DU-GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN
THÍCH (1)
Trước-tác:
Bồ-Tát Tối-Thắng-Tử (2)
Hán-dịch: Tam-Tạng
Pháp-Sư Huyền-Trang (3)
Việt-dịch:
Thích-Tâm-Châu
Source: Chùa Di Đà
Kính
lễ Thiên Nhân Đại-Giác-Tôn(4),
Phúc-đức, trí-tuệ đều viên
mãn.
Vô thượng, văn-nghĩa pháp chân-diệu,
Thụ học, chính tri Thánh Hiền chúng.
Đỉnh lễ Vô Thắng Đại
Từ-thị,
Mong các hữu tình chung lợi lạc.
Thâu thái yếu nghĩa trong các kinh,
Lược nói Du-Già thành năm phần.
Quy mệnh định-lực pháp lưu diệu,
Công-đức phát khởi do Vô-Trước.
Trong biển Vô Thắng các bậc Thánh,
Dẫn pháp cam-lộ tối cùng cực.
Tự hưởng đầy đủ vị mỹ
âm,
Các cõi thế-gian cùng lợi lạc.
Mưa tuôn hoa chữ vô cùng đều,
Thấm mát cây Mưu-Ni như ý.
Luận này thù thắng như hoa sen,
Như kho diệu bảo, như biển lớn.
Bày đủ nghĩa rộng trong các Thừa,
Thích rõ văn ấy không thiếu sót.
Ở trong đại luận Du-Già này,
Tùy sức, tôi nay thích ít phần.
Khiến cho chính pháp thường không
hết,
Lợi ích an vui khắp hàm-thức.
Nay nói luận này.
Tại sao lại nói luận
này?
Nói luận này vì có hai
duyên: Một là, vì muốn giáo pháp
vô thượng của Như-Lai được
trụ lâu trên thế gian. Hai là, vì
sự lợi ích, an-lạc, bình đẳng
của các hữu tình.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, vì thánh giáo
của Như-Lai như nước cam lộ đã
bị ẩn một, nay nhớ nghĩ, góp nhặt
lại và làm cho nó thêm mở tỏ.
Giáo pháp nào chưa bị ẩn-một,
dùng sự vấn đáp và quyết
định lựa chọn, làm cho giáo-pháp
ấy được hưng thịnh hơn. Hai là,
vì hết thảy chúng-sinh trong hữu tình
giới: Loại có chủng-tính (hạt giống
của giác tính), mỗi loại đều y
vào bậc của mình, tu các pháp
thiện xuất thế, được đạo quả
ba thừa(5), ra khỏi vòng sinh-tử. Loại
không có chủng-tính, y vào nhân, thiên
thừa, tu các điều thiện thế-gian,
được đạo quả nhân-thiên,
thoát khỏi ác thú.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, hoặc có nhiều người
nói về “Không”, nhưng không
phải liễu nghĩa kinh. Như họ nói về
lượng tính, chấp chặt vào việc
gạt bỏ tất cả pháp là
“Không”. Tất cả đều chán
ghét và chống trái với
“hữu-giáo”, khiến cho họ, tùy theo
sự liễu ngộ các pháp hữu
tướng, bỏ tư tưởng “không”,
để giải những mật ý của kinh. Hai
là, lại có nhiều người nói về
“Hữu”, nhưng không phải liễu
nghĩa kinh. Như họ nói về lượng
tính, chấp chặt vào “Hữu”,
tất cả đều chán và sợ về
“không-giáo”, khiến cho họ, tùy
theo sự liễu ngộ các pháp vô
tướng, bỏ tư tưởng “hữu”,
để giải thích mật ý của kinh.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, vì muốn thành
tựu chủng tính Bổ-đặc-già-la(6)
của Bồ-tát, nương vào giáo
nghĩa Đại thừa, trùm khắp văn,
nghĩa, hành, quả của các Thừa, sinh ra
trí thiện sảo phương-tiện, dứt
hết thảy mọi chướng, tu hết thảy
các pháp thiện, chứng đạo
Bồ-đề của Phật, dù cho đến
cùng tột đời vị lai, việc lợi
mình, lợi người, vẫn không bao giờ
ngưng bỏ. Hai là, vì muốn thành tựu
chủng tính Nhị thừa(7) và không có
chủng tính Bổ-đặc-già-la, cũng nương
vào giáo nghĩa Đại thừa, khiến cho
văn, nghĩa, hành, quả trong mỗi thừa
của mình, sinh ra trí thiện sảo
phương-tiện, dứt
phiền-não-chướng, dẹp mọi thứ
ngăn che, giàng buộc, tu phần thiện pháp
nơi mình, chứng được đạo quả
nơi Thừa của mình, và ra khỏi các
ác thú trong ba cõi(8).
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, hoặc có
người có tập khí(9) từ kiếp
trước nên sinh ra vô tri, do dự, điên
đảo, chấp trước vào tà giáo,
ngoại đạo, tâm lượng nhỏ hẹp,
không tin tưởng, không hiểu rõ
Đại thừa. Nay muốn cho họ quyết
định lìa khỏi điên đảo nên
phân biệt rành rẽ pháp tướng
Đại thừa, khiến cho họ sinh tâm tín
giải. Hai là, có người nghe các kinh,
nhưng khó hiểu được những ý
thú sâu xa của kinh, tâm họ mê loạn,
sinh ra chê bai, không tin. Nay muốn đem lại
lợi ích cho họ, nên khéo léo khai
thị, khiến cho họ sinh tâm tín giải.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, vì muốn cho
những người chăm chỉ tu hành lợi
lạc, cần góp nhặt những pháp nghĩa
quan yếu, rộng rãi trong các kinh lại và
phân biệt, bàn giải một cách sơ
lược. Hai là, vì muốn cho những
người hay thuyết pháp được lợi
lạc, cần bàn luận rộng, mỗi mỗi
pháp, khai thị ra vô biên nghĩa lý sai
biệt.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là: vì muốn mở
tỏ thực tướng(10) cửa các pháp,
nên có sự hỏi đáp và quyết
định lựa chọn để lập nên
chính luận. hai là, vì muốn diệt
trừ hết thảy vọng chấp, nên có
sự vấn đáp, quyết chọn, đả
phá tà luận.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, vì muốn bày
rõ về tình có, lý không của
tính Biến Kế Sở chấp(11); lý có,
tình không của tính Y Tha Khởi(12) và
tính Viên Thành Thực(13), khiến cho
người tu bỏ sự chấp trước về
tăng, ích, tổn, giảm. Hai là, vì
muốn bày rõ sự sai biệt về đạo
lý thế gian, chứng được pháp
môn thắng nghĩa, khiến cho kiến giải của
người tu về nhị đế(14) không bị
điên đảo.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, vì muốn khai
xiển hai loại lý môn là tùy chuyển
và chân thực, khiến cho người ta biết
được pháp giáo của nhị tạng,
tam tạng(15) không chống trái nhau. Hai là,
vì muốn khai xiển bốn loại lý môn
là nhân duyên, duy thức(16), vô tướng
và chân như, khiến cho người tu về
quán hành biết có sự sai biệt.
Lại có hai duyên, nên nói
luận này: Một là, thị hiện ra cảnh
giới sai biệt, khiến cho người ta biết
được sự sai biệt về tự tính,
tướng trạng và ngôi vị của các
pháp. Hai là, thị hiện ra sự tu hành sai
biệt, khiến cho người ta biết được
đạo quả phương tiện, căn bản sai
biệt của tam thừa.
Mọi loại trong mọi duyên
phải làm, được trình bày như
trên, đủ biết rằng, các loại dị
thuyết trong kinh, luận tại khắp nơi,
đều là việc phải làm của luận
này.
Nay nói về “sở
nhân” của luận này.
Từ thời vô thủy cho tới
ngày nay, các loài hữu tình đối
với thực tướng trong hết thảy pháp
xứ, đều không biết, ngờ vực,
điên đảo, thiên chấp, khởi ra
các phiền-não, sinh ra nghiệp hữu lậu,
bị luân hồi trong năm thú(17), chịu ba
đại khổ(18). Đức Như-Lai ra đời,
tùy theo chỗ thích hợp, dùng phương
tiện nói về thực tướng trong các
diệu pháp xứ, khiến cho hết thảy hữu
tình biết hết thảy pháp đều như
thị, như thị không, nên phi hữu; như thị,
như thị hữu, nên phi không. Hiểu suốt
các pháp là phi không, phi hữu. Xa lìa
mọi ngờ vực, điên đảo, thiên
chấp, tùy theo chủng tính, ngay tại nơi
ấy, phát khởi ra sự tu hành. Tu hành
dần dần đầy đủ, tùy theo chỗ
ứng hợp, diệt hẳn được mọi
chướng ngại, được tam
bồ-đề(19) và chứng được sự
an vui tịch diệt.
Sau khi đức Phật nhập niết
bàn, ma sự phát khởi tơi bời, bộ
phái tranh chấp nhau nổi dậy, và đa
phần chấp trước về hữu kiến.
Bồ-Tát Long-Mãnh là người đã
chứng được Cực Hỷ Địa(20),
góp nhặt “vô tướng không
giáo” của Đại Thừa, làm ra bộ
luận Trung Quán, kê cứu và làm
sáng tỏ những nghĩa chân yếu, để
trừ bỏ hữu kiến của những người
chấp trước. Các vị Đại luận
sư như Thánh Đề Bà(21) tạo ra bộ
Bách Luận, để mở rộng đại
nghĩa.
Lại có chúng sinh chấp
trước về “không kiến”.
Bồ-tát Vô-Trước(22) là người
đã chứng được Pháp Quang
Định, đã lên ngôi vị Sơ Địa,
được đại thần thông, phụng
sự đức Đại Từ Tôn Di-Lặc,
thỉnh Ngài nói ra bộ luận này. Bộ
luận này, không lý nào là không
thấu cùng, không sự nào là không
suốt hết, không văn nào là không
giải thích, không nghĩa nào là
không bàn rõ, không ngờ vực nào
là không trừ bỏ, không chấp
trước nào là không phá sạch,
không hành nào là không tu tập,
không quả nào là không chứng
đắc. Chính vì Bồ-tát, khiến cho
cảnh, hành, quả của các Thừa
đều được thiện sảo, siêng tu
đại hạnh, chứng đại bồ-đề,
vì khắp hữu tính, nói ra những lời
không có điên đảo. Và Ngài
lại vì các Thừa khác, làm cho họ
nương vào tự pháp, tu theo phần hành
nơi mình, và chứng được đạo
quả nơi Thừa của mình.
Như thế là nói qua về
“sở nhân” của luận này.
Nay nói về Du Già Sư
Địa Luận.
Danh nghĩa
của nó thế nào? Các pháp sở
hữu của hết thảy Thừa, Cảnh, Hành,
Quả, đều gọi là Du-Già. Vì
hết thảy chúng đều có nghĩa
tương ứng, phương tiện thiện sảo.
Cảnh Du-Già
là hết thảy cảnh không có tính
điên đảo, không có tính chống
trái nhau, mà nó có tính hay tùy
thuận, tính xu hướng cứu cánh, cùng
hợp với lý giáo chân chính. Nó
tương ứng với hành và quả.
Tên Du-Già
và cảnh Du-Già, tuy thông suốt
hết thảy, song trong các kinh luận, tùy cơ
nghi, theo pháp tướng, nên có nhiều
thuyết khác nhau. Hoặc có người nói
về bốn thứ đạo lý của các pháp,
gọi là Du-Già, tức là tác dụng,
quán chiếu, đối đãi và chứng
thành sự vật như thế. Nó tổng
nhiếp hết thảy đạo lý chân
chính. Hoặc có người nói hai
mươi bốn “bất tương ứng
hành”(23) là Du-Già, vì chúng
có nhân quả tương ứng, không
chống trái nhau. Hai thuyết trên đều coi
như là phần quyết trạch, nhiều chỗ
đã giải thuyết rộng rãi. Hoặc
có người nói, tạp nhiễm, thanh tịnh,
vô tính là Du-Già. Vì nó có
tính cách bỏ trái, hợp thuận làm
tối thắng, như Đại Phạm Văn Khế
Kinh đã nói. Các vị Sư trong phái
Du-Già quán chiếu, không có chút
pháp nào có thể khiến cho sinh và
có thể khiến cho diệt. Cũng không có
chút pháp nào có thể muốn cho
chứng đắc và muốn được hiện
quán. Nghĩa là đối với
“hành” trong hết thảy pháp tạp
nhiễm, vô tính trong Du-Già, quán chiếu,
không có chút pháp nào có thể
khiến cho sinh và có thể khiến cho diệt.
Và, đối với “hành” trong hết
thảy pháp thanh tịnh vô tính trong
Du-Già quán chiếu, không có chút
pháp nào có thể muốn cho chứng
đắc và muốn được hiện
quán. Hoặc có người nói cứu
cánh thanh tịnh chân như là Du-Già,
vì chúng tương ứng với hết thảy
công đức trong chân lý tối cực,
như trong kinh Nhập Lăng Già đã nói.
Nếu quán chân nghĩa, trừ bỏ phân
biệt, xa lìa vết nhơ, không có năng
thủ cũng không có sở thủ, không
có cổi, không có buộc, khi ấy ở
trong định sẽ thấy được Du-Già,
nhưng không còn lo nghĩ, nghi hoặc. Trong kinh
Đại Nghĩa nói, từ một pháp tăng
đến một trăm pháp, đều gọi
là Du-Già, vì pháp môn tuy riêng,
nhưng nghĩa không trái nhau. Trong kinh Quảng
Nghĩa nói, uẩn, xứ, giới(24), duyên
khởi, đế đều gọi là Du-Già,
vì nó nhiếp hết thảy cơ nghi, cảnh
thuận.
Như thế, trong các kinh luận
nói hết thảy cảnh đều là
Du-Già, vì nó tóm thâu đầy
đủ bốn tính(25) thuận với bốn
pháp(26).
HÀNH của Du-Già
là hết thảy hành tướng đều
thuận nhau, hợp chính lý, thuận chính
giáo, đi tới chính quả gọi là Du-Già.
“Hành” của Du-Già này tuy thông
với các “hành” khác, song trong
các kinh, luận, tùy cơ của các
pháp tướng nên có nhiều thuyết
khác nhau. Như trong kinh Du-Già Sư Địa
bàn, chính tu các hành, là Du-Già,
vì nó thâu nhiếp hết thảy hành
tướng tương ứng. Trong kinh
Nguyệt-Đăng nói, tu ba mươi bảy bồ
đề phận pháp(27) là Du-Già, vì
trong này đối với hết thảy quả
và hành đều thuận nhau, cho là tối
thắng. Trong kinh Đại Phân Biệt Lục Xứ
bàn, con đường vận chuyển của Sa-ma-tha,
Tỳ-bát-xá-na(28) bình đẳng là
Du-Già, vì chỉ quán như thế là
chủ của mọi hành tướng. Trong kinh
Hải Tuệ nói, tam-ma-địa(29) là
Du-Già, vì tâm trụ phát ra hành
rất mạnh mẽ. Luận Hiển Dương
nói, bốn pháp: tín, dục,
phương-tiện, tinh-tiến là Du-Già;
tác ý hoặc trí nói là
phương-tiện. Bốn pháp ấy thông nhau
sinh ra hết thảy hành. Văn Sở Thành
Địa chia thành chín đạo(30) gọi
là Du-Già, vì hội lý trừ hoặc,
quả vị thù thắng riêng biệt. Tại
thế gian hay xuất thế gian cố gắng tu hành
không gián đoạn trên con đường
giải thoát, thắng tiến trong tư thế nhu
nhuyễn. Tu Sở Thành Địa, tóm thâu
các con đường đối trị trong sự tu
tập là Du-Già, ví nó nói lên
sự yếu lược, tổng quát về việc
tu. Có chỗ nói về sự liên hệ
với các địa bị nhiếp thuộc vào
vô điên đảo trí gọi là
Du-Già, vì trong hành tướng liên hệ
với các pháp của các địa,
trí không điên đảo là thù
thắng. Có chỗ lại nói,
phương-tiện thiện sảo, hoặc chỉ
phương-tiện gọi là Du-Già, vì
tác ý và trí phát khởi ra hành
là hơn cả, hoặc là chỉ cho chỗ
tối sơ phát ngộ là hơn cả. Trong kinh
Công Đức Thực Tính nói, các
duyên khởi ra quán là Du-Già, vì
duyên khởi ra quán trí, đối việc
siêu xuất sinh tử là quan yếu. Trong kinh
Chính Hạnh nói, tám chi Thánh đạo
như chính kiến v.v... là Du-Già, vì
chúng đạt tới thành niết-bàn,
hạnh này là hơn cả. Kinh Tỳ-Nại-Gia
nói, tu giới v.v... là Du-Già, vì giới,
định, tuệ học là nhân thù
thắng. Trong kinh Đại Nghĩa nói, tu hết thảy
hạnh phận vị sai biệt của thế gian,
và xuất thế gian, đều là Du-Già,
vì giai vị chính hạnh thuận hợp nhau.
Và, như thế đều là nói chung
về sự tu hành của Thanh-Văn gọi là
Du-Già, vì trong sự tu hành chứng ngộ
chung của Tam thừa, đây là hơn cả.
Trong kinh Tuệ Đáo Bỉ Ngạn nói,
quán không, tác ý là Du-Già, vì
phát khởi công hạnh lớn lao, đây
là hơn cả. Như trong kinh kia có nói,
Bồ-tát có đại Du-Già là
“không, tác ý”. Bồ-tát do
không, tác ý ấy, không bị sa xuống
Thanh Văn địa và Độc Giác
địa, cho đến, có thể đạt
tới chỗ thanh tịnh quốc độ chư
Phật. Trong kinh kia lại nói về Bát Nhã
Ba La Mật Đa, gọi là “Thắng Du-Già”,
vì nó chỉ đạo sự tu hành về
đại thừa và đây là thù
thắng. Như kinh kia nói, pháp sở hữu
của Bồ-tát trong các Du-Già, Tuệ
độ Du-già là tối thượng, tối
thắng. Trong kinh còn nói rộng hơn nữa
là “vô đẳng đẳng”(31) Tại
sao? Như thế biết rằng, Bát-nhã Ba-la-mật-đa
là pháp Du-Già vô thượng. Chỗ
khác lại nói, chỗ sở nhiếp của
tuệ độ, vô phân biệt định
gọi là Du-Già, vì nó có thể
phát khởi ra hết thảy công đức
thù thắng.
Chỗ khác lại nói,
Bồ-tát có từ bi, trí tuệ thù
thắng, bình đẳng vận chuyển, gọi
là Du-Già, vì nó chứng được
vô trụ đại Niết-bàn. Các
thuyết như thế là các thuyết
“bất cộng hành”(32) , gọi là
Du-Già, vì nó chứng được
đạo bồ-đề của Phật. Như thế,
trong các kinh luận nói về mọi thứ
“hành”, đều gọi là Du-Già.
(Như trên đã nói đầy đủ
về bốn loại nghĩa).
Nói về QUẢ của
Du-Già: Nghĩa là tất cả mọi loại
quả đều thuận hợp nhau, hợp chính
lý, thuận chính giáo, xứng chính
nhân, đều nói là Du-Già. Quả
của Du-Già này tuy thông các quả,
nhưng trong các kinh luận, tùy cơ của
các pháp tướng, nói ra nhiều thuyết
khác lạ. Kinh Phân Biệt Nghĩa nói về
lực vô úy, bất cộng Phật pháp
gọi là Du-Già, vì nó có ý
nghĩa là hay hàng phục các ma, chế
ngự mọi dị luận và thắng các
Thừa khác. Trong kinh Thù Thắng nói, chỗ
chứng ngộ của Phật là vô trụ
niết-bàn gọi là Du-Già, vì nó
có ý nghĩa là thời gian, dù cho
đến tận cùng đời vị lai, nó
vẫn vô sở trụ. Trong kinh Đại Nghĩa
nói, Như Lai địa vô phân biệt
trí, đem tâm đại bi hóa độ
chúng sinh là Du-Già, vì nó có
ý nghĩa là sự tự lợi lợi tha
một cách không cùng tận. Trong kinh Biện
Thuyết Du Già Sư Địa nói, Phật
địa công đức, đều gọi là
Du-Già, vì nó có ý nghĩa là
cùng pháp giới, không bao giờ dứt
hết. Trong kinh Phân Biệt Tam Thừa Công
Đức nói, Tam Thừa quả đức gọi
là Du-Già, vì nó có ý nghĩa
là cùng ứng hợp với chính lý. Trong
luận tán Phật nói, ba thân, ba
đức(33) đều là Du-Già, vì nó
có ý nghĩa là tất cả mọi quả
đức, chúng không xa lìa nhau. Luận
Tập Nghĩa nói, quả vị sở nhiếp,
hữu vi, vô vi, các công đức tụ,
đều là Du-Già, vì nó có ý
nghĩa là các quả vị từ đẳng
chí(34) đến cứu cánh đều hòa
hợp nhau.
Trong các kinh luận nói về
mọi quả đức đều là Du-Già,
ý nghĩa ấy đã nói rõ ở
trên. Như thế, Thánh giáo cũng là
Du-Già. Vì nó xứng với chính lý,
thuận với chính hạnh, dẫn tới chính
quả. Nó có nghĩa là “chính
thủ, tam thừa quán hành” (nắm chắc
nghĩa chân chính trong sự quán tưởng
và hành trì của Tam thừa) là
Du-Già. Luôn luôn tiến tu, hợp lý,
thuận hành, chứng được thắng
quả. Cảnh và quả của luận này
nó linh động cùng khắp. Lời của
bậc Thánh nhân bao la như biển lớn,
làm sao có thể nói đủ
được ! Du-Già Sư Địa sợ khó
thụ trì, nên mới nói qua để
các hành giả tùy cơ tu tiến.
Các vị hành giả (các
vị thực hành pháp môn Du-Già) trong Tam
thừa, tùy theo từ nơi văn (nghe), tư (suy
nghĩ), và lần lượt tu tập, thực
hành pháp môn Du-Già, được
từng phần, hoặc được đầy
đủ, triển chuyển điều hóa cho
các hữu tình gọi là Du-Già Sư.
Hoặc các Như Lai chứng được đầy
đủ pháp môn Du-Già, tùy theo chỗ
ứng cảm của người nghe, đem pháp
môn Du-Già này điều hóa cho các
Thánh đệ tử, khiến họ lần
lượt tu theo chính hạnh, gọi là
Du-Già Sư.
ĐỊA chỉ cho cảnh
giới, là chỗ y cứ, chỗ thực hành,
có nghĩa là nó nhiếp thuộc vào
xứ sở. Là cảnh giới thực hành của
các Du-Già Sư, gọi là
“Địa”. Như khu đất của con long
mã, chúng chỉ đi ở trong khu vực
đó và không vượt ra ngoài được.
Hoặc là, Du-Già Sư nương nơi chốn
này, làm tăng trưởng các bạch
pháp (pháp thanh tịnh), nên gọi là “địa”,
như nơi trồng lúa chẳng hạn. Hoặc
là, nơi Du-Già Sư nhiếp thuộc về
phần trí tuệ, nương vào nơi này
để hiện hành, nương vào nơi
này để tăng trưởng, nên gọi
là “địa”, như trân bảo
địa. Hoặc là, Du-Già Sư ở trong
chỗ thực hành này, thụ dụng được
các bạch pháp, nên gọi là
“địa”, như ngưu vương
địa. Hoặc là, các đấng Như Lai
được gọi là Du-Già Sư, vì
các Ngài ở trong Du-Già, dùng bình
đẳng trí, thực hành bình đẳng
tại khắp các cảnh giới không có
hý luận, cũng như không trụ
niết-bàn. Các Ngài nhiếp thuộc nơi
cảnh giới ấy, nên gọi là
“địa”. Hoặc là, mười bảy
địa(35) nhiếp thuộc vào Du-Già Sư,
như Quốc Vương địa chẳng hạn,
nên gọi là Du-Già Sư Địa.
Hỏi và đáp để
quyết chọn tính và tướng của
các pháp nên gọi là LUẬN. Vì
muốn các hành giả chứng được
Du-Già Sư Địa nên nói ra luận
này. Do đó, mới đặt tên cho luận
này, như đối pháp luận. Lại
nữa, luận này không biện luận
điên đảo về ý nghĩa Du-Già
Sư Địa, nên được đặt tên
ấy, như kinh nói về thập địa.
Lại nữa, luận này y chỉ vào các
địa ấy, nên lấy đó làm
hiệu, như hoa trồng trên đất phải
nhờ vào nước. Bởi vậy, luận
này được đặt tên là
Du-Già Sư Địa Luận.
Nay bàn về THỂ của luận
này, tóm tắt có năm phần: Một
là, bản địa phần: phần này,
vừa sơ lược, vừa rộng rãi, chia
thành mười bảy địa. Hai là,
nhiếp quyết trạch phần: thâu nhiếp sơ
lược và quyết chọn yếu nghĩa tiềm
ẩn sâu xa trong mười bảy địa. Ba
là, nhiếp thích phần: thâu nhiếp sơ
lược những nghi tắc giải thích các
kinh. Bốn là, nhiếp dị môn phần:
thâu nhiếp sơ lược những danh nghĩa sai
biệt của các pháp ở trong kinh. Năm
là, nhiếp sự phần: thâu nhiếp sơ
lược những sự nghĩa quan yếu trong Tam
tạng.
Luận này đã có năm
phần như thế, tại sao chỉ đặt tên
là Du-Già Sư Địa?
Đứng trên phương diện
đặt tên của buổi ban đầu, chắc
chắn là không có sự lầm lẫn.
Lại nữa, tất cả các pháp, không
pháp nào không là Du-Già Sư
Địa. Vì Du-Già Sư Địa dùng
tất cả mọi pháp làm duyên y chỉ.
Đây chỉ là sơ lược. Nói về
con số mười bảy hay mười bảy
địa là thâu nhiếp đầy đủ
tất cả mọi văn nghĩa một cách
lược tận. Bốn phần sau đều giải
thích các văn nghĩa quan yếu trong
mười bảy địa, chúng ta không
lìa khỏi Du-Già Sư Địa. Bởi
thế, luận này dùng mười bảy
địa làm tông yếu. Tuy nó suốt
tỏ cả Thừa, Cảnh, Hành, Quả. Song,
sự hỏi đáp, quyết chọn tính
và tướng của mọi pháp nói trong
luận này, ý là, vì hàng
Bồ-tát nói ra, khiến cho tất cả
đều được thiện sảo, tu thành
Phật quả, lợi lạc vô cùng. Cho nên
luận này thuộc về Luận Tạng của
Bồ-tát, là vì muốn cho các
Bồ-tát được thắng-trí!
Luận viết: Tại
sao Du-Già Sư Địa lại nói mười
bảy địa?(36)
Giải thích:
Câu hỏi đầu tiên, tại sao Du-Già
Sư Địa lại nói 17 địa, là
câu hỏi tổng quát về tông yếu
của bộ luận này.
Người hỏi, đầu tiên
nghe các kinh nói về Du-Già Sư Địa,
chưa hiểu rõ được những ý
nghĩa ấy, nên mới đặt câu hỏi
này. Bàn về Du-Già Sư Địa mà
trong kinh thường nói chính là tu Du-Già
Sư Địa. Trong kinh Nguyệt Đăng cũng
nói, tu tập Du-Già Sư Địa. Như
thế, rất nhiều chỗ nói, chẳng phải
có một nơi nói. Trên kia đã
bàn rộng rồi! Hoặc giả, người
làm luận, trước tiên là tóm
thâu những lời thỉnh cầu, suy luận ra
luận thể có năm phần, ghi hết tại
tâm. Nay muốn vì các học đồ
giải thuyết phân biệt, nên tự
đặt ra câu hỏi, nói về nguyên
nhân phát khởi, nên mới có câu
hỏi, tại sao Du-Già Sư Địa lại
nói 17 địa? Nếu không như thế,
trước tiên không có “lược
thuyết”, làm sao lại đặt câu
hỏi “tại sao” một cách dễ
dàng như thế?
Lại nữa, đại khái
người hỏi phải có năm duyên cớ:
Một là, không hiểu mới hỏi. Hai là,
nghi ngờ mới hỏi. Ba là, thí nghiệm
mới hỏi. Bốn là, khinh xúc mới hỏi.
Năm là, vì muốn lợi lạc hữu
tình mới hỏi. Trong trường hợp này
thuộc về duyên cớ thứ năm, vì
lợi lạc cho các loài hữu tình nên
mới làm ra luận này. Nói về
mười bảy địa, tức là nói
thâu tóm tông yếu Du-Già Sư
Địa, đại lược có mười
bảy địa. Nếu đặt để rộng
rãi hơn, thì địa vị vô biên
và phận vị sai biệt trong mỗi địa,
ý nghĩa của nó cũng vô biên. Như
thế, một lần chuyển đề, là một
lần có tổng vấn và tổng đáp.
Luận viết: Những
gì là mười bảy địa?
ÔN ĐÀ
“Năm
thức tương ứng, ý,
Có tầm, tứ,... ba địa.
Tam ma địa đều phi,
Hữu tâm, vô tâm địa.
Văn, tư, tu được lập,
Như thế đủ ba Thừa.
Hữu y và vô y,
Đó là mười bảy địa”.
Giải
thích: Do nhân
duyên gì lại hỏi: Những gì
là mười bảy địa? Tuy nghe
được tổng số, nhưng chưa hiểu
rõ tên từng địa, nên phải hỏi
lại. “ÔN ĐÀ NAM”, có nghĩa
là, trước tiên, tự mình tóm
lược thành bài tụng để giải
đáp, nội dung bài kệ tụng, giản
lược nhưng tập hợp tên các
địa, lưu lại cho các học giả,
nên gọi là “Ôn đà nam”.
Câu “năm thức tương ứng”
tức là “Ngũ thức thân tương
ứng địa”. Chữ Ý là
“ý địa”. Câu “có
tầm có tứ... ba địa”, tức
là hữu tầm hữu tứ địa, vô
tầm duy tứ địa và vô tầm vô
tứ địa. Riêng tầm và tứ chiếm
ba địa. Câu “Tam ma địa đều”,
có nghĩa là tam ma địa đều gọi
là tam ma ế đa địa. Chữ “Phi”
là chẳng phải. Chẳng phải Tam ma địa,
và cũng chẳng phải là Tam ma ế đa
địa. Đây là một tướng, nhưng
riêng địa danh, chẳng phải lý thuyết
có thể nói hết được. Như
thế đây là hai tên mà nghĩa của
chúng có rộng có hẹp vậy. Tam ma
địa là trạng thái thông cả
định và bất định và nó
chỉ trụ tại nơi hữu tâm. Tam ma ế
đa là trạng thái thông cả hữu
tâm vị và vô tâm vị và nó
chỉ hạn cuộc tại định. (Vấn
đề này sau sẽ giải rộng thêm).
Câu “như thế đủ ba thừa”,
có nghĩa là do văn, tư, tu địa như
thế, hoặc do các địa ở trên như
thế, được đầy đủ cả ba
thừa. Còn “hữu dư y và vô
dư y” mỗi một tên riêng sẽ
được giải thích rộng ở sau.
Luận
viết: Một
là, ngũ thức thân tương ứng
địa. Hai là, ý địa. Ba là, hữu
tầm hữu tứ địa. Bốn là, vô
tầm duy tứ địa. Năm là, vô tầm
vô tứ địa. Sáu là, tam ma ế đa
địa. Bảy là, phi tam ma ế đa địa.
Tám là, hữu tâm địa. Chín
là, vô tâm địa. Mười là,
văn sở thành địa. Mười một
là, tư sở thành địa. Mười hai
là, tu sở thành địa. Mười ba
là, Thanh Văn địa. Mười bốn là,
Độc Giác địa. Mười lăm là,
Bồ tát địa. Mười sáu là,
hữu dư y địa. Mười bảy là,
vô dư y địa, gọi là Du-Già Sư
Địa.
Giải
thích: nay trình
bày rộng rãi về các địa danh
để đáp lại câu hỏi trước.
Câu “ngũ thức thân tương ứng
địa”, nghĩa là, năm căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; năm thức:
nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt
thức, thân thức. Chúng không cùng nhau
nương tựa một chỗ, như mắt...,
không bị các thức khác y chỉ.
Chúng là “thân y” (y chỉ vào
sự vật thân cận). Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân có lợi và độn, Thức
có sáng và mờ. Chúng còn là
“đồng thời y”. Chúng đồng
thời đều cùng có, chứ không như
ý căn... Bởi thế, năm thức
dùng năm căn nêu tỏ cái tên
riêng của chúng, cũng như mầm lúa,
như tiếng trống v.v... có sự riêng
biệt, cho nên gọi là năm thức. Do chỗ
nương tựa của chúng là căn. Căn
có hình tướng ngăn ngại. Nhưng,
chúng quyết định không thể xa lìa
chỗ nương tựa của chúng là thân.
Thân phải chịu nhận lấy, nên gọi
là “thân”. THÂN, y vào nghĩa
của THỂ mà nói như lục thức
thân (thân là nơi nương tựa của 6
thức), lục tư thân (thân là nơi
nương tựa của 6 sự suy tư). Y vào
ngũ thức thân, kiến lập ra Địa
này, nên gọi là “tương
ứng”. Như trong luật nói, vua tương
ứng với lời bàn của vua, giặc
tương ứng với lời bàn của giặc.
Y vào vua, y vào giặc mà hưng khởi ra
lời bàn luận. Đây cũng như thế.
Tuy trong Địa này phân biệt ra nhiều
pháp, nhưng năm thức làm chủ, nên
nói riêng. Ngũ thức thân tương
ứng với tâm phẩm, gọi là
“tương ứng”. Ở trong Địa
này, tuy có nói rõ nhiều pháp,
nhưng, đem sự trội hơn của tâm,
tâm sở mà phân biệt. “Tương
ứng” có nghĩa là nhiếp thuộc.
Vì trong Địa này, nói về pháp
nhiếp thuộc của Ngũ thức thân, tức
là chỗ sở y, sở duyên của tự
tính. Giúp bạn làm nên sự nghiệp
là ý nghĩa của chữ “tương
ứng”. Tùy kỳ sở ứng (tùy theo
chỗ ứng hợp của chúng). Cũng có
ý nghĩa là thông suốt. Đây chỉ
nói sơ lược mà thôi!
Nay nói
về Ý địa: lục
thức, thất thức, bát thức, đồng y
vào Ý CĂN. Lược bỏ “thức
thân tương ứng” đi, mà chỉ
nói chữ “Ý”. Trong thực nghĩa
môn có tám thức, nhưng, trong tùy cơ
môn chỉ có sáu thức. Thức thứ
sáu, thứ bảy, thứ tám cùng nhiếp
thuộc vào căn thứ sáu. Tên đứng
vào chỗ sở y của nó là phi sắc.
Nếu chúng không cần “thân”,
thì “tâm” bị gánh chịu, nên
không nói đến đến “thân”
nữa. “Tương ứng” như trên
đã nói. Thức thứ sáu, thức
thứ bảy, thức thứ tám, tuy đều
cùng có nghĩa như tâm, ý, thức,
nhưng, tâm pháp, ý xứ, nhiếp thuộc
vào ý thức. Song, nghĩa chữ
“Ý”, chỉ nói là “Ý”,
vì nó có sự suy nghĩ tính
lường, nên nó nhiếp thuộc vào
“ý căn”. Thức thứ tám là
thức giữ gìn hạt giống, nên nghĩa
“tâm” của nó thiên về phía
mạnh. Thức thứ sáu, là thức liễu
biệt cảnh giới cùng khắp, nên nghĩa
‘thức” của nó thiên về phía
mạnh. Cho nên không nói tâm địa,
thức địa, thân và tương ứng.
Đây chỉ nói lược mà thôi.
Nghĩa chữ “Địa” đã nói
ở trên.
Duyên
gì mà hợp năm Thức lại lập
thành một Địa?
Thuyết tối
sơ, các thức tuy khác nhau, nhưng vẫn
lập thành một. Thuyết thứ hai, năm
Thức cùng không nói đến sự
phân biệt sở duyên và nghiệp của
chúng, vì chúng ít việc, nên hợp
lại thành một Địa. Thuyết tối
sơ, nơi ý địa có ý niệm
phiên giải chung cho năm thức ấy, nên
biệt lập thành một Địa. Thuyết
thứ hai, năm Thức cùng y vào sắc căn
và cùng duyên vào sắc cảnh, nên
hợp lại lập thành một. Các thức
khác y vào vô sắc, sở duyên vào
bất định, nên biệt lập thành
một. Tự tính của chúng lần
lượt hoặc y vào duyên thô hay duyên
tế, nên có ra sự nói trước,
nói sau. Lại nữa, năm Thức cùng
nhiếp thuộc vào “hiện lượng
cảnh”, nên hợp lại lập thành
một. Thuyết tối sơ, các Thức khác
không định, hoặc nhiếp thuộc vào
“hiện lượng” hoặc “tỷ
lượng” hoặc “phi lượng”(38) ,
nên chúng biệt lập thành một.
Thuyết thứ hai, tự tính của hai Địa
như thế, y và duyên của chúng như
giúp bạn làm nên sự nghiệp, hợp
làm thể và nhiếp thuộc vào tất
cả mọi pháp.
Chúng ta nên
biết, trong này, tất cả mọi pháp
không rời Thức. Y vào Thức mà phát
khởi. Thức làm thể. Thức là tối thắng.
Trước y vào tám thức, kiến lập ra
hai Địa. Như thế, tám thức, tự
tính, y, duyên, giúp bạn làm nên
sự nghiệp sau này sẽ giải rộng.
Câu: “Có
tầm có tứ... ba địa” có
nghĩa là: “tầm” là tầm cầu,
“tứ” là dò xét. Hoặc là
“tư tâm sở” hay là “tuệ
tâm sở” đối với cảnh sinh ra ý
niệm theo dõi tìm cầu. Vị
“thô” là tầm. Tức là hai
pháp này đối với cảnh sinh ra ý
niệm tìm cầu, dò xét. Vị
“tế” là tứ. Không đến một
sát na, hai pháp này đã tương
ứng với nhau, vì chúng là một loại
mà đức tính: thô, tế, trước sau
có khác nhau một chút. Nay y vào hai pháp
(tầm và tứ) này, kiến lập ra ba
Địa có ý nghĩa. Ba Địa này,
đứng trên hai pháp, trước sau
tương ứng nhau mà kiến lập. Tại
Dục giới địa, được sự tĩnh
lự của Sơ thiền, thô tâm, tâm sở
trước sau nối tiếp nhau nên có tầm,
có tứ tương ứng với nhau, nên
gọi là “hữu tầm hữu tứ
địa”. Trong thời gian tĩnh lự, thô
tâm, tâm sở trước nối tiếp nhau,
tâm định không có tầm, nó chỉ
tương ứng với tứ, nên gọi là “vô
tầm duy tứ địa”. Trong thời gian tĩnh
lự lần thứ hai, qua các Địa trên,
các tâm, tâm sở, trước sau nối
tiếp nhau, quyết định không tương
ứng với tầm với tứ, nên gọi là
“vô tầm vô tứ địa”.
Nếu tại Dục giới địa, lúc tĩnh
lự của sơ thiền, trong thời gian tĩnh
lự ấy, tế tâm, tâm sở không
tương ứng với tầm với tứ, và
không tương ứng hành với các
sắc pháp, và tứ cũng không tương
ứng với các pháp vô vi, cũng
đều gọi là “vô tầm vô tứ
địa”. Cho nên, về phần sau bộ
luận có nói: “Hữu tầm hữu
tứ địa, vô tầm duy tứ địa”
một chiều hướng về “hữu tâm
địa”. Vô tâm thụy miên, vô
tâm muộn tuyệt, vô tưởng định,
vô tưởng sinh, diệt tận định và
vô dư y niết bàn giới đều có
nghĩa là “vô tâm địa”. Ba
địa này đứng trên hai pháp ly
dục phận vị mà kiến lập. Nghĩa
là, tại dục giới địa và khi
tĩnh lự về sơ thiền, các pháp hư
giả, đối với tầm và tứ chưa xa
lìa khỏi dục nên gọi là “hữu
tầm hữu tứ địa”. Trong thời gian
tĩnh lự, các pháp hư giả, tâm
đã rời khỏi dục, tứ chưa lìa
được dục, nên gọi là “vô
tầm duy tứ địa”. Trong thời gian tĩnh
lự lần thứ hai, qua các địa trên,
các pháp hư giả, đối với tầm
và tứ đều đã lìa dục,
nên gọi là “vô tầm vô tứ
địa”. Nếu tại hạ địa,
đều đã lìa dục, cũng được
gọi là “vô tầm vô tứ”. Cho
nên, phần sau bộ luận có nói, trong
này do lìa dục của tầm và tứ,
nên gọi là “vô tầm vô tứ
địa”. Không do sự hướng dẫn
nên không phát khởi hiện hành. Tại
sao? Vì do sự chỉ dạy, hướng dẫn hay
sự tác ý sai biệt của người
chưa rời được sự ham muốn trong
Dục giới, trong một thời gian nào đó
cũng có ý niệm vô tầm vô tứ
hiện hành. Như người ra khỏi định
của sơ thiền. Như thực nghĩa, ba
địa này đứng trên mặt giới
địa mà kiến lập. Nghĩa là, tại
Dục giới địa và khi tĩnh lự
thuộc sơ thiền, các pháp hữu lậu,
vô lậu, ở trong tầm, tứ đều có
thể được, gọi là đệ nhất
địa. Trong thời gian tĩnh lự lần thứ
hai, qua các địa trên, các pháp hữu
lậu, vô lậu, ở trong không có tầm
chỉ có tứ, gọi là đệ nhị
địa. Trong thời gian tĩnh lự lần thứ
hai, qua các địa trên, các pháp hữu
lậu, vô lậu, ở trong tầm, tứ đều
không có, gọi là đệ tam địa.
Cho nên phần sau bộ luận có nói:
“Tại Dục giới và khi tĩnh lự
thuộc trong sơ thiền, nếu là trong
định hay là sinh vào cõi sơ thiền,
gọi là “hữu tầm hữu tứ
địa”. Trong thời gian tĩnh lự, là
trong định hay là đã sinh lên cõi
sơ thiền, nên gọi là “vô tầm
duy tứ địa”. Thời gian tĩnh lự
lần thứ hai trở lên sắc giới, vô
sắc giới, hoàn toàn gọi là
‘vô tầm vô tứ địa”. Vô
lậu, hữu vi, sơ tĩnh lự định cũng
gọi là “hữu tầm hữu tứ
địa”. Y vào chỗ tầm, tứ, các
pháp duyên vào chân như làm cảnh,
nhập được vào định ấy,
không do phân biệt hiện hành. Còn
các pháp khác như trên đã
nói.
Nếu đứng
về mặt “tương ứng” và
đứng về mặt “ly dục” để
kiến lập ba địa, thâu nhiếp các pháp
thực không cùng tận và cũng là
đại tạp loạn. Tuy nói hữu tầm
hữu tứ các địa, chỉ là ở
nơi “hữu tâm”. Giờ đây
đứng trên một môn, bàn qua về
“địa tướng”. Trong môn này
chỉ nói về khi tĩnh lự lần thứ hai
trở lên, trong vô tầm vô tứ địa.
Vô tưởng định, vô tưởng sinh,
diệt tận định gọi là “vô
tâm địa”. Còn tất cả các
vị khác đều gọi là “hữu
tâm địa”. Sau có bốn môn, có
sự kiến lập khác, sẽ nói sau này.
Tuy nói là trong này do rời sự ham muốn
của tầm, tứ, gọi là “vô tầm
vô tứ địa”, nhưng đó chỉ
nói về các địa khi tĩnh lự lần
thứ hai mà thôi. Và, đó cũng
là quyết định đã rời khỏi
sự ham muốn của tầm tứ địa, chứ
không nói về người đã rời
khỏi sự ham muốn của tầm tứ. Các
pháp thuộc hạ địa cũng được
gọi là “vô tầm vô tứ”.
Nếu như thế, người chưa rời khỏi
sự ham muốn của hạ địa tầm, tứ
thì sao? Các pháp thuộc thượng
địa cũng nói là có tầm, tứ...,
kiến lập như thế thành ra đại
tạp loạn. Cho nên, ba địa này chỉ
kiến lập trên Dục-giới-địa
thượng hạ mà thôi!
Nói về Tam
ma ế đa địa (Samàhita): Đây
là Thắng định địa, xa rời hôn
trầm, trạo cử v.v... Nó là “bình
đẳng năng dẫn” chủ động dẫn
định tới chỗ quân bình. Hoặc
gọi là “dẫn bình đẳng”,
hoặc gọi là “bình đẳng”, do
chỗ “sở dẫn” phát ra, nên có
nghĩa là “Đẳng Dẫn Địa”.
Nó nhiếp thuộc vào các định
‘hữu tâm”. Nó dẫn các công
đức một cách bình đẳng. Nó
không thông với các định “vô
tâm”.
Trong bài kệ
tụng trên có câu: “Tam ma địa
câu”. Tam ma địa (Samàdhi) là pháp
số của tâm pháp trong Biệt Cảnh tâm
Sở. Hai loại định “vô tâm”,
không thể bình đẳng dẫn các
công đức, nên nó không phải
thuộc Đẳng Dẫn Địa. Thế là sao?
Nói về Đẳng Dẫn Địa đại
lược có bốn loại: 1) Tĩnh lự. 2)
Giải thoát. 3) Đẳng trì(39). 4) Đẳng
chí(40). Nói về Tĩnh lự là bốn tĩnh
lự(41). Nói về giải thoát là
tám giải thoát(42). Nói về đẳng
trì là không đẳng trì, vô nguyện
đẳng trì và vô tướng đẳng
trì. Nói về đẳng chí là
năm hiện kiến(43) đẳng chí, tám
thắng xứ(44) đẳng chí, mười biến
xứ(45) đẳng chí, bốn vô sắc
đẳng chí, vô tưởng đẳng
chí, diệt tận đẳng chí.
Đây không
nên lầm lẫn, hai loại vô tâm
định, là “đẳng dẫn quả”.
Nó chỉ giữ cái danh, chứ thực ra
nó chẳng phải nghĩa của “đẳng
dẫn”. Danh này thông cả hữu tâm
vị và vô tâm vị. Chỗ có
định thể, nếu tâm định, bình
đẳng dẫn các công đức, và
bình đẳng dẫn các căn và các
đại, nó xa lìa hôn trầm, trạo
cử, và những giới điều không
hối cải. Bình đẳng phương tiện do
chỗ sở dẫn phát ra, nên gọi là Đẳng
Dẫn. Nếu là vô tâm định, tuy
nó không có thể dẫn được
các công đức thù thắng, nhưng
nó bình đẳng dẫn các căn và
các đại... Đó là bình
đẳng định do chỗ sở dẫn phát ra.
Cũng gọi là “Đẳng Dẫn”.
Thế là sao? Trong bài kệ tụng trên
có nói câu “Tam ma địa câu”.
Đây không nên lầm lẫn. Văn trong
bài kệ tụng chỉ nói sơ lược.
Nói “bỉ câu” (đều cùng
với các thứ kia), nhưng kỳ thực
Đẳng Dẫn: “phi câu” (chẳng
cùng với thứ nào), vì sau cũng nói
Đẳng Dẫn thông với vô tâm.
Đúng theo nghĩa như thực, Đẳng Dẫn
Địa có thông, có cục (cục
hạn). Nó nhiếp thuộc cả hai vị hữu
tâm và vô tâm, nên gọi là “thông”.
Vô tưởng định, Diệt tận định
là thể của Đẳng Dẫn Địa,
nó chỉ ở nơi thắng địa của
hữu lậu, vô lậu, nó không ở trong
các loại tán tâm trong Dục giới,
nên gọi là “cục”.
Sau đây nói
về ‘tĩnh lự” là Đẳng
Dẫn địa, là định thuộc Sắc
giới, chứ không phải định (tâm
nhất cảnh tính) trong Dục giới. Bởi Đẳng
Dẫn ấy chỉ dẫn những loại thuộc
về vô hối, hoan hỷ, an lạc. Dục giới
không được như thế. Chỉ có
thượng giới mà thôi. Nếu định
trong lúc tán tâm, nó không phải
là Đẳng Dẫn, vì nó cùng liên
hệ với Dục giới. Do sự tương
đối ấy nó tác thành tứ cú
phân biệt(46). Hoặc nó hợp với
Đẳng Trì, thì nó chẳng phải
là Đẳng Dẫn Địa. Nghĩa là,
còn trong Dục giới, trong ngôi vị tán
tâm, nó hợp cùng với tam ma địa,
tâm và tâm sở... Hoặc là nó
hợp với Đẳng Dẫn Địa, thì
nó chẳng hợp với Đẳng Trì.
Ngôi vị trong định, tam ma địa
là thể. Ngôi vị vô tưởng
định, diệt tận định, các pháp
sở hữu, hoặc chúng cùng hợp với
cả Đẳng Trì và Đẳng Dẫn
Địa. Trong các tĩnh lự, định,
cùng với các ngôi vị hữu tâm trong
Sắc giới và tâm, tâm sở, trừ tam ma
địa, hoặc giả chúng có cũng
đều là phi. Nghĩa là, trừ các
pháp sở hữu trong các ngôi vị ở
trên. Lại nữa, tam ma địa, tam ma bát
để, tam ma ế đa, danh của chúng có
rộng hẹp. Trong số danh mục về tâm, Tam ma
địa có ý nghĩa là Đẳng
Trì. Một pháp thông nhiếp tất cả
mọi pháp. Trong ngôi vị hữu tâm, tâm
là nhất cảnh. Tính nó thông với
cả định vị và tán vị. Song, trong
các kinh luận, đứng trên mặt ưu
thắng của nó, chỉ nói về không,
vô nguyện, vô tướng, gọi là tam ma
địa. Tam ma bát để, thông cho
tất cả hữu tâm, vô tâm. Trong các
định vị, định thể của nó, trong
các kinh luận, đứng về mặt ưu
thắng của nó, chỉ nói về năm
hiện kiến..., tương ứng với các
định, gọi là Đẳng Chí.
Đẳng Dẫn Địa thông với tất
cả hữu tâm, vô tâm định vị
công đức. Cho nên trong Địa này
thông nhiếp tất cả định vị công
đức. Do có ý nghĩa tổng quát
như thế, nên đặt riêng tên
Địa, gọi là “phi tam ma ế đa
địa”. Phiên dịch ý nghĩa như
trên đã dễ hiểu, không cần giải
thích rộng. Như thế, hai Địa, tổng
nhiếp tất cả các pháp sở hữu trong
định vị và phi định vị.
Nói về Hữu
Tâm, Vô Tâm Địa: Đại
lược, chúng có năm môn, nhưng sự
kiến lập có sự sai biệt nhau: Một
là, tựu địa tổng thuyết môn:
Nghĩa là, ngũ thức thân tương ứng
địa, ý địa, hữu tầm hữu tứ
địa, vô tầm duy tứ địa. Bốn
địa này một chiều hướng về
“hữu tâm địa”. Trong vô
tầm vô tứ địa, trừ vô tưởng
định, vô tưởng sinh và diệt tận
định là “vô tâm địa”.
Ở trong môn này, vô tâm thụy miên,
vô tâm muộn tuyệt cũng gọi là “hữu
tâm”, vì nó thuộc về số 7,
số 8. Chỉ có vô tưởng định
v.v... thuộc tâm bất tương ứng, vì
hành và tâm trái ngược nhau, nên
gọi là “vô tâm địa”. Hai
là, tâm loạn bất loạn môn:
Nghĩa là, trong bốn điên đảo(47),
làm đảo loạn tâm, nên gọi là
“vô tâm địa”, vì nó
mất bản tính. Ba là, tâm sinh bất sinh
môn: Nếu duyên đầy đủ, tâm
này được sinh ra, gọi là “hữu
tâm địa”. Nếu không đủ
duyên, tâm kia không sinh ra được, gọi
là “vô tâm địa”. Ở trong
môn này, tùy theo tâm này sinh gọi
là “hữu tâm địa”. Tâm
kia không sinh gọi là “vô tâm
địa”. Bốn là, phận vị
kiến lập môn: Trừ sáu vị, gọi
là “hữu tâm địa”. Còn
các ngôi vị như: vô tâm thụy
miên, vô tâm muộn tuyệt, vô
tưởng định, vô tưởng sinh, diệt
tận định, và vô dư y niết bàn,
gọi là “vô tâm địa”.
Năm là, tựu chân thực nghĩa môn:
Trong vô dư y niết bàn, các tâm
đều diệt, gọi là “vô tâm
địa”. Còn các vị khác, do
không có các chuyển thức, chỉ là
giả danh vô tâm. Thức thứ tám chưa
diệt hết được nên gọi là “hữu
tâm địa”. Như thế, hai Địa, do
các môn sai biệt nhau, nên có sự
tiến, thoái không định.
Nói
về Văn Sở Thành Tựu Địa: Từ chỗ nghe, sinh ra sự liễu
giải các văn nghĩa. Tuệ và tuệ
tương ứng với các tâm, tâm sở
pháp.
Nói
về Tư Sở Thành Tựu Địa: Từ chỗ suy nghĩ sinh ra sự
liễu giải các pháp tướng. Tuệ
và tuệ tương ứng với các tâm,
tâm sở pháp.
Nói
về Tu Sở Thành Tựu Địa: Từ chỗ tu sinh ra sự liễu
giải các lý sự. Tuệ và tuệ
tương ứng với các tâm, tâm sở
pháp.
VĂN là lắng nghe, tức là
từ nhĩ căn, phát sinh ra nhĩ thức, lắng
nghe những lời về ngôn giáo. TƯ
là suy nghĩ, tức là suy nghĩ về số
lượng các pháp phát sinh ra trí
tuệ. Nó suy nghĩ, lựa chọn các
pháp. TU là tu tập, tức là từ
thắng định phát sinh trí tuệ. Tu là
sửa, có nghĩa là đối trị. Từ ba
loại này sinh ra ba tuệ(48) và tương
ứng với các pháp, là thể của ba
Địa. Nghĩa rộng của ba tuệ, phân
biệt như trên. Như thế, ba Địa,
dùng ba phẩm Tuệ cùng tâm, tâm sở
pháp và chỗ sở đắc quả làm
tự tính. Cho nên phần sau bộ luận
có nói, “Tu sở thành địa cũng
là Hữu dư, Vô dư y địa”.
Thanh Văn
Địa: Trong
thánh giáo của Phật “Thanh” là
trên hết. Từ nơi thầy, bạn nghe giáo
thanh của Phật, dần dần tu chứng, vĩnh
viễn ra khỏi thế gian. Thực hành ít
thì chứng quả nhỏ, nên gọi là Thanh
Văn. Như thế, chủng tính Thanh Văn là
phát tâm tu hành chứng quả, nói
tổng quát lại tất cả là Thanh Văn
Địa.
Độc
Giác Địa:
Thường ưa vẳng lặng, không muốn ở
chỗ hỗn tạp. Tu đầy đủ hạnh gia
hành(49), không có thầy, bạn dạy,
tự nhiên, tự mình chứng ngộ, vĩnh
viễn ra khỏi thế gian. Vị này thực
hành hạnh trung dung, chứng quả vào hàng
trung, nên gọi là Độc Giác. Hoặc
có vị quán tưởng về nhân duyên
đối đãi mà chứng Thánh quả,
nên gọi là Duyên Giác. Như thế,
chủng tính Độc Giác, phát tâm tu
hành, chứng đắc đạo quả, nói
tổng quát lại là Độc Giác
Địa.
Nói về Bồ
Tát Địa: Mong cầu đại giác,
thương xót hữu tình. Hoặc cầu
bồ-đề, chí nguyện bền vững, trong
thời gian lâu mới được tu chứng,
vĩnh viễn ra khỏi thế gian. Thực hành
hạnh nguyện lớn lao, nên gọi là Bồ
Tát Địa. Như thế, chủng tính Bồ
Tát, phát tâm tu hành, đắc quả,
nói tổng quát lại là Bồ tát
Địa. Đại nghĩa của ba Thừa, sẽ
bàn rộng sau.
Nói về Hữu
Dư Y Địa: Tức là hữu dư y
niết bàn địa. Y là chỗ nương
tựa của hữu lậu. Chỗ nương tựa
này nói lược có tám thứ: Một
là, thi thiết y, nghĩa là, do y vào 5
thủ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành,
thức) bày đặt ra danh, chủng, tính
hư-giả. Hai là, nhiếp thụ y, nghĩa
là nương nhờ vào 7 nhiếp sự: cha
mẹ, thê tử, nô tỳ, sai sử, đồng
bộc, bằng hữu và quyến thuộc. Ba
là, trụ trì y, nghĩa là, nương
nhờ vào 4 thức ăn để sống (đoạn
thực, xúc thực, tư thực, thức thực).
Bốn là, lưu chuyển y, tức là,
trụ vào 4 thức, 12 duyên sinh khởi. Năm
là, chướng ngại y, tức là
các thiên ma. Sáu là, khổ não y,
tức là các phiền não trong cõi
dục. Bảy là, thích duyệt y, tức
là các niềm vui trong thiền định.
Tám là, hậu biên y, nghĩa là
vị A-la-hán, tuy có các uẩn tương
tục, nhưng nay hoàn toàn chỉ lấy một
thứ “tối hậu biên y”, trừ 6 nhiếp
sự ở trên (lấy 1 phần), lưu chuyển
và chướng ngại.
Trong địa
này có 4 tịch tĩnh: Một là, khổ
tịch tĩnh, tức là khổ tương lai,
rốt ráo không sinh nữa. Hai là, hoặc
tịch tĩnh, tức là các phiền
não, rốt ráo không sinh nữa. Ba là, nghiệp
tịch tĩnh, tức là không tạo tác
các điều ác, tu tập các điều
thiện. Bốn là, xả tịch tĩnh,
nghĩa là, có chính tri, chính niệm, an
trụ trên hạnh xả nên đối với 6
căn, 6 trần, không mừng cũng không lo.
Vị A-la-hán an trụ nơi
vô-học-địa, đủ 4 tịch tĩnh,
còn chút dư y, nên gọi là hữu
dư y địa.
Địa này thuộc về Nhị Thừa.
Trong thân vô học, các pháp hữu
lậu, vô lậu, tóm thâu lại là
tự tính Như Lai. Tuy không có thân
tâm chân thực hữu lậu dư y, nhưng
có sự biến hóa tựa như là hữu
lậu y, nên đứng về mặt hóa
tướng cũng được gọi là
“hữu dư y địa”.
Vô Dư Y
Địa: Tức
là vô dư y niết bàn. Tất cả
hữu lậu dư y đều xả, hữu vi vô
lậu của Nhị Thừa đều xả. Như Lai
tuy có hữu vi vô lậu, nhưng, không
có tất cả hữu lậu dư y, cũng gọi
là “vô dư y địa”. Ở trong
Địa này, chỉ có chân như thanh
tịnh hiển bày ra công đức rất
sâu xa, lìa mọi phân biệt, dứt mọi hý
luận, không thể nói về uẩn, giới,
xứ, nhân, thiên v.v..., như, “tức”,
như “ly”, như “có”, như
“không”, danh tướng sở hữu,
đều có nghĩa là giả thuyết mà thôi.
Trong Địa này chính dùng “cứu
cánh trạch diệt chân như vô vi”
làm tính, cùng lấy hữu vi vô lậu
công đức của Như Lai làm tính.
Công đức của Như Lai rất sâu, ly
tướng, không thể nói bàn
được. Không nói được nó
cũng nhiếp thuộc vào ngũ thức
địa. Và, lý thực của nó cũng
nhiếp thuộc vào trong nghĩa có ý
nghĩa của nó. Hữu vi công đức
của Như Lai nhiếp thuộc vào Hữu dư y,
công đức vô vi nhiếp thuộc vào
Vô dư y. Cho nên, phần sau bộ luận có
nói: “Vô dư y địa là một
phần trong năm địa, là vô tâm
địa, tu sở thành địa, Thanh văn,
Độc giác, Bồ tát địa.”
Dịch xong
tại chùa Từ Quang, Nice,
Pháp quốc, ngày 14 tháng 03 năm 1997
Chú Thích:
(1)Du Già Sư
Địa Luận Thích: Là một quyển
luận mang số 1580 trong Đại chính Tân Tu
Đại Tạng Kinh. Du Già (Yoga), có nghĩa
là “tương ứng”. Tương ứng
có 5 nghĩa: 1) Tương ứng với cảnh
không trái với tự tính các pháp.
2) Tương ứng với hành: ứng hợp
với sự song hành cả định và
tuệ. 3) Tương ứng với lý: an lập
cũng như phi an lập về chân lý của
tục đế và chân đế. 4) Tương
ứng với quả: chứng được quả
vô thượng bồ đề. 5) Tương ứng
với bệnh và thuốc: chứng được
đạo quả trọn vẹn, ứng hợp với
việc lợi sinh cứu vật, theo cơ cảm của
chúng sinh, tùy bệnh cho thuốc. Du Già
nơi đây phần nhiều tương ứng
với pháp, tức là tương ứng với
lý.
Du-Già Sư
Địa Luận: (Yogàcàryabhùmi sàstra).
Bộ luận này gồm 100 quyển do Bồ-tát
Di-Lặc thuyết và ngài Huyền-Trang dịch
sang chữ Trung-Hoa. Các vị trong Tam thừa thực
hành phương pháp Du-Già, nên gọi
là Du-Già Sư. Mười bảy
cảnh-giới là chỗ nương tựa và
thực hành của các vị Du-Già Sư
gọi là “Du-Già Sư Địa”.
Du-Già Sư
Địa Luận Thích là một quyển
luận do Bồ-tát Tối Thắng Tử viết ra
với mục đích giải thích sơ lược
về danh nghĩa 17 cảnh giới (địa) trong
Du-Già
(2)Tối-Thắng-Tử
(Thìn na phất đa la: Jinaputra): Ngài sinh vào
khoảng cuối thế kỷ thứ 6 Tây lịch
tại Ấn Độ. Ngài là đệ tử
của ngài Hộ-Pháp. Ngài là một
trong 10 vị Đại luận sư về Duy Thức.
Tây Vực Ký quyển 11 có viết: “Trong
nước Bát Phạt đa chu vi khoảng trên
năm ngàn dậm, bên một thành lớn
có ngôi đại già làm, có trên
một trăm vị Tăng an cư trong đó.
Các vị đều tu học theo giáo pháp
Đại thừa. Bồ-tát Tối-Thắng-Tử
làm quyển Du-Già Luận Thích tại
đây”.
(3)Pháp Sư
Huyền Trang: Ngài họ Trần, tục danh là
Vĩ, người đất Uyển Sư, triều
đại nhà Đường. Năm 13 tuổi,
Ngài đi xuất gia nơi người anh ruột
tên là Trương Tiệp tại chùa
Tịnh Độ, Lạc Dương. Ngài nghe kinh
Niết-bàn nơi ngài Tuệ Cảnh, Nhiếp Đại
Thừa luận nơi Nghiêm Pháp Sư. Niên hiệu
Vũ Đức năm đầu, Ngài cùng
ông anh vào Trường An, tới Thành
Đô học Nhiếp Luận, Tỳ Đàm
nơi hai ngài Đạo Cơ và Bảo
Thiên, nghe giảng Pháp Trí luận nơi
Chấn Pháp Sư. Sau 5 năm, Ngài thụ cụ
túc giới, học tập về luật. Ngài
tới Kinh châu, Tương châu, Triệu châu,
và Trường An tham học về luận. Ngài
có tới nghe giảng Nhiếp Đại Thừa
luận nơi hai đại đức Pháp
Thường và Tăng Biện là hai vị
nổi tiếng tại Kinh đô đương
thời, nhưng đối với Ngài, Ngài
chưa cảm thấy có sự sáng tỏ,
Ngài quyết chí tây du học đạo.
Niên hiệu Trinh Quán năm thứ ba, triều
nhà Đường, Ngài lên đường
học đạo tại Ấn Độ. Trải bao
nhiêu gian lao, nguy hiểm, niên hiệu Trinh Quán
năm thứ 7, Ngài tới nước Ấn
Độ. Với tư chất thông minh, quyết
chí tham học Kinh, Luật, Luận nơi các bậc
tôn túc khắp nơi, Ngài đã
đạt thành ý nguyện và đã
nổi tiếng trong các cuộc tham luận. Niên
hiệu Trinh Quán năm thứ 19, Ngài về tới
Kinh đô nhà Đường, mang theo 657 bộ
kinh sách bằng chữ Phạm dâng lên
triều đình. Vua Thái Tông cho lập ban
phiên dịch tại chùa Hoằng-Phúc, sau chuyển
về chùa Từ-Ân. Phiên dịch
được 75 bộ, gồm 1,335 quyển. Ngài
viên tịch vào tháng 5 năm năm Ngài
65 tuổi.
(4)Bài kệ
gồm 24 câu này được coi như là
bài tựa của bộ luận. Đầu tiên
kính lễ Phật là bậc đại giác
Thế Tôn của nhân, thiên, vẹn tròn
phúc đức và trí tuệ. Pháp
có đầy đủ văn nghĩa chân
thực, vi diệu và vô thượng. Tăng
là những bậc Hiền thánh hữu học,
vô học hiểu biết một cách chân
chính. Tiếp đến, kính lễ luận
chủ Di-Lặc (Maitreya), Trung Hoa dịch nghĩa là
Từ Thị, tên là A-Dật-Đa (Ajita), Trung Hoa dịch
nghĩa là Vô Năng Thắng. Ngài (Di Lặc)
muốn cho chúng sinh được lợi lạc,
nên thâu tóm những yếu nghĩa trong
các kinh, nói ra năm phần trong bộ luận
Du-Già. Kính lễ Bồ-tát
Vô-Trước (Asanga), do định lực lên cung
trời Đâu Suất, nghe Bồ-tát Di-Lặc
giảng bộ luận Du-Già, đem về phổ
biến cho thế gian. Kính lễ tất cả
các bậc Thánh được thấm nhuần
trong biển pháp của Bồ-tát
Vô-Năng-Thắng, đã tuôn chảy mưa
pháp cam lộ cao tột này cho tất cả
chúng sinh. Các vị thấm nhuần mưa
pháp Du-Già, bản thân hưởng
được những pháp âm mỹ diệu,
còn đem lại lợi lạc cho thế gian. Mưa
pháp này tuôn rải những câu, những
chữ vi diệu, như bông hoa tỏa hương
một cách bình đẳng, đặc biệt
làm thấm mát những nhân tố tu
hành, thai sinh từ gốc cây Mưu Ni mà ra. Có
nghĩa là trong ba hội Long Hoa của đức
Di-Lặc, những vị được chứng ngộ
đều là những vị tu hành trong giáo
pháp của đức Phật Thích Ca Mưu Ni.
Tới đây, tác giả khen ngợi luận
Du-Già này như hoa sen, như kho báu, như
biển lớn, trong đó, trình bày và
giải thích văn nghĩa rộng rãi của các
Thừa, không thiếu sót. Và, tác giả
tự lượng sức mình, chỉ xin giải
thích ít phần trong bộ luận Du-Già
này mong cho chính pháp còn mãi, đem
lại lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh.
(5)Ba Thừa: Ba cỗ
xe chuyên chở giáo pháp của đức
Phật, tùy theo căn cơ tu chứng của
các hành giả, tức là của các
bậc Thanh Văn, Duyên Giác và
Bồ-Tát.
(6)Bổ-đặc-già-la
(Pudgala): Xưa kia, Trung Hoa dịch nghĩa là
“Nhân” (người) hay “chúng
sinh”, nay dịch nghĩa là “xác thủ thú””:
nghĩa là cái nhân tố, luôn luôn
nhận chịu cái quả sinh tử luân hồi
trong các cõi: thiên, nhân, a-tu-la, địa
ngục, ngã quỷ, súc sinh.
(7)Nhị thừa:
Thanh-Văn và Duyên-Giác.
(8)Ba cõi: cõi
Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.
(9)Tập khí:
mê lầm được phát sinh ra bởi
những hơi hướng huân tập ẩn nấp
từ lâu.
(10)Thực tướng:
Tướng chân thực, không hư vọng,
không chuyển biến, tức bản thể của
vạn pháp. Pháp tính, chân như, thực
tướng, danh xưng khác nhau, nhưng cùng
chỉ cho bản thể mà thôi. Thực
tướng còn có những danh xưng khác
nữa như: nhất thực, nhất như, nhất
tướng, vô tướng, pháp thân,
pháp chứng, pháp vị, niết bàn, vô
vi, chân đế, chân tính, chân không,
thực tính, thực đế, thực tế,...
(11)Biến Kế
Sở Chấp tính: Phàm phu suy lường sự
vật một cách mê lầm, giả cho là
thực, như đêm tối thấy khúc dây
thừng tưởng là con rắn, v.v...
(12)Y Tha Khởi
tính: Nương tựa vào các nhân
duyên khác mà sinh ra vạn pháp. Chủng
tử nơi A-lại-gia thức là nhân tố
thứ nhất, nó nhờ thêm các trợ
duyên khác mà tạo thành. Bản chất
của dây thừng là những sợi của
cây gai, nhờ những công phu khác mới hình
thành dây thừng.
(13)Viên Thành
Thực tính: Chỉ cho tính chân thực,
thành tựu viên mãn của sự vật,
tức là thể tính của các pháp hữu-vi.
Như thực tính của dây thừng là
cây gai.
(14)Nhị đế:
Hai sự nhận thức về sự thực của
sự vật đối với người thế
tục và người có thánh trí,
đó là tục đế và chân
đế. Người thế tục nhận sự
tướng của sự vật là thật, nên
gọi là “tục đế”. Người
có thánh trí nhận thức lý tính
chân thực về sự tướng của sự vật
ấy là không thực nên gọi là
“chân đế”.
(15)Nhị tạng: 1)
Thanh Văn tạng: Nói về giáo, lý,
hành, quả của Thanh Văn và Duyên
Giác. 2) Bồ Tát tạng: Nói về
giáo, lý, hành, quả của bồ-tát.
Tam tạng (Tripitaka): Ba
kho tàng giáo pháp của Phật giáo: Kinh
tạng (Tu đa la: Sutrapitaka): Lời dạy của
Phật. Luật tạng (Tỳ nại gia: Vinayapitaka):
các lời khuyên răn, diệt trừ lỗi
lầm của ba nghiệp: Thân, miệng, ý.
Luận tạng (A tỳ đạt ma: Abhidharmapitaka):
Dùng thắng trí quán chiếu về chân
lý của sự vật. Hay là, dùng thắng
trí bàn giải về các pháp. Kinh
hướng về định hoc. Luật hướng
về giới học. Luận hướng về tuệ
học.
(16)Duy thức
(Vijanãnamatravàda): Vạn pháp chỉ do
Thức biến hiện. Thức đây chỉ cho 8
thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức,
mạt-na thức và A-lại-gia thức.
(17)Năm thú: 5
cõi phải đi tới, theo nhân quả nặng
hay nhẹ đã tạo: địa ngục, ngã
quỷ, súc sinh, nhân và thiên.
(18)Ba đại
khổ: Gây nhân quả xấu phải chịu
sự đau khổ cùng cực trong ba cõi
địa ngục, ngã quỷ, súc sinh. Hoặc
bị ba thứ ngăn che chính đạo, làm
hại thiện tâm: phiền não, nghiệp
chướng và quả báo.
(19)Tam bồ-đề
(Sambodhi): Quả vị chính đẳng giác.
(20)Bồ tát Long
Mãnh (Nàgàrjnna)), xưa dịch là Long
Thọ, Long Thắng, đệ tử của ngài Ca
Tỳ Ma La Tôn Giả, là một trong các vị
Luận sư nổi tiếng trong Đại thừa
giáo. theo kinh Đại Trang Nghiêm Tam Muội thì
trong thời quá khứ, Bồ tát Long Mãnh
thành Phật hiệu là Diệu Vân Tự
Tại Vương Như Lai và nay ngài hiện
ở ngôi vị Sơ Địa tức là Hoan
Hỷ Địa hay là Cực Hỷ Địa.
(21)Thánh Đề
Bà (Àryadeva): Sáng tác bộ Bách
Luận. Bồ tát Đề Bà là một
vị trong các đại Luận sư, người
đương thời tôn xưng ngài như
bậc Thánh nên gọi là Thánh Đề
Bà.
(22)Bồ tát
Vô Trước (A Tăng Già: Asanga): Ngài sinh
tại Kiền Đà La, Ấn Độ, sau khi
đức Phật nhập diệt vào khoảng
một ngàn năm. Ngài xuất gia trong bộ
phái Di Sa Tắc, sau tin tưởng về Đại
thừa. Ngài là vị Tổ trong Pháp
Tướng Tông. Vào một đêm, ngài
nhập định lên cung trời Đâu Suất,
nghe đức Di Lặc thuyết luận Du-Già,
luận Trang Nghiêm, luận Đại Thừa, luận
Trung Biên Phân Biệt, rồi Ngài trở
lại thuyết pháp cho đại chúng.
(23)Bất tương
ứng hành: Duy Thức học có tâm, tâm
sở pháp và sắc pháp, mỗi một
pháp trong ba loại này, hành động
của chúng không ứng hợp với nhau,
nên gọi là “bất tương ứng
hành pháp”. Bất tương ứng hành
pháp có 24 thứ, xem trong Duy Thức sẽ
rõ.
(24)Uẩn, xứ,
giới... : Tức 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 12
nhân duyên, duyên sinh, duyên khởi, 4
đế (khổ, tập, diệt, đạo).
(25)Bốn tính:
Trong kinh Phật Bản Hạnh nói Bồ tát
có 4 tính hạnh: 1) Tự tính hạnh:
Bồ tát, xưa nay vẫn đầy đủ đức
tính hiền lương, hiếu thuận, tín
kính và 10 điều thiện. 2) Nguyện
tính hạnh: Bồ tát phát tâm nguyện
thành đạo, thành Phật. 3) Thuận
tính hạnh: Bồ tát thuận theo 6 Ba la mật
mà tu hành. 4) Chuyển tính hạnh: Do công
phu tu hành, chuyển phàm thành Thánh.
(26)Bốn pháp:
Trong Pháp bảo có 4 loại: Giáo pháp,
lý pháp, hành pháp và quả pháp.
Trong kinh Đại Thừa Ký Pháp nói, Bồ
tát có 4 pháp tu hành: 1) Không bỏ
tâm Bồ đề. 2) Không bỏ thiện tri
thức. 3) Không bỏ sự cố gắng chịu
đựng về ái, lạc. 4) Không bỏ nơi
an tịnh A lan nhã.
(27)37 Bồ đề
phận pháp: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4
như ý túc, 5 căn, 5 lực, 7 bồ đề
phận và 8 thánh đạo.
(28)Tỳ bát
xá na (Samatha): Đây chỉ về 2 môn
định: Samatha là Chỉ, Vipassana là Quán.
(29)Tam ma địa
(Samàdhi): Định, chính thụ.
(30)Chín
đạo: Theo Phật Học Đại Tự
Điển, chín đạo tức chỉ cho 9 nơi
cư trụ của các loài hữu tình:
1) Nơi cư ngụ của Người và Trời
trong Dục giới.
2) Nơi cư trụ
của Phạm Chúng thiên.
3) Nơi cư trụ
của Cực Quang thiên.
4) Nơi cư trụ
của Biến Tịnh thiên.
5) Nơi cư trụ
của Vô Tưởng thiên.
6) Nơi cư trụ
của Không Vô Biên Xứ thiên.
7) Nơi cư trụ
của Thức Vô Biên Xứ thiên.
8) Nơi cư trụ
của Vô Sở Hữu Xứ thiên.
9) Nơi cư trụ
của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên.
(31)Vô đẳng
đẳng (Asamasama): Tôn hiệu của Phật
đạo và Phật. Phật đạo siêu
tuyệt không gì có thể sánh bằng được
nên gọi là “vô đẳng”. Chỉ
có Phật với Phật, tức là chỉ
có những bậc giác ngộ mới có
thể sánh bằng được nên gọi
là “đẳng”.
(32)Bất cộng
hành: Sự thực hành của mỗi thuyết
không như nhau, nhưng chung cuộc, cùng chứng
đạo quả Bồ đề như nhau.
(33)Ba thân ba đức:
Ba thân: pháp thân, báo thân và
ứng hóa thân. ba đức: pháp thân,
bát nhã và giải thoát.
(34)Đẳng
chí: Biệt danh của định. Trong định,
thân tâm quân bình (bình đẳng) an
hòa gọi là “đẳng”. Do định
đạt tới chỗ bình đẳng gọi
là “chí”.
(35)17 địa:
Luận Du Già thuyết minh về 17 cảnh (pháp
môn) sở quán gọi là 17 địa: 1)
Ngũ thức thân tương ứng địa. 2)
Ý địa. 3) Hữu tầm hữu tứ
địa. 4) Vô tầm hữu tứ địa. 5)
Vô tầm vô tứ địa. 5) Tam ma ế đa
địa (Samàhita: đẳng dẫn: định
lực quân bình dẫn tới các công
đức). 7) Phi tam ma ế đa địa. 8) Hữu
tâm địa. 9) Vô tâm địa. 10) Văn
sở thành địa. 11) Tư sở thành
địa. 12) Tu sở thành địa. 13) Thanh Văn
địa. 14) Độc giác địa. 15) Bồ
tát địa. 16) Hữu dư y địa. 17) Vô
dư y địa.
(36)Thập địa:
1) Hoan hỷ địa. 2) Ly cấu địa. 3) Phát
quang địa. 4) Diêm tuệ địa. 5) Nan
thắng địa. 6) Hiện tiền địa. 7)
Viễn hành địa. 8) Bất động
địa. 9) Thiện Tuệ địa. 10) Pháp
vân địa. Đây là thập địa
thuộc Đại thừa. Mười bậc này
đều gọi là “địa”, vì chúng
thâu tóm các công đức hữu vi
và vô vi dùng làm tự tính, cùng
làm chỗ nương tựa chắc chắn hơn
cả cho sự tu hành, và hay sinh trưởng, cho
nên gọi là “địa”.
(37)Ôn đà
nam, có chỗ còn phiên âm là Ưu
đà na (Udàna): Trung Hoa dịch nghĩa là
“tự thuyết”: không có ai hỏi, tự
mình thuyết ra.
(38)3 lượng trong
Duy Thức học: 1) Hiện lượng: lường
biết cảnh hiện tại, như thấy vật trong
gương. 2) Tỷ lượng: biết do sự so
sánh phân biệt, như thấy khói biết
có lửa. 3) Phi lượng: tâm nghịch
loạn, phân biệt lầm sự vật, tức
là không phải hiện lượng và tỷ
lượng.
(39)Đẳng trì
(Samàdhi): Biệt danh của định. Tâm
trụ vào một cảnh và giữ
được sự quân bình.
(40)Đẳng chí
(Samàpatti): Thân tâm bình đẳng
(quân bình) an hòa, dẫn đến quả
vị bình đẳng.
(41)Bốn tĩnh
lự: tức 4 thiền.
(42)Tám giải
thoát: 1) Trong thân có tham tưởng về
sắc, quán ngoại sắc là bất tịnh,
được giải thoát. 2) Trong tâm tuy
không có tham tưởng về sắc, nhưng
vẫn quán ngoại sắc là bất tịnh cho
thêm kiên cố, được giải thoát.
3) Trừ bất tịnh tướng chuyên quán
về tịnh sắc, được giải thoát. 4)
Quán về Không vô biên xứ,
được giải thoát. 5) Quán về
Thức vô biên xứ, được giải
thoát. 6) Quán về Vô sở hữu xứ,
được giải thoát. 7) Quán về Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, được
giải thoát. 8) Diệt thụ, tưởng
định, được giải thoát.
(43)5 hiện kiến:
Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến
thủ, giới cấm thủ. Thêm tham, sân, si,
mạn, vô minh và nghi là mười kiến.
(44)Tám thắng
xứ: Phát khởi tri kiến thù thắng
để xả những sự tham ái trong thiền
định. 1) Đạo chưa tăng trưởng, bên
trong khởi tham tưởng sắc, bên ngoài
quán sắc ít đi. 2) Đạo dần
thuần thục, bên trong tưởng sắc, quán
sắc bên ngoài nhiều không ngại. 3)
Đạo dần thắng diệu, bên trong không
tưởng sắc, quán sắc bên ngoài
ít đi. 4) Đạo đã thắng diệu,
bên trong không tưởng sắc, bên ngoài
quán sắc nhiều, không phương ngại. 5)
Quán sắc xanh, chuyển biến tự tại,
không khởi pháp chấp. 7) Quán sắc
đỏ, chuyển biến tự tại... 8) Quán
sắc trắng, chuyển biến tự tại...
(45)Mười biến
xứ: Tổng hợp vạn hữu làm một
đối tượng để quán tưởng.
Phương pháp này có 10 thứ như quán:
đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng,
đỏ, trắng, không và thức.
(46)Tứ cú
phân biệt: 1) Hữu nhi phi không: có mà
chẳng phải không. 2) Không nhi phi hữu:
không mà chẳng phải có. 3) Diệc hữu
diệc không: cũng có cũng không. 4) Phi
hữu phi không: chẳng phải có, chẳng
phải không.
(47)Bốn điên
đảo: Bốn thứ vọng kiến điên
đảo, chia làm hai loại: 1) Trong sinh tử:
vô thường, vô lạc, vô ngã, vô
tịnh lại chấp là thường, lạc,
ngã, tịnh. 2) Trong niết bàn: là
thường, lạc, ngã, tịnh lại cho là
vô thường, vô lạc, vô ngã, vô
tịnh.
(48)Ba tuệ: Tức văn tuệ, tư
tuệ, tu tuệ.
(49)Bốn Gia hành vị: Sau sự tu
tập về Thập hồi hướng, nguyện tu
thêm 4 tầm tư quán, 4 như thực quán
sẽ chứng được quả vị của 4
thiện căn là: noãn, đỉnh, nhẫn
và thế đệ nhất. 4 tầm tư quán:
đối với các pháp có 4 loại: danh,
nghĩa, tự tính và sai biệt. “Danh”
cái tên về sắc, thụ... của sự
vật. “Nghĩa” y vào cái tên ấy
mà thuyên giải ra cái “thể” về
sắc, thụ... của sự vật. ‘Tự
tính”: tự thể tính của sắc,
thụ... “Sai biệt”: các chủng loại
sai biệt trong thể của chúng. Hành giả
quán 4 pháp này, tự trong tâm mình
biến hiện các pháp như huyễn, hư
giả, phải tìm cầu, suy xét chúng
là giả có thực không, gọi là
“4 tầm tư quán”. Dùng 4 pháp
quán này làm nhân, mà phát sinh ra
trí quyết định ấn khả. Không
những, hiểu biết như thực về sở
thủ, sở duyên của danh, nghĩa, tự
tính, sai biệt của sự vật là tự
tâm biến hiện ra giả có không thực.
Và, còn biết rõ cả cái năng thủ,
năng duyên của 4 pháp ấy, cũng là
giả có, thực không, đó là “4
như thực quán”. Song, 4 tầm tư quán
và 4 như thực quán là chỗ sở
phát của quán pháp. Còn nói về
chỗ năng phát của thiền định
thì: 1) minh đắc định. 2) minh tăng
định. 3) ấn thuận định. 4) vô
gián định. Do đó tăng thêm công
đức vào chỗ chứng đắc của 4
pháp, tức 4 thiện căn: noãn, đỉnh,
nhẫn và thế đệ nhất.