ đáp: Khi cần
pháp Thanh văn giáo hoá chúng sanh tôi
cầu Thanh văn thừa. Khi cần pháp nhân
duyên giáo hóa chúng sanh tôi cầu
Bích chi Phật thừa. Khi cần pháp đại
bi giáo hóa chúng sanh tôi cầu Đại
thừa.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ví
như người vào rừng chiêm bặc chỉ
ngửi hương chiêm bặc, không ngửi
hương khác. Cũng vậy, nếu người
vào tịnh thất này chỉ nghe hương
công đức của chư Phật, không ưa
nghe hương công đức của Bích chi
Phật, của Thanh văn.
8.- Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ở
trong tịnh thất này, thỉnh thoảng có
Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên
Vương, chư Thiên Long, quỷ thần vào
và nghe Duy Ma Cật thượng nhơn thuyết
chánh pháp. Tất cả đều vui ưa
hương công đức Phật phát tâm
rồi đi.
Ngài Xá Lợi Phất này! Tôi
ở tịnh thất này đã mười hai
năm. Ngay từ ban đầu, không bao giờ nghe
thuyết pháp Thanh văn, Bích chi Phật, tôi
chỉ nghe pháp đại từ, đại bi của
Bồ tát và pháp bất tư nghì
của Phật.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tịnh
thất này thường hiện tám pháp
chưa từng có và khó được.
Tịnh thất này thường dùng
màu hoàng kim soi sáng ngày cũng như
đêm mà không cần đến ánh
sáng của nhật nguyệt. Đó là
pháp chưa từng có, khó được
thứ nhất.
Người vào tịnh thất này
không bị các sự cấu uế làm
não loạn thân tâm. Đó là
pháp chưa từng có, khó được
thứ hai.
Tịnh thất này thường có
Đế Thích, Phạm Vương và chư
Bồ tát ở mười phương đến
nhóm họp thường xuyên. Đó là
pháp chưa từng có, khó được
thứ ba.
Ở tịnh thất này thường
có thuyết giảng về lục ba la mật và
những pháp bất thối chuyển. Đó
là pháp chưa từng có, khó
được thứ tư.
Ở tịnh thất này thường
ngân vang những pháp âm vi diệu, tác
động cho nhơn thiên tiếp nhận niềm vui
thượng diệu. Đó là pháp chưa
từng có, khó được thứ năm.
Ở tịnh thất này có kho tàng
tứ đại chứa đầy các báu
vật, giúp cho những ai nghèo thiếu, cung
cấp hoài không hết. Đó là
pháp chưa từng có, khó được
thứ sáu.
Ở tịnh thất này khi Duy Ma Cật
thượng nhơn khởi tưởng niệm thì
Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà,
Phật A Súc, Phật Bảo Đức, Phật
Bảo Viêm, Phật Bảo Nguyệt, Phật Bảo
Nghiêm, Phật Nan Thắng, Phật Sư Tử
Hướng, Phật Nhất Thiết Lợi Thành
v.v...vô lượng chư Phật trong mười
phương cùng đến nói hết những
pháp yếu bí tàng của chư Phật.
Nói xong rồi, chư Phật trở về bản
quốc. Đó là pháp chưa từng
có, khó được thứ bảy.
Ở tịnh thất này tất cả cung
điện lộng lẫy, đẹp đẽ của
chư Thiên và các Tịnh độ của
chư Phật đều hiển hiện ở tịnh
thất này. Đó là pháp chưa
từng có, khó được thứ tám.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Tịnh
thất này thường hiện tám pháp
chưa từng có, khó được như
vậy. Ai đã thấy biết những việc
bất tư nghì như thế mà lại còn
ưa thích những pháp Thanh văn!
9.- Ông Xá Lợi Phất hỏi: Tại
sao thiên nữ không chuyển đổi nữ
thân?
Thiên nữ nói : Từ mười hai
năm, tôi tìm cái tướng nữ thân
không có. Tôi biết phải chuyển gì?
Ví như huyễn sư hóa làm người
nữ huyễn. Nếu có người hỏi:
"Vì sao không chuyển nữ thân".
Câu hỏi đó có đúng lý
không?
Ông Xá Lợi Phất đáp:
Không đúng. Đã huyễn thì không
có tướng cố định. Biết chuyển
cái gì!
Thiên nữ nói: Tất cả các
pháp cũng như vậy. Không có
tướng cố định. Thế tại sao ngài
hỏi tôi: "Vì sao không chuyển
đổi nữ thân?"
Liền đó, thiên nữ dùng
sức thần thông biến ông Xá Lợi
Phất y như thiên nữ. Thiên nữ hóa
mình y như ông Xá Lợi Phất và
hỏi: "Vì sao ngài Xá Lợi Phất
không chuyển nữ thân?"
Trong dáng mạo Thiên nữ, ông
Xá Lợi Phất đáp: "Tôi không
biết chuyển thế nào mà biến làm
thân nữ như vầy".
Thiên nữ nói: Ngài Xá Lợi
Phất mà có thể chuyển ra thân nữ
như thế thì tất cả người nữ
sẽ có thể chuyển được. Ngài
Xá Lợi Phất không phải nữ mà
hiện thân nữ thì tất cả người
nữ không phải nam lại cũng có thể
hiện thân nam. Ngài Xá Lợi Phất dù
hiện thân nữ mà không phải nữ.
Thế cho nên Phật nói: "Tất cả
pháp phi nam phi nữ".
Ngay bấy giờ, Thiên nữ thâu
nhiếp thần lực, ông Xá Lợi Phất
hoàn hình như cũ.
- Thiên nữ hỏi: Hình mạo nữ
thân của ngài ở đâu?
- Xá Lợi Phất đáp: Hình
mạo nữ thân của tôi không ở
đâu, không đâu chẳng ở.
- Tất cả các pháp cũng lại
như vậy. Không ở đâu, không
đâu chẳng ở. Cái đạo lý:
không ở đâu, không đâu chẳng
ở là chân lý đức Phật đã
nói ra.
- Thiên nữ! Người chết ở
cõi này rồi sẽ sanh ở đâu?
- Đức hóa Phật sanh đâu,
tôi sanh ở đó.
- Sự sanh của đức hóa Phật
không có chết và cũng không có
sanh.
- Chúng sanh cũng vậy. Không có
chết cũng không có sanh.
- Chừng nào người được
quả vô thượng Bồ Đề, thưa
Thiên nữ?
- Chừng nào ngài Xá Lợi
Phất trở lại làm phàm phu thì tôi
mới thành vô thượng Bồ đề.
- Tôi không bao giờ trở lại
làm phàm phu.
- Thì tôi cũng không bao giờ
được quả vô thượng Bồ
đề. Vì sao? Vì Bồ đề "vô
sở trụ". Thế nên Bồ đề
không có cái được.
- Chư Phật đã được,
đang được và sẽ được vô
thượng Bồ đề nhiều như số
cát sông Hằng. Điều đó gọi
là gì?
- Đó là dựa trên văn tự
và số mục của thế gian tục đế
mà có ba đời, chứ không phải
quả vô thượng Bồ đề có
quá khứ, hiện tại, vị lai.
- Thưa ngài Xá Lợi Phất!
Ngài được quả A la hán chứ?
- Không có được, mà
được.
- Chư Phật và Bồ tát cũng
vậy. Không có được cho nên
được.
Ông Duy Ma Cật nói với ông
Xá Lợi Phất: Thiên nữ này từng
cúng dường chín mươi hai ức
đức Phật, đã được thần
thông du hí, đầy đủ sở nguyện
Bồ tát được vô sanh nhẫn, trụ
bất thối chuyển địa. Do bổn nguyện
giáo hóa chúng sanh, có thể hiện
thân tùy theo ý muốn.
TRỰC
CHỈ
1.- Quán tức là chữ Quan. Nếu
đọc là Quan thì có nghĩa là quan
sát.Quan sát là nhìn sự vật bằng
cách đưa mắt mà trông mà
nhìn. Nhìn đến đâu thấy
đến đấy.Lệch khỏi tầm nhìn
thì không thấy được. Khi đọc
là Quán, có nghĩa là quán chiếu.
Thấy bằng quán chiếu, cái thấy này
không cần phải trông, nhìn ở nơi
sự vật. Cái quán chiếu là thấy
bằng trí tuệ và biết bằng trí
tuệ.
Chúng sanh, không riêng gì loài
hữu tình mới gọi là chúng sanh.
Với Phật pháp, tất cả vạn loại
vô tình cũng là chúng sanh. Các
loài hữu tình gọi là hữu tình
chúng sanh. Vạn loại vô tình thì
gọi là vô tình chúng sanh.
Quán chúng sanh ở chương này
là quán cả hai loại chúng sanh.
Dưới tuệ nhãn của một
đại sĩ qua sự quán chiếu của
mình, Bồ tát thấy chúng sanh:
- Như người huyễn.
- Như trăng trong nước.
- Như sóng nắng trưa ngày hè.
- Như vang của tiếng.
- Như mây trên không trung.
- Như bọt trên mặt nước.
- Như bong bóng dưới cơn mưa.
- Như sự cứng chắc của cây
chuối.
- Như sự dừng lâu của tia chớp.
- Như đại thứ tám, ấm thứ
sáu, nhập thứ mười ba, giới thứ
mười chín.
Tất cả những thứ đó, ý
muốn nói: đó là những thứ
không có. Không hề có từ trước
tới nay và từ nay về sau cũng vĩnh
viễn không có.
- Sắc trong cõi vô sắc.
- Mầm của hạt thóc rang.
- Thân kiến của Tu đà Hoàn.
- Đầu thai của A na Hàm.
- Tam độc của A la Hán.
- Tham, sân, si của Bồ tát.
- Phiền não của Phật.
- Sự thấy sắc của người
mù.
- Dấu chim trong hư không.
- Con của người thạch nữ.
- Sự phẩn nộ của hóa nhơn.
- Chiêm bao lúc thức.
Tất cả những thứ đó là
những thứ chỉ có danh mà không hề
có thật. Bồ tát quán chúng sanh
như tất cả những thứ đó. Thế
thì qua tuệ nhãn của Bồ tát, tất
cả chúng sanh có, nhưng không thật
có, vì nó không trường cữu,
không bền chắc. Nó chỉ là hiện
tượng. Nó là hiện tượng trong
vô vàn hiện tượng vạn pháp mà
thôi.
Do vậy, trước nhãn quang của
đại sĩ: Vạn pháp giai không. Cho nên
chúng sanh cũng không có thật.
2.- Đáp câu hỏi của Đại
trí Văn Thù, Trưởng giả Duy Ma Cật
nói:
Thực hiện hạnh từ có thể
biểu thị nhiều cách từ ý nghĩ
đến hành động cụ thể giúp cho
chúng sanh có an vui hạnh phúc trong đời
sống của họ. Tuy nhiên sự hạnh phúc
an vui trong cuộc sống vật chất chưa có
giá trị chơn thật, nếu nguồn sáng
trí tuệ của họ chưa được
phát huy.
Bồ tát thực thiện hạnh từ,
phải quán triệt những chân lý vô
thường, khổ, không, vô ngã như
thế mà khai thị, khiến cho chúng sanh tỏ
ngộ thâm sâu. Chừng đó chúng sanh
có được sự an vui hạnh phúc
thật sự và lâu dài.
Đó là cách Bồ tát
thực hành hạnh từ chơn thật. Và
chỉ có cách đó mới được
xem là chơn thật từ.
Triển khai rộng về lòng từ,
Bồ tát vận dụng:
Tich diệt từ. Bất nhiệt từ. Bình
đẳng từ. Vô tránh từ. Bất hoại
từ. Kiên cố từ. Thanh tịnh từ. Vô
biên từ. La hán từ. Bồ tát từ.
Vô đẳng từ. Đại bi từ. Vô
yếm từ. Pháp thí từ. Trì giới
từ. Nhẫn nhục từ. Tinh tấn từ. Thiền
định từ. Trí tuệ từ. Phương
tiện từ. Vô ẩn từ. Thâm tâm từ.
Vô cuống từ. An lạc từ.
Qua bao nhiêu danh tự ấy, người
đệ tử Phật thấy rằng, lòng từ
trong đạo Phật có thể vận dụng trong
cuộc sống ở khắp mọi nơi chốn,
mọi thời gian. Lòng từ của đạo
Phật không gói gọn trong ý niệm của
một tiếng làm lành trừu tượng
ấy.
Lòng từ bi của một Bồ tát
là khi Bồ tát làm được bao
nhiêu công đức lành đều cho hết
chúng sanh.
Thấy chúng sanh được lợi
lạc, Bồ tát vui mừng khen ngợi không
hề có ý tị hiềm. Đó là
hỷ tâm của Bồ tát.
Bồ tát làm tất cả việc
lợi ích chúng sanh mà không thấy
mình là kẻ thi ân và người
thọ lãnh không có ý mong chờ hy
vọng ở sự đền ơn. Xả tâm
của Bồ tát là như thế.
3.- Sanh tử, ưu bi, khổ não là
việc đáng sợ, người trí phải
tìm cho mình một con đường an ổn.
Muốn được an ổn phải
nương nơi nghị lực và công
đức Như lai.
Phải trụ tâm ở chỗ cứu
độ chúng sanh thoát khổ.
Muốn độ thoát chúng sanh phải
từ bỏ phiền não.
Muốn từ bỏ phiền não phải
thực hành chánh niệm.
Muốn thực hành chánh niệm
phải thực hành bất sanh bất diệt.
Muốn thực hành bất sanh bất
diệt phải biết pháp bất thiện bất
sanh, pháp thiện bất diệt.
- Pháp thiện và bất thiện
thân là gốc.
- Thân thì do dục và tham lam làm
gốc.
- Dục và tham lam do hư vọng phân
biệt làm gốc.
- Hư vọng phân biệt do mộng
tưởng điên đảo làm gốc.
- Mộng tưởng điên đảo do
vô trụ làm gốc.
- Truy cứu đến cùng: Vô trụ
thì không có gốc.
Không có gốc tức là
đồng nghĩa với chẳng có gì mà
an bài tất cả pháp.
Do vậy: Vạn pháp gốc của nó
là chẳng có gì. Bản chất của
vạn pháp là giai không.
4.- Việc Thiên nữ rải hoa cúng
dường, hoa rơi đến các Bồ tát,
rồi hoa rớt xuống một cách bình
thường. Hoa rơi trúng các đệ tử
Thanh văn, hoa dính lại trên người
đến nổi phủi cũng không rớt.
Hàng Thanh văn thấy hoa vừa đẹp vừa
thơm. Thưởng thức cái đẹp, cái
thơm e rằng mình bị phạm giới.
Bồ tát đối sắc đẹp
hương thơm thọ dụng xuyên qua nhất
thiết chủng trí. Cho nên với Bồ tát
"Kiến sắc phi can sắc, văn hương
bất nhiễm hương". Có hoa xem như
không, thì cần gì phải phủi.
Sự kiện này, do người bất
tư nghì dàn dựng cảnh bất tư
nghì nhằm nói pháp bất tư nghì
để dạy cho mạt thế chúng sanh về
trí tuệ và nghị lực của con
người, nó hoàn toàn tùy thuộc
ở mọi người.
Ý chí bất khuất không sợ ma,
không bao giờ có ma đối với chàng
dũng sĩ kiên cường ấy.
5.- Ông Xá Lỡi Phất hỏi Thiên
nữ ở tại tịnh thất của ngài Duy Ma
Cật lâu mau rồi? Qua trí tuệ của
Đại thừa, nghe câu hỏi đó liền
sanh tâm thương hại cho trí tuệ Tiểu
thừa.
Lấy cái gì làm tiêu chuẩn,
đo đạt thời gian. Lấy sự cũ mới
của ngôi nhà! Hay sự cao thấp của
vườn cây?
Nhà cũ là cũ của nhà. Cao
thấp là cao thấp của vườn cây.
Thời gian không vì cũ của nhà, không
vì cao thấp của vườn cây mà cho
rằng thời gian có lâu có mau!
Phải học Thiền và Quán
đề tài: Thập thế cách pháp dị
thành môn, mới hiểu biết vấn đề
thời gian không sai chân lý.
6.- Thông thường, người ta cho
rằng người có chứng đắc, mới
có được biện tài. Sự hiểu
biết của trình độ Tiểu thừa như
ông Xá Lợi Phất cũng chưa vượt
qua cái lẽ thông thường đó.
Với tri kiến Đại thừa, dù
được Bồ đề Niết bàn chỉ
là sự trở về đến chỗ cũ
của tự tánh mình.
7.- Người đạt đến trình
độ trí tuệ Đại thừa, thì
lại xóa bỏ hết mọi ý tưởng
câu nệ về thừa. Có vậy mới có
thể làm lợi ích cho mọi tầng lớp
chúng sanh. Cũng như người lái xe
giỏi, có lúc cần phải vượt
trái luật lệ giao thông, miễn là cứu
được mạng người và tránh
được sự thiệt hại vật chất.
8.- Tịnh thất của ngài Duy Ma Cật,
thỉnh thoảng có Đế Thích, Phạm
Thiên, Tứ Thiên vương, Thiên long, quỷ
thần đến nghe ngài Duy Ma Cật thuyết
chánh pháp. Bởi vì ngài Duy Ma Cật
lúc nào cũng nhớ chánh pháp, hành
chánh pháp, nói chánh pháp và
sống trong chánh pháp. Cũng như nhà
của chúng sanh bạc địa phàm phu,
ngày ngày sống trong vô minh, tam độc,
trong lục dục thất tình thì nhà
này thường có súc sanh, ngạ quỷ
và người địa ngục...vào ra rộn
rịp, không có lúc nào tạm vắng.
9.- Xử dụng nhất thiết chủng trí,
qua tánh tướng Thập như thị : Như
thị tướng, như thị tánh, như thị
thể, như thị lực, như thị tác,
như thị nhơn, như thị duyên, như
thị quả, như thị báo, như thị
bổn mạt cứu cánh. Vạn pháp đều
như. Mỗi pháp có tánh như của
nó. Nghĩa là tánh của nó như
vậy. Tướng của nó như vậy. Thể
chất của nó như vậy. Lực dụng
của nó như vậy. Tạo tác của
nó như vậy. Nhơn cấu tạo ra nó
như vậy. Duyên hình thành nó như
vậy. Kết quả ra nó như vậy. Và chung
qui như vậy mà thành ra nó và nó
là nó như vậy.
Nhìn vạn pháp qua trí tuệ
đó, thì tướng nữ, nam không
còn là vấn đề để bình
luận. Nam hay nữ chỉ là nhơn duyên
biến hiện như thị. Bản thể của
cái tướng nữ, nam chung cùng không nam
không nữ.
Cũng không có vấn đề chết
đâu,sanh đâu. Sống chết ví như
sự nổi chìm của sóng bọt trên
mặt đại dương. Sự nổi chìm
đó không làm cho nước biển có
tăng giảm chút nào. Còn quan tâm
đến vấn đề "chết từ cõi
nào, sanh đến cõi này", điều
đó đủ nói rõ tầm hiểu
biết của người Tiểu thừa cạn
cợt, chỉ biết nước qua sóng bọt
mà chưa biết được sóng bọt còn
có nước biển tồn tại vĩnh cữu
với thời gian. Dù vậy, sóng và
nước đời đời vẫn bất ly mà
bất tức.
Dưới nhãn quan của người
xử dụng NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ không
có vấn đề thành Phật hay chừng
nào thành Phật. Vì tất cả chúng
sanh vốn đã thành Phật lâu rồi. Dù
hiện tại là chúng sanh nhưng Phật
tánh ở trong chúng sanh đó không hề
thêm bớt. Ví như keo sơn bao bọc thỏi
vàng nhưng không vì vậy mà thỏi
vàng 24 kara giảm đi chất lượng.
Chư Phật đã được, đang
được và sẽ được vô
thượng Bồ đề nhiều như số
cát sông Hằng. Đó là dựa trên
ngôn ngữ, văn tự và số mục của
thời gian và tùy thuận thế gian mà
nói chứ vô thượng Bồ đề
không có quá khứ, hiện tại và
vị lai.
"Như Lai giả vô sở tùng lai,
diệc vô sở khứ". Vô thượng
Bồ đề là quả vị vô thỉ vô
chung.
Vô thượng Bồ đề tức
là bản thể chơn như của vạn
pháp. Sống đúng hợp với chân
lý của vạn pháp tức là người
trở về nguyên quán, về đến Bảo
sở chơn như mà mình lưu lạc tự
bấy lâu nay.
CHƯƠNG
THỨ TÁM
1.- Bồ tát Văn thù Sư Lợi
nói:
Thưa ngài Duy Ma Cật! Bồ tát
phải làm gì để con đường
Phật được thông suốt?
Ông
Duy Ma Cật đáp: Thưa ngài Văn Thù
Sư Lợi! Bồ tát muốn con đường
Phật được thông suốt, phải đi con
đường ngược lại. Đi con
đường ngược thì con đường
Phật sẽ thông suốt.
Bồ
tát Văn Thù hỏi: Đi con đường
ngược, Bồ tát phải đi như thế
nào?
Ông
Duy Ma Cật đáp: Bồ tát đi vào
ngũ vô gián mà không buồn rầu
giận dữ. Vào địa ngục mà tự
tâm không có tội lỗi cấu uế.
Đến với súc sanh mà không có
vô minh, kiêu mạn. Đến với ngạ
quỷ mà đầy đủ công đức
lành. Đi vào con đường dục giới,
sắc giới, chẳng cho đó là
được may mắn hơn.
Giả
đi vào con đường tham dục mà xa
lìa các sự đắm nhiễm dính
mắc.
Giả
đi vào con đường sân nhuế mà
đối với chúng sanh không giận dữ
thù hằn.
Giả
đi vào ngu si mà thường dùng trí
tuệ điều phục tâm mình.
Giả
đi vào con đường xan tham mà xả
bỏ thân tâm, của cải cho đến
thân mạng cũng không lẫn tiếc. Giả
đi vào đường phạm giới mà
tâm an trụ tịnh hạnh, dù tội lỗi
nhỏ cũng răn sợ không cho sai phạm. Giả
đi vào con đường giải đải
mà hằng siêng tu công đức thiện.
Giả
đi vào đường loạn ý mà
thường nhiếp niệm định tâm.
Giả
đi vào con đường ngu si mà thông
hiểu hết việc thế gian và xuất thế
gian một cách đúng đắn.
Giả
đi vào con đường siểm trá mà
khi kết quả thì đúng với ý
nghĩa kinh, hợp lời Phật.
Giả
đi vào con đường kiêu mạn mà
thực chất là làm cầu đường
chuyên chở chúng sanh.
Giả
đi vào con đường phiền não mà
tâm thường thanh tịnh trong sáng.
Giả
đi vào con đường ma mà thuận theo
trí tuệ Phật không nghe theo sự cám
dỗ của bọn ma.
Giả
đi vào đường Thanh văn mà giáo
hóa chúng sanh bằng pháp đại thừa.
Giả
đi vào đường Bích chi Phật mà
đi truyền đạt cho chúng sanh tư
tưởng đại bi của Phật.
Giả
đi vào hàng nghèo khó mà của
báu công đức trong tay vô tận.
Giả
đi vào đường trau dồi trang điểm
sắc diện như người thường mà
đầy đủ các tướng hảo tự
trang nghiêm thân.
Giả
đi vào đường hạ tiện mà
thực chất sanh trong dòng Phật, bên trong
có đầy đủ công đức.
Giả
đi vào vào đường của hạng
người quê mùa, yếu đuối mà
thực chất được thân tráng kiện
na la diên, chúng sanh đều rất ưa
nhìn.
Giả
đi vào đường lão bệnh mà
dứt hẳn bệnh căn, vượt ra sự sợ
sệt chết chóc.
Giả
đi vào đường kinh doanh sinh sống mà
hằng quán vô thường, không để
lòng tham luyến.
Giả
có thê thiếp mà thường viễn ly
bùn lầy ngũ dục.
Giả
hiện như người đần độn mà
biện tài vô ngại, nhớ ghi không
sót.
Giả
đứng vào phe tà mà lấy chánh
lý giúp hộ chúng sanh.
Giả
hiện đi vào luân hồi mà đoạn
hết nguyên nhân sanh tử, ưu bi khổ
não.
Giả
hiện ở Niết bàn mà không dứt
hết hạt giống sanh tử.
Thưa
ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ
tát đi vào con đường trái
ngược như thế, Bồ tát sẽ đi
một cách thông suốt con đường
Phật.
2.-
Ông Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi
rằng:
-
Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Xin ngài
cho biết những gì là hạt giống Như
Lai?
-
Văn Thù Sư Lợi đáp: Thân là
hạt giống Như lai. Vô minh, ái là
hạt giống Như lai. Tham, sân, si là hạt
giống Như lai. Tứ đảo, ngũ cái,
lục nhập, thất tình, cửu não, thập
bất thiện nghiệp là hạt giống Như
lai. Nói tóm lại, 62 thứ kiến chấp
và tất cả các phiền não đều
là hạt giống Như lai.
-
Nói thế nghĩa là gì?
-
Nghĩa là những tâm và tâm sở
pháp có tánh chất phiền não, vô
minh đó là hạt giống Như lai Phật.
Ngược lại, nếu người tỏ ngộ
vô vi, chứng nhập chánh vị thì
không thể phát tâm hướng đến
vô thượng Bồ đề. Ví như cao
nguyên và đất gò, sen không thể
mọc được thì còn mong gì trổ
được hoa. Chỉ có đất thấp,
bùn lầy, hoa sen mới sanh trưởng. Cũng
như vậy, người ngộ vô vi pháp,
chứng nhập chánh vị không cần sinh
hoạt ở trong Phật pháp nữa. Chỉ có
chúng sanh ở trong bùn lầy phiền não, mới
phát khởi lòng mong cầu Phật pháp
mà thội. Cũng như trồng cây trong hư
không, cây không thể sanh trưởng. Phải
trồng ở chỗ có đất phân, cây
mới tươi tốt sum suê. Cũng vậy
người chứng nhập vô vi chánh vị
không còn điều kiện để sanh trong
Phật pháp, thà kiến chấp to như núi
Tu Di mà họ còn có cơ hội phát
tâm cầu vô thượng Bồ đề, sanh
trong Phật pháp. Thế cho nên phải biết
rằng: Tất cả phiền não là hạt
giống Như lai. Ví như không lặn xuống
biển sâu, không thể có được bảo
châu vô giá. Không vào biển lớn
phiền não, không thể có nhất thiết
trí vô giá Như lai.
3.-
Ông Ca Diếp tán thán rằng: Ôi!
Tuyệt diệu thay! Tuyệt diệu thay! Những lời
nói của ngài Đại trí Văn Thù
Sư Lợi! Thật đúng vậy! Bè lũ
phiền não là hạt giống Như lai.
Hàng Thanh văn chúng tôi không kham nổi
việc phát tâm vô thượng Bồ
đề. Đến như người thọ tội
ngũ vô gián hãy còn có thể
phát tâm sanh trong Phật pháp. Nay chúng
tôi mất hẳn ý chí cầu vô
thượng đạo. Ví như người thui
chột các căn, đối với ngũ dục
chẳng còn tương quan tiếp thọ
được gì. Hàng Thanh văn đoạn
hết phiền não kiết sử, trong Phật
pháp hết đường nhờ cậy, vì
chí nguyện đã dứt mất hẳn rồi.
Thế cho nên, thưa ngài Văn Thù Sư
Lợi! Người bạc địa phàm phu
đối với Phật pháp còn có cơ
may trở lại, mà hàng Thanh văn thì
đã tuyệt phần. Bởi vì, phàm phu
nghe Phật pháp, có thể phát khởi
vô thượng đạo tâm, chứ hàng
Thanh văn dù có nghe Phật pháp trọn
đời, vĩnh viễn không thể phát ý
hướng về vô thượng đạo.
4.-
Bấy giờ trong pháp hội có Bồ tát
tên Phổ Hiện Sắc Thân, hỏi ông Duy Ma
Cật:
Thưa
cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến
thuộc, bạn lành tri thức của ngài
là những ai? Nô tì, đồng bộc,
ngựa, voi, xe, kiệu Ngài để ở chỗ
nào?
Ông
Duy Ma Cật đáp lời qua bài kệ:
Trí độ làm mẹ Bồ tát
Phương tiện lấy làm cha
Tất cả các đạo sư
Đều do đó mà có.
Lấy pháp hỷ làm vợ
Con gái: từ bi tâm
Con trai: chính tâm lành
Rỗng lặng: nhà thường trú.
Đệ tử: các trần lao
Sai khiến theo ý muốn
Đạo phẩm: thiện trí thức
Do vậy thành chánh giác.
Lục độ pháp: bạn bè
Pháp tứ nhiếp:kỷ nữ
Ca vịnh: tụng pháp âm.
Hoa viên là tổng trì
Pháp vô lậu: rừng cây
Giác ý: hoa tịnh diệu
Trí tuệ giải thoát: trái.
Ao tắm pháp bát giải
Nước định lóng sẳn
đầy
Ngâm ướp bông thất tịnh
Tắm gội người vô cấu.
Voi ngựa cỡi: ngũ thông
Đại thừa làm xe kiệu
Xà ích: trụ nhất tâm
Dạo đi đường Bát chánh.
Tướng hảo để đẹp
người
Đức tốt làm trang sức
Tàm quí làm xiêm áo
Thâm tâm làm tràng hoa
Thất tài bảo: sự nghiệp
Giáo hóa làm lợi tức.
Việc làm đúng lời nói
Hồi hướng là lợi lớn
Tứ thiền làm giường ngồi
Sống ở đời tịnh mệnh.
Đa văn: tăng trí tuệ
Trí tuệ: tiếng cõi lòng
Pháp cam lộ: thức ăn
Vị giải thoát: giải khát .
Tịnh tâm là tắm gội
Giới phẩm làm hương xoa
Đánh tan giặc phiền não
Mạnh mẽ không ai hơn.
Hàng phục bốn giống ma
Dựng cờ đại chiến thắng
Dù biết không khởi diệt
Dạy dỗ: hiện có sanh.
Xuất hiện khắp cõi nước
Như mặt nhựt trong không
Cúng dường mười phương
cõi
Vô lượng ức Như lai.
Chư Phật và bản thân
Không có tướng phân biệt
Dù biết cõi nước Phật
Và chúng sanh đều không
Mà thường tu Tịnh độ
Giáo hóa hết quần sanh.
Bao chủng loại chúng sanh
Hình thành và cử chỉ
Lực vô úy Bồ tát
Một thời đều hiện đủ.
Biết rõ các ma sự
Mà giả hiện tùy thân
Dùng trí phương tiện khéo
Hiện theo ý bọn ma.
Hoặc hiện già, bịnh, chết
Giáo hóa các quần sanh
Rõ biết như huyễn hóa
Việc làm không trở ngại.
Hoặc hiện kiếp thiêu hết
Trời đất đều trống không
Mọi người có tưởng
thường
Khiến được biết vô
thường.
Vô số ức chúng sanh
Đồng đến mời Bồ tát
Cùng một lúc đến nhà
Dạy họ về Phật đạo.
Kinh sách, chú thuật tà
Thủ công, công kỹ nghệ
Hiện làm hết việc này
Vì lợi ích chúng sanh.
Các đạo pháp thế gian
Xuất gia vào trong đó
Để chỉ rõ chỗ sai
Khiến khỏi rơi tà kiến.
Có lúc làm nhật nguyệt
Làm Thế chủ, Phạm vương
Có lúc làm đất nước
Có khi làm gió lửa.
Trong đời có dịch bệnh
Hiện làm cây cỏ thuốc
Nếu có người được
uống
Bệnh khổ được dứt trừ.
Thời kỳ có đói kém
Thân hiện các thức ăn
Cứu đói khát cho người
Sau đem Phật pháp dạy.
Đời sắp nổ binh đao
Đem đạo từ bi thuyết
Hóa độ các chúng sanh
Xóa bỏ lòng tranh chấp.
Nếu chiến tranh bùng nổ
Đứng giữa thế cân bằng
Hiện uy thế Bồ tát
Thuyết phục khiến hòa an.
Trong tất cả quốc độ
Chỗ nào có địa ngục
Liền đến vào nơi đó
Giúp họ khỏi khổ đau.
Trong tất cả cõi nước
Súc sanh ăn nuốt nhau
Hiện sanh vào trong đó
Khiến chúng được lợi
lành.
Giả bằng lòng ngũ dục
Lại biểu hiện hành thiền
Khiến tâm ma rối loạn
Không đễ bị lung lay.
Hoa sen sanh trong lửa
Chuyện hi hữu trên đời
Trong ngũ dục hành thiền
Hi hữu cũng như vậy.
Hoặc hiện làm dâm nữ
Dụ những người háo sắc
Trước lấy dục trói lại
Sau kéo vào Phật trí.
Hoặc làm người quốc
trưởng
Hoặc làm chủ thương thuyền
Quốc sư, Đại thần tốt
Để giúp ích chúng sanh.
Với những người nghèo khó
Hiện làm kho vô tận
Nhơn đó khuyến hóa người
Phát khởi Bồ đề tâm.
Với hạng người kiêu mạn
Hiện làm đại lực sĩ
Triệt tiêu các cống cao
Khiến trụ vô thượng đạo.
Ai lâm cảnh sợ sệt
Trước họ an ủi cho
Xua tan niềm sợ hãi
Sau khiến phát đạo tâm.
Hoặc hiện ly dâm dục
Làm ngũ thông tiên nhân
Mở lối các quần sanh
Khiến trụ giới nhẫn từ.
Thấy ai cần phụng sự
Hiện làm người tôi tớ
Phục vụ đẹp ý chủ
Sau khuyến phát đạo tâm.
Dùng phương tiện khéo léo
Cung dưỡng mọi nhu cầu
Con đường đạo vô lượng
Sở hành không bến bờ.
Trí tuệ không ngằn mé
Độ vô số chúng sanh
Giả sử tất cả Phật
Trong vô số ức kiếp.
Tán thán công đức kia
Hãy còn không cùng tận
Ai nghe pháp như thế
Không phát tâm Bồ đề!
Trừ người mất giống Phật
Kẻ vô trí quá đần.
TRỰC CHỈ
1.-Để trả lời
câu hỏi của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi:
"Bồ tát phải làm gì để đi
con đường Phật được thông
suốt, không bị trở ngại".
Ông
Duy Ma Cật đáp: "Bồ tát hành phi
đạo thị vi thông đạt Phật
đạo". Nghĩa là muốn đi theo con
đường Phật được thông suốt
thì Bồ tát phải đi ngược lại
con đường chúng sanh đi.
Đường
của chúng sanh là: "thuận lưu sanh
tử". Xuôi theo dòng chảy của sanh tử
mà đi. Thế cho nên, muốn đi con đường
Phật, Bồ tát phải đi ngược dòng
sanh tử ấy.
Đi
ngược dòng sanh tử nhưng không rời
bỏ, tránh né hay trốn chạy. Ý niệm
rời bỏ, tránh né, trốn chạy sanh tử
hy vọng có được Bồ đề Niết
bàn. Với đạo Phật, việc đó
không bao giờ có được. Người
nông gia sợ bùn, đất, phân nước
thấm ướt tay chân chỉ muốn trồng
cây gieo giống trong hư không để rồi
chờ thời thâu hoạch kết quả. Ý
tưởng đó nếu có thì đó
là ý tưởng hoang đường của
kẻ ngu si vô trí.
Ý
tưởng rời bỏ trốn chạy sanh tử,
không tu tâm sửa tánh, không cải tạo
phiền não vô minh ngay trong cuộc sống sanh
tử, ngồi không nằm rỗng đối với
thế cuộc xem mình như kẻ ăn xổi
ở thì, lơ lững thả hồn hy vọng
Bồ đề Niết bàn một ngày nào
đó sẽ đến. Ý tưởng
đó, ở trong Phật pháp cũng là
một ý tưởng hoang đường của
chàng nông gia vô trí kia không hơn
không kém.
2.-"Những
gì là hạt giống Như Lai?". Trả
lời câu hỏi đó của ông Duy Ma
Cật, Bồ tát Văn Thù nói:
-
Thân là hạt giống Như lai.
-
Vô minh là hạt giống Như lai.
-
Tham sân si là hạt giống Như lai.
-
Tứ đảo, ngũ cái, lục nhập, thất
tình, bát tà, cửu não, thập bất
thiện nghiệp là hạt giống Như lai.
-
Nói chung 62 thứ kiến chấp là hạt
giống Như lai.
Trước
tuệ nhãn của Đại trí Văn Thù
Sư Lợi thì tất cả phiền não
là hạt giống Như Lai. Có nghĩa là
muốn thành Phật thì dựa trên vô
minh phiền não mà cải tạo chuyển
hóa vô minh phiền não. Chuyển hóa
từng phần lượng cho đến khi biến
đổi hoàn toàn chất lượng vô
minh. Trừ bỏ vô minh phiền não, con
người không còn lý do để thành
Như Lai Phật. Không xuống biển sâu
không thể có được bảo châu
vô giá, không thể có nhất thiết
chủng trí Như lai vô giá.
3.-
Nhân danh hàng định tánh Thanh Văn,
ông Đại Ca Diếp thay mặt đại
chúng nói lên sự hối tiếc về
trí tuệ hẹp hòi kém cỏi của
người Tiểu thừa đối với giáo
lý vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
của Đại thừa.
Thà
làm hàng bạc địa phàm phu còn
có cơ hội phát tâm cầu vô
thượng Bồ đề. Còn hàng
định tánh Thanh Văn đối với quả
Bồ đề vô thượng chẳng khác
người tàn phế ngũ căn, không tiếp
nhận được gì trước cảnh
sắc, thanh, hương, vị xúc.
4.-
Trả lời câu hỏi của Bồ tát Phổ
Hiện Sắc Thân, ngài Duy Ma Cật nói
về gia đình, sự nghiệp, quyến thuộc
thân bằng, nô tì, đồng bộc,
vườn rừng, ao tắm ,kỷ nữ, ngựa xe
v.v...của chính ngài. Từ đó khiến
cho người học đạo thấy rằng ngài
không phải là một cư sĩ mà gọi
là cư sĩ vậy thôi.
Sự
thực, cư sĩ Duy Ma Cật là một hình
thức dàn dựng ra một người bất
tư nghì để trình diễn Phật sự
bất tư nghì nhằm giáo hóa chúng
sanh về đại thừa diệu pháp bất
tư nghì.
"Chiếc
áo không làm nên thầy tu". Có
phải chăng, người triết gia Tây
phương nào đó đã đọc
được kinh này?
Chiếc
áo thầy tu một khi lọt vào tay thợ
săn điêu ngoa xử dụng, chiếc áo
đó trở thành một thứ cạm bẫy
sát sanh đoạn mạng. Con sư tử có
bộ lông vàng hiếm quí, chết một
cách oan ức đau thương chỉ vì
chiếc áo và lầm tưởng chiếc
áo tu sĩ của tên thợ săn độc
ác kia là chiếc áo của vị tu sĩ
chân tu mà ngày ngày mình thường
lân la thân cận.
Dựng
lên một trưởng giả Duy Ma Cật bất
tư nghì để nhắc nhở cho mọi
người đệ tử Phật muốn tiến
thân trên đường Bồ đề vô
thượng cần phải cảnh giác về
chiếc áo...và có thể không cần
chiếc áo, lại có thể chính thực
thầy tu...
CHƯƠNG
THỨ CHÍN
1.-
Bấy giờ Ông Duy Ma Cật long trọng nói
với các Bồ tát rằng:
Thưa chư nhơn giả! Tôi xin trân
trọng đề nghị chư Bồ tát trong
hội này, mỗi người tự trình
bày sự chứng đắc và thể nhập
pháp môn không hai của một Bồ tát
như thế nào?
Trước hết vị Bồ tát hiệu
là Pháp Tự Tại trình bày:
Các Bồ tát mỗi mỗi đều
trình bày pháp môn sở ngộ của
mình và kết quả cùng đến một
mục đích: thể nhập pháp môn
không hai.
2.- Các Bồ tát trong hội này
đã nói hết rồi. Vậy xin Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi phát biểu
phương pháp thể nhập pháp môn
không hai của một Bồ tát.
Bồ tát Văn Thù nói: Theo ý
tôi, tất cả pháp không nói
được hết, không bàn tột
được, không chỉ đúng
được, không giải thích trọn vẹn
được. Vì vượt ngoài những câu
vấn đáp của ngữ ngôn văn tự.
Khế hội chân lý đó thì
đó là yếu tố thể nhập pháp
môn không hai.
3.- Bồ tát Văn Thù hỏi ông
Duy Ma Cật: Thưa cư sĩ! Chư Bồ tát
đã trình bày xong. Giờ đây, xin
nhơn giả cho biết cao kiến của ngài
về phương pháp thể nhập pháp
môn không hai của một Bồ tát?
Ông Duy Ma Cật lúc bấy giờ
điềm nhiên an tọa. Đại chúng cả
hội trường như nín thở trông
chờ...
Ông Duy Ma Cật vẫn im lặng và im
lặng...
Trong dáng vẻ hân hoan, cảm thông
được diệu ý, Bồ tát Đại
trí Văn Thù Sư Lợi nói: Siêu tuyệt
thay! Siêu tuyệt! Pháp môn không hai siêu
tuyệt! Bặt cả văn tự ngữ ngôn!
Đấy mới là cách thể
nhập pháp môn không hai chí chân,
chí thiện!
Sau khi trình bày những nguyên do
và tâm đắc của mình trong quá
trình thể nhập pháp môn không hai
của ba mươi mốt Bồ tát. Trong số
hội chúng có năm ngàn Bồ tát
tỏ ngộ vô sanh pháp nhẫn đồng
thể nhập pháp môn không hai.
TRỰC CHỈ
1.- Chứng nhập pháp
môn không hai, kinh Duy Ma Cật không nhằm
dạy cho người đệ tử tu hành phải
tìm về con số một, hay cái một nào
đó. Bởi vì chữ hai ở đây
không phải là chữ "2" ở số
lượng như 1,2...cũng không phải chữ hai
ở số thứ tự như: thứ hai, thứ ba...
Tránh
số 2 trong lượng số, hy vọng trở lùi
nắm giữ số 1 đã là vô ích,
tránh thứ hai ở thứ tự số mục để
mong cầu được số thứ ba, thứ tư
thì cũng hoài công, không có tác
dụng gì trên đường tiến tu
đối với sự nghiệp giác ngộ.
Người
đệ tử Phật, tu theo con đường Phật
phải thận trọng lưu tâm.
Bồ tát Duy Ma Cật,
đề nghị chư Bồ tát trình bày
về phương cách, lý do, về yếu
tố, dữ kiện, về hoàn cảnh, trường
hợp chứng nhập pháp môn không hai
của mình, nhằm dạy cho người đệ
tử Phật tu hành phương thức: Hồi
đầu thị ngạn, phương cách trở
về Căn bản trí, tức là trí vô
phân biệt vốn có của mọi người.
Giáo lý của đạo Phật dạy rằng
con người ai ai cũng có cái trí vô
phân biệt đó. Vì vậy, tự tánh
của mọi người vốn trong sáng thanh
tịnh. Cái tự tánh trong sáng thanh tịnh đó
chính là Phật tánh của mỗi
người.
Con
người bắt đầu có đau khổ từ
khi con người sống trái Căn bản trí.
Con người tự hủy hoại cái tánh trong
sáng, thanh tịnh, hồn nhiên, thanh thoát
của con người. Con người bắt đầu
xử dụng cái trí hậu đắc, tức
là cái trí phân biệt, cái trí
rất kém cõi thường bị bao phủ
bởi những lớp tạp tưởng vô minh
phiền não. Với phân biệt trí khó
mà nhận thức chân lý đúng
đắn, nếu không có những giây
phút thiền quán để tư duy phản
tỉnh hồi đầu.
Muốn
hồi đầu phản tỉnh cần có duyên
cớ hoặc hoàn cảnh, hoặc sự nhận
thức v.v...
Ba
mươi mốt Bồ tát thể nhập pháp
môn không hai đều dựa vào sự tư
duy nhận thức hoặc duyên cớ nào
đó do thấy, sự kiện nào đó do
tư duy hoặc trường hợp nào đó do
tiếp xúc...
Ba
mươi mốt Bồ tát thể nhập pháp
môn không hai, dựa trên những duyên
cớ, những sự kiện nhận thức không
đồng mà kết quả cũng đến
mục đích: Vô trí phân biệt.
-
Sanh và diệt.
-
Ngã và ngã sở.
-
Thọ và bất thọ.
-
Cấu và tịnh.
-
Động tâm và niệm tưởng.
-
Tướng nhất và tướng vô.
-
Tâm Bồ tát và tâm Thanh văn.
- Thiện và bất
thiện.
-
Tội và phước.
-
Hữu lậu và vô lậu.
-
Hữu vi và vô vi.
-
Thế gian và xuất thế gian.
-
Sanh tử và Niết bàn.
-
Tận và bất tận.
-
Ngã và vô ngã.
-
Minh và vô minh.
-
Sắc và không sắc.
-
Tứ đại và không đại.
-
Nhãn căn và sắc trần.
-
Bố thí và hồi hướng nhất thiết
trí.
-
Không, vô tướng, vô tác.
-
Phật, Pháp và Tăng.
-
Thân và thân diệt.
-
Thân, khẩu, ý.
-
Làm phước, làm tội, làm không
phước không tội.
-
Từ bản ngã, khởi chấp.
-
Có tướng sở đắc.
-
Tối và sáng.
-
Ham mộ Niết bàn, nhàm chán thế gian.
-
Chánh đạo, tà đạo.
-
Thật và không thật.
Ba mươi mốt đề
mục được xem là Hai và dựa trên
tướng hai đó mà tư duy quán
sát rồi phản tỉnh hồi đầu, ba
mươi mốt vị Bồ tát đều
chứng nhập pháp môn không hai.
Ba
mươi mốt cặp phạm trù đối
đải ấy, nhận xét kỹ, ta thấy
có đề mục chỉ có một. Như
đề mục Có tướng sở đắc,
lại có những đề mục không phải
hai mà có đến ba. Như đề mục
Phật, Pháp, Tăng. Đề mục Thân,
khẩu, ý. Đề mục Không, vô
tướng, vô tác. Đề mục Làm
phước, làm tội, làm không phước
không tội.
Ấy thế mà tất cả
đều được xem là hai.
Do
vậy, ta cũng thấy rõ kinh dạy qua vấn
đề chứng nhập pháp môn không hai,
như trước đã nói. Chứng nhập pháp
môn không hai mục đích không phải
chối bỏ số hai để lùi về số
một. Cũng nhằm tránh né số hai
để có được số ba, bốn, năm.
2.-
Đến lượt Bồ tát Đại Trí
Văn Thù Sư Lợi, ngài cho rằng:
Đã là pháp môn không hai thì
ngôn từ không bàn luận đến
được. Văn tự không mô tả
được. Nghĩ ngợi đến ba đã
là sai rồi. Đến chỗ tuyệt
đường đối đải thì có
diễn đạt hoa mỹ, khéo léo cách
nào cũng không phải cái đó.
Vì cái đó, chỗ đó, nó
ở vào lãnh vực Bất khả tư
nghì. Chỉ ai chứng mới biết mà
thôi. Chữ chứng ở đây không có
gì quá sức tưởng tượng đâu
các bạn ạ! Nó đồng nghĩa với
cái từ chứng nước ở các tòng
lâm miền Bắc nước Việt Nam ấy.
"Như nhơn ẩm thủy,
lãnh noãn tự tri". Chỉ có
người chứng nước mới biết
được nước ấm lạnh ở độ
nào...người không chứng nước
thì nghe để mà nghe, sự diễn tả
của người chứng nước không làm
cho người không chứng hiểu chính xác
độ nóng lạnh, vị ngọt ngon của
tách trà thơm ngát ấy.
3.-
Đến lượt ngài Duy Ma Cật trình
bày phương cách chứng nhập pháp
môn không hai của mình. Ngài biểu
thị bằng thái độ im lặng thản
nhiên. Đại chúng như hồi hộp và
có ý trông chờ những gì sẽ
diễn biến ra sau giây phút thản nhiên im
lặng đó. Nhưng rồi không có gì
nữa hết! Bồ tát Đại trí Văn
Thù thông cảm sâu sắc, tận cùng
ý niệm của nhau, như hai tấm gương
đối diện cùng lồng bóng phản
chiếu trước một cành hoa rực rở
sắc màu.
Bồ tát Đại
Trí Văn Thù chỉ tán thán
trước sự biểu hiện lặng im mà
không bình luận gì thêm nữa. Bồ tát
Đại Trí Văn Thù tâm đắc
và cảm thông hành động biểu
hiện đó của ngài Duy Ma Cật. Ngài
Văn Thù cho rằng hành động đó,
tự nói lên phương cách chứng
nhập pháp môn không hai của ngài Duy Ma
Cật đầy đủ lắm rồi. Còn dùng
ngôn ngữ văn tự để phủ nhận
văn tự ngữ ngôn, ngài Đại Trí
Văn Thù đã bỏ lỡ cơ may không
về đến đích. Người hiểu
được Duy Ma Cật phải là bậc
Đại trí, chẳng những cần có Căn
bản trí mà phải xử dụng Sai biệt
trí để thấy biết tường tận
mọi vật lý, sanh lý và tâm lý
giữa cuộc đời.
Ở đời, người hay
dạy dỗ, quở phạt, đánh mắng con
cái là người cha mẹ quá thương
con cái của mình. Không ai bỏ công
dạy dỗ, quở phạt, đánh mắng
những đứa trẻ nước lã người
dưng. Vì sao? Vì người dưng nước
lã không tương quan gắn bó, chẳng
dính líu nghĩa tình. Đối với
chúng, người làm cha mẹ kia chẳng
có gì để nói.
Cũng
vậy, các pháp thế gian và xuất thế
gian đối với chúng, Bồ tát Duy Ma
Cật không có gì để nói.
Đó là thâm ý của sự lặng
thinh, lặng thinh chỉ vì không có gì
để nói. Chỉ vì đã biết
rõ vạn pháp giai không từ hồi vô
thỉ dĩ chí vô chung, cho nên nói ít
thì sai chân lý ít, nói nhiều chỉ
tăng thêm nhiều hý luận!
CHƯƠNG
THỨ MƯỜI
1.- Ông Xá Lợi Phất nghĩ rằng:
giờ ngọ trai sắp đến, rồi đây
chư Bồ tát sẽ thọ thực bằng
gì?
Trưởng
giả Duy Ma Cật biết được thâm ý
của ông Xá Lợi Phất, bèn bảo
rằng:
Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Đức Phật dạy
tám môn giải thoát ngài lãnh thọ
tu hành. Há để xen tạp ý nghĩ
về ăn trong lúc nghe pháp vậy sao? Nếu
muốn ăn thì hãy đợi giây lát.
Ngài sẽ được thức ăn chưa
từng có.
Ông Duy Ma Cật liền nhập định,
vận dụng sức thần thông khiến cho
đại chúng thấy rõ, ở thượng
phương thế giới trải qua bốn mươi
hai hằng hà sa cõi Phật có quốc
độ tên gọi là Chúng Hương.
Hiện tại đức Phật Hương tích
là giáo chủ. Nước Chúng Hương
có thứ hương thơm kỳ diệu, so với
mùi thơm của các thế giới nhơn
thiên. Các cõi nước chư Phật trong
mười phương cũng không có thứ hương
nào sánh được. Cõi nước
đó, không có Thanh văn và Bích Chi
Phật, chỉ có chúng đại Bồ tát
thanh tịnh. Đức Phật Hương Tích
thường truyền pháp giáo hóa cho
hàng đại Bồ tát này. Thế giới
Chúng Hương thường xử dụng toàn
hương. Lầu các kiến tạo bằng
hương. Đi kinh hành trên đất
hương, vườn tược hoa cảnh cũng
hương. Hơi hương là thức ăn
của Phật, Bồ tát ở quốc độ
này. Hương này lan tỏa ngát thơm
khắp vô lượng thế giới mười
phương.
Lúc
ấy đức Phật và chư Bồ tát
cùng ngồi thọ thực. Chư Thiên tử
cùng có hiệu Hương Nghiêm, những
Thiên tử này đều đã phát
tâm vô thượng Bồ đề. Họ
dâng thức ăn Hương để cúng dường
Phật và Bồ tát.
Tất
cả đại chúng trong hải hội đều
trông thấy sự kiện này.
2.-
Bấy giờTrưởng giả Duy Ma Cật hỏi
các chúng Bồ tát trong hải hội
rằng: Thưa chư nhơn giả! Trong này ai
có thể qua đến cõi Phật Hương
Tích để có thể thỉnh một
ít cơm thơm?
Do
thần lực của Bồ tát Đại Trí
Văn Thù Sư Lợi, cả hải hội chư
Bồ tát đều lặng im.
Ông
Duy Ma Cật nói: Cả đại chúng trong
hải hội đều im lặng cả! Không
đáng xấu hổ lắm sao?
Văn
Thù Sư Lợi nói: Theo lời Phật dạy
"Không nên xem thường người chưa
học".
Ông
Duy Ma Cật, ngồi tại bản tòa ở
trước đại chúng, hóa hiện một
Bồ Tát tướng hảo quang minh, uy đức
hơn hẳn mọi người và sai bảo:
Ông qua thượng phương vượt
đây khoảng bốn mươi hai hằng hà
sa cõi Phật, có một quốc độ
tên gọi là Chúng Hương. Đức
Phật cõi đó hiệu là Huơng
Tích. Phật và Bồ tát đang cùng
ngồi thọ thực. Ông hãy đến
đó nói đúng như lời tôi
rằng:
"Duy
Ma Cật đê đầu đảnh lễ
dưới chân đức Thế Tôn trọng
kính vô vàn, gởi đến lời thăm
hỏi đức Thế Tôn ít bệnh, ít
não chăng? Sức khỏe bình an chăng? Mong
Thế Tôn cho một ít cơm thừa đem
về cõi Ta bà làm Phật sự khiến cho
những người ham ưa pháp Tiểu thừa
được mở mang trí tuệ phát chí
Đại thừa, đi theo đại đạo và
cũng khiến cho thanh danh của Như Lai
được nhiều người nghe biết khắp
cùng".
Lãnh
hội lời dặn dò, ở trước
đại chúng, vị hóa thân Bồ tát
liền bay lên thượng phương, trước
sự chứng kiến của đại chúng.
Đến thế giới Chúng Hương, hóa
thân Bồ tát lễ dưới chân Phật.
Vào lúc này tất cả đại chúng
ở cõi Ta bà đều nghe rõ lời
tác bạch:
"Duy
Ma Cật đê đầu đảnh lễ
dưới chân đức Thế Tôn, trọng
kính vô vàn, gởi đến lời thăm
hỏi, đức Thế Tôn ít bệnh, ít
não chăng? Sức khỏe bình an chăng? Mong
Thế Tôn cho một ít cơm thừa đem
về cõi Ta bà làm Phật sự, khiến
cho những người ham ưa pháp Tiểu thừa
được mở mang trí tuệ phát chí
Đại thừa , đi theo đại đạo
và cũng khiến cho thanh danh của Như Lai
được nhiều người nghe biết khắp
cùng".
Các
đại sĩ ở nước Chúng Hương
trông thấy đức hóa thân Bồ tát
đều rất kính mộ và tán thán
đây là việc chưa từng có. Bậc
thượng nhân này từ đâu đến.
Ta Bà thế giới cách đây bao xa. Sao
gọi là những người ham ưa tiểu
pháp. Bao nhiêu nghi vấn đặt ra và
đem những việc đó thưa hỏi
đức Phật.
Đức
Hương Tích Phật nói với chư Bồ
tát rằng ở hạ phương cách bốn
mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có
thế giới tên Ta bà. Hiện nay đức
Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ. Ta
bà là cõi đời nhơ xấu năm
trược hoành hành. Đức Phật
Thích Ca vì những chúng sanh ham ưa pháp
Tiểu thừa, mở mang chuyển hóa khiến cho
họ phát chí Đại thừa. Đức
Phật có một vị Bồ tát tên Duy Ma
Cật hằng trụ trong cảnh giới giải
thoát bất khả tư nghì, vì các
Bồ tát nói pháp. Vì thế, sai vị
hóa thân Bồ tát đến cõi này,
nhằm xưng dương danh hiệu của ta và
khen ngợi quốc độ Chúng Hương
này, khiến cho Bồ tát ở cõi Ta bà
được tăng phần công đức.
3.-
Các Bồ tát Chúng Hương hỏi
Phật: Duy Ma Cật người thế nào, mà
có thể hóa ra một Bồ tát oai
đức tròn đầy, thần thông quảng
đại thế kia?
Phật
nói: Rất lớn! Chẳng những hóa một
Bồ tát mà còn có thể hóa
vô số Bồ tát đi đến vô số
cõi nước trong mười phương để
thi tác Phật sự lợi ích chúng sanh.
4.-
Đức Hương Tích Như Lai lấy bình
bát Chúng Hương đựng đầy
một bát cơm hương và ban cho hóa
thân Bồ tát.
Lúc
bấy giờcó chín trăm vạn Bồ
tát, đồng thanh nói: Chúng tôi muốn
đến thế giới Ta bà để cúng
dường đức Phật Thích Ca Mâu Ni
và muốn hội kiến với ông Duy Ma Cật
và chúng Bồ tát ở cõi Ta Bà.
Đức
Phật nói : Các Bồ tát có thể
đi, nhưng phải thu nhiếp hương thơm
từ thân các ông. Đừng để cho
các chúng sanh cõi kia sanh tâm đam mê
nhiễm ái. Lại còn phải đổi
thân hình vốn có của các Bồ
tát cõi này, đừng để cho chư
Bồ Tát cõi Ta bà có mặc cảm
tự ti. Lại nữa, khi diện kiến các
ông không nên có trong lòng ý tưởng
khinh thường mà dấy lên tư tưởng
trở ngại không nên. Bởi vì sao? Vì
mười phương quốc độ đều
như hư không. Chẳng qua, chư Phật
vì giáo hóa những chúng sanh ham ưa
tiểu pháp mà không hiện trọn vẹn
cõi nước thanh tịnh đấy thôi.
Bấy
giờ hóa thân Bồ tát cung kính tiếp
nhận bát cơm cùng chín trăm vạn
Bồ tát, nương sức oai thần Phật,
chư Bồ tát hốt nhiên không còn
hiện diện ở thế giới Chúng
Hương... trong khoảnh khắc sau, tất cả
cùng có mặt ở tịnh thất của
ngài Duy Ma Cật.
Ông
Duy Ma Cật hóa ra chín trăm vạn chiếc
tòa sư tử cao rộng đẹp đẽ.
Chư Bồ tát trong hải hội đều
ngồi lên bảo tòa...
5.-
Hóa thân Bồ tát đem bát cơm
đầy ngào ngạt hương thơm dâng
lên Bồ tát Duy Ma Cật. Hơi thơm của
cơm xông ngát thành Tỳ Da Ly, lan tỏa
khắp cả ba ngàn đại thiên thế
giới.
Các
Bà la môn, cư sĩ v.v.. nghe mùi hương thân
tâm thanh thoát nhẹ nhàng và đồng
khen ngợi là sự kiện nhiệm mầu, xưa
nay chưa từng có.
Có
vị trưởng giả tên Nguyệt Cái
cùng với đoàn tùy tùng 84.000
người đi đến tịnh thất Bồ
tát Duy Ma Cật. Khi đến tịnh thất mọi
người trông thấy số chúng đại
Bồ tát rất đông. Các tòa sư
tử cao rộng trang nghiêm lộng lẫy. Tất
cả mọi người hoan hỉ lễ bái chư
Bồ tát chúng và các hàng đệ
tử Thanh Văn. Lễ xong, lui ra cùng đứng sang
một phía. Các địa thần, hư
không thần, chư Thiên cõi Dục, cõi
Sắc nghe mùi hương cũng đến tịnh
thất và xin được vào nghe pháp.
Bồ
tát Duy Ma Cật nói với ông Xá Lợi
Phất và các hàng đại Thanh văn
rằng:
Chư nhơn giả! Các vị sẽ
được ăn cơm vị cam lồ của Như
lai. Cơm này do huân tập vô lượng
đại bi mà có. Khi ăn không nên
dùng tâm ý hạn hẹp suy lường
mà làm cơm không tiêu hóa.
Khi
ấy, có vị Thanh văn móng ý nghĩ
rằng: Cơm ít mà đại chúng quá
đông. Rồi đây mọi người sẽ
ăn, rồi ai ăn ai nhịn?
Nhằm
giải tỏa mối nghi trong lòng đại
chúng, hóa thân Bồ tát tuyên bố:
Thưa chư nhơn giả! Các ngài
không nên dùng tiểu đức tiểu
trí của Thanh văn mà cân lường
phước đức trí tuệ của Như lai.
Nước bốn biển còn có thể hết
chứ cơm này không thể hết. Giả
sử mỗi người ăn một khối to bằng
núi Tu Di, ăn trọn kiếp cũng không hết
được. Vì đây là thức ăn
thừa của đấng đầy đủ công
đức giới, định, tuệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến vô tận, làm sao
hết được. Một bát cơm này no
lòng cho bao nhiêu đại chúng trong hội
này hãy còn quá dư thừa! Vả
lại Bồ tát, Thanh văn, nhơn thiên ăn
cơm này rồi thân tâm thư thái, vui
vẻ an nhiên giống như Bồ tát ở
cõi nước Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm.
Lại nữa sau khi ăn cơm này, từng lỗ
chân lông sẽ tiết ra hương thơm kỳ
diệu giống như mùi hương của các
rừng cây thơm ở quốc độ Chúng
Hương.
6.-
Bồ Tát Duy Ma Cật hỏi các Bồ tát
Chúng Hương rằng: Thưa chư đại
sĩ! Đức Hương Tích Như Lai ở
nước Chúng Hương giáo hóa
chúng Bồ tát bằng cách nào?
-
Hương Tích Như lai cõi nước
chúng tôi không dùng ngôn ngữ văn
tự thuyết mà chỉ lấy Hương,
khiến cho nhơn thiên được đi vào
luật hạnh. Các Bồ tát thì ngồi
dưới cội cây Hương nghe mùi
hương vi diệu mà được Tam muội
Nhất thiết Đức Tàng. Bồ tát
được tam muội ấy rồi tự có
đầy đủ công đức.
Các
Bồ Tát Chúng Hương hỏi lại:
Thưa!
Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, thuyết
pháp bằng cách nào?
Bồ
tát Duy Ma Cật đáp: Cõi Ta bà chúng
sanh cang cường khó giáo hóa, cho nên
đức Phật của chúng tôi phải
thuyết những ngôn ngữ cang cường
để mà điều phục. Phải nói
địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ.
Phải nói đấy là chỗ khổn nạn,
đấy là chỗ những người ngu si
thọ sanh. Phải nói đó là việc
làm sai quấy của thân. Đó là
quả báo của việc làm sai quấy của
thân. Đó là lời sai trái của
khẩu, đó là quả báo của lời
sai trái của khẩu. Đó là ý
nghĩ tội lỗi của ý, đó là
quả báo của ý nghĩ tội lỗi của
ý. Đấy là sát sanh, đấy là
quả báo của sát sanh. Đấy là
không cho mà lấy, đấy là quả
báo của việc không cho mà lấy.
Đó là tà dâm, đó là
quả báo của tà dâm. Đó là
vọng ngữ, đó là quả báo của
vọng ngữ. Đó là lưỡi hai chiều,
đó là quả báo của lưỡi hai
chiều. Đó là ác khẩu, đó
là quả báo của ác khẩu. Đó
là lời vô nghĩa, đó là quả
báo của lời vô nghĩa. Đó là
tham lam, đó là quả báo của tham lam.
Đó là sầu não, đó là
quả báo của sầu não. Đó là
tà kiến, đó là quả báo của
tà kiến. Đó là xan lẩn, đó
là quả báo của xan lẩn. Đó
là hủy phạm giới, đó là quả
báo của hủy phạm giới. Đó là
giải đải, đó là quả báo
của giải đải. Đó là loạn
ý, đó là quả báo của loạn ý.
Đó là ngu si, đó là quả báo
của ngu si. Đó là trì giới.
Đó là phạm giới. Đó là
việc nên làm. Đó là việc
không nên làm. Đó là chướng
ngại. Đó là không chướng ngại.
Đó là đắc tội. Đó là
tiêu tội. Đó là tịnh. Đó
là cấu. Đó là hữu lậu.
Đó là vô lậu. Đó là tà
đạo. Đó là chánh đạo.
Đó là hữu vi. Đó là vô vi.
Đó là thế gian. Đó là Niết
bàn.
Vì
những người khó giáo hóa, tâm
như vượn, ý như ngựa cho nên
đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn phải
dùng nhiều ngôn từ phương tiện
thuyết pháp để chế ngự tâm họ.
Sau đó mới điều phục được.
Ví như ngựa bất kham, voi cuồng bạo
khó huấn luyện, phải xử dụng roi,
dùi, đánh, chích thì mới điều
phục được. Cũng như thế, chúng
sanh cang cường nan hóa, phải dùng những
lời khổ thiết như thế mới có
thể đưa khép họ vào luật hạnh.
7.-
Các Bồ tát Chúng Hương đồng
tán thán rằng: Đức Thích Ca Mâu Ni
Thế Tôn, làm việc khó làm, dấu
đi sức tự tại vô lượng của
mình mà vui lấy pháp khó khăn
độ thoát chúng sanh. Các Bồ tát
cõi Ta bà đây cũng hết sức nhọc
nhằn khiêm tốn, do lòng đại bi vô
lượng mới nguyện sanh ở cõi Phật
này.
Bồ
tát Duy Ma Cật nói: Đúng như chư
đại sĩ nói, Bồ tát cõi Ta bà,
đối với chúng sanh lòng đại bi
rất kiên cố. Nhưng được cái
ưu việt là làm lợi ích chúng sanh
trong một đời công đức nhiều hơn
trăm ngàn đời làm lợi ích
chúng sanh ở cõi nước của các
ngài. Vì sao? Vì thế giới Ta bà
có mười việc thiện pháp, mà
các cõi Tịnh độ khác không
có:
Một,
lấy bố thí đem giúp đở kẻ
nghèo.
Hai,
lấy trì giới đem gương mẫu cho
người phạm giới.
Ba,
lấy nhẫn nhục đem dạy khuyên
người hung bạo.
Bốn,
lấy tinh tấn đem gương mẫu cho kẻ
biếng lười.
Năm,
lấy thiền định đem dạy người
loạn ý.
Sáu,
lấy trí tuệ đem giáo hóa người
ngu si.
Bảy,
nói pháp trừ nạn hóa độ
người bát nạn.
Tám,
lấy pháp đại thừa đem hóa
độ người yêu thích tiểu thừa.
Chín,
lấy pháp thiện căn khuyến hoá
người vô đức.
Mười,
thường lấy pháp tứ nhiếp dẫn dụ
giáo hóa chúng sanh.
8.-
Các Bồ tát Chúng Hương hỏi: Bồ
tát ở thế giới Ta bà thực hành
những pháp gì không bị thương
tổn, không mắc mứu để có thể
sanh sang ở tịnh độ.
Bồ
tát Duy Ma Cật đáp: Bồ tát ở
cõi này thành tựu được tám
pháp thì không bị thương tổn,
không bị mắc mứu có thể sanh vào
tịnh độ:
Một,
làm lợi ích chúng sanh mà không
cầu đền ơn đáp nghĩa.
Hai,
thay tất cả chúng sanh, gánh chịu những
thiệt thòi khổ não.
Ba,
làm tất cả công đức lành,
nguyện cho chúng sanh hưởng hết.
Bốn,
bình dị đơn giản đối với
tất cả mọi người, nhún nhường
tột thấp mà không mặc cảm tự ti.
Năm,
đối với chư Bồ tát xem trọng như
Phật.
Sáu,
những kinh chưa được nghe, thì nghe
không nghi ngờ.
Bảy,
không khinh chê pháp tu của người Thanh
văn, không ganh tị sự thọ hưởng
cúng dường của họ, không có ý
thu lợi về phần mình. Thường tâm
niệm việc đó để điều phục
tâm ý.
Tám,
thường xét lỗi mình, không phê
cái xấu của người khác, hằng
giữ nhất tâm, ham cầu công đức.
Đó là tám pháp làm cho Bồ
tát thế giới Ta bà không mắc mứu
để có thể sanh sang tịnh độ.
Bồ
tát Duy Ma Cật và Bồ tát Đại
Trí Văn Thù Sư Lợi ở giữa
đại chúng nói thời pháp ấy
rồi, trăm ngàn trời, người phát
tâm vô thượng Bồ đề. Mười
ngàn Bồ tát được vô sanh pháp
nhẫn.
TRỰC CHỈ
1.- Kinh Duy Ma Cật ba lần
hiện bày Tịnh độ trong Pháp giới
nhất chân. Nói "nhất chân"
người học Phật phải hiểu là pháp
giới chỉ có một. Toàn thể chỉ
có một. Một là tất cả. Không
còn pháp nào khác ngoài ở ngoài
pháp giới nhất chân đó. Pháp
giới nhất chân là pháp giới
"Thụ cùng tam tế, hoành biến thập
phương". Về không gian, tột mé
nghĩ bàn. Về thời gian hết nguồn
khái niệm.
Trong
pháp giới nhất chân không có vấn
đề tịnh uế. Thấy tịnh thấy uế
là do người. Vì vậy trong pháp giới
không tịnh uế lại có ra tịnh uế.
Lần
thứ nhất, ở chương một, trong cõi Ta
bà uế độ này, đức Phật
Thích Ca cho hàng đệ tử thấy và
biết rằng: Cõi Ta bà cấu uế
đó chính là do tội chướng của
các ông, khiến cho cái thấy của
các ông đối với cõi Ta bà
không thanh tịnh. Ví như trước ánh
nắng hòa dịu ấm áp của bầu
trời xuân. với muôn vàn màu sắc
của hoa lá thắm tươi rực rỡ. Vậy
mà những người mù thì chẳng thưởng
thức được gì. Không thấy
đẹp, không phải vì không có
cảnh đẹp. Không thấy tịnh, không
phải quốc độ của Phật Thích Ca
không tịnh.
Đó
là lần Phật cho đại chúng trong hải
hội biết: ngay nơi uế độ vốn
đã có tịnh độ. Tịnh độ
không cần phải xuất cảnh rời bỏ
uế độ ra đi mới có.
Ở
chương này, giới thiệu quốc độ
Chúng Hương của Phật Hương Tích.
Phật
Hương Tích giáo chủ của thế
giới Chúng Hương ở thượng
phương cách cõi Ta bà 42 hằng ha sa
cõi nước. Ở đó có thế
giới Tịnh độ. Tịnh độ Chúng
Hương, Phật và Bồ Tát xử dụng
toàn hương. Đất đai, lầu các,
vườn rừng, hoa cảnh, cho đến thức
ăn đều là hương tất cả.
Đức Hương Tích giáo hóa cũng
xử dụng hương.
Qua ý nghĩa của sự
kiện trên, ta thấy:
a.-
Nhằm giới thiệu cho đại chúng trong
hải hội biết rằng: ngoài thế giới
uế độ còn có thế giới thuần
tịnh độ trong pháp giới nhất chân.
Tuy nhiên, vẫn không ngoài chân lý
tịnh uế do người. Thế giới Chúng
Hương thuần tịnh, vì thế giới
không có xen tạp cái nhìn của nhục
nhãn vốn nhiều tội cấu của phàm
phu. Thế giới đó được nhìn qua
tuệ nhãn của thuần là Bồ tát.
b.-
Nhằm giáo dục cho người đệ tử
Phật biết: Lục trần, trần nào cũng
có thể làm Phật sự. Lục căn,
căn nào cũng cũng có thể khiến cho con
người học đạo, hành đạo và
chứng đạo được hết.
Đức
Phật Thích Ca giáo chủ cõi Ta bà
xử dụng thanh trần giáo hóa chúng sanh
làm nên Phật sư.
Đức
Phật Hương Tích giáo chủ thế
giới Chúng Hương xử dụng Hương
trần giáo hóa Bồ tát làm nên
Phật sự.
Chúng
sanh cõi Ta bà xử dụng nhĩ căn nghe
đạo, học đạo, hành đạo và
chứng thành đạo quả.
Chúng
Bồ tát thế giới Chúng Hương xử
dụng tỷ căn ngửi mùi đạo, học
đạo, hành đạo và chứng thành
đạo quả.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, 25 Thánh đệ tử
dựa trên lục căn, lục trần, lục
thức, thất đại làm dữ kiện
chứng đắc viên thông.
Kinh
Duy Ma Cật, 31 Bồ tát dựa trên 31 sự
kiện khác nhau nhưng kết cuộc cùng
đến một đích: chứng nhập pháp
môn bất nhị và với Hương trần,
đức Phật Hương Tích lại giáo
hóa chúng sanh khiến cho hàng Bồ tát
đạo hạnh ngày càng tăng tiến.
Quán
triệt kinh đìển Đại thừa,
người đệ tử Phật càng thấy
nền giáo lý Phật thậm thâm vi diệu.
Với
chân lý: Chư pháp tương tức,
nhất đa tương dung. Thế giới này
cũng là thế giới kia. Thế giới kia
cùng thế giới này tuy hai mà một. Đó
là ý nghĩa chư pháp tương tức.
Bởi vì, dù thế giới có hai nhưng
hai thế giới vẫn chung cùng trong pháp
giới nhất chân.
Hoa
Nghiêm tông lấy con sư tử vàng làm
ví dụ để khái niệm nhận thức
về ý nghĩa chư pháp tương tức
và nhất đa tương dung. Mảy lông
bờm và mảy lông đuôi của con sư
tử tên gọi khác nhau, nhưng lông bờm
là lông đuôi, lông đuôi là lông
bờm của con sư tử ấy. Vì hai mảy
lông cùng một chất vàng. Chất vàng
của lông bờm dung chứa toàn bộ chất
vàng của lông đuôi. Chẳng những
thế, nó còn dung chứ toàn bộ chất
vàng của toàn bộ lông móng từ
đầu chí đuôi của toàn thân con
sư tử.
Qua
ví dụ đó, thiền giả nhận thức
về ý nghĩa nhất đa tương dung.
2.-Hành
xử quán trí thâm ngộ sâu sắc
ý nghĩa chư pháp tương tức, nhất
đa tương dung, thiền giả sẽ lý
giải không hoang đường. Về sự di
chuyển qua lại của đức hóa thân
Bồ tát, trên một khoảng không gian
cách 42 hằng hà sa thế giới. Vừa đi,
đến, vừa làm lễ tác bạch, xin
cơm Hương, vừa trở về tịnh thất
của ngài Duy Ma Cật mà chỉ mất trong
vài khoảnh khắc!
Nhìn
vạn pháp bằng tuệ nhãn, Huyền Giác
thiền sư nói;
"Giác
hậu không không vô đại thiên".
Nghĩa là tâm thấy biết của những
bậc Đại giác thì 42 hằng hà sa thế
giới chẳng có ranh giới, cho nên xa gần
không còn là vấn đề đặt ra
để bình luận nữa. Mà: "Nhất
tức nhất thiết. Nhất thiết tức
nhất".
3.-
Đức Phật Hương Tích dạy: là
Bồ tát thì uy đức tôn nghiêm,
thần thông quảng đại là lẽ
thường. Các đặc trưng và thực nghĩa
của Bồ tát là phải làm những
việc khó mà tất cả chúng sanh
không làm được. Chẳng những thế,
vì sự nghiệp hóa độ chúng sanh,
Bồ tát phục vụ chúng sanh từ quốc
độ này sang vô lượng thế giới
khác trong mười phương không kể
thời gian, năm, tháng...
4.-
Phật Hương Tích đồng ý cho chín
trăm vạn Bồ tát ở quốc độ
Chúng Hương đi tham quan cõi Ta bà ra
mắt đức Phật Thích Ca với ba
điều kiện:
Một, phải thu nhiếp
thân hương. Không nên để chúng
sanh cõi Ta bà sanh tâm ái nhiễm khiến
cho họ khó tu hành.
Hai,
thu thân tướng vĩ đại trang nghiêm.
Không được để Bồ tát cõi
Ta bà mặc cảm tự ti không tốt.
Ba,
thấy Phật, thấy Bồ tát, thấy quốc
độ Ta bà không thanh tịnh trang nghiêm,
nhưng không được khởi tướng xem
thường. Đức Phật dạy tiếp:
Bồ
tát các ông phải biết: "Mười
phương quốc độ đều như hư
không. Chư Phật vì giáo hóa chúng
sanh ham ưa pháp nhỏ mà không hiện
trọn vẹn cõi nước thanh tịnh đấy
thôi".
Qua
lời dạy của đức Phật Hương
Tích, một lần nữa, ta có thể xác
định rằng: quốc độ tịnh uế
là do chúng sanh, chứ không phải quốc
độ của chư Như Lai trong mười
phương có tịnh có uế.
5.-
Cơm Hương, tượng trưng "phước
đức trí tuệ hương". Của cải
vật chất hữu vi, dù nhiều đến bao
nhiêu, đem phân phát cho ra có ngày
phải hết. Phước đức trí tuệ
của bậc đầy đủ tột cùng,
đem truyền đạt bao thời gian, năm,
tháng, số người tiếp thu không cần
hạn chế, phước đức trí tuệ
vẫn không hao mòn giảm thiểu. Tu học theo
con đường phước đức trí tuệ
của Hương Tích Như lai tức là tu
học pháp môn vô tận đăng của
thế giới Chúng Hương truyền đạt
cho Bồ tát cõi Ta bà.
6.- Như ta đã biết
căn, trần, thức, thất đại đều
có thể làm Phật sự được
hết. Vì tất cả đều là dữ
kiện chứng đắc Viên thông (Xin
đọc thêm kinh Thủ Lăng Nghiêm Trực
chỉ đề cương cùng một biên
dịch giả).
Đức
Phật Hương Tích thế giới Chúng
Hương xử dụng Hương trần giáo
hóa Bồ tát.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni cõi Ta bà xử
dụng Thanh trần giáo hóa chúng sanh.
Cõi
tịnh độ, Phật Hương Tích giáo
hóa chư Bồ tát chỉ dùng Hương
mà luật hạnh của các ngài bất
thối chuyển trên đường vô
thượng Bồ đề.
Cõi
uế độ, Phật Thích Ca giáo hóa
chúng sanh phải tận dụng ngôn từ khổ
thiết nặng nề, vì chúng sanh thâm
nhiễm vô minh, ý chí cang cường nan
điều nan phục.
Đối
với bậc lợi căn thượng trí,
đức Phật chỉ nói với họ về
phước đức, trí tuệ, khinh an, giải
thoát, Bồ đề Niết bàn là
người trí đã phát tâm hâm
mộ...
Với bậc hạ trí
độn căn, Phật không muốn dùng
lời khổ thiết nặng nề: ngạ quỷ,
súc sanh, địa ngục...nhưng vì muốn
tránh cảnh khổ đó cho chúng sanh,
đức Phật bất đắc dĩ phải đem
ra xử dụng.
Thật ra, đó chỉ
là một phương tiện được xem
như những công cụ bạo lực để
răn đe những ai không biết sợ tội
lỗi là gì. Như giăng giúp cho họ
một sợi thép gai làm hàng rào, hy
vọng họ không sa ngã vào chỗ hầm
hố, gai chông.
Vấn
đề địa ngục trong giáo lý nhà
Phật, địa ngục có cũng do con
người. Không do đấng thiêng liêng
nào kiến tạo sẵn để trừng trị
một ai. (Đọc thêm Thủ Lăng Nghiêm
Trực chỉ đề cương, tập 3 sẽ
được hiểu rõ hơn).
7.-
Phật và Bồ tát ở cõi Ta bà,
lòng đại bi vô lượng, đức
kiên cố vô cùng, ẩn dấu đi sức
tự tại giải thoát của mình làm
những việc khó làm nhằm độ
thoát chúng sanh cang cường nan điều nan
phục.
Đó
là lời tán thán và kính phục
tận đáy lòng của chư Bồ tát
quốc độ Chúng Hương.
Bồ
tát Duy Ma Cật cho biết dù vậy, nhưng
Bồ tát ở cõi Ta bà trên phương
diện vun bồi công đức phát huy trí
huệ, rèn luyện ý chí lại có
nhiều thuận lợi mà các Bồ tát
ở các cõi Tịnh độ khác không
có. Chẳng hạn:
Muốn giúp đở ban
cho , có người tiếp nhận.
Hoàn
cảnh nhiều cám dỗ để tự tôi
luyện ý chí được kiên trì.
Nhiều
kẻ thù bất như ý, để thí nghiệm
tánh nhẫn nhục,
Nhiều
nghịch cảnh đau thương, như cảnh
tỉnh phải tinh tấn tu hành, không nên
giải đải.
Nhiều
chúng sanh tạp ý, ta dạy cho họ
phương pháp định tâm.
Nhiều
kẻ ngu si, Bồ tát dạy cho họ sống theo
trí tuệ.
Nhờ
vậy, Bồ tát hành đạo ở cõi Ta
bà một đời bằng trăm ngàn
đời hành đạo ở các cõi
Tịnh độ khác.
8.-
Tuy nhiên, nếu Bồ tát không muốn
hành Phật sự, giáo hóa chúng sanh
ở cõi Ta bà thì cũng vẫn có
những điều kiện để Bồ Tát
tiến thân sanh sang các Tịnh độ:
Một,
thi ân không cần đền trả.
Hai,
nếu có điều kiện, gánh vác thay
cực khổ cho chúng sanh.
Ba,
làm điều lợi lành ban tặng cho
chúng sanh hết.
Bốn,
bình dân giản dị trong cuộc sống.
Nhún nhường tột thấp mà không
tự ti.
Năm,
trọng kính Bồ tát như kính Phật.
Sáu,
kinh điển Đại thừa nghe không khiếp
sợ.
Bảy, không khinh chê
pháp Thanh văn, không tỵ hiềm quyền
lợi đối với họ.
Tám,
thường quán xét lỗi mình không
nói thị phi của người.
Độ
sanh, hành đạo Bồ tát, tùy ở
thệ nguyện và phát tâm. Không ai
có quyền ép uổng ai trong nhiệm vụ cao
cả thiêng liêng đó. Thấy đủ
khả năng, giàu nghị lực thi hành
đạo ở cõi Ta bà. Muốn được
nhẹ vơi gánh nặng thì cũng tùy
nguyện mà sanh sang thế giới khác.
Tuy
nhiên ở cõi này hay nguyện sang thế
giới khác, muốn lập công bồi
đức thành tựu vô thượng Bồ
đề đều phải có điều kiện.
Thành tựu tám điều kiện đó,
thì ngay thân này, quốc độ này
mà tâm hồn đã giải thoát rỗng
rang, chính lúc đó là đã sanh sang
cõi Tịnh độ khác rồi.
CHƯƠNG
THỨ MƯỜI MỘT
1.- Đức Phật đang thuyết pháp
ở trong một vườn xoài cây to hàng
rợp bóng. Lúc bấy giờ đất
vườn bỗng nhiên trở nên rộng
rãi bao la khác thường, cành lá
vườn cây đổi màu mơn mởn xanh
tươi, trăm hoa đua nở rực rở sắc
màu, lã lướt đong đưa trong làn
gió nhẹ. Cảnh vật tựa như hân hoan
chào đón...Tất cả đại chúng
trong hải hội tự nhiên đều trở
thành màu hoàng kim rạng rỡ hào quang.
Thấy
hiện tượng lạ, ông A Nan thưa với
Phật: Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì
mà cảnh vật trong vườn hiện ra
điềm lạ thế kia. Đất của
vườn xoài bỗng nhiên rộng rãi bao
la, cây cối xanh tươi, trăm hoa rực rõ
sắc màu, mọi vật có vẻ như hân
hoan khác lạ. Đại chúng trong hải
hội đều trở thành một màu hoàng
kim rực rỡ.
Đức
Phật bảo A Nan! Hiện giờ ông Duy Ma Cật
và Văn Thù Sư Lợi cùng đại
chúng đang phát khởi ý muốn
đến ra mắt Ta. Họ đang cung kính đi
nhiểu quanh, trước khi đến đây cho
nên ứng ra điềm ấy.
2.-
Ông Duy Ma Cật nói với Đại Trí
Văn Thù Sư Lợi rằng: Thưa ngài
Văn Thù Sư Lợi! Chúng ta nên đến
ra mắt đức Thế Tôn! Nhơn cơ hội
này để chư Bồ tát tham kiến và
lễ bái cúng dường đức Phật.
Đại
Trí Văn Thù Sư Lợi nói: Ý
kiến rất hay. Thật là đúng lúc.
Vậy chúng ta nên cùng đi.
Bồ
Tát Duy Ma Cật bèn vận dụng thần
lực, dời tất cả đại chúng trong
lúc mọi người vẫn ngồi trên
tòa sư tử, để lên bàn tay phải
của mình sang đến chỗ Phật. Đến
nơi để xuống dưới đất. Bồ
tát Duy Ma Cật đê đầu, lễ
dưới chân Phật. Đi hữu nhiểu bảy
vòng, chấp tay cung kính đứng qua một phía.
Các Bồ tát, hàng đệ tử Thanh
văn, trời Đế Thích, Phạm Thiên,
tất cả rời khỏi tòa ngồi, dập
đầu lễ dưới chân đức Phật
cùng đi hữu nhiểu bảy vòng và
đứng sang một phía.
Đức
Thế Tôn tỏ lời thăm hỏi trong đạo
tình thân thiết đối với toàn
thể đại chúng và mọi người
hãy an tọa trở lại bản tòa.
Đức
Phật bảo ông Xá Lợi Phất rằng:
-
Xá Lợi Phất! Ông đã thấy sức
thần thông tự tại của bậc đại
sĩ Bồ tát làm rồi chứ?
-
Dạ! Bạch Thế Tôn, con đã thấy.
Ông Xá Lợi Phất thưa.
-
Ý ông thế nào? Phật hỏi.
-
Bạch Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất
thưa. Con thấy việc làm của Bồ tát
khó có thể nghĩ bàn. Vượt
ngoài sự suy lường của tâm, sự
nghĩ ngợi của ý.
3.-
Ông A Nan đứng lên hỏi Phật:
Bạch
Thế Tôn! Hôm nay trong bầu không khí
của hải hội có mùi hương kỳ
diệu mà từ trước chưa từng có,
chúng con không biết đó là thứ
hương chi!
Phật
bảo: Đó là mùi hương phát ra
từ lỗ chân lông của các Bồ
tát vừa mới đến.
Ông
Xá Lợi Phất nói với ông A Nan: Từng
lỗ chân lông của tôi cũng phát ra
mùi hương ấy.
- A
Nan hỏi: Do đâu ngài có được
mùi hương ấy?
- Do
Bồ tát Duy Ma Cật xin được cơm dư
của Phật Hương Tích ở nước
Chúng Hương đem về tịnh thất của
ông. Những ai được ăn cơm ấy,
từng lỗ chân lông đều phát ra
mùi hương như thế.
-
Mùi hương ấy có thể giữ lại
trong người bao lâu mới hết?
-
Cho đến khi nào cơm tiêu thì mùi
hương mới hết.
-
Cơm ấy bao lâu mới tiêu?
-
Thế lực của cơm này sau bảy ngày
mới tiêu. Thưa ngài A Nan! Nếu người
Thanh văn chưa chứng nhập chánh vị, ăn
cơm này đến khi được nhập
chánh vị, cơm mới tiêu. Nếu đã
nhập chánh vị, ăn cơm này đến
khi tâm được giải thoát, cơm mới
tiêu. Nếu chưa phát ý đại thừa,
ăn cơm này đến khi phát ý, cơm
mới tiêu. Đã phát ý đại
thừa, ăn cơm này đến khi được
vô sanh pháp nhẫn, cơm mới tiêu.
Đã được vô sanh pháp nhẫn,
ăn cơm này đến khi được nhất
sanh bổ xứ, cơm mới tiêu. Ví như
có thứ thuốc tên là thượng vị,
người uống thuốc này, các chất
độc trong thân hết, vị của thuốc
mới tiêu. Cơm này cũng thế. Chừng
nào dứt trừ hết các độc phiền
não, nhiên hậu cơm mới tiêu.
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Thật chưa
từng có. Cơm này có thể làm
nên Phật sự.
4.-
Phật nói: Đúng vậy! Đúng vậy!
A Nan: có cõi Phật lấy ánh hào quang
Phật làm Phật sự hoặc có cõi
lấy Bồ tát làm Phật sự. Cõi
lấy hóa nhơn Phật làm Phật sự.
Cõi lấy cây Bồ đề làm Phật
sự. Cõi lấy y phục ngọa cụ của Phật
làm Phật sự. Cõi lấy cơm ăn
làm Phật sự. Cõi lấy vườn
rừng, đài quán làm Phật sự.
Cõi lấy 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp
của thân Phật làm Phật sự. Cõi
lấy thân Phật làm Phật sự. Cõi
lấy hư không làm Phật sự. Cõi
lấy chiêm bao, huyễn ảo, âm vang, hình
trong gương, trăng trong nước, bóng giả
mả, các thí dụ như thế làm
Phật sự. Cõi lấy âm thanh, ngữ ngôn
văn tự làm Phật sự. Cõi lấy quốc
độ thanh tịnh bằng bặc vô ngôn,
vô thuyết, vô thị, vô thức, vô
tác, vô vi mà làm Phật sự.
Như
thế đấy A Nan! Nhất nhất oai nghi, đi
đứng tới lui, động tịnh của chư
Phật không một cử chỉ nào không
làm nên Phật sự.
Đức
Phật dạy tiếp: Này A Nan! Có cõi
Phật dùng cả tứ ma, dùng cả 84.000
phiền não trần lao. Đối với những
thứ đó, chúng sanh cho là những thứ
phiền lụy, khổ đau, mỏi mệt. Thế
mà chư Phật lại lấy đó mà
làm nên Phật sự. Làm được
những việc như thế, gọi đó là
thể nhập Nhất thiết chư Phật pháp
môn. Bồ tát thể nhập pháp môn
đó, giả sử thấy tất cả cõi
Phật thanh tịnh đẹp đẽ cũng không
lấy làm mừng, không khởi ý tham
cầu, không móng tâm cao ngạo. Giả sử
thấy cõi Phật không thanh tịnh, cũng
không bị ám ảnh ưu tư, không
ngại ngùng khởi tâm trốn tránh. Lúc
nào cũng vững tâm thanh tịnh đối
với chư Phật, hoan hỉ cung kính như
được cái chưa từng có. Vì
biết rằng chư Phật Như Lai công
đức bình đẳng, chỉ vì giáo
hóa chúng sanh mà hiện cõi Phật
không giống nhau.
5.-
A Nan! Đất đai cõi nước của chư
Phật có giới hạn mà hư không
thì không có giới hạn. Cũng vậy,
nhìn thấy sắc thân của chư Phật
có giới hạn mà trí tuệ vô
ngại của chư Phật thì không có giới
hạn.
A
Nan! Sắc thân của chư Phật oai nghi,
tướng hảo, chủng tánh giới,
định, tuệ, giải thoát, giải thoát
tri kiến, thập lực, tứ vô úy, thập
bát bất cộng pháp, đại từ,
đại bi, oai nghi sở hành, thọ mạng,
thuyết pháp giáo hóa, thành tựu
chúng sanh, tịnh Phật quốc độ
v.v...Các phương tiện để thành
tựu Phật pháp trọn vẹn thì đều
bình đẳng giống nhau. Vì thế cho nên
gọi là Chánh giác, gọi là Chánh
biến tri giác, gọi là Vô thượng
Chánh biến tri giác.
A
Nan! Nếu Như Lai nói rộng về ba cú
nghĩa đó, ông dù đem tuổi thọ
của một kiếp cũng không thể nào
tiếp thu hết được. Giả sử chúng
sanh đầy cả ba ngàn đại thiên
thế giới, có khiếu đa văn đệ
nhất như A Nan được chánh niệm
có sức tổng trì, những người
đó dùng trọn kiếp thọ mạng cũng
không lãnh hội được hết. Như
thế đó A Nan! Vô thượng chánh
biến tri giác của chư Phật không có
hạn lượng. Trí tuệ biện tài
không thể nghĩ bàn.
6.-
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Từ nay về sau, con
không còn dám nghĩ mình đa văn
nữa.
Phật
bảo: A Nan! Ông đừng suy thoái ý
chí như thế. Từ trước Như Lai vẫn
nói ông là đa văn đệ nhất
đó chứ. Nhưng đệ nhất trong hàng
Thanh văn chứ không phải đệ nhất
với hàng Bồ tát. Ông hãy an tâm
đi! Là người có trí, không ai so
lường trí tuệ của các hàng Bồ
tát! Tất cả vực sâu, biển cả
còn có thể đo lường chứ thiền
định, trí tuệ biện tài, sức
tổng trì và công đức của chư
Bồ tát thì không thể lường
hết.
A
Nan! Ông hãy gác qua những việc làm
của Bồ tát, đừng nghĩ ngợi so
bì nữa! Sức thần thông biến hiện
của ông Duy Ma Cật chừng một giờ
thôi, tất cả Thanh văn, Bích chi Phật
dùng hết sức biến hóa trải trăm
ngàn kiếp cũng không làm sao bằng
được.
7.-
Các Bồ tát từ thế giới Chúng
Hương đến dự, lúc bấy giờ
chấp tay bạch với đức Phật:
Bạch
Thế Tôn! Chúng con khi mới đến cõi
này, thoạt đầu chúng con có ý
tưởng hơi xem thường. Giờ đây,
chúng con rất ăn năn tự trách và
ý nghĩ đó không còn. Vì
chúng con được hiểu rằng phương
tiện của chư Phật không thể nghĩ
bàn. Vì độ chúng sanh tùy
phước đức và căn cơ của họ
mà ứng hiện cõi nước Phật có
khác.
Dạ!
Kính bạch Thế Tôn! Chúng con mong mỏi
Thế Tôn cho chúng con xin một lời dạy
để khi trở về bổn độ, chúng con
được nhớ Như Lai mãi mãi.
8.-
Phật dạy: này các Bồ tát! Như Lai
có pháp môn Hữu tận vô tận
giải thoát, các ông nên học.
Hữu
tận tức là hữu vi pháp. Vô tận
tức là vô vi pháp.
Phàm
là Bồ tát, phải tu học Bất tận
hữu vi, Bất trụ vô vi.
Bất
tận hữu vi, nghĩa là Bồ tát không
rời tâm đại từ, không gián
đoạn lòng đại bi. Phát tâm cầu
nhất thiết trí sâu sắc không tâm xao
lãng. Giáo hóa chúng sanh không nài
mỏi mệt. Đối với pháp Tứ nhiếp
thường nhớ nghĩ làm theo. Hộ trì
chánh pháp không tiếc thân mạng,
trồng các căn lành không biết mỏi
mệt. Tâm thường an trú trong các
phương tiện, ý chí hồi hướng
vô thượng Bồ đề. Cầu pháp
không giải đải. Thuyết pháp không
lẫn tiếc. Siêng cúng dường chư
Phật, cho nên vào sanh tử mà không
sợ. Được vinh quang không vui mừng kiêu
hãnh. Bị khổ nhục không buồn bả
nãn lòng. Không khinh người chưa học.
Kính người học như kính Phật. Ai sa
vào phiền não khiến cho họ phát
khởi chánh niệm. Viễn ly được
dục lạc không lấy đó làm tự
hào. Mình được vui không luyến
ái đam mê. Người được vui
khởi tâm vui mừng tùy hỷ. Tâm trụ
thiền định mà khởi tưởng như
ở địa ngục. Ở trong sanh tử khởi
tưởng như đang dạo chốn hoa viên.
Có người đến cầu xin khởi
tưởng như vị thầy tốt. Xả bỏ
hết sở hữu khởi tưởng thành tựu
nhất thiết trí. Thấy người hủy
phạm điều răn khởi tưởng cứu
hộ. Các ba la mật khởi tưởng như cha
mẹ. Những pháp trợ đạo phẩm
khởi tưởng như quyến thuộc. Trồng
các căn lành không hạn chế. Dùng
những việc trang nghiêm tịnh Phật quốc
độ xây dựng Phật độ cho mình.
Thực hành bố thí ba la mật để
được đầy đủ tướng hảo.
Trừ bỏ tất cả hành vi ác để
thân, khẩu, ý được thanh tịnh.
Dù sanh tử vô số ức kiếp ý
chí vẫn tích cực lạc quan. Nghe Phật
có vô lượng công đức, không
có ý mỏi mệt thoái thoát tự
khinh. Dùng gươm trí tuệ đánh
dẹp giặc phiền não. Ra khỏi ấm giới
nhập gánh vác chúng sanh. Hằng ở trong
giải thoát, dùng sức đại tinh tấn
hàng phục ma quân. Thường trụ trong
vọng niệm mong được trí tuệ thực
tướng. Thực hành thiểu dục tri túc
mà không rời bỏ pháp thế gian.
Không sai trái oai nghi mà có thể tùy
thuận việc làm thế tục. Vận dụng
thần thông, kích khởi trí tuệ dẫn
dắt chúng sanh. Trụ trong chánh niệm
được sức tổng trì, nghe học chân
lý, thường không quên sót. Khéo
phân biệt căn tánh, cắt đứt mọi
nghi ngờ của chúng sanh trong những điều
nghi vấn. Lạc thuyết biện tài, nói
pháp không mâu thuẩn trước sau. Hành
thập thiện trong sáng, hưởng thụ
phước báu nhơn thiên. Tu tứ vô
lượng tâm mở đường giác ngộ
cho Đế thích, Phạm thiên. Khuyến khích
thuyết pháp, tùy hỷ mọi việc lành.
Được âm thinh thánh thiện, thân
khẩu ý đều lành. Được oai nghi
Phật tu sâu thiện pháp. Việc lành
tập trung, chuyển hướng phục vụ giáo
hóa đại thừa. Thành tựu Bồ
tát tăng tâm không phóng dật, không
rơi sót tất cả hạnh lành.
Thực
hành tốt những điều như thế, gọi
là Bồ tát bất tận hữu vi.
9.-
Bồ tát bất trụ vô vi là:
Bồ tát tu
học vạn pháp giai không mà không
lấy cái không làm mục tiêu đối
tượng chứng đắc.
Tu học vạn pháp vô tướng vô
tác mà không lấy vô tướng vô
tác làm đối tượng sở chứng
sở đắc.
Tu học vạn pháp vô khởi mà không
lấy vô khởi làm đối tượng
chứng đắc.
Bồ tát quán vô thường mà làm
tất cả việc lành không hề có
chán ngán.
Quán thế gian khổ mà không oán
ghét sanh tử.
Quán vô ngã mà hết sức tinh tấn
trong việc giáo hóa con người.
Quán bản thể của vạn pháp tịch
diệt mà không mong cầu vĩnh viễn diệt
như hư không.
Quán viễn ly mà thân tâm luôn luôn
trụ trong thiện pháp.
Quán vạn pháp không có chỗ về
mà quy về thiện pháp.
Quán vạn pháp vô sanh mà lấy pháp
sanh để gánh vác tất cả.
Quán cảnh giới vô lậu mà không
dứt hẳn các lậu.
Quán vạn pháp vô hành mà lấy
pháp hành giáo hóa chúng sanh.
Quán rỗng không không có gì mà
không rời bỏ đại bi.
Quán chánh pháp vị mà không theo
đường lối của Tiểu thừa.
Quán vạn pháp hư vọng không bền
chắc, không người, không chủ, không
tướng nhưng bổn nguyện chưa tròn
thì đối với phước đức,
thiền định, trí tuệ lại là
việc bất hư.
Tu
học những pháp như thế gọi là
Bồ tát bất trụ vô vi.
Vì
sự nghiệp phước đức đầy
đủ, Bồ tát không trụ vô vi.
Vì
sự nghiệp trí tuệ đầy đủ,
Bồ tát không rời bỏ hữu vi. Vì
đại từ bi không trụ vô vi. Vì trao
truyền thuốc pháp không rời bỏ hữu
vi. Vì biết bịnh chúng sanh không trụ
vô vi. Vì trừ diệt bịnh chúng sanh
không rời bỏ hữu vi.
Này
các chánh sĩ! Đức Phật dạy
tiếp: Bồ tát thực hiện những pháp
bất tận hữu vi, bất trụ vô vi rồi,
thì chính đó cũng gọi là Tận
vô tận giải thoát pháp môn. Các
vị hãy theo đó mà tu học.
Các
Bồ tát đại sĩ nước Chúng
Hương nghe đức Phật dạy pháp môn
ấy rồi đều rất hoan hỉ, lấy các
thứ hoa sắc màu rực rỡ, bao nhiêu
thứ hương thơm thượng diệu tung rải
khắp cả ba ngàn đại thiên thế
giới để cúng dường Phật, cúng
dường Pháp và cúng dường chư
Bồ tát Tăng.
Cúng
dường xong, tất cả cùng dập đầu
lễ dưới chân Phật tán thán
rằng: chỉ có đức Phật Thích Ca
Mâu Ni vận dụng phương tiện hành
những việc nan hành, trong cõi thế gian
chưa từng có.
Nói
xong, bỗng nhiên không còn hiện diện.
Các đại sĩ đã trở lại quốc
độ Chúng Hương.
TRỰC CHỈ
1.- Trong các kinh điển Đại
thừa, Đất thường được đem
ví dụ cho Tâm chúng sanh. Vì vậy, kinh
điển khi nói đến tâm hay dùng qua
cái từ Tâm địa.
..."Chúng sanh chi tâm du như
đại địa. Ngũ cốc ngũ quả
tùng đại địa sanh. Như thị, tâm
pháp sanh Thế xuất thế, ngũ thú
thiện ác. Hữu học, vô học. Độc
giác, Bồ tát cập ư Như Lai. Dỉ thị
nhân duyên, tam giới duy tâm. Tâm danh vi
địa". Có nghĩa là tâm chúng
sanh được ví như đất, vì
tâm có thể sanh ra pháp thiện, pháp
ác. Có thể tạo ra trời, người, A tu
la, quỷ, súc sanh, địa ngục. Có thể
tạo ra hữu học, vô học, Độc
giác, Bồ tát thậm chí làm nên
địa vị Như Lai. Do vậy, ví tâm qua
cái từ tâm địa.
Đất đai, vườn rừng biểu
hiện một sắc thái hoàng kim rực rỡ.
Cỏ cây, hoa cảnh đua nhau khoe sắc thi màu.
Khí hậu trong lành, hòa điệu, rộn
rã tiếng chim hót oanh ca.
Trong bối cảnh đất chùa
tươi đẹp đó, đức Phật
dạy cho ông A Nan và đại chúng
biết:"Đây là hiện tượng ông
Duy Ma Cật và các Bồ tát định
ý và đang chuẩn bị đến ra mắt
vấn an ta".
Sự thật là thế đó.
Vùng đất nào mà Bồ tát
đã đến, đang đến hay sẽ
đến đều có hiện tượng
đẹp như vậy. Còn hơn thế nữa,
kinh Pháp Hoa đức Phật cho biết: từ
thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang
Nghiêm, cách thế giới Ta bà 42 hằng
hà sa thế giới. Vậy mà trên khoảng
đường dài ấy, thế giới nào
Bồ tát Diệu Âm đi ngang qua - chỉ đi
ngang qua thôi, tất cả đều trở thành
rực rỡ trang nghiêm như vậy. (Đọc
thêm kinh Pháp Hoa thâm nghĩa đề
cương cùng một biên soạn giả).
Ý Phật muốn dạy cho chúng sanh
rằng: Tâm địa của ai vừa nghĩ
lành, làm lành, nói lành như hạnh
lành của Bồ tát. Hoặc đã
làm, đang làm hay sẽ làm. Tự khắc tâm
địa của người đó, chuyển
thành hiện tượng đẹp vui, thanh thoát
như bối cảnh hoàng kim của vườn
rừng tươi đẹp ấy.
2.- Bồ tát Duy Ma Cật di chuyển mấy
muôn ngàn Bồ tát vẫn ngồi yên
trên tòa sư tử, từ vị trí tịnh
thất của ông sang địa điểm chỗ
Phật, trên một bàn tay...
Sao lại có chuyện hoang đường
như thế?
Tại trong người vốn có chất
hoang đường khi nghe hiểu theo kiểu hoang
đường, cho nên biến ra tưởng tượng.
Thâm nghĩa của bài kinh, giáo
lý Phật đại thừa nhằm dạy cho
Thiền giả vận dụng quán trí, tư duy
về vạn pháp qua mấy khía cạnh sau
đây:
a.- Phải hiểu rõ chân lý: Chư
pháp tương tức tự tại môn.
b.- Phải tư duy sâu sắc chân
lý: Nhất đa tương dung bất đồng
môn.
c. Phải nhận thức vạn pháp
với dạng: Nhân đà la võng cảnh
giới môn.
d.- Nắm vững chân lý: Đồng
thời cụ túc tương ứng môn.
Đoạn kinh trên nhằm dạy cho
hành giả phương pháp nhận thức,
tư duy và quán chiếu vạn pháp.
Phải đứng trên lập trường
quan điểm đó, người đệ tử
Phật có ngày tỏ ngộ chân lý.
Sự tu hành sẽ có kết quả thiết
thực đem lại sự khinh an giải thoát
từng phần trong cuộc sống hiện đời.
Bằng ngược lại, "Y văn giải
nghĩa tam thế Phật oan". Dù có khéo
nói vạn ngữ thiên ngôn, thực chất
chỉ là người giàu óc hoang
đường, nghe chuyện hoang đường và
sống để nói chuyện hoang đường.
3.- Ở cõi Ta bà đức Phật
Thích Ca Mâu Ni xử dụng Thanh trần làm
Phật sự trong việc giáo hóa chúng sanh.
Những chúng sanh hữu duyên được nghe
chánh pháp, hành chánh pháp và truyền
bá chánh pháp thì quyết định
sự giải thoát giác ngộ từng
bước mà tiến theo tiến trình tu học
của mình. Và Phật chủng đó
tồn tại mãi mãi trên tiến trình
ấy và cứ nhân lên mãi cho đến
ngày thành tựu quả vô thượng
Bồ đề.
Khác đức Phật Thích Ca,
đức Phật Hương tích xử dụng
Hương trần làm Phật sư trong việc
hóa độ chúng Bồ tát. Thì
những chúng sanh nào hữu duyên
được thọ dụng Hương trần và
kết quả đem lại cũng giống nhau. Nghĩa
là sự giải thoát giác ngộ cũng
từng bước mà tiến theo tiến trình tu
học của mình và Phật chủng đó
tồn tại mãi cho đến ngày thành
tựu quả vô thượng Bồ đề.
Thanh trần hay hương trần chỉ
là phương tiện của chư Phật mà
thôi.
4.- Hơn thế nữa, căn, trần,
thức, giới, đại đều là dữ
kiện thành tựu vô thượng Bồ
đề. Thậm chí có cõi Phật
dùng tứ ma làm Phật sự. Có cõi
dùng 84.000 phiền não trần lao cũng làm
Phật sự. Làm được những việc
như thế gọi là người thể nhập
Nhất thiết chư Phật pháp môn.
5.- Phật quả có thể gọi qua ba danh
hiệu: Chánh giác, chánh biến tri giác,
vô thượng chánh biến tri giác. Ba
cú nghĩa đó, không thể dùng
ngôn từ diễn đạt hết công
đức, trí tuệ và biện tài của
một đấng Như Lai Thế Tôn vô
thượng.
Sự mãn ý của con người
tròn đầy hạnh phúc thế gian còn
không tả nổi, huống hồ sự giải
thoát giác ngộ vô thượng của
một đấng Như Lai.
Người nói vận dụng ngôn
từ ngày này sang ngày khác, tháng
này qua năm nọ cũng không diễn tả
hết, thì người nghe dù có đa
văn đến cở nào, cũng không sao nghe
được trọn nghĩa của vấn đề.
"Như nhơn ẩm thủy, lãnh
noản tự tri" là vậy.
6.- Ông A Nan đã có cơ hội
đánh giá nhận xét và so sánh
trí tuệ của Thanh văn và Bồ tát
điều đó rất quí. Binh thư của
Tôn Tẩn có câu: "Tri kỷ tri bỉ
bách chiến bách thắng". Trong lãnh
vực trí tuệ cũng như vậy. Phải tri
kỷ tri bỉ, khư khư ôm cái tánh
tự cao, tự mãn, tự đắc, tự hào
sẽ mất đi cái lợi lớn. Giống như
cục đá xanh, hòn sắt sét dơ
dù có bỏ vào chảo đường
nấu trăm năm cũng không thể thành
chè được, vì nó chẳng thấm
được tí đường nào.
Tuy nhiên, ông A Nan thoái chuyển
tự ti thì lại bị Phật quở trách.
Phật nói: Từ lâu Như Lai vẫn khen ông
là đa văn đấy chứ! Có phải do
ông tự mãn tự thị gì đâu.
Nhưng trí đa văn của ông chỉ sánh
với các hàng A la hán. Với trí
tuệ và đa văn của Bồ tát thì
không nên so sánh để rồi buồn
nản thoái thoát đạo tâm là
việc không nên.
7.- Các Bồ tát khi mới đặt
chân đến cõi Ta bà, thoạt đầu
có ý niệm xem thường, điều
đó Như Lai không hề trách. Vì các
ông ấy là Bồ tát, trình độ
nhận thức của họ chỉ thông qua cái
nhìn của tuệ nhãn thì làm sao bảo
họ thấy biết được cõi nước
thanh tịnh của chư Phật trong mười
phương.
Chẳng những không trách mà
còn khen. Vì sau đó, chư Bồ tát
Chúng Hương ăn năn về sự thấy
biết thiển cận của mình. Còn biết
ra rằng: cõi Ta bà của Thích Ca Như Lai
không thật sự nhơ xấu như chúng sanh
lầm tưởng. Cõi Ta bà nhơ xấu
là do chúng sanh. Đức Thích Ca Như Lai
bằng lòng làm giáo chủ cõi nhơ
xấu và ở ngay nơi cõi nhơ xấu
cũng chỉ vì chúng sanh. Phát hiện ra
nhận thức đó, lòng kính trọng
của chư Bồ tát Chúng Hương
đối với đức Phật Thích Ca tăng
thêm vạn bội.
8.- Trước khi chúng con "về" xin
Như Lai dạy cho chúng con "một thiểu
pháp" (tức là một ít pháp nho
nhỏ của Như Lai. Chứ bọn chúng con
làm sao nhớ nhiều nổi, nếu Như Lai
dạy nhiều và dạy pháp quá cao siêu
sâu sắc), để về bên ấy chúng
con được nhớ mãi hình bóng và
âm thanh vô vàn trí tuệ của Như Lai.
Chấp thuận lời thỉnh cầu,
đức Phật dạy chư Bồ tát Chúng
Hương pháp môn Hữu tận Vô tận
giải thoát.
Ý Phật dạy rằng: Là một
Bồ tát thì phải thực hiện pháp
môn đó suốt tiến trình tu tập
của mình.
Hữu tận, có nghĩa là Bồ
tát không được từ bỏ pháp hữu
vi. Dù biết các pháp hữu vi như
mộng, như huyển, như bào, như ảnh...
Vô tận, có nghĩa là Bồ
tát không được bám trụ pháp
vô vi. Dù pháp vô vi đó là
phước đức, là trí tuệ, là
Niết bàn, là Bồ đề.
Pháp hữu vi dù như mộng,
huyễn, bào, ảnh nhưng Bồ tát không được
tránh né, trốn chạy, từ bỏ mà
phải tích cực hoạt động vì lý
tưởng độ thoát chúng sanh. Bồ tát
phát huy công dụng của tâm đại
từ, đại bi, đại hỉ, đại xả
để lợi ích chúng sanh.
- Giáo hóa chúng sanh không mỏi
mệt.
- Thực hiện pháp tứ nhiếp
vào cuộc đòi.
- Hộ trì chánh pháp, truyền
bá chánh pháp không tiếc thân.
- Trồng các căn lành không
mỏi mệt.
- Phát huy phương tiện hồi
hướng vô thượng Bồ đề.
- Cầu pháp không giải đải.
- Thuyết pháp không dấu diếm
lẫn tiếc.
- Siêng cúng dường Phật.
- Được vinh quang không hảnh
diện.
- Bị trù dập không nản lòng.
- Không khinh người chưa học.
- Kính người học như kính
Phật.
- Ai bị phiền não dạy cho họ
vượt qua, khiến họ quay về chánh
tín.
- Xa lìa dục lạc, không lấy
đó mà tự hào.
- Được thuận lòng vừa ý,
không luyến ái đam mê.
- Người khác được vui khởi
tâm tùy hỷ.
- Tâm thường ở trong thiền
định mà tưởng như mình đang
ở địa ngục, nghĩa là chưa
được thỏa mãn với thiền
định đã có.
- Ở trong cõi đời sanh tử mà
tưởng như đang du ngoạn thượng
uyển, hoa viên.
- Người đến cầu xin cứu
hộ, tưởng họ như là vị ân
sư.
- Lục ba la mật khởi tưởng như
cha mẹ.
- Những pháp trợ đạo khởi
tưởng như quyến thuộc.
- Trừ bỏ các ý niệm, hành
vi ác để thân, khẩu, ý
được thanh tịnh.
- Dù sanh tử vô số ức kiếp,
ý chí vẫn lạc quan.
- Nghe Phật có vô lượng công
đức, không thối chí tự khinh mình.
- Xử dụng trí tuệ để
hóa giải phiền não vô minh.
- Dùng sức đại tinh tấn, hàng
phục phiền não ma quân.
- Thường trú trong vô niệm
để đi vào thật tướng.
- Sống thiểu dục tri túc mà
không rời bỏ pháp thế gian.
- Lạc thuyết vô ngại biện
tài, thuyết pháp không mâu thuẩn
trước sau...
Thực hành những điều như
thế, gọi là Bồ tát Bất tận
hữu vi.
9.- Pháp vô vi được xem là
đích đến của người tu hành
Phật đạo. Tuy nhiên, dù đến mà
không được dùng tâm bám trụ,
khởi ý đam mê. Nếu bám trụ đam
mê thì pháp vô vi lại trở thành
điều kiện buộc ràng. Người giải
thoát bấy giờ tự đánh mất
tánh chất giải thoát của mình. Bởi
vì cố bám trụ, cố giữ lấy là
do sợ mất. Cái người ta sợ mất
vì cái đó có thể mất. Có
thể mất thì có ngày sẽ mất. Cho
nên bám trụ đam mê cái của nợ
như thế thì tự nó trở thành
nguyên nhân đau khổ, tự nó không
còn vô vi pháp nữa. Vì vậy, là
một Bồ tát trong quá trình cũng như
trên tiến trình tu tập phải học
pháp Bất trụ vô vi.
- Biết rõ vạn pháp giai không
mà không lấy cái không ấy làm
đối tượng sở chứng của mình.
- Biết rõ vạn pháp vô
tướng, vô tác mà không buông
xuôi rời bỏ mọi pháp thế gian.
- Biết rõ vạn pháp vô
thường, khổ, vô ngã, bất tịnh
mà không từ bỏ việc lành nào,
dù là lành nhỏ.
- Biết rõ thế gian khổ, mà
không oán ghét sanh tử.
- Biết rõ tất cả đều vô
ngã mà hết lòng hết sức giáo
hóa chúng sanh.
- Biết rõ thể tánh của các
pháp là tịch diệt mà không mong
cầu vĩnh viễn diệt.
- Quán biết rõ vạn pháp vô
sanh mà lấy pháp sanh gánh vác tất
cả.
- Thường quán cảnh giới vô
lậu mà không dứt hết các lậu.
- Hướng tâm về chánh pháp
vị mà không làm theo hạnh nguyện
Tiểu thừa.
- Quán biết vạn pháp hư vọng,
vô chủ nhưng bổn nguyện chưa thành
thì việc tu phước, tu huệ...không
phút giây xao lãng.
Là Bồ tát muốn phước
đức viên mãn không nên trụ
chấp.
Muốn trí tuệ viên mãn, Bồ
tát không rời bỏ hữu vi
Để dễ nhớ nội dung tu tập
của Tận vô tận giải thoát pháp
môn, chúng ta học lấy câu này:
"Thật tế lý địa bất
thọ nhất trần
Sanh diệt môn trung bất xả nhất
pháp".
CHƯƠNG
THỨ MƯỜI HAI
THẤY VÔ
ĐỘNG NHƯ LAI VÀ THẾ GIỚI DIỆU HỈ
1.- Đức Thế Tôn hỏi ông Duy Ma
Cật rằng: muốn thấy một Như Lai ông
phải quán sát như thế nào để
được thấy?
Ông
Duy Ma Cật đáp: Bạch Thế Tôn!
Muốn thấy Như Lai con vận dụng
pháp quán chiếu y như quán thật tướng
của chính mình.
Con quán Như Lai thời gian trước
không có đến. Thời gian sau không có
đi. Thời hiện tại không trụ. Quán
Như Lai con không dựa trên sắc cũng
không dựa trên thể chơn như của
sắc, không dựa trên tánh của sắc,
thọ, tưởng, hành cũng vậy. Cho
đến không dựa trên thức mà
quán cũng không dựa trên thể chơn
như của thức, không dựa trên tánh
của thức. Vì Như Lai không do tứ
đại khởi sanh. Như Lai giống như hư
không, nhưng không phải hư không. Như
Lai không tương quan với lục nhập và
vượt ngoài nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý. Như lai không ở trong tam giới, xa
lìa ba cấu, thuận theo tam giải thoát
môn. Như Lai đầy đủ tam minh, bình
đẳng với vô minh. Như Lai không phải
tướng một, không phải tướng
khác, không phải tướng tự. Không
phải tướng tha. Không phải tướng
hữu. Như Lai không phải bờ bên này,
không phải bờ bên kia cũng không phải
giữa dòng mà vẫn thành tựu nhiệm
vụ giáo hóa chúng sanh. Quán Như Lai
tịch diệt mà không vĩnh viễn vắng
lặng. Như Lai không kia, không đây,
không lấy kia, không lấy đây. Như Lai
không thể dùng trí mà nhận biết,
không thể dùng thức mà phân biệt.
Như Lai không phải là tối mà cũng
không phải là sáng. Như Lai không
tên, không tướng, không mạnh, không
yếu, không tịnh, không uế. Như Lai
không ở trong phương hướng, mà
cũng không rời phương hướng; không
phải hữu vi cũng không phải vô vi;
không thể chỉ bày, không thể diễn
nói. Như Lai không phải bố thí cũng
không phải xan lẫn; không phải trì
giới, không phải phạm giới; không
phải nhẫn nhục, không phải sân nộ; không
phải tinh tấn, không phải giải đải;
không phải định tâm, không phải
loạn ý; không phải trí tuệ mà
không phải ngu si. Như Lai không thật mà
không dối, không đến cũng không
đi; không ra cũng không vào. Tất cả
ngữ ngôn không thể diễn đạt thấu
đáo cú nghĩa Như Lai.
Như
Lai, không phải phước điền, không
phải không phước điền. Không phải
bậc nên cúng dường, không phải
không cúng dường; không phải lấy,
không phải bỏ; không phải tướng
có cũng không phải tướng không.
Quán
Như Lai hòa đồng chơn lý, bình
đẳng như pháp tánh, không thể cân,
không thể lường, vượt quá cân
lường. Như Lai không lớn mà cũng
không phải nhỏ. Như Lai không thể
dùng cái thấy để thấy; không
thể dùng cái nghe để nghe; không thể
dùng tri giác để khái niệm, không
thể dùng tri thức để nhận biết.
Như Lai rời ngoài các ràng buộc,
đồng với các trí, bình đẳng
như chúng sanh. Đối với các pháp
không có sự phân biệt. Như Lai đối
với tất cả không lỗi, không
trược cấu, không não phiền. Như Lai
không có tác giả, không có mới
khởi đầu, không sanh không diệt, không
có sợ không có lo, không mừng không
nản, không phải đã có, không
phải sẽ có, không phải đang có.
Không thể dùng lời lẽ diễn đạt
hay chỉ bày.
Bạch
Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật thưa: Thân Như
Lai là thế đấy. Quán Như Lai phải
quán như thế đấy. Do quán như
thế mà con thực thấy Như Lai. Và
người nào quán Như Lai như thế,
gọi là quán đúng, nếu quán
khác là quán sai, không thể thấy
Như Lai đích thực.
2.-
Ông Xá Lợi Phất hỏi ông Duy Ma Cật:
Thưa ngài Duy Ma Cật! ngài mất ở
cõi nào mà lại sanh đến thế
giới Ta bà này?
Ông
Duy Ma Cật hỏi lại:
-
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Pháp thân
ngài chứng đắc có mất và có
lai sanh chăng?
-
Pháp mà tôi chứng đắc không
có lúc nào mất và cũng chẳng
có lúc nào lai sanh. Ông Xá Lợi
Phất đáp.
-
Nếu các pháp không có tướng
mất và tướng lai sanh. Vậy cớ sao
Ngài hỏi tôi rằng: "Ngài mất
từ cõi nào, lai sanh đến thế giới
này?" Xá Lợi Phất, ngài nghĩ
thế nào? Ví như huyễn thuật sư
làm ra người nam hay nữ, vậy những con
người đó có mất có lai sanh
không?
-
Không có mất và không có sanh.
-
Xá Lợi Phất! Ngài há chẳng nghe
Phật dạy: các pháp, tướng của
nó như huyễn chăng?
-
Đúng vậy. Tôi có nghe.
-
Nếu tất cả pháp, tướng như
huyễn, thì tại sao ngài hỏi tôi mất
ở thế giới nào, lai sanh đến cõi
này?
Này
Xá Lợi Phất! mất là cái tướng
tan rã của pháp hư dối, sanh là
cái tướng tương tục của các
pháp hư dối. Bồ tát dù mất
mà không dứt hết gốc lành, dù sanh
mà không cho sanh trưởng giống ác.
3.-
Đức Phật bảo ông Xá Lợi Phất
rằng: Có cõi nước tên Diệu Hỉ,
đức Phật hiệu Vô Động là
giáo chủ. Ông Duy Ma Cật từ cõi
nước đó mất mà lai sanh đến
cõi này.
Ông
Xá Lợi Phất nói: Thật là việc
chưa từng có.Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma
Cật lại có thể bỏ quốc độ thanh
tịnh, đến cõi Ta bà để vui nhận
ở nơi cảnh giới có nhiều sân nộ
và ác hại này!
Ông
Duy Ma Cật bảo: Xá Lợi Phất! Ngài
nghĩ thế nào? Lúc mặt trời soi
sáng, có cùng bóng tối hợp nhau
chăng?
-
Không. Khi mặt trời soi sáng thì không
còn tối được nữa.
-
Đúng vậy, thưa ngài Xá Lợi
Phất! hể ánh sáng soi thì bóng
tối diệt. Bồ tát dù sanh ở cõi
Phật không thanh tịnh là vì mục
đích giáo hóa chúng sanh nhưng
không thể hợp chung với những gì tối
tăm ngu độn. Ngược lại, Bồ tát
dạy cho chúng sanh diệt hết phiền não của
họ mà thôi.
4.-
Đại chúng khát ngưởng muốn thấy
thế giới Diệu Hỉ và đức Vô
Động Như Lai cùng chư Bồ tát, Thanh
văn cõi ấy.
Đức
Phật biết ý niệm của đại chúng
bèn gọi ông Duy Ma Cật bảo:
-
Thiện nam tử! Đại chúng trong hải hội
này muốn thấy đức Vô Động
Như Lai và cõi nước Diệu Hỉ
cùng chư Bồ tát, Thanh văn ở thế
giới kia. Ông hãy giúp cho hải hội
hiện tiền đều được thấy.
Ông
Duy Ma Cật nghĩ bụng rằng: Ta sẽ không
rời khỏi chỗ này, tiếp nhập thế
giới Diệu Hỉ đem về đây. Ta sẽ
dời tất cả Thiết vi sơn, Tu di sơn và
tất cả núi lớn, núi nhỏ, biển
cả, sông ngòi, nguồn lạch, suối khe,
mặt trời, mặt trăng, các tinh tú.
Tiếp nhập thiên cung, long cung, quỷ thần,
Phạm thiên cung v.v... Tiếp nhập các
chúng Bồ tát, Thanh văn cả thành
ấp, tụ lạc, nam nữ lớn nhỏ. Tiếp
thỉnh đức Vô Động Như Lai, cây
Bồ đề và các diệu liên hoa và
những người có thể làm Phật sự
trong mười phương. Tiếp nhập ba
đường hành lang báu thông đồng
từ cõi Diêm phù đề thẳng lên
cõi trời Đao Lợi. Trên hành lang
báu này chư Thiên tấp nập lên
xuống kính lễ đức Vô Động
Như Lai, nghe học lãnh thọ kinh pháp.
Người cõi Diêm phù đề cũng
rộn rịp trên hành lang tiến bước
hướng về cõi trời Đao Lợi và
mọi người đều thấy rõ ràng
chư Thiên ở thế giới Diệu Hỉ, họ
hoàn thành những việc công đức
lớn lao vô lượng như thế. Ta sẽ
tiếp thụ trên từ cõi sắc cứu
cánh dưới tột mé thủy luân,
để lên tay mặt của ta y như người
thợ gốm ngắt bớt một mẫu đất
thừa. Dời tất cả những cảnh giới
gần xa, đem về xáp nhập thế giới
này như cầm một tràng hoa đẹp
trên tay, giới thiệu chỉ bày cho toàn
thể đại chúng trong hải hội.
Ông
Duy Ma Cật nghĩ như thế rồi liền nhập
tam muội, hiện sức thần thông. Dùng tay
mặt cắt lấy thế giới Diệu Hỉ đem
về xáp nhập vào cõi Ta bà. Những
hàng Bồ tát, Thanh văn, chư Thiên có
chứng đắc thần thông, đồng thanh
kêu lên lời cầu cứu: "Thế Tôn!
Ai lấy chúng con đem đi. Mong Phật cứu
hộ".
Đức
Vô Động Như Lai nói: Việc đó
không phải ta làm. Do thần lực của
ông Duy Ma Cật, ông ấy đang làm
chuyện đó, để phục vụ khai ngộ
và giáo hóa chúng sanh.
Những
người chưa được thần thông
thì không hề hay biết về sự việc
như thế đã xảy ra.
Thế
giới Diệu Hỉ dù được đem
xáp nhập cõi Ta bà, mà thế giới
Ta bà không bị giãn rộng ra, thế
giới Diệu Hỉ không vì vậy mà
tóp hẹp. Vị trí của mọi vật
vẫn y nhiên, không thay đổi một mảy
may nào.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni bảo toàn thể
đại chúng trong hải hội:
Toàn
thể đại chúng trong hải hội đã
được thấy thế giới Diệu Hỉ
và thấy đức Vô Động Như Lai
rồi chứ? Các vị đã thấy sự
trang nghiêm đẹp đẽ huy hoàng tráng
lệ của thế giới Diệu Hỉ chứ? Các
vị thấy Bồ tát và Thanh văn chúng
cõi kia tịnh hạnh và thanh bạch chứ?
Toàn
thể đại chúng đồng thanh bạch
Phật:
Dạ!
chúng con đều đã thấy.
Đức
Phật dạy: Nếu Bồ tát muốn
được cõi Phật thanh tịnh như vậy,
cần phải học theo con đường hành
đạo của đức Vô Động Như Lai.
Trong
lúc thế giới Diệu Hỉ hiện hữu,
cõi Ta bà có mười bốn ức
người phát tâm vô thượng Bồ
đề, muốn sanh sang thế giới Diệu Hỉ
của đức Vô Động Như Lai.
5.-
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cộng
đồng thọ ký: "Tất cả các
vị muốn sanh sang cõi nước kia đều
sẽ được như nguyện".
Trong
những giờ phút thế giới Diệu Hỉ
hiện hữu ở cõi Ta bà, tác
động vào tâm lý, kích khởi
thiện căn của chúng sanh hữu duyên đem
lại nhiều lợi lạc. Sự kiện ấy
trôi qua. Tất cả đại chúng đều
thấy cảnh giới Ta bà bỗng nhiên trở
về trạng thái cũ.
6.-
Đức Phật bảo: Xá Lợi Phất! Ông
đã thấy thế giới Diệu Hỉ và
đức Vô Động Như Lai rồi chứ?
Ông
Xá Lợi Phất thưa: Dạ! Con đã
thấy. Bạch Thế Tôn! Con mong muốn cho tất
cả chúng sanh được cõi nước
thanh tịnh trang nghiêm như cõi nước
của đức Vô Động Như Lai và
có sức thần thông như ông Duy Ma Cật
vậy. Con cũng mong cho mọi người có
đủ duyên lành thân cận cúng
dường để được nhiều lợi
lạc. Con nghĩ rằng: những chúng sanh hiện
tại hoặc sau Phật diệt độ
được nghe kinh nầy sẽ được
lợi ích khó nghĩ bàn. Nghe rồi tin
hiểu, giảng thuyết đúng như pháp tu
hành, người đó được xem như
trong tay đã cầm giữ được kho
tàng pháp bảo của Như Lai. Người
như thế là cúng dường pháp.
Mà cúng dường pháp tức là
cúng dường Phật. Người biên
chép diễn giải kinh này, phải biết
chỗ thất của họ ở có Phật. Ai nghe
kinh nầy mà khởi tâm tùy hỷ, không
lâu sẽ thành tựu nhất thiết trí.
Nghe kinh nầy tin hiểu chừng một bài kệ
bốn câu, vì người khác truyền
đạt ý kinh, phải biết đó là
người đã được Như Lai thọ
ký thành tựu quả vô thượng
Chánh biến tri giác rồi!
TRỰC
CHỈ
1.-
Đáp câu hỏi của đức Phật,
ông Duy Ma Cật nói: Muốn thấy Như Lai
phải Quán.
Quán
tức là quán chiếu. Nghĩa là phải
dùng trí mà soi rọi vào nội tâm.
Biến tánh thấy trở thành cái thấy
bằng trí, không xử dụng cái thấy
của mắt. Phải xử dụng quán trí
mới có cơ hội thấy Như Lai thật.
Thấy Như Lai thật nghĩa là phải hiểu
rõ về Như Lai pháp thân mới là
người thật thấy Như Lai.
Vì
vậy, muốn thấy Như Lai phải Quán.
Quán giống như quán thật tướng
của tự thân.
Nên
biết, mọi người ai cũng có thật
tướng cũng như Phật, Phật nào cũng
có pháp thân. Con người là hiện
tượng tùy duyên của thật tướng.
Thật tướng là bản thể bất biến
của con người. Phật cũng vậy.
Phật
là một ứng thân. Ứng thân Phật
là Phật tùy duyên độ sanh của
pháp thân Phật. Pháp thân Phật là
bản thể bất biến của Phật ứng
thân.
Cái
tự tánh thanh tịnh bản nhiên ở giai
đoạn con người chưa giác ngộ giải
thoát gọi là thật tướng của tự
thân. Cái tự tánh thanh tịnh bản
nhiên sau khi con người giác ngộ giải
thoát, gọi là Pháp thân.
Vì
vậy, thấy được thật tướng
của tự thân đồng nghĩa thấy Như
Lai pháp thân Phật. Vì vậy:
-
Như Lai không phải sắc, không phải
thọ, tưởng, hành, thức, không phải
tứ đại, không phải hư không,
không phải lục nhập vượt ngoài
nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.
-
Như Lai đầy đủ tam minh bình đẳng
với vô minh.
-
Như Lai hòa đồng chân lý, bình
đẳng với pháp tánh.
-
Như Lai, vô sở tùng lai diệc vô sở
khứ, Như lai thọ lượng vô thỉ vô
chung...
Quán
Như Lai như vậy là người thật
thấy Như Lai.
2.-
Chết sống, mất còn, sanh diệt là
cái tướng đối tượng thấy
của nhục nhãn, dựa trên hiện
tượng vạn pháp hữu vi.
Xử
dụng tuệ nhãn, Bồ tát thấy tột
bản thể thì sự sanh diệt, sống chết,
mất còn không còn là vấn đề
đáng nêu ra để vấn đáp.
Càng hỏi kỹ, chứng tỏ trình độ
tu học, trình độ nhận thức chân
lý càng non nớt nhiều.
Trả
lời càng chi tiết, biểu hiệu lòng
từ thương hại của Bồ tát bao la
vô hạn.
Với
tuệ nhãn của Bồ tát, Chết chỉ
là cái tướng tan rã của các
pháp hữu vi hư huyễn. Sanh chỉ là
cái tướng tương tục của các
pháp hư huyễn hữu vi.
Chẳng
có gì quan trọng đối với người
trí trong việc sống chết, sanh diệt, mất
còn.
..."Cự
hải hà phòng nhất điểm âu".
Cũng
như sự chứng đắc. Thực ra có
chứng đắc gì đâu!
Sông
Hương, núi Ngự cảnh nên thơ
Chưa
đến lòng ai vẫn ước mơ
Một
đến lại về như chẳng đến
Sông
Hương, núi Ngự cảnh nên thơ...
3.-
Ông Xá Lợi Phất đề cập đến
vấn đề sanh diệt, lập tức bị
ngài Duy Ma Cật nạn vấn nhằm vô hiệu
quá vấn đề. Vì câu hỏi
đó không xứng đáng là câu
hỏi của người trí học đạo
nên hỏi.
Vấn
đề được khai thị xong thì
đức Phật ôn tồn cho biết: Ông Duy Ma
Cật từ thế giới Diệu Hỉ mất và
sanh qua thế giới Ta bà này.
Tại
sao thế? Tại vì:
Thật
tướng lý địa, người học
phải đạt đến chỗ Bất thọ
nhất trần.
Khi
đứng bên lề tương đối thì
cần nhớ: Sanh diệt môn trung bất xả
nhất pháp.
Bởi
vì, không có lý do gì một
đại sĩ trí tuệ biện tài
dường ấy lại là người vô gia
cư bất trụ xứ hay sao! Mà đó
lại cũng là sự thật. Bồ tát
tùy nguyện trợ hóa cho đức Phật
Thích Ca nhằm tạo điều kiện triển
khai Đại thừa chánh pháp.
4.-
Không rời khỏi tòa ngồi, Bồ tát Duy
Ma Cật tiếp nhận toàn vẹn thế giới
Diệu Hỉ, gom hết thảy biển cả, sông
ngòi, núi non, thành ấp, tụ
lạc...Tiếp thỉnh đức Vô Động
Như Lai và tất cả Bồ tát, Thanh văn
để lên bàn tay như cầm một
tràng hoa đem về xáp nhập cõi Ta
bà.
Đây
cũng là cơ hội, người bất tư
nghì trình diễn cảnh bất tư nghì
thêm một lần nữa.
Như
lời tựa đã giới thiệu, kinh Duy Ma
Cật có ba lần hiện Tịnh độ trong ba dạng
khác nhau.
Lần
một, ở chương thứ nhất đức
Phật Thích Ca hiện tịnh độ ngay nơi
cõi Ta bà nhằm dạy cho mọi người
biết rằng tịnh độ không ngoài
uế độ. Tịnh, uế do con ngưòi:
Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ
tịnh. Tâm con người có tịnh mới
có cõi Phật tịnh. Tâm không tịnh,
không tìm có cõi tịnh được.
Lần
hai, chương thứ mười, Bồ tát Duy Ma
Cật xử dụng khả năng bất tư
nghì, biểu thị việc làm bất tư
nghì, trình diễn cảnh giới bất tư
nghì nhằm giới thiệu cõi tịnh
độ ở từ cách xa cõi Ta bà
những 42 ức hằng hà sa thế giới.
Điều
đó nhằm dạy cho mọi người biết
rằng tịnh độ không phải chỉ có
ở cõi Ta bà. Mà ở xa mút nguồn tưởng
tượng ấy, còn có nhiều tịnh
độ khác nửa...
Tuy
nhiên, xa mà không có gì trở ngại
bởi sự cách núi ngăn sông. Cho nên
con người có thể dời tịnh độ xa
xôi ấy đem về thành gần và con
đường qua lại chỉ trong thời gian
khoảnh khắc.
Bồ
tát Duy Ma Cật làm việc đó nhằm
dạy cho đại chúng trong hải hội cái
chân lý:
-
Chư pháp tương tức tự tại môn.
-
Nhất đa tương dung bất đồng môn.
-
Chư tàng thuần tạp cụ đức môn.
-
Nhân đà la võng cảnh giới môn.
-
Bí mật ẩn hiển câu thành môn.
-
Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn.
Là
tu sĩ phải học như thế, phải hiểu
như thế và xử dụng Quán trí
để nhận thức chân lý.
Lần
thứ ba, hiện tịnh độ ở chương
này cũng nhằm nhắc nhở sâu đậm
về chân lý:
Vạn
pháp trong pháp giới nhất chân không
có ngoại lệ. Vạn pháp tương ưng,
tương tức, tương nhập. tương dung.
lý vô ngại, sự vô ngại, lý sự
vô ngại và sự sự vô ngại.
Thiền
giả xử dụng quán trí, nhận thức
rõ được chân lý sự sự vô
ngại thì việc Bồ tát Duy Ma Cật
tiếp nhận toàn bộ thế giới Diệu
Hỉ đem xáp nhập cõi Ta bà không
trở ngại gì nhau. Vấn đề đó
không còn là vấn đề thần thoại
khó hiểu nữa. Bấy giờ người
trí bừng tỉnh ngộ: thì ra kinh Duy Ma Cật
lưu lại hậu thế không nhằm mục
đích ghi lại chuyện hoang đường
để sau này các nhà sư thay Phật
kể chuyện hoang đường cho các cháu
trẻ con nghe!
Sau
khi thấy rõ toàn vẹn thế giới Diệu
Hỉ và chiêm ngưỡng tôn nhan đức
Vô Động Như Lai, đại đa số trong
hải hội phát nguyện muốn sanh sang thế
giới tịnh độ Diệu Hỉ của Vô
Động Như Lai. Đức Thích Ca cộng
đồng thọ ký tất cả các vị
đều sẽ được như nguyện.
Vì
sao đức Phật lại thọ ký quá dễ
dàng? Ngài cảm tình, ngài thương
xót mà nỗ lực phù hộ cho ư?
Không!
Phật không phù hộ, gia trì, cứu rỗi
cho ai được hết. Sở dĩ Như Lai thọ
ký dễ dàng là vì Như Lai biết
rõ mọi người ai cũng sẵn có chơn
tâm thưòng trú. Ai cũng có thể
tánh tịnh minh. Ai cũng vốn có Như Lai
viên giác diệu tâm. Ai cũng sẵn có
Tri kiến Phật. Ai cũng sẵn có Phật
tánh rồi. Cho nên nếu mọi người
muốn sang Diệu Hỉ tịnh độ kia, thì
các vị chỉ cần thực hiện lời
Như Lai đã dạy: Tùy kỳ tâm tịnh
tắc Phật độ tịnh. Dục tịnh Phật
độ tiên tịnh kỳ tâm. Khi nào
tâm của các vị thanh tịnh thì các
vị có cõi Phật thanh tịnh. Muốn
được cõi Phật thanh tịnh trước
hết các vị tự sửa đổi tịnh
cái tâm của mình.
Thế
thì, công của ai làm thì người
đó hưởng. Cũng giống như ai muốn
hưởng vật chất dồi dào ở một
nước kinh tế phồn vinh thì phải tự lo
đăng ký, tự tích lũy tiền bạc,
tự chạy giấy tờ xuất cảnh để
mà đi. Hể có đi thì có
đến. Giống như tâm các vị có
tịnh thì có cõi tịnh vậy. Như Lai
có mất gì mà chẳng thọ ký
để cho tròn nghĩa là đấng
Đại Từ Bi vô thượng.
6.-
Ông Xá Lợi Phất sau khi nghe thấy những
sự kiện bất tư nghì, thâm ngộ
chân lý...Ông tán thán kinh nghĩa
thậm thâm. Ông cho rằng người nào
được nghe, được học, được
hiểu và áp dụng phương pháp
quán chiếu mà tu hành thì sẽ
được công đức vô lượng.
Người đó là người cúng
dường pháp. Mà cúng dường
pháp cũng tức là cúng dường
Phật một cách tròn đầy nhất,
người đó đã được Như
lai thọ ký thành tựu vô thượng
Chánh biến tri giác rồi.
Lời
ông Xá Lợi Phất trần tình
trước Phật là một chân lý tất
nhiên. Không phải xuất phát từ
đầu môi khách sáo.
CHƯƠNG
THỨ MƯỜI BA
1.-
Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn,
trước đại chúng đứng lên
bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Con dù theo Phật và Văn
Thù Sư Lợi từ lâu, đã nghe trăm
ngàn kinh điển, nhưng chưa từng nghe kinh
điển "Quyết định thực tướng,
bất khả tư nghì tự tại thần
thông" như vậy.
Theo sự
hiểu biết của con, qua ý nghĩa và
mục đích của Phật dạy: Nếu
chúng con nghe theo kinh pháp này tin hiểu,
thọ trì đọc tụng, tu hành đúng
như kinh dạy, thì người đó
đã đóng bít cửa ác thú, khai
thông đại lộ Niết bàn. Người
này thường được chư Phật hộ
niệm, hàng phục được ngoại
đạo, đánh đuổi được ma quân,
tăng trưởng quả Bồ đề, vững
ngồi nơi đạo tràng, bước theo dấu
chân Phật mà đi.
Bạch
Thế Tôn! Nếu có người thọ trì
đọc tụng đúng theo lời kinh mà tu
hành, con cùng các quyến thuộc, sẽ
cúng dường mọi sự và ở xóm
làng thành thị, núi rừng chỗ nào
có kinh này, quyến thuộc chư Thiên
chúng con đến đó nghe pháp và tu
học, chúng con bằng mọi phương tiện
khiến cho những ai chưa tin, phát khởi
lòng tin. Người đã tin sẽ giữ
gìn hộ pháp.
Phật
dạy: Tốt lắm! Thiên Đế! Như Lai
rất bằng lòng thiện ý của ông. Kinh
này nói rõ về những sự kiện
bất khả tư nghì vô thượng Chánh
biến tri giác của chư Phật quá khứ,
hiện tại và vị lai. Thế cho nên, nếu
thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì
đọc tụng giảng thuyết cúng dường
kinh, tức là cúng dường chư Phật
quá khứ, hiện tại và vị lai.
Thiên
đế! Giả sử ba ngàn đại thiên
thế giới chư Phật ở trong đó
nhiều như số tre nứa, lau sậy, lúa
bắp, cây cỏ lùm rừng. Nếu có
người thiện nam, thiện nữ đem trọn
đời mình tôn trọng cung kính tán
thán, cúng dường đầy đủ
mọi thứ cần dùng. Cúng dường cho đến
khi chư Phật diệt độ. Rồi lấy xá
lợi của toàn thân Phật xây tháp
thất bảo rộng bốn lần quả địa cầu,
cao tột cõi Phạm Thiên, dùng tất cả
hương hoa, anh lạc, tràng phan, kỷ nhạc hay
đẹp nhất đời, hiến trọn kiếp
sống để cúng dường phục vụ
chư Phật đông nhiều như thế.
Thiên
đế! Ông nghĩ thế nào? Người vun
trồng cội phúc như thế phúc đức
có nhiều chăng?
Bạch
Thế Tôn! Rất nhiều. Phước đức
đó dù đem trọn kiếp, nói cũng
không sao hết được. Thiên Đế
Thích đáp.
Phật
bảo: Thiên đế! Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhơn nghe kinh điển bất
khả tư nghì giải thoát này, tin
hiểu, thọ trì đọc tụng, tu hành
thì phước đức còn nhiều hơn
người cúng dường vật chất cho chư
Phật kia. Bởi vì Bồ đề của chư
Phật đều từ kinh này sanh ra mà
tướng Bồ đề thì vô hạn
lượng. Thế cho nên phước đức
cũng vô hạn lượng.
2.- Phật
dạy tiếp: Thiên đế! Thuở quá
khứ cách nay vô lượng vô biên A
tăng kỳ kiếp, có đức Phật hiệu
Dược Vương Như Lai, Ứng cúng,
Chánh biến tri, Minh hạnh túc. Thiện thệ,
Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều
ngự Trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật,
Thế Tôn. Thế giới của đức Phật
đó tên Đại Trang Nghiêm, kiếp
tên Trang Nghiêm. Phật thọ mạng hai mươi
tiểu kiếp. Chúng đệ tử Thanh văn ba
mươi sáu ức na do tha. Bồ tát tăng
có mười hai ức.
Này
Thiên đế! Lúc ấy có vị Chuyển
Luân Thánh Vương hiệu là Bảo
Cái có đầy đủ thất bảo,
làm chủ tứ thiên hạ. Vua có một
ngàn người con đoan chính dũng kiện,
có khả năng chinh phục mọi kẻ
địch thù. Thuở ấy, đức vua cùng
quyến thuộc hết lòng cung kính cúng
dường đức Dược Vương Như Lai
mọi thứ cần dùng trải thời gian dài
năm kiếp. Qua năm kiếp rồi, nhà vua
dạy các con: Các con hãy kế tục theo
hạnh của cha đã làm. Phải đem
hết thâm tâm mà cúng dường
đức Phật. Một ngàn người con
đều hoan hỉ vâng lãnh lời dạy
của vua cha thành tâm cúng dường
đức Dược Vương Như Lai trải năm
trăm kiếp nữa. Trong đó có một
vương tử tên Nguyệt Cái, thiền
tọa tư duy: "Đáng tiếc thay! Ta chưa
hiểu được, chẳng biết còn cách
cúng dường nào khác, tôn quý
hơn cách cúng dường này chăng?"
Do sức
thần Phật, trong không gian có tiếng vọng:
"Thiện nam tử! Cúng dường pháp
ưu việt hơn tất cả mọi cúng
dường".
Vương
tử bèn hỏi: Cúng dường pháp
là thế nào?
Tiếng
vọng: "Ngươi nên hỏi đức
Dược Vương Như Lai, ngươi sẽ
được biết thế nào là cúng
dường pháp".
Vương
tử Nguyệt Cái đến chỗ Dược
Vương Như Lai, cúi đầu làm lễ
dưới chân Phật, đứng nép một
bên thưa:
Bạch
Thế Tôn! Trong tất cả sự cúng
dường, cúng dường pháp ưu việt
hơn hết, con chưa hiểu ý nghĩa cúng
dường pháp là thế nào? Kính mong
Thế Tôn vì con dạy bảo.
Đức
Phật dạy: Này thiện nam tử! Ngươi
hãy lắng nghe Như Lai sẽ vì ngươi
nói rộng về ý nghĩa, người
cúng dường pháp phải làm gì.
Người
cúng dường pháp là người có
khả năng nghe những kinh điển giáo lý
sâu xa của chư Phật nói ra mà những người
thế gian khó tin, khó hiểu, khó tiếp
thọ, vì quá ư vi diệu, thanh tịnh
tuyệt trần, vô nhiễm, vô vi, vượt
ngoài tư duy phân biệt của người
thường. Những kinh nhiếp thuộc về
pháp tạng của Bồ tát là dấu
ấn của Đà la ni. Những thứ kinh
đưa con người đến địa vị
bất thối chuyển, hoàn thành lục
độ, thuận với pháp Bồ đề, trên
hết trong các kinh. Những kinh nghĩa dạy cho
người tu hành thể nhập đại từ
bi, xa lìa các ma sự và các tà
kiến. Nghe kinh nghĩa như thế không nghi ngờ
sợ hãi, như thuyết tu hành gọi là
cúng dường pháp. Lại nữa, người
cúng dường pháp là người có
khả năng nhận thức chân lý, tùy
thuận pháp nhơn duyên sanh, tỏ ngộ
chân lý vô ngã, vô nhân, vô
chúng sanh, vô thọ mạng. Thấu triệt
nghĩa không, vô tướng, vô tác,
vô khởi của vạn pháp, có thể
khiến cho chúng sanh ngồi đạo tràng
mà chuyển pháp luân. Chư Thiên, Long
thần...tán thán. Có thể khiến cho
chúng sanh thể nhập kho tàng pháp bảo
của Phật, nắm trọn hết trí tuệ
của hiền thánh, nói rõ những
đạo lý của Bồ tát làm, y cứ
vào nghĩa thực tướng của các
pháp. Tuyên rõ nghĩa vô thường,
khổ, không, vô ngã và tịch diệt,
để cứu hộ những chúng sanh sai phạm
giới cấm và những ngoại đạo ma
quân, những người nặng nghiệp tham,
sân, si sợ sệt răn chừa. Những kinh
điển chư Phật ngợi khen, trái
đường sanh tử, chỉ nẻo Niết bàn,
mười phương chư Phật hộ niệm
và nói ra. Nghe kinh điển như thế mà
tin sâu, hiểu kỹ, thọ trì, đọc
tụng vì các chúng sanh phân biệt
giải nói rõ ràng và giữ gìn kinh
pháp đó. Làm được những
điều như thế, gọi đó là
cúng dường pháp.
Lại
nữa, người cúng dường pháp là
người đối với các pháp
đúng như lời dạy của kinh mà tu
hành, tùy thuận pháp nhân duyên, xa
lìa tà kiến, chứng nhập pháp nhẫn
vô sanh, thể nhập sâu sắc diệu lý
vô ngã, vô chúng sanh. Đối với
chân lý nhân duyên, nhân quả không
nghi ngờ chống trái, xa lìa tất cả
ngã sở hữu. Trên đường học
đạo tiến tu y nghĩa bất y ngữ, y trí
bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất
liễu nghĩa kinh, y pháp bất y nhân.
Người cúng dường pháp còn là
người tùy thuận pháp tướng.
Đối với các pháp không có
tướng sở nhập cũng không có chỗ
sở qui. Vì hiểu rằng: vô minh rốt
ráo tịch diệt. Khởi quán như thế
nhận thấy rõ rằng mười hai nhân
duyên không có tướng tận chung cũng
không có tướng khởi thủy. Học
pháp như thế, hành những pháp như
thế gọi đó là người cúng
dường pháp tối thượng.
Đức
Phật bảo: Thiên đế! Vương tử
Nguyệt Cái theo đức Phật Dược
Vương, nghe học pháp như thế
được nhu thuận nhẫn, bèn cởi bảo
y đang mặc trên mình, dâng lên cúng
dường Phật và bạch rằng:
Bạch
Thế Tôn! Sau Như Lai diệt độ, con sẽ
thực hành cúng dường pháp để
thủ hộ chánh pháp. Kính mong Thế
Tôn thương xót, dùng oai thần vững
mạnh khiến cho con đủ nghị lực hàng
phục ma quân, tu Bồ tát hạnh.
Đức
Dược Vương Như Lai biết ý nghĩ
từ thâm tâm của vương tử Nguyệt
Cái, bèn thọ ký:
Nguyệt
Cái! Đời sau ông sẽ truyền trì
chánh pháp làm tường thành hộ
pháp khiến cho chư Phật cửu trụ thế
gian.
Đức
Thích Ca dạy tiếp: Thiên đế!
Vương tử Nguyệt Cái liền sau đó,
con mắt chánh pháp tỏ sáng và thanh
tịnh. Nghe Dược Vương Như Lai thọ
ký cho, bèn đem hết tín tâm xuất
gia, tinh tấn tu tập thiện pháp, không bao
lâu được năm thứ thần thông,
đầy đủ đạo Bồ tát, có
sức tổng trì biện tài vô đoạn.
Sau Phật diệt độ đem sức tổng
trì, thần thông và biện tài
đã được truyền bá chánh
pháp của Dược Vương Như Lai, tùy
cơ phân bổ, tinh tấn giữ gìn trọn hai
mươi tiểu kiếp. Nguyệt Cái tỳ kheo
giáo hóa trăm muôn ức người
vững bước tiến trên đường vô
thượng Bồ đề. Mười bốn na do tha
người phát tâm sâu sắc đối
với quả Thanh văn, Bích chi Phật, vô
lượng chúng sanh được phước
quả cõi Trời.
3.- Này
Thiên đế! Vua Bảo Cái xưa kia, không
phải là ai xa lạ, chính là người
được thành Phật hiệu Bảo Diệm
Như Lai hiện nay. Một ngàn vương tử
xưa kia là một ngàn Phật trong hiền
kiếp. Vị Phật trước hết hiệu Ca La
Cưu Tôn Đà Như lai. Vị Phật sau
rốt hiệu là Lâu Chí Như Lai. Còn
Tỳ kheo Nguyệt Cái chính là ta đây
vậy.
Như
thế đó Thiên đế! Đấy là
điều trọng yếu. Phải biết! Hãy
nên đem pháp mà cúng dường.
Cúng dường pháp tối ưu việt hơn
tất cả mọi cách cúng dường
nào khác.
Thế cho
nên Thiên đế! Hãy đem pháp
cúng dường mà cúng dường chư
Phật.
TRỰC
CHỈ
1.-
Từ lâu theo Phật và Đại Trí Văn
Thù Sư Lợi Bồ tát, từng nghe trăm
ngàn kinh điển, nhưng chưa hề
được nghe kinh Bất tư nhì giải
thoát như vầy, lời của Thiên Đế
Thích nói.
Thật
vậy, người tu học kinh này quyết
định sẽ được sự giải thoát
bất tư nghì. Sự giải thoát ngay ở
cõi đời này, sự giải thoát ở
trước mọi người mà mọi
người không ai hay biết. Vì kinh này do
con người bất tư nghì, nói kinh bất
tư nghì, trình diễn cảnh bất tư
nghì, tu pháp bất tư nghì, thành
tựu trí tuệ bất tư nghì cho nên
đem lại kết quả giải thoát bất
tư nghì vô thượng Chánh biến tri
giác, ngang bằng quả vị chư Phật quá
khứ, hiện tại và vị lai.
Thế
cho nên người thọ trì, đọc tụng,
biên chép, giảng thuyết tu hành theo kinh
này, phước đức lớn không có
ngôn từ tán thán cho cân. Không có
số nhiều để so sánh, đong lường.
Đức
Phật dạy cho Thiên đế: "Bồ
đề cũa chư Phật ba đời, đều
từ kinh này mà có ra". Vì vậy,
người tu theo kinh này quyết định sẽ
thành Phật.
2.-
Chư cúng dường trung, pháp cúng
dường tối. Đó là tiếng vọng
từ không trung, Nguyệt Cái vương tử
được nghe trong lúc tĩnh tọa thiền
tư tìm một phương cách cúng
dường ưu việt nhất. Ý nghĩa của
lời dạy đó, báo cho Vương tử
Nguyệt Cái rằng: Trong tất cả phương
cách cúng dường, cúng dường
pháp là ưu việt hơn hết.
Cầu
học phương cách cúng dường
pháp, đức Dược Vương Như Lai
dạy:
Người
cúng dường pháp là người có
khả năng nghe những kinh điển giáo lý
sâu xa mà người đời khó nghe, khó
tin, khó hiểu, khó hành, vì quá
thâm diệu vượt tầm hiểu biết của
người thường mà người này nghe
được, tin được, hiểu
được, hành được. Nghe những kinh
điển sâu xa vi diệu sanh lòng ham mộ,
không có ý sợ hãi, nghi ngờ, phát
chí dũng mãnh theo lời kinh dạy mà tu hành.
Làm được những việc như thế,
gọi là người cúng dường pháp.
Người
cúng dường pháp còn là người
ham nghe đại thừa chánh pháp, học
đại thừa chánh pháp, hành đại
thừa chánh pháp, truyền bá đại
thừa chánh pháp và thể hiện cuộc
sống qua đại thừa chánh pháp, không
mệt mỏi trong sự nghiệp giáo hóa
làm lợi ích chúng sanh.
3.
Vương tử Nguyệt Cái, sau khi nghe Dược
Vương Như Lai dạy về phương cách
cúng dường pháp bèn ham mộ mà
xuất gia. Hai mươi tiểu kiếp thực hành
đại thừa chánh pháp, giáo hóa
chúng sanh truyền bá đại thừa chánh
pháp. Do vậy, Tỳ kheo Nguyệt Cái
được thành Phật sớm, ở vào
tiểu kiếp thứ chín, vị trí thứ
tư trong số một ngàn vị Phật đã
thành, đang thành và sẽ thành trong
hiền kiếp.
Để
kết thúc bài pháp cúng dường
pháp, đức Thích Ca nói: Tỳ kheo
Nguyệt Cái xưa kia đâu phải người
nào lạ, hiện tại chính là ta. Vị
sẽ thành Phật thứ 1.000 hiệu là Lâu
Chí Phật ở vào tiểu kiếp thứ 20 sau
này.
CHƯƠNG
THỨ MƯỜI BỐN
1.-
Đức Phật gọi Bồ tát Di Lặc bảo:
Này
Di Lặc! Nay ta đem pháp vô thượng
Chánh biến tri giác mà ta từng tụ
tập chứa nhóm trải qua vô lượng A
tăng kỳ kiếp phó chúc cho ông. Những
kinh điển như thế, sau Phật diệt
độ, ở hậu thế các ông hãy
nổ lực truyền bá rộng rãi ở
chốn nhơn gian đừng để cho giáo
lý tối thượng thừa mai một. Vì sao?
Bởi trong đời vị lai vẫn có kẻ
thiện nam, thiện nữ và thiên long, quỷ
thần, Càn thát bà, La sát v.v... có
khả năng ham mộ pháp đại thừa phát
tâm vô thượng Chánh biến tri giác.
Giả sử mà họ không được nghe
những kinh điển thượng thừa liễu
nghĩa như thế thì thiệt thòi quá
lớn lao. Ngược lại họ được nghe
kinh liễu nghĩa thậm thâm này, phát
khởi tín tâm sâu sắc lãnh thọ,
hành trì, đối với chúng sanh hữu
duyên có khả năng tiếp thụ họ
quảng bá tuyên truyền làm cho nhiều
người cùng được có lợi
ích.
2.-
Di Lặc! Ông nên biết, Bồ tát có hai
hạng: Một, ham thích văn từ bóng
bẩy, ngôn ngữ khách sáo chuốt trau. Hai,
không khiếp sợ những kinh nghĩa sâu xa,
đúng như thật tướng mà thể
nhập. Hạng ham văn từ bóng bẩy, ngôn
ngữ khách sáo...Phải biết, đó
là hạng tân học Bồ tát. Hạng
người ngôn từ khách sáo gác
bỏ ngoài tai, văn tự chuốt trau, nghi lễ
rườm rà khử bỏ. Đối với kinh
điển đại thừa liễu nghĩa thậm
thâm, không có lòng sợ sệt, có
khả năng thể nhập như thuyết tu hành,
thọ trì đọc tụng, nghe rồi tâm thanh
tịnh an vui. Phải biết, đó là hạng
người Bồ tát trau dồi đạo hạnh
đã lâu đời rồi.
Di
Lặc này! Lại còn có hai hạng
người cũng thuộc làng tân học.
Một, từ trước họ chưa được
nghe kinh điển thậm thâm liễu nghĩa, nay nghe
họ sanh tâm sợ sệt nghi ngờ, không
tùy thuận nổi, lại còn hủy báng
không tin, thốt lên những lời bảo thủ
rằng: Hồi nào giờ tôi chưa từng nghe
những giáo lý như thế. Sao nay lai nói
như vậy, kinh đó từ đâu mà
có, đó là thứ kinh gì? Hai, có
hạng người vẫn thọ trì, giải
quyết thâm nghĩa của kinh, nhưng không
chịu thân cận cúng dường, cung kính
tôn trọng. Có lúc lại còn phê
phán chỉ trích ý kinh. Hai hạng người
như thế, phải biết đó là những
hàng Bồ tát tân học. Họ là
những người tự hủy hoại phước
đức trí tuệ của mình. Họ không
thể hấp thụ được những kinh nghĩa
thậm thâm để điều phục lấy
tâm mình.
Lại
nữa Di Lặc! Còn có hai hạng Bồ tát
dù tin hiểu sâu đối với kinh pháp
này, nhưng vẫn còn tự làm tổn
thương phước đức trí tuệ,
không chứng được vô sanh pháp
nhẫn. Một, khinh thường các hàng Bồ
tát tân học không dạy dỗ cho họ
tiến lên. Hai, dù tự mình hiểu sâu
nghĩa thú của kinh, nhưng còn chấp
mắc, phân biệt.
3.-
Di Lặc Bồ tát, nghe nói thế liền
bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Thật chưa từng có, theo lời
Phật dạy, con sẽ tránh xa những khuyết
điểm mà Thế Tôn đã chỉ vẽ
ra. Con sẽ phụng trì pháp vô thượng
Chánh biến tri giác mà Như Lai đã
thực hiện và tích lũy trong vô
lượng A tăng kỳ kiếp. Đời vị lai,
nếu có người thiện nam, thiện nữ
cầu đại thừa, con sẽ khiến cho trong tay
họ cầm được những kinh điển
liễu nghĩa thậm thâm như vậy và
khiến cho họ thọ trì, đọc tụng
truyền bá rộng cho nhiều người cùng
nghe hiểu tu hành. Phải biết đó là
thần lực của Di Lặc gia hộ kiến lập
mà nên
Phật
khen: Lành thay! Di Lặc! Như ông đã
phát nguyện, Như Lai rất vui lòng và
sẽ hỗ trợ thiện ý của ông.
Bấy
giờ tất cả chư Bồ tát đều
chấp tay bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Sau Như lai diệt độ, chúng
con cũng đem hết sức mình truyền bá
rộng sâu trong các cõi nước
mười phương pháp vô thượng
Chánh biến tri giác của Như Lai đã
dạy. Lại vận dụng mọi phương tiện
và khả năng hỗ trợ cho những
người thuyết pháp, truyền bá kinh
này được thuận lợi thập phần
viên mãn.
Tứ
Thiên vương bạch Phật:
Bạch
Thế Tôn! Nơi nơi chốn chốn, thành
ấp tụ lạc, núi rừng, đồng nội,
chỗ nào có người thọ trì
đọc tụng, biên chép giảng giải kinh
này, con sẽ sai các quyến thuộc đến
đó nghe pháp và để bảo hộ
phạm vi một trăm do tuần, khiến cho các
thứ thiên ma tà quái, cuồng tín, si
mê đều không có cơ hội để
khuyấy phá người truyền bá giảng
thuyết kinh này.
Đức
Phật bảo: An Nan! Ông hãy thọ trì kinh
này và truyền bá sâu rộng ở
đời sau.
Dạ,
bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời Phật. Con
đã nắm vững những phần cốt lõi
thâm sâu rồi.
Bạch
Thế Tôn! Kinh này tên gọi là chi?
Ông A Nan hỏi.
Phật
bảo: Kinh này tên là Duy Ma Cật Sở
Thuyết. Cũng gọi là kinh Bất khả tư
nghi giải thoát pháp môn. Ông hãy
như vậy thọ trì.
Phật
nói kinh này xong, Trưởng giả Duy Ma Cật,
Đại trí Văn Thù Sư Lợi, Xá
Lợi Phất và hàng chư Thiên,
người, A tu la cùng tất cả đại
chúng nghe rồi đều hoan hỉ tín thọ
phụng hành.
TRỰC CHỈ
1.- Chúc lũy có nghĩa là
dặn dò một cách thân thiết, vì
tánh cách quan trọng của một vấn
đề.
Di Lặc Bồ tát được Phật
chúc lũy phải kế thừa truyền bá,
giữ gìn, tôn trọng kinh này. Đây
là giáo lý tối thượng thừa,
lợi ích chúng sanh hậu thế rất lớn
lao, không nên hời hợt lơ là khiến
cho nền giáo lý thậm thâm bị mai
một.
Di Lặc là vị Bồ tát sẽ
thành Phật vào tiểu kiếp thứ 10 trong 20
tiểu kiếp ở vào giai đoạn trụ.
2.- Bồ tát ham thích văn từ
bóng bẩy, ngôn ngữ khách sáo.
Đó là Bồ tát tân học, trí
tuệ căn lành chưa được bao
nhiêu...
Bồ tát nghe kinh điển tậm thâm
vi diệu ham mộ tư duy phấn chí tu hành
không nghi ngờ, không sợ sệt. Đó
là Bồ tát đã trồng sâu căn
lành nhiều đời nhiều kiếp...
3.- Bồ tát Di Lặc phát biểu
tiếp thu nguyện đem hết sức mình
động viên, cổ vũ khiến cho mọi
người cùng hưởng ứng tu tập theo
giáo lý đại thừa liễu nghĩa
thậm thâm này để cùng thu hoạch
tột cao, trên con đường Bồ đề
vô thượng.
Nhằm xác lập vấn đề cho
thật rõ ràng, nghiêm túc trước khi
chấm dứt thời pháp liễu nghĩa tối
thượng thừa, ông A Nan hỏi Phật về
tên gọi của kinh này.
Đức Phật dạy: Kinh này tên
gọi là Duy Ma Cật Sở Thuyết cũng gọi
là Bất khả tư nghì giải thoát
pháp môn kinh.
---
o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-11-2004