|
ĐỨC PHẬT CHƯA TỪNG NHẬP DIỆT
Tôn Nữ Diệu
Liên
Thăm xứ Ấn Sau khi hoàn tất một số công việc từ thiện ở Biển Hồ,
tôi giã từ Cam Pu Chia để chuẩn bị vào Ấn Độ. Vừa rời phi trường
chuyển tiếp Thái Lan được một ngày thì phi trường bị đoàn biểu
tình làm tê liệt. May quá, nếu không có lẽ tôi sẽ phải ở lại đây
một thời gian thật lâu.
Lần đầu tiên đến chiêm bái xứ Phật, không một người quen, tôi
may mắn được thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên Thật ra đón tận phi
trường. Vùng nầy thuộc tỉnh Gaya, nơi có những thánh tích Phật
giáo như Bồ Đề Đạo Tràng, Khổ Hạnh Lâm, sông Ni Liên Thuyền…Mục
đích của chuyến đi nầy là xem lại những công việc từ thiện của
“Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã làm trong những năm qua, tìm hiểu
để làm thêm những công việc mới, mong giúp một chút cho Đạo và
chia xẻ khó khăn với những người dân giai cấp cùng đinh.

Tượng Đức Phật Niết Bàn ở Ấn Độ
Có lẽ vì là vùng đất Thánh, nên mọi kế hoạch từ thiện của tôi
tại đây đã biến thành các Phật sự mầu nhiệm. Việc đầu tiên là
tôi quyết định không ở khách sạn, xin về lưu trú tại một ngôi
chùa Việt Nam có thời khóa tu học: tụng kinh lúc 4 giờ sáng, 5
giờ nghe thuyết pháp và 6 giờ ăn điểm tâm. Chùa đang xây dựng
nên chưa có phòng cho Phật tử vãng lai. Chùa được dựng tạm lên
bằng những tấm tolle, vách hở nên gió và bụi bay vào, nằm bên
cạnh đồng ruộng nên có nhiều chuột. Những con mèo hoang trong
làng vào chùa rượt chuột chạy rầm rầm cả đêm. Mặc dù là tuổi
chuột nhưng tôi rất sợ Chuột. Ngày đầu khi về phòng, tôi co chân
ngồi trên giường và bỏ mùng xuống để các “cô”, “chú” ham rượt
nhau không tông vào tôi. Những lúc như vậy thì tôi trì chú Đại
Bi, khi tâm dịu xuống thì tôi ngồi yên theo dõi hơi thở. Tôi
quán tưởng hình ảnh ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện
vào rừng lang thang một mình, sống hòa đồng với thú dữ, chịu
cảnh màn trời chiếu đất, rừng sâu nước độc. Hình ảnh con đường
tìm đạo 2.500 năm về trước của đức Phật với nhiều chông gai và
thử thách giúp tôi vượt qua được khổ thọ khi phải sống chung với
mấy chú Chuột trong chùa. Và hình như các Chú các Cô cũng cảm
được cái “oán tắng hội khổ” nên chỉ ba ngày sau, các chú mèo và
chuột, rút hết ra khỏi phòng, qua tạm cư ở những căn nhà kho
không có người xử dụng.
Tôi còn nhớ vào năm 1997, cũng nhờ quán tưởng cuộc đời tu hành
của vua Trần Nhân Tông mà tôi đã leo lên được đỉnh núi Yên Tử.
Lúc đó đường lên núi chưa có dây cáp, chồng tôi và tôi được Ni
sư Như Minh cho đi tham quan núi Yên Tử. Khi leo lên giữa núi,
nhìn thấy bên trái vách núi cao chọc trời, bên phải thì vực sâu
thăm thẳm. Tôi tự trách mình sao lại tìm đến những nơi nguy hiểm,
lỡ trượt chân mất mạng thì thật là khờ khạo biết bao. Để trấn an
tâm sợ hãi và những suy nghĩ dại dột, tôi mang hình ảnh vua Trần
Nhân Tông ngày xưa một mình lên núi ra để giúp tôi có thêm năng
lực tiếp tục lên đường. Khi tôi bước trên rễ lớn của những cây
thông bắt ngang làm thành bậc đi lên, tôi nghe kể lại rằng,
những hàng Thông nầy là do Vua Trần Nhân Tông trồng trong thời
gian ở đây, tôi bắt đầu bước những bước chân vững chãi hơn, ý
thức rõ con đường với những kỷ niệm của người xưa để lại. Những
bước chân của tôi hôm nay có lẽ đã dẫm lên những bước chân của
Ngài hơn 700 năm về trước. Bao nỗi sợ hãi trong lòng tan biến,
tôi không còn bị ảnh hưởng của địa thế núi rừng hiểm trở, mà chỉ
còn lại ý thức của mỗi bước chân đi và hình ảnh tuyệt vời của
một lão tăng, đầy dũng khí.
Trở lại câu chuyện Xứ Phật, sau khi được thoải mái vì không phải
sống chung với các chú Chuột, tôi đối đầu với thức ăn khó nuốt.
Thức ăn khô trong chùa được quý Phật tử Việt Nam cúng dường mang
theo trong các chuyến hành hương. Nhiều lần họ đem được vào Ấn
Độ rồi nhờ người chuyển về chùa, vì vậy có những thức ăn khô 2
năm sau mới đến được chùa. Những gói mì ăn liền bị bể vụn do di
chuyển qua nhiều nơi, những lần vo gạo và nếp tôi thấy nhiều hạt
nổi lên vì mọt ăn rỗng ruột. Ngôi chùa nầy thuộc hệ phái Khất sĩ,
nên mỗi ngày chỉ ăn hai bữa: sáng và trưa, trước giờ ngọ. Khi
món ăn được lập đi lập lại mỗi ngày làm tôi bắt đầu khó nuốt,
nhưng nghĩ đến sức khỏe và thời tiết khắc nghiệt mùa Đông xứ Ấn,
tôi phải nghĩ ra cách đưa thức ăn vào cơ thể. Bài pháp ăn trong
chánh niệm của Sư ông Làng Mai đến ngay với tôi để cứu vãn tình
huống. Tôi nhớ lại, trong khóa tu mùa Đông năm 1993, trong giờ
ăn sáng Sư ông dạy mọi người nhai mẩu bánh mì ít nhất là 50 lần
và chỉ nhai bánh mì thôi, vào giờ trưa Sư ông lại nhắc nhở rằng
mỗi miếng thức ăn đưa vào miệng chúng ta nhai ít nhất là 80 lần,
chúng ta đếm từng lần nhai với ý thức rõ ràng, nương theo hơi
thở nương theo số đếm, và chỉ nhai thức ăn mà thôi, không nhai
bất cứ cái gì khác. Khi cắn phải miếng đậu que thì ta biết ta
đang cắn miếng đậu que, không cắn những nỗi buồn, cơn giận,
những dự án ... Nhớ lại những lời sư ông dạy tôi đã nhai từng
lát bột mì hấp và ý thức là mình đang nhai lát bánh mì hấp cho
đến lúc bánh mì dẻo ra thành nước hòa lẫn với nước bọt mới nuốt
xuống, không nhai miếng bánh mì dở hay ngon. Sau lần thành công
nhai được thức ăn trên 80 lần và nếm được hương vị ngọt lịm của
miếng bánh mì hấp mà đáng ra rất nhạt nhẽo; tôi đã tin cách ăn
trong chánh niệm, giờ ăn lúc đó không còn khó chịu nữa mà là
giây phút thú vị của sự thực tập thiền quán.
Hàng ngày, sau giờ ăn sáng tôi cùng thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên
Thật vào các làng nghèo để kiểm tra lại các công tác từ thiện đã
làm, và tiếp tục làm thêm những công việc mới, tôi học hỏi được
nhiều từ chư Tăng Ni về kinh nghiệm từ thiện trên đất Ấn. Tôi
trở về trước 11 giờ trưa để kịp dùng cơm, rồi đến giờ nghĩ và xế
chiều tôi và chị Diệu Thuận đi bộ ra Bồ Đề Đạo Tràng hay các
chùa Việt Nam lân cận để tụng kinh chiều, ngôi chùa tôi tạm trú
đi bộ đến Bồ Đề Đạo Tràng mất khoảng 20 phút.
Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt
Những sợi nắng thưa dần nhường chỗ cho bóng chiều buông xuống,
tôi đi vào bên trong Bồ Đề Đạo Tràng (BĐĐT) hoà nhập với tăng
đoàn tu sĩ và cư sĩ từ nhiều quốc gia quy tụ về đây. Đúng là thế
giới Cực Lạc. Tôi bước những bước chân chậm rãi trong chánh niệm,
tìm được sự an lạc trong mỗi bước chân đi, nhịp thở điều hoà làm
nở hoa dưới gót chân tôi bước, lòng tôi tràn ngập niềm hạnh phúc
khó tả. Thoáng nhẹ trong không gian thênh thang tôi như thấy
linh ảnh Đức Phật đang đứng ở dưới gốc cây Bồ Đề cuối bức tường,
Ngài với nụ cười nhẹ và đôi mắt từ bi nhìn tôi khích lệ. Đó
không phải là mơ, không phải là sự tưởng tượng, mà là một cái
cảm thọ của sự tiếp xúc chân thật phát khởi từ tâm thể trong
sáng. Không phải một lần mà xảy ra vài lần trong thời gian tôi
tu tập tại BĐĐT. Chỉ có những lúc tôi có sự an lạc trọn vẹn và
tỉnh thức tròn đầy thì tôi mới tiếp xúc được cảm nhận mầu nhiệm
đó. Tôi tin chắc rằng “Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt”, Pháp Thân
ngài tỏa sáng khắp mọi nơi, trong bước chân tĩnh lặng tôi thấy
rõ tâm thể của một người tỉnh thức; tôi đã nói câu này nhiều lần
với chồng tôi trong thời gian tôi sống tại đây. Đức Thế Tôn muốn
những đứa con Ngài tự thắp đuốc lên mà đi nên Ngài đã thị hiện
Niết Bàn, ngài mãi mãi ở khắp nơi, ngài chưa từng rời xa cội Bồ
Đề, chưa từng rời xa Khổ Hạnh Lâm, chưa từng rời xa dòng sông Ni
Liên Thuyền. Chỉ cần chúng ta có sự tỉnh thức trọn vẹn thì chúng
ta có thể tiếp xúc được với Ngài ngay trong từng bước chân.
Bồ Đề Đạo Tràng
BĐĐT mở cửa từ 4 sáng đến 9 giờ tối, lúc nào cũng tấp nập khách
hành hương và tín đồ Phật giáo. Có rất nhiều tu sĩ Tây Tạng về
đây tu học, những chiếc áo màu hỏa hoàng của quý sư chiếm đến
80% bên ngoài và trong BĐĐT. Các thánh tích Phật giáo tại vùng
Gaya thường có những ngôi chùa Tây Tạng xây bên cạnh, những vị
tu sĩ Tây Tạng sống trong các chùa nầy vừa chuyên hành trì, vừa
lo chăm sóc thánh tích. Phật giáo Ấn Độ nếu không có hình bóng
và sự đóng góp của Phật giáo Tây Tạng thì e rằng sẽ rất nghèo
nàn và buồn tẻ. Trong cái khổ nạn mà Phật Giáo Tây Tạng phải
gánh chịu trong 50 năm qua, lại sinh ra được cái huy hoàng của
nó, đó là sự chấn hưng và phát triển Phật Giáo trên đất nước Ấn
vốn đã tàn rụi từ lâu.
Vào những tháng mùa Đông, khí trời chuyển lạnh đẩy lui sức nóng
khắc nghiệt, hàng đoàn tu sĩ tụ về BĐĐT để hạ thủ công phu. Hàng
ngày có hàng ngàn khách hành hương có mặt bên trong BĐĐT. Trong
số đó có khoảng 300 đến 400 người được gọi là tu học thường trú,
tu sĩ Tây Tạng chiếm đến 90%, thời khóa mỗi ngày từ 5 giờ sáng
đến 9 giờ tối, kéo dài từ 1 đến 3 tháng. Mỗi người chọn cho mình
một pháp môn tu: trì chú, trì kinh, lễ lạy, thanh tịnh thân và
tâm (purify body and mind), thiền định…. Ví như trăm dòng sông
cùng đổ về biển cả, hàng trăm người an tĩnh hết lòng thực hành
pháp môn của mình, năng lượng tu học hòa điệu trong không gian,
không còn một sự ngăn ngại nào ngoài sự thanh tịnh tỏa rộng,
thấm vào từng tế bào của cỏ cây, đất đá và hành giả.
Để tỏ lòng hỗ trợ sự tu trì của quý thầy, cô và đại chúng, thầy
Thích Tánh Tuệ, sư cô Liên Thật và “MTNCD” đã cúng dường tịnh
tài đến 375 vị tu sĩ thường trú. Trước giờ cúng dường, chúng tôi
đứng trước linh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cầu nguyện, niệm chú
Đại Bi, tụng kinh Phổ Môn. Vì có một quá trình vào ra BĐĐT mỗi
ngày nên thầy Tánh Tuệ biết vị tu sĩ nào là tu sĩ thường trú để
cúng dường. Tôi lễ lạy một cách thành kính từng vị trước khi
dâng phong bì cúng dường. Thầy Tánh Tuệ đi theo hướng dẫn để tôi
không bị sót vị nào. Hai chân tôi có lúc không còn có thể đứng
lên lạy xuống, tôi quay về theo dõi hơi thở, đưa hơi thở vào ra
trong mỗi hành động, khi hơi thở và hành động được hoà hợp với
nhau thì tôi chỉ còn một việc là nhiếp hết tâm ý cúng dường, và
nhờ vậy mà tôi đã tìm được sự bình an và tập trung cho đến lúc
cúng dường vị tu sĩ cuối cùng. Dù chỉ lễ lạy trong 4 tiếng đồng
hồ, vậy mà hai ngày liền cơ bắp đau nhức, từ đó tôi mới tâm phục
khẩu phục công năng hành trì pháp môn “thanh tịnh thân tâm” của
quý thầy Tây Tạng. Mỗi ngày quý sư đã lễ lạy khoảng 2500 lần từ
1 đến 3 tháng. Có một điều kỳ lạ là chẳng ăn uống bồi bổ mà quý
sư nhìn rất khoẻ mạnh và tươi vui.
Nuôi Lớn Sự Thanh Tịnh
Hàng ngàn người vào ra BĐĐT ban ngày, còn có những đạo tràng từ
các nước Á Châu, phần lớn Thái Lan, về đây đăng ký với văn phòng
BĐĐT để ở lại tu từ 9 giờ tối đến sáng hôm sau, gọi là trưởng
tịnh (nuôi lớn sự thanh tịnh). Cá nhân cũng có thể đăng ký với
văn phòng, đóng lệ phí 100 rupees để tu trưởng tịnh. Không khí
thanh tịnh về đêm tại BĐĐT hoàn toàn khác với ban ngày, những
người còn lại sau 9 giờ đêm là những người thật sự muốn tìm đến
một sự im lặng tuyệt đối. Mỗi hành giả hành trì pháp môn riêng
của mình, chọn một nơi thích hợp và nhất tâm hành trì.
Trước khi lên đường đi Ấn Độ, tôi đã sắp xếp một chương trình
dày đặc để mong được thực hiện và học hỏi. Vả lại, trên 15 năm
qua chúng ta đã có một quá trình ủng hộ chư tăng tu học ở các tu
viện Tây Tạng, nên tôi muốn biết thực trạng của vấn đề để mong
điều chỉnh cho thích hợp. Nhưng rồi, như tôi đã nói, tôi đã thật
sự tiếp xúc với năng lượng an lạc của tự thân. Những ngày ở đây
trở thành những giây phút yên tĩnh lạ thường, từ những bước chân
thiền hành qua những khu đất nghèo văng vẳng tiếng kinh chiều
của các chùa Tây Tạng cho đến những đêm thanh tịnh tọa thiền,
tất cả dâng lên một khúc nhạc trầm lắng và đầy yêu thương, làm
cho người qua đây không còn nhất thiết phải làm chi khác nửa.
Tôi quyết định dành thời gian để trở về với chính mình, tôi khao
khát được tu, và được làm việc từ thiện trong tinh thần chánh
niệm.
Vị sư phụ ngôi chùa Việt Nam, nơi tôi xin tá túc, có Phật sự đi
xa, nên từ đó mỗi ngày tôi vào BĐĐT lúc 6 giờ chiều, ngồi nhìn
mọi người qua lại, hay cùng các bạn đạo chia xẻ những mẩu chuyện,
rồi xế tối tôi vào điện chính lễ lạy đức Bổn Sư, tụng kinh Phổ
Môn và niệm chú Đại Bi. Chị Diệu Thuận kể lại rằng khi tôi nhiếp
tâm tụng kinh thành tiếng rặt giọng Huế thì các sư Tây Tạng
chung quanh ngưng tụng, họ nhìn tôi rồi nhìn nhau mỉm cười. Sau
9 giờ tối tôi dựng lều ngồi thiền, và bắt đầu tĩnh tọa, đến gần
nữa đêm, rồi đi thiền hành đến lúc bước chân tôi đưa tôi về lều
nghỉ ngơi. Thời gian vô tận và không gian thênh thang luôn có
mặt nơi đây, không có việc gì cần làm, không có mục đích cần đạt,
không cần rong ruổi với thời gian. Tôi đã mở tung ra được nhiều
sợi dây ràng buộc trong thời gian ngắn ngủi này mà hương hoa của
sự vắng lặng đó vẫn còn ảnh hưởng trong cuộc sống hàng ngày của
tôi cho đến hôm nay.
Cái lều của tôi được dựng chơ vơ ngoài trời ngay bên lề đường,
khí trời về đêm xứ Ấn lạnh lắm, sương rơi thấm ướt tấm khăn tôi
trải che gió trên đỉnh lều, khí lạnh từ lớp đá hoa cương dưới
nền tỏa ra được làm ấm lại bằng một tấm chăn mỏng. Lều được
thiết kế tránh muỗi, dành cho ngồi thiền chứ không phải để nằm,
nhưng cũng may là tôi nhỏ xíu, nằm co lại như mình đang nằm
trong bào thai mẹ trước khi ra đời, tôi hạnh phúc mỉm cười từ từ
đi vào giấc ngủ một cách dễ dàng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng
những con chó hoang rượt và cắn nhau trong đêm tối. Tờ mờ sáng
lúc chưa nhìn rõ được mặt nhau, những bước chân đi mạnh mẽ,
những tiếng niệm chú xì xào từ các sư Tây Tạng vào BĐĐT lúc 4
giờ sáng mở đầu cho một ngày mới tu tập, đánh thức tôi dậy. Tôi
lấy chăn đắp lên người, ngồi yên trong lều, theo dõi hơi thở và
“thiền quan sát” sinh hoạt buổi sáng tại BĐĐT.
Thức dậy mỉm miệng cười
Hai bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời
Năm giờ sáng, sương còn rơi và khí trời se se lạnh, vậy mà tiếng
chân người mỗi lúc một rộn ràng hơn, số người thưa thớt ban đầu
dần dần trở thành từng đoàn nối chân nhau tìm đến địa điểm hành
trì mỗi ngày của mình. Mặt trời từ từ hé dạng, vén nhẹ màn sương
khuya, đem hơi ấm ôm ấp lên muôn vật, tôi bước ra khỏi lều và
xếp gọn hành trang chuẩn bị đi ăn điểm tâm. Tại khuôn viên trước
BĐĐT, dù người sang hay kẻ hèn thì cũng chỉ có hai món để điểm
tâm đó là trà sữa và bánh bột mì hay bột chapatti (lúa mì). Mỗi
ly trà sữa là 5 ruppes, một cái bánh bột chỉ 10 rupees (0.25 usd),
đây cũng là một sinh hoạt đáng nhớ, cái thế giới mà ai cũng như
ai, ngồi trên thành lề đường, sưởi ấm hai tay bằng ly trà sữa
nóng và lót dạ một miếng bánh mì để chuẩn bị cho một ngày sinh
hoạt mới.
Cúng Dường Ba La Mật
Một buổi sáng vào mùa lễ hội Tripitaka, BĐĐT đông nghẹt người về
tham dự. Đang đi thiền hành sau thời khóa trưởng tịnh, tôi dừng
lại khi nghe tiếng xôn xao khác thường từ phía cổng chính của
BĐĐT. Tôi thấy nhiều Phật tử nói tiếng Hoa, có lẽ là người Đài
Loan, thuê những em bé người Ấn đem bánh mì và trà sữa vào cúng
dường cho bất cứ người nào đang có mặt trong BĐĐT. Họ làm việc
nhanh nhẹn để kịp đem đến tặng từng người như sợ người ta đi mất
khỏi tầm nhìn của họ, người nhận muốn bao nhiêu thì họ tặng bấy
nhiêu, không phân biệt tu sĩ hay khách hành hương, không tính
toán, không kỳ thị, không phân tích, họ trao tận tay những miếng
bánh mì tươi mềm và ly trà sữa nóng hổi vừa mới rót ra. Họ đến
trước mặt tôi để “cúng dường”, tôi lặng yên tiếp nhận, hơi ấm từ
ly trà nóng chuyền qua lòng bàn tay theo dòng nước mắt lăn dài
trên đôi má, tôi nói thầm “hạnh phúc thay … hạnh phúc thay” khi
thấy con người biết sống với nhau trong biển tình thương bao
la.
Chó Hoang
Buổi sáng tôi chia xẻ phần điểm tâm cho vài chục con chó. Đây là
những con chó hoang, không có nhà để về, không có chủ cho ăn,
bãi rác là nơi các “em” tìm thức ăn và ngủ từng bầy với nhau.
Rất nhiều chó hoang. Tôi và chị Diệu Thuận mua hàng chục miếng
bánh mì, xé nhỏ ra và thảy cho từng em một.
Một hôm khi đi qua làng, tôi thấy một con chó con từ đằng xa,
cái đuôi ve vẫy, cái mồm sủa oang oang, “em” thuộc giống
Pomerine nên rất đẹp và được nuôi đàng hoàng. Tôi đến gần, ngồi
xuống chơi với “em” thì con chó bỗng nhiên ngưng sủa, ngửi quanh
người tôi, rồi nhảy chồm lên liếm vào tay vào mặt tôi. Tôi
thương quá, ôm “em” vào lòng, và hôn lên đầu lên má “em”, chị
Diệu Thuận bảo tôi: “thôi đi mau kẻo tối”. Những hôm đầu tôi nhờ
chị Diệu Thuận giúp tôi cho chó ăn bánh mì chị không nhiệt tình
cho lắm.
Thế rồi mỗi ngày hai chị em cùng đi tu học với nhau, và thường
có những chú chó hoang theo gót chân tôi. Một hôm tôi phát hiện
có một con chó màu đen, tôi đặt tên là “Mực” đã theo tôi từ lâu
lắm, tận ngoài BĐĐT. Cứ mỗi góc đường Mực lại đứng chờ, tôi rẽ
về hướng nào là nó quẹo về hướng đó. Thương quá! tôi nói với chị
Diệu Thuận: “Lát nữa về chùa em đứng ngoài giữ nó chị vào tìm
thức ăn cho nó giúp em nghe”. Chị Diệu Thuận cản: “thôi, đừng
lấy thức ăn cho chó, trong chùa không thích đâu”. Ngay sau câu
nói của chị Diệu Thuận, tôi thấy Mực đến trước cổng chùa rồi
quây lưng đi ra lại đầu xóm. Tôi không nói gì hết, chạy nhanh
vào bếp lấy mấy miếng bánh mì cũ chạy ra thì Mực đã đi mất, tôi
cầm miếng bánh mì đi tới đi lui quanh xóm, tôi gọi thầm trong
tâm: “Mực ơi! con đi đâu rồi? ra đây với cô đi con” nhưng mãi
mãi em không trở lại. Tôi về kể lại cho chị Diệu Thuận nghe và
tỏ lòng xót xa. Từ hôm đó chị Diệu Thuận không còn ngăn cản tôi
“thương chó”, chị đã phụ tôi xé bánh mì và ném ra cho từng con
một. Tôi rất vui vì có lần các “em” đến đông quá, chị bảo tôi
mua thêm ít miếng nữa vì còn một số “em” ăn chưa no.
Hôm nay ghi lại đây một vài kỷ niệm của những ngày hạnh phúc bên
Bồ Đề Đạo Tràng như một sự chia xẻ nồng ấm với mọi người. Nhân
mùa Phật đản Phật lịch 2553, xin dâng một đóa tâm hương với tất
cả lòng thành kính lên đức Thế Tôn. Nguyện cầu cho chúng ta có
đủ hùng lực để cùng nhau vững tiến trên con đường giác ngộ. Kính
chúc các bật tôn túc, cùng chư tăng ni vô lượng an lành.
Tôn Nữ Diệu Liên Mùa Phật đản – PL. 2553
Source: thuvienhoasen.org
|