|
Lối đi dưới chân ḿnh:
Cuộc đời Daisetzu Teitarō Suzuki
(Linh Mộc Trinh Thái Lang Đại Chuyết 鈴木貞太郎大拙 )
|

|
|
Daisetzu Teitarō Suzuki (1870-1966)
|
Daisetzu Teitarō Suzuki chào
đời ngày 18 tháng 10 năm 1870 tại thành phố
Kanazawa 金澤 (Kim Trạch), huyện
Ishikawa 石川 (Thạch Xuyên); tạ
thế ngày 12 tháng 7 năm 1966. Thân phụ ông là Ryojun
Suzuki, một y sĩ, và thân mẫu họ là Masu (không rơ
tên là ǵ). Song thân ông có cả thảy 5 người con, và
ông là con út.
Ông nội và ông cố
của Suzuki cũng theo nghiệp y sĩ. Lúc Suzuki 鈴木(Linh Mộc) lên 6 tuổi, ông
nội và ông cố của ông lần lượt qua
đời. Ngay năm kế đó, ông chứng kiến
một người anh của ḿnh ĺa trần. Những
sinh ly tử biệt năo nề này đă chấn
động lớn đến tâm hồn thơ ấu
của ông, và đó có lẽ là động cơ dẫn
ông bước vào lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo và
triết học về sau này.
Mười mấy tuổi
đầu, ông đă lai văng viếng thăm nhiều
thiền viện, cả nhà thờ Thiên Chúa giáo nữa,
và ông rất say mê bàn luận về những đề
tài đầy tính triết học. Khi Suzuki là một
học sinh trung học, một giáo viên dạy toán
của ông rất quan tâm đến Thiền và đă là
đệ tử của thiền sư Kōsen Imagita,
một trong những đại thiền sư lừng
lẫy bấy giờ. Chính vị giáo viên dạy toán này
đă hướng những băn khoăn triết lư và
tôn giáo của Suzuki đến Thiền, và đưa cho
Suzuki mượn nhiều sách vở viết về
Thiền.
Tốt nghiệp trung
học xong, do cảnh nhà túng quẫn, Suzuki đi dạy
kèm Anh ngữ, nhưng ông vẫn c̣n quan tâm đến
Thiền. Năm 1891, thân mẫu ông tạ thế. Năm
kế đó, một người anh của ông đang
hành nghề luật sư đă gởi ông đến Tōkyō (Đông Kinh) học ở
trường mà hiện nay trở thành Đại
học Waseda rồi học ở trường
Đại học Hoàng gia Tōkyō
(Tōkyō
Imperial University).
Chân ướt chân ráo
đến Tōkyō, ông ṃ
mẫm đến thành phố Kamakura (Liêm Thương),
huyện Kanagawa 神奈川 (Thần Nại Xuyên),
để học Thiền nơi thiền sư Kōsen
Imagita, trụ tŕ Engakuji 圓覺寺 (Viên
Giác tự).
Engakuji là một thiền viện danh tiếng, thuộc
ḍng thiền Lâm Tế 臨濟
(Rinzai). Người
sáng lập thiền viện này là thiền sư Mugaku
Sogen 無學祖元 (Vô Học Tổ Nguyên,
1226-1286). Ngài thuộc ḍng Lâm Tế đời Nam
Tống, đến Nhật Bản năm 1280, và lập
Viên Giác tự vào năm 1282. Trong hệ phái Lâm Tế
tại Nhật Bản, nhánh thiền của ngài có tên là
Mugaku 無學 (Vô Học). Thiền sư
Kōsen tạ thế đầu năm 1892, và Suzuki
vẫn tiếp tục tu học nơi đây với
người kế vị của ngài Kōsen, tức là
thiền sư Sōen Shaku.
Năm 1893, Suzuki phiên dịch
sang Anh ngữ bài diễn văn của thiền sư
Sōen, bài này được đọc trong Hội
Nghị Tôn Giáo Thế Giới (World Parliament of Religions: 世界宗教會 Thế Giới Tôn Giáo
Hội) tổ chức cùng năm này tại Chicago. Hội Nghị Tôn Giáo
Thế Giới là một phần của sự kiện
World's Columbian Exposition (Chicago, 1893) là cột mốc
đầu tiên đánh dấu việc du nhập Phật
giáo vào nước Mỹ. Trong Hội nghị, thiền
sư Sōen đă gặp gỡ Paul Carus, một tác
giả kiêm chủ bút, quan tâm rất nhiều đến
tôn giáo Đông phương. Carus là chủ bút của
tạp chí Open Court, một chuyên san về các
vấn đề tôn giáo và luân lư. Ông cũng là chủ nhà
xuất bản Open
Court, chủ yếu xuất
bản sách về triết giáo Đông phương. Sau
khi Hội Nghị kết thúc, Sōen viếng thăm
tư thất của Carus một tuần, tại LaSalle (Illinois). Kết
quả của cuộc gặp gỡ này là Carus viết
quyển The Gospel of Buddha (Chân lư của Phật
tổ). Quyển này được Suzuki dịch ra
Nhật ngữ, lúc ông đang là đệ tử tại
gia của thiền viện Engakuji (Viên Giác tự).
Suốt 4 năm tại Engakuji (Viên Giác tự),
Suzuki hết sức vất vả với một công án
mà thiền sư Sōen đă đưa cho ông. Măi
đến năm 1897, lúc ông chuẩn bị sang Mỹ
để phụ tá cho Carus phiên dịch Lăo Tử
Đạo Đức Kinh sang Anh ngữ, th́ ông
mới lư hội được công án đó. Mùa đông
năm ấy, trước lúc lên đường sang
Mỹ, Suzuki hoát nhiên đại ngộ và giải đáp
được công án này. Thiền sư Sōen ấn
chứng cho ông và ban pháp danh Daisetsu 大拙 (Đại Chuyết, nghĩa là
«rất vụng về và chất phác»). Tại Nhật,
ông được gọi là Suzuki Daisetsu 鈴木大拙 (Linh Mộc Đại
Chuyết). Pháp danh Daisetsu 大拙
(Đại
Chuyết) thường được viết bằng
Anh ngữ là Daisetz.
Sau khi phụ giúp Carus phiên
dịch Lăo Tử Đạo Đức Kinh, Suzuki
vẫn lưu trú ở Open Court, học Hán ngữ và
Phạn ngữ (Sanskrit), đồng thời tiến hành
một số đề án, trong đó bao gồm việc
phiên dịch một số kinh Phật quan trọng.
Năm 1905, Suzuki làm thông dịch viên cho thiền sư
Sōen trong chuyến chu du nước Mỹ. Khi làm
việc cho Carus, Suzuki đă phiên dịch nhiều kinh
điển Đông phương sang Anh ngữ, chẳng
hạn như quyển Awakening of Faith in the Mahayana (Đại
thừa khởi tín luận). Càng ngày Suzuki càng
nhận thấy rằng người Tây phương có
nhu cầu t́m hiểu Phật giáo, do đó năm 1907 ông
xuất bản quyển sách đầu tiên của ông
viết bằng Anh ngữ, nhan đề: Outlines of
Mahayana Buddhism (Toát yếu Phật giáo Đại
thừa).
Năm 1908, ông rời LaSalle
để đi New York,
rồi chu du Âu Châu trước khi trở về Nhật
Bản (tháng 4-1909). Tại Paris, ông miệt mài nơi
Thư Viện Quốc Gia (Bibliothèque Nationale) mà sao
chụp và nghiên cứu các kinh Phật bằng Hán ngữ
cổ đại. Tại London, ông phiên dịch quyển
Heaven and Hell (Thiên đàng và Địa ngục)
của Emanuel Swedenborg sang Nhật ngữ, giúp cho Hiệp
hội Swedenborg (Swedenborg Society). (Về sau, năm 1920,
Hiệp hội Swedenborg đă mời ông trở lại
London tiếp tục giúp họ phiên dịch các tác
phẩm của Swedenborg.)
Tháng 4-1909, Suzuki hồi
quốc và trở thành giảng viên Anh ngữ tại
trường Peer's School (nay là Đại học
Gakushūin: 學習院 Học Tập Viện);
rồi ông dạy tại Đại học Hoàng Gia
Đông Kinh (Tōkyō
Imperial University).
Năm 1910 ông trở thành giáo sư thực thụ
tại Đại học Gakushūin. Năm 1911, tại
Nhật Bản, ông kết hôn với Beatrice Lane, một nhà
thần học đă tốt nghiệp Đại
học Radcliffe. Ông và bà không có con.
Ông bà Suzuki tá túc ở
thiền viện Engakuji cho đến khi thiền sư
Sōen tạ thế (năm 1919). Sau đó ông bà dọn
đến Kyōto
(Kinh Đô). Nơi đây Suzuki trở thành giảng viên
rồi sau đó thành giáo sư thực thụ của
Đại học Ôtani. Theo sự hối thúc của
một người bạn – triết gia Nishida Kitaro –
Suzuki dọn đến ở tại Kyōto và rồi trở thành
giáo sư năm 1921.
Cũng trong năm 1921, hai
ông bà sáng lập tờ The Eastern Buddhist (Phật
tử Đông phương), một quư san bằng Anh
ngữ, truyền bá Phật pháp cho người Tây
phương. Loạt bài đầu tiên của ông là Essays
in Zen Buddhism (Thiền Luận) sau đó
được in tại London
năm 1927. Hai loạt bài kế tiếp cùng tên in vào
năm 1933 và 1934. Từ năm này, ông bắt đầu
xuất bản nhiều sách về Phật giáo bằng
Anh ngữ, ngoài bộ Essays in Zen Buddhism (Thiền
Luận, 1927-1934) c̣n có: Studies in the Lankāvatāra
Sūtra (nghiên cứu kinh Lăng Già, 1933); Zen Buddhism
and Its Influence on Japanese Culture (Thiền và ảnh
hưởng của Thiền đến văn hoá
Nhật Bản, 1938). Quyển này về sau
được hiệu đính và xuất bản
dưới nhan đề Zen and Japanese Culture (Thiền
và văn hoá Nhật Bản).
Những trứ tác của
ông, nhất là bộ Thiền Luận ba tập,
khiến tên tuổi D.T. Suzuki lừng lẫy tại Anh
Quốc. Tháng 4-1936, ông được mời thuyết
tŕnh tại Hội Nghị Đức Tin Thế
Giới (the World Congress of Faiths). Ở đây ông gặp gỡ
Alan Watts (bấy giờ Alan mới 21 tuổi), và kết
quả cuộc hội ngộ này là quyển sách
đầu tay Alan Watts, nhan đề The Spirit of Zen (Tinh
thần của Thiền), xuất bản cuối năm
1936.
Năm 1939, bà Suzuki qua
đời, sau 28 năm gắn bó và tận tuỵ
cộng tác với ông. Từ đó, ông trở về Kamakura và ẩn
dật nơi này suốt thời gian Thế Chiến II
xảy ra. Khi Thế Chiến II đang kết thúc, Suzuki
viết quyển Nihonteki Reisei (Nhật Bản linh
tánh, 1944), và năm 1972 đă dịch nó sang Anh ngữ
với nhan đề Japanese Spirituality (Linh tánh
Nhật Bản). Tác phẩm này hiện nay là sách
thuộc loại kinh điển t́m hiểu tư
tưởng tôn giáo Nhật Bản. Suzuki cũng viết
rất nhiều về Tịnh Độ Tông 淨土宗 (Jōdoshū), nhất là về Tịnh
Độ Chân Tông 淨土真宗
(Jōdo Shinshū). Ông đă phiên dịch tác phẩm chủ yếu của
Shinran (Thân Loan, 1173-1262) – vị sáng lập hệ phái này
– tức là bộ Kyōgyōshinshō:
Collection of Passages Expounding the True Teaching, Living, Faith, and
Realizing of the Pure Land (教行信證Giáo Hạnh Tín Chứng: Tinh
tuyển những áng kinh văn tường giải
về chân giáo, lai sinh, đức tin, và hiện thực
hoá Tịnh Độ). Về sau, năm 1973, Shinshū Ōtaniha
真宗大谷派 (Chân
Tông Đại
Cốc Phái) – một trong 10 chi phái của Tịnh
Độ Chân Tông (Jōdo Shinshū) – đă xuất
bản dịch phẩm này để tưởng
niệm 800 năm ngày sinh của tổ sư Thân Loan 親鸞 (Shinran, 1173-1262).
Năm 1949, Suzuki trở
thành thành viên của Japan
Academy (Nhật
Bản Học Viện). Sau đó, ông dành nhiều
thời giờ để thuyết giảng về
Phật giáo Đại thừa tại Hoa Kỳ. Ông
cũng vinh dự là giáo sư thỉnh giảng của
Đại học Columbia.
Cũng trong năm 1949, ông đi Honolulu tham dự Hội
Nghị Các Triết Gia Đông Tây (the East-West Philosopher's
Conference) tổ chức lần II, rồi năm sau (1950)
ông giảng dạy tại Đại học Hawaii.
Năm 1951, ông đi New York và
thuyết giảng một loạt bài trong những
hội thảo về Thiền tại Đại
học Columbia.
Tham dự các hội thảo này có hai nhà phân tâm học
Erich Fromm và Karen Horney, nhà soạn nhạc John Cage, v.v...
Cage đă nghe Suzuki giảng thuyết suốt hai năm
tại đây và rất lấy làm tâm đắc với
loạt bài giảng của ông. Năm 1952, Suzuki tổ
chức một chuyến thuyết giảng luân phiên
tại một số thiền viện ở Nhật
Bản với sự cộng tác của Karen Horney. Không
lâu sau đó bà Karen Horney qua đời. C̣n Fromm vào năm
1957 đă tổ chức một toạ đàm về
Thiền ở tư gia ông tại Cuernavaca
(Mexico)
với sự tham gia của Suzuki. Dần dần Suzuki
kết giao được rất nhiều nghệ
sĩ và học giả Tây phương, chẳng hạn
như Carl Jung, Thomas Merton, Gary Snyder, Allen Ginsberg, Bernard
Leach, v.v...
|

|
Năm 1953, một nữ
sinh viên Mỹ gốc Nhật tên là Mihoko Okamura – học
tṛ của ông ở Đại học Columbia – đă
trở thành thư kư riêng và biên tập cho các trứ tác của
Suzuki. Lúc này Suzuki tạm trú tại nhà của Okamura
ở Manhattan.
Bố mẹ và chị của Okamura cũng sống chung
tại đây. Những khi không phải đi đây
đi đó, Suzuki về tạm trú tại đây, và
cứ thế cho đến cuối đời; c̣n
Okamura th́ vẫn là thư kư riêng của ông.
Sau khi về hưu, thôi
giảng dạy ở Đại học Columbia
(tháng 6-1957), ông đi Cambridge (Massachusetts) và
giúp thành lập Cambridge Buddhist Society (Hội Phật Giáo
Cambridge). Tuy về hưu nhưng ông rất hoạt
động: đi đây đi đó nhiều để
thuyết giảng về Zen và tham dự hội
nghị, v.v... măi cho đến khi tạ thế vào
năm 95 tuổi tại Tōkyō.
Ngoài vai tṛ then chốt trong
việc phổ truyền Phật giáo tại Tây
phương, ông có đóng góp đáng kể trong việc
nghiên cứu kinh Phật, như Gandavyūha (Nhập Pháp
Giới Phẩm = Nyūhokkai-bon 入法界品) và
Lankāvatāra-sūtra (Lăng Già Kinh = Ryōga-kyō 楞伽經). Ngoài ra, các trứ tác của ông
đă tác động ngược trở lại tại
Nhật Bản, khiến đại chúng quan tâm nhiều
hơn về Phật giáo sau một thời kỳ dài mà
việc nghiên cứu Thần Đạo chiếm vị
thế lấn át trong việc nghiên cứu tôn giáo
Nhật Bản.
Những trứ tác của
ông bằng Nhật ngữ đă in thành một bộ 32
tập, nhan đề Suzuki Daisetzu Zensho 鈴木大拙全書 (Linh Mộc Đại Chuyết Toàn
Thư), nhà xuất bản Iwanami Shoten. Các tác
phẩm bằng Anh ngữ có trên 30 nhan đề,
chẳng hạn An Introduction to Zen Buddhism (Nhập
môn Thiền, in lần nhất năm 1934) và Zen and
Japanese Culture (Thiền và Văn Hoá Nhật Bản,
1959), v.v...
Phút lâm chung, D.T. Suzuki
dặn ḍ những người xung quanh đừng lo
lắng, rồi ông nói lời cám ơn mọi
người và thanh thản ra đi.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1- My
encounter with D.T. Suzuki - Kemmyo Taira Sato:
http://www.threewheels.org.uk/arcsub/dtsuz.htm
2- D. T.
Suzuki - Dawn Lawson:
http://www.todaysquote.com/dtsuzuki/dtsuzuki.htm
3- Daisetz
Teitaro Suzuki: http://web.otani.ac.jp/EBS/dts.html
4- Japanese-English
Buddhist Dictionary 日英佛教辭典 (Nhật Anh Phật Giáo
Từ Điển), Daitō Shuppansha 大東出版社 (Đại Đông xuất
bản xă), Japan,
1965.
|