Đạo Phật xuất hiện cách đây hơn 25 thế kỷ, trải
qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, từng chịu đựng biết
bao sự thử thách nghiệt ngã của thời gian, nhưng vẫn tồn
tại cho đến ngày nay. Như thế, tất nhiên Phật giáo phải
tiềm tàng những chân lý vượt cả thời gian và không gian.
Những chân lý ấy phải phù hợp với mọi căn cơ của chúng
sinh, và đáp ứng được những nhu cầu thiết thực của mọi
thời đại. Người ta có thể gọi đạo Phật là một tôn giáo
từ bi, một hệ thống triết học hoàn chỉnh, một nền đạo
đức nhân bản v.v... Tất cả những yếu tố đó được bao gồm
trong ba tạng giáo điển là: Kinh, Luật và Luận. Trong ba
tạng ấy, Luật tạng được xem như môn đạo đức Phật giáo,
nhằm hướng dân cuộc sống thực nghiệm, chuyển hóa con
người, cải tạo xã hội trở thành chân thiện mỹ.
Tinh thần giáo lý của Đức
Phât có thể được cô đọng trong 4 câu kệ:
"Không làm các điều ác,
Vâng làm các hạnh lành,
Giữ tâm ý trong sạnh,
Chư Phật dạy như vậy”.
Dựa trên những nguyên tắc tổng quát đó, Đức Phật đã chế
ra giới luật theo các cấp độ khac nhau. Tuy chia nhiều
cấp độ, nhưng căn bản vẫn là năm giới và mười thiện giới;
các giới khác chỉ là cụ thể hóa chi tiết những giới này
mà thôi. Năm giới không những là nguyên tắc đạo đức vô
cùng thiết thực cho người Phât tử, mà còn rất cần thiết
cho hết thảy mọi người, ở mọi thời đại, nếu nhân loại
muốn thiết lập một đời sống gia đình hạnh phúc, xây dựng
một xã hội ổn định, và kiến tạo một đất nước thanh bình.
Giới thứ nhất không sát sinh, là tôn trọng sự sống của
muôn loài, nêu cao đức hiếu sinh của đạo Phật. Giới thứ
hai không trộm cắp, là tôn trọng tài sản của kẻ khác,
sống theo lương tâm và lẽ phải. Giới thứ ba không ngoại
tình, là bảo vệ hạnh phuc của gia đình và tôn trọng hạnh
phúc của kẻ khác. Giới thứ tư không vọng ngữ, là tôn
trọng sự thật, giữ lòng thành tín với mọi người. Giới
thứ năm không uống rượu, là bảo vệ sức khỏe, giữ gìn tâm
trí sáng suốt.
Đó là những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà Đức Phật đã đề
ra cho các Phật tử thực hành, hầu đem lại hạnh phúc cho
bản thân, an vui cho kẻ khác ngay trong đời này và những
cuộc sống mai sau.
Tiến thêm bước nữa, Phật dạy các hàng đệ tử xuất gia
phải sống một cuộc đời tri túc để đoạn trừ tận gốc mọi
dục vọng. Vì dục vọng chính là thủ phạm gây nên những
nỗi đau thương nơi bản thân mình, và tạo ra tang tóc cho
bao nhiêu người khác. Để thực hiện nếp sống tri túc, Đức
Phật dạy người xuất gia phải sống một cuộc đời thanh bần,
đạm bạc, mà thuật ngữ chuyên môn gọi là “Tam thường bất
túc”, tức là ba nhu cầu thường ngày như ăn, mặc và ngủ
không được quá dư thừa, sung túc. Trong kinh Di Giáo,
Đức Phật dạy các Tỳ kheo phải xem sự ẩm thực như là môn
thuốc để bảo vệ sự sống, nên không được lạm dụng: “Này
các Tỳ kheo, thọ dụng đồ ăn, thức uống, phải coi như
uống thuốc, ngon không ham, dở không bỏ, vưa đủ duy trì
cơ thể cho khỏi đói khát; như ong lấy nhụy hoa, chỉ lấy
mùi vị mà không làm tổn thương hương sắc. Người xuất gia
cũng vậy, thọ dụng đồ cúng dường của tín thí không được
tham cầu cho nhiều, đến nỗi phá vỡ thiện niệm của họ”.
Tất nhiên, ai cũng phải ăn mới sống, nhưng nếu vì sự
sống của mình mà làm tổn thương sự sống của kẻ khác thì
thật là điều đáng trách. Bởi vì “người ta ăn để sống,
chứ không phải sống để ăn”, như tục ngữ dân gian thường
nói. Thế nên, người tu sĩ thọ dụng sự cúng dường của thí
chủ là nhằm tạo cơ hội để họ kết mối duyên lành, hầu ban
phát cho họ những thức ăn tinh thần, loại thức ăn cao
quý, bổ dưỡng, tối cần thiết để nâng cao phẩm giá con
người xứng đáng với địa vị tối ưu, mà các loại sinh vật
khác không thể có được.
Ngoài ra, Đức Phật còn dạy khá nhiều về nếp sống tri túc,
và Ngài kết luận về giá trị của sự tri túc hay biết đủ
như sau: “Chính sự biết đủ là giàu sang, hạnh phúc và
yên ổn. Người biết đủ thì nằm trên đất cũng thấy an vui,
người không biết đủ thì ở thiên đường cũng không thỏa
mãn. Không biết đủ thì giàu mà nghèo, biết đủ thì nghèo
mà giàu”. (Kinh Di Giáo).
Ai cũng biết nhân loại đã trải qua hàng bao thế kỷ nỗ
lực phát huy những thành tựu khoa học nhằm phục vụ con
người đạt đến hạnh phúc tối đa. Những phương tiện khoa
học rất cần trong quá khứ, hiện tại và cả đến tương lai,
điều đó không ai có thể phủ nhận. Nhưng điều cần thiết
hơn hết chính là người sử dụng những phương tiện ấy phải
có đạo đức và lương tâm. Nếu thiếu lương tâm và đạo đức
thì những phương tiện khoa học kia có nguy cơ biến thành
thảm họa, trở lại đe dọa sự sống của con người. Bởi vì,
lòng ham muốn của con người là vô cùng tận, càng được
thỏa mãn, càng tham muốn nhiều hơn, khiến cho con người
lúc nào cũng cảm thấy khát khao và đau khô, nếu như
không biết dừng lại đúng lúc.
Thực ra, cái thiếu thốn trầm trọng nhất của con người
hiện đại là thiếu thốn tinh thần, chứ không phải thiếu
thốn những tiện nghi vật chất. Chính vì thiếu thốn tinh
thần mà một số ít giới trẻ đã trở thành vong thân, chạy
theo chủ nghĩa thực dụng, ca ngợi quá đáng giá trị của
đồng tiền, đến nỗi cho rằng “với thế lực của đồng tiền,
người ta có thể mở cửa thiên đường cho các linh hồn đi
vào”. Bị đầu độc bởi triết lý thô thiển, tha hóa như thế,
nên một số thanh thiếu niên chưa hấp thụ được truyền
thống cao thượng của cha ông ta là “xem tiền tài như
phấn thố, trọng nhân nghĩa tợ thiên kim”, chỉ còn biết
tôn thờ sức mạnh của đồng tiền mà quên hết nghĩa nhân.
Để ngăn ngừa lòng tham, trấn áp mọi cám dỗ vật chất bên
ngoài, Đức Phật dạy cho ta sự tri túc, còn để đối phó
với những kẻ xúc phạm đến danh dự và lòng tự ái của ta,
Đức Phật trang bị cho ta thứ vũ khí nhẫn nhục, như trong
Bồ tát giới mô tả: “Nếu là Phật tử thì không được đem sự
giận dữ đáp lại sự giận dữ, không được đem sự đánh đập
trả lại sự đánh đập, thậm chí cũng không được nuôi hận
thù đối với những kẻ đã tàn sát cha mẹ, anh em, chú bác
của mình. Nói tóm, tàn sát sự sống để trả thù sự sống là
điều trái ngược với đức hiếu sinh của đạo Bồ tát”.
Tất nhiên, theo thường tình, trả thù những kẻ đã sát hại
cha mẹ, anh em ta, đó là lẽ công bằng tự nhiên của đạo
lý làm người. Thế nhưng, nếu dùng oán để trả oán, thì
oán oán sẽ chập chùng, khó mà chấm dứt được dòng nhân
quả vay trả trả vay bất tận. Bởi vì:
"Hận thù diệt hận thù
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luật nghìn thu”.
Những người mà ta xem là kẻ thù kia chẳng qua cũng chỉ
là nạn nhân của những điều kiện lịch sử, địa lý, chính
trị, và nhất là nạn nhân của si ám vô minh. Thế nên,
người thực hành đạo Bồ tát phải mở rộng tấm lòng, khoan
dung cho họ. Dĩ nhiên, công hạnh này rất khó thực hiện,
nhưng nếu thực hiện được, sẽ có mãnh lực cảm hóa những
kẻ ác hướng về đường thiện, và chắc chắn xã hôi loài
người sẽ trở nên an lạc và tốt đẹp hơn nhiều. Vả lại, kẻ
thù đích thực từng gieo rắc đau thương thống khổ bất tận
cho nhân loại chính là ba độc tham, sân, si, chứ không
phải là những con người bằng xương bằng thịt mà chúng ta
cùng chung sống trên trái đất này.
Chính vì tham, sân, si thúc đẩy mà có người đã biến
thành kẻ trộm cướp, gây đau khổ cho bao người, thậm chí
còn làm tổn thất đến tài sản quốc gia một cách trầm
trọng. Vì tham, sân, si mà có những người đã biến thành
quân xâm lăng, đi xâm chiếm đất đai người khác. Trong
lịch sử Việt Nam, có lúc dân tộc ta đã là nạn nhân của
loại vô minh tam độc ấy, và đã phải dũng cảm đứng lên hy
sinh bao xương máu, mới có thể giành được tự do độc lập.
Với trí tuệ tối thượng, đức nhẫn nhục tuyệt cùng và lòng
từ bi bao la, Đức Phật đã cảm hóa một người Bà la môn,
khi y đến xúc phạm Ngài: “Này Bà la môn, nay ông mắng Ta
mà Ta không nhận thì ông sẽ chuốc lấy hậu quả, như vang
theo tiếng, bóng theo hình, không bao giờ rời nhau”.
“Người ác mà hại người hiền cũng như ngửa mặt lên trời
mà nhổ nước miếng, nước miếng không thấu trời, mà rơi
lại vào mình. Thế nên, hãy cẩn thận, chớ làm điều ác”
(Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
Trong một dịp khác, Đức Phật dạy các Tỳ kheo phải nhẫn
nại trước những trường hợp khó nhẫn nhất. Ngài khẳng
định, người nào nhẫn được trong trường hợp ấy mới xứng
đáng là bậc Đại sĩ dũng mãnh, cao cả hơn người: “Này các
thầy Tỳ kheo, nếu ai cắt xả thân thể các thầy ra từng
mảng, từng đoạn, các thầy cũng phải kiềm chế tâm mình,
đừng nên nổi giận. Tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo
nghiệp, hỏng mất công đức. Thực hành đức nhẫn mới được
mệnh danh là bậc thượng nhân có sức mạnh. Kẻ nào không
thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách hoan hỷ như uống
nước cam lồ, kẻ ấy không được ca ngợi là bậc thượng nhân
có trí” (Kinh Di Giáo).
Nhờ ảnh hưởng tinh thần từ bi, nhẫn nhục của đạo Phật mà
một người con vĩ đại của dân tộc Ấn Độ là Gandhi đã lãnh
đạo dân chúng đấu tranh giành độc lập theo đường lối bất
bạo động, cuối cùng đã giải phóng Ấn Độ thoát khỏi ách
thực dân Anh. Vì vậy, nhân dân Ấn Độ suy tôn ông như một
vị cứu tinh, một ông Thánh. Tên tuổi của ông được sử
sách muôn đời ca ngợi, chỉ vì ông đã thấy được sức mạnh
của tâm linh, phát huy truyền thống bất bạo động cao cả
mà tiền nhân đã chỉ dạy.
Bài học về lòng từ bi khoan dung của đạo Phật cũng thấm
nhuần sâu sắc trong huyết quản và tâm hồn của người Việt
Nam; do đó, một nhà ái quốc lớn của dân tộc là Nguyễn
Trãi đã khéo vận dụng và biến thành đường lối chính trị
nhân bản đem lại thành công và rất nổi tiếng trong lịch
sử nước ta. Đó là: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy
chí nhân để thay cường bạo”.
Như tất cả chúng ta đều biết, trong đạo Phật có nhiều hệ
phái và nhiều dị biệt lớn lao, nhưng lịch sử Phật giáo
chưa bao giờ ghi lại một cuộc tranh chấp đẫm máu nào như
những cuộc thánh chiến đã từng xảy ra trong lịch sử châu
Âu. Điều đó chứng tỏ những lời Phật dạy có ảnh hưởng rất
sâu xa trong tâm hồn mọi người con Phật.
Thể hiện tâm đại bi và đức hiếu sinh đối với các loài
hữu tình, Đức Phật đã cụ thể hóa những lời dạy thành
những giới điều mà người thọ giới Bồ tát cần phải tuân
thủ: “Khi Phật tử thọ giới Bồ tát thì không được ăn
thịt, vì ăn thịt là làm mất hạt giống đại bi của Phật
tính”. “Người thọ giới Bồ tát nên xem chúng sinh trong 6
cõi như cha mẹ mình, nếu ta giết mà ăn thịt thì khác nào
ăn thịt cha mẹ ta” (Giới Bồ tát thứ 3 và 20).
Đó là cái nhìn bằng tuệ giác vô thượng của Đức Phật,
thấy được chân tướng bình đẳng của muôn loài trong dòng
trường lưu sinh tử. Còn đối với chúng ta, xem loài vật
ngang hàng với mình còn không thể chấp nhận được, huống
nữa là xem ngang hàng với cha mẹ mình.
Không sát sinh và không ăn thịt cố nhiên là những việc
rất khó thực hành. Thế nhưng, nếu có người nỗ lực thực
hiện được những điều ấy, thì không những bản thân họ
hưởng được hạnh phúc an vui, sinh mạng của các loài động
vật được bảo toàn, mà các giống vật quý hiếm cũng tránh
khỏi thảm họa diệt chủng - một nỗi lo âu mà các nhà động
vật học đang khan cổ báo động.
Đức hiếu sinh là đạo cao thượng của Bồ tát, nhưng sự xoa
dịu những nỗi đau thương, cứu giúp người cùng khổ, cũng
là trọng trách mà Bồ tát phải đặc biệt quan tâm: “Đã là
Phật tử thì khi gặp bất cứ người nghèo khốn nào đến cầu
xin, cũng phải tùy theo nhu cầu của họ mà nhường cho
những thứ mình có”.
Tinh thần cứu khổ ấy của đạo Phật đã biến thành ca dao
tục ngữ rất phổ biến trong nhân dân ta, như: “Lá lành
đùm lá rách”, hay: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương /Người
trong một nước phải thương nhau cùng” mà bất cứ người
Việt Nam nào cũng đều thấm nhuần sâu sắc, hoạt hiện
thành tình người, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân
tộc Viêt Nam.
Sự nhường cơm sẻ áo, cảm thông những nỗi khổ của đồng
bào, đồng loại, đó là nền tảng giáo lý từ bi của đạo
Phật. Đạo Phật dạy con người sống theo lương tâm, sống
có đạo đức - một nền đạo đức rất cần thiết cho mọi dân
tộc và mọi thời đại, nhất là cái thời đại mà nền văn
minh vật chất đã khống chế toàn bộ con tim và khối óc
của nhân loại. Ngày nay, những thành tựu của khoa học và
kỹ thuật đang phát triển mạnh và trở lại không chế con
người. Sức mạnh của đồng tiền đã biến con người thành kẻ
nô lệ ngoan ngoãn phục tùng cho dục vọng của chính mình.
Trong khi ấy, đạo đức và nhân phẩm đang bị khinh rẻ.
Tình trạng khủng hoảng đạo đức trầm trọng như hiện nay,
chính là lúc nhân loại đang cần đến những phương thuốc
thần diệu để chữa trị căn bệnh suy thoái đạo đức hơn bao
giờ hết.
Chúng ta thấy trong kinh điển, đâu đâu cũng có những lời
dạy về sự công bằng, lòng nhân ái, đức chính trực, về sự
khiêm tốn phục thiện v.v... Người Phật tử chân chính
không được hiếp đáp kẻ cô thế, không được vu oan giá họa
bất cứ một ai, không được vô cớ hủy báng những người
hiền lương đức hạnh. Lại càng không được ham mê danh
lợi, dựa thế kẻ cầm quyền để dọa nạt, giành giật và
chiếm đoạt tài sản của cá nhân, của tập thể, của xã hội
một cách bất lương. Đức Phật rất am hiểu tâm lý của
chúng sinh là dễ xu hướng theo những tật xâu mà khó phát
huy những đức tính tốt. Bởi vì, tật xấu cũng như loài cỏ
dại, không gieo hạt mà nó vẫn nảy nở tràn lan, còn đức
tốt thì giống như loài hoa quý, phải tưới nước, bón
phân, nắng che, gió chống, mới dâng hiến cho đời những
hương sắc xinh tươi. Do vậy, Đức Phật đã hệ thống hóa
những lời dạy của Ngài thành những giới điều, những
nguyên tắc sống, khiến các đệ tử phải tuân thủ một các
nghiêm nhặt, hầu nâng cao phẩm giá của mình, đem lại an
vui cho kẻ khác.
Nói thế hẳn có người sẽ hỏi: Những điều nêu trên thì
luật pháp của nhà nước cũng từng đề cập đến, thế thì
pháp luật và giới luật có gì là khác nhau? Tất nhiên là
rất khác nhau: Pháp luật mang tính chất răn đe, trừng
phạt, giới luật có tính cách tự giác, khuyến khích; pháp
luật chỉ sửa trị ở ngọn, giới luật sửa trị từ gốc; pháp
luật chỉ trừng trị những tội phạm khi đã phát sinh bằng
hành vi của thân và miệng, giơi luật ngăn chặn những lỗi
lầm khi chưa phát sinh, còn manh nha từ trong ý tưởng;
pháp luật căn cứ trên hậu quả của hành vi mà quy định,
giới luật dựa trên nguyên lý nhân quả mà thiết lập.
Một người phạm pháp có thể che giấu mọi người xung
quanh, che giấu pháp luật nhà nước, có thể dùng những
mánh khóe khôn ngoan để chạy tội, trốn tránh sự trừng
phạt của luật pháp, nhưng họ không thể nào trốn tránh
được sự trừng phạt của lương tâm, của tòa án chí công
nhân quả. Không thể nào phạm tội giết người mà được an
vui tự tại. Không thể nào lường gạt, “thụt két” mà hưởng
được giàu sang sung sướng. Không thể nào ngoại tình,
quan hệ bất chính mà có được hạnh phúc ngọt ngào của
tình yêu chung thủy. Không thể nào lừa bịp, gian dối mà
được mọi người tôn trọng. Không thể nào rượu chè bê tha
mất hết trí khôn mà còn giữ được lương tâm, sống theo lẽ
phải. Làm điều bất thiện mà tạm được yên ổn, chẳng qua
là ác quả chưa đến đó thôi. Khi ác quả đã chín, thì nhân
nào sẽ trổ quả nấy, như ông bà ta từng dạy: “Trồng dưa
thì được dưa, trồng đậu thì được đậu”.
Pháp luật chỉ là những quy ước của xã hội, nhằm kiềm chế
những kẻ xấu, không cho gây rối loạn trật tự xã hội,
không cho xâm phạm đến quyền lợi của kẻ khác. Nó chỉ đối
trị những hậu quả mà không thể ngăn ngừa từ những nguyên
nhân. Nó không có tính tự giác, không thể ngăn chặn
những mâm mống tội ác còn đang manh nha.
Nói thế không có nghĩa là chúng ta muốn cổ xúy một xã
hội rối loạn, vô luật pháp. Cho đến bao giờ chưa chưa
tìm được một giải pháp nào tốt đẹp hơn thì pháp luật vẫn
là những quy định cần thiết nhằm xây dựng một xã hội có
kỷ cương. Điều đó thiết tưởng không ai dám phủ nhận.
Nhưng điều quan trọng hơn hết chính là những người có
trách nhiệm duy trì luật pháp phải nêu cao gương tốt, có
như thế mới khích lệ mọi người tuân hành pháp luật một
cách nghiêm túc.
Tóm lại, để ngăn ngừa các hành vi tội ác, xây dựng
mẫu người đạo đức lý tưởng, kiến tạo một xã hội an lành
thật sự, thiết tưởng, chúng ta nên tìm trong di sản quý
báu của ông cha để lại, rút ra những bài học sinh động,
thực tiễn, từng được thể nghiệm có kết quả tốt nhất mà
dùng làm phương thuốc cứu chữa căn bệnh suy thoái đạo
đức trầm trọng như hiện nay. Phải chăng đó là hoài bão
mà các nhà trí thức có tâm huyết từng trăn trở và lo âu
cho tiền đồ của dân tộc và tương lai xứ sở thiết tha
mong muốn? Và có lẽ đó cũng là niềm thao thức khôn nguôi
của mọi người con dân Việt Nam yêu nước, thương nòi.