Đức Phật Thị Hiện
Đản Sanh
Thích Thái Hòa
Danh Hiệu Và Thân Thế:
Danh hiệu
của đức Phật Thích Ca Mâu Ni:
đọc theo âm Phạn và Pàli tên
là ‘Sakyamuni.
Hán phiên âm là Thích Ca Văn Phật
và dịch Thích Ca là Năng nhân, Năng
nhẫn, Năng tịch, Tịch mặc, Năng
mãn,…Năng nhân là có khả năng
thực hiện sự yêu thương; Năng nhẫn
là có khả năng kham nhẫn; Năng tịch
có khả năng thực hiện đời sống
an tịnh; Tịch mặc là có khả năng
yên tịnh từ trong ra ngoài; Năng mãn
có khả năng thành tựu viên mãn
các hạnh.
Mâu Ni
dịch là Thánh nhân, Hiền nhân,
Đạo sĩ, Ẩn sĩ, hay Tịch mặc,…
nghĩa là bậc Thánh nhân, bậc Hiền
triết, bậc Minh triết, bậc Đạo sĩ,
bậc Ẩn sĩ,…có khả năng sống
đời thanh tịnh và giải thoát.
Như vậy, Sakyamuni là đấng có
đời sống an tịnh, đời sống có
kham nhẫn, tràn đầy sự thương
yêu, xuất thân từ họ ‘Sakya. Và Sakya có nghĩa
là dòng họ có đầy đủ khả
năng tự lực và sáng tạo.
Tên của
ngài đọc theo âm Pàli là Siddhattha
và Phạn là Sarvasiddhàrtha. Hán phiên
âm là Tất Đạt Đa La Tha, Tất
Đạt Đa, Sĩ Đạt Ta, Tất
Đạt,…và dịch là Nhất Thế
Nghĩa Thành, nghĩa là thành tựu tất
cả chân nghĩa; hoặc dịch là Nhất
Thế Sự Thành, nghĩa là thành tựu
hết thảy sự nghiệp; hoặc dịch là
Thành Lợi, nghĩa là thành tựu hết
thảy lợi ích; hoặc dịch là Nghiêm
Sự, nghĩa là chiêm nghiệm để
thấy rõ nghĩa lý chân thật.
Thân phụ
là Suddhodana, Hán dịch là Tịnh Phạn,
nghĩa là vị có khả năng hiến
tặng hạnh phúc cho đời; mẹ là Maha
– Màya, Hán dịch là Đại Mộng,
do trong chiêm bao thấy được mộng
lành, dòng họ của Ngài là ‘Sakya,
thuộc giai cấp Khattiya (Sát Đế Lợi), kinh
thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ). Ngài xuất
hiện vào thời kỳ tuổi thọ của
nhân loại 100 tuổi.
Thị Hiện
Đản Sanh:
Hoàng hậu Màya năm 45 tuổi, một
hôm nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà
từ trên trời đi xuống và giữa
không trung có những làn sóng nhạc vang
lừng, quyện lại với những lời chúc
tụng của chư thiên xa vọng không ngớt.
Voi trắng đi xuống càng lúc càng
gần, da của voi trắng như tuyết, ngà
của voi có quấn một đóa sen hồng.
Voi đến gần và đưa đóa sen
hồng chạm vào người bà, trong giấc
mộng bà thấy thân tâm sản khoái
lạ kỳ. Tỉnh dậy bà đem giấc
mộng ấy kể lại cho vua Suddhodana nghe. Ngay
sáng hôm ấy, vua mời các nhà
đoán mộng tại kinh đô Kapilavastu
đến để giải mộng.
Các nhà đoán mộng đều cho
rằng: “Đây là một giấc mộng
lành chắc chắn Hoàng hậu sẽ thụ
thai, và sẽ sinh Hoàng tử xuất chúng”.
Nghe các nhà đoán mộng như thế,
vua Suddhodana hết sức vui mừng, vua hạ lệnh
đem lương thực, tài sản trong kho ra
chẩn phát cho dân nghèo và những
người tật bệnh, ân xá lao tù,
nhân dân xứ Kapilavastu đều thấm nhuần
ơn mưa mốc.
Gần một năm kể từ ngày nằm
mộng, hoàng hậu Màya về vương
quốc Koliya quê hương của bà để
sinh nở. Trên đường từ Kapilavastu về
Ramagama của vương quốc Koliya quê của
bà để sinh nở, bà đã ghé
nghỉ tại vườn Lumbini.
Trong vườn, mọi hoa đang nở rộ, chim
chóc đang hót ca, một sáng mai đẹp
trời, bà thấy hoa vô ưu đang nở
đầy cành, hương và sắc đẹp
đẽ, liền bước tới đưa tay nắm
lấy cành hoa, thì thái tử cũng liền
thị hiện ngay lúc đó. Bấy giờ
là ngày trăng tròn tháng Vesàkha,
năm 623 trước Tây lịch.
Khi ra đời Thái tử đứng thẳng
nhìn vào hông phải của mẹ mà
nói:
“Ngã thử thân hình
Tùng kim nhật hậu,
Bất phục cánh thọ
Ư mẫu hiếp trung
Bất nhập thai ngọa
Thử thị ư ngã
Tối vị hậu than
Ngã đương tác Phật”. 1
Nghĩa là:
Thân này của con
Từ nay về sau
Không còn trở lại
Vào nằm trong thai
Ở trong hông mẹ
Thân nầy của con
Là thân sau cùng
Con sẽ thành Phật.
Rồi,
Thái tử nhìn bốn phương, mỗi
phương đi bảy bước đều có hoa
sen lớn xuất hiện để đỡ chân
Ngài.
Trước hết nhìn về phương
Đông, Thái tử nói:
“Chánh ngữ chánh ngôn,
Thế gian chi trung
Ngã vi tối thắng,
Ngã tùng kim nhật
Sanh phần dĩ tận”. 2
Nghĩa là:
Lời nói
chính xác,
Ở trong
thế gian,
Tôi là
tối thắng,
Tôi từ
hôm nay
Chấm dứt
sinh tử.
Chi tiết nầy, lại được ghi chép
cụ thể hơn trong Phương Quảng Đại
Trang Nghiêm Kinh, rằng:
“Khi sinh
ra Ngài bước đi về phương
Đông bảy bước có bảy hoa sen
đỡ chân, lúc bấy giờ Ngài
không
có
chút sợ hãi và nói mạch lạc
như sau:
Ngã
đắc nhất thiết thiện pháp
Đương
vị chúng sanh thuyết chi”.
Nghĩa
là: Tôi sẽ
thành tựu hết thảy thiện pháp và
sẽ vì chúng sanh mà nói.
Ngài lại bước đi bảy bước
về phương
“Ngã
ư nhân thiên
Ứng thọ
cúng dường”.
Nghĩa
là: Tôi
xứng đáng nhận sự cúng dường
của chư Thiên và loài ngời.
Ngài
lại bước đi bảy bước về
phương Tây và nói:
“Ngã ư chúng sanh
Tối tôn, tối thắng
Thử tắc thị ngã,
Tối hậu biên than
Tận sanh lão bệnh tử”.
Nghĩa
là:
Ở trong
thế gian
Tôi là
tối tôn
Tôi là
tối thắng
Thân nầy
của tôi
Là thân
cuối cùng
Chấm dứt
sinh tử.
Ngài lại bước đi bảy bước về
phương Bắc và nói: “Ngã
đương ư nhất thiết chúng sanh trung, vi
vô thượng thượng”. Nghĩa là: Tôi sẽ ở
nơi hết thảy chúng sanh, làm bậc vô
thượng thượng.
Ngài lại đi bảy bước nhìn
xuống Hạ phương và nói:
“Ngã đương hàng phục
Nhất thiết ma quân
Hựu diệt địa ngục
Chi mãnh hoả đảnh
Sở hữu khổ cụ
Thi đại pháp vân
Vũ đại pháp vũ
Đương linh chúng sanh
Tận thọ an lạc”.
Nghĩa
là:
Tôi sẽ hàng phục
Hết thảy ma quân
Huỷ diệt khổ cụ
Dập tắt lửa dữ
Ở nơi địa ngục
Giăng mây pháp lớn
Tuôn mưa pháp lớn
Khiến cho chúng sanh
Tận hưởng an lạc.
Ngài lại đi bảy bước nhìn
lên Thượng phương và nói: “Ngã
đương vị nhất thiết chúng sanh, chi
sở chiêm ngưỡng”. Nghĩa là:Tôi sẽ
vì hết thảy chúng sanh làm nơi
chiêm ngưỡng.
Lúc Ngài nói vừa xong, âm thanh của
Ngài vang khắp cả ba ngàn đại thiên
thế giới 3
Năm ngày sau, vua Suddhodana làm lễ quán
đảnh và đặt tên Thái tử
là Siddhattha và mời đạo sĩ Asitakaladevala
(A Tư Đà) đến đoán tướng.
Đạo sĩ nói:
“Thái tử có 32 tướng tốt
của bậc Đại nhân, nếu ở đời
thì Thái tử sẽ là vị Chuyển
Luân Thánh Vương dùng đức hạnh
để trị vì thiên hạ. Nếu xuất
gia, thì Thái tử trở thành bậc
toàn giác đem lại sự hạnh phúc an
lạc cho đời”.
Niềm Tin,
Hiểu Biết Và Sự Cảm Nhận:
Việc chuyển tải năng lượng từ
một không gian nầy đến một không gian
khác bằng tự thân của những năng
lượng hay bằng những dụng cụ khoa học
vật lý, đối với trí thức của
con người ngày nay, không còn là
điều bí hiểm.
Cũng vậy, việc đức Phật Thích Ca
ra đời cách đây 26 thế kỷ, đi
bảy bước trên bảy hoa sen và tuyên
bố những câu như đã trích dẫn
ở trên, đã làm cho nhiều nhà
trí thức tự đặt lại câu hỏi,
những sự kiện ấy có thực sự
xẩy ra không hay chỉ là bịa đặt,
huyền thoại và bí hiểm?
Kinh Hoa Nghiêm còn nói rằng, khi đức
Thích Ca thị hiện xuống thế giới Ta
Bà nầy, nằm ở trong thai mẫu, Ngài
đã thuyết pháp cho vô số Bồ
tát khắp cả mười phương và
vô số Bồ tát vào ra ở trong thai
mẫu của Ngài để nghe Ngài thuyết
pháp, ấy lại là một điều khó
tin khó hiểu đối với chúng ta nữa,
lại càng huyền thoại và bí hiểm
hơn nữa?
Và Kinh Pháp Hoa lại nói, không phải
đức Thích Ca mới thành phật từ
đời nầy, mà Ngài đã thành
Phật từ vô lượng kiếp về
trước và đã từng giáo hoá
vô lượng, vô số, vô biên chúng
sanh. Nên sự có mặt của Ngài cách
đây hơn 26 thế kỷ, chỉ là sự
tái diễn. Sự tái diễn liên tục
của bản nguyện từ bi. Và ngài vẫn
nghiễm nhiên còn đó mà mắt
thường chúng ta không thể nào thấy
được.
Những điều ấy kinh điển đã
ghi lại cho chúng ta đọc, làm cho ta như
có vẻ khó hiểu và huyền thoại.
Nhưng, chẳng khó hiểu và huyền thoại
chút nào, khi ta có một chút tuệ
giác và tâm nguyện. Tại sao? Trước
hết, ta nhìn nhận đức Phật là
một con người như bất cứ con người
nào ở trên trái đất nầy, nên
những gì mà đời sống con người
biểu hiện, thì đối với những
loại vật thấp kém không thể nào
hiểu nổi, và đối với thế giới
loài vật, thì mọi biểu hiện của
thế giới con người đối với chúng
là không thể nghĩ bàn, là cực
kỳ huyền thoại, bí hiểm. Nhưng những
hành động biểu hiện giữa con
người với con người, chẳng có
gì là huyền thoại cả, chúng là
một sự kiện biểu hiện tự nhiên.
Cũng vậy, đức Phật Thích Ca xuất
hiện giữa thế giới con người với
hình thức con người, nhưng lại khác
người, và siêu việt con người. Tại
sao? Vì con người xuất hiện trong thế
giới con người, bằng nghiệp lực và
bằng quả báo làm người; nên sự
xuất hiện ấy hoàn toàn thụ
động, không có chủ quyền và tự
do, bị trói buộc ở trong sanh, già, bệnh,
chết.
Trái lại, đức Phật xuất hiện
giữa thế giới loài người, bằng
hình tướng con người, nhưng không
phải bằng nghiệp lực mà bằng nguyện
lực, không phải bằng khát ái mà
bằng đại từ bi, không phải bằng
quả báo sinh tử mà bằng phước
báo và với tư cách của một vị
giác ngộ, nên Ngài hoàn toàn có
tự do và có chủ quyền khi nhập thai,
trú thai và xuất thai.
Ngài nhập thai, trú thai và xuất thai
đều là với tư cách của một
vị giác ngộ, không bị ràng buộc
với những hệ lụy sinh tử, nên khi
nhập thai Ngài có vô số Bồ tát
tiễn đưa, nhạc trời ngân lên ca
ngợi; khi Ngài ở trong thai, có vô số
Bồ tát vào ra thai tạng để nghe
Pháp và luận bàn chánh pháp và
khi Ngài xuất thai, thì có chư Thiên tung
hoa và hoa sen đỡ chân, đi bảy
bước và có những lời tuyên bố
xác quyết tư cách giác ngộ của
mình, như:
“Ở
trong thế gian
Tôi là
tối tôn,
Tôi là
tối thắng
Thân nầy
của tôi
Là thân
cuối cùng
Không
còn sinh tử”.
Lời tuyên bố như vậy, và phong
thái biểu hiện như vậy của Ngài,
nếu ta nghe lời ấy, bằng tâm Bồ tát
và bằng tâm Phật, thì chẳng có
gì khó hiểu, ta đưa đôi mắt
Bồ tát hay Phật mà nhìn, thì
chẳng có gì khó tin, chẳng có gì
là bịa đặt và huyền thoại,
nhưng nếu ta đem tâm phàm phu mà nghe,
lấy mắt thịt mà nhìn, thì ta chẳng
nghe và chẳng thấy cái gì, nên tất
cả đều là huyền thoại và bí
hiểm.
Khoa học ngày nay đã khám phá ra
những điều kỳ lạ, nên việc Kinh Hoa
Nghiêm nói, khi đức Phật thích ca
đang ở trong thai mẹ, Ngài đã thuyết
pháp cho vô số Bồ tát khắp cả
mười phương, và vô số Bồ
tát khắp cả mười phương đều
đến nhập thai mỗi ngày để nghe
đức thích ca thuyết pháp là
điều mà ngày nay với cách nhìn
khoa học, ta có thể tin và hiểu
được, bằng những phương pháp
siêu âm, hay bằng những phương pháp
sử dụng quang tuyến X, hay những làn sóng
điện của truyền hình, truyền thanh,…
Lại nữa, đức Thích Ca đến
và nằm ở trong thai mẹ bằng năng
lượng của tuệ giác và đại
nguyện từ bi, nên những gì ô nhiễm
trong thai mẹ không làm chướng ngại
và ô nhiễm được Ngài.
Và nằm ở trong thai mẹ mà đức
Thích Ca vẫn phóng ánh sáng của
năng lượng tuệ giác và đại
nguyện để tiếp xúc với năng
lượng tuệ giác và đại nguyện
từ bi của vô số Bồ tát khắp cả
mười phương, và mỗi ngày, mỗi
giờ, mỗi phút, mỗi giây vô số
Bồ tát khắp cả mười phương
đều sử dụng ánh sáng bằng năng
lượng tuệ giác và đại nguyện
từ bi của mình để tiếp xúc với
ánh sáng năng lượng tuệ giác
và đại nguyện từ bi của đức
Thích Ca đang có mặt và hoạt
động ở trong mẫu thai là điều
mà chúng ta có thể hiểu và thấy
được bằng cái nghe và cái
thấy, bằng tai mắt khoa học công nghệ
ngày nay.
Do đó, việc nhập thai, trú thai và
xuất thai của đức Thích Ca với những
hiện tượng kỳ lạ, khó hiểu,
khó tin so với sự suy nghĩ và cách
nhìn bằng con mắt của con người, nhưng
nó lại là những sinh hoạt thực tế
trong truyền thống văn hoá, đạo
đức, tâm linh của thế giới bản
nguyện, ấy là thế giới của những
vị Bồ tát chỉ còn một đời sau
cùng thành Phật, các Ngài đều
đã, đang và sẽ nhập thai như
vậy; đều đã, đang và sẽ
trú thai như vậy và đã, đang
và sẽ xuất thai như vậy.
Điều ấy đã, đang và sẽ
diễn ra như vậy là như vậy, ta có
cảm nhận được thì cảm nhận, ta
có tin được thì cứ tin, nếu chưa
cảm nhận được, chưa tin được
thì để đó, đừng vội vàng
bác bỏ, hay đừng vội vàng kết luận.
Cũng chỉ là một sự kiện xảy ra, ta
phải đứng từ nhiều góc độ
để nhìn nhận, và cảm nhận
để tin hiểu, ta mới có thể thẩm
thấu được bản chất của vấn
đề.
Nên, Phật Đản PL.2550, lại trở về
với chúng ta, chúng ta lại thực tập
hạnh không vội tin và không vội phỉ
báng hay kết luận khi thấy những gì
đang xẩy ra trong ta và xung quanh chúng ta.
Chúng ta phải thực sự sâu lắng và
trầm tĩnh, để chúng ta dâng hiến
đức tính ấy lên cúng dường
ngày Đản Sanh đức Từ Phụ của
chúng ta và muôn loài./
1: Phật
Bản Hạnh Tập Kinh 7, Tr 687a, Đại chính 3.
2. Kinh đã dẫn, 687b
3. Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh 3, Tr
553ab, Đại chính 3.