NYOSHUL KHENPO
ĐẠI TOÀN THIỆN TỰ NHIÊN
Thiền Tây Tạng và những Bài Ca Kim
Cương
Nguyễn An Cư dịch
N.X.B Thiện Tri Thức, 1999
Thư
viện Hoa sen
.
Nguyên
bản :Natural Great Perfection
Nyoshul Khenpo Rinpoche và Lama Surya Das
Snow Lion Publications


Một chân dung chính thức
của Nyoshul Khenpo Rinpoche Jamyang Dorje đang cử hành
một lễ truyền pháp quán đảnh Kim Cương
thừa. Ảnh có được nhờ sự cho phép
của Khenpo Sonam Tobgyal Rinpoche.
Thư viện Hoa sen
NỘI DUNG
Lời
nói đầu của nhà xuất bản
Mở
đầu – Tự Do và Thong Dong :
Một
Bài Ca Kim Cương Tự Phát, Lama Gendun Rinpoche
1.
Một kẻ lang thang chứng ngộ : Một phác họa
tiểu sử Giáo lý
GÍAO LÝ
2.
Phật Pháp Căn Bản : Một thuyết giảng ở
Vương quốc Bhutan
3.
Bạn là Đại Toàn Thiện : Một lời dạy
về Bồ đề tâm Tương đối và
Tuyệt đối vào dịp Ẩn cư hai tháng ở Hoa
Kỳ
4.
Nền Tảng, Con Đường và Quả : Những
chỉ dạy Bản Tánh-Tâm về Tri Kiến, Thiền
Định và Hành Động của Dzogchen, Đại Toàn
Thiện Vốn Sẵn Đủ
5.
Đại Toàn Thiện và Phật giáo Tây Tạng : Một
giảng dạy ở Cambridge, Masschusetts Bài Ca và Bình Giải
BÀI CA VÀ BÌNH GIẢI
6.
Tấm Gương của những Điểm Thiết
Yếu : Một bức thơ Tán Thán tánh Không, từ Khenpo
Jamyang Dorje cho Mẹ ngài
7.
Bình Giải của Khenpo về “Tấm Gương của
những Điểm Thiết Yếu : Một bức
thơ tán thán tánh Không”
8.
Tấm Gương Kim Cương của Tỉnh Giác :
Một bài ca tự phát
9. Bài
ca Kim Cương của Chỗ Ẩn Tu Công Viên Nai.
10.
Bài ca Như Huyễn : Lá Thơ Giáo Huấn của Khenpo
Jamyang Dorje gởi cho các đệ tử.
11.
Một Bài Ca Ngẫu Phát cho Damchư Zangmo :
Tâm
Yếu Thiêng Liêng của Những Giáo Huấn Cốt Lõi
12. Ý
Nghĩa Thiết Yếu Lịch Sử
LỊCH SỬ
13.
Dòng Đại Toàn Thiện của Nyoshul Khenpo Lama Surya Das
Thuật
ngữ
Chú
thích
Một
Lời Cầu Nguyện Trường Thọ cho Nyoshul Khenpo
Rinpoche của Đức Dilgo Khyentse Rinpoche
Có
thể nói một cách không sai lầm, Đại Toàn
Thiện (Dzogchen) và Đại Ấn (Mahamudra) là Thiền
Tây Tạng. Chúng ta đã từng biết đến
Thiền Việt nam, Thiền Trung Hoa, Thiền Nhật
Bản, nhưng quả thật chúng ta biết rất ít
về Dzogchen, Tối Thượng Thừa, thừa Tối
Cao trong sự phân định chín thừa của Cổ phái
Nyingma Tây Tạng. Với Kiến (cái thấy, tri kiến),
Thiền (thiền định) và Hạnh (hành động
sống tương ưng với chân lý) để hoàn toàn
chứng ngộ Phật tánh là đã trọn vẹn con
đường đốn ngộ tiệm tu (hay diệu
tu) của Thiền Việt Nam và Trung Hoa. Trạng thái
tự nhiên của Đại Toàn Thiện và Đại
Ấn đích thị là “Bình thường Tâm thị
Đạo” của Thiền Tông.
Tổng
quát là vậy, nhưng chắc chắn Đại Toàn
Thiện Dzogchen sẽ giúp chúng ta nhiều điều
mới lạ do bởi con đường đặc
trưng của Phật giáo Tây Tạng. Ngay trong phần
tiểu sử những vị Tổ Đại Toàn
Thiện trong sách này, chúng ta cũng tìm thấy những cách
thực hành quý báu của một hành giả trước và
sau ngộ như thế nào. Hơn nữa, còn có những
lời tiên tri mà khởi đầu là của Padmasambhava cho
đến các đạo sư hiện tại về
sự phát triển rộng rãi của Đại Toàn
Thiện ở Tây phương và sự ích lợi của nó
nổi bật trong thời mạt pháp. Đặc biệt
là tính rộng rãi và công khai so với các tantra đòi hỏi
một sự trao truyền riêng tư nghiêm ngặt (xem
Một Con Đường Lồng Lộng Đến
Tự Do – Gyatrul Rinpoche, chương Ati Yoga – Kim Cương
dịch, NXB Thiện Tri Thức).
Việt
Trong
ý nghĩa đó, chúng tôi xin được giới thiệu
cùng độc giả cuốn Đại Toàn Thiện
Tự Nhiên, phát xuất từ dòng thiền cổ sơ
nhất của Phật giáo Tây Tạng, Ati Yoga hay Dzogchen,
pháp thiền cao nhất của Guru Padmasambhava, vị cha khai
sanh ra Phật giáo Tây Tạng.
Tháng
3 năm 1999
Kỷ niệm 700 năm ngày vua
Trần Nhân Tông về Yên Tử xuất gia
và lập nên phái Thiền Trúc Lâm.
Nhà
xuất bản Thiện Tri Thức.
Mở
Đầu
Tự Do và Thong Dong :
Một Bài Ca Kim Cương Tự Phát
Thượng tọa Lama Gendun Rinpoche
Hạnh
phúc không thể được tìm thấy
qua cố gắng và ý chí lớn lao,
mà đã sẵn hiện tiền, trong sự buông xả
trống trải và để mặc.
Chớ
có ráng sức,
không có cái gì để làm hay không làm.
Cái gì chốc lát khởi lên trong thân tâm
không có chút quan trọng thực sự nào,
không có chút thực tại nào.
Tại sao đồng hóa với, và trở nên bám
chấp vào nó,
đặt phán xét lên nó và lên chính chúng ta ?
Tốt
hơn là đơn giản
để cho toàn bộ trò chơi xảy ra riêng phần
nó,
khởi lên và lặng xuống như những cơn sóng
–
không biến đổi hay mó tay vào bất cứ cái gì
–
và nhận thấy mọi sự tan biến và lại
xuất hiện
như thế nào, trở đi trở lại như
huyễn thuật,
thời gian không có lúc chấm dứt.
Chỉ
sự tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta
ngăn cản chúng ta thấy nó.
Nó giống như một cầu vồng sống
động bạn theo đuổi
mà không bao giờ nắm bắt được,
hay như một con chó rượt theo cái đuôi của
mình.
Dù
an lạc không hiện hữu
như một sự vật và nơi chốn hiện
thực,
nó luôn luôn hiêïn tiền
và đi cùng bạn mỗi một phút giây.
Chớ tin vào thực tại
của những kinh nghiệm tốt xấu,
chúng như khí hậu phù du của ngày hôm nay,
như những cầu vồng trong bầu trời.
Muốn
nắm bắt cái không thể nắm bắt,
bạn tự làm kiệt sức mình vô ích.
Ngay khi bạn mở trống và buông xả nắm tay
siết chặt của
sự bám nắm này,
không gian vô biên là ở đấy – rỗng rang, mời
mọc và
thoải mái tiện nghi.
Hãy
dùng lấy cái trống rộng này, cái tự do và thoải
mái
tự nhiên này.
Chớ tìm cái gì khác hơn nữa.
Chớ đi vào rừng rậm um tùm
tìm kiếm con voi Giác ngộ vĩ đại,
nó vốn đã an nhiên trong nhà
ở trước lò sưởi của bạn.
Không có gì để làm hay không làm,
không có gì để động sức,
không có gì để muốn,
và không có gì thiếu sót, trệch sai –
Emaho
! Kỳ diệu !
Mọi sự xảy ra tự chúng.
Gedun
Rinpoche là một lama Kagyu trưởng, trụ trì và vị
thầy ẩn tu của Tu Viện Dakpo Kagyu Ling ở
1 Một kẻ lang
thang chứng ngộ
Một phác họa tiểu sử
Đây
hoàn toàn không phải là một namthar – một tiểu sử
tâm linh – nó chỉ là một chuỗi những chuyện
rủi ro. Tôi sinh ở miền đông Tây Tạng năm
1932. Cha tôi là một kẻ cướp lang thang, một
kẻ cướp đường. Ông ta đánh
đập, cướp giật và ngay cả giết
người. Tôi thực sự không biết cha tôi, vì ông
đã bỏ gia đình khi tôi còn rất nhỏ. Cha tôi
giống như người các bạn thấy trong phim cao
bồi, sống ngoài luật lệ trên lưng ngựa. Ông
thường sống trong những miền hoang dã xứ
Kham, miền đông Tây Tạng.
Trong
gia đình tôi có ba trai và bảy gái. Hai người anh tôi thì
rất mạnh và thô lỗ, như cha vậy ; ông cũng
rất yêu quý hai đứa con cứng rắn này. Tôi là
đứa thứ ba, có hơi yếu đuối và nhút nhát.
Cha tôi thường chê tôi, nói rằng tôi giống một
đứa con gái và chẳng được gì. Cha tôi
dạy các con mình chiến đấu, nhưng những
đứa con gái và tôi không thích lắm sự đánh nhau,
cho nên cha chúng tôi không để ý đến chúng tôi.
Mẹ
tôi là một tâm hồn dịu dàng và từ ái, một con
người mộ đạo, với nhiều kiên nhẫn
và chịu đựng. Bà có những ước mong thành
thật thực hành Pháp, dù bà có quá nhiều con và nhiều
chuyện để đối phó trong nhà. Bà nuôi hy vọng
lớn lao rằng tôi sẽ đáp ứng những
ước mong về Pháp của bà, bởi vì tôi giống bà
ở tính cách dịu dàng và từ ái. Mẹ tôi tự
bằng lòng với những phần thưởng
đơn giản của đạo đức, cầu
nguyện và sự hiến mình cho gia đình.
Bà
nội tôi, mẹ của người cướp
đường, cũng thuần thành. Bà là một
đệ tử không thường xuyên của đại
sư Đại Toàn Thiện Nyoshul Lungtok Nyima, người
là đệ tử ruột của Patrul Rinpoche. Rất say
mê Pháp và thực hành, bà không học nhiều nhưng đã
nhận những giáo lý và thực hành và hiểu chúng, như
thế chuyển hóa bản chất bà. Bà cầu nguyện
thường trực cho đứa con cướp bóc
ương ngạnh của bà chuyển biến và thay
đổi cuộc đời của nó.
Khi
tôi còn là một em bé, bà nội tôi và mẹ tôi thường
hát đi hát lại bên nôi, “Chúng con quy y Phật, chúng con quy y
Pháp, chúng con quy y Tăng.” Cũng thế, họ
thường cầu nguyện và nói với người khác
về những giáo lý, và cầu nguyện đến Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima, dù ngài ở đâu – họ thường
không biết ngài ở đâu – một cách nhiệt thành,
biểu lộ mong muốn tha thiết ngài sẽ
đến để dạy và ban phước cho họ.
Họ nhắc nhở mọi người ngài là một
đại đạo sư như thế nào. Đó là
lần đầu tiên tôi nghe đến tên thiêng liêng
của vị guru này, Nyoshul Lungtok, – một cái tên gây cảm
hứng cho tôi đến tận ngày nay.
Khi
tôi lớn lên, bà nội tôi giải thích cho tôi Nyoshul Lungtok là
lama gốc tôn kính của bà, và ngài đã cho bà một
đời sống mới. Dù không học kinh điển,
bà có kinh nghiệm trong Đại Toàn Thiện, và cũng
thực hành những giáo lý bồ đề tâm. Bà hát
tụng thần chú của lòng đại bi,
Bà
nội tôi khuyên tôi, bởi vì bản tánh tôi hiền lành,
thực rất thích hợp để theo lối sống
của mẹ tôi hơn là bắt chước cha tôi. Bà còn
khuyến khích tôi tìm một lama-bồ tát thông thạo
để dạy và huấn luyện tôi, và cố gắng
trở nên giác ngộ như chính vị lama ấy – vì đó
là điều Phật dạy.
Trong
ba năm tôi chăm sóc gia súc của gia đình và những
việc lặt vặt khác. Tôi chẳng học thứ gì,
nhưng tôi nhớ nghĩ về vị lama mà tôi đã nghe
tên. Trong thời gian này, khi tôi lên năm, mẹ tôi và bà
đưa tôi đến tu viện Sakya gần đấy,
nơi tôi được cắt tóc và cho một pháp danh.
Năm tám tuổi, tôi vào tu viện. Có khoảng một
trăm nhà sư, người thực hành và những lama
trong tu viện ấy ở xứ Kham. Pháp danh của
vị trụ trì là Jamyang Khenpa Tapkye ; ngài là ông cậu
họ của tôi.
NHỮNG
NĂM ĐẦU TIÊN Ở TU VIỆN
Là
bà con, Jamyang Khenpa Tapkye quan tâm đến tôi. Tôi liền
được dạy cho biết đọc và viết,
chuyện đó là dễ dàng đối với tôi. Không
phải đứa trẻ nào cũng có một dịp may
như vậy. Để ở trong tu viện này, những
người tập sự trẻ phải đi khất
thực mỗi ngày chung quanh những làng lân cận. Tôi
vẫn còn những vết sẹo nơi chân vì những con
chó Tây Tạng khổng lồ, chó giữ nhà dữ tợn,
chúng cắn tôi khi đi ngang qua cửa để xin tsampa,
một loại bột nướng khô, thức ăn
chủ yếu của người Tây Tạng. Khi những
đứa trẻ tập sự không có gì, chúng sẽ
bị đánh và bắt phải ngồi ở bên ngoài không
có gì để chống lại với giá lạnh. Đó là
một cuộc sống gian khổ.
Vào
khoảng mười tuổi công việc của tôi là
chăn cừu của tu viện, đôi khi ở trong chùa và
đôi khi chăn ở ngoài, nơi những chỗ hoang vu.
Khi trời nắng tôi được ra ngoài, rất
thoải mái, cảm thấy rất hạnh phúc, chỉ xem
chừng cừu gặm cỏ. Nhưng đôi khi trời mưa
và lạnh cóng, với mưa đá và gió, tôi không chỗ
ẩn núp. Hơn nữa tôi không thể thấy cừu
biến mất trong sương mù và hẻm núi. Tôi phải
tìm chúng để gom chúng lại và đưa về vào ban
tối. Tôi biết chính xác chúng có bao nhiêu con. Tôi nhận ra
từng khuôn mặt chúng và gọi mỗi con bằng tên nó.
Vào
mùa xuân và mùa hè ngắn ngủi, có nhiều hoa dại và
đủ loại chim ca hát. Kham rất đẹp vào
thời kỳ ấy trong năm. Thời gian còn lại, khí
hậu khá lạnh và khắc nghiệt. Tôi nhớ rõ ràng
những ngày hè an vui của tuổi thơ khi khí hậu
đáng yêu và tôi hoàn toàn sung sướng, ngồi ngoài
nắng, hoàn toàn thoải mái và buông xả, khi đàn cừu
gặm cỏ và tôi nhìn vào bầu trời xanh đậm màu
ngọc bích và chỉ để tâm thức tôi tự do
như nó là. Đấy là sự khởi đầu tự
nhiên, không tạo tác của sự khai triển thiền
định nơi tôi.
Đôi
khi những con chim ríu rít, và vài tư tưởng bắt
đầu đến trong tâm, đại loại : Tôi làm gì
ở đây, nghe những con chim chăng ? Tại sao tôi
ở đây ? Bà tôi bảo với tôi rằng chỉ sự
việc độc nhất đáng làm là thực hành và
chứng nghiệm Pháp thánh, tuy nhiên dù tôi đã vào tu
viện, hình như bây giờ tôi chỉ là một
người chăn cừu. Làm sao tôi có thể theo những
giáo lý và gặp một vị thầy đích thực,
hơn là chỉ làm một người chăn cừu
mặc đồ thừa rách rưới, phí phạm
thời gian trong những cánh đồng ?
Thu
hết can đảm, tôi nói với mẹ tôi muốn
học với một lama thật sự, có được
những giáo lý tâm linh đích thực, và tìm ra Pháp thiêng liêng
thật sự là gì. Rồi tôi bỏ tu viện và
đến một thung lũng khác, nơi ấy có một
đại lama cao cấp là Lama Rigdzin Jampel Dorje. Vị lama
này quả thật là một đại sư giác ngộ,
một đại thành tựu giả đã chứng
ngộ sự hợp nhất của hai dòng giáo lý
Đại Ấn (Mahamudra) và Đại Toàn Thiện
(Dzogchen).
Khi
tôi khoảng mười hai tuổi, tôi bắt đầu
và hoàn thành năm trăm thực hành sơ bộ hay ngondro,
dưới sự hướng dẫn cá nhân của vị
đại lama này. Rồi tôi cầu thỉnh và nhận lãnh
từ Jampel Dorje những giáo lý chi tiết về sự
không tách lìa của thực hành thiền shamatha (chỉ) và
thiền vipashyana (quán). Tôi áp dụng những giáo huấn
Kim Cương thừa về thiền định này trong
kiểu mẫu Đại Ấn, theo Dòng Thực Hành.
Sự thực hành này gồm bốn yoga nổi tiếng
của Đại Ấn – nhất tâm, đơn giản,
một vị và siêu vượt khỏi thiền
định – chúng được soi sáng hơn trong ba
thể thức không-thiền-định, không-tạo-tác
(vượt khỏi hành động và không hành
động), và không-phóng-dật.
Tôi
bắt đầu dần dần nhận ra rằng có
lẽ thật khó khăn để thực sự tiến
bộ trong thực hành tâm linh mà không có một nền
tảng hiểu biết vững chắc những giáo lý
tổng quát của kinh và tantra, và đặc biệt là
Bồ đề tâm quý báu. Có nói rằng, “Thiền
định mà không học thì giống như leo một
ngọn núi mà không có đôi mắt ; học mà không thiền
định thì giống như cố gắng leo một
ngọn núi mà không có tay và chân.” Rigdzin Jampel Dorje chấp
nhận. Thế nên tôi bắt đầu học với
một vị khenpo quan trọng ở tu viện, một
giáo sư tu viện trưởng uyên bác và thành tựu tâm
linh. Tôi phải học và tụng đọc thuộc lòng vô
số lời cầu nguyện, sadhana, kinh văn và bình
giải trước chúng hội – một công việc
khổng lồ.
Tôi
nghiên cứu ba lời nguyện của ba thừa, gồm
những lời nguyện pratimoksha hay những lời
nguyện giải thoát cá nhân từ Luật, những cam
kết bồ tát và những samaya Mật thừa. Tôi nghiên
cứu Bồ tát hạnh của đạo sư
Đại thừa Ấn Độ Shantideva, những giáo
lý Bồ đề tâm về tu hành tâm thức (sự
chuyển hóa thái độ), của Atisha và rất nhiều
giáo lý tương đối và tổng quát của Phật
pháp, theo những kinh điển và bình giải của
truyền thống Phật giáo. Tôi nhớ Mười Ba
Đại Bản Văn. Về sau tôi nghiên cứu sâu
về triết học Trung Đạo của Nargarjuna,
biện chứng Trung Quán, ngữ nguyên học, luận lý,
văn học Bát Nhã ba la mật, Năm Trang Hoàng của
Asanga, A tỳ đạt ma câu xá của Vasubandhu và v.v…
Cuối cùng tôi nghiên cứu toàn bộ Ba Tạng, gồm
trong toàn bộ Tây Tạng gọi là Kangyur trong một
trăm lẻ tám bộ lớn, cũng như những
luận giải chi tiết của các pháp sư Ấn và
Tạng trong một toàn bộ còn lớn hơn là Tangyur.
Theo cách này, phối hợp với thực hành, tôi thông
thạo ba thừa, gồm kinh và tantra – tất cả
những giáo lý của đức Phật.
Được
phấn khích mạnh mẽ, tôi theo đuổi sự tu hành
học giả này một cách cần cù. Dưới
đạo sư phi thường Rigdzin Jampel Dorje và khenpo
của tôi, tôi trải qua mười hai năm acharya hay tu
học khenpo theo đúng truyền thống phối hợp
với thiền định và hành thiền của Dòng
Thực Hành Rimé không bộ phái, cho đến năm hai mươi
bốn tuổi. Tôi nghiên cứu mọi giáo lý cần
thiết để trở thành một khenpo, một tu
viện trưởng và một giáo sư và đảm
nhận mọi thực hành Đại thừa và Kim
Cương thừa và những nhập thất trong
đơn độc để thực hiện chúng. Tôi còn
nhớ tôi là một chú bé nhỏ con và đơn
độc, trong một vùng tôi không quen biết một ai, và
người ta thường giễu cợt tôi như
thế nào. Tôi cũng nhớ một cách biết ơn lòng
tốt khó tin và sự rộng lượng hào phóng của
vị thầy vô ngã của tôi khi tôi theo đuổi tất
cả những học hành và tu tập này trải hơn
mười hai năm.
NHẬN
NHỮNG GIÁO HUẤN CỐT LÕI
Khi
tôi mười tám, tôi nhận lãnh những giáo lý sâu xa và
độc nhất, bí mật về bản tánh chính yếu
của tâm, những giáo huấn cốt lõi của Longchen
Nyingthig, tinh túy tâm yếu của những giáo lý Đại
Toàn Thiện. Tôi đã nhận những giáo lý biệt
truyền quý báu này về cái thấy, thiền định
và hành động của Đại Toàn Thiện từ tái
sanh (tulku) của guru của bà nội tôi – những giáo lý
làm rõ nghĩa tối hậu của Phật Pháp và của
rigpa, tâm Phật bẩm sanh, theo sự sắp xếp
nền tảng, con đường và quả, một
bộ ba được xem là một và không thể phân chia.
Tôi sớm đạt được niềm tin không lay
chuyển bên trong và sự xác tín về Đại Toàn
Thiện tự nhiên này, những giáo lý bất nhị
của Đại Toàn Thiện về tánh thanh tịnh
bổn nhiên và sự hiện tiền tự nhiên hiện
thân trong những thực hành Trekchod – Cắt Đứt, và
Togal – Siêu Xuất.
Nyoshul
Lungtok Tenpai Nyima, người nối pháp của Patrul
Rinpoche, đã chết những năm trước đó. Tái
sanh tulku của ngài đã sanh lại, lên ngôi và
được các đệ tử của vị
đời trước gồm cả Khenpo Ngakga dạy
dỗ. Chính vị tulku này, pháp danh là Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima,
đã đưa tôi vào bản tánh của tâm thức khi trao
truyền những giáo lý này. Ngài là guru gốc của tôi. Tôi
nhận pháp danh từ ngài và từ tu viện Nyoshul nơi
chúng tôi sống với nhau, trong một quận ngoại ô
vùng đại tu viện Kathok của Nyingma. Từ
những lama này tôi thừa hưởng tất cả
những giáo lý của Longchenpa và Jigme Lingpa. Tôi nhớ toàn
bộ Bảy Kho Tàng của Longchenpa, cũng như hai
bộ ba nổi tiếng của Longchenpa là Bộ Ba của
Giải Thoát Tự Nhiên và Bộ Ba của Tự Do Bổn
Nhiên của Tâm và Yonten Dzod, Kho Tàng của Những Phẩm
Tính Giác Ngộ của Jigme Lingpa, giải nghĩa tất
cả chín thừa theo truyền thống Nyingma của
Phật pháp. Tôi hoàn toàn hạnh phúc.
Tulku
Shedrup Tenpai Nyima trao truyền cho tôi Nyengyud Men Ngag Chenmo,
những giáo huấn cốt lõi nói nhỏ bên tai của
Đại Toàn Thiện. Tulku Shedrup Tenpai Nyima là đệ
tử chính của Khenpo Ngakga vĩ đại : Ngakgi Wangpo,
một đạo sư Đại Toàn Thiện trí
huệ-điên cuồng còn nổi tiếng đến ngày
nay – một đạo sư Togal thấu suốt và là
một hiện thân của tổ Đại Toàn Thiện
Ấn Độ Vimalamitra. Khi tôi còn rất nhỏ, tôi
đã gặp Khenpo Ngakga và nhận vài trao truyền từ
ngài. Tôi còn quá nhỏ để học hỏi thực
sự sâu xa với ngài Khenpo Ngakga, thế nên tôi dần
dần nhận riêng những giáo lý của ngài Khenpo Ngakga
từ Nyoshul Lungtok Shedrup Tenpai Nyima.
Khenpo
Ngakga có một phương cách uy nghi và sự lôi cuốn
phi thường, một sự hiện diện khó tin
nổi. Chỉ đi vào phòng ngài là những tư
tưởng và ý niệm chấp ngã của người ta
dừng lặng, mở ra cảnh giới trống trải
vô ngã của rigpa một cách không cố gắng. Dù tôi
chỉ là một đứa trẻ, tôi cũng còn nhớ
lại đầy biết ơn thời kỳ đó,
“Sự hiện diện đích thực của một
đạo sư Phật giáo chân thật thực sự là
thế ấy. Ai cũng hoàn toàn kinh ngạc và cảm
ứng bởi sự rực rỡ tự nhiên và sự tinh
thông tâm linh như vậy. Phước đức làm sao khi
gặp một vị Phật sống ngay nơi thế gian
này !”
Ngài
Khenpo Ngakga nổi tiếng nhiều vì nhiều lý do. Một
lần ngài ngồi ba năm trên đệm thiền, không
đi đâu cả. Khi vị đại lama này làm một
cuộc nhập thất ba năm, ngài ở trong trạng thái
trong vắt của rigpa gọi là zangtal suốt cả
thời kỳ ; không ai có thể thấy một cái bóng in
xuống từ thân ngài trong suốt ba năm. Điều
này tuyệt đối chân thật.
Khi
Khenpo Ngakga đang trong thiền định, vào những ngày
tốt lành như ngày mồng mười mỗi tháng – ngày
mỗi tháng của Guru Rinpoche, và ngày mười lăm –
ngày trăng tròn, tám dấu hiệu xuất hiện trên thân
ngài Ngakga, bởi vì thân ngài là hóa thân, sắc thân thực
sự, sự biểu lộ trên trái đất của
một vị Phật. Khenpo Ngakga có những phẩm tính
không thể nghĩ bàn như vậy đến mức mà
phẩm tính nào nghe ra cũng khó tin, nhưng có nhiều lama
là đệ tử của ngài đã thành tựu giác ngộ
hết lời ca tụng ngài. Jatral Rinpoche và Bairo Tulku Rinpoche
ở
Truyền
thống Đại Toàn Thiện nói rằng mỗi một
trăm năm một đại sư giác ngộ của
Đại Toàn Thiện xuất sanh từ trái tim của
Vimalamitra để làm việc cho ý định của
Phật trong thế giới này. Trong thế kỷ
mười chín, đó là Jamyang Khyentse Wangpo, và trong thế
hệ vừa rồi đó là Khenpo Ngakga. Khenpo Ngakga có hàng
ngàn đệ tử chứng ngộ, nhưng Nyoshul Lingtok
Shedrup Tenpai Nyima, guru gốc của tôi là người kế
pháp của ngài, người nắm giữ những giáo
huấn cốt lõi của Đại Toàn Thiện
đặc biệt gọi là Nyengyud Men Ngag Chenmo, Dòng
Những Giáo Huấn Cốt Lõi Truyền Tải về Tinh
Túy Tâm Yếu. Đấy là dòng và giáo lý đặc biệt
của tôi, giáo lý thể nghiệm (nyongtri) căn cứ vào
những giáo huấn cốt lõi truyền tai của Nyingthig,
tinh túy tâm yếu của Longchenpa và Jigme Lingpa toàn giác,
cốt tủy của Đại Toàn Thiện vốn
sẵn đủ, Dzochen. Đây là một dòng truyền
thừa chỉ nói thầm cho một đệ tử vào
một thời gian nào, không bao giờ cho đám đông. Nó
được xem là cực kỳ hiếm có và quý báu. Tôi
cũng truyền nó cho rất ít lama đệ tử thân
thiết riêng tư.
Những
vị nắm giữ dòng và những đạo sư
của giáo lý đặc biệt này đều đã giác
ngộ, là những thành tựu giả triệt ngộ
với những phẩm tính tâm linh không thể nghĩ bàn,
nhưng những lama ngày nay như tôi chỉ là một cái
bóng của những thiên thể sáng ngời tâm linh ấy.
Những đạo sư thân thể ánh sáng cầu vòng
ấy không dọi bóng ; ngày nay những người thân
thể khuyết điểm như Nyoshul Khenpo tự cho là
trao truyền giáo lý siêu việt ấy – vô lý biết bao !
Thuốc trường sanh của những giáo huấn
cốt lõi để giải thoát trong dòng độc nhất
này giống như hơi thở tươi mát của
của những dakini trí huệ. Tiếng rống sư
tử của Pháp đã được tuyên bày bởi
những yogi như những sư tử tuyết vĩ
đại trong đất nước Tây Tạng từ
hàng ngàn năm nay, nhưng ngày nay chỉ có vài con chó như
Nyoshul Khenpo đang sủa. Và không chỉ có vậy, họ
đang đi đây đi đó đến mọi
nước trong thế giới, sủa, ăn thức
ăn của những người khác, làm rầm rĩ
không biết hổ thẹn – đáng nực cười quá
chừng !
Tôi
đã ở vài năm tại tu viện Kathok, một trong
sáu tu viện chính của phái Nyingma. Trong tiếng Tây
Tạng Kathok được gọi là Kathok Dorje Den,
nghĩa là Kathok Bodhgaya hay Kathok tòa kim cương của giác
ngộ. Ngôi chùa đã bảy trăm năm ở Kham này nổi
tiếng như Bodhgaya thứ hai. Kể lại rằng
một trăm ngàn yogi đã đạt được thân
thể cầu vồng ở đó. Một câu chuyện khác
nhắc đến màu trời vàng thần thoại của
Kathok, nơi nhiều vị tỳ kheo sống đến
nỗi bầu trời thường trực phản
chiếu màu vàng sáng của y các ngài.
Ở
Kathok những lama của tôi gồm mười hai
đại tulku ; tám khenpo thành tựu tâm linh và uyên bác,
những khenpo (khác với nhiều vị ngày nay) biết
mọi thứ và nhớ toàn bộ đại tạng
Kangyur và nhiều bình giải ; và năm lama giác ngộ không
phải là tulku cũng không là khenpo, nhưng đã thành
tựu những chứng đắc lớn lao qua nỗ
lực tâm linh, trong khi vẫn là những hành giả tầm
thường và là những cột trụ vững chắc
của tăng đoàn.
Sau
khi nhận sự trao truyền giáo huấn cốt lõi
từ Tulku Shedrup Tenpai Nyima, tôi làm một năm ẩn tu
trong hang, thực hành tummo, yoga nội nhiệt bí mật, và
tập trung vào những giáo lý cốt lõi truyền tai này. Tôi
còn tiếp tục theo đuổi việc học cho
đến giữa những năm hai mươi. Tôi
thực hành tummo trong nơi hoang dã đầy tuyết cho
đến khi tuyết chảy tan quanh tôi. Trong thời
kỳ thực hành mãnh liệt khác tôi sống một
thời gian như một con thú hoang trong rừng sâu tự
do thực hành rushen, những thực hành sơ khởi
của Đại Toàn Thiện, với vài yogi khác
dưới sự hướng dẫn của guru. Tôi còn
nhớ việc sống tự do và buông xả như
thế nào, vượt khỏi mọi câu thúc ý niệm và
quy ước xã hội – giống như những
đại thành tựu giả của thời xưa !
Đó là một thời kỳ tuyệt diệu của
thực hành tâm linh. Emaho !
Tôi
thực hành những sadhana Bát Nhã ba la mật đa thuộc
Mật thừa gọi là Chošd hay Cắt Đứt Bản
Ngã, thiền định suốt đêm trong những
nghĩa địa khủng khiếp, hiến thân cho
những hồn ma đói khát và những chủ nợ
về nghiệp. Những thời kỳ khác tôi dùng
để thiền định một mình trên những
đỉnh núi đầy gió và trong những hang
động đã được những đại sư
ngày xưa làm phép để dùng, hay hành hương
đến những cảnh trí thiêng liêng và những thung
lũng giống như Shangri-la nơi các vị tổ nam và
nữ của Phật giáo Kim Cương thừa đã
thiền định, ở đó tôi làm những lễ cúng
và những hoạt động công đức. Tôi hoàn thành
sự tu tập Sáu Yoga của Naropa và Đại Ấn theo
hệ thống Kagyu, cũng như Lamdray của phái Sakya –
Con Đường và Quả, và Korday Yermay – sự Không Tách
Lìa của Sanh tử và Niết bàn, và tantra anuttara yoga
Kalachakra. Lama của tôi biết rằng tôi đã hoàn thành những
thực hành khác nhau này, gặp gỡ những hóa thần
bổn tôn ; và nhận những ban phước, trao
truyền và quán đảnh trực tiếp từ các
vị ấy, giống như những đạo sư
gốc của dòng phái trong thời trước.
Rồi
tôi du hành, nhận những giáo lý và những trao truyền
từ mười hai vị đạo sư giác ngộ
khác từ mọi truyền thống và dòng phái khác nhau có
ở Tây Tạng. Những vị đạo sư này tôi xem
là những lama gốc của tôi. Lúc đó tôi biết tôi tìm
kiếm cái gì và tìm ra nó ở đâu. Tôi thực hành và hoàn
thành những giáo lý này, như thế trở thành một
lama Rimé không bộ phái, kẻ thừa kế mọi giáo lý
thiêng liêng của Tám Cỗ Xe Lớn của Phật giáo Tây
Tạng, chúng hiện giờ được xếp vào
bốn phái chính : Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug.
ĐI
KHỎI TÂY TẠNG
Những
người đồng tu và tôi phải đi khỏi Tây
Tạng vào năm 1959. Sự thực hành tôn giáo vào những
năm sáu mươi, bảy mươi được xem
là chống phá chính trị. Tôi mất tiếp xúc với
những người ở lại, kể cả những
dấu vết của gia đình tôi. Tôi chỉ tái hợp
với những anh chị em còn sống vào một
chuyến viếng thăm miền đông Tây Tạng vào
năm 1992.
Ở
Ấn Độ, tôi đã thỉnh cầu và nhận
được những giáo lý và trao truyền đầy
đủ từ những vị đại đạo
sư, gồm vị nhiếp chính của Padmasambhava tái sanh
là đức Dudjom Rinpoche ; Dilgo Khyentse Rinpoche – hiện thân
của Văn Thù và vị Phật sống, đức Gyalwa
Karmapa thứ mười sáu. Về sau, những vị lama
này, cũng như những vị khác Tai Situ Rinpoche, Pema Norbu
Rinpoche, Sakya Trichen, và Dzigchen Rinpoche yêu cầu tôi làm Khenpo hay
giáo sư tại các tu viện của ngài, để giáo
dục tăng chúng và huấn luyện để thành khenpo
trong các trường.
Tôi
vẫn cầu nguyện thường xuyên đến hai
mươi lăm đạo sư gốc này, các vị
đã cho tôi mọi sự tôi biết và tôi có. Cho dù
người ta biết hàng trăm ngàn người tuyệt
hảo – hay hàng trăm ngàn người xấu – thì tsawai
lama hay guru gốc của mình vẫn là người quan
trọng nhất trong cuộc đời. Thật ra, cái
thực sự làm tôi kinh ngạc nhất không phải là các
vị thầy của tôi, mà là giáo lý của Đại Toàn
Thiện tự nhiên, Dzogchen : đó thật là sự lạ
lùng kỳ diệu, thần tình và không thể quan niệm
nhất trong kinh nghiệm của tôi, và là cái tôi biết
ơn nhất. Tôi không thể diễn bày nổi sự
biết ơn đối với các vị thầy, các
vị đã ban cho tôi những giáo lý. Tôi cố gắng làm
tất cả những gì tôi có thể để đền
đáp lòng tốt của các ngài bằng cách truyền nó cho
những người khác, bất cứ nơi nào tôi đã
ở. Vì tôi thực sự tin rằng chính cái này, và chỉ
cái này là lợi lạc sâu thẳm nhất.
Tôi
đã sống ở Ấn Độ một mình hai
mươi lăm năm, không gom chứa vật gì, chỉ
là một người già đơn độc, đôi khi
đi dạo quanh với y áo kiểu lama Tây Tạng màu
đỏ, đôi khi trong màu vàng cam hay màu vàng khất sĩ
hay chỉ là những mảnh vải quấn. Đôi khi tôi
thuyết pháp trong những tu viện. Tôi cũng có khi ở
với những nhà khất sĩ ở Rishikesh và Haridwar, dọc
sông Hằng, trong các tự viện, lều, mái che,
dưới những tàng cây, bất cứ chỗ nào khi
đêm xuống. Biết bao kinh nghiệm khác nhau như
mộng ! Đôi khi tôi được tán dương và hoàn
toàn thoải mái tiện nghi, thường hơn tôi bị
bỏ quên và nghèo đói. Tuy nhiên sự giàu có vô cùng của
chân lý và bình an bên trong chính là Pháp, nó luôn luôn nâng đỡ tôi
sống hạnh phúc. Đôi khi tôi làm lễ quán đảnh
cho những hội chúng lớn, gồm mười hai
vị tulku và lama, nơi đó các vị để một
cái bình vàng của lễ nhập môn vào tay tôi và tôi
đặt nó lên đầu của hàng ngàn vị sư.
Những khi khác tôi hoàn toàn nghèo khó, sống bằng tay nuôi
miệng trên những con đường của
Quá
nhiều những trải nghiệm, ký ức, và suy
tưởng khác nhau – một số tốt và một số
xấu – như nhiều loại giấc mộng khác nhau.
Một đêm năm 1959 tôi cùng với bảy mươi
người thoát khỏi Tây Tạng, và một vài ngàn binh
lính ngoại quốc ở trên những ngọn núi chung
quanh, tìm kiếm những người trốn thoát trong
đêm tối. Quân lính thình lình khai hỏa, và đạn súng
máy và đạn sáng khắp nơi. Bảy mươi
người trong đoàn, chỉ tìm thấy lại năm
người còn sống qua ngày sau. Tôi không biết chuyện
gì đã xảy ra cho số còn lại. Nhóm năm
người chúng tôi tiếp tục đi bộ qua Hy Mã
Lạp Sơn, Bhutan, Darjeeling, và Kalimpong – nơi nào có
thức ăn, chỗ ở, và an toàn có thể tìm thấy.
Rồi
tôi sống nơi vùng thấp nhiều năm như một
người tỵ nạn, lưu đày khỏi xứ
Tuyết, chen chúc với những người khác trong
những trại tỵ nạn đông đặc, những
chuyến xe lửa ẩm thấp, xin thức ăn trong
những đường xá nóng bức và bụi bặm
Ấn Độ. Vài năm sau tôi không ngờ lại
thấy mình vượt qua đại dương trong
những chiếc phản lực khổng lồ, lên
xuống dọc chiều dài của những ngôi nhà chọc
trời như cây kim vĩ đại trong những thang máy
điều hòa không khí ở những đô thị lớn
của thế giới hiện đại, ngủ trong
những khách sạn lớn trên nệm dày của những
căn phòng hiện đại, ăn trong những nhà hàng và
những hàng hiên ngập nắng, được phục
vụ như một ông vua.
Trong
những năm đầu thập niên bảy mươi,
tôi bị một cơn bệnh suýt chết. Một số
người nghĩ rằng tôi bị trúng độc trong
một hiệu ăn ở Kalimpong. Hệ thống thần
kinh của tôi bị tê liệt ; tôi hoàn toàn là một
phế nhân trong vài năm. Trước đó, tôi đã ban
những giáo lý rộng và sâu và những quán đảnh cho
nhiều người, gồm những nhà sư, lama, tulku và
cư sĩ khắp vùng Hy Mã Lạp Sơn. Sau đó tôi không
thể thấy rõ, đi khập khiểng, tay run, và tôi
chờ chết. Trong thời gian khó khăn ấy, tôi
được chăm sóc trong tu viện của Kangyur
Rinpoche ở
Thời
gian sau tôi được đưa đến Thụy
Sĩ để chữa thuốc. Tôi ở hai năm
với những người Tây Tạng theo tôi trong cộng
đồng Tây Tạng ở đấy, rồi bảy
đến tám năm ngơi nghỉ trong trung tâm Nyingma
ở thung lũng Dordogne miền tây nam nước Pháp,
chỉ thỉnh thoảng mới dạy. Trong bốn
năm tôi ở và dạy trong trung tâm ẩn cư ba năm
Chantelouse ở đó cho đến năm 1984.
Vì
lúc ấy sức khỏe tôi được cải
thiện và tôi hoạt động hơn, đi dạy
khắp thế giới, cả Đông lẫn Tây,
được những trung tâm của nhiều dòng phái khác
nhau mời đến. Tôi có hai cuộc viếng thăm Tây
Tạng : một lần với đức Khyentse Rinpoche và
một đoàn tùy tùng năm 1990, và rồi với Penor
Rinpoche năm 1992, khi tôi gặp những thành viên gia đình
còn ở đây. Tôi hiện giờ đang làm việc
để trùng tu ba tu viện của tôi và xây dựng vài
bệnh viện ở Kham. Tôi hiện ở Thimpu, thủ
đô của
NHƯ
MỘT GIẤC MỘNG, NHƯ MỘT ẢO ẢNH
Có
phải cuộc đời giống như một cuốn
phim hay một giấc mộng, như một chuỗi
giấc mộng ở trong ảo ảnh như mộng bao
la ? Làm thế nào để nhớ hết những màn khác
nhau tất yếu lộ ra từ thời gian từ lúc tôi
là một đứa bé tinh quái nhỏ con thất học cho
đến bây giờ, khi tôi đã là một người
lang thang đã già và lắm mồm với tóc bạc,
kiếng lão và nếp nhăn ? Thật là một
điều lạ lùng ! Già và còng. Một cảnh
tượng ! Một du khách Tây Tạng đã già, mờ
mắt nhìn ngó chung quanh ở những miền đất
ngoại quốc ! Emaho ! Lạ lùng ! Kỳ diệu !
Làm
sao để giải thích những thất thường vô
cùng của trải nghiệm, trừ phi xem tất cả là
những công việc của luật nhân quả nghiệp
báo không sai chạy ? Và ai tạo ra nghiệp này, ngoài chính
chúng ta ? Khi chúng ta nhận thức rằng chúng ta tạo ra
nghiệp của chính mình, và do đó chịu trách nhiệm
về sự trải nghiệm riêng của chúng ta, tốt
lẫn xấu, ưng ý và không ưng, có phải cái nhìn soi
suốt này giải phóng chúng ta khỏi bực tức và
thất vọng, thấm nhuần một ý nghĩa của
tự do và trách nhiệm, cũng như lòng từ bi
đối với những ai khổ đau vì thiếu
vắng một tỉnh giác như thế ?
Hẳn
là chẳng có ý nghĩa gì với tôi khi nói về cuộc
đời này, nhưng nó nhắc lại cho tôi tất
cả giáo pháp thiêng liêng mà tôi đã thọ hưởng –
một nguyên nhân đích thực cho sựï hưởng
thụ trong những màn ồn náo rộn ràng này. Pháp
đến trong nhiều hình thức, nhưng tất cả
đều có một vị đơn nhất của bình
an
vĩ đại.
Thật
ra tôi chỉ là một con người tầm thường
; sự quan tâm duy nhất của tôi là phụng sự, giúp
đỡ những người khác và phụ vào việc duy
trì truyền bá Pháp. Tuyệt đối tôi không có công
việc đăïc biệt nào để làm, nhưng tôi
cảm thấy bởi vì Phật giáo đã giúp tôi quá
nhiều trong cuộc đời này, nên tôi rất sung
sướng khi giúp đỡ bằng cách đưa chính
kinh nghiệm của tôi cho bất kỳ ai thích thú với
Pháp. Tôi hy vọng trong tương lai, Pháp cao cả,
những giáo lý giải thoát, sẽ nở rộ và làm
lợi lạc cho mọi người dù họ là ai ở
bất kỳ nơi đâu. Tôi không phải là một
dịch giả, nên tôi không thể nói với người
Tây phương trong ngôn ngữ của họ ; tôi chỉ
cố gắng trình bày Pháp trong mọi cách tốt nhất mà
tôi có thể làm.
Tôi
vui sướng khi thấy nhiều người Tây
phương cũng cảm xúc khi thấy Pháp là lợi
lạc, quan trọng và thâït sự ơn ích như thế
nào. Đó là cái duy nhất mà tôi thực sự biết trong
cuộc đời : những công đức tuyệt
vời của Phật pháp. Bởi thế tôi cũng hoan
hỷ thấy rằng người khác cũng cảm
nhận như thế, và tôi biết rằng nếu họ
áp dụng nó trong thực hành cụ thể, với sự
soi chiếu vào trong, họ sẽ có thể rút ra lợi
lạc từ những giáo lý sâu xa và ý nghĩa này. Không
vĩ đại sao khi thấu hiểu cái Tự Biết
độc nhất, trị bá bệnh này nó giải thoát và
giải phóng mỗi một và tất cả, thay vì cứ
tiếp tục trong sự theo đuổi không cùng vô
tận những hình thức của cái biết, mà không có cái
nào trong ấy có lợi lạc tối hậu cho mình và cho
người ?
Ngay
trên những ga xe điện ngầm ở Paris và London tôi
đã thấy những người – họ không phải là
Phật tử – mà những khả năng tâm linh đã
sắc bén để có thể làm cho họ trực tiếp
nắm lấy nội dung chân thật của Pháp bất nhị,
nếu họ chỉ cần được giới
thiệu với nó bởi một vị thầy đủ
phẩm chất. Khi giây phút của Đại Toàn Thiện
xảy tới, à, nó đấy ! Đó không phải là
vấn đề văn hóa hay nghiên cứu ; mà là hấp
lực tâm linh và sự chín thành nghiệp quả của
mỗi người.
Những
ngày hôm nay tôi phấn khởi được gặp các
người thực hành Pháp của Tây phương, họ
thành thực tìm kiếm hiểu biết kinh nghiệm
đích thực và không bằng lòng với chỉ những
nhạt nhẽo vô vị và sự kiện tôn giáo bên ngoài.
Đấy là những người mong muốn và thiết
tha phóng mình sâu vào trong chính họ, để học và hành
những giáo lý, thậm chí làm những việc hy sinh,
để nỗ lực trong sự trau dồi tỉnh giác
tâm linh. Chẳng phải là Pháp ở khắp mọi nơi
sao ? Chẳng phải là không có nơi nào khác để tìm
kiếm và thấy ra nó, chỉ trừ trong chính mình, trong tâm
và lòng của chính mình sao ?
Như
terma sadhana tối thượng Longchen Nyingthig Guru Yoga, Tigle
Gyachen của Jigme Lingpa bắt đầu với :
Không
chư Phật không chúng sanh, vượt khỏi có và không
có,
Bản thân tánh giác bổn nhiên là guru tuyệt
đối, chân lý tuyệt đối.
Bằng cách an trụ tự nhiên, vượt ngoài bám
trước, trong Bồ đề tâm vốn sẵn tự
do và bẩm sinh toàn thiện này,
Tôi quy y và làm lộ bày Bồ đề tâm tuyệt
đối.
Một
Vidhyadhadra hay đạo sư rigpa như Rigdzin Jigme Lingpa
đã thực sự chứng ngộ Phật tánh qua con
đường Đại Toàn Thiện. Bấy giờ, dù
chưa từng học nhiều, bởi vì luân xa trí huệ
của ngài nở bừng trọn vẹn, ngài có thể
tự phát viết ra những bình giải vô giá, hát những
bài ca giác ngộ doha rạng ngời, phát giác những terma
quý giá của Longchen Nyingthig bằng sự phát hiện
huyền bí, và chỉ dạy rộng rãi, soi sáng con
đường chúng ta đi cho tới tận ngày nay, ba
thế kỷ sau đó.
Cá
nhân tôi không đạt đến Phật tánh và tôi không
biết tôi sẽ ở đâu trong tương lai, trong
đời này cũng như trong đời tới.
Nhưng đấy thực sự không phải là vấn
đề, hoàn toàn không ! Dù gì cái xảy ra, cứ xảy ra.
Tuyệt đối không có cái gì để phải quan tâm.
Tôi chỉ cảm thấy biết ơn những vị
thầy của tôi, biết ơn giáo lý và biết ơn
đức Phật, và tôi mong muốn rằng tất cả
đều có thể tham dự vào nguồn ban phước
này, những công đức này, nó thực sự thuộc
về tất cả không trừ một ai. Bởi thế
tôi liên tục cầu nguyện rằng tất cả chúng
sanh có thể tạo nên sự tiếp xúc, kết hợp
tốt lành này, qua bất kỳ phương tiện gì
lợi lạc và thích hợp.
Nguyện
tất cả chúng sanh thức tỉnh trong ánh sáng của
Đại Toàn Thiện vốn sẵn và thực hiện
tự do, an bình và mãn nguyện toàn hảo !
Sarva
mangalam ! Nguyện mọi sự đều tốt lành toàn
thiện, và nguyện hòa bình có trong thế giới này và
phổ khắp toàn thể vũ trụ.