TruyŒn ng¡n

                     TỰ   TRUYỆN  :    DÂy   NHO     

 

Chí Pháp

(Thu 1996)

   

                   Viết cho Diệu-Lạc, Diệu-An, Quảng-Tịnh, Quảng-Tâm                                                       

 

Từ khi dọn về khu nhà mới nầy, các con tôi mua cho tôi một số hoa hồng, cây kiểng, dây  nho để trồng. Hoa được trồng sân trước, dây nho trồng vườn sau. Vì thương con nên tôi chăm sóc các cây trồng rất kỹ để các con được vui về sự đóng góp của chúng làm đẹp tổ ấm gia-đình. Riêng dây nho có lẽ nhờ đất mới và sự chiếu cố đặc biệt của vợ chồng tôi nên phát-triển  rất nhanh, chỉ một năm các con và tôi phải mua cây làm giàn cho nho leo lên. Sau hai năm nho bắt đàu có trái. Và từ đó đến nay đã 5 năm liền, mỗi năm  trái càng gia tăng nhiều thêm. Trong những năm đầu trái quá chua, tôi chỉ để cho chim ăn thôi. Cứ vào khoảng thời gian cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 dương-lịch, suốt cả tuần lễ, từng đàn chim rừng đáp xuống, líu lo chuyền từ chùm nho nầy sang chùm khác, lựa những trái chín muồi  mổ ăn một cách an-lành. Nhìn chim thong-dong ăn, tôi cảm thấy lây được niềm vui-thích của chim. Tôi nhớ đến chuyện Trang-Tử khi qua cầu thấy cá lội dưới dòng sông Hào-Lương mà thông cảm được niềm vui của cá nên tấm-tắc ca ngợi cá vui, khiến Huệ-Tử cật-vấn, tạo nên một giai-thoại kỳ-thú, còn lưu trong sách vở, có thể cho ta một kinh-nghiệm mỹ-cảm ‘’Suy bụng ta ra bụng người.’’ (*)

 

Nhưng nếu vị nho vẫn bất biến như thế thì chẳng có gì để tôi phải kể ra đây, đàng nầy, bất chợt vào năm rồi, đứng nhìn chim ăn có vẻ ngon lành quá nên tôi tiến bước đến gần giàn nho ngắt vài chùm ăn thử  và cảm nhận được vị ngọt-ngào của nho, khác hẳn mọi năm trước. Thế là tôi quay vào nhà, lấy kéo và rỗ cắt nho đem vào để ăn, để nấu nước dùng. Quả tình tôi đã móng tâm giành ăn với chim từ dạo ấy nhưng chim vẫn vô tình nào biết, chim chẳng hề oán-trách !

 

                                                                                                                    

NĂM nay dây nho lại cho trái nhiều hơn nữa, có lẽ nhờ năm rồi ăn được nên tôi bón phân, tưới nước nhiều vào mùa hè, chăm sóc kỹ hơn. Tôi chẳng biết kỹ-thuật trồng nho, chỉ theo kinh-nghiệm trồng-tỉa các loại cây ăn trái, nên lúc tiết trời gần vào Thu là tôi tỉa bớt những dây và lá sum sê dư thừa không có trái để nuôi dưỡng những dây quằn trái. Vì thế mà từ xa đã trông thấy rõ những chùm nho tua tủa treo lủng-lẳng đầy giàn. Cũng bởi sự cắt xén trống-trải ấy mà lũ chim dễ nhìn thấy trái nên đua nhau kéo đến ăn trong lúc nho chưa được chín lắm. Thế là tôi phải canh giữ và đuổi chim để chờ ngày nho chín cắt ăn.

 

                                                                      

------------

(*)  Trang tử  qua cầu nhìn cá lội dưới nước nói :

- Cá vui quá !

Huệ tử  hỏi :

- Anh không phải là cá, làm sao biết được cá vui ?

- Anh không phải là tôi thì làm sao biết được tôi biết cá vui.

-Tôi không phải là anh nên tôi không biết anh. Và tất nhiên anh không phải là tôi thì anh cũng không thể biết được cái vui của cá.

- Xin trở lại câu đầu, anh hỏi làm sao biết được cá vui. Tôi hiểu được cái vui của cá khi qua cầu.

 

                                                                                        (Thiên Thu Thủy) 

           CUỘC chiến giữa tôi và chim mở màn. Suốt mấy ngày liền, tôi phải thức sớm - vì chim bắt đàu ăn sớm lắm - cả ngày ngồi trong nhà, bên cạnh khung cửa kiếng nhìn ra giàn nho để canh chim. Trước kia trên khung trời xanh cao rộng, chim bay thì mặc chim bay, chim càng bay nhiều càng tô đậm nét linh-động của cảnh sắc, của đất trời, nhưng nay thì một bóng chim vừa liệng qua  là mắt tôi phải dán theo chúng với lòng bất ổn. Những ai có sống trong cảnh ngộ canh chừng nầy mới thông cảm được nỗi lòng của người trong cuộc chớ ngôn-từ, bút ký không thể nào diễn tả được hết. Trong lòng dấy lên không biết bao nhiêu loại phiền não. GIậN    càng cố sức đuổi  chim đi mà chúng cứ từng đàn nầy đến đàn khác luân phiên đáp xuống mãi hoặc không bay xa mà đáp trên nóc nhà lân cận ríu-rít như khiêu-khích. TỨC vì canh chừng mãi chẳng làm được việc gì khác, như cần đọc sách thì không định tâm chú ý được , cứ vừa nhìn trang sách vừa liếc giàn nho.  một chiếc lá bị gió lay-động cũng ngỡ là có chim lén lút ẩn náu trong ấy để ăn. Khi chúng đáp lại là phải chạy đến xua đuổi. Ngay khi nói chuyện qua điện thoại, lúc chúng đáp xuống không ra đuổi được thì tức tối, miệng vẫn giữ lễ-độ với người đối-thoại, nhưng lòng nào yên, cứ lo đám nho bị loài chim quấy phá. GHÉT vì thấy bóng chim thoáng qua cửa là muốn tống cổ đi ngay cho khuất mắt !!! Sự tranh chấp với chim đã đày đọa, tự  tôi đã làm khổ tôi đến thế ấy.

 

                                                                  

 Nhìn giàn nho, hình ảnh các con tôi lại diễn ra, cái cảnh mà bảy, tám năm về trước, chúng khệ-nệ mang dây nho với cả bầu đất nặng trỉu, mua từ một cửa tiệm hay một trung-tâm bán cây kiểng xa xôi nào đó đã mang về với lòng hý-hởn mong Ba có  vài việc làm giải-trí nhàn hạ - vì chúng biết sở thích  của tôi; mong Ba Má phôi pha nỗi buồn nhớ lúc phải xa các con - vì vừa dọn nhà phải xa cách chúng; mong dây nho và cây kiểng điểm tô cảnh vườn được thêm trang nhã, cảnh  sắc ngôi nhà được thêm yên tĩnh, gần gủi với thiên-nhiên ... Có bao giờ các con tôi nghĩ là dây nho hôm nay, khi sai quằn trái ngọt lại có thể gây phiền toái, để tự  tôi tạo ra lắm ác-kiến và hành động nghịch ngả như thế nầy. Biết đuợc chắc các con tôi buồn lắm, hối hận nữa là khác!

 

Còn đôi ba con chim hoang nghịch kia, bị tôi đuổi không chịu bay đi mà chỉ nhảy sang cành trúc của nhà lân cận nhìn tôi trân tráo với vẻ ngơ-ngát, kêu ríu rít, vừa như van lơn, vừa như phân bua và cũng dường như muốn bảo nhau hay hỏi lại tôi :

 - Sao lạ vậy, cái ông nầy đã nhiều lần chính ông đã lấy bánh mì xé ra từng mảnh nhỏ cho chúng ta ăn, có lúc lại để bánh mì hoặc cơm, gạo trên  bàn tay, muốn cho chúng  ta đến cận-kề mổ thức ăn ngay trong lòng bàn tay nhân ái với đôi mắt chứa-chan đầy lòng thương yêu trìu-mến. Thế mà hôm nay, vì lý do gì ông dùng  đất, sỏi ném và xua đuổi chúng ta ?

 

Cái dòng suy-tư kỳ-quái ấy lại có khả-năng lôi kéo tôi trở lui lại một quá-khứ xa xưa nào đó, thời mà tôi đã học hỏi của những anh chị Huynh-Trưởng hoặc gần đây, chính tôi đã dạy cho đoàn em đạo-hạnh Áo-Lam về lòng hiếu-thảo của loài chim Oanh-Vũ . .. Và cái thực tại trước mắt, những con chim trên cành trúc kia cứ mãi líu-lo, có con ráng ngóng cổ cao lên và dài ra, hả miệng rộng thêm như muốn giải-thích hay phân-trần hay lý-luận, hoặc muốn dạy-dỗ điều gì với tôi, nhưng vì tự-ái, cứ cho người là chúa-tể cả muôn loài, hay vì vô-minh tôi nào hiểu được, hoặc vì tâm chứa đày ấp tham sân si nên đâu thể nào  cảm-thông được những ngôn-từ dị giống có thể chứa chan đày từ-bi, vượt hẳn sự cố chấp, phân biệt Ngả,  Pháp của nhân thế.

 

          Chỉ một chút xíu vị ngọt của trái nho cũng đã và đủ khiến tôi đổi thái-độ với loài chim thân thương. Trước kia nho chua, tôi nhìn chim ăn thấy lòng vui-thích, gần gủi với chim. Nay quả nho trở nên ngọt, tôi ganh tỵ với chim, thấy chim ăn tôi uất-ức.

 

Chim có ‘xúc cảnh sanh tình’ chăng ? có lẽ nhờ không mà chim mãi líu-lo ca hót, đói ăn mỏi cánh đậu nghỉ tự-tại. Và dây nho kia, chỉ biết đến mùa là cung-cấp trái cho dù người hay chim ăn cũng được, chẳng phân biệt gì cả nên vô ngại và mãi mãi tự-tại trong luật trật-tự của đất trời. Còn tôi thì mãi huênh-hoang trong mớ lý-thuyết suông, hẹp hòi học lóm được qua kinh-sách  hoặc lời giảng của qúy Thầy, vậy mà có khi lại dám phạm-thượng phê-bình anh nầy chị nọ, đoàn-thể kia. Lòng tham-sân-si đã chẳng giãm được mà Tâm- Cảnh-Tình lại cứ quyến chặt vào nhau trong cái thế liên hoàn, trong cái vòng nhân-duyên lẩn-quẩn... gây rắc-rối, mâu-thuẩn trong cu ộc sống hằng ngày, cho cả kiếp người. Niệm theo niệm biến khởi không dừng, tâm dung chứa ngùn-ngụt phiền não thì biết đến bao giờ mới THẤY được Phật tánh, cái Chơn-tâm, cái Giác.... đã tiềm ẩn trong mình từ muôn thuở.

 

Thế mới biết chịu học đã là việc khó, thuyết giảng được những điều đã học hỏi, đã hiểu biết càng  khó hơn, và áp-dụng thực-hành được những gì đã học, đã hiểu, đã nói ... thì quả thật là việc vạn nan, nhưng được thế mới xứng đáng là người có Tu Học thật sự,

 

Chí Pháp

(Thu 1996)