|

Đức Phật trong nghệ thuật lịch sử tạo hình
Thích
Minh Thành
Ph.D
Ngày nay, người tin Phật, tu theo Phật được tiếp xúc với tranh
tượng ảnh Phật gần như hàng ngày. Hình tượng Phật hầu như có mặt
khắp nơi, có khi treo dưới kính chiếu hậu xe hơi, có khi trang
nghiêm ngự trên tòa sen trong chánh điện của một đại già lam.
Hình tượng Phật không những xuất hiện trong những không gian
lặng lẽ nơi phòng thờ hay bàn thờ gia đình mà còn xuất hiện trên
những đỉnh núi cao ngất và hùng vĩ; không những xuất hiện ở
những nơi tín ngưỡng cầu cúng nhang đèn mà thậm chí còn xuất
hiện ở những nơi công cộng như khách sạn, nhà hàng... Nhìn lại
ngọn nguồn lịch sử, chúng ta thấy rằng để tiến đến mức độ phát
triển như vậy, nghệ thuật tạo hình Phật giáo đã trải qua nhiều
thời kỳ khác nhau với những cống hiến âm thầm của thế hệ tiền
nhân.
Từ xưa, hình tượng Đức Phật đã là chủ đề trung tâm của nghệ
thuật tạo hình Phật giáo, người Phật tử luôn cần có hình ảnh
Ngài để chiêm ngưỡng, đảnh lễ, cúng dường; và, ý nghĩa hơn cả là
noi gương tu tập hay làm đối tượng để thiền định quán chiếu. Hồi
sinh tiền, Đức Phật thường vân du hóa đạo và Phật tử tịnh xá Kỳ
Viên cảm thấy ưu phiền vì không được viếng thăm, diện kiến. Biết
được vậy, Đức Phật dạy rằng cây bồ đề là biểu tướng của Phật,
khi Phật vắng mặt hãy viếng thăm, chiêm bái, đảnh lễ cây bồ đề.
Công đức, phước báo mà người ấy tạo được sẽ như là viếng thăm và
đảnh lễ Phật. Kinh điển còn ghi lại rằng trong thời gian Đức
Phật lên cung trời Đao-lợi thuyết pháp, “Điên cuồng vì sự vắng
mặt của Ngài, đức vua Udayana đặt làm một bức tượng từ gỗ đàn
hương, mà ông tặng cho Đức Phật khi Ngài trở về”(1).
Nếu còn thì đó là pho tượng Phật đầu tiên trong lịch sử tạo hình
Phật giáo, tuy vậy, khi về lại trần gian, Đức Phật không chấp
nhận nó.
Đến lúc Đức Phật Niết-bàn, nhục thân của Ngài vĩnh viễn không
còn ở trần gian nữa thì nhu cầu có hình tượng Phật càng trở nên
bức xúc. Kinh Niết bàn dù là bản Pàli, Tạng văn hay Hán
văn đều ghi nhận việc dùng những lễ nghi và phương thức trà tì
nhục thân Phật tương tự với ‘hậu sự’ của một vị Chuyển luân
Thánh vương. Sau đó là việc xây tháp phụng thờ ở những ngã tư
đường lớn để mọi người đều có thể dâng cúng hương hoa, cờ lọng,
tràng phan, bảo cái, kể cả âm nhạc tán tụng.
Thời kỳ đầu, tháp thờ Phật trở thành trung tâm tín ngưỡng, là
biểu tướng của bậc Đạo sư. Chiêm ngưỡng tháp Phật là để tưởng
nhớ đến những hành trạng và những phẩm tính thù thắng của Phật;
việc đó được xem như là có phước đức tương đương với việc chiêm
ngưỡng chính bản thân Phật khi Ngài còn tại thế. Ở một số nơi,
truyền thống đặc biệt này vẫn còn được gìn giữ, cụ thể là chùa
Thông Độ danh tiếng ở Hàn Quốc với ngôi chánh điện không cốt
tượng mà chỉ có Xá lợi Phật được tôn trí ở những ngôi tháp phía
sau bàn hương án.
Người có tín tâm thời bấy giờ xác định rằng cúng dường lễ bái
tháp Phật không phải chỉ vì trong tháp có chứa đựng Xá lợi mà
còn vì tháp còn là biểu trưng cho quả vị Chánh đẳng Chánh giác,
thậm chí xem tháp là Pháp thân Phật (Dharmakaya). Có thể vì vậy
mà tháp Phật ở Bồ đề đạo tràng Ấn Độ còn được gọi là tháp Chánh
giác. Mỗi tầng, mỗi bộ phận trong cấu trúc tháp tương ứng với
mỗi tầng bậc, mỗi quả vị hay phẩm tính mà vị Bồ tát đạt được
trên con đường dẫn đến Phật quả.
Rời khỏi những câu chuyện truyền thuyết, chúng ta có thể xác
định rằng nghệ thuật tạo hình Phật giáo có lịch sử bắt đầu từ
thời hậu A Dục với 3 di chỉ trọng yếu là Sanchi, Bharut và
Amaravati. Để trang trí cho những ngôi tháp cổ kính và vĩ đại ở
ba quần thể di tích trên, người Phật tử thời ấy nghĩ ngay đến
hình tượng Phật và những ấn tượng mà Ngài đã để lại trong tâm
hồn mình. Qua những bức phù điêu trên tháp cũng như cổng rào có
độ tuổi trên hai ngàn năm, họ đã kể lại cho chúng ta nghe những
câu chuyện hấp dẫn xa xưa. Điểm đặc biệt là trong những câu
chuyện này, Đức Phật không xuất hiện với thân tướng con người,
thay vào vị trí mà Ngài ngự là những vật biểu trưng. Vì vậy,
khách chiêm bái khi thấy bàn chân có in hình bánh xe Pháp thuộc
tướng quý của bậc đại nhân thì hãy mường tượng ra Đức Phật đản
sinh đang đi từng bước trên đài sen, cất lên lời tuyên bố chấn
động tam thiên: Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.
Thấy cội bồ đề hay tòa Kim cang thì hãy mường tượng ra Đức Phật
thiền định, đánh bại Ma vương và trạng thái thanh lương tĩnh
lặng với quả vị Vô thượng Bồ đề sau đêm thành đạo. Cũng vậy,
hình bánh xe thay cho Đức Phật chuyển pháp luân, ngôi tháp thờ
Xá lợi thay cho Đức Phật Niết bàn...
Những học giả cho đến nay cũng chưa có thể biết chắc tại sao Đức
Phật không xuất hiện bằng hình dạng con người trên các phù điêu
mà chỉ xuất hiện thông qua vật biểu trưng nhất là khi mọi người
khác đều xuất hiện ‘bằng xương bằng thịt’, từ vua quan đến cung
tần mỹ nữ, thậm chí những người bình thường trong đám rước.
Khách hành hương thông thường có thể lấy làm lạ nhưng những tâm
hồn tinh tế lại lấy làm thú vị. Chúng ta có thể nêu lên ba cách
lý giải hiện tượng có mặt mọi người mà không có mặt Đức Phật như
sau.
1. Đức Phật trong hình vóc con người là Đức Phật đã bị giới hạn
trong tấm thân xương thịt ít nhất là về mặt thể chất nên không
còn phù hợp với những phẩm tính thù thắng, uy hùng, siêu vượt.
Hơn nữa, dung sắc phi phàm của Phật khi đó sẽ bị lệ thuộc vào
bàn tay khéo léo hay vụng về của những nghệ nhân điêu khắc. Tâm
hồn của người Phật tử thuần thành có thể cảm thấy bị tổn thương
khi Đức Phật “tuyệt đối” của mình lại ‘bị’ thể hiện bằng những
nét đẹp tương đối và đôi khi rất là ‘trần gian’.
2. Đức Phật trong hình tượng biểu trưng không làm thỏa mãn hoàn
toàn nhu cầu tín ngưỡng cúng bái thuộc mọi cấp độ nhưng lại rất
phù hợp với pháp thiền quán. Tâm thức của hành giả là vô tận vì
vậy mà Đức Phật hiện ra cũng vô tận. Cụ thể, người ta khó có thể
thực hiện được một tượng Phật to bằng núi Châu Thới nhưng một
hành giả trong khi quán tưởng dễ dàng phóng chiếu ra một vị Phật
to như vậy, thậm chí một vị Phật trùm khắp hư không mà vẫn đứng
ngồi hay thuyết pháp sinh động.
3. Truyền thuyết vua Udayana và bức tượng từ gỗ đàn hương mà Đức
Phật không chấp nhận đã có ảnh hưởng mạnh trong những thế kỷ đầu
khiến cho những người Phật tử dù có khao khát chiêm ngưỡng Phật
nhưng vẫn ngần ngại việc tạo hình đúc tượng Ngài theo hướng ‘mày
ngang mũi dọc’.
Tình trạng ‘đạo Phật không có tượng Phật’ kéo dài cho đến thế kỷ
thứ nhất trước Tây lịch thì Đức Phật trong hình dạng con người
mới bắt đầu xuất hiện. Tượng Phật từ đó nhanh chóng trở thành
trọng tâm tín ngưỡng Phật giáo với hai trường phái tạo hình lớn
là Mathura và Gandhara. Trường phái Mathura khắc họa hình dạng
Đức Phật với những đường nét rất gần gũi với những vị thần thánh
thuộc tín ngưỡng bản địa Ấn Độ, tròn trịa và sung túc. Trong khi
đó với trường phái Gandhara, Đức Phật có những nét đẹp thanh tú
của những vị thần Hy Lạp.
Khi đạo Phật lan xa tỏa rộng vượt qua những sa mạc và biển khơi,
tiếp xúc với những nền văn minh mới, hình tượng Đức Phật theo đó
mà tiếp biến và phát triển, rực rỡ và càng lúc càng phong phú
cho đến ngày nay. Đức Phật đã trở nên muôn hình muôn vẻ, ngoài
những quy ước căn bản đã mang thêm nhiều yếu tố văn hóa của
nhiều địa phương khác nhau. Ngay trong một quốc độ, tùy theo sơn
môn bộ phái mà tượng Phật cũng dị biệt, đặc biệt là phương diện
nhân tướng, diện tướng. Tượng Phật của Nhật có khuôn mặt hao hao
giống người Nhật; tượng Phật của Tây Tạng có khuôn mặt hao hao
giống người Tây Tạng; và dĩ nhiên tượng Phật Việt Nam thường
giống với người Việt Nam.
Chuyện Phật tử được chiêm bái tượng Phật tưởng chừng dường như
là chuyện đương nhiên. Nhưng sự thật, chuyện đương nhiên đó đã
không xảy ra trong nhiều thế kỷ. Thế hệ Phật tử trong thời kỳ
đầu không hề được chiêm bái Đức Phật trong dạng tranh tượng mãi
cho đến thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch. Chúng ta thấy rằng dù
chỉ có những hình ảnh biểu trưng như tháp Xá lợi, bánh xe Chánh
pháp, Phật tử ngày xưa đã khéo léo vận dụng để làm phương tiện
quán chiếu và noi gương tu tập.
Một cách cẩn trọng, chúng ta thấy rằng chiêm bái tranh tượng đã
không phải là chuyện đương nhiên; và việc chiêm bái theo cách có
ý nghĩa nhất chắc chắn cũng không phải đương nhiên mà ai cũng có
được. Nhìn bằng đôi mắt lạc quan, chúng ta lại thấy trong cuộc
sống hiện đại, người Phật tử tuy phải đối mặt với nhiều thực
trạng và tai ách đặc trưng của thời đại, nhưng bù lại, được
hưởng nụ cười thanh thoát an nhiên của bậc Đạo sư qua hình ảnh
tranh tượng càng ngày càng phong phú, và gần như mọi lúc mọi nơi.
* Robert E.
Fisher, Mỹ thuật Và Kiến trúc Phật giáo (bản dịch của Huỳnh Ngọc
Trảng và NguyễnTuấn), Nxb Mỹ Thuật, 2002, trang 20.
Source:
giacngơnline
|