Đức
Phật nói về sự cúng thí Tổ Tiên và Ngạ Quỷ
Cập nhật: 12-03-2006 bởi admin
LTS. – Vào dịp lễ Vu-lan Thắng hội, Phật
tử có tục lệ cúng thí người chết.
Dưới đây Tập san trích dịch đoạn kinh có
liên hệ đến ư nghĩa cúng thí này.
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong Ca-lan-đà
Trúc viên, thành Vương-xá. Bấy giờ có Phạm chí Sanh
Văn[2] đi đến chỗ Phật, cùng Phật
thăm hỏi an ủy xong, ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
«Thưa
Cù-đàm! Con có người thân tộc rất thương
mến, bỗng nhiên qua đời. Con v́ người ấy
nên bố thí với tín tâm. Thế nào, bạch Thế tôn,
người ấy có nhận được không?»
Phật bảo
Bà-la-môn:
«Không phải nhất định phải
được.[3] Nếu người thân tộc của
ông sinh vào trong địa ngục, nó sẽ ăn thức
ăn của chúng sanh địa ngục để nuôi
sống sinh mạng của nó, chứ không nhận
được đồ ăn thức uống mà ông
bố thí với tín tâm. Nếu nó sinh vào súc sanh, ngạ
quỷ, hoặc loài người, họ sẽ được
đồ ăn thức uống của loài người,
không nhận được đồ bố thí của ông.
«Này Bà-la-môn! Trong đường ngạ quỷ có
một nơi tên là Nhập xứ ngạ quỷ.[4] Nếu
người thân tộc của ông sinh vào trong Nhập
xứ ngạ quỷ kia, th́ sẽ nhận được
thức ăn của ông.»
Bà-la-môn bạch
Phật:
«Nếu người thân tộc của con không sinh vào
trong đường Nhập xứ ngạ quỷ, th́
thức ăn do tín tâm của con bố thí ai sẽ
hưởng được?»
Phật bảo
Bà-la-môn:
«Nếu ông với tín tâm bố thí cho người thân
tộc, nhưng họ không sinh vào chốn Nhập xứ
ngạ quỷ, th́ có những thân tộc quen biết khác
đă sinh vào trong chốn Nhập xứ ngạ quỷ
đó sẽ được hưởng.»
Bà-la-môn bạch
Phật:
«Thưa Cù-đàm! Nếu con v́ tín tâm bố thí cho
người thân tộc, nhưng họ không sinh vào trong
chốn Nhập xứ ngạ quỷ, và cũng không có các
thân tộc quen biết khác sinh vào chốn Nhập xứ
ngạ quỷ, th́ thức ăn do ḷng tin bố thí
đó ai sẽ hưởng?»
Phật bảo
Bà-la-môn:
«Giả sử ông v́ những thân tộc quen biết mà
bố thí, nhưng họ không sinh vào trong chốn Nhập
xứ ngạ quỷ, và lại cũng không có những
người quen biết khác sinh vào chốn Nhập xứ
ngạ quỷ, th́ việc bố thí do ḷng tin, tự ḿnh
sẽ được phước.[5] Của bố thí do
ḷng tin của người thí chủ đó, sẽ không
mất đạt-sấn[6].»
Bà-la-môn bạch
Phật:
«Thế nào là thí chủ hành thí, để người
bố thí được đạt-sấn kia ?»
Phật bảo
Bà-la-môn:
«Có người sát sanh, làm những việc ác, tay
thường tanh máu,[7] tâm thường suy nghĩ
đến đánh đập, sát hại, không hổ, không
thẹn, tham lam, keo kiệt. Đó là nghiệp ác sát sinh.
«Có người lấy của không được cho;
đối với tài vật, làng xóm, đất trống
của người, cũng không xa ĺa trộm cắp.
«Có người tà dâm; đối với những
người được bảo hộ bởi cha
mẹ, anh em, chị em, phu chủ, thân tộc cho
đến người trao ṿng hoa, mà dùng sức
cưỡng bức, làm mọi việc tà dâm, không ĺa bỏ
tà dâm.
“Có người nói dối không chân thật: Hoặc
ở chốn vua quan, các nhà nói chơn thật, nơi có
nhiều người tụ tập cần lời nói thích
đáng, nhưng lại nói lời không thật; không
thấy nói thấy, thấy nói không thấy, không nghe nói
nghe, nghe nói không nghe; biết nói không biết, không biết
nói biết. V́ chính ḿnh, v́ người khác, hoặc v́ tài lợi,
biết mà nói dối không chịu ĺa bỏ nói dối.
«Có người hoặc nói hai lưỡi, gây chia ĺa;
đem chuyện chỗ này đến nói chỗ kia, đem
chuyện chỗ kia đến nói chỗ này, phá hoại
lẫn nhau, làm cho tan ră sự ḥa hợp, khiến kẻ ly
gián vui mừng.
«Có người nói lời thô ác, mắng nhiết. Có
những lời nói dịu dàng, êm tai, làm vui ḷng, rơ ràng
dễ hiểu, lời nói được ưa nghe,
được nhiều người yêu mến, hợp ư,
tùy thuận tam-muội. Xả bỏ những lời như
vậy mà nói lời gắt gao, cộc cằn, bị
nhiều người ghét, không ưa, không hợp ư, không
thuận tam-muội. Nói những lời như vậy, không
ĺa bỏ lời nói thô. Đó gọi là ác khẩu. «Có
người nói lời thêu dệt bại hoại, nói không
đúng lúc, nói không thực tế, lời nói vô nghĩa,
lời nói phi pháp, lời nói thiếu suy nghĩ. Nói
những lời hư hỏng như vậy.
«Có người không ĺa bỏ tham lam; đối với
tài vật người khác khởi tham dục, nói rằng
‹Nếu ta có vật này th́ rất tốt.›
«Có người không xả bỏ sân nhuế tệ ác;
trong tâm suy nghĩ, ‹chúng sanh kia đáng bị trói, đáng
bị roi vọt, gậy gộc, đáng giết, muốn
cho nó khó sống.›
«Có người không bỏ tà kiến; có quan điểm
điên đảo như vầy: ‹Không có bố thí, không có
quả báo, không có phước, không có điều thiện
điều ác, không có nghiệp thiện ác và quả báo,
không có đời này, đời khác, không có cha mẹ, không
có chúng sanh hoá sanh; thế gian không có A-la-hán, không có các
vị chánh hành, chánh hướng[8] mà trong đời này
hay đới khác, tự biết, tự ḿnh
chứng nghiệm rằng, ‹Ta, sự sinh đă dứt,
phạm hạnh đă lập, những việc cần làm
đă làm xong, tự biết không c̣n tái sinh đời sau
nữa.›
«Đó gọi mười nghiệp bất thiện.
«Sau lại bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, ... cho đến
những kẻ ăn xin bần cùng, đều bố thí
tiền tài, áo quần, chăn mền, đồ ăn
thức uống, đèn đuốc, những vật
dụng trang nghiêm.
«Này Bà-la-môn! Thí chủ kia nếu lại phạm
giới, sinh trong loài voi; nhưng v́ người ấy
đă từng bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn tiền của, áo
quần, chăn mền, đồ ăn thức uống
cho đến những vật dụng trang nghiêm, nên tuy
ở trong loài voi, cũng nhận được
phước báo nhờ đă bố thí, từ quần áo,
đồ ăn thức uống cho đến những
vật dụng trang nghiêm.
«Nếu lại sinh vào các loài súc sanh như trâu, ngựa,
lừa, la v.v... nhưng cũng nhờ vào công đức thí
ân trước, nên sẽ nhận được
phước báo kia tùy theo chỗ sinh tương ứng mà
được thọ dụng.
«Này Bà-la-môn! Nếu thí chủ kia lại tŕ giới, không
sát sinh, trộm cướp, ... cho đến chánh kiến,
và bố thí cho các Sa-môn, Bà-la-môn, ... cho đến những
kẻ ăn xin nào là tiền của, áo quần, đồ
ăn thức uống, đèn đuốc, th́ nhờ công đức
này mà sinh trong loài người, ngồi hưởng thụ
phước báo này, từ áo quần, đồ ăn
thức uống ... cho đến những vật dụng
như đèn đuốc.
«Lại nữa, này Bà-la-môn! Nếu người ấy
lại tŕ giới, th́ sẽ được sinh lên cơi
trời, v́ nhờ vào những thí ân nên được
hưởng những thứ phước báo về tài
bảo, áo quần, đồ ăn thức uống, ... cho
đến những vật dụng trang nghiêm cơi trời.
«Này Bà-la-môn! Đó gọi là người bố thí hành
thí; khi người bố thí thọ nhận
đạt-sấn, quả báo không mất.»
Sau khi Bà-la-môn
Sanh Văn nghe những ǵ Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
BBT