ĐỐI
DIỆN VỚI NGHỊCH CẢNH & KHỔ ĐAU
Bài viết cho Khóa tu Phật Thất tại Chùa Hoằng
Pháp, Hóc Môn
(từ ngày16 đến 23/07/2006)
Tỳ kheo Thích Quang Thạnh
Source : Đạo Phật Ngày nay

A.
DẪN NHẬP
Trong thực tế hiện nay, con người càng tiếp
cận với làn sóng phát triển tột đỉnh của nền văn minh khoa học
kỹ thuật hiện đại, sự đ̣i hỏi
về trí thức và nhu cầu sống của họ ngày
càng trở nên gia tăng. Chính v́ vậy, họ luôn phải
đấu tranh và đối diện với nhiều t́nh
huống khó khăn trong cuộc sống hầu t́m cho ḿnh
một vị trí xứng đáng trong xă hội. V́ sự
mong cầu danh lợi, địa vị, vật chất,
tiền tài, và nhiều thứ mong muốn khác trong cuộc
sống hiện đại; con người dần dần
đă trởû thành tay sai cho sự tham lam, sân hận, và si
mê. Càng chạy theo vật chất, con người càng
bị suy thoái về tư tưởng, phong cách và
đạo đức. Cùng quan điểm này, ngài P.A.
Payutto, một học giả nổi tiếng, đă than
phiền rằng sự phát minh khoa học kỹ thuật
như những công cụ để mưu cầu mục
đích khát vọng hơn là sự phát triển nội tâm
con người, và rằng con người ở thế
kỷ 20 gây ra nhiều hành vi nguy hại làm ảnh
hưởng đến bản chất con người
của thế kỷ 21 sẽ phải đối phó.
Từ sự khủûng hoảng về đạo
đức, nó đưa đến những sự
khủng hoảng trầm trọng khác như: sự
khủng bố và bạo động; chứng bệnh nan y
HIV/AIDS; bệnh đồng tính luyến ái; sự hờ
hững về nhân quyền và các loài sinh vật; … Tất
cả đều xuất phát từ ba phiền năo tham sân si
của con người. Mặc dù họ có thể chiến
thắng và chinh phục thiên nhiên bằng tất cả
những loại phát minh khoa học tiên tiến, nhưng
vẫn bị khuất phục và trói buột trước
sự đau khổ về những nghịch cảnh sanh-
già- bệnh và chết; trừ khi họ biết tôn
trọng và duy tŕ sự tu tập đạo đức và
nội tâm.
Trước những t́nh huống hiện nay, làm thế nào
để đối phó với cái gọi là sự tiến
bộ văn minh vật chất đang tấn công con
người từ nhiều phương diện khác nhau? Làm
thế nào để vượt qua những nghịch
cảnh và đau khổ mà con người đang bị
bế tắc? Đề tài “Đối Diện với
Nghịch Cảnh và Khổ Đau” sẽ mở ra một
chân trời mới giúp con người vượt qua
những nghịch cảnh và giải thoát mọi khổ
đau.
B.
NỘI DUNG
C.
I. Ư nghĩa “nghịch cảnh và khổ đau”
Thông thường danh từ “nghịch cảnh”
được hiểu với nghĩa tiếng Anh là ‘cái ngược lại, điều
ngược lại’ (inverse); hoặc với nghĩa là
‘nghịch cảnh, hoàn cảnh không may, điều bất
lợi’ (adversity). Nói chung, “nghịch cảnh”
được
hiểu một cách b́nh thường là những hoàn cảnh
không thuận lợi, hay là sự cản trở những
mong muốn về nhu cầu sống của con
người về vật chất cũng như tinh
thần. Thuật ngữ Đạo Phật gọi là
nghịch duyên. Có nghĩa là những cảnh duyên làm cản
trở con đường tu tập giải thoát giác
ngộ của hành giả về thân và tâm.
Danh từ “khổ đau” được dịch theo
nghĩa tiếng Anh “suferring” với nghĩa là sự đau đớn hay sự đau
khổ về thể xác và tâm trí. Thuật ngữ
Đạo Phật gọi là Dukkha, Trung hoa dịch là Khổ. Có nghĩa là
trạng thái khổ năo, bức bách về thân và tâm của
con người.
II. Những nghịch cảnh và khổ đau ở
đời
a. Những nghịch cảnh ở đời
Trong cuộc đời, con người khi đốùi
diện với cuộc sống, không ai không một lần
trăi qua những hoàn cảnh bức bách, éo le mà cuộc
đời ban tặng. Mỗi người đều có
mỗi nghịch cảnh khác nhau tùy theo t́nh huống, sự
việc, và thời gian mà họ phải đối
diện. V́ đó là bản chất của cuộc
đời, nó luôn mang đến cho con người
những cảnh trái ư nghịch ḷng, những chướng
tai gai mắt, những t́nh huống ngặt nghèo trong
mối quan hệ giữa người với người,
giữa người với xă hội, với công việc
và với thời gian… Quan điểm này sẽ
được minh chứng qua một vài đối
tượng tiêu biểu trong cuộc sống xă hội
như sau:
v
Đối với người già
yếu: Họ luôn gặp những khó khăn về
nhiều phương diện khác nhau trong
sinh hoạt và nếp sống hằng ngày của họ
như: việc ăn uống, đi đứng, làm
việc, sức khỏe, bệnh tật, giăm trí nhớ…
Tất cả mọi sinh hoạt đều bị trở
ngại và trở nên khó khăn hơn v́ sự già nua về
thân thể và lăo hóa về tinh thần.
v
Đối với giới
trẻ: Hầu hết những giới trẻ ít gặp
những khó khăn như trên ở độ tuổi của người lớn, nhưng họ luôn
gặp những khó khăn khác qua nhiều phương
diện. Chẳng hạn như:
- Trong học tập: Với trẻ em dưới tuổi
trưởng thành, các em luôn phải đối phó việc học quá nhiều (cả sáng lẫn
tối), sự nhồi nhét kiến thức trong nhà
trường quá tải đè nặng trên đôi vai của
trẻ em đưa đến sự căng thẳng
đầu óc và mệt mơi thân thể, đặc biệt là
căng thẳng về mặt tâm lư khi các em thiếu sự
thư giăn và vui chơi giải trí. Với độ
tuổi trưởng thành, đặc biệt ở cấp
bậc Trung học và Đại học, họ bắt đầu
có nhiều ước mơ và hoài băo cho chính ḿnh trong
tương lai. Điều khó khăn của họ
trước hết là sự bối rối về tâm trí khi
muốn định hướng cho tương lai của
ḿnh và khi bắt đầu bướùc vào ngưỡng
cửa t́nh yêu; sự lo lắng về việc chuyển
biến cơ thể về mặt tâm sinh lư; sự ṭ ṃ và
khám phá những điều thú vị trong cuộc
đời;… Tất cả sẽ là những dấu
hiệu trở ngại và khó khăn cho những học
sinh, sinh viên đang học tập ở độ tuổi
trưởng thành nếu không có sự hướng dẫn
một cách chuẩn mực và tâm lư từ những bậc
đi trước.
- Trong công việc và xă hội: V́ mục đích đạt
được địa vị, vật chất, uy
quyền và thế lực, con người luôn phải
uyển chuyển và đối đầu trước
mọi t́nh huống khó khăn đầy trở
ngại như: sự thù nghịch, sự ganh tị,
ấu đả, hăm hại, lừa đảo và sự
tranh đấu với nhau hầu đạt
được mục đích cá nhân của ḿnh trong công
việïc và xăø hội. Với đối tượng công
chức, họ luôn phải đương đầu
với nhữơng khó khăn thử thách như: phải
cư xử hài ḥa với các bạn đồng nghiệp
(cho dù đối tượng ḿnh không ưa thích) để
tránh t́nh trạng ganh ghét, thù nghịch và hăm hại nhau;
phải tranh thủ lấy ḷng với “xếp” của ḿnh
để t́m thế đứng cho bản thân trong cơ
quan, công ty, hoặc xí nghiệp… cho dù có những chuyện
bất lợi hoặc không hài ḷng vẫn phải cố
nén;… Với người kinh doanh, họ luôn có suy nghĩ làm
sao để chiếm lănh được thị
trường bằng bất cứ giá nào. V́ vậy, tư
tưởng của họ luôn phải nghĩ đến
sự cạnh tranh, bất chấp mọi thủ
đoạn và sẵn sàng đánh ngă mọi đối
tượng để giành lấy địa vị, uy
quyền, thế lực, và để phát triển công
việc kinh doanh của ḿnh. Và c̣n nhiều đối
tượng khác cần tham khảo và t́m hiểu.
Nói tóm lại, bất cứ con người nào, đối
tượng nào, dù già hay trẻ cũng phải đối
diện với những khó khăn và trở ngại khi
sống trong biển đời mênh mông vô tận với
những cơn sóng đầy bạo lực và phức
tạp. Nếu con người không đủ niềm tin và
nghị lực, không đủ trí tuệ và ḷng can
đảm th́ chắc hẳn rất khó có cơ hội
để chinh phục được những ngọn sóng
cao dữ tợn và vượt khỏi biển đời
đen tối ấy.
b. Những khổ đau ở đời
Khi nói đến khổ đau, không bút nào nào có thể
diễn tả hết được về nỗi khổ
mà con người luôn phải
đối diện trong cuộc đời với những
t́nh huống khác nhau. Song sự thật về nỗi
khổ của con người trong cuộc đời này
được đức Phật giăi bày một cách
tường tận, sâu sắc qua 3 loại khổ
(tổng quát) và 8 loại khổ (chi tiết) như sau:
v
Ba khổ: đó là khổ khổ, hành
khổ, và hoại khổ
-
Khổ khổ: Tức là cái khổ này
chồng chất lên cái khổ kia. Bản thân sinh ra chịu
nhiều sự khổ về thân, mà c̣n chịu đựng
những nghịch cảnh chung quanh đè nặng lên cái
khổ khác.
-
Hành khổ: Là sự khổ về vật
chất lẫn tinh thần Về tinh thần, tâm tư
không được yên ổn và tự do, luôn bị dục
vọng và các phiền năo tham - sân-si chi phối, lôi kéo và thúc
đẩy trong từng sát na. Về vật chất, ta luôn
bị ngoại cảnh, thời gian chi phối không một
phút nào yên tĩnh.
-
Hoại khổ: Là khổ v́ bất lực
trước sự tàn phá của búa thời gian luôn phá
hủy tất cả sự hiện hữu của vạn
vật trong cuộc đời, kể cả sự
hiện hữu của bản thân ḿnh.
v
Bát khổ: là tám loại khổ của con
người về vật chất lẫn tinh thần.
-
Sanh khổ: Nói đến sự nỗi
khổ của con người đang sinh sống cả
trong lúc sanh và trong đời sống.
-
Lăo khổ: Là sự đau khổ v́ già nua,
lăo hóa.
-
Bệnh khổ: Sự khổ v́ những
đau đớn của bệnh tật.
-
Tử khổ: Sự khổ v́ đau
đớn về thể xác và hốt hoăng về tinh
thần trước cái chết.
-
Aùi biệt ly khổ: sự khổ đau
v́ cảnh sanh ly tử biệt.
-
Cầu bất đắc khổ: Sự
khổ v́ thất vọng về công danh, phú qúyvà t́nh duyên.
-
Oán tắng hội khổ: Sự khó
chịu và khổ sở v́ phải sốùng chung với
người ḿnh không ưa thích.
-
Ngũ ấm xí thạnh khổ: sự
đau đớn và khổ sở khi bị dày ṿ v́ sự
xung đột, mâu thuẫn của thân ngũ ấm
(sắc-thọ-tưởng-hành-thức).
Nh́n chung, sở dĩ con người luôn bị chi phối
bởi 3 loại khổ đau và 8 loại đau khổ
như trên là do chúng ta chứa đựng quá nhiều
những dục vọng và phiền năo trong thâm tâm. Nếu
tâm con người được gạn lọc tất
cả những thứ rác rưỡi ấy, tâm trở nên
thanh tịnh, trí tuệ phát sáng th́ làm ǵ c̣n cảm giác
đau khổ nữa. Giống như bầu trời luôn
trong xanh nếu như mây đen đă bị xua tan hoàn toàn,
như mặt gương luôn chiếu sáng khi bụi
trần đă được tẩy sạch.
III. Hóa giải
nghịch cảnh và khổ đau qua tu tập Tam Vô Lậu
Học
Là người đệ tử Phật khi đối
diện với những nghịch cảnh và khổ đau
trong cuộc đời, chúng ta
phải làm ǵ? Đây là câu hỏi rất thật tiễn và
thú vị cần phải bàn luận.
Như trên đề cập rơ nét về những nghịch
cảnh và khổ đau ở đời mà con người
phải đối diện, đó là bản chất
thật sự về cuộc đời. Đó là lư do
tại sao con người cho rằng cuộc đời là
bể khổ, là phức tạp, luôn mang lại nhiều
nghịch cảnh, chông gai, sóng gió, … khi họ mưu cầu
cuộc sống và sự thành đạt trong cuộc
đời. Từ đó, họ cảm thấy chán năn,
căng thẳng và bối rối về mặt tinh
thần; và mệt mơi, kiệt sức về mặt thể
chất khi đi trên đoạn đường dài của
cuộc sống. Theo quan điểm của đạo
Phật, cuộc đời vốn dĩ là khách quan vô
tư (không khổ, không vui), là một vườn hoa xinh
đẹp để mọi người thưởng
thức, là công viên xanh mát để mọi người
nghỉ chân và tận hưởng phong cảnh. Nhưng
bản chất của chúng luôn bị biến dịch theo
quy luật của cuộc sống qua 4 tướng:
thành-trụ-hoại-không; hoặc
sanh-trụ-dị-diệt; hay sanh-lăo-bệnh-tử mà
cuộc đời ban tặng. Chúng luôn dựa theo lư
Nhơn Duyên mà sanh khởi và hoại diệt. Nếu con
người chúng ta muốn thể nhập vào ḍng sống
của cuộc đời, muốn tận hưởng
vẽ đẹp của vườn hoa hay muốn
thưởng thức không khí trong lành nơi công viên…, mà không
có ư thức liễu ngộ về bản chất của nó
là giả tạm, vô thường, vô ngă và khổ đau… th́
ắt hẵn chúng ta luôn bị đau khổ v́ sự
biến hoại đổi thay của chúng, buồn
phiền và chán năn v́ những nghịch cảnh éo le cuộc
đời.
Vậy muốn chinh phục những nghịch cảnh và
đau khổ ở đời, chúng ta phải làm ǵ?
Điều trước nhất, đức Phật
dạy chúng ta phải biết tu tập Tam Vô Lậu
Học (Giới-Định-Huệ)ä hay nói cách khác là Bát
Chánh Đạo để để diệt trừ
Tham-Sân-Si. V́ sao? V́ nhờ sự tu tập
Giới-Định-Huệ, những phiền năo tham-sân-si
đă tận diệt, thân tâm trở nên thuần tịnh và
lắng động. Lúc đó, khi đối diện
những nghịch cảnh và khổ đau trong cuộc
sống, chúng ta mới có thể thấu triệt rơ ràng
những nguyên nhân ǵ đưa đếùn nghịch
cảnh, đau khổ cho con người? và nó xuất phát
từ đâu? Từ đó, chúng ta mới dễ dàng
vượt qua mọi nghịch cảnh và khổ đau
của cuộc đời.
Tam Vô Lậu Học là ba nhân
tố hỗ tương qua lại và phát triển về
việc tu tập đạo đức. Hay nói cách khác, Giới (Sila) đề
cập về sự tu tập đạo đức liên
quan đến sự chuyển hóa ư thức và tự
nguyện về những khuôn phép hành vi cư xử
thuộc về thân và lời nói. Định (Samadhi) nói
đến sự phát triển về sự điềm
tĩnh của tâm linh. Tuệ (Pađđa) đề
cập về sự tu tập thắng trí đưa
đến sự hoàn thiện về đạo
đức.
V́ vậy, đức Phật đă khẳng định
trong Kinh Trường Bộ về giá trị tu tập Tam
Vô Lậu Học rằng không có
một giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc nào
khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới (Sila)
cụ túc, tâm (Citta) cụ túc và tuệ (Pađđa) cụ
túc này. Trên phương diện khác, Ngài mở rộng
sự tu tập Tam Vô Lậu thành Bát Chánh Đạo (the
Ariyan Eightfold Path (P: Ariyatthangika-magga; Skt: Arya??a?ga - marga), nó chính là con đường
Trung Đạo không chỉ tránh 2 cực đoan: (1) ép xác
khổ hạnh làm yếu đi trí tuệ của con
người và (2) say mê lạc thú làm tŕ hoăn phát triển
đạo đức, và tŕ hoăn việc ngăn cản
tham–sân-si và những phiền năo khác; mà c̣n đưa
đến sự an tịnh, thắng trí, trí tuệ, và
Niết bàn. Quan điểm này chúng ta thấy rơ khi
đức Phật dạy Bhumija rằng:
“Này Bhùmija, những Sa-môn hay
Bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định; nếu họ có ước nguyện, hành Phạm
hạnh, họ đạt được quả vị…
Đây là phương pháp, này Bhùmija, để đạt
được quả vị.”
Tương tự, Bát Chánh Đạo (the Noble Eightfold Path)
được phân loại và gộp thành ba cấp, đó
là (1) sự tu tập Giới (P: Sila, Skt: Sila) bao gồm
chánh Ngữ, chánh Nghiệp và chánh Mạng ngăn chặn
sự biểu lộ những cấu uế bên ngoài
bằng hành động có xu hướng phạm tội, và
bằng cách cư xử vi phạm những quy tắc
cuộc sống đạo đức; (2) sự tu tập
Định (Samadhi) bao gồm chánh Tinh Tấn, chánh Niệm
và chánh Định nhằm loại trừ sự bộc phát
nhanh nhẹn những cấu uế trong tiến tŕnh tư
duy của chúng ta; và (3) sự tu tập Tuệ (P:
Pađđa Skt: Prajđa) bao gồm chánh Kiến và chánh
Tư duy nhằm trừ tiệt những phiền năo ở
mức độ cơ bản nhất, như là, những
mầm móng tinh vi nằm trong thâm tâm của con người.
Điều quan trọng nhất trước khi tu tập
là hành giả cần duy tŕ tinh thần vô ngă, vô chấp,
uyển chuyển, năng động khi tu tập Tam Vô
Lậu Học, đồng thời cần thấu
triệt đúng đắn về Pháp và Luật của
đức Phật như là chiếc bè phương
tiện đưa người qua sông mê bể khổ.
Để nhấn mạnh về quan điểm này,
đức Phật tuyên bố rơ ràng trong kinh Trung Bộ
rằng: “Cũng vậy, này chư Tỳ kheo, Ta thuyết
pháp như chiếc bè để vượt đưa qua,
không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỳ
kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè… Chánh pháp c̣n bỏ
đi, huống nữa là phi pháp.” V́ vậy, trong
đề tài này, người viết sẽ không tŕnh bày chi
tiết lại về ư nghĩa Tam Vô Lậu Học
(Giới, P: Sila, Skt: Sila), (Định, Samadhi), (Tuệ, P: Pađđa;
Skt: Prajđa) theo như trong Kinh và Luật nữa, mà
chỉ tŕnh bày một khía cạnh khác theo phương
pháp và quan điểm tích cực, sáng tạo và uyển
chuyển dành cho những hành giả trẻ ngày nay.
a. Sự tu tập Giới (P: Sila , Skt: Sila)
Khi nói về Giới trong Phật giáo, nó không có nghĩa
như là những quy tắc hay những điều
luật buột con người phải tuân theo như
ở trường, cơ quan, xă hội, tổ chức,…;
và cũng không có nghĩa là sự ngăn cấm những
hành động xấu như đốn cây cối,
thực vật… Sự tuân thủ giới là nhằm vào ư
thức đạo đức cá nhân để giải thoát
khổ đau cho con người từ ba phiền năo
tham-sân-si. V́ lư do đó, đức Phật đă dùng
phương tiện thiện xảo để thiết
lập giới điều. Rơ ràng rằng sự tu tập
giới th́ không là ǵ cả, nó chỉ là những
phương tiện tạm thời để giải thoát
con người ra khỏi sự đau khổ và phiền
năo ở đời, là chiếc phao đưa người
qua bienå khổ, là chiếc cầu kết nối qua bờ
bên kia. Từ đây, chúng ta có thể khảng định
mạnh mẽ rằng sự tu tập giới sẽ không
c̣n hữu dụng nếu như con người nhổ
bật toàn bộ cội rễ phiền năo và khổ
đau trong thâm tâm
Trong thời hậu hiện đại nay, sự tu tập
giới sẽ được những hành giả Phật
giáo tuân thủ với một thái độ tích cực và
sáng tạo tùy theo những t́nh huống và thời đại
khác nhau, đặc biệt trong thiên niên kỷ thư ba này.
Một phó từ nghi vấn có lẽ được
đặt tại đây là tại sao? Như chúng ta biết,
là một con người, chúng ta dĩ nhiên được
nuôi nấng bởi hai loại thức ăn: (1) thức
ăn vật chất bao gồm gạo, sữa, rau,
đậu, ḿ, bắp… để nuôi dưỡng thân
vật chất cho chúng ta, và (2) thức ăn tinh thần
bao gồm những thú tiêu khiển của cuộc
đời như ca hát, thể thao, bơi lội, đá
banh, t́nh yêu, … để thỏa măn nhu cầu cho chúng ta
về mặt tinh thần. Điều quan trọng là khi
tiếp nhận những thức ăn đó, chúng ta có
thấu triệt được hoàn toàn về những
kết quả tốt hay xấu từ hành vi của chúng ta
hay không? Có nghĩa là chúng ta nên hiểu đúng đắn
làm thế nào để tiếp nhận hai loại thức
ăn này mà không có sự bội thực, không đưa
đến kết quả tồi tệ, và không có sự
cấu uế hay bất tịnh trong thâm tâm của ḿnh.
Giống như một người đang khát nước
trên đường đi, vị ấy t́m kiếm nước
uống, sau khi uống xong, vị ấy hết khát và
tiếp tục đi thẳng trên con đường ḿnh
đang đi mà không có sự luyến tiếc hay say
đắm v́ nước, không có sự ràng buột và
cấu uế trong thâm tâm. Bằng việc làm như
thế, vị ấy đă thực hành đúng đắn,
thích hợp và năng động. Và sự tuân thủ
giới uyển chuyển như thế được
gọi là sự tu tập Giới theo phương pháp
uyển chuyển, thích hợp và chuẩn mực.
Tương tự, đối
với giới của Tăng lữ, chúng ta sẽ t́m
hiểu thêm một vài ví dụ điển h́nh liên quan
đến giới điều mà người đệ
tử Phật cần phải tu tập với thái
độ uyển chuyển và tích cực như vài
điều luật trong 10 giớùi như: không sát sanh; không
ca múa hát xướng; không dùng giường cao tốt
đẹp và rộng lớn; không cất giữ vàng
bạc châu báu, không ăn phi thời; … Có nghĩa là làm
thế nào người đệ tử Phật xử
sự và duy tŕ những giới điều này khi một
vài sinh vật độc hại (như: muối
độc, ruồi, ḅ cạp, rắn độc…) gây ra
những bệnh truyền nhiễm, thương tích
hoặc đi đến cái chết đối với con
người (như dịch cúm gia cầm hiện nay);
hoặc khi vị ấy không có tiền để cho phí cho
các việc học hành, xe cộ, các cuộc họp
ngoại giao quốc tế, hay xây dựng chùa chiền,
tự viện, trường Phật học…; hoặc khi
vị ấy được mời tham gia trong các buổi
hội thảo quốc tế ở nước ngoài và
được bố trí ở tại khách sạn sang
trọng; hay khi những học Tăng Ni trẻ ăn
uống phi thời v́ thời khóa biểu học tập
ở các trường Đại học, học viện; …
Đ̣ là một vài ví dụ tiêu biểu đủ
để cho chúng ta hiểu rằng sự tu tập
giới điều đối với Tăng lữ ngày nay
không nên giữu một thái độ cố chấp,
bảo thủ; mà ngược lại họ cần
phải ứng dụng và thực hành sự tu tập
đó với một tinh thần uyển chuyển, đúng
đắn, sáng tạo và tích cực để thể
nhập vào những t́nh huống và hoàn cảnh mới trong
cuộc sống hiện đại. Đây chính là ư nghĩa
tích cực về sự thực hành giới luật
của Phật giáo ngày nay.
b. Sự tu
tập Định (Samàdhi)
Thuật ngữ Sanskrit and Pali ‘Samadhi’ được
bắt nguồn gốc từ ‘dha’ (nghĩa là đặt,
để) cùng với tiếp
đầøu ngữ ‘sam’ và tiểu từ nhấn mạnh
‘a’. Nó có nghĩa là ‘đặt lại với nhau’. Nghĩa bóng
của từ ‘Samadhi’ được dùng trong dùng trong Thánh
điển Pàli phật giáo với ư nghĩa là Định
hay Thiền định ‘concentration’ (or meditation).
Tương tự, Samadhi có nghĩa ‘buột vào nhau, hợp
lại hoặc kết hợp với’ Một sự
giải thích rơ ràng hơn về từ Samadhi
được bắt nguồn gốc từ dha và cùng
tiếp đầu ngữ với sam và a (sam + a + dha) do
đó mang nghĩa ‘Định’ (concentration). Nó là một
trạng thái chăm chú, b́nh tĩnh và tập trung của tâm
và định mà nó đi kèm với lối sống thiện
là điều kiện cần thiết để
đạt được trí tuệ và giải thoát. Thêm vào
đó, nhiều học gỉa khác đă đưa ra
lời giải thích về Samadhi rằng nó là sự
nhất tâm, là sự tập trung của tâm về một
đốùi tượng để loại trừ toàn
bộ tất cả những cái khác.
Theo truyền thống,
người ta có thể hiểu lời dạy của
đức Phật về Định (concentration) mà
người tu sĩ Phật giáo cần tu tập là
loại trừ năm triền cái (Skt. & Pali: Nivara?as)
trong bản thân bằng thiền định, xa rời tham
dục và từ bỏ tính khí bất thiện; vị
ấy tuần tự chứng và trú vào Sơ thiền (the
first dhyana), Nhị thiền (the second dhyana), Tam thiền (the
third dhyana), và Tứ thiền (the fourth dhyana). Tâm vị
ấy trở nên tịch tĩnh, nhất tâm. Sự chuyên
chú như thế gọi là ‘Định hoàn hảo.’
Trên thực tế, xuyên qua
những khái niệm về Định, người
đệâ tử Phật cần thấu triệt rằng sự tu tập thiền định không có
nghĩa là ngồi im bất động trong khi thiền, mà
phải được biểu lộ qua những công
việc và lối sống hàng ngày để thích nghi với
những t́nh huống xă hội hiện nay. Có nghĩa là
vị ấy tu tập thiền định bằng cách luôn
duy tŕ trạng thái chánh niệm và tỉnh giác trong khi đi,
đứng, nằm, ngồi, nói, ăn uống, ngủ
nghĩ, lái xe, học tập, tắm rữa, đọc
sách, … Nói chung, tất cả những công việc và
sự tu tập hàng ngày được dẫn dắt
bởi sự chánh niệm và tỉnh giác. Từ quan
điểm trên, chúng ta có thể suy luận rằng khi
một hành giả đang lái xe hoặc bất kỳ
loại xe tải nào, vị ấy luôn giữ chánh niệm,
tỉnh giác và luôn ư thức nghiêm chỉnh khi đang lái xe,
không có sự sao lăng và thờ ơ, không đưa
đến kết quả bất lợi, và luôn an toàn, …
việc lái xe như thế được gọi là
thiền trong khi lái xe. Cũng vậy, những công việc
sự tu tập hàng ngày khác cũng đều tương
tự. Đây chính là ư nghĩa tu tập Định của
Phật giáo mộït cách tích cực và năng độïng
trong thời hậu hiện đại.
c. Sự tu tập Tuệ (Pađđa or
Prajđa)
Thuật ngữ Prajđa(Skt.) or Pađđa (Pali)
được bắt nguồn gốc từ ‘jđa’
(sự hiểu biết) khi
tiếp đầu ngữ ‘pra’ được thêm vào
để mang ư nghĩa là ‘trí tuệ, sự hiểu
biết, sự nhận thức đúng đắn, sự
nhận ra, cách phán xét, sự thấu triệt, sựu
hiểu biết về trực giác, …’
Trong các bộ kinh thuộc
truyền thống Nikaya, chúng ta có thể nhận thấy
lời dạy của
đức Phật về Prajđa hay Pađđa (Pali)
rằng vị nào nhận biết như thật về
sự tập khởi, sự diệt trừ, vị
ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu
chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự
hiểu biết vượt ngoài những điều trên.
Mặt khác, đức Phật nhấn mạnh rằng
người đệ tử Phật không chỉ thấu
triệt hoàn toàn về nguồn gốc Duyên Khởi (Skt: Pratiya-samutpada;
Pali: Pa?icca - samuppada,
the Law of Dependent Origination) bắt nguồn từ vô minh và
tham ái, mà c̣n thấu
hiểu đúng đắn về con đường
chơn chánh đưa đến sự tận diệt hoàn
toàn các khổ uẩn bằng cách làm mất dần hoàn toàn
tham ái và đoạn diệt vô minh.
Ngày nay, bước vào thiên niên
kỷ thứ ba, người đệ tử Phật tu
tập trí tuệ bằng cách
thực hành chánh kiến và chánh tư duy. Có nghĩa rằng
vị ấy cần thấu triệt hoàn toàn lời
dạy của đức Phật bao gồm Kinh (Discourses -
Sutra), Luật (Disciplines - Vinaya) và Luận (Super Doctrine -
AbhiDhamma) để ứng dụng đúng đắn vào
sự tu tập tâm; truyền bá giáo pháp tùy theo căn
cơ tŕnh độ của con người; thấu suốt
triệt để về Lư Nhơn Quả (the theory of Cause
and Effect) đưa đến kết quả thiện ác
từ hành động, về Lư Duyên Khởi (the theory of
Dependent Origination) bắt nguồn từ vô minh và tham dục
của toàn bộ khổ uẩn, và đối với
Tứ Đế (the Four Noble Truths) cũng như Bát Chánh
Đạo (the Eightfold Path) đưa đến sự
đoạn diệt hoàn toàn các khổ uẩn,
đạt đến Niết bàn, giải thoát và giác
ngộ tối thượng. Ư nghĩa về Tuệ như
thế được gọi là sự tu tập Tuệ
vớùi nghĩa đúng đắn và thích hợp.
Nói chung, trong mối liên hệ
mật thiết về Tam Vô Lậu Học, chúng ta có
thể nhận thấy
rằng Giới - Định- Tuệ được
phối hợp chặt chẽ và tác động hỗ tương
vói nhau trên tiến tŕnh tu tập giải thoái giác ngộ.
Chính v́ vậy, đức Phật đă khẳng
định quan điểm này trong Kinh Trường Bộ:
Đây là Giới, đây là
Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn,
lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ
đưa đến quả vị lớn, lợi ích
lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa
đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc,
tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Từ ư nghĩa trên, chúng ta có
thể khẳng định mạnh mẽ rằng
Giới-Định-Tuệ được xem như
kiềng ba chân. V́ nếu thiếu một trong ba th́ nó không
thể đứng vững vàng trên mặt đất
được. Sự tu tập Tam Vô lậu cũng
vậy. Nếu sự tuân thủ Giới mà không có sự
hiện hữu của Định và Tue, nó trở thành
sự tuân thủ giới một cách cố chấp. Có
nghĩa là xuyên tạc những lời răn dạy không
chính thống. Và sự tuân thủ Định và Tuệ
cũng như vậy. Quan điểm này đă
được chuẩn y qua lời dạy đầy súc
tích của đức Phật như sau:
Giới, định và trí tuệ
– Với ai khéo tu tập,
Vị ấy vượt qua
khỏi – Thế lực của Ác ma,
Và chói sáng rực sáng – Như
mặt trời chói sáng
D.
KẾT LUẬN
E.
Qua bao nghịch cảnh và khổ đau mà con người
luôn phải đối diện trong cuộc đời
để tồn tại và phát triển, họ luôn phải
tiếp nhận những kết quả không như ư
muốn thay v́ có được một cuộc sống an
lạc và hạnh phúc cho chính ḿnh. Cái mà họ có thể
gặt hái được kết quả ấy chính là: (1)ø
nỗi ám ảnh của sự căng thẳng thần
khinh khi phải tính toán, mưu cầu và đấu tranh
giữa con người với con người, con
người với xă hội, với hoàn cảnh và
thời gian,… để tạo cho ḿnh một vị trí
xứng đáng, một uy quyền thế lực và một
cuộc sống đầy đủ vật chất trong
xă hội đầy bon chen và phức tạp; (2) sự
mệt mơi về thể xác khi phải làm việc cực
nhọc, phải giao tiếp và ứng xử khéo léo với
nhiều đối tượng trong xă hội bằng
những h́nh thức giả tạm bề ng̣ai, và phải
đối kháng với muôn ngàn sự việc khó khăn,
những bệnh tật nguy hiểm và truyền nhiễơm
khác nhau,… để tồn tại và đứng vững
trên cuộc đời này. Tất cả đều
xuất phát từ sự mưu cầu quá độ
với đầy dẫy những tính khí tham lam, sân hận
và si mê của con người khi đi vào cuộc đời.
V́ sao? V́ họ không trực nhận được bản
chất của vạn pháp là vô thường, là giả
tạm; họ luôn lầm tưởng về h́nh
tướng của các pháp trên thế gian là hiện
hữu, là thật có, là bền vững, … nên lấy
vọng làm chơn, lấy chơn làm vọng đưa
đến kết quả khổ đau cho chính ḿnh. V́
vậy, khi muốn đối diện và chinh phục
với nghịch cảnh và muốn vượt thoát mọi
khổ đau, con người cần có sự tu tập Tam
Vô Lậu để thấu triệt tường tận
(Tuệ) và ứng xử khéo léo trong những t́nh huống
khó khăn, để giữ vững tinh thần và nghị
lực (Định) vượt qua mọi phiền năo
đau khổ, và để thể nhập và duy tŕ
(Giới) cuộc sống đúng đắn, lợi ích cho
ḿnh và người. Có như thế, cho dù chúng ta đang
sống và đối diện trước những t́nh
huống khó khăn và đau khổ, chúng ta vẫn an nhiên
tự tại, hé mở hoa tâm với đầy
hương vị tinh khiết của
Giới-Định-Tuệ xóa sạch những cấu
uế và phiền năo mà cuộc đời ban tặng,
hầu tạo một cuộc sống an lạc hạnh
phúc cho chính ḿnh và tha nhơn. Thật vi diệu thay khi
thốt lên câu thơ:
Buột tâm
lấy Giới làm dây
Lắng tâm
lấy Định dựng xây đạo tràng.
Rỏ tâm
đuốc Tuệ soi đường
Tâm không
cảnh tịnh, Niết bàn an vui.
THƯ
MỤC
I.
KINH
a.
Bản Anh
Dialogues of the
Buddha,
F. Max Muller, (ed.) & T.W. Rhys Davids, (trans.), Vol. I (1995); W. &
C. A. F Rhys Davids (trans.), T. W. Rhys Davids (ed), Vol. II (1995),
The Book of the
Gradual Sayings,
F. L. Woodward (trans.), Vol. I (2000), Vol. II (2001); E. M. Hare (trans.),
Vol. III (2001), Vol. IV (1995),
The Book of the
Kindred Sayings,
Mrs. Rhys David (trans.), Vol. II (2000); F. L. Woodward (trans.), Vol. IV
(1996), V (1997),
The Large Sutra on
Perfect Wisdom,
Edward Conze (trans. & ed.),
The Middle Length
Sayings,
I.B. Horner, (trans.), Vol. I (2000); Vol. II (1997); Vol.III (1996),
The Minor
Anthologies of the Pali Canon,
F. L. Woodward (trans.), Vol. II (1996),
The Sacred of Books
of the East,
T. W. Rhys Davids & H. Oldenberg (trans.); F. Max Muller (ed.), Vol. 13,
b. Bản
Việt
Kinh
Trường Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), quyển I, TPHCM: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Kinh Tăng Chi
Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), quyển I, II, III & IV TPHCM: Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam, 1992.
Kinh Tiểu
Bộ,
Thích Minh Châu (dich), quyển I, TPHCM: Nhà
Xuất Bản TPHCM, 1999.
Kinh
Tương Ưng Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), quyển IV & V, TPHCM: Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt
Kinh Trung
Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), quyển I, II & III, TPHCM: Viện Nghiên Cứu Phật Học
Việt Nam, 1992.
II.
SÁCH
Ananda Gurage
(ed.),
Return to Righteousness,
Bapat, P.V. (ed.),
2500 Years of Buddhism,
Barua, D.K.,
An Analytical Study of Four Nikāyas,
Buddhaghosa, B.,
(author) &
Nānamoli
(trans.),
The Path of Purification,
Chopra, P.N.,
(ed.),
Contribution of Buddhism to World
Civilization and Culture,
Conze, E.,
Buddhist Thought in
Conze, E., (trans.
& ed.),
The Large Sutra on Perfect Wisdom,
DeGraff, G.,
(Thanissaro Bhikkhu),
The Wings to
Dhar, S.,
Transformation and Trend of Buddhism in
the 20th Century,
Dutt, N.,
Early Monastic Buddhism,
Fowler, M.,
Buddhism: Beliefs and Practices, Brighton & Portland:
Gallmo,
G.,
A Few Facts about Buddhism,
Gethin, R.,
The Foundation of Buddhism,
Goldstein, J.,
Insight Meditation: The Practice of
Freedom,
H.H. Dalai Lama
(au.) &
Ramanan, R.
(compiler),
The Heart of Compassion,
His Holiness The
Dalai Lama,
The Way to Freedom, Dharmshala: The Library of
Ilaiah, K.,
God as Political Philosopher: Buddha’s
Challenge to Brahminism,
Inder L. Malik,
Dalai Lamas of
Joshi, L.M., & et.al,
Buddhism,
Karunyakara, L.,
Modernisation of Buddhism: Contribution of Ambedkar and Dalai Lama XIV,
Kern, H.,
Manual of Indian Buddhism,
Kirtisinghe, B.P.,
(ed.),
Buddhism and Science,
Kyabgon, T.,
The Essence of Buddhism: An Introduction
to Its Philosophy and Practice,
Lamotte, E.
(author) &
Sara Webb-Boin
(trans.),
History of Indian Buddhism, Louvain-le-Neuve: Institute Orientaliste de
I’Universite’ Catholique de Louvain, 1988.
Lester, R.C.,
Theravada Buddhism in
Ling, T.,
Buddha, Marx, and God,
Lynn de Silva,
Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka,
Mahāthera
Nārada,
The Buddha and His Teachings,
Mittal, M.P.,
(compiled),
Buddha and Early Buddhism, Vol. 1,
Morgan, K.W.,
(ed.),
The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists,
Nārada,
The Buddha and His Teachings,
Narasu, L.,
(author) &
G. Aloysius (ed.),
Religion of the Modern Buddhist,
Narasu,
P.L.,
The Essence of
Pandita, S.U.,
(author);
U Aggacitta
(trans.) &
Wheeler, K., (ed.),
In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha,
Phra Rajavaramuni
(Payutto, P.,),
Thai Buddhism in the Buddhist
Piyadassi, M.,
The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi,
Queen, C.S.,
Engaged Buddhism in the West,
Rahula, W.,
What the Buddha Taught,
Rama, K.,
Buddhism: A World Religion,
Rinchen, G.S.,
(author) &
Sonam, R.,
(trans. & ed.),
The Six Perfections,
Roscoe, G.,
The Triple Gem: An Introduction to Buddhism,
Saddhatissa,
H.,
Buddhist Ethics,
Saddhatissa,
H.,
Buddhist Ethics,
Saint-Hilaire,
J.B.,
The Buddha and His Religion,
Sanghasen Singh,
A Study of the Sphuṭārthā
Śrīghanācārasaṅraha Ṭīkā,
Santina, P.D.,
The Tree of Enlightenment,
Singh, H., &
Joshi,
L.M.,
An Introduction to Indian Religions,
Sivaraksa, S.,
& et.al. (ed.),
Buddhist Perception for Desirable
Societies in the Future,
Tachibana, S.,
The Ethics of Buddhism,
Thích Nhất
Hạnh,
The Heart of the Buddha’s Teaching,
Thích Nhất
Hạnh,
The Heart of the Buddha’s Teaching,
Thích Thiện
Hoa,
Phật Học Phổ Thông, quyển I, Hà nội: Nhà
xuất bản Tôn Giáo, 2005.
Warder,
A.K.,
Indian Buddhism,
Williams, P.,
Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition,
III.
BÁCH KHOA & TỪ ĐIỂN
Crowther, J. (biên
tập),
Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary,
Đoàn Trung
C̣n,
Phật Học Từ Điển, quyển II, TPHCM: Nhà
xuất bản TPHCM, 1997.
Eliade, M.,
(ed.),
The Encyclopaedia of Religion, Vol. 5, 11 & 13,
Kim Cương
Tử (chủ biên),
Từ Điển Phật Học Hán-Việt, quyển I, Hà
Nội: Phân Viện nghiên Cứu Phật Học, 1992.
Kapoor, S.,
(ed.),
The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. I, II, IV & V,
Procter, P.,
(chủ biên),
International Dictionary of English,
Nguyễn Sanh
Phúc (chủ biên),
Từ Điển Anh- Anh Việt, Hà Nội: Nhà xuất
bản Văn Hóa Thông Tin, 1999.
Rhys Davids,
T.W., & Stede,
W., Pali-English
Dictionary,
Schuhmacher, S.,
&
Woerner, G.,
(ed.),
The Encyclopaedia of Eastern Philosophy,
Weeraratne, W. G.,
(ed.)
The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V,
Williams, M.
M.,
Sanskrit-Enghlish Dictionary,
http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/nghichcanh_khodau.htm