Thöa baïn,

ĐẠI TẠNG KINH NHẬP MÔN

Giới Thiệu 139 Kinh Điển Phật Giáo

 

Hán dịch: Thích Ấn Hải, Thích Nguyện Quỷnh

Việt dịch: Thích Viên Lý

--- o0o ---

 

Mục lục

 

Đôi lời của dịch giả

Lời nói đầu

 

 

1.     KINH ĐIỂN ẤN ĐỘ

 

 

 

1. Trường A Hàm Kinh

2. Trung A Hàm Kinh

3. Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh

4. Phật Sở Hành Tán

5. Tạp Bảo Tạng Kinh

6. Pháp Cú Ví Dụ Kinh

7. Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh

8. Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh

9. Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Thật Tâm Ma Dà  Kinh

10. Nhơn Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh

11. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

12. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

13. Vô Lượng Nghĩa Kinh

14. Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp Kinh

15. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

16. Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh

17. Vô Lượng Thọ Kinh

18. Quán Vô Lượng Thọ Phật   Kinh

19. A Di Đà Kinh

20. Đại Niết Bàn Kinh

21. Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh

22. Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh

23. Bát Châu Tam Muội Kinh

24. Dược Sư Lưu Li Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh

25. Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh

26. Văn Thù Sư Lợi Vấn Kinh

27. Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

28. Nguyệt Thượng Nữ Kinh

29. Tọa Thiền Tam Muội Kinh

30. Đạt Ma Đa La Thiền Kinh

31. Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh

32. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh

33. Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh

34. Nhập Lăng Già Kinh

35. Giải Thâm Mật Kinh

36. Vu Lan Bồn Kinh

 

 

37. Tứ Thập Nhị Chương Kinh

38. Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh

39. Đại Tì Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh

40. Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh

41. Tô Tất Địa Yết La Kinh

42. Ma Đăng Già Kinh

43. Ma Ha Tăng Chỉ Luật

44. Tứ Phần Luật

45. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa

46. Phạm Võng Kinh

47. Ưu Bà Tắc Giới Kinh

48. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Bà Đề Xá

49. Thập Trụ Tì Bà Sa Luận

50. Phật Địa Kinh Luận

51. A Tì Đạt Ma Câu Xá Luận

52. Trung Luận

53. Du Già Sư Địa Luận

54. Thành Duy Thức Luận

55. Duy Thức Tam Thập Luận Tụng

56. Duy Thức Nhị Thập Luận

57. Nhiếp Đại Thừa Luận

58. Biện Trung Biên Luận

59. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận

60. Đại Thừa Thành Nghiệp Luận

61. Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận

62. Nhơn Minh Nhập Chánh Lý Luận

63. Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận

64. Kim Cang Châm Luận

65. Chương Sở Tri Luận

66. Bồ Đề Hành Kinh

67. Kim Cang Đỉnh Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận

68. Đại Thừa Khởi Tín Luận

69. Thích Ma Ha Diễn Luận

70. Na Tiên Tỳ Kheo Kinh

 

 

2.     KINH ĐIỀN TRUNG HOA

 

 

71. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh U Táng

72. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa

73. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ

74. Tam Luận Huyền Nghĩa

75. Đại Thừa Huyền Luận

 

 

76. Triệu Luận

77. Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghĩa Phân Tề Chương

78. Nguyên Nhơn Luận

79. Ma Ha Chỉ Quán

80. Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu

81. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi

82. Quốc Thanh Bách Lục

83. Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục

84. Phật Quả Viên Ngộ Thiền Sư Bích Nham Lục

85. Vô Môn Quan

86. Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh

87. Tín Tâm Minh

88. Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu

89. Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca

90. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui

91. Di Bộ Tông Luân Luận

92. A Dục Vương Kinh

93. Mã Minh Bồ Tát Truyện

94. Long Thọ Bồ Tát Truyện

95. Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện

96. Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện

97. Cao Tăng Truyện

98. Tỳ Kheo Ni Truyện

99. Cao Tăng Pháp Hiển Truyện

100. Đại Đường Tây Vực Ký

101. Đại Đường Hòa Thượng Đông Chinh Truyện

102. Hoằng Minh Tập

103. Pháp Uyển Châu Lâm

104. Nam Hải Ký Qui Nội Pháp Truyện

105. Phạn Ngữ Tạp Danh

 

 

3. KINH ĐIỂN NHẬT BỔN

 

 

106.Thắng Man Kinh Nghĩa Sớ

107. Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ

108. Pháp Hoa Nghĩa Sớ

109. Bát Nhã Tâm Kinh Bí Kiện

110. Đại Thừa Pháp Tướng Nghiên Thần Chương

111. Quán Tâm Giác Mộng Sao

112. Luật Tông Cương Yếu

113. Thiên Thai Pháp Hoa Tông Nghĩa Tập

114. Hiển Giới Luận

115. Sơn Gia Học Sinh Thức

116. Bì Tàng Bảo Thược

117. Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận

118. Tức Thân Thành Phật Nghĩa

119. Thanh Tự Thực Tướng Nghĩa

120. Nghĩa Chữ “Hùm”

121. Ngũ Luân Cửu Tự Minh Bí Mật Thích

122. Mật Nghiêm Viện Phát Lộ Sám Hối Văn

123. Hưng Thiền Hộ Quốc Luận

124. Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi

125. Chánh Pháp Nhãn Tàng

126. Tọa Thiền Dụng Tâm Ký

127. Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật Tập

128. Hiển Tịnh Độ Chân Thật Giáo Hành Chứng Văn Loại

129. Thán Dị Sao

130. Liên Như Thượng Nhơn Ngự Văn

131. Vãng Sanh Yếu Tập

132. Lập Chánh An Quốc Luận

133. Khai Mục Sao

134. Quán Tâm Bổn Tôn Sao

135. Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh

136. Bát Tông Cương Yếu

137. Tam Giáo Chỉ Qui

138. Mạt Pháp Đăng Minh Ký

139. Thập Thất Điều Hiến Pháp

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

Nguồn Gốc Đại Tạng Kinh

 

 

 

ĐÔI LỜI CỦA DỊCH GIẢ

 

 

Đại Tạng Kinh hiện là một kho tàng pháp bảo vô giá của Phật giáo. Lẽ ra, với một kho tàng pháp bảo vô giá như thế, Đại Tạng Kinh này cần và đã phải được dịch sang Việt ngữ từ lâu, nhưng rất tiếc, vì hoàn cảnh chiến tranh, lệ thuộc, áp bức, v.v... mà mãi đến nay Đại Tạng Kinh ấy vẫn chưa được chuyể̀n dịch trọn vẹn sang Việt ngữ; trong khi đó, một số các quốc gia khác như Đại Hàn, Nhật Bổn, Trung Hoa, v.v... đều đã có từ lâu một Đại Tạng được phiên dịch sang tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng những thế, họ còn bỏ công nghiên cứu và tóm lược nội dung của toàn bộ Kinh, Luật, Luận trong Đại Tạng nhằm giới thiệu đến mọi tầng lớp Phật tử như tác phẩm giá trị này chẳng hạn.

Sự vắng bóng của một Đại Tạng bằng tiếng mẹ đẻ là một thiếu sót lớn đối với Phật Giáo Việt Nam và không những thế, còn là một thiệt thòi không kém cho những ai muốn nghiên tầm toàn bộ tư tưởng Phật giáo nhưng không đủ khả năng ngoại ngữ.

Như đã nêu trên, Đại Tạng Kinh Nhập Môn là một tặng phẩm vô giá cho những ai muốn tìm hiểu một cách tổng quát về Tam Tạng Kinh Điển của Phật Giáo. Dĩ nhiên, đây chưa phải là tác phẩm trình bày đầy đủ về Đại Tạng, nhưng, như bản hoài của Hiệp Hội Truyền Giáo, chắc chắn trong một tương lai không xa, những tác phẩm tương tự sẽ tiếp tục xuất bản để đáp ứng thỏa đáng những khát vọng tu học chân chính của mọi Phật tử.

Gần đây, có một số tôn đức đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Hy vọng trong một tương lai gần, những giấc mơ chánh đáng sẽ biến thành hiện thực. 

Trong khi chờ đợi một Đại Tạng bằng Việt ngữ xuất hiện, chung hòa với niềm thao thức của mọi người, chúng tôi cố gắng chuyển dịch quyển Đại Tạng Kinh Nhập Môn giá trị này như là một đóng góp nhỏ trong việc truy cứu cần thiết cho những ai đã, đang, và sẽ khát cầu giáo pháp như thật của đức Phật. Dù tự biết khả năng hữu hạn, thời lượng eo hẹp, dịch giả vẫn cố gắng phiên dịch trong tinh thần thượng cầu hạ hóa. Rất mong các bậc cao minh bi mẫn bổ chính.

Tất cả công đức nếu có trong phần dịch thuật, xin hồi hướng lên mười phương Chư Phật để cầu nguyện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sớm được phụt hoạt nhằm tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng cao cả của mình đối với dân tộc và nhân sinh.

Cầu nguyện mọi loài có được đời sống an lành trong ánh hào quang nhiệm mầu của chánh pháp.

 

Cẩn bút,
Thích Viên Lý
Tu viện Bảo Pháp
Mùa Báo Hiếu PL
2543 – 1999
 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

 

Hiệp Hội Truyền Đạo Phật Giáo là một tổ chức không phân biệt tông phái chuyên chú vào việc hoằng dương Phật Pháp trên khắp thế giới, và, với mục đích này Hiệp Hội đã thi hành những hoạt động truyền đạo, bao gồm cả việc soạn thảo và lưu hành giáo lý của Đức Phật.

Trong số những hoạt động này, Hiệp Hội đã quyết định thực thi mọi công trình mới: phiên dịch sang Anh ngữ toàn bộ Hán dịch của Đại Tạng Kinh. Vì vậy, một Ủy Ban Chuẩn Bị đã được thành lập vào tháng Tư năm 1982 để hoạch định những phối trí sơ khởi. Năm 1983, một Ủy Ban Biên soạn cũng theo đó thành lập, và từ đó công trình đã được tiến hành một cách nhiệt thành.

Việc dịch sang Anh ngữ và ấn loát Đại Tạng Kinh, mà muốn hoàn thành chỉ trong một thời gian ngắn thì quả thật là một việc khó khăn. Vì vậy, Hiệp Hội đã quyết định tuyển chọn 139 kinh điển Phật giáo đã được soạn ở Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản để lập thành Bộ Thứ Nhứt gồm 100 tập, để phiên dịch và sẽ xuất bản vào cuối năm 2000.

Mục đích của cuốn sách này là cung cấp những bài giới thiệu ngắn gọn về nội dung của 139 kinh điển đã được chuyển chọn, với hy vọng giúp độc giả hiểu tại sao những kinh điển đó đã được tuyển chọn cho Bộ Thứ Nhứt.

Chúng tôi thành tâm cầu mong rằng công trình lớn lao này sẽ không chấm dứt ở Bộ Thứ Nhứt, mà sẽ tiếp tục tới cùng và sẽ hoàn thành vào thời gian sớm nhứt.

Sau cùng, tôi xin bày tỏ sự tri ân đối với Tiên Sinh S. R. Giebel vì đã phụ trách việc dịch cuốn sách này sang Anh ngữ.  


Hoa Sơn Thắng Hữu
(Chủ Tịch Ủy Ban phiên dịchĐại Tạng
Kinh sang Anh ngữ Tháng 8 năm 1984)

 

 

PHỤ LỤC


NGUỒN GỐC ĐẠI TẠNG KINH
 

 

 Thành Lập Đại Tạng Kinh Ngôn của Đức Phật Thích Ca

Trong suốt thời gian 45 năm, từ lúc giác ngộ năm 35 tuổi cho tới khi nhập diệt năm 80 tuổi, Đức Phật Thích Ca đã thuyết giảng giáo lý của ngài một cách liên tục. Lời giảng của ngài được ứng dụng tùy theo khả năng lãnh hội và hoàn cảnh của người nghe, giống như phương thuốc được ứng dụng thích hợp với nhu cầu của bệnh nhân. Kết quả là những kinh điển ghi chép lại ngôn giáo của ngài đã đạt tới số lượng rất lớn.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử tiếp tục truyền bá giáo lý của ngài trong nhân gian. Đồng thời, để bảo giáo lý của ngài một cách trung thực cho hậu thế, họ đã gom lại kết tập để soạn thành một toàn bộ kinh điển. Họ đã bàn luận suốt mấy tháng để bảo đảm không có những sai lầm khi nhớ lại những lời giảng mà các vị thánh tăng đã được nghe từ Đức Phật. Kết quả của công việc đó là toàn bộ giáo lý được chính thức kết tập, làm căn bản cho những kinh điển được viết ra sau này.
 

Thành Lập Tam Tạng và Sự Phân Rẽ Giáo Đoàn Phật Giáo

Lúc đầu, kinh điển Phật giáo gồm hai bộ chính là “kinh” (sutra) và “luật” (vinaya): “Kinh” ghi lại giáo lý của Đức Phật, “Luật” là những giới luật mà Đức Phật đã chế định cho hàng tăng nhân tu hành tại các tự viện. Về sau này có thêm những lời chú giải về kinh và luật đó, và được gọi chung là “luận” (abhidharma), kết quả là có ba bộ sách gồm kinh, luật, và luận, tức là “Tam Tạng” (Tripituka). Dần dần xuất hiện những dị biệt trong những lời giải thích về giáo lý của Đức Phật và giới luật của tự viện; và, điều đó gây ra sự phân rẽ trong cộng đồng Phật giáo, đưa tới sự phân chia thành hai bộ phái chính yếu đó là Thượng Tọa Bộ (Therevada) có tinh thần bảo thủ và Đại Chúng Bộ (mahasamghika) có tinh thần cấp tiến. Mỗi bộ phái có một bộ kinh điển riêng, được coi là chính thức bao gồm những quan điểm của mỗi phái.

 

Kinh Điển Pa-Li Ngữ

Về sau, đạo Phật của phái Thượng Tọa Bộ bảo thủ được truyền bá sang Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan và những xứ khác trong vùng Đông Nam Á. Bộ kinh này được gọi là “Pa-li Văn Đại Tạng Kinh” (vì viết bằng tiếng Pa-li) gồm ba phần kinh, luật và luận. Tạng kinh tiếng Pa-li này đã được các học giả Tây phương chú ý tới, khi họ bắt đầu nghiên cứu về Phật giáo, và đã có nhiều sách bình luận và sách dịch kinh điển Phật giáo sang Anh ngữ đã được xuất bản ở Anh Quốc. Bản dịch Đại Tạng Pa-li sang Nhật ngữ, nhan đề là “Nam Truyền Đại Tạng Kinh” (Nanden-daizokyo) đã dùng bản Anh dịch này để tham khảo và đã được xuất bản ở đầu Thời Đại Chiêu Hòa, năm 1930.

         Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa

Phái Đại Chúng Bộ có tinh thần cấp tiến đã tự xưng là “Mahayana” (“Đại Thừa,” “Cỗ Xe Lớn”) và phát triển bộ giáo lý của họ. Phái này bác bỏ những hình thức Phật giáo khác và
gọi phái kia là “Hinayana” (“Tiểu Thừa,” “Cỗ Xe Nhỏ”), và thật ra nó giống như một phong trào quần chúng có mục đích thu hút quảng đại quần chúng ngả theo giáo lý của họ. Trong số kinh điển của phái Đại Thừa có những kinh sách thuộc Đại Tạng Pa-li ngữ, nhưng những sách nói về chủ trương thì phản ảnh sự phát triển và hệ thống hóa những lý thuyết của các tông phái Trung Quán (Madhyamika), Duy Thức (Yogacara) và Như Lai Tạng (Tathagatagarbha). Sau này xuất hiện tông phái Mật Giáo, và dần dần Phật Giáo đã biến khỏi mảnh đất Ấn Độ.

 

Phật Giáo Trung Hoa

Phật giáo đã du nhập vào Trung Hoa qua ngã Trung Á, và tới thế kỷ thứ nhì sau Tây lịch kinh điển Phật giáo đã được dịch sang Hán văn. Đặc điểm của Phật giáo Trung Hoa là vai trò quan trọng của việc phiên dịch kinh sách; nhiều vị tăng sĩ nổi tiếng kiêm dịch giả, như Cưu Ma La Thập (Kumarajiva), Chân Đế (Paramartha), Bất Không (Amoghavajra), Huyền Trang, v.v..., đã xuất hiện. Vì quý ngài tinh thông tất cả ba nghành kinh, luật và luận của Đại Tạng Kinh nên được tôn xưng là “Tam Tạng Pháp Sư.”

Việc phiên dịch cần phải qua sự lý giải, cho nên, trong bản Hán dịch có những phần dẫn giải mà người ta không thấy trong Phật giáo Ấn Độ. Trong Đại Tạng Kinh bằng Hán văn, có những trường hợp có vài bản dịch của các dịch giả khác nhau, và ngày càng có nhiều tác phẩm viết bằng Hán văn. Để tránh trùng nhau, các triều đình Trung Hoa đã vài lần ban sắc lệnh biên soạn Đại Tạng Kinh. Vào những thời kỳ sơ khai, kinh điển được sao chép bằng tay, nhưng tới thời nhà Tống thì được in bằng cách khắc chữ vào gỗ.

 

Phật Giáo Nhật Bổn

Phật giáo được truyền vào Nhật Bổn qua ngã Trung Hoa và Cao Ly, do đó việc nghiên cứu những kinh điển chính gốc chỉ bắt đầu từ Thời Đại Minh Trị. Trước thời kỳ này, người Nhật đã dùng kinh điển Hán dịch làm cơ sở, điều đó khiến cho Phật giáo Nhật Bổn có những khác biệt đáng kể đối với Phật giáo Ấn Độ. Họ chủ yếu dùng Đại Tạng Kinh nhập cảng từ Trung Hoa, nhưng tới đầu Thời Đại Giang Hộ (Edo) có một tăng sĩ tên là Thiết Nhãn (Tetsugen) đã dùng những bản Hán dịch làm hướng dẫn để xuất bản Đại Tạng Kinh bằng Nhật văn theo lối chữ “Huỳnh Bá” (Obaku).

Kể từ Thời Đại Minh Trị, Nhật Bổn chịu nhiều ảnh hưởng của các học giả Tây phương, đồng thời họ cũng gia công nghiên cứu những kinh điển chính gốc. Những kinh sách nguyên bản bằng tiếng Pa-li văn và Phạn văn đã được dịch sang Nhật văn và phổ biến trong quảng đại quần chúng, và người Nhật đã dịch Đại Tạng Kinh Pa-li văn (Nam Truyền Đại Tạng Kinh) như đã nói ở phần trên. Trong thời gian gần đây người Nhật cũng chú ý nhiều tới Phật giáo Tây Tạng.

Phật giáo Tây Tạng – được truyền vào từ Ấn Độ ở thế kỷ thứ 7 – có mầu sắc Mật Tông rất sâu đậm, và có khi được gọi là Lạt-Ma giáo. Một số lớn kinh điển Phật giáo Ấn Độ đã được dịch sang tiếng Tây Tạng, về sau trở thành “Đại Tạng Kinh Tạng Văn.” Cho tới nay người ta chưa tìm thấy ở Ấn Độ một bộ kinh điển Phật giáo nào đã được hệ thống hóa, cho nên Đại Tạng Kinh Tạng Văn – được dịch một cách trung thực từ bản gốc – là nguồn tư liệu rất quan trọng. Từ Thời Đại Minh Trị, thậm chí một số học giả Phật tử Nhật Bổn, như Hà Khẩu Huệ Hải (Kawaguchi Ekai), đã đến tận Tây Tạng để tầm cầu những kinh điển chính gốc.

 

Xuất Bản Đại Tạng Kinh Hán Dịch

Do ảnh hưởng những cuộc nghiên cứu kinh điển gốc, vài ấn bản mới của Đại Tạng Kinh Hán dịch đã được xuất bản ở Nhật Bổn vào cuối thế kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20. sau đó tới việc xuất bản “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” (Taisho shinshu daizokyo) vào thời kỳ từ năm 1924 tới năm 1934. Đây là tạng kinh được tham khảo và so sánh kỹ lưỡng với tạng kinh Cao Ly và những kinh sách xuất bản trước đó, để mong đạt tới một tạng kinh chính xác và đáng tin cậy nhất. Chính tạng kinh này ngày nay được Phật giáo thế giới sử dụng nhiều nhất.

 

Dịch Đại Tạng Kinh Sang Anh Ngữ

Dùng Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh nói trên làm bản gốc, nay Hiệp Hội Truyền Đạo Phật Giáo quyết định dịch Đại Tạng Kinh Hán Văn sang Anh văn. Việc lý giải là phần không thể thiếu của công trình dịch thuật, và việc thực hiện một bản dịch hết sức trung thực với nguyên bản là công việc có nhiều khó khăn. Nhưng bổn phận của Phật tử là cần phải cung cấp cho mọi người khắp nơi trên thế giới những kinh sách Phật giáo dễ đọc. Trong dự án hiện thời, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh những phán đoán do ảnh hưởng giáo phái và những thiên kiến khác, và, chúng tôi vững tin rằng bản dịch sang Anh văn, mà ngày nay vẫn còn nhiều phần chưa được khai phá, với mục ̣đích hoằng dương Phật pháp khắp thế giới, là một công trình lớn lao và đầy ý nghĩa.

Ý nguyện của chúng tôi là tiếp tục những nổ lực của mình để cống hiến cho thế nhân một bản Đại Tạng Kinh Phật Giáo – từng có một lịch sử dài như đã nói sơ lược trên đây – ở hình thức dễ hiểu.

 

-- o0o ---

Mục Lục |  1 |   2 |  3

 

--- o0o ---

Tŕnh bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-04-2006