ĐỨC
LIÊN HOA SANH VÀ HAI MƯƠI LĂM ĐỆ
TỬ
Nguyên
tác: “Padmasambhava and his Twenty-Five Disciples”
Nyangben
Tingdzin Zangpo -Thanh Liên Việt dịch
( Trích từ
Nguồn Thư Viện Hoa Sen )
Khi Samye (1)
tráng lệ - Tu viện đầu tiên chính
yếu của Tây Tạng - được xây
dựng, những Đạo sư vĩ đại
được thỉnh mời từ Ấn Độ:
Đức Padmasambhava, Vimalamitra, Buddhaguhya và những
vị khác. Những đệ tử chính
người Tây Tạng của các ngài
gồm cả các dịch giả Vairotsana và Yudra
Nyingpo. Tất cả những Đạo sư, đệ
tử, và dịch giả này đã giúp
cho Giáo Pháp của Đức Phật phát
triển giống như mặt trời mọc. Trong
thời đại của các ngài Khyentse, Kongtrul,
và Chokgyur Lingpa, hai mươi lăm đệ tử
xuất sắc đó của Đức Liên Hoa
Sanh từng bao quanh Ngài tại Samye gần một
ngàn năm trước đã đồng thời
quay trở lại trong những Hoá Thân. Dzongsar
Khyentse, một trong những vị Thầy của tôi,
đã nói về điều đó: “Hai
mươi lăm đệ tử của Đức
Liên Hoa Sanh đã cùng trở lại như
một bầy cừu và dê chạy ra khỏi
chuồng. Những đệ tử này tái
xuất hiện như những Đạo sư với
kinh nghiệm, sự chứng ngộ, uyên bác,
và thành tựu phi thường. Những
đệ tử riêng của các ngài và
những đệ tử của những đệ tử
ấy cũng đáng kinh ngạc không
kém.”
Thực vậy,
khắp trong tỉnh Kham và phần còn lại
của Tây Tạng, những tulku (tái sinh) của
tất cả hai mươi lăm vị đã
được nhận ra và được công
nhận. Nghịch lý thay, sự nở rộ này
là một điềm báo rằng thời
đại mà vai trò của Tây Tạng như
một phạm vi ảnh hưởng để làm
lợi lạc chúng sinh hầu như đã suy
tàn.
Vua Trisong Deutsen.
Những Hoá Thân Khyentse: Dzongsar Khyentse Chokyi Lodro,
Dilgo Khyentse, Alak Zenkar, Dzongsar Khyentse Norbu, Jigme Khyentse, Tulku
Hungkar Dorje, Adzom Rinpoche.
Vimalamitra. Những
Hóa Thân gần đây gồm có: Khenpo
Ngagchung Rinpoche, Dilgo Khyentse.
Bồ Tát
Khenpo Shantarakshita. Hóa Thân gần đây gồm
có Karmey Khenchen và Trulkshik Rinpoche.
Denma Tsemang (LDAN MA
RTSE MANG). Dịch giả Tam Tạng (Kinh, Luật, Luận)
Tây Tạng quan trọng lúc ban đầu, thư
ký và người sao chép của Vua Trisong
Drutsen và Đức Padmasambhava. Cực kỳ
điêu luyện trong nghệ thuật viết chữ
– bản văn Sanglingma nhắc tới ngài:
“Tsemang xứ Denma là người lỗi lạc
nhất trong nghệ thuật viết nhanh.” –
kiểu thư pháp của ngài vẫn
được duy trì tới ngày nay. Sau khi
nhận sự truyền dạy Kim Cương thừa
từ Đức Padmasambhava, ngài chứng ngộ
và thành tựu sự hồi tưởng
hoàn hảo. Ngài được coi là
người sao chép chính yếu đã
chép lại nhiều terma, kể cả Tập hội
Các Đấng Thiện Thệ, được
nối kết với Tám Giáo lý Sadhana (2).
Ngài cũng được mô tả là Denma
Tsemang song ngữ, một người trợ giúp cho
các dịch giả, ngài được Guru Rinpoche
- vua của những giáo huấn xứ Oddiyana -
chấp nhận là một đệ tử. Denma Tsewang
trở thành người kế thừa chính
yếu những giáo huấn thiền định
Bổn Tôn Thần chú Phẫn nộ, và
phục vụ với tư cách một người
sao chép nhiều bản văn viết trên giấy
da.” Những Hoá Thân sau này của
ngài gồm có các vị Situpa lừng
lẫy.
Dorje Dudjom xứ
Nanam (SNA
Drokben Khyeuchung Lotsawa. Khiu Chung Lotsawa thuộc
bộ tộc Drogmi. Khi còn rất trẻ ngài
đã trở thành một dịch giả, vì
lý do đó danh hiệu của ngài có
nghĩa là “dịch giả bé con.”
Ngài nhận những giáo lý từ Guru Rinpoche
và sống như một tantrika (4) gia chủ.
Nhờ sự thành tựu năng lực bí
truyền, bằng một cử chỉ của những
ngón tay ngài có thể triệu tập chim
chóc đang bay trên trời. Trong số những
Hóa Thân của ngài có Terchen Dudul Dorje
(1615-1672), Zhechen Rabjam Tenpe Gyaltsen (1650-1704), Khordong Nuden Dorje
(thế kỷ 18-19), Dudjom Lingpa (1835-1904) và Kyabje Dudjom
Rinpoche (1904-1987). Những Hoá Thân khác gồm
có Khordong Terchen Tulku Chhimed Rigdzin, Lho Drikung Ontul Rinpoche,
Dudjom Yangsi.
Gyalwa Jangchub xứ
Lasum (la gsum rgyal ba byang chub). Một trong bảy tu sĩ
Tây Tạng đầu tiên thọ Cụ túc
giới từ ngài Shantarakshita. Ngài cực kỳ
thông tuệ, đã viếng thăm Ấn
Độ vài lần và dịch nhiều
Thánh điển. Là một đệ tử
thân thiết của Đức Padmasambhava, ngài
đã thành tựu siddhi và có thể bay
qua bầu trời. Rigdzin Kunzang Sherab, vị sáng lập
Đại Tu viện Palyul ở tỉnh Kham,
được coi là một trong những Hóa
Thân của ngài. Gyalwa Jangchub có nghĩa
là ‘Sự Giác ngộ Chiến thắng.’
(Cũng đánh vần là Gyalwa Changchub),
đồng-tác giả của Phu nhân của
Đức Liên Hoa Sanh. Hóa Thân gần
đây là Jamme Lhamchog Tulku.
Gyalwa Choyang. Gyalwa
Cho-Yang xứ Nganlam (NGAN LAM RGYAL BA MCHOG DBYANGS). Là
một đệ tử của Guru Rinpoche đã
đạt được những thành tựu
nhờ thực hành Hayagriva và sau này hóa
thân là các vị Karmapa. Sinh ra trong bộ
tộc Nganlam trong Thung lũng Phen, ngài thọ giới
xuất gia từ Shantarakshita trong nhóm bảy tu sĩ
Tây Tạng đầu tiên. Người ta nói
rằng ngài giữ những giới nguyện hết
sức trong sạch. Sau khi nhận sự truyền dạy
Hayagriva từ Đức Padmasambhava, ngài đã
thực hành trong sự cô tịch và
đạt được cấp độ của một
vidyadhara. Gyalwa Cho-yang có nghĩa là ‘Tiếng
nói Siêu phàm của sự chiến
thắng.’ Những Hóa Thân gần đây
gồm có những vị tulku Karmapa, Karma Chagme,
các tulku Chagdud, Sang Ngak Rinpoche, Namkha Drimed.
Gyalwey Lodro xứ
Drey (‘BRE RGYAL BA’I BLO GROS). Bắt đầu là
Gonpo, một người hầu tin cậy của Vua Trisong
Deutsen, ngài trở thành một trong những
người Tây Tạng đầu tiên thọ
giới xuất gia, có danh hiệu là Gyalwey Lodro,
Sự Thông tuệ Chiến Thắng. Ngài trở
nên uyên thâm trong việc dịch thuật
và đã đạt được thành
tựu sau khi nhận sự truyền dạy từ Hungkara
(5) ở Ấn Độ. Người ta nói rằng
ngài đãviếng thăm xứ của Yama,
Thần Chết, và cứu thân mẫu của
ngài thoát khỏi các cõi địa
ngục. Sau khi nhận những giáo lý từ
Đức Padmasambhava, ngài thực hiện một
kỳ công là chuyển hóa zombie (người
chết sống lại) thành vàng, một số
trong đó sau này được khám phá
trong các kho tàng terma. Ngài đã thành
tựu cấp độ vidyadhara của sự
trường thọ và được coi là
sống cho tới thời của Rongzom Pandita Chokyi Sangpo
(rong zom chos kyi bzang po) (1012-1088) và ban giáo lý
cho vị này. Gyalwey Lodro có nghĩa là
‘Trí tuệ Chiến thắng.’
Jnanakumara xứ
Nyak. Cũng gọi là Bende Drimey Dashar (BAN DE DRI MED BRDA
SHAR). Được hóa thân là những tulku
Dabzang Rinpoche.
Kawa Paltsek (SKA BA
DPAL BRTSEGS). Đệ tử trực tiếp của
Đức Padmasambhava và Shantarakshita; người
đóng góp quan trọng cho việc dịch
thuật Tam Tạng Tây Tạng và Nyingma Gyubum (6).
Sinh trong Thung lũng Phen, ngài trở thành một
dịch giả lỗi lạc phù hợp với
tiên tri của Đức Padmasambhava, và là
một trong bảy tu sĩ Tây Tạng đầu
tiên thọ giới xuất gia từ Shantarakshita.
Ngài nhận những giáo lý Kim Cương
thừa từ Đạo sư vĩ đại Padmasambhava
và đạt được sự thấu thị
không bị chướng ngại. Kawa là một
địa danh và Paltsek có nghĩa là
‘Ngọn Núi Rực rỡ.’
Khandro Yeshe Tsogyal,
công chúa xứ Karchen.
Konchog Jungney xứ
Langdro, Langdro Lotsawa. Konchok Jungney xứ Langdro (LANG GRO DKON
MCHOG ‘BYUNG GNAS). Lúc đầu ngài là
một thượng thư của triều đình Vua
Trisong Deutsen, về sau là một trong những
đệ tử thân thiết của Đức
Padmasambhava và đã đạt được
sự thành tựu. Những Đại Terton Ratna Lingpa
(1403-1471) và Longsal Nyingpo (1625-1692) được coi
là hai vị trong số những Hóa Thân
của ngài. Konchok Jungney có nghĩa là
‘Nguồn mạch của Những Bậc Cao
quý.’ Những Hóa Thân gồm có Ratna
Lingpa, và mới đây là Drubwang Tsoknyi, Kunzang
Dechen Lingpa.
Sokpo Lhapal. Padma
Lhundrup Gyatso, Hóa Thân của Sokpo Lhapal, là
vị trì giữ Pháp tòa thứ hai của Tu
viện Palyul.
Namkhai Nyingpo xứ
Nub (GNUBS NAM MKHA’I SNYING PO). Sinh trong miền Nyal Hạ,
ngài là một trong những người Tây
Tạng đầu tiên thọ giới xuất gia.
Là một dịch giả lão luyện, ngài du
hành tới Ấn Độ ở đó ngài
nhận sự truyền dạy từ Hungkara và
đạt được thân trí tuệ bất
nhị. Namkhai Nyingpo cũng được coi là
một trong hai mươi lăm đệ tử của
Guru Rinpoche. Khi nhận sự truyền dạy của
Tâm Vishuddha (2), ngài có thể bay trên
những tia sáng mặt trời. Khi thiền
định trong Động Dài Tráng Lệ
của Kharchu tại Lhodrak ngài có những thị
kiến về nhiều Bổn Tôn và đã đạt
được cấp độ vidyadhara của Mahamudra
(Đại Ấn). Cuối cùng ngài lên
đường tới những cõi linh thánh
mà không để lại xác. Namkhai Nyingpo
có nghĩa là ‘tinh tuý của không
gian.’ Hoá Thân gần đây là Namkha
Drimed.
Nanam Zhang Yeshe De
(zhang sna nam ye shes sde). Nanam Yeshe, cũng được
gọi là Yeshe Dey xứ Nanam (sna nam ye shes sde). Cũng
được biết tới là Bandey Yeshe Dey xứ
Shang (zhang gi bhan dhe ye shes sde). Là một dịch giả
sung mãn của hơn 200 Kinh sách và là
một đệ tử của Đức Padmasambhava, tu sĩ
uyên bác và thành tựu này có
lần đã phô diễn những năng lực
kỳ diệu mà ngài đạt được
nhờ thông suốt pháp Vajra Kilaya, bằng
cách bay vút qua bầu trời như một con
chim. Yeshe có nghĩa là ‘sự tỉnh
giác nguyên sơ.’
Palgyi Dorje xứ
Lhalung. Palgyi Dorje (Wangchuk) xứ Lhalung, cũng gọi
là Lhalung Palgyi Dorje (LHA LUNG GYI RDO RJE). Sinh tại
Drom Thượng, ngài phục vụ với tư
cách một người bảo vệ biên giới
nhưng đã phát triển sự từ bỏ
và cùng với hai anh thọ giới xuất gia
từ ngài Vimalamitra. Ngài nhận giới
nguyện Bồ Tát từ Đức Padmasambhava
cũng như sự quán đảnh và những
giáo huấn khẩu truyền trong Kim Cương
thừa. Ngài đã thực hành thiền
định trong Hẻm Núi Trắng xứ Tsib và
tại Yerpa, ở đó ngài thành tựu
pháp di chuyển tự do qua những tảng
đá rắn. Những năm về sau ngài
ám sát Vua ác Langdharma. Palgyi Dorje có
nghĩa là ‘Kim cương Rực rỡ.’
Trong số những Hóa Thân của ngài
có những tulku Drubwang Pema Norbu (Penor Rinpoche), Taklung
Phakchok, Kusum Lingpa.
Palgyi Senge xứ
Lang (RLANGS DPAL GYI SENG GE). Phụ thân ngài
là Amey Jangchub Drekhol, một mantrika đủ năng
lực để sai sử tám loại trời và
quỷ ma như những người phục vụ
của ngài. Palgyi Senge xứ Lang là một trong
tám đệ tử chính (7) của Đức
Padmasambhava khi được ban quán đảnh
của Tập Hội các Đấng Thiện Thệ.
Ngài đã đạt được những
thành tựu thông thường và siêu
việt tại Paro Taksang nhờ thực hành
Người Điều phục Mọi Tinh linh Kiêu
ngạo. Các vị Dzogchen Rinpoche được coi
là những Hoá Thân của ngài. Palgyi Senge
có nghĩa là ‘Sư tử Vinh quang.’
Palgyi Wangchuk xứ
Kharchen (MKHAR CHEN DPAL GYI DBANG PHYUG). Trong tiểu sử
Sanglingma ngài là thân phụ của Yeshe Tsogyal;
ở nơi khác ngài được mô tả
là anh của bà. Ngài là một
đệ tử thân thiết của Đức
Padmasambhava đã đạt được siddhi
(thành tựu) bằng thực hành Vajra Kilaya. Palgyi
Wangchuk có nghĩa là ‘Bậc Rạng
rỡ.’
Palgyi Wangchuk xứ
O-Dren (‘O DRAN DPAL GYI DBANG PHYUG). Một học giả
và tantrika vĩ đại, ngài đã
đạt được siddhi bằng cách thực
hành Guru Drakpo, phương diện phẫn nộ
của Đức Padmasambhava. Palgyi Wangchuk có nghĩa
là ‘Bậc Rạng rỡ.’
Palgye Yeshe (DPAL GYI
YE SHES). Sinh ra trong bộ tộc Drogmi, ngài cũng
được gọi là Palgye Yeshe xứ Drogmi.
Ngài là một dịch giả lão luyện
và đã dịch nhiều Kinh điển và
tantra sang tiếng Tây Tạng kể cả Tantra
Những Bổn Tôn Mẹ Mamo. Ngài đã
nhận sự truyền dạy các Bổn Tôn
Mẹ từ Đức Padmasambhava và trở thành
một mantrika thành tựu.
Rinchen Chok xứ Ma
(RMA RIN CHEN MCHOG). Dịch giả Tây Tạng lúc ban
đầu, trong số bảy người Tây Tạng
đầu tiên thọ giới xuất gia từ Shantarakshita
và là người kế thừa chính của
Mạng lưới Huyền diệu của Mahayoga.
Ngài nổi tiếng trong việc dịch thuật Tinh
túy của Tantra Guhyagarbha Bí mật, tantra
chính của Mahayoga. Nhờ những giáo lý
nhận lãnh từ Đức Padmasambhava, ngài
đã đạt được cấp độ
của một vidyadhara. Rinchen Chok có nghĩa là
‘Viên ngọc Siêu phàm.’
Sangye Yeshe xứ
Nub (GNUBS SANGS RGYAS YE SHES). Một trong hai mươi lăm
đệ tử của Đức Padmasambhava, ngài
là người kế thừa chính những
giáo lý Anu Yoga cũng như Yamantaka của
Mahayoga. Ngoài Guru Rinpoche, những vị Thầy
khác của ngài là Traktung Nagpo và Chogyal
Kyong xứ Ấn Độ, Vasudhara xứ Nepal, và
Chetsen Kye ở xứ Drusha. Ngài đã viếng
thăm Ấn Độ và
Shuwu Palgyi Senge. Palgyi Senge xứ Shubu
(SHUD BU DPAL GYI SENG GE). Là một trong những
thượng thư của Vua Trisong Deutsen, thành
viên trong số những nhà thương thuyết
đầu tiên được phái đi
để mời Đức Padmasambhava tới Tây
Tạng. Ngài học dịch thuật từ
Đức Padmasambhava và đã dịch nhiều
giáo lý Mamo, Yamantaka và Kilaya sang tiếng
Tây Tạng. Sau khi đạt được những
thành tựu nhờ pháp Kilaya và Mamo, ngài
có thể tách những hòn đá
cuội lớn và phân chia dòng sông
bằng con dao găm của ngài. Palgyi Senge có nghĩa
là ‘Sư tử Vinh quang.’ Những Hóa
Thân của ngài gồm có Đại Terton
Mingyur Dorje thuộc truyền thống Namcho, và
những tulku Thrangu.
Vairotsana. Dịch
giả vĩ đại sống trong triều đại
Vua Trisong Deutsen. Là một trong bảy tu sĩ Tây
Tạng đầu tiên, ngài được phái
sang Ấn Độ để nghiên cứu với Shri
Singha. Cùng với Đức Padmasambhava và
Vimalamitra, ngài là một trong ba Đạo sư
chính yếu mang giáo lý Dzogchen tới Tây
Tạng. Những Hóa Thân gồm có các
Hóa Thân Kongtrul, Minling Trichen, Zha Deu Trulshik Rinpoche,
Shichen Vairo Tulku.
Yeshe Yang xứ Ba (SBA YE SHES DBYANGS).
Dịch giả Tây Tạng đã được
Đức Padmasambhava tiên đoán. Là
người sao chép chính ghi lại những trema
của Đức Padmasambhava, ngài là một yogi
thành tựu, có thể bay như một con chim
tới những cõi linh thánh. Cũng
được gọi là Atsara Yeshe Yang. Yeshe Yang
có nghĩa là ‘Trí tuệ Du
dương.’
Yudra Nyingpo xứ
Gyalmo (G.YU SGRA SNYING PO). Một trong hai mươi lăm
đệ tử của Guru Rinpoche; Hóa Thân của
Lekdrup xứ Tsang. Sinh trong miền Gyalmo Tsawarong, ngài được
Vairochana nuôi dạy và đã đạt
được sự viên mãn trong việc học
tập và thành tựu du già. Ngài
được coi là một trong 108 lotsawa (8) và
là một trong những vị trì giữ dòng
truyền thừa chính yếu của Bộ phận
Tâm của Dzogchen từ đại dịch giả
Vairochana. Những Hóa Thân gần đây
gồm có Tersey Tsewang Norbu, Jigmey Norbu Rinpoche.
Những đệ tử khác
vào thời đó:
Arye Sale, Achrya Salee.
Những Hóa Thân gần đây gồm có
Namkha Drimed, Jamme Lhamchog Tulku.
Nyangben Tingdzin Zangpo.
Chokro Luyi Gyaltsen
là một dịch giả Tây Tạng rất quan
trọng lúc ban đầu và một trong hai
mươi lăm đệ tử của Đức
Padmasambhava. Ngài làm việc rất gần gũi với
những Đạo sư vĩ đại Ấn
Độ Vimalamitra, Jnanagarbha, Jinamitra, và Surendrabhodhi.
Ngài rất quan trọng trong việc duy trì
dòng truyền Vinaya (dòng tu sĩ) ở Tây
Tạng. Sau khi đạt được sự chứng
ngộ tại Chuwori ở miền trung Tây Tạng,
ngài trợ giúp Đức Padmasambhava trong việc
sao chép và cất dấu những kho tàng
terma. Đại terton Karma Lingpa (thế kỷ 14)
được coi là một Hóa Thân của
Đạo sư vĩ đại này.
Thái tử
Damdzin, Yeshe Rolpa Tsal. Những Hóa Thân gần
đây gồm có các tulku Chokling, các tulku
Dodrupchen.
Thái tử
Mutri Tsenpo. Yongey Mingyur Dorje.
Công chúa
Pema Tsal. Thinley Norbu Rinpoche, Gangteng Tulku./.
Nguyên tác: “Padmasambhava
and his Twenty-Five Disciples”
http://www.rangjung.com/gl/25_disciples-incarnations.htm
Bản
dịch Việt ngữ: Thanh Liên
Chú thích:
(1) Samye (bsam yas): Một quần
thể đền chùa kỳ lạ mô phỏng Tu
viện Ấn Độ Odantapuri, được Vua Trisong
Deutsen (790-844) xây dựng và Đức Padmasambhava
hiến cúng năm 814. Nằm ở miền Trung
Tây Tạng gần Lhasa, Samye là một trung tâm
chính yếu của việc truyền dạy Phật
Giáo lúc ban đầu ở Tây Tạng.
Cũng được gọi là Chùa Vinh Quang
Samye, Sự Đáp Ứng Bất biến và
Tự nhiên Vô lượng Ước nguyện.
Ba tầng của nó được xây theo
kiểu mẫu Ấn Độ, Trung Hoa và Tây
Tạng.
(2) Tám Giáo lý Sadhana
(sgrub pa bka’ brgyad): Tám Bổn Tôn chính
của Mahayoga và những tantra và sadhana
tương ứng với các ngài: Thân Văn
Thù, Ngữ Liên Hoa, Tâm Vishuddha, Phẩm
tính Cam lồ, Hoạt động Kilaya, Huyền
thuật Giải thoát, và sự Tôn kính
Thế tục. Danh hiệu thường ám chỉ
một thực hành duy nhất bao hàm những
mạn đà la phức tạp với nhiều
Bổn Tôn.
(3) Mantrika: Một hành giả
Kim Cương thừa.
(4) Tantrika (sugags pa): ‘Hành
giả Mật thừa,’ ngakpa. Một người
đã nhận quán đảnh, tiếp tục
thực hành sadhana và duy trì những giới
nguyện linh thánh. Đặc biệt, đó
là một môn đồ lão luyện của
Mahayoga Tantra.
(5) Hungkara (Phạn ngữ): Một
trong Tám Vidyadhara (Manjushrimitra, Nagarjuna, Hungkara, Vimalamitra,
Prabhahasti, Dhana Sanskrita, Shintam Garbha, và Guhyachandra).
Người nhận lãnh các tantra của Tâm
Vishuddha bao gồm Heruka Galpo.
(6) Nyingma Gyubum (rnying ma rgyud ‘bum):
‘Một Trăm ngàn Tantra của Cổ
Phái.’
(7) Tám Đệ tử
chính (rje ‘bangs brgyad): Tám vị kế thừa
chính ở Tây Tạng của Tám Giáo
lý Sadhana được Guru Rinpoche truyền dạy:
Vua Trisong Deutsen, Namkhai Nyingpo, Sangye Yeshe, Gyalwa Cho-yang, Yeshe
Tsogyal, Palgyi Yeshe, Palgyi Senge, và Vairotsana.
(8) Lotsawa(lo tsa ba, Phạn ngữ:
locchava): Những dịch giả Tây Tạng dịch
thuật các bản văn Kinh điển
thường làm việc thân thiết với
các học giả Ấn Độ. Danh hiệu
có nghĩa đen là ‘song ngữ’ (skad
gnyis smra ba) hay đôi mắt của thế giới
(‘jig rten mig).