
Dòng sông quê ngoại
Chân Y Nghiêm
Hoàng hôn trên sông thật đẹp. Mặt trời như một khối lửa đỏ
nằm dưới lòng sông, tỏa những tia nắng màu hỏa hoàng lấp
lánh trên mặt nước. Sóng gợn nhấp nhô theo từng cơn gió,
mang hơi mát lùa vào da thịt khiến Linh cảm thấy khoan khoái
dễ chịu. Anh ngồi dưới gốc cây dừa, đưa mắt nhìn về cuối
trời, vài dợn mây tím lảng bảng trong sắc mây vàng, bao phủ
dãy núi nhấp nhô, mờ ảo trong khói lam chiều. Anh nhắm mắt
lại, theo dõi hơi thở, để tâm hồn thật tĩnh lặng. Tiếng chim
gọi đàn về tổ, tiếng gió thì thào trên ngọn cây hòa với
tiếng sóng vỗ về bờ sông, tạo nên âm thanh quen thuộc của
thời thơ ấu. Những hình ảnh dĩ vãng đã vùi sâu kín nay lại
hiện về.
Linh không có cha, anh cũng không nhớ rõ khuôn mặt mẹ. Linh
và em gái, hai anh em sinh đôi, được bà ngoại nuôi từ lúc
mới chập chững biết đi.
Nạn nhân Chiến tranh
Bà ngoại chỉ có mình Liên là con, dù nghèo bà vẫn ráng nuôi
cho Liên ăn học. Bà không muốn con gái mù chữ, dốt nát như
bà. Dốt nát thì khổ lắm, dễ bị người ta bắt nạt và xí gạt.
Chồng bà vì không biết chữ nên đã bị ông Chánh Tổng ép ký
tên vào tờ giấy nhận tội, những sự việc mà ông không hay
biết. Sau đó ông bị bắt, bị tra tấn tàn nhẫn. Còn bà thì bị
đưa về nhà ông Chánh, ông dụ bà nếu nhận lời làm hầu thiếp
thì chồng bà sẽ được tha, nếu không thì ông sẽ bị đày ra Côn
Đảo vì tội chống Pháp.
Bà rất đau lòng, vì thương chồng, nên bà đành cắn răng cam
chịu. Khi chồng bà được thả về, ông quá uất hận nên đã tham
gia kháng chiến chống Pháp, còn bà thì dẫn Liên bỏ trốn vào
Nam, xuống miền Đồng Tháp, tá túc nơi nhà người chị họ. Bà
đã đi làm thuê, gánh mướn, buôn thúng bán bưng để nuôi con
gái ăn học.
Liên thông minh, học giỏi và hát hay, được thầy cô, bạn bè
yêu mến. Nhìn con gái lớn nhanh, xinh xắn, giỏi dang, bà rất
vui và thương yêu con hết mực. Liên là đứa con có hiếu,
ngoài giờ đi học, nàng thường phụ mẹ nấu cơm, dọn dẹp cửa
nhà, vớt bèo, nấu cám cho heo ăn. Hai mẹ con sống thương yêu
hạnh phúc.
Bỗng dưng đất bằng nổi sóng, quân giải phóng có mặt khắp nơi
các vùng quê hẻo lánh, chiến tranh liên tục xảy ra, cảnh bắn
giết, chết chóc thê thảm trên quê hương, gây tang tóc, thống
khổ cho đồng bào. Đoàn quân đánh thuê da trắng, da đen xuất
hiện trên khắp miền đồng bằng Nam Bộ, đi xục xạo tìm, bắt bớ
trai tráng, thiếu nữ trong Làng mà họ nghi là Việt Cộng.
Liên bị bắt mang về đồn, trước sắc đẹp của nàng, tên sĩ quan
viễn chinh đã không kiềm chế được sự thèm khát, cưỡng bức
nàng rồi ép nàng làm vợ. Liên đành chấp thuận để mẹ già được
yên ổn và lấy tin tức cho tổ chức Cách Mạng. Sau hai năm
chung sống, nàng có được hai đứa con sinh đôi: Linh và Lan.
Viên sĩ quan về nước, Liên gửi hai đứa trẻ cho mẹ già nuôi
rồi rút vào bưng hoạt động. Nàng đi từ đó, biệt tăm tin tức.
Bà ngoại tuổi già, còng lưng nuôi hai đứa cháu nhỏ. Sáng sớm,
bà phải ra bờ sông vớt bèo cho heo ăn, chiều chiều bà phải
đi mò cua bắt ốc, đem ra chợ bán, đổi lấy gạo nuôi hai cháu.
Khi Linh được mưới tuổi, cùng em Lan theo bà ra sông hốt bèo,
mò cua bắt ốc
Bà rất thương hai cháu, mỗi lần đi chợ, bà không quên mua
cho hai cháu vài tấm bánh. Linh thích nhất là chiếc bánh đa
có mè đen, ăn vừa bùi, mằn mặn, lại có thêm miếng cùi dừa
trắng nữa, nhai thật kỹ, nó tiết ra trong miệng vị ngọt và
béo.
Linh cũng thích kẹo kéo, dẻo dai, kéo dài như chiếc đũa, ăn
vào, thấy vị ngọt lịm trong cổ họng. Linh có tính tham ăn,
thường dành với em, bà hay cốc nhẹ trên đầu “Cha bố mày. Cái
thằng da trắng mắt xanh, cái giống tham ăn, mày ăn một nửa
thôi, còn để dành cho em chứ.
Linh giận bỏ ra vườn, Lan lẽo đẽo theo sau, năn nỉ:
“Anh ăn nốt phần của Lan đi, anh đừng bỏ em một mình, con Bé
nó hay bắt nạt em lắm.
Linh đắc ý cười, cầm miếng bánh bỏ vào miệng, vừa nhai vừa
nói:
“Đứa nào dám bắt nạt em, anh sẽ bẻ cổ nó gãy chết tươi.
Có lần Linh bẻ trộm xoài nhà hàng xóm, bị người ta rượt chạy.
Linh vấp vào tảng đá, nứt đầu, phải nằm nhà thương. Bà phải
vay công mượn nợ để chạy chữa cho Linh. Nhìn bà vất vả vì
mình, Linh ăn năn hối hận. Nó rất nhớ em, hỏi bà:
- Bà ơi, mai bà dẫn bé Lan vào chơi với con đi. Con nhớ nó
lắm.
- Bà gửi nó về Saigon nhờ dì Út chăm sóc dùm. Bao giờ con
khoẻ, bà sẽ đón nó về.
Khi Linh rời nhà thương thì bà ngã bịnh. Bà kiệt sức, lao
phổi. Bác sĩ nói bệnh bà đến thời kỳ thứ ba rồi, khó chữa
lắm. Bà nhờ hàng xóm đánh điện tín gọi dì Út về. Dì Út về
với bé Lan, bệnh tình bà rất nặng. Lan ngồi suốt ngày bên
cạnh bà, bóp chân tay, Linh thì quạt cho bà, còn dì Út thì
lo thuốc thang, lau chùi tắm rửa cho bà. Tất cả chăm sóc bà
tận tụy, không muốn cho bà đi.
Nhưng, hai ngày sau bà vẫn ra đi, bỏ lại cho dì Út hai đứa
trẻ mồ côi. Sau khi chôn cất bà, dì Út mang hai anh em Linh
về Saigon. Nhà dì chật hẹp, chỉ có hai căn phòng, phía trước
là phòng khách, phía sau là phòng ngủ. Lan ngủ chung với dì,
còn Linh thì nằm tạm ngoài phòng khách.
Thân phận mồ côi
Một tuần sau dì Út dẫn Linh đến chơi nhà nguời bạn dạy cùng
trường với dì. Dì bảo: Linh ở lại đây, cô chú Tuấn sẽ nhận
Linh làm con nuôi, thay bà ngoại và dì nuôi Linh ăn học.
Linh rất buồn, nhưng không dám cãi lời, nó hiểu thân phận nó
từ đây phải biết cúi đầu chấp nhận.
Mẹ nuôi của Linh là cô giáo, bà nói năng dịu dàng, luôn quan
tâm đến Linh. Bà dẫn Linh đi may sắm quần áo mới, mời thầy
giáo về dạy nó học anh văn và học đàn. Chiều chủ nhật cô dẫn
Linh đi chơi Đầm Sen hoặc Sở Thú và những thắng cảnh đẹp ở
Sài gòn. Rồi cả hai ông bà chở Linh đi làm thủ tục nhận con
nuôi. Vài tháng sau, ba nuôi chở nó đến cơ quan xuất cảnh
làm giấy tờ đi Mỹ.
Trước khi đi phỏng vấn, ba dặn nó phải trả lời những điều mà
trước kia nó chưa từng biết. Tuy nhiên, nó biết thân phận
mình, nên phải vâng lời nguời đã cưu mang nó. Nó từ giã quê
hương vào buổi sáng sớm, không được gặp mặt dì và Lan lần
cuối.
Đến nước Mỹ, sau hơn tháng làm thủ tục giấy tờ, nó được hội
Từ Thiện Tin Lành cho nhập học nội trú. Trường cách xa nhà
ba mẹ nó khoảng 100km. Mỗi cuối tuần, ba đều đón nó về thăm
nhà. Bữa cơm gia đình thật ấm cúng. Nó thích món canh chua
và tôm rang tiêu. Mẹ biết Linh thích hai món này, nên mỗi
khi Linh về, bà đều làm cho nó ăn. Nhưng đã hơn một tháng
nay, Linh không thấy ba đón, cũng chẳng có tin tức gì từ nhà.
Nó gọi điện thoại liên tục, nhưng không có người nhấc máy.
Bà Hiệu Trưởng có trực tiếp liên hệ thì được biết cả nhà đã
dọn đi nơi khác, không để lại địa chỉ.
Đầu óc nó nặng trĩu nỗi buồn, nó chẳng còn thiết ăn uống và
học hành. Những câu hỏi, suy nghĩ miên man về bố mẹ nuôi, về
dì Út, em Lan làm tâm hồn nó mệt mỏi. Nó hay tìm chỗ vắng
ngồi một mình.
Tư Què đến ngồi bên cạnh nó từ lâu, nắm tay nó, yên lặng như
chia sẻ nỗi khổ đau của nó. Nỗi tủi thân và niềm xúc cảm
dâng cao, nó bật khóc rưng rức.
Anh làm sao vậy, kể cho em nghe đi, may ra em có thể giúp
anh vơi nỗi buồn.
Linh cảm thấy tâm hồn dịu lại. Nó kể cho Tư nghe về nỗi sợ
hãi bơ vơ của nó. Nó không có người thân ngoài bố mẹ nuôi,
nay hai người cũng bỏ rơi nó.
- Còn có em bên cạnh anh, em thương anh như anh ruột của em
mà. Em có ba mẹ nuôi. Hàng tuần, ba em vẫn đón em về thăm mẹ.
Mẹ em hiền lắm, thứ bảy này, em sẽ xin ba đón anh về thăm mẹ,
chắc mẹ sẽ thương anh lắm. Nhưng mà bây giờ anh phải chịu
khó ăn ngủ, lấy lại sức. Lúc này trông anh gầy rạc, bơ phờ.
Rồi Tư kéo Linh đứng dậy, đi vào phòng ăn. Nó bới cơm, ép
cho Linh ăn. Nhìn mọi người ăn ngon lành, Linh cũng ráng ăn.
Nét mặt vui vẻ của Tư giúp nó quên đi nỗi tủi buồn.
Tư thấy quí mến và gần gũi với Linh hơn. Hai đứa trẻ thường
tâm sự với nhau bao nỗi buồn vui. Sau khi nghe Linh kể về kỷ
niệm nơi quê nhà của anh em nó, Tư ngậm ngùi nói với Linh:
- Anh còn được may mắn hơn em nhiều vì có bà. Còn cuộc đời
em rách nát tả tơi lắm. Em không có bố, chỉ có một người mẹ
gầy yếu bệnh hoạn. Em theo mẹ đi ăn xin từ lúc còn nằm ngửa
trên tay. Theo đoàn người di tản, mẹ con em về Sài gòn ở
dưới gầm cầu Công Lý. Khi em lên năm, mẹ bắt em đi xin ăn
một mình. Đi xin một mình thì dễ hơn, được nhiều người cho
hơn, vì người ta thấy em tóc xoăn, đen đủi, xấu xí nên dễ
thương hại. Mẹ em là người đàn bà lười biếng, không biết lo
xa. Có được bao nhiêu tiền, bà đem đi chơi số đề, đánh bài
hoặc ăn tiêu phung phí, bà không biết để dành dụm làm vốn,
kiếm cái nghề đàng hoàng sinh sống như mẹ con cái Lành. Mẹ
nó đã để dành được một số vốn rồi hai mẹ con đi bán vé số,
chẳng bao lâu nhà có đủ bát ăn, cái Lành còn được đi học lớp
Tình Thương do nhà chùa tổ chức nữa.
Mẹ hay lê la đến các xóm ăn chơi, bài bạc, lại có chút nhan
sắc, nên có một tay trùm anh chị vùng đó thương, nhận làm vợ
chồng. Hắn sống bằng nghề bóc lột miếng cơm của người khác.
Những gia đình từ vùng Kinh Tế Mới vì đói khổ quá nên tìm về
Saigon, không nơi ở, đến sống dưới gầm cầu hay xó chợ. Hắn
bắt mỗi ngày phải nộp thuế cho hắn. Nếu ai không chịu, hắn
dùng bạo lực đuổi họ đi khỏi.
Từ lúc mẹ em kết duyên với hắn, đời em đã khốn nạn, nay còn
tồi tệ hơn. Hắn bắt em đi xin ăn suốt ngày, mỗi ngày phải
đưa cho hắn đủ số tiền qui định. Bữa nào em bịnh, không xin
đủ, hắn đánh đập em, rồi bắt nhịn đói. Mẹ em xót ruột can
ngăn, hắn đánh luôn cả mẹ. Có lần em trốn, bị hắn bắt được,
đánh cho em một trận nên thân, bẻ què chân em rồi khóa lại
bằng dây xích, mỗi ngày chỉ cho em một bát cơm và một chút
muối, cấm mẹ em không được lai vãng tới. Mẹ thấy em đi tiểu
và tiêu tại chỗ dơ dáy, nên lừa lúc hắn đi nhậu, đến thay
quần áo và chùi cho em, còn mua cho em tô hủ tiếu. Hắn về,
thấy em đang ăn. Hắn giật cái tô ném vào mặt em, may mà em
tránh được. Hắn túm lấy mẹ, đánh túi bụi. Em vùng chạy ra
ngoài, vừa lúc đó thì Công An khu vực đi tới, mời hắn về
Phường, nhốt một đêm rồi bắt làm giấy cam kết từ nay không
được đánh vợ con. Nếu hắn còn vi phạm, sẽ bị bắt đi học cải
tạo.
Từ ngày em có cái chân què thì xin được nhiều hơn, hắn cũng
bớt hành hạ mẹ con em. Rồi bỗng dưng hắn tử tế với mẹ con em
kỳ lạ. Hắn không bắt em đi ăn xin nữa, may quần áo mới cho
mẹ và em, dẫn cả nhà đi ăn tiệm, đi xem phim, đi chơi xem
các thắng cảnh... Hắn nói bây giờ hắn bắt đầu tu rồi, hắn
muốn cho em được học hành tử tế, không muốn em mù chữ như
hắn, dễ bị người ta bắt nạt và khinh dể. Rồi một hôm hắn chở
em đến nhà người lạ. Hắn nói đây là anh của hắn, em ở đây,
làm con nuôi ông bà này, em sẽ được chăm sóc và được đi học.
Bước vào căn nhà sang trọng, em gặp người đàn ông khoảng 50
tuổi, da đen bóng, có ria mép, mắt luôn nhin lấm lét như sợ
có người rình mò. Chủ nhà dắt hắn vào phòng trong, nói nhỏ:
- Thằng nhóc này vừa đen đủi, vừa tàn tật, xấu xi. Tao trả
cho mày một ngàn (1.000usd), mày chịu chưa ?
Tiếng hắn năn nỉ:
Xin đại ca cho đàn em thêm chút nữa, coi nó xấu vậy, nhưng
nó lại là nồi cơm chính của gia đình em, nay bán nó cho đại
ca giá rẻ vầy tụi em không đủ vốn làm ăn.
- Chú mày tham lam quá. Ta trả cho như vậy là hời lắm rồi.
Đi về liệu tìm cái nghề lương thiện mà sống. Cớm mà biết chú
mày mua bán, nghiện xì ke, thêm một cái tội hành hạ, bẻ chân
con nít, bắt nó đi ăn xin để lấy tiền hút sách, thì đi cải
tạo mút mùa, mất cả chì lẫn chài đấy chú em !
Hắn lủi thủi ra về, quên cả chào hay dặn dò em lần cuối.
Người đàn ông bước ra, vỗ vai em, nói:
- Từ nay con ở đây với bố, bố mẹ sẽ nuôi con ăn học đàng
hoàng, để bố dẫn con vào gặp mẹ.
Em riu ríu bước theo người đàn ông xa lạ, đi qua hai căn
phòng, em thấy người đàn bà gầy yếu có nước da xanh xao, hai
chân bị tê liệt ngồi trên chiếc xe lăn. Ông ta dẫn em đến
gần bà, bảo em:
- Con khoanh tay chào mẹ đi.
Em lúng túng khoanh hai tay cúi đầu chào, miệng lí nhí không
thành tiếng. Bà ta có đôi mắt hiền nhưng buồn bã. Bà ta kéo
tay em lại gần bà, dịu dàng nói:
- Từ nay con là con của bố mẹ. Bố mẹ sẽ chăm sóc con và nuôi
con ăn học. Con phải biết vâng lời, không được cãi và làm
trái ý bố. Bố tốt nhưng cũng nóng tính và nghiêm khắc. Bố
giận, đánh phạt con, mẹ cũng đành chịu.
Em hiểu đó là lời đe dọa mở đầu. Biết thân phận mình, em hết
sức vâng lời, ngoan ngoãn. Đúng như lời mẹ nuôi nói, em được
nuôi nấng đàng hoàng, được ăn uống ngon lành, được may quần
áo đẹp và được thầy giáo dậy anh văn đến tận nhà dậy học. Em
không được bước chân ra khỏi cửa. Thỉnh thoảng ông Hoàng,
tên bố nuôi, chở em đến cơ quan làm giấy nhận em làm con
nuôi, ông bảo em nói rằng em không biết mặt mẹ, em đã sống
với bố mẹ nuôi từ nhỏ. Sau đó, ông chở em đến cơ quan làm
thủ tục đi Mỹ.
Ông Hoàng kín đáo và nghiêm khắc, em sợ không dám hỏi ông
tại sao lại phải khai như vậy. Còn mẹ nuôi em thường im
lặng. Bà ở trong căn phòng suốt ngày với em. Mọi chuyện đi
chợ, nấu ăn do chị Lan thu vén. Thỉnh thoảng ông Hoàng mới
về dùng cơm với mẹ và em
Một buổi tối, ông Hoàng ngồi ăn cơm chung, vui vẻ báo tin:
- Mẹ con bà chuẩn bị quần áo, thứ năm này cả nhà đi Mỹ.
Em vui và ngạc nhiên nhưng không dám hỏi, chỉ biết riu ríu
vâng lời. Ông dẫn em đi mua sắm thêm một ít quần áo mới và
đồ lạnh. Em muốn xin ông Hoàng cho em được gặp mẹ để từ giã,
nhưng nhìn nét mặt nghiêm khắc của ông, em không dám mở lời.
Nét mặt lấm lét của em đã khiến ông Hoàng cẩn thận hơn. Ông
khóa cửa hai lần và dặn chị Lan khi ông đi vắng, không đuợc
mở cửa, dù đó là người quen.
Tới nước Mỹ, mọi người được đưa vào khu cư xá tập trung để
làm thủ tục giấy tờ, rồi sau đó ba em có người bà con bảo
lãnh đưa về ở khu vực Cali, đông đúc người Việt. Do yêu cầu
của Hội Từ Thiện Tin Lành, em được vào học nội trú miễn phí
tại ngôi trường dành cho trẻ mồ côi.
Gặp anh, em mừng lắm. Trong thời gian học tại đây, em thường
bị mọi người bắt nạt vì thân phận xấu xí, què quặt của em.
Chỉ có anh là người bênh vực, giúp đỡ em mà thôi. Tuần tới,
ba đón em về, em sẽ xin ba cho anh cùng về thăm mẹ.
Tai bay vạ gió
Một tháng hai lần, ông Hoàng đều đến đón Tư về nhà chơi với
mẹ nuôi nó. Lần này, ông đón thêm Linh về. Bà Hoàng rất vui
vì thấy Linh mặt mũi sáng sủa, nhanh nhẹn. Bà quí mến chăm
sóc Linh như con ruột. Còn ông Hoàng thì tỏ ra chăm sóc Linh
đặc biệt, vì ông thấy có thể nhờ cậy Linh được trong việc
làm ăn của ông.
Thấm thoắt đến mùa hè, ông cho hai đứa trẻ đi du lịch Hồng
Kông và Việt Nam. Hai đứa đều rất thích.
Đến Hồng Kông, chúng nó được ở khách sạn sang trọng, ông dẫn
chúng đi thăm thắng cảnh, đi ăn ở nhà hàng nổi tiếng.
Ông Hoàng giao thiệp rộng, có nhiều bạn bè giầu có, địa vị
cao trong xã hội. Linh thầm nể phục ông và mừng cho Tư có
được người cha nuôi tốt bụng. Bạn bè tặng ông nhiều quà, ông
để vào trong vali của Linh nhiều gói rất đẹp, bảo nó mang về
tặng cho bạn cũ và thầy cô giáo.
Sau một tuần ở Hồng Kông, ông cho hai đứa về Việt Nam, thăm
gia đình. Phút chót vì bận công việc, ông để hai đứa đi
trước, dặn dò sẽ có người chị họ ra đón chúng tại phi trường.
Chị sẽ mặc áo màu đỏ, tóc dài, chúng sẽ theo chị về nhà, ông
sẽ đến sau.
Sau một năm xa quê hương, hôm nay hai đứa đuợc trở lại quê
nhà trong bộ quân áo sang trọng, mặt mũi trắng trẻo, đẹp đẽ
hơn xưa. Linh miên man nghĩ đến những đứa bạn ở nhà quê,
chắc tụi nó sẽ không nhận ra Linh, sẽ nhìn Linh khâm phục,
không còn dám khinh thường cái thằng Mỹ lai, bắt nạt Linh
như hồi trước. Linh thấy trong lòng trào dâng một niềm
thương, Linh không còn giận hờn, muốn đánh nhau với các bạn
như ngày xưa nữa. Linh mang về cho các bạn nhiều đồ chơi mà
hồi xưa tụi nó chưa bao giờ từng thấy. Chắc tụi nó sẽ vui
lắm.
Linh đang suy nghĩ miên man thì tiếng cô tiếp viên báo máy
bay đang đáp xuống Phi Trường Tân Sơn Nhất. Trái tim Linh
đập rộn rã. Linh phải xách thêm cho Tư vì chân Tư què, không
mang nhiều hành lý được.
Bước chân vào phi trường, Linh gặp lại những hình ảnh quen
thuộc, đầu tiên là các nhân viên hải quan, rồi đến các anh
công an. Linh vẫn có cảm tình với các anh công an, vì có lần
Linh chứng kiến một anh công an đường phố, chạy đuổi theo
tên cướp giật giây chuyền của một phụ nữ đi đường. Từ đó,
Linh mơ ước sau này lớn lên, Linh sẽ theo ngành công an để
bảo vệ an ninh cho dân chúng. Qua cổng xét hành lý, chú sĩ
quan Hải Quân hỏi:
- Jean Hoàng huy Linh, những va li này của cháu ?
- Dạ, thưa chú đúng ạ.
Anh nhìn nó, khẽ hỏi:
- Cháu đi với ai ?
Linh chỉ sang Tư, lễ pháp thưa
Cháu đi với em cháu.
Nhin hành lý bị lục tung, để lộ những gói quà ông Hoàng gói
rất đẹp bỏ vào vali, nó lễ phép thưa:
Thưa vali của cháu, những gói quà này chú Hoàng nhờ cháu
mang về biếu thầy cô giáo cũ.
Thế chú cháu đâu ?
- Chú cháu đi chuyến máy bay sau, dặn cháu đến phi trường sẽ
có cô cháu mặc áo dài đỏ ra đón hai anh em cháu.
Hai chú Hải Quan nhìn Linh đăm chiêu, họ không thể tin đựơc
một đứa bé trông ngây thơ, khôi ngô như vậy lại có thể mang
những mặt hàng phạm pháp nghiêm trọng.
Hai đứa bị Công An Hải Quan đưa vào phòng kín điều tra.
Chúng nó phải trả lời những câu hỏi chưa từng bao giờ nghĩ
đến. Linh bị kết tội mang thuốc phiện, thứ hàng quốc cấm độc
hại. Sau hơn tháng điều tra, không tìm ra tung tích ông
Hòang, họ trả hai đứa trẻ về cho nước Mỹ quản lý, vì lý do
chúng quá nhỏ, luật pháp không thể kết án tuổi dưới vị thành
niên.
Về Mỹ, Linh bị đưa vào Trung Tâm Cải Huấn thiếu nhi phạm
pháp, còn Tư thì được đưa về trường Từ Thiện nội trú.
Linh sống buồn thảm trong trại cải huấn. Cuối tuần, nhìn các
trẻ khác được cha mẹ hoặc bạn bè tới thăm nuôi có nhiều quà
bánh, nó thấy tủi thân. Hơn ba năm rồi, không được ai thăm
nom, cũng không có tin tức gì của người thân, nó trở nên bất
cần. Nó nhìn mọi người bằng con mắt thù ghét, ghê tởm. Con
người là một giống tàn ác nhất trên trái đất này. Họ đã nhân
danh chủ nghĩa để tàn hại chém giết nhau, gây ra chiến tranh
thảm khốc trên quê hương nó, gây ra bao thảm cảnh đau thương
cùng cực, hậu quả đến giờ này vẫn còn đầy rẫy, tạo ra bao
nhiêu đứa trẻ con lai côi cút. Sự có mặt của chúng nó đã một
thời là vết nhơ cho xã hội, là nỗi tủi nhục cho tổ tiên,
dòng giống. Chúng nó bị gạt sang bên lề cuộc sống, đi lượm
từng miếng cơm rơi, bị hất hủi, khinh bỉ.
Rồi sau đó, lại chính chúng nó, được người có tiền bạc, thế
lực đi tìm các nơi hang cùng ngõ hẻm, gầm cầu, góc chợ mua
về, cho ăn mặc lành lặn, được nhận làm con một cách cưng
chiều.
Người ta đã lợi dụng cái thân phận bất hạnh, khốn cùng của
chúng với mục đích ăn theo sang được nước Mỹ, một đất nước
mà mọi người ước mơ như Thiên Đàng. Đến được nước Chúa rồi,
người ta quên mất lời cam kết với chánh quyền Việt Mỹ là
phải yêu thương, xử sự công bằng với chúng. Cái bộ mặt đạo
đức rơi mất, để lộ chân tướng con người bất nhân đểu giả,
lừa gạt cả đứa con nít.
Nó oán hận ba nó, người đàn ông đầy tham dục, đã tạo ra nó
một cách vô trách nhiệm. Nó oán hận cả mẹ nó, tại sao lúc đó
mẹ không hủy hoại nó ngay khi còn trong bụng, sinh ra nó làm
chi để rồi bỏ rơi nó. Nó oán hận dì Út, đã quá tin bạn, họ
lợi dụng thân phận bất hạnh mỹ lai của nó, để được sang Mỹ.
Khi đạt mục đích rồi thì vứt bỏ nó như cái dẻ chùi chân. Nó
oán hận ông Hoàng, con người khôn khéo, đạo đức giả, lợi
dụng sự ngây thơ của nó làm việc độc ác, trút lên đầu nó nỗi
oan ức tủi nhục. Nó muốn gào thét, đạp đổ cả cuộc đời. Nó
trở nên lì lợm, phá phách khiến ban quản trại phát mệt vì nó.
Nó tự tử, nhưng người ta đã cứu nó kịp thời. Lúc được cứu
sống, nó nghĩ đến Lan và bà, nó ôm mặt khóc rưng rức.
Giọt nước cành dương
Lan được dì Út mang lên Saigon nuôi cho ăn học. Dì Út là cô
giáo dạy văn, dáng thanh tú, đôi mắt ẩn chứa nỗi buồn. Dì ít
nói, ít giao thiệp bạn bè. Ngoài giờ dạy học dì thường ở nhà
chăm sóc Lan, trồng cây cảnh, chấm bài hoặc tụng kinh. Bên
cạnh bàn thờ Phật, Lan thấy hình ông ngoại, bà ngoại và một
sĩ quan còn trẻ, mặt khôi ngô tuấn tú. Sau giờ tụng kinh,
Lan thấy dì đứng đăm đăm nhìn tấm hình chú sĩ quan đó, có
hôm dì khóc. Lan rất thương dì, nó đến ôm lấy dì rồi kéo tay
dì, nhõng nhẽo:
- Dì dẫn con ra vươn chơi đi, ngoài vườn có nắng và hoa đẹp
lắm.
Dì Út rất thương bé Lan, nó xinh xắn, thông minh, ngoan hiền.
Liên, mẹ của Lan và Linh, là bạn thân với dì hồi còn đi học.
Mẹ Út chết vì đạp phải mìn khi nàng mới có 5 tuổi. Ba nàng
lấy vợ kế để trông nom nàng, bà vợ kế này cũng có con riêng,
hai mẹ con bà thường bênh nhau, ăn hiếp Út.
Những lúc buồn tủi, Út thường sang nhà Liên chơi. Mẹ Liên
hiền, vui vẻ. Bà thương Út như con gái, có món gì ngon bà
cũng dể dành cho Út. Mỗi lần đi chợ, bà đều mua quà cho Liên
và Út. Từ ngày Liên bỏ đi, Út thường chăm sóc bà hơn. Những
tháng nghỉ hè, Út hay về quê sống với bà. Út chăm lo vườn
cây, đàn gà, cho heo ăn, tắm rửa, dạy dỗ hai đứa trẻ như con
ruột của nàng.
Bây giờ Út thay bà ngoại nuôi và dạy dỗ Lan. Dì rất ân hận
khi Lan hỏi về anh Linh của nó. Dạo đó, dì đã quá tin người
bạn gái, hứa sẽ lo giấy tờ cho Linh đi Mỹ, sẽ cho Linh về
thăm dì và em nó thường xuyên. Nhưng sau đó, cô ta nghe
chồng, đã tìm cách nói quanh nói quẩn rằng không nên để Linh
gặp trực tiếp dì, biết đường sẽ trốn mất, sẽ bị bọn buôn
người bắt cóc. Họ có cho xem những tấm hình Linh được ngồi
học bên cạnh Thầy giáo, khi Linh đi chơi với bố mẹ nuôi
trong bộ quần áo đẹp, khi đi ăn nhà hàng, đi chơi picnic
ngoài trời. Mới có 5 tháng sống với bố mẹ nuôi mà Linh mập
hẳn ra. Điều đó làm dì yên tâm.
Nhưng từ dạo đó đến nay, dì không có tin tức gì về Linh, mặc
dù hai dì cháu đã sống trên đất Mỹ gần năm năm rồi. Dì hay
dẫn Lan đi tham dự những Trung Tâm tu học cộng đồng của
người Việt, hy vọng những nơi đó, dì sẽ tìm ra được tin tức
của Linh.
Lan được tham dự những khóa tu thiền, được nghe Sư Ông giảng
về hạnh phúc bình an trong cuộc sống, về lý tưởng người xuất
gia là tu tập chánh niệm, để đạt được sự vững chãi, thảnh
thơi rồi giúp cho nhiều người chuyển hóa được nỗi khổ niềm
đau của họ. Mỗi vị xuất gia là một vị bồ tát giúp đời.
Người xuất gia có tự do, không bị ràng buộc bởi vợ chồng,
con cái. Trái tim người xuất gia rộng lớn, có thể ôm ấp được
nỗi khổ đau của nhiều người, giúp được nhiều cho các trẻ mồ
côi, cụ già cô đơn, người tàn tật và bao nhiêu những người
bất hạnh khác.
Lan ngồi nghe mà nước mắt tuôn trào. Em nghĩ đến thân phận
anh em nó và bao nhiêu trẻ mồ côi khác trong thời chiến
tranh. Em băn khoăn không biết giờ nay Linh phiêu bạt nơi
nào, có được đi học không hay là đang sống lê lết với mấy
trẻ bụi đời bất hạnh. Trái tim bé nhỏ trào dâng tình thương
yêu, Lan muốn làm người xuất gia, mang hạnh nguyện Bồ Tát
cứu giúp những trẻ em có hoàn cảnh bất hạnh như anh em nó.
Em muốn đi theo Sư Ông, tổ chức những khóa tu ở khắp các
nước trên thế giới, giúp mọi người và cũng là tìm anh Linh.
Lan xin phép dì cho nó được xuất gia, dì chấp thuận. Lan
viết thư trình Sư Ông, nói rõ tâm nguyện của nó. Lan được Sư
Ông và Tăng Thân chấp nhận cho tập sự xuất gia.
Bây giờ thì Lan đã đạt ý nguyện. Trong buổi xuất gia trang
trọng ở Trung Tâm tu Thiền Phật Giáo, Lan được Sư Ông thế
phát cùng với 10 vị khác, pháp danh của Lan là Hiền Nghiêm.
Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Hiền Nghiêm siêng năng tu tập,
chỉ trong vòng có hai năm thôi mà cô đã học thuộc lòng các
kinh điển, thời khóa. Cô thỉnh chuông và tụng kinh rất hay.
Cô giữ gìn giới luật uy nghi nghiêm túc, nét mặt hiền hậu,
hồn nhiên khiến ai cũng yêu quí cô.
Sư Ông và Tăng Thân hay cho cô tham dự các khóa tu trên khắp
nước Mỹ.
Trong chuyến Sư Ông thuyết giảng tại Trung Tâm Cải Huấn
Thiếu Nhi Phạm Pháp, Hiền Nghiêm đã tìm thấy Linh.
Hai anh em đã ôm nhau khóc. Linh kể cho Hiền Nghiêm nghe nỗi
oan ức tầy trời của nó, nỗi căm giận con người, nhưng mỗi
khi nghĩ đến Lan, Linh thấy dịu lại, Linh cố gắng sống đàng
hoàng để mong được ân xá sớm trở về tìm em.
Hiền Nghiêm ngồi lắng nghe anh kể. Em thấy xót xa thương anh
vô cùng, cô xiết chặt tay anh, dịu dàng nói:
Em và dì Út đi khắp nơi, đăng báo tìm anh, nhưng vẫn biệt vô
âm tín. Dì đã dẫn em đi dự các trung Tâm tu Học người Việt
để tìm anh. Nhờ vậy mà em được gặp Sư Ông và Tăng Thân, được
nghe chánh pháp, em mới hiểu ra rằng: Chính trong nỗi khổ
đau, con người mới tìm ra được hạnh phúc chân thật, mới mở
rộng trái tim để cảm thông nỗi bất hạnh của tha nhân mà phát
tâm giúp đỡ.
Những lời pháp thoại của Sư Ông như dòng sữa ngọt, như giọt
nước cành dương đã làm ấm lại trái tim em, cho em niềm tin
vào cuộc sống. Em phát nguyện xuất gia để sống cuộc đời có
ích lợi cho nhiều người, để bù đắp lại những nỗi cơ cực cho
những trẻ em bất hạnh như anh em mình phải gánh chịu trong
thời chiến tranh, hậu quả đến hôm nay vẫn còn đầy rẫy.
Em rất vui mừng gặp lại anh, em mong anh quên hết những hờn
giận, coi đó như tội lỗi từ quá khứ xa xưa mà đến nay mình
phải trả. Anh nhớ quán chiếu những lời Sư Ông dạy trong buổi
pháp thoại sáng nay và đọc kỹ quyển sách này rồi thực tập
theo, anh sẽ tìm lại sự bình an, niềm tin và tình thương yêu
nơi mọi người. Anh cố gắng sống hòa hợp, giúp đỡ mọi người,
chấp hành nội qui Trung Tâm nghiêm túc, em sẽ xin Sư Ông bảo
lãnh cho anh về sớm. Bây giờ đã đến lúc mình phải chia tay,
anh nhớ giữ gìn thân tâm, anh nhé.
Linh ôm chặt em gái trong lòng, nước mắt anh ràn rụa, giọt
nước mắt của tình thương yêu mà đã lâu lắm rồi, hôm nay Linh
mới có được.
Linh đã đọc đi đọc lại quyển sách Trái Tim Mặt Trời mà Lan
cho. Từng dòng chữ như những giọt sương mai làm tâm hồn anh
mát dịu. Luồng ánh sáng tâm linh đã soi chiếu vào trí óc đầy
hờn tủi, căm ghét của anh. Hình ảnh từ bi của Sư Ông và Tăng
Đoàn đã giúp cho anh lấy lại niềm tin. Tình yêu thương của
Lan là nhựa sống giúp anh vơi bớt niềm đau về sự giả trá của
con người. Dòng sinh khí bắt đâu tuôn chảy trong anh, anh tự
hứa từ hôm nay sẽ làm lại cuộc đời mới.
Linh sống vui vẻ với mọi người, thực hành đúng thời khóa của
trường, chăm chỉ học hành và làm việc. Anh thực tập giữ
chánh niệm trong sinh hoạt, giữ gìn lời ăn tiếng nói, cử chỉ
bông đùa. Anh thường đi thiền hành ngoài vườn khi có giờ
nghỉ. Bước chân tĩnh lặng đã giúp cho tâm anh tìm lại bình
an, tiếp xúc được với từng bông hoa nhỏ trên cỏ xanh non,
tiếng chim hót líu lo trên cành, vầng mây trắng lang thang
trên bầu trời xanh biếc. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ và
buổi sáng thức dậy anh cố gắng thực tập ngồi im lặng theo
dõi hơi thở. Thời gian đầu, những hình ảnh dĩ vãng buồn cứ
hiện về tâm trí anh, khiến anh thấy bất an, bấn loạn. Anh
nhớ lại lời dậy của Sư Ông:
“Khi con thấy tâm hành khổ đau hiện lên, con đừng bạo động
xua đuổi nó, con hãy dịu dàng mỉm cười, vỗ về nó:
“Ta biết em đang khổ đau, em đang tủi hờn, rồi con vẫn tiếp
tục theo dõi hơi thở.
Thở vào tôi biết em đang buồn, thở ra tôi biết em đang
khổ... cứ như vậy con tiếp tục thở, những tâm hành buồn sẽ
tự nó biến mất để thay thế vào những tâm hành khác, buồn
hoặc vui. Với những tâm hành khác con vẫn tiếp tục theo dõi
hơi thở như vậy, từ từ rồi con sẽ chỉ còn thấy hơi thở vào
ra với tâm an lạc.
Muốn đạt đến tâm an lạc con cần phải thực tập thiền tọa sáng
sớm và tối thật đều. Ngoài ra, trong sinh hoạt hàng ngày con
vẫn luôn theo dõi hơi thở, ngay cả trong lúc quét nhà, rửa
chén, chùi cầu tiêu...
Khi con theo dõi hơi thở, con ý thức được việc con đang làm,
điều con đang nói, ý nghĩ tốt hay xấu đang hiện lên trong
trí con, con sẽ làm cẩn thận hơn, con sẽ nói những lời áí
ngữ hơn và con ngưng ngay được những ý nghĩ không tốt đang
nhen nhúm trong đầu. Theo dõi hơi thở chánh niệm là chiếc áo
giáp bảo vệ sự bình an cho thân và tâm con, là vòng tay mẹ
hiền ấp ủ con tránh khỏi cơn tủi hờn, giận dữ thiêu đốt trái
tim con, giúp con tiếp xúc được với thực tại mầu nhiệm.
Mỗi buổi sáng, nhìn về phương Đông, con thấy mặt trời đỏ au
đang tỏa chiếu muôn ngàn tia nắng ấm trên cỏ cây, mang sự
sống cho muôn loài. Nhìn ra bốn bên, con thấy đồng cỏ xanh
tươi với những bông hoa vàng đỏ tím đang cười khoe sắc thắm.
Nhìn vào trong trường, con thấy các bạn đang cùng con chung
sống như một đại gia đình, các thầy cô giáo hết lòng chăm
sóc từng bữa cơm cũng như sự học hành cho các con. Nhìn thật
sâu, con thấy mình vẫn còn nhiều may mắn hơn các trẻ em khác
ở các nước Á, Phi đang bị chiến tranh, thiên tai, nghèo đói
đe dọa sự sống hàng ngày.
Tuổi các con như những cây măng đang vươn sức sống giữa bầu
trời xanh, đang trổ những thân cây to khỏe, những tàn lá
xanh tươi làm bóng mát cho mọi người. Các con phải cám ơn sự
khổ đau, nhờ nó mà các con biết thao thức về cuộc đời, biết
cảm thông với những nỗi đau của người khác. Các con hãy vượt
lên để sống một cuộc đời có ý nghĩa, giúp cho mọi người tỉnh
thức, đừng gây ra những lầm lỗi để làm khổ lẫn nhau. Ngay từ
bây giờ, các con hãy cố gắng thực tập sống có chánh niệm
bằng cách theo dõi hơi thở, dừng lại mọi ý nghĩ bất thiện để
tránh gây thêm sự phiền muộn cho thân và tâm.”
Những lời dịu dàng đầy tình thương của Sư Ông như một đòn
bẩy bật tung Linh ra khỏi cơn mê. Anh kiên nhẫn thực tập
theo lời chỉ dậy, từ từ anh tìm lại sự quân bình cho tâm.
Anh nhìn cuộc đời bằng con mắt hy vọng và niềm tin trong
tương lai. Anh trở thành một học sinh tích cực, đóng góp
được những công sức đáng kể cho các em thiếu niên còn bướng
bỉnh.
Theo lời thỉnh cầu của sư cô Hiền Nghiêm, Sư Ông gửi một văn
bản đến Trung Tâm Cải Huấn Thiếu Nhi phạm pháp Hoa Kỳ để bảo
lãnh xin cho Linh về.
Ban Giám Hiệu xét hạnh kiểm của Linh, thấy có tiến bộ rõ rệt
nên đồng ý cho em xuất trại.
Sau năm năm mất tự do, hôm nay Linh như con chim xổ lồng,
trở lại núi đồi xanh tươi với đại gia đình tâm linh, có em
gái anh trong đó. Anh được các Thầy, các Sư chú đón nhận
bằng tấm lòng thương yêu chân thật.
Những bài pháp thoại của Sư Ông đã giúp cho anh hiểu ra rằng
chỉ có sự hiểu biết mới có được tình thương yêu trong sáng,
không vướng mắc, mới mở rộng trái tim để tha thứ và chấp
nhận mọi người. Anh hết lòng thực tập phương pháp thiền an
trú trong hiện tại. Anh đã tiếp xúc được với thực tại mầu
nhiệm trong từng mỗi bước chân thiền hành, với thiên nhiên,
cây cỏ. Anh đã có cái nhìn thoáng rộng hơn, anh có cơ hội
tiếp xúc với nhiều thiền sinh về Làng thực tập pháp môn
Thiền Chánh Niệm. Qua họ, anh thấy hạnh phúc không thể chỉ
xây dựng đơn thuần được bằng yếu tố vật chất, mà còn bằng sự
biết dừng lại để tiếp xúc với giây phút hiện tại, mở rộng
lòng ra để hiểu những khó khăn của người thân, để quan tâm,
giúp đỡ họ một cách chân thành. Hạnh phúc chân thật không
thể tồn tại lâu dài nếu ta sống bằng tâm vị kỷ, cố chấp. Bởi
vị kỷ, cố chấp là nguyên nhân chính của vô minh. Do vô minh,
ta đã gây ra bao lầm lỗi, làm khổ đau cho mọi người.
Linh được biết anh chị Tú Anh, cả hai đều là bác sĩ, đã từ
chối cuộc sống tiện nghi ở Thành Phố, dấn thân trong đoàn
Thiện Nguyện Không Biên Giới, đi tới các nước Á Phi kém mở
mang, đang bị khủng hoảng về chiến tranh và kinh tế, để giúp
những gia đình và trẻ em bất hạnh, đói cơm, đói học hành và
cả tình thương. Nhũng người tham gia trong phái đoàn này chỉ
nhận thù lao hàng tháng đủ chi phí cá nhân, họ tới tận nơi
những vùng đang có thiên tai hoặc chiến tranh để cứu giúp
cấp thời các nạn nhân đang bị kẹt trong tình trạng cực kỳ
khốn khó. Anh cho biết nhiều thành viên đã chán nản bởi vì
những nạn nhân này họ không ý thức được lòng tốt của phái
đoàn, thiếu lòng biết ơn, còn mang tâm nghi kỵ là đoàn người
này đến để truyền giáo, hoặc dò thám tin tức. Họ luôn sống
trong sợ hãi, ích kỷ và căm thù. Đã có vài Thiện Nguyện viên
bị họ hãm hại. Bác si Tú Anh nói rằng nếu không được trang
bị bằng giáo lý Hiểu biết và Thương yêu thì khó lòng theo
đuổi con đường này lắm. Vì vậy hai vợ chồng bác sĩ và một số
thành viên Thiện Nguyện cứ vài tháng lại về Làng dự khóa Tu
để có thêm năng lượng. Linh cảm thấy kính phục những con
người có trái tim lớn và dũng cảm, quên đi hạnh phúc nhỏ bé
của bản thân để phụng sự cái hạnh phúc lớn cho nhiều người.
Tăng Thân Làng Mai đã giúp cho hàng triệu người chuyển hóa
được khổ đau, có được cuộc sống hạnh phúc cho gia đình và
mọi người chung quanh. Còn phái đoàn Thiện Nguyện đang dấn
thân hàn gắn những đổ vỡ, đau khổ cho nhiều người đang bị
kẹt trong tình trạng tuyệt vọng, Linh thấy trái tim anh bừng
lên một ý chí, một tình thương cao rộng. Anh muốn sống cuộc
đời vị tha, có ích cho nhiều người.
Anh mang những ý nghĩ này chia sẻ với em gái, Hiền Nghiêm
khuyên anh nên xuất gia. Là tu sĩ, anh có thể giúp cho nhiều
người hơn về vấn đề tinh thần, chuyển hoá khổ đau, sống và
hành trì theo năm giới. Thế giới nhờ vậy mà bớt đi lòng căm
thù, bạo động tàn sát lẫn nhau.
Dòng sông quê ngoại
Sau ba năm tu học tinh cần, sư chú Pháp Tánh đã theo Sư Ông
và Tăng Thân đi tổ chức khóa tu nhiều nước trên thế giới.
Tăng Đoàn đã giúp cho hàng triệu người biết nhận diện sự
sống sâu sắc đang có mặt bên cạnh những người thân yêu, biết
dừng lại tham đắm, quay trở về với bản tâm trong sáng, hạnh
phúc chân thật trong nếp sống hành trì năm giới. Sư chú thấy
mình như lột xác từ khi được Sư Ông xuống tóc trong buổi lễ
Xuất Gia. Sư chú tìm lại mái ấm gia đình mà suốt quãng đời
thơ ấu chú không có được. Sư Ông vừa là người cha tinh thần
khả kính vừa là người mẹ hiền chăm sóc đàn con với tấm lòng
từ bi vô lượng của Người. Sư chú học được từ Người tình
thương yêu cao cả, tấm lòng bao dung và đức tu miên mật. Sư
chú cũng học được từ Tăng Thân tinh thần sống lục hòa, khéo
léo trong lúc nói năng cũng như khi hành xử.
Chỉ còn hai ngày nữa là sư chú sẽ được dự giới đàn Tỳ Kheo,
đúng vào ngày bà Ngoại trút hơi thở cuối cùng trong nỗi đau
tột cùng của anh em chú.
Mười năm mất bà, mười năm xa khung trời quê ngoại, cuộc sống
trôi nhanh như dòng sông. Nhìn thủy triều dâng, cuồn cuộn
trôi cuốn theo vài đám lục bình, Linh thấy dòng sông phút
này không phải là dòng sông phút trước, và chính thân tâm
anh cũng thay đổi không ngừng. Sự sinh diệt đang diễn tiến
trong anh từng sát na, thay đổi con người anh từ ấu thơ trở
thành trai tráng, tâm tư anh từ thô lậu trở thành bồ đề kiên
cố.
Mặt trời mới đỏ rực rỡ bây giờ đã đổi sang màu tím nhạt,
trên cao, vầng trăng non lơ lửng treo trên đỉnh đồi. Nhìn
ánh trăng vàng đang nhảy nhót trên từng đợt sóng, sư chú
thấy hình ảnh tuổi thơ với em Lan và bà đang vớt bèo trên
sông quê nhà bừng sống dậy. Cậu bé mười tuổi ngây thơ và em
Lan bé bỏng năm xưa hôm nay còn đây, nhưng bà và dòng sông
thì ngàn trùng ly biệt. Nỗi thương cảm dâng trào, sư chú
thấy cay cay nơi mắt, nhưng hơi thở chánh niệm đã mang sư
chú về thực tại. Chú nhìn sâu vào vầng trăng đang tỏa ngời
trên khắp cỏ cây, long lanh trên mặt nước, chú thấy mặt
trăng, con sông, bà và anh em chú là một dòng sinh mệnh liên
tục. Dòng sông quê ngoại đang ở đây, bà vẫn đang còn đó, đám
lục bình vẫn đang ẩn hiện nhấp nhô theo từng đợt sóng, bà
cũng đang ẩn hiện trong từng đợt sóng tử sinh. Bà đang hiện
hữu trong từng tế bào của sư chú và sư cô Hiền Nghiêm, đang
thở từng hơi thở chánh niệm, đã cùng bước thiền hành vững
chãi, cùng ngồi thiền tọa, tụng kinh trong Phật đường vào
những buổi công phu với chú và Hiền Nghiêm. Bà đang cùng tu,
cùng sống những giây phút nhiệm màu với hai cháu, đang hưởng
hạnh phúc an lạc trong khung cảnh thiền môn. Trên trán bà
không còn in hằn những vết nhăn đau thương quá khứ. Bà đang
là bé Lan, là sư cô Hiền Nghiêm. Bà trẻ mãi không già.
Tiếng chuông nhà thờ rền vang, cắt đứt dòng suy tư của chú,
nhắc sư chú tới giờ về. Chú phủi áo đứng lên, nhìn dòng sông
lần cuối, thầm nói:
« Bà ơi, ngày giỗ bà sáng mai, bà về dự lễ thọ Tỳ Kheo với
cháu, bà mãi mãi ở trong các cháu. Như dòng sông không ngừng
chảy ra biển, bà vẫn còn đó, bà trẻ mãi không già.
Tháng 5-2000.
Chùa Từ Nghiêm, (New Hamlet)