ĐẠI
TẠNG KINH NHẬP MÔN
Giới
Thiệu 139 Kinh Điển Phật Giáo
Hán
dịch: Thích
Ấn Hải, Thích Nguyện Quỷnh
Việt
dịch: Thích Viên Lý
--- o0o ---
Đại Tạng Kinh hiện
là một kho tàng pháp bảo vô giá của
Phật giáo. Lẽ ra, với một kho tàng
pháp bảo vô giá như thế, Đại Tạng
Kinh này cần và đã phải
được dịch sang Việt ngữ
từ lâu, nhưng rất tiếc, vì hoàn
cảnh chiến tranh, lệ thuộc, áp bức,
v.v... mà mãi đến nay Đại Tạng Kinh
ấy vẫn chưa được chuyể̀n
dịch trọn vẹn sang Việt ngữ; trong khi
đó, một số các quốc gia khác như
Đại Hàn, Nhật Bổn, Trung Hoa, v.v...
đều đã có từ lâu một
Đại Tạng được phiên dịch sang
tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng
những thế, họ còn bỏ công nghiên
cứu và tóm lược nội dung của
toàn bộ Kinh, Luật, Luận trong Đại
Tạng nhằm giới thiệu đến mọi
tầng lớp Phật tử như tác
phẩm giá trị này chẳng hạn.
Sự vắng bóng
của một Đại Tạng bằng tiếng
mẹ đẻ là một thiếu sót lớn
đối với Phật Giáo Việt Nam và
không những thế, còn là một thiệt
thòi không kém cho những ai muốn nghiên tầm
toàn bộ tư tưởng Phật giáo nhưng
không đủ khả năng ngoại ngữ.
Như đã nêu trên,
Đại Tạng Kinh Nhập Môn là một
tặng phẩm vô giá cho những ai muốn
tìm hiểu một cách tổng quát về Tam Tạng
Kinh Điển của Phật Giáo. Dĩ nhiên, đây
chưa phải là tác phẩm trình bày
đầy đủ về Đại Tạng, nhưng,
như bản hoài của Hiệp Hội Truyền
Giáo, chắc chắn trong một tương lai
không xa, những tác phẩm tương tự
sẽ tiếp tục xuất bản để đáp
ứng thỏa đáng những khát
vọng tu học chân chính của mọi Phật
tử.
Gần đây, có một
số tôn đức đã đặc biệt
quan tâm đến vấn đề này. Hy vọng trong
một tương lai gần, những giấc mơ
chánh đáng sẽ biến thành hiện
thực.
Trong khi chờ
đợi một Đại Tạng bằng
Việt ngữ xuất hiện, chung hòa với
niềm thao thức của mọi người,
chúng tôi cố gắng chuyển dịch quyển
Đại Tạng Kinh Nhập Môn giá trị này
như là một đóng góp nhỏ trong
việc truy cứu cần thiết cho những ai
đã, đang, và sẽ khát cầu giáo
pháp như thật của đức Phật.
Dù tự biết khả năng hữu hạn,
thời lượng eo hẹp, dịch giả
vẫn cố gắng phiên dịch trong tinh thần
thượng cầu hạ hóa. Rất mong các
bậc cao minh bi mẫn bổ chính.
Tất cả công
đức nếu có trong phần dịch thuật,
xin hồi hướng lên mười phương
Chư Phật để cầu nguyện cho Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
sớm được phụt hoạt nhằm
tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng cao cả
của mình đối với dân tộc và nhân
sinh.
Cầu nguyện mọi
loài có được đời sống an
lành trong ánh hào quang nhiệm mầu của
chánh pháp.
Cẩn
bút,
Thích Viên Lý
Tu viện
Mùa Báo Hiếu PL
Hiệp Hội Truyền Đạo
Phật Giáo là một tổ chức không phân
biệt tông phái chuyên chú vào việc
hoằng dương Phật Pháp trên khắp
thế giới, và, với mục đích
này Hiệp Hội đã thi hành những
hoạt động truyền đạo, bao gồm cả
việc soạn thảo và lưu hành giáo
lý của Đức Phật.
Trong số những
hoạt động này, Hiệp Hội đã
quyết định thực thi mọi công trình
mới: phiên dịch sang Anh ngữ toàn bộ
Hán dịch của Đại Tạng Kinh. Vì
vậy, một Ủy Ban Chuẩn Bị đã
được thành lập vào tháng Tư
năm 1982 để hoạch định những
phối trí sơ khởi. Năm 1983, một Ủy
Ban Biên soạn cũng theo đó thành lập,
và từ đó công trình đã
được tiến hành một cách nhiệt
thành.
Việc dịch sang Anh
ngữ và ấn loát Đại Tạng Kinh,
mà muốn hoàn thành chỉ trong một
thời gian ngắn thì quả thật là
một việc khó khăn. Vì vậy, Hiệp
Hội đã quyết định tuyển chọn 139
kinh điển Phật giáo đã được
soạn ở Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật
Bản để lập thành Bộ Thứ
Nhứt gồm 100 tập, để phiên dịch
và sẽ xuất bản vào cuối năm 2000.
Mục đích của
cuốn sách này là cung cấp những
bài giới thiệu ngắn gọn về
nội dung của 139 kinh điển đã được
chuyển chọn, với hy vọng giúp độc
giả hiểu tại sao những kinh điển
đó đã được tuyển chọn
cho Bộ Thứ Nhứt.
Chúng tôi thành tâm cầu
mong rằng công trình lớn lao này sẽ
không chấm dứt ở Bộ Thứ
Nhứt, mà sẽ tiếp tục tới
cùng và sẽ hoàn thành vào thời
gian sớm nhứt.
Sau cùng, tôi xin bày
tỏ sự tri ân đối với Tiên Sinh S. R.
Giebel vì đã phụ trách việc dịch
cuốn sách này sang Anh ngữ.
Hoa Sơn Thắng Hữu
(Chủ
Tịch Ủy Ban phiên dịchĐại Tạng
Kinh sang Anh ngữ Tháng 8 năm 1984)
NGUỒN GỐC ĐẠI TẠNG KINH
Thành Lập
Đại Tạng Kinh Ngôn của Đức Phật
Thích Ca
Trong suốt thời gian 45
năm, từ lúc giác ngộ năm 35 tuổi
cho tới khi nhập diệt năm 80 tuổi,
Đức Phật Thích Ca đã thuyết
giảng giáo lý của ngài một cách liên
tục. Lời giảng của ngài
được ứng dụng tùy theo khả
năng lãnh hội và hoàn cảnh của
người nghe, giống như phương thuốc
được ứng dụng thích hợp
với nhu cầu của bệnh nhân. Kết quả
là những kinh điển ghi chép lại ngôn
giáo của ngài đã đạt tới
số lượng rất lớn.
Sau khi Đức Phật
nhập diệt, các đệ tử tiếp
tục truyền bá giáo lý của ngài trong
nhân gian. Đồng thời, để bảo giáo
lý của ngài một cách trung thực cho
hậu thế, họ đã gom lại kết tập
để soạn thành một toàn bộ kinh
điển. Họ đã bàn luận suốt
mấy tháng để bảo đảm không có
những sai lầm khi nhớ lại những
lời giảng mà các vị thánh tăng
đã được nghe từ Đức
Phật. Kết quả của công việc đó
là toàn bộ giáo lý được
chính thức kết tập, làm căn bản
cho những kinh điển được viết
ra sau này.
Thành Lập Tam Tạng
và Sự Phân Rẽ Giáo Đoàn Phật
Giáo
Lúc đầu, kinh
điển Phật giáo gồm hai bộ chính
là “kinh” (sutra) và “luật” (vinaya): “Kinh” ghi lại
giáo lý của Đức Phật, “Luật”
là những giới luật mà
Đức Phật đã chế định cho
hàng tăng nhân tu hành tại các tự
viện. Về sau này có thêm những
lời chú giải về kinh và luật
đó, và được gọi chung là
“luận” (abhidharma), kết quả là có ba bộ sách
gồm kinh, luật, và luận, tức là “Tam
Tạng” (Tripituka). Dần dần xuất hiện
những dị biệt trong những lời
giải thích về giáo lý của
Đức Phật và giới luật của
tự viện; và, điều đó gây ra
sự phân rẽ trong cộng đồng Phật
giáo, đưa tới sự phân chia thành
hai bộ phái chính yếu đó là
Thượng Tọa Bộ (Therevada) có tinh thần
bảo thủ và Đại Chúng Bộ (mahasamghika)
có tinh thần cấp tiến. Mỗi bộ phái
có một bộ kinh điển riêng,
được coi là chính thức bao
gồm những quan điểm của mỗi phái.
Kinh Điển Pa-Li Ngữ
Về sau, đạo Phật
của phái Thượng Tọa Bộ bảo
thủ được truyền bá sang Tích Lan,
Miến Điện, Thái Lan và những
xứ khác trong vùng Đông Nam Á. Bộ kinh
này được gọi là “Pa-li Văn
Đại Tạng Kinh” (vì viết bằng
tiếng Pa-li) gồm ba phần kinh, luật và
luận. Tạng kinh tiếng Pa-li này đã
được các học giả Tây phương
chú ý tới, khi họ bắt đầu
nghiên cứu về Phật giáo, và đã
có nhiều sách bình luận và sách
dịch kinh điển Phật giáo sang Anh ngữ
đã được xuất bản ở Anh
Quốc. Bản dịch Đại Tạng Pa-li sang
Nhật ngữ, nhan đề là “Nam Truyền
Đại Tạng Kinh” (Nanden-daizokyo) đã dùng
bản Anh dịch này để tham khảo và
đã được xuất bản ở
đầu Thời Đại Chiêu Hòa, năm 1930.
Kinh Điển
Phật Giáo Đại Thừa
Phái Đại Chúng Bộ có tinh thần
cấp tiến đã tự xưng là “Mahayana”
(“Đại Thừa,” “Cỗ Xe Lớn”) và
phát triển bộ giáo lý của họ.
Phái này bác bỏ những hình
thức Phật giáo khác và
gọi phái kia là “Hinayana” (“Tiểu Thừa,”
“Cỗ Xe Nhỏ”), và thật ra nó giống như
một phong trào quần chúng có mục
đích thu hút quảng đại quần chúng
ngả theo giáo lý của họ. Trong số kinh
điển của phái Đại Thừa có
những kinh sách thuộc Đại Tạng Pa-li
ngữ, nhưng những sách nói về chủ
trương thì phản ảnh sự phát
triển và hệ thống hóa những lý
thuyết của các tông phái Trung Quán (Madhyamika),
Duy Thức (Yogacara) và Như Lai Tạng
(Tathagatagarbha). Sau này xuất hiện tông phái
Mật Giáo, và dần dần Phật Giáo
đã biến khỏi mảnh đất Ấn
Độ.
Phật Giáo Trung Hoa
Phật giáo đã du
nhập vào Trung Hoa qua ngã Trung Á, và
tới thế kỷ thứ nhì sau Tây lịch
kinh điển Phật giáo đã
được dịch sang Hán văn.
Đặc điểm của Phật giáo Trung Hoa
là vai trò quan trọng của việc phiên dịch
kinh sách; nhiều vị tăng sĩ nổi tiếng
kiêm dịch giả, như Cưu Ma La Thập (Kumarajiva),
Chân Đế (Paramartha), Bất Không (Amoghavajra), Huyền
Trang, v.v..., đã xuất hiện. Vì quý
ngài tinh thông tất cả ba nghành kinh, luật
và luận của Đại Tạng Kinh nên
được tôn xưng là “Tam Tạng Pháp
Sư.”
Việc phiên dịch cần
phải qua sự lý giải, cho nên, trong bản
Hán dịch có những phần dẫn giải
mà người ta không thấy trong Phật giáo
Ấn Độ. Trong Đại Tạng Kinh bằng
Hán văn, có những trường
hợp có vài bản dịch của các
dịch giả khác nhau, và ngày càng có
nhiều tác phẩm viết bằng Hán văn.
Để tránh trùng nhau, các triều
đình Trung Hoa đã vài lần ban sắc
lệnh biên soạn Đại Tạng Kinh. Vào
những thời kỳ sơ khai, kinh điển
được sao chép bằng tay, nhưng
tới thời nhà Tống thì
được in bằng cách khắc
chữ vào gỗ.
Phật Giáo Nhật
Bổn
Phật giáo
được truyền vào Nhật Bổn qua
ngã Trung Hoa và Cao Ly, do đó việc nghiên
cứu những kinh điển chính gốc
chỉ bắt đầu từ Thời
Đại Minh Trị. Trước thời kỳ
này, người Nhật đã dùng kinh
điển Hán dịch làm cơ sở,
điều đó khiến cho Phật giáo Nhật
Bổn có những khác biệt đáng
kể đối với Phật giáo Ấn
Độ. Họ chủ yếu dùng Đại
Tạng Kinh nhập cảng từ Trung Hoa, nhưng
tới đầu Thời Đại Giang Hộ
(Edo) có một tăng sĩ tên là Thiết Nhãn
(Tetsugen) đã dùng những bản Hán
dịch làm hướng dẫn để xuất
bản Đại Tạng Kinh bằng Nhật văn
theo lối chữ “Huỳnh Bá” (Obaku).
Kể từ Thời
Đại Minh Trị, Nhật Bổn chịu nhiều
ảnh hưởng của các học giả Tây
phương, đồng thời họ cũng gia công
nghiên cứu những kinh điển chính gốc.
Những kinh sách nguyên bản bằng tiếng
Pa-li văn và Phạn văn đã
được dịch sang Nhật văn và
phổ biến trong quảng đại quần chúng,
và người Nhật đã dịch
Đại Tạng Kinh Pa-li văn (Nam Truyền Đại
Tạng Kinh) như đã nói ở phần trên.
Trong thời gian gần đây người Nhật
cũng chú ý nhiều tới Phật giáo
Tây Tạng.
Phật giáo Tây Tạng –
được truyền vào từ Ấn
Độ ở thế kỷ thứ 7 – có
mầu sắc Mật Tông rất sâu đậm, và
có khi được gọi là Lạt-Ma
giáo. Một số lớn kinh điển Phật
giáo Ấn Độ đã được
dịch sang tiếng Tây Tạng, về sau trở
thành “Đại Tạng Kinh Tạng Văn.” Cho
tới nay người ta chưa tìm thấy
ở Ấn Độ một bộ kinh điển
Phật giáo nào đã được
hệ thống hóa, cho nên Đại Tạng Kinh
Tạng Văn – được dịch một cách
trung thực từ bản gốc – là nguồn
tư liệu rất quan trọng. Từ Thời
Đại Minh Trị, thậm chí một số
học giả Phật tử Nhật Bổn, như
Hà Khẩu Huệ Hải (Kawaguchi Ekai), đã
đến tận Tây Tạng để tầm cầu
những kinh điển chính gốc.
Xuất Bản Đại
Tạng Kinh Hán Dịch
Do ảnh hưởng
những cuộc nghiên cứu kinh điển
gốc, vài ấn bản mới của Đại
Tạng Kinh Hán dịch đã được
xuất bản ở Nhật Bổn vào cuối
thế kỷ 19 và những năm đầu
thế kỷ 20. sau đó tới việc xuất
bản “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh”
(Taisho shinshu daizokyo) vào thời kỳ từ
năm 1924 tới năm 1934. Đây là tạng kinh
được tham khảo và so sánh kỹ
lưỡng với tạng kinh Cao Ly và những
kinh sách xuất bản trước đó,
để mong đạt tới một tạng kinh
chính xác và đáng tin cậy nhất.
Chính tạng kinh này ngày nay được
Phật giáo thế giới sử dụng
nhiều nhất.
Dịch Đại Tạng Kinh
Sang Anh Ngữ
Dùng Đại Chánh Tân
Tu Đại Tạng Kinh nói trên làm bản gốc,
nay Hiệp Hội Truyền Đạo Phật Giáo
quyết định dịch Đại Tạng Kinh Hán
Văn sang Anh văn. Việc lý giải là phần
không thể thiếu của công trình dịch thuật,
và việc thực hiện một bản dịch
hết sức trung thực với nguyên bản
là công việc có nhiều khó khăn. Nhưng
bổn phận của Phật tử là cần
phải cung cấp cho mọi người khắp
nơi trên thế giới những kinh sách
Phật giáo dễ đọc. Trong dự án
hiện thời, chúng tôi sẽ cố gắng
hết sức để tránh những phán
đoán do ảnh hưởng giáo phái
và những thiên kiến khác, và, chúng
tôi vững tin rằng bản dịch sang Anh văn,
mà ngày nay vẫn còn nhiều phần chưa
được khai phá, với mục
̣đích hoằng dương Phật pháp
khắp thế giới, là một công trình
lớn lao và đầy ý nghĩa.
Ý nguyện của
chúng tôi là tiếp tục những nổ lực
của mình để cống hiến cho thế nhân
một bản Đại Tạng Kinh Phật Giáo –
từng có một lịch sử dài như
đã nói sơ lược trên đây –
ở hình thức dễ hiểu.
-- o0o ---
---
o0o ---
Tŕnh
bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01-04-2006