ĐỊA
TẠNG MẬT NGHĨA
Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Hội Phật Học Nam Việt -
Chùa Xá Lợi Saigon Xuất Bản 1964
Trung Tâm Văn Hóa Phật
Giáo Việt Nam-Hoa Kỳ Chùa Huệ Quang Tái
Xuất Bản 1985
Thư viện Hoa Sen
Mục Lục
Thay
lời tựa
Lời
dẫn
Quyển
Thượng
Phẩm I - Đao-Lợi Thiên-Cung Thần-Thông
Phẩm II - Phân-Thân Tập Hội
Phẩm III - Quán Chúng-Sanh Nghiệp
Duyên
Phẩm IV - Diêm-Phù Chúng-Sanh
Nghiệp-Cảm
Quyển Trung
Phẩm V - Danh-Hiệu Địa-Ngục
Phẩm VI - Như-Lai Tán Thán
Phẩm VII - Lợi Ích Tồn Vong
Phẩm VIII - Diêm-La Vương Chúng Tán
Thán
Phẩm IX - Xưng Phật Danh Hiệu
Quyển Hạ
Phẩm X - Hiệu Lượng Bố-Thí
Công-Đức Duyên
Phẩm XI - Địa-Thần Hộ-Pháp
Phẩm XII - Kiến Văn Lợi Ích
Phẩm XIII - Chúc Lũy Nhân Thiên
Tôi Đi Nghe Giảng Kinh
Địa-Tạng
Thể theo sự đòi
hỏi của một số đông giáo-hữu,
Hội Phật-Học Nam-Việt tổ chức, vào
mỗi buổi chiều thứ bảy, từ 8g30 tối,
một khóa giảng Kinh.
Thứ bảy tuần rồi,
9-11-1957, Đạo-hữu Chánh-Trí đã
mở đầu khóa giảng với bộ Kinh
Địa-Tạng, trước trên ba trăm
thính giả, phần đông là học
thức, của đủ các hạng tuổi.
Dưới đây, xin ghi
lại những điều nghe thấy và cảm
tưởng của chúng tôi đối với
buổi giảng đầu tiên.
Viên-Pháp
Trước
hết, xin nói ngay là buổi giảng rất
hào hứng và linh động, làm cho đa
số trí-thức thính giả mắt sáng lên,
lòng đầy hoan hỷ, ngồi nghe trót hai
giờ đồng hồ mà không biết chán
mỏi, vì sung sướng thấy bao thắc mắc,
nghi ngờ của mình về vấn đề
địa ngục, Địa-Tạng, được
giải thích rành mạch.
Về
Địa ngục, thường chúng tôi thấy
có hai thái độ khác nhau trong hàng
Phật-từ:
-
Một đàng thì tin có địa ngục,
nhưng tin một cách mù mờ, sai lạc,
vì thế không dứt đặng nhân
địa ngục, để khỏi cái quả
địa ngục, cho nên không bao giờ thoát
ly đặng cái khổ địa ngục.
-
Một đàng thì phân vân bất
quyết, không biết phải tin hay không, vì
vậy trong trí-quán không có gì
dứt khoát và trong hạnh tu không có
gì nhứt định.
Đối
với Địa-Tạng Bồ-Tát cũng có hai
luồn tư tưởng khác nhau:
-
Một hạng tin rằng đã có ngài
Địa-Tạng phát nguyện cứu độ
tội vong ra khỏi U-minh địa- ngục, thì ta
cứ "làm ăn" như ai, rũi ro có
bề nào sẽ có ngài đùm
bọc. Ngài lại còn nguyện
"Địa ngục chưa trống không, ta quyết
không thành Phật", thì dầu ta còn
phải đọa địa-ngục lâu xa thế
mấy đi nữa, cũng còn có ngài
cứu thoát, không đến nỗi nào
mà sợ.
Hạng
này còn tin đức Địa-Tạng có
quyền lực dẫn vong vào cảnh
Tây-phương tự tại, vô ngại.
Hễ có ngài dẫn, thì không có
một quỉ sứ nào dám bắt đem nạp
cho Diêm-vương phán xét. Hơn
nữa, ngài lại còn có quyền lực
phá ngục thả tội mà chẳn có
ông Diêm-vương nào dám cản
trở. Do những tin tưởng này, mới
có việc mướn làm chay với cảnh
thầy cả đội lốt Địa-Tạng
phá ngục giải phóng tội vong. Ôi
thôi! Kể sao cho xiết những quan niệm sai
lầm như thế về Bồ-tát
Địa-Tạng và về quyền năng của
ngài! Ròng rã là những sự tin
tưởng thần quyền, ỷ lại tha lực,
làm hoen ố Phật giáo nước
nhà!
-
Một hạng khác lại suy nghĩ: không
lẽ lại có một ông Bồ-tát
"cải Trời" cho đến bỏ luật
nhơn quả, dàm vì cảm tình với
người sống mà làm việc bất
công là thả tội hộ vong. Vì suy
nghĩ như thế, họ mất lòng chánh
tín đối với vị Bổn-tôn
Bồ-tát và thối bộ, không bước
được vào cửa Phật tu hành,
để thâu hoạch lợi ích cho
mình. Thật đáng phàn nàn cho
hạng này, vì họ là bậc có
trí, biết suy nghĩ và có đạo
tâm, chỉ vì không ai chỉ bảo thành
ra hiểu lầm, nghi sái.
Nay
đạo-hữu Chánh-Trí đem kinh
Địa-Tạng ra giảng, lại dám trình
bày bạo dạn và vạch rõ phân minh
những chổ bí ẩn trong kinh, để phô
bày cái bí nghĩa chân thực, hiển
phát cái chân lý Đại thừa,
thật đạo hữu đã giúp ích
rất nhiều cho những ai chưa thấu
triệt. Có vạch rõ như thế
những ẩn ý của Phật, mời lìa đặng
ngón tay mà thấy đặng mặt trăng,
không thì cứ ôm dính ba cái chữ,
rồi tối vẫn hoàn tối.
Diễn-giả
đã theo đường lối nào để
đưa thính giả tới chổ diễn-giả
muốn dắt đến?
Vô
đầu, đạo-hữu Chánh-Trí thanh minh
rằng kinh Địa-Tạng thuộc về quyền
giáo, khác với những bộ kinh thuộc
về Thực-giáo, trực chỉ Chơn-lý.
Có thể xem kinh Địa-Tạng như một
bài ngụ-ngôn trường thiên, trong
đó Phật dùng ngụ-ý (paraboles)
để ám chỉ một chơn-lý
đáng phát minh, như những bài ngụ
ngôn của các hiền-triết Đông
Tây mà cốt yếu là để dạy
những nguyên tắc luân lý, hoặc những
truyện đời xưa, những truyện giải
buồn, do văn-nhơn, hiền-sĩ đặt ra
vì thiết tha với thế sự, muốn hoán
cải nhơn tâm.
Kế
đó, dựa theo những đọan kinh văn,
diển-giả giải rằng đức
Địa-Tạng không phải là một nhơn
vật lịch sử (personnage historique), có một
đời sống ở thế gian như đức
Phật Thích-Ca, mà là một nhơn-vật
tượng trưng (personnage symbolique), đặt ra
để tiêu biểu cho những đoạn-đức
cương quyết, nguyện-lực dồi dào
và hành-động linh tiệp.
Địa-Tạng cũng chỉ cái gì cực
tôn cực quí trong người (Bổn tôn),
đủ năng lực đả phá vô-minh,
trực tiếp cứu vớt con người ra khỏi
cảnh ngục-thất tối đen dày bịt
(đại thiết vi), thoát vòng tội lỗi
khổ đau, và dẫn con người trở về
sùng bái cái cực tôn cực quí
ấy là Chơn Tâm của mỗi chúng ta
vậy.
Để
chứng minh điều mình quả quyết,
diễn-giả dẫn câu "Địa ngôn:
kiên, hậu, quảng hàm tàng" và
nói: Tại sao dùng hai chữ
Địa-Tạng để ám chỉ Chơn
Tâm? Cứ xem câu vừa trích trong bài
tán ở đầu quyển kinh đủ
thấy. Địa là chỉ cái gì
kiên cố bất diệt, sâu dày không
thể đo lường (hậu), và rộng chứa
không gì bỏ ra ngoài (quảng hàm
tàng). Thế có phải chỉ Chơn
Tâm hay Như-Lai-Tạng không? Vì ai
đập vỡ Tâm được mà không
bảo là kiên cố, ai đo được
cái vô cùng tận của Tâm mà
không bảo nó sâu dày không thể
đo lường, và có gì ngoài Tâm
được mà không bảo nó ngậm
chứa tất cả?
"Lại
nữa, diễn-giả nói tiếp, nếu không
ám chỉ Chơn Tâm, thì làm sao cắt
nghĩa được câu":
Tam
thế Như-Lai đồng tán ngưỡng
Thập
phương Bồ-tát cộng quy-y?
"Không
lẽ ba đời chư Phật (quá khứ,
hiện tại, vị lai) lại đi khen ngợi,
ngưỡng mộ một vị Bồ-tát, còn
mười phương Bồ-tát lại quy-y với
một người đồng đẳng với
mình? Thật rõ là ám chỉ
cái Chơn-lý bất diệt là Chơn
Tâm, mà không ai (kể luôn chư Phật,
Bồ-tát) được phủ nhận, vì
phủ nhận là còn sống trong vô-minh
mà hễ còn sống trong vô-minh thì
làm sao có Phật và Bồ-tát?
Nói một cách khác, nhờ thể nhận
được Chơn Tâm, tán thán ngưỡng
mộ Chơn Tâm, nên Phật mới thành
Phật, và cũng nhờ biết quay về an
trú nơi Chơn Tâm, sống theo tiếng gọi
của Chơn Tâm, nên Bồ-tát mới
thành hạnh Bồ-tát."
Đến
hai câu:
Thủ
trung kim tích, chấn khai địa-ngục chi môn.
Chưởng
thượng minh châu, quang nhiếp Đại-thiên
chi giới.
Diễn-giả
giải thích:
"Đó
là một lối dùng biểu tượng (symbole)
để diễn tả những công năng của
Chơn Tâm. Tích trượng (gậy sắt),
tượng trưng cho cái ý-chí cương
quyết (volonté de fer) bẻ xiềng xích,
phá ngục tù của những người
thức tỉnh, tức là đã trở về
với Chơn Tâm. Đó cũng là
sức mạnh vô song của Chơn Tâm, biết
diệu dụng thì không việc thiện nào
là không làm được, còn không biết
diệu dụng thì nó cũng có thể
đưa con người đến chổ tội lỗi
không bờ bến. Vì sao? Vì cái
cương quyết làm phải ở người
tốt và cái cương quyết làm
sái ở người xấu, đồng một
mãnh lực như nhau. Tuy hai mà trên
căn bản vẫn một, tại chỗ dùng
có khác mà một xem tuồng như hai,
thí như con dao bén có thể dùng
giúp ta xắt cải xắt rau, mà cũng có
thể trợ cái giận của ta trong việc
chém người hại vật. Còn viên
ngọc (minh châu) sức sáng rọi khắp ba
ngàn thế giới kia cũng là một lối
nói để ám chỉ cái Đại
trí huệ, hay Trí Bát-nhã sẵn có
ở mỗi người, linh tiệp vô cùng,
không đâu chẳng thấy, không gì
chẳng biết, bao xa cũng soi tới, bao sâu cũng
chiếu suốt. Mà Trí và Tâm
không phải sai khác, cho nên nói Đại
trí minh châu cũng là nói Chơn Tâm
vậy."
Còn
mấy câu:
Diêm
vương điện thượng
Nghiệp
cảnh đài tiền
Vị
Nam-phù-đề chúng-sanh
Tác
đại chứng-minh công-đức chủ
thì
theo đạo-hữu Chánh-Trí, là tả
những cái dụng khác của Chơn Tâm,
cái dụng hồi quang phản chiếu, quay cái
sáng, rọi trở lại đời sống hằng
ngày, từ ngoài cho đến trong, như
người Pháp nói "xét lòng"
(examen de conscience). "Thật vậy, diễn-giả
nói, ai xét ta và luận ta cho bằng
lương-tâm ta, vì biết bao nhiêu tội
lỗi ta đã tạo mà Công-lý nào
biết được! Do đây, bài tán
mới vì Địa-Tạng (Chơn Tâm) là
ông vua cõi Diêm-la, ngồi trên điện
cao để phán xét tội trạng của
ta. Còn tự ta muốn biết nghiệp
lành, nghiệp ác của ta ư? Thì
cứ ngó trở lại vào lòng, cái
"gương lòng" sẽ phản chiếu cho ta
thấy tất cả. Gương ấy là
Chơn Tâm Địa-Tạng đó, nên
gọi là Nghiệp cảnh (cái kiếng soi
nghiệp). Chơn Tâm ta đã là ông
Tòa, ông Diêm vương xét tội,
thỉ Chơn Tâm ấy cũng là người
chứng kiến và ghi chép những công
đức của ta. Thế nên nói
Địa-Tạng làm người chứng minh
các công đức (mérites) của chúng
sanh cõi Nam-diêm phù-đề, tức là
cõi thế-gian này vậy."
Tóm
lại, diễn-giả chỉ rằng:
Địa-Tạng là Chơn Tâm hay Như-Lai
Tạng-tâm, đủ cá Tánh-thể,
Tánh-cụ và Tánh-dụng.
Tánh-thể là Bổn tôn, nên "Tam
thế Như Lai đồng tán ngưỡng, thập
phương Bồ tát cộng quy y". Về
Tánh-cụ (có sẵn) thì "kiên,
hậu, quảng hàm tàng, từ nhơn, tích
thiện, thệ cứu chúng sanh" sẵn
đủ cả Đại-nguyện (grande volonté), Đại-hạnh
(grande activité), Đại-thệ (grande
détermination). Vì vậy Kinh chia ra ba phần hay
ba quyển: Địa-tạng bổn nguyện,
Địa-tạng bổn hạnh, Địa-tạng
bổn thệ. Rốt hết là
Tánh-dụng. Hai Tánh trước đã
lớn lao và đầu đủ vô cùng
thì cái Dụng của Chơn Tâm cũng
vô cùng, do đó mà chúng-sanh trong
quá khứ, hiện tại, vị lai, nếu biết
quy-y Tâm thì được ra khỏi
địa-ngục vô-minh, tức là
được cứu độ như Kinh nói.
Đạo-hữu
Chánh-Trí giảng đúng với giáo
nghĩa của Đại-thừa. Theo lý
tuyệt-đối (đệ-nhất nghĩa đế),
ngoài Tâm không pháp, cho nên sự sự
đếu là Tâm, vật vật đếu
là Tâm. Tâm tác Thiên
đường, Tâm tạo địa ngục, ba
cõi chỉ đều do Tâm, mười cõi
chỉ đều do Tâm, tất cả đều do
Một Tâm (duy Nhứt Tâm), không gì
ngoài Nó. Cho nên, có chúng sanh
thọ khổ địa-ngục nơi Tự Tâm (en
Soi), thì Địa-Tạng Bồ-tát cũng
cứu độ trong Tự Tâm. Ngoài Tâm,
không có địa ngục, chúng sanh nào khác;
ngoài Tâm, không có Địa-Tạng phá
ngục dẫn vong nào khác. Đây
là cái lý bí ẩn của kinh
Đại-thừa mà chúng ta cần khám
phá và khai thác để tự lợi,
lợi tha. Dùng ông Bồ-tát
Tự-Tánh mà cứu độ chúng sanh
của Tự Tâm, lửa đó, nước đó,
thật là muôn phần linh tiệp và diệu
dụng.
Đạo-hữu
Chánh-Trí đã đem lại cho thính
giả một niềm tin tưởng vững chải,
phấn tấn, vì mình có tự tin ở
mình có ông Bồ-tát biết dùng
hột minh-châu Đại-trí-huệ chiếu
phá vô-minh, tiêu trừ những nỗi
lòng đen tối, cỡi mở những quan niệm
sai lầm, đập phá ngục tham, sân, si,
ái... thì mình mới khỏi cầu ai xa
lạ, viễn vong, vừa khó khăn, vừa
không chắc, khỏi mắc phải cái tánh
ỷ lại thần quyền, mơ hồ và tai
hại.
Lại
nửa, nếu tự hay nơi mình có Chơn
Tâm linh minh sáng suốt làm quan Tòa,
thường ngồi tại bàn án, chiếu
gương soi nghiệp, xét nét vô tư
những điều ẩn khuất nơi cõi
lòng, thì chắc chắn đời người
sẽ có sự hoán cải, dứt ác
làm lành, đổi đen ra trắng.
Dù
rằng, từ trước đến đây,
diễn-giả đã dẫn kinh để chứng
tỏ rằng Địa-Tạng chỉ là một
lối tượng trưng để chỉ Chơn
Tâm, trong hàng thính- giả hình như
còn có người chưa tin.
Đạo-hữu Chánh-Trí nói thêm:
"Tìm hiểu Địa-Tạng Bồ-tát
có thật hay không, không quan hệ bằng
tìm biết kinh Địa-Tạng có ích
gì cho chúng ta trong việc tu
hành."Đạo-hữu nói rất có
lý, nếu chúng ta nhớ lại Phật thuở
xưa kia cũng có lần bác những kẻ
đến hỏi Ngài thế giới có hay
không có, hữu hạn hay vô biên, v.v..
Phật bảo: Nên hỏi ngay làm sao
đặng hiện tiền giải thoát, vì
hỏi như vậy mới thiết thực hơn,
còn hỏi như trên thì phải sa lầy
trong cái đầm lý thuyết.
Có
lẽ nhờ lời dạy của Phật vừa
nhắc lại, nên diễn-giả hay moi tìm trong
kinh điển để khám phá, lượm
lặt, những gì có ích lợi cho
đời sống thực tế và khai thác
những phát minh thực dụng, hầu giúp
nhiều bạn đồng đạo cũng
hưởng. " Đọc kinh phải cầu
lý, đạo-hữu Chánh-Trí nói.
Cầu lý là tìm coi Phật muốn nói
gì, chỉ gì, chớ không nên thấy
chữ đâu hiểu nghĩa đó mà cho
là đủ. Nếu nhận nghĩa do nơi
chữ, chúng ta sẽ gặp nhiều mâu thuẩn
có khi buồn cười, làm cho chúng ta
sẽ hoang mang, không làm sao có lòng tin
tưởng sắt đá." Thật là
một lời khuyên có giá trị đối
với thế-hệ hiện nay của trí óc khoa
học (esprit scientifique), luôn luôn bất phục
trước những cái gì mù mờ.
Tuy
đạo-hữu Chánh-Trí đã đem
hết sức mình ra giải thích rành
mạch, vẫn còn có người thắc
mắc, cho rằng nếu theo diễn-giả mà
phủ nhận vị Bồ-tát hiện đang
hành sự ở cõi U-minh, cứu-độ vong
linh thọ tội mà nhiều người đang tin
tưởng, thì sẽ làm mất chổ
trông cậy của họ. Chúng tôi
nghĩ, nếu tin mà lầm lạc, thì thà
đừng tin còn hơn, vì lầm lạc
còn khổ hơn không tin. Nếu có
kẻ không giữ vệ sinh, không biết ngừa
bệnh độc, ăn càn ở bậy, ỷ y
có thầy hay thuốc giỏi, thử hỏi tin
tưởng như thế có lợi hay có
hại?
Lại
có người cho diễn-giả quá thiên
về lý mà bỏ sự. Sao lại nghĩ
thế? Sự, lý nào phải hai cái
khác nhau mà tưởng có thể bỏ
sự theo lý. Đã nói kinh
Địa-Tạng thuộc về quyền giáo,
mà hễ quyền giáo thì toàn là
sự, như nói nào là có ông
Bồ-tát danh Địa-Tạng ở cõi U-minh,
làm việc độ vong, nào là có ba
ngục lớn chúng sanh trong đó bị các
quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa
đánh khảo đủ điều, v.v..
Nhưng sự, lý, không thể chia hai, thì
cố nhiên trong những sự vừa kể phải
có cái lý, những cái lý mà
rất tiếc chưa ai từng vạch, nên nay
đạo-hữu Chánh-Trí mới vạch,
để thức tỉnh những ai cho kinh
Đại-thừa thiếu căn bản Phật
giáo, nói truyện hoang đường.
Để
khỏi thiếu sót, chúng tôi xin thêm
lời diễn-giả giải về ý ẩn của
đoạn sau đây trong bài tán, bắt
đầu từ câu: "
Đạo-hữu
Chánh-Trí nói: "Hể Chơn Tâm
phát hiện nơi ai (Bồ-tát
Địa-Tạng đến), thì từ nơi
thân tâm người ấy phát tiết ra
ngoài một cái gì mà trông
đến gương mặt là ta cảm thấy
một ánh sáng diệu hiền, khiến ta phải
kính phục, nghe đến lời nói là ta
cảm nhận một cái gì đẹp
đẻ, thơm tho, khiến ta ngây ngất, chẳng
khác ta tắm mình trong một đám mưa
thơm, một đám mưa hoa, v.v.. Cứ trông
gương mặt, ngắm xem cử chỉ, lắng nghe
lời nói của những bực chân tu thạc
đức, ta sẽ thấy và sẽ cảm như vừa
nói. Các nhà tâm-lý-học Âu
Tây đều công nhận cái sáng
hiển lộ ra ngoài như thế này của
những tâm hồn trong sạch, hiền hòa,
mà họ gọi là "irradiation".
Nói
một cách khác, diễn-giả đã
đề cập đến ảnh hưởng hết
sức thơm tho lành điệu, sáng sủa
êm đềm, của những tâm hồn
đã trở về với đời sống
giải thoát.
Buổi
giảng đầu tiên đã chứng tỏ
nơi diễn-giả, không phải một sức
học uyên thâm, mà một thực nghiệm tu
học khá công phu, chúng tôi tin rằng
đạo-hữu Hội-trưởng sẽ không
phụ lòng thính giả ở những buổi
giảng tiếp.
Viên-Pháp
(Trích Tạp-chí TỪ-QUANG số 70, tháng
11 năm 1957)
Cước
chú: Tác-giả viết bài này
lúc còn là một cư-sĩ. Mấy
năm sau, tác-giả đã xuất gia, giữ
nguyên pháp hiệu và đã viên
tịch.
Kinh
Diệu-Pháp Liên-Hoa, phẩm Phương-tiện,
có câu: Xá-Lợi-Phất! Chư
Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú nan
giải. Sở dĩ giả hà? Ngã
dĩ vô số phương tiện, chủng chủng
nhân-duyên, thí-dụ, ngôn-từ, diễn
thuyết chư pháp. Thị pháp, phi
tư-lương, phân-biệt chi sở năng
giải, duy hữu chư Phật nải năng tri
chi... Nghĩa: Xá-Lợi-Phất! Các
đức Phật tùy sự tiện lợi của mổi
trường-hợp mà nói pháp, với
những ý-tứ và ý-hướng khó
giải một cách rõ ràng. Tại sao
vậy? Ta dùng vô số phương-tiện,
như mọi thứ nhân-duyên, thí-dụ,
lời nói, mà trình bày các
pháp. Không phải lấy trí óc suy
lường, phân-biệt mà giải thích
được các pháp ấy, chỉ có
chư Phật mới năng biết rõ...
Thuyết
Pháp là trình bày Pháp (Dharma) hay
Chân-lý (Vérité). Gồm các
lối trình bày của Phật thành nền Giáo-lý
của Phật (la Doctrine du Bouddha). Giáo-lý
của Đức Phật rất là
uyển-chuyển, hay nói một cách khác,
đức Phật có nhiều phương pháp
dạy dỗ. Tùy trình-độ của
người nghe - trình-độ trí-thức,
trình-độ sáng-suốt, trình-độ
đạo-đức - mà đại, khái,
đức Phật áp-dụng hoặc
phương-pháp nhân-duyên, hoặc
phương-pháp thí-dụ, hoặc
phương-pháp giải-thích bằng lời
nói. Tất cả những phương-pháp
ấy, Phật gọi dưới một tên chung
là phương-tiện (moyens).
Phương-tiện rất nhiều, lại biến
hóa, thay đổi tùy trường-hợp,
còn Chân-lý Phật muốn chỉ dạy
có một. Có thể lấy ngón tay hay
cây gậy mà chỉ mặt trăng.
Vậy
phương-tiện dùng trong bài pháp gọi
là "Địa-Tạng Bồ-tát
Bổn-Nguyện" này là gì? - Là
Thí-dụ, một trong ba phương-tiện nói
trong câu Kinh dẫn chứng ở trên.
Thí
dụ hay tỷ-dụ là đưa ra một câu
chuyện ngụ-ngôn, trong đó hàm chứa
nhiều ý-nghĩa, nhiều chân-lý rất
hay, rất đúng, mà người nghe,
người đọc, cần phải công phuu
đào sâu để hiểu, chớ không
nên hiểu theo mặt chữ. Để chứng
minh phương-tiện thí-dụ dùng ở
đây, chúng ta hãy nghe bài Tựa xưng
tán Bồ-tát Địa-Tạng:
Chí
tâm quy mạng lễ
U-Minh
Giáo-Chủ, Bổn-Tôn Địa-Tạng
Bồ-tát Ma-ha tát:
Khể
thủ Từ-Bi Đại Giáo-chủ:
Địa
ngôn: kiên, hậu, quảng hàm tàng.
Nam-phương
thế-giới dỏng hương-vân,
Hương-võ,
hoa-vân cập hoa-võ,
Bảo
võ, bảo vân, vô số chủng,
Vi
tường, vi thụy, biến trang-nghiêm,
Thiên,
Nhân, vấn Phật thị hà nhân,
Phật
ngôn: Địa-Tạng Bồ-tát chí!
Tam
thế Như-Lai đồng tán ngưỡng,
Thập
phương Bồ-tát cộng quy y.
Ngã
kim túc thực thiện nhân duyên,
Tán
dương Địa-Tạng chân công đức:
Từ
nhân, tích thiện,
Thệ
cứu chúng sanh.
Thủ
trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn,
Chưởng
thượng minh châu, quang nhiếp đại-thiên
chi giới.
Diêm-vương
điện thượng,
Nghiệp-kính
đài tiền,
Vị
Tác
đại chứng minh công đức chủ.
Đại-Bi,
Đại-Nguyện,
Đại-Thánh,
Đại-từ,
Bổn-Tôn
Địa-Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát!
Sau
đây là bản dịch ra Việt-văn của
Ban Hộ-niệm Hội Việt-Nam Phật-Giáo
(Chùa Quán-Sứ Hà-Nội):
Dốc
lòng quy mệnh lễ Đức Giáo-Chủ
cõi
U-Minh, Địa-Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát!
Dập
đầu kính lễ đức Giáo-Chủ
Đại
từ-bi: đức độ của Ngài
Như
đất dày bao hàm rộng khắp.
Thế-giới
phương
Mưa
hương, mây hoa cùng mưa hoa,
Mây
báu, mưa báu vô số lớp,
Biến
hiện điềm lành khắp trang-nghiêm.
Trời,
Người hỏi Phật nhân gì vậy,
Phật
rằng: Địa-Tạng Bồ-tát hiện,
Chư
Phật ba đời đều tán ngưởng,
Mười
phương Bồ-tát thảy quy-y.
Nhân
xưa bồi đắp chút duyên lành,
Nay
con tán dương chân công-đức ;
Địa-Tạng
Bồ-tát đại từ bi
Góp
tập thân lành độ chúng sanh:
Rung
tích trượng mở toang địa-ngục,
Nắng
minh châu soi khắp đại-thiên.
Trước
đài "nghiệp kính", điện
Diêm-vương,
Vì
chúng-sanh ở cõi Nam-Diêm,
Làm
Giáo-chủ chứng minh công-đức.
Nam-mô
đại-bi, đại-nguyện, đại-thánh,
đại-từ
Bản
tôn Địa-Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát.
Đây
là một bài tán để ca ngợi
(glorifier, rendre hommage) công-đức Bồ-tát
Địa-Tạng. Vậy trong văn-từ, phải
làm thế nào để cho người ta
nhận thấy rõ là lời của người
xưng tán nói. Vì vậy, xin
đề-nghị bản dịch sau đây:
Tôi
hết lòng kính lạy
Đức
Giáo-Chủ cõi U-minh Đại Bồ-tát
Địa-Tạng Bổn-tôn.
Tôi
cúi đầu trước Ngài
Là
vị Đại Giáo-chủ của Từ-Bi mà
chữ Địa (trong danh hiệu) có nghĩa là
cứng rắn, sâu dày và ngậm chứa
tất cả.
Từ
thế giới phương
bao
thứ mây thơm, mưa thơm, mây hoa,
mưa
hoa, mây báu, mưa báu nổi lên,
mang
điềm lành làm đẹp khắp nơi.
Trời,
Người hỏi Phật do nguyên nhân
nào
mà có những điềm lành ấy.
Phật
đáp vì có Bồ-tát
Địa-tạng đến.
Bạch
Bồ-tát:
Ngài
là bậc mà chư Phật trong quá khứ,
hiện
tại
và vị lai đều khen ngợi và kính
mến,
Ngài
là chỗ mà chư Bồ-tát trong
mười phương
đều
quay về và nương tựa.
Con
nhờ trước có gieo trồng duyên lành
cho
nên nay mới được xưng tụng và
đề cao
công
đức chân thật của Ngài.
Ngài
là hột giống Từ,
Ngài
là Thiện dồn chứa,
Ngài
là Lời Thệ cứu chúng sanh.
Ngài
là chiếc gậy trong tay, đập phá cửa
ngục
đùng
đùng như tiếng sét,
Ngài
là viên ngọc sáng trong lòng bàn tay,
ánh soi
ba
ngàn đại thiên thế giới.
Ngài
là Vua Diêm ngồi trên ngai,
Ngài
là Gương nghiệp đặt trước
đài,
Ngài
là chúa các bằng chứng rõ rệt
về
công
đức của chúng sanh cõi Nam Diêm Phù
đề
Ngài
là Lòng-Thương-Xót bao la,
Ngài
là Lời Nguyện lớn,
Ngài
là đấng Thánh Cao
Ngài
là Lòng-Thương-Yêu tuyệt đối.
Ngài
là Đại Bồ-tát Địa-Tạng,
là cái Sẳn-Có đáng tôn
đáng trọng nơi tôi.
Chắc
quý vị đã nhận thấy sự sai
biệt giữa hai bài dịch trước và
sau. Xin đương cử một vài sai
khác.
a)
Theo bản trước thì công-đức của
Bồ-tát Địa-Tạng sâu dày như
đất. Theo bản sau thì Bồ-tát
là cái gì cứng rắn, sâu dày
và hàm chứa tất cả như
đất.
b)
Theo bản trước, Bồ-tát là đấng
có lòng đại từ bi, đã góp
tập nhân lành. Theo bản sau, Bồ-tát
chính là cái Đại Từ-Bi, chính
là cái Thiện được tích
tụ.
c)
Theo bản trước Bồ-tát "rung tích
trượng mở toang địa-ngục" và
"nâng minh châu soi khắp
đại-thiên". Theo bản sau, thì
Bồ-tát chính là tích trượng,
chính là minh châu.
d)
Theo bản dịch trước, Bồ-tát là
nhân-chứng những công đức của
chúng-sanh, trước đài "Nghiệp
kính" và trước điện
Diêm-vương. Bản dịch sau quả
quyết Bồ-tát là Diêm-vương, là
Nghiệp-Kính, là nhân-chứng cao cả
nhất của công-đức chúng-sanh.
e)
Không phải Bồ-tát là đấng có
lòng đại từ, đại bi... mà
chính Ngài là Lòng Đại-từ,
Đại-bi...
Dịch
hiểu theo lối sau, ắt phải làm phát sanh
nhiều nghi-vấn. Phật dạy: Tiểu nghi,
tiểu ngộ; đại nghi, đại ngộ (nghi
ít, tỉnh thức ít; nghi nhiều, tỉnh
thức nhiều). Cái nghi này là cái
nghi của nhà triết-học (doute philosophique),
của hàng trí thức không chịu tin
càng tin bướng. Vậy những nghi-vấn
ấy như thế nào?
1.
Giáo-Chủ cõi U-minh là gì?
Đem
ánh-sáng đạo-lý ra soi đường
cho thế-nhân, gọi là Giáo-chủ.
U-minh
là nơi sâu kín tối tăm
(ténèbres), cũng có nghĩa là
địa-ngục (enfer). Tối tăm hay
địa-ngục ám chỉ ngu-dốt
vô-minh.
Vậy
Bồ-tát Địa-tạng là người
đem ánh sáng vào chổ tối tăm,
là tâm vô-minh của chúng sanh.
2.
Bổn-Tôn nghĩa là gì?
Bổn
là gốc (trái với ngọn), là vốn,
là cái sẵn có, như vốn của
nhà buôn là phần tiền của nhà
buôn sẵn có, khi thiếu mới vay thêm.
Cái gốc, cái vốn của chúng-sanh
là cái mà Pháp-văn gọi là
"le Soi" hay bản-thể, nếu muốn nói
theo Hán-văn.
Tôn
là kính trọng.
Vậy
Bổn Tôn là Có Sẵn-Có đáng
kính trọng nơi ta.
3.
Địa-Tạng nghĩa là gì?
Bài
Tựa đã trả lời câu hỏi
này. Địa là ý nói cứng
rắn, sâu dày, còn Tạng (cũng
đọc la tàng, như nói tàng trữ)
là ý nói ngậm chứa tất cả.
Vậy
vị Bồ-tát nói trong Kinh không phải
là một nhân-vật lịch-sử như
đức Phật Thích-Ca, mà là một
nhân-vật tượng trưng (personnage symbolique)
một tỷ-dụ (parabole, allégorie) để
chỉ cái Bản-thể, cái "Soi" của
chúng sanh. Bản-thể ấy thường
được biết dưới cái tên là
Tâm.
Tâm
vô hình, vô tướng, không ai đập
phá được, do đó nói là
cứng rắn.
Tâm
không thể dò lóng, đo lường
được, cho nên nói sâu dày.
Ngoài
Tâm là cái vô cùng cực
(l'illimité), không có một vật gì
hết, hay không một vật nào có
được ngoài cái vô-cùng, vô
cực, cho nên nói ngậm chứa tất
cả.
4.
Dựa vào đâu mà dám giải như
thế?
Xin
thưa: dựa vào toàn bài Tựa chúng
ta đang học và trọn bộ Kinh mà
chúng ta sẽ học.
Chúng
ta hãy trở lại bài Tựa và tìm
hiểu nghĩa ẩn của từng đọan.
II.
Địa là đất, mà đất thì
cứng rắn, sâu dày và dung chứa muôn
loài muôn vật. Bất luận hột
giống nào bỏ xuống đất là
mọc. Vì vậy lấy đất mà
thí-dụ cho Tâm (có chỗ Kinh dùng danh
từ "tâm địa") [1]. Tâm vô
hình, vô tướng làm sao đập vỡ
được, cho nên nói là kiên (cứng
rắn); cũng không thể dò lóng Tâm
được. Tâm là một cái
giếng không đáy, ai muốn đi sâu
vào nội tâm đến đâu cũng
được, vì vậy nói hậu (sâu dày);
ngoài Tâm không có vật cho nên nói
quảng hàm tàng (ngậm chứa rộng lớn,
tất cả).
III.
Nam phương: chỉ
IV.
Tâm là Phật, Phật là Tâm, tại sao
lại nói Địa-Tạng Bồ-tát -
Đúng như thế, Tâm là Phật, Phật
là Tâm, nhưng Tâm ở chúng-sanh chưa
hoàn toàn thanh-tịnh như ở Phật, cho
nên chưa gọi là Phật thật
được. Tâm ở chúng-sanh thức-tỉnh
là Tâm đang tu sửa như Bồ-tát
đang tu sửa, cho nên ví Tâm này như
Bồ-tát.
V.
Vì Bồ-tát Địa-Tạng tượng
trưng cho Tâm, mà Tâm một khi hoàn
toàn thanh-tịnh thì sanh Trí Bát-Nhã
(sáng suốt tuyệt vời) cho nên chư
Phật ba đời đều phải khen ngợi
và kính mến (Tam thế Như-Lai đồng
tán ngưỡng) - Trong Kinh Đại
Bát-Nhã, Phật dạy: "Này
Kiều-thi-Ca, ta nay đã thành Phật mà còn
tuân theo Bát-nhã ba-la-mật-đa, ẩn
náu và đứng vững nơi đây,
hà huống những kẻ muốn cầu
vô-thượng bồ-đề mà không
hết lòng quay về và nương tựa
vào đó để tinh cần tu học?
(Kiều-thi-Ca, ngã dĩ thành Phật,
thượng tuân như thị thậm thâm
bát nhã ba-la mật-đa y chỉ nhi trụ,
huống thiện-nam-tử đẳng dục cầu
vô-thượng chánh đẳng bồ-đề,
như bất ư thử chí tâm quy y, tinh cần
tu học?).
VI.
Tại sao cũng đồng Bồ-tát như nhau,
mà chư Bồ-tát trong mười phương
lại cùng quy-y Bồ-tát
Địa-Tạng? Chỉ vì Địa-Tạng
là Tâm. Muốn thành Bồ-tát
phải quy-y Tâm, Bồ-tát rồi mà muốn
thành Phật, cần phải quy-y Tâm nhiều
hơn, vì Tâm là Đại-Từ,
Đại-Bi, Đại-Hỷ, Đại-Xả.
VII.
Phải là người đã trồng nhiều
duyên lành trong tiền kiếp đời này
mới chứng ngộ được Chân-tâm,
mới thấy hiểu được thế nào
là Đại-Từ, Đại-Bi... Có
thấy hiểu như thế mới tán dương
những công đức ấy của Tâm; bằng
không thì theo thế nhân mà "tán
dương" những mê lầm của tâm tham
vọng.
VIII.
Chân-Tâm là Tâm Đại-từ,
Đại-bi, cho nên nói Bồ-tát
Địa-Tạng là nguyên-nhân, là
hột giống của Lòng Từ (Từ nhân),
là nơi tích tụ của những điều
thiện (Tích thiện). Có từ, có
thiện, tự-nhiên phải nghĩ thương
đến người khác, đến chúng-sanh,
như đức Phật lúc còn là
hoàng-tử. Vì có nghĩ thương,
nên mới "thệ cứu chúng-sanh",
một lời thệ hết sức dũng mãnh
đến thành một ý-chí cương
nghị vô song. Sức mạnh đó là
"dụng" (effet) của Tâm Từ-bi.
IX.
Lòng Từ của Phật quả đúng như
vậy, nhưng Ngài phải nói lên một
sự thật. Sự thật ấy là Phật
chỉ đường mà thôi, còn việc
phá cửa ngục vô-minh để giải
thoát; mỗi chúng sanh phải tự làm
lấy. Phá bằng cách nào? Bằng
cách dùng Tâm cương quyết đả
phá mê mờ. Vậy Tâm là chiếc
gậy sắt có khả năng đập phá
cửa ngục, và phải đập đùng
đùng như tiếng sét mới phá
được. Nói một cách khác,
phải có một ý-chí sắt đá
(une volonté de fer).
X.
Nhưng ý-chí không, chưa đủ, phải
có sáng-suốt phụ lực. Sáng
suốt ấy là Trí Bát-nhã hay
Trí-tuệ tuyệt vời (Intelligence supranormale),
và Trí ấy do Tâm thanh tịnh làm
phát sanh. Vậy Trí cũng là Tâm;
vì vậy nên nói Bồ-tát Địa-Tạng
là viên ngọc minh-châu sáng soi tam thiên
đại thiên thế giới. Minh châu
là thứ ngọc có khả năng chiếu
sáng trong đêm tối thí dụ cho
Trí-tuệ sáng soi lòng dạ vô-minh
hắc ám của chúng-sanh.
XI.
Tâm chân-chánh là vị Diêm vương
ngồi trên ngai xử tội. Ai biết tội
lỗi của ta bằng ta, ai biết lòng ta bằng
ta? Lòng ta là Tâm vậy.
XII.
Tâm ta cũng là đài gương để
soi sáng những hành động thiện ác
của ta. Tự vấn lương tâm (examen de
conscience) là gì, há không phải ngó
vào tấm gương lòng của ta để
nhận thấy mọi "nghiệp" của ta?
XIII.
Ai làm chứng cho ta bằng ta. Biết bao
công-đức âm thầm của những
tâm-hồn cao cả mà thế-nhân không
thấy, không biết? Thế nhân không
biết mà lòng ta, Tâm ta biết. Do
đây nói Bồ-tát Địa-Tạng
là vị chúa chứng minh công-đức
của chúng-sanh.
XIV.
Tâm chân chánh, là lòng Từ
(Đại-Từ) lòng Bi (Đại-Bi), là
nguyên nhân của lời thệ nguyện giải
thoát giác ngộ (Đại-Nguyện), của
sự thanh-tịnh (Đại-Thánh).
Xin
nói lại: không có Bồ-tát
Địa-Tạng như một nhân-vật
lịch-sử. Bồ-tát Địa-Tạng
ở đây, tượng trưng cho Tâm quyết
thoát ly địa-ngục tham, sân, si và
những thống khổ, là Tâm thanh tịnh,
sáng suốt, từ bi; là Tâm biết tự
xét.
Nếu
tin có Bồ-tát Địa-Tạng thật
và tin luôn rằng Bồ-tát có khả
năng đập phá cửa ngục để
giải thoát chúng sanh đắc tội, vậy
luật nhân-quả, nghiệp-báo của Phật
còn có giá trị nào? Và con
người đâu cần "tự thắp
đuốc lên mà đi" như đức
Phật dạy, mà cứ tha hồ làm ác,
miễn đừng quên kêu cầu với Ngài
Địa-Tạng là Ngài sẽ cứu vớt
cho...
Chánh-Trí
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Trong Kinh Tâm-Địa Quán, quyển 8, có
câu: "Tam giới chi trung, dĩ tâm vi
chủ. Năng quán tâm giả, cứu
cánh giải thoát. Bất năng quán
giả, cứu cánh trầm luân. Chúng sanh
chi tâm, do như đại địa, ngũ cốc
ngũ quả, tùng đại địa sanh, như
thị tâm pháp sanh thế xuất thế,
thiện ác ngũ thú. Hữu-học,
Vô-học, Độc-giác, Bồ-tát, cập
ư Như Lai. Dĩ thử nhân duyên, tam
giới duy tâm, tâm danh vị địa" -
Dịch: Trong ba cõi (dục, sắc và vô
sắc), tâm là chủ. Người quán
sát được tâm, cuối cùng
được giải thoát. Người
không quán sát được tâm, cuối
cùng chìm đắm vào biển khổ.
Tâm chúng sanh giống như mặt đất,
năm thứ lúa thứ trái, đều từ
đất mà sanh, cũng như vậy, tất cả
những lo nghĩ (tâm pháp) của chúng sanh
còn kẹt trong thế-sự, hay đã
vượt ra ngoài thế-sự, hoặc lành
hoặc dữ, những ý niệm hướng về
năm nẻo của lục đạo, những ý
niệm của hạng Học, Vô học
(A-la-hán), của hạng Độc giác,
Bồ-tát, cho đến bậc Như-Lai, đều
do tâm mà sanh. Bởi cớ, ba cõi chỉ
do tâm và tâm được gọi là
đất.