V.- Chánh hạnh, trợ hạnh:
Hành
trì theo pháp môn Tịnh độ này có chia làm hai hạnh môn:
1.- Chánh hạnh: bao gồm hai hạnh môn:
a.- Trì
danh.
b.- Quán tưởng.
2.-- Trợ hạnh: bao gồm hai hạnh môn:
a.- Hạnh
thế gian.
b.- Hạnh xuất thế gian.
1.- Chánh hạnh: bao gồm hai hạnh môn:
a.- Trì danh: Trì danh tức là chấp trì
danh hiệu của Từ phụ A Di Đà Phật. Về ý nghĩa, trì danh
như trong phần một đã giải rõ, nơi đây tôi chỉ nói về
pháp trì danh thu nhiếp căn cơ. Pháp này rất rộng vì
trong ba căn đều trùm khắp chẳng sót. Bậc thượng căn
thượng trí trì danh được nhất tâm bất loạn, vãng sanh
thượng phẩm. Còn hàng hạ căn trì danh dù không được nhất
tâm nhưng trong khi niệm Phật một lòng tha thiết nhớ
Phật như con thơ nhớ mẹ, dù phiền não nghiệp chưa dứt,
nhưng vẫn được vãng sanh vì nương nhờ tha lực của Phật.
Do đó trong kinh nói là đới nghiệp vãng sanh, tức là
mang nghiệp mà về Tây phương Cực Lạc thế giới, không bị
trầm luân trong biển khổ sanh tử Ta Bà. Việc này trong
kinh Na Tiên Tỳ kheo có nói một thí dụ như tảng đá nặng
đến nghìn tạ mà để nó vào chiếc thuyền lớn vẫn không bị
chìm. Trái lại, dù một hạt cát nhỏ mà không nương ghe
thuyền thì vẫn bị chìm dưới đáy biển. Cũng như thế,
những bậc phước đức, nhiều tinh tấn tu hành mà hoặc
nghiệp chưa sạch cũng không hy vọng thoát khỏi luân hồi.
Đây là nói qua về việc nương nhờ từ lực của Từ phụ A Di
Đà Phật mà được thoát khỏi sanh tử luân hồi, nhưng cũng
xin lưu ý là xin đừng nghe nói như vậy mà không siêng
niệm Phật thì 100% khó thoát ly sanh tử.
Như
vậy, mặc dù tha lực là trọng đại và chính yếu nhưng với
tự lực cũng không thể thiếu. Nói một thí dụ làm điển
hình như có một đứa bé bị bệnh gù lưng, mờ mắt, cha mẹ
lại nghèo thiếu. Người ấy có chút phước lành gặp một đại
phú ông, phú ông này là một Phật tử giàu lòng từ bi,
siêng làm việc từ thiện.
Ông
nói với cha mẹ đứa bé rằng nếu ông bà cho tôi đứa bé,
tôi sẽ đem nó đi chữa trị. Cha mẹ đứa bé nghe nói hết
sức vui mừng liền giao đứa bé cho ông. Ông liền chở nó
về nhà lo bác sĩ giỏi để chữa trị cho lành bệnh. Đứa bé
trở nên mạnh khỏe và xinh đẹp như những đứa bé nhà giàu
khác. Cũng trường hợp trên nếu đứa bé khi nghe đại phú
ông xin thì liền la khóc, ôm chặt lấy mẹ và nói rằng con
không muốn đi đâu hết và vì thế nó vẫn bị cố tật gù và
đui... Cũng như thế, Phật thương chúng sanh luôn sẵn
sàng tiếp đón chúng sanh, nhưng chúng sanh không niệm
Phật, không nguyện vãng sanh thì Phật chẳng biết làm sao.
Tôi dùng hai thí dụ trên xin quí vị lưu ý mà cố gắng tha
thiết niệm Phật. Giờ đây tôi nói qua pháp niệm Phật thu
nhiếp rộng lớn vô lượng vô biên, vì đối với những vị
xuất gia hay những người rảnh rỗi cố nhiên niệm Phật rất
dễ dàng nhưng đối với những vị bận rộn, niệm Phật cũng
không chướng ngại gì. Thế nên, tiên đức có bài kệ sách
tấn:
Triêu dã A
Di Đà,
Mộ dã A Di Đà.
Hành dã A Di Đà,
Trụ, tọa, ngọa A Di Đà.
Túng nhiên mang tợ tiễn,
Bất ly A Di Đà.
Trúc mật bất phòng lưu thủy quá,
Sơn cao khởi ngại bạch vân phi.
Dịch nghĩa là:
Mai cũng A Di Đà,
Chiều cũng A Di Đà.
Đi cũng A Di Đà,
Đứng, nằm, ngồi cũng A Di Đà.
Dù bận như tên bắn,
Cũng không bỏ A Di Đà.
Trúc rậm không ngăn dòng nước biếc.
Non cao chẳng chận mây trắng bay.
Bài kệ
của tiên đức dạy như trên, ý nghĩa rất thâm thúy và sự
thật nó là như vậy. Nói đến đây tôi bỗng nhớ khi đọc
kinh Lăng Nghiêm - Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
chương do Tịnh Quyền đại lão pháp sư giảng, ngài đã dùng
hai thí dụ để nhắc người niệm Phật như sau:
-
Niệm Phật như hiếu tử đối với song thân.
- Niệm Phật như nam tử hiếu sắc đối với mỹ nhân.
- Hiếu tử đối với song thân: Song thân
đã quá già yếu nay lại mang trọng bệnh nên hiếu tử này
trong khi có việc phải đi phương xa, dù không được cận
kề cha mẹ nhưng không có một giây phút lãng quên. Mỗi
khi nghĩ đến song thân hai hàng lệ tuôn rơi, sợ cha mẹ ở
nhà không ai chăm sóc phụng dưỡng, mà dù có người đi nữa
thì cũng không thể bằng mình. Thế nên, trong khi chưa về
đến nhà thì ăn không biết ngon, ngủ không yên giấc.
- Nam tử hiếu sắc đối với mỹ nhân: Nam
tử một khi đã yêu người đẹp thời đêm hôm tăm tối, đường
xá nguy hiểm đầy ác thú và trộm cướp vẫn bất kể dù mất
mạng cũng cam lòng miễn là được đến gặp người đẹp. Chúng
ta trì niệm thánh hiệu của Từ phụ A Di Đà, cố gắng rèn
luyện tâm mình, nhớ Từ phụ, nhớ cảnh Tây phương cũng như
hai trường hợp trên đây, thì vãng sanh về Cực Lạc thế
giới bảo đảm 100%.
Thế
nên, đức Liên Tông cửu Tổ có dạy: "Muốn biết được vãng
sanh hay không cứ xem tín nguyện có hay không?" Nếu lòng
tin sâu, tâm nguyện thiết thì dù niệm Phật không được
nhiều, nhưng với phần vãng sanh 100% có hy vọng.
Bài kệ
của tiên đức dạy trên, câu ba và bốn nghĩa là dù bận rộn
như tên bắn cũng không lìa A Di Đà. Nơi đây tôi xin dẫn
một truyện vãng sanh:
Hoàng
Sanh người đời Tống, quê ở Đàm Châu. Gia thế vốn nghèo,
ông làm nghề thợ rèn để sanh sống. Một hôm, có vị Tăng
đến nhà khất thực, ông vội vã mời vào nhà ngồi uống nước
và đem thức ăn ra cúng dường. Vị Tăng thấy người hảo tâm,
khuyên ông niệm Phật tu hành. Ông thưa: "Con làm nghề
rèn hừng sáng đã thức dậy, kéo lửa đập sắt đến tối mịt,
gân cốt mỏi mòn còn thì giờ và năng lực đâu mà tu niệm".
Vị Tăng bảo: "Không ngại chi, việc tu hành phải tùy
phương tiện, trong mỗi cử động, khi kéo ống thổi lửa đập
sắt, ông niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Mỗi ngày cứ
hành trì như thế cũng là cách tu niệm và sẽ được Phật
tiếp dẫn về Tây phương". Hoàng Sanh nghe qua vui vẻ từ
đó y theo lời dạy mà tu hành.
Một
ngày nọ, ông mời người bạn quen ở nhà lân cận đến, đọc
bài kệ sau bảo ghi chép:
Cong cong,
cang cang,
Luyện lâu thành gang.
Thái bình kề cận,
Ta về Tây phang.
Người
bạn biên xong, ông lại bảo: "Xin lưu bố bài kệ này để
khuyên mọi người tu hành". Nói xong, ông chấp tay niệm
Phật ít câu rồi nhắm mắt vãng sanh.
Như
thế đối với việc niệm Phật, nếu lòng tin đã sâu, chí
nguyện đã thiết thì trong tất cả thời, tất cả các chỗ
đều niệm Phật được như: cuốc đất, nhổ cỏ, quét nhà, xách
nước, may vá... đều có thể niệm Phật vì những việc này
không nặng nhọc như ông thợ rèn nói trên. Thế nên, tiên
đức có dạy: "Nếu nguyện cho thiết thì dù bận rộn tiếp
khách, đãi khách, đi tám phương bốn hướng đều có thể
niệm Phật". Vì lý do này nên pháp trì danh rộng lớn vô
cùng.
Lại
còn một việc nữa quí vị nên lưu tâm là trong lúc an ổn
khỏe mạnh với bạn đồng tu, nên lui tới với nhau trong
khi rảnh rỗi để đến lúc bệnh nặng hay sắp mạng chung có
trợ duyên để nương nhờ. Sự việc này, đức Liên Tông thập
tam Tổ Ấn Quang đại sư, ngài có dạy: "Người trong lúc
sắp chết, thân tứ đại phân ly, sự đau khổ ấy không thể
nào nói được. Trong kinh Chánh niệm Xứ, Phật dạy: Thí
như có người bị nghìn mũi dao nhọn đâm trên thân, sự đau
ấy không thể tả xiết. Nhưng nếu đem so sánh với người
sắp chết, thì sự đau đớn trong lúc này sánh với người bị
nghìn mũi dao đâm vào thân chỉ bằng một trong mười sáu
phần". Có chỗ nói sự đau khổ lúc sắp chết cũng như con
rùa sống bị người ta lột da. Nếu những người có thiện
nghiệp thì sư đau khổ ấy giảm thiểu. Theo lời Phật dạy
trên, chúng ta thấy trong truyện vãng sanh, những vị sắp
chết được biết trước ngày giờ cho đến viết kệ lưu lại
cho đồ chúng như tôi xem trong truyện vãng sanh của đức
Liên Tông thập nhị Tổ Triệt Ngộ đại sư. Lúc ngài sắp
vãng sanh, trước vài tháng vẫn khỏe mạnh như thường, đi
từ giã các Phật tử và khuyên nhắc gắng niệm Phật, đừng
xao lãng. Khi trở về chùa sắp đặt việc chùa đâu đó xong,
đến giờ phút cuối cùng tràng phan bảo cái từ Tây phương
đem đến.
Trước
tiên, chư đại Bồ Tát Quán Thế Âm, Thế Chí... đến, tiếp
theo đó Từ phụ A Di Đà đích thân đến tiếp dẫn. Thi thể
của Tổ không liệm để trong bảy ngày, diện nhan như người
sống. Tóc của Tổ lúc sanh tiền đều bạc trắng giờ phút ấy
trở lại đen xanh. Theo thoại tướng này, chúng ta có thể
thấy rõ rằng sự huân tu tập của Tổ là không thể nói
được. Thế nên lời giải thích ý nghĩa chấp trì danh hiệu
của Tổ là ngôn hạnh đi đôi. Tuy nhiên, chúng ta phải
biết đây là trường hợp đặc biệt, muôn người mới có một,
ngoài ra đa số người sắp qua đời đều bị khổ đau bức
bách. Thế nên Tổ Ấn Quang dạy: "Người sắp chết cần phải
có nhiều người trợ duyên như người ốm yếu leo núi cao
một mình không thể nào lên được. Lúc ấy có sáu người,
hai người trước dắt hai tay, hai người sau đỡ nơi lưng,
hai người hai bên đỡ nơi hông thì người ấy dù yếu vẫn
lên đến nơi. Việc trợ duyên cho người sắp chết cũng
tương tự như vậy". Ở đây không phải là phần chính thức,
xin quí vị xem kỹ phần Niệm Phật phải dự bị lúc lâm
chung ở chương thứ X trong bộ Niệm Phật Thập Yếu của cố
Hòa thượng Thiền Tâm thì sẽ rõ.
b.- Quán tưởng: Pháp Quán tưởng này
cũng là một trong bốn pháp niệm Phật. Pháp quán tưởng
xuất xứ từ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Trong kinh này
dạy về pháp môn tu quán có mười sáu thứ:
(1) Nhật
quán.
(2)- Thủy quán
..........
(16) Thọ hạ phẩm sanh quán.
Mười
sáu pháp quán này nhiếp cơ rất hẹp vì chỉ dành riêng cho
bậc thượng trí thượng căn. Ở đây tôi xin nói pháp quán
thứ nhất là Nhật quán tức là quán mặt trời.
Hành
giả tu pháp Nhật quán này trong khi thực hành phải lựa
chỗ thanh vắng sạch sẽ, mát mẻ trải tọa cụ ngồi kiết già
hay bán già, tư thế cho đúng với tư thế ngồi thiền xoay
mặt về hướng Tây, quán kỹ mặt trời sắp lặn giống như một
cái trống treo. Quán cho thật rõ ràng đến khi xuất định
mở mắt, nhắm mắt đều thấy mặt trời ở trước mặt. Quán như
thế mới gọi là pháp quán thứ nhất được thành tựu. Pháp
quán này đối với các pháp quán còn lại có thể nói là
100% dễ dàng nhưng với người tâm thô ý loạn hoàn toàn
không thể làm được.
Nhân
tiện, tôi xin nhắc trong bốn pháp niệm Phật, có một pháp
gọi là quán tưởng niệm Phật. Về quán này nên kiêm thực
hành với trì danh nghĩa là khi cảm thấy niệm Phật khó
khăn, lúc áy bất luận ngồi hay nằm thì nhắm mắt định tâm
quán tưởng Từ phụ A Di Đà Phật đứng trên đầu mình hay
quán tưởng Tây phương Tam Thánh cũng được. Pháp này gọi
là pháp quán tưởng niệm Phật nghĩa là hành giả dùng ý
thức tưởng tượng và pháp này khác với mười sáu pháp quán
đã nói trên.
2.-
Trợ hạnh: bao gồm hai hạnh môn:
a.- Hạnh thế gian: Bổn phận làm con đối
với cha mẹ phải hết lòng hiếu thuận, sớm thăm tối viếng,
ấp lạnh quạt nồng. Phải tận tâm tận lực cho cha mẹ, đừng
sợ khó nhọc cũng như từ mẫu nuôi dưỡng ta lúc còn bé
nuốt đắng nhả ngọt, nhường chỗ khô cho con, tự mình nằm
chỗ ướt.
Lại đối
với tất cả việc từ thiện trong thế gian nên cố gắng thực
hành như hiện tại tôi đang lúc soạn bài này nhớ quí Phật
tử Diệu Phong, Tịnh Viên... ở Mỹ về Việt Nam nhờ sư cô
Như Thiện hướng dẫn đi ủy lạo cái trại cùi, trại lao và
những đồng bào bị thiên tai lũ lụt. Đối với tất cả sinh
vật nên sanh lòng từ tâm không sát hại, đối với giới
luật của mình đã thọ phải nghiêm giữ, đừng tái phạm như
quí vị xuất gia thì giữ 250 giới của Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni
thì giữ 348 giới. Phật tử tại gia thì giữ năm giới.
Ngoài những việc như trên đã nói, đối với tất cả việc
lợi ích nên cố gắng làm và trong khi làm phải có từ tâm.
Như các vị đi ủy lạo nói trên, khi cho phẩm vật những
người bị bệnh hoạn tật nguyền hay hoạn nạn cần phải có
lòng từ và thành kính chính tự tay mình trao, xem bệnh
nhân như người quyến thuộc của chính mình. Gặp những
việc phước thiện nhỏ như thấy tượng Phật chắp tay xá,
cúng một cành hoa, một nén hương cho đến bố thí con vật
một vắt cơm, thấy kiến trùng bị nạn cứu vớt... thì cũng
cố gắng làm và đem việc phước thiện này hồi hướng phát
nguyện cầu vãng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới thì
những việc làm phước thiện thế gian này dù nói là trợ
hạnh nhưng cũng thành chánh hạnh niệm Phật. Dụ như nước
trăm sông chảy về biển cả đều thành nước biển.
Với việc
phát nguyện hồi hướng này có người gạn rằng, làm phước
thời hưởng quả báo an vui, tạo tội thì phải thọ báo đau
khổ là lẽ tự nhiên, cần chi phải phát nguyện hồi hướng
rồi sau mới thành tựu. Thí như các nhà nông có cày cấy
thì tự nhiên có lúa gặt, đâu cần gì phải phát nguyện?
Đáp: Gạn như vậy đúng mà không đúng vì làm
phước mà không phát nguyện hồi hướng thì việc làm ấy
không có mục đích. Nên biết nguyện là vị đạo sư, nếu đi
đường mà không có vị đạo sư dẫn đường thì chẳng những
lầm đường lạc lối lại còn bị nhiều nguy hiểm và cứ đi
mãi mà không biết là mình đến chỗ nào. Lại cũng như
người đánh xe, con trâu bò, con ngựa có sức kéo xe, nếu
không có người đánh xe thì nó kéo đi mãi biết đến chỗ
nào mới tới đích? Lại ví như nấu vàng làm nữ trang, cần
phải có thợ thì vàng mới trở thành các món nữ trang chứ
tự vàng không thể tự thành các món đồ ấy được.
Như đức
Phật dạy: "Tu chút ít phước, trì chút ít giới nhưng
không biết pháp môn thiền định, họ nghe nói ở trong nhân
gian có những người giàu có an vui hay nghe cõi trời dục
giới, cõi trời sắc giới, họ sanh tâm ưa thích mong muốn
được sanh về cảnh giới ấy. Do đó, sau khi mạng chung đều
được toại nguyện". Chúng ta niệm Phật, tu phước cũng vậy
phải tha thiết phát nguyện cầu vãng sanh Cực Lạc mới
được kết quả.
b.- Hạnh xuất thế: Thực hành theo hạnh
Bồ Tát, tu lục độ vạn hạnh và thực hành những công đức
khác như tuyên dương Phật pháp, hóa độ quần sanh, đọc
tụng các kinh điển Đại thừa, tu các sám pháp như Lương
Hoàng Sám, Thủy sám... đều đem hồi hướng phát nguyện cầu
vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì các việc làm
ấy cũng đều thuộc về hạnh Tịnh độ.
Vì thế
nên với người Phật tử bất luận xuất gia hay tại gia, tu
theo pháp môn Tịnh độ phải biết rõ hai hạnh nói trên
nghĩa là lấy chánh hạnh làm căn bản, lấy trợ hạnh làm
phụ giúp.
Nếu
không nhận chân như vậy, nghe nói tu về Tịnh độ chỉ
chuyên tâm niệm Phật, ngoài ra việc gì cũng bỏ qua như
cha mẹ mình bị bịnh hoạn, đói thiếu cũng bỏ mặc kệ hay
sao? Và trong lúc chính cá nhân mình, trong gia đình
giàu có, vàng bạc đầy rương, gạo lúa đầy kho thì bên
ngoài không biết bao nhiêu người bị tai trời ách nước,
cơm không có ăn, áo không có mặc, không nơi ở, người
Phật tử thản nhiên việc cớ tôi đang niệm Phật có được
chăng? Niệm Phật mà lòng từ bi không có chẳng những trái
với từ tâm của người Phật tử mà cũng trái với tâm đại từ
của Phật thì làm sao được Từ phụ A Di Đà tiếp dẫn về Tây
phương Cực lạc thế giới??? Lại bị thế nhân chê cười,
người tu theo đạo Phật là ích kỷ không lợi ích gì cho
nhân quần xã hội.
Như
trên đã giải thích phần sau của bài kệ, bây giờ tôi xin
nói về phần đầu: "Thật vì sanh tử - Phát Bồ đề tâm".
- Thật vì sanh tử: Chúng ta tu hành nếu
không có tâm chơn thật mong cầu thoát ly sanh tử thì sự
tu hành thiện căn phước đức ấy trở thành pháp hữu lậu,
tạm hưởng diệu lạc trong cõi nhân thiên, khi phước hết
rồi trở lại luân hồi đọa lạc ví như chàng tráng sĩ ném
cục đá lên hư không, khi lực tác động vào cục đá hết thì
nó rơi xuống. Lại có điều nguy hiểm khác nữa là như
trong phần hai đã nói nghĩa là đời này tu thiện căn
phước đức là nguyên nhân đọa lạc cho đời thứ ba. Vì thế
chúng ta nên nhận chân những nỗi khổ đau cực trọng trong
thế gian này không chi hơn là sanh tử. Tại sao vậy? Vì
ngay trong đời hiện tại này mà sanh tử không chấm dứt
thì đời tương lai kế tiếp phải có sanh, đã có sanh thời
phải có tử, tử rồi lại sanh nữa, cứ thế tiếp tục sanh
sanh, tử tử không biết bao giờ chấm dứt. Ra khỏi một bào
thai này lại chui vào bào thai khác, bỏ một đãy da này
để mang một đãy da khác. Những lời Tổ dạy xin quí vị
nghĩ kỹ thời sẽ thấy rõ. Tuy nhiên, tôi xin nói lược
nghĩa là chúng chúng ta lúc thọ sanh vào bụng bà mẹ này
một thời gian rồi được sanh ra, tùy theo nghiệp mà sự
sống có yểu có thọ, yểu thì một, hai tuổi hay năm bảy
tuổi, đoạn trung bình xin lược, thọ thì bảy tám chục
tuổi. Rốt cuộc rồi cũng đến ngày tử vong, thế là bỏ một
cái đãy da rồi trở lại tùy nghiệp vào trong bụng bà mẹ
khác. Khi đã đúng mười tháng ra chào đời, rồi cũng tùy
theo tuổi thọ yểu như trên, cuối cùng con quỷ vô thường
bắt đem đi, tiếp lấy thọ thân khác nữa. Cho nên Tổ dạy
bỏ một đãy da này mang lấy một đãy da khác là như thế,
thiết tưởng sự khổ thọ thân trong cõi người này đã không
kham. Hơn thế nữa, trong vòng luân hồi chưa thoát ly thì
sự đọa lạc ác đạo 100% khó tránh khỏi. Cho nên vừa ra
khỏi bào thai heo lại chui vào bào thai chó, vừa bỏ đãy
da lừa này lại mang đãy da ngựa khác bởi thân người khó
được mà lại dễ mất, nên Phật dạy rõ "được thân người như
chút đất dính móng tay, mất thân người bị đọa vào tam đồ
nhiều như đất miền đại địa". Còn một nỗi khổ nữa, chỉ
một niệm sai lầm liền đọa vào ác thú. Sự việc này trong
kinh Phật dạy quá nhiều, ở đây tôi xin đơn cử một việc
như vua A Kỳ Đạt là một vị minh quân, đối với thế pháp,
ngài một lòng vì dân vì nước, đối với Phật pháp, ngài là
một vị Phật tử thuần thành trọng Phật kính Tăng. Thế mà
trong lúc bị trọng bệnh vì quan hầu săn sóc cho vua trải
qua nhiều ngày mê mệt, nên ông cầm quạt, quạt vua mà ngủ
gục, trong giây phút ấy vua nổi lên một niệm sân hận.
Chỉ một niệm sân ấy mà vua mệt rồi chết đi. Xả báo thân
quý báu của một vị đại vương, vì niệm sân hận nên vua
đọa làm độc xà ở hậu thân.
Thưa
quí vị, khi đọc đoạn văn này nên thống thiết nghĩ đến sự
kịch khổ sanh tử mà nhất tâm niệm Phật cầu về Tây
phương, vì trong thế gian này không ai cứu chúng ta được
cho dù đó là cha mẹ, người thương chúng ta hết mực, quên
hết tất cả sự cực nhọc, hy sinh cho con hay ở trên trời
có chư thiên cùng các vị thiện thần đồng có đại lực cũng
không thể cứu chúng ta thoát vòng sanh tử, vì chính quí
vị ấy cũng như ta vẫn ở trong cảnh luân hồi. Tôi nói đến
đây bỗng nhớ một chuyện trong kinh Bách Dụ. Có một gã
thanh niên bị hói đầu, đi khắp mọi nơi tìm thầy điều trị
nhưng không thuyên giảm chút nào. Cuối cùng gã nghe
người ta nói có một vị lương y đại tài chữa bệnh gì cũng
khỏi bèn đến thuật lại bệnh tình và cầu khẩn lương y ấy
điều trị.
Lúc
ấy, vị lương y đang đội mũ bèn dở mũ ra mà nói: "Anh hãy
xem đầu tôi đây bị hói không còn một cọng tóc. Nếu tôi
chữa được thì tôi đâu đành bỏ qua để phải chịu khổ, mùa
nắng thì nóng tới xương tủy, tiết lạnh thì buốt cả tim
gan". Thế là gã thanh niên đành thất vọng quay về.
Hơn
thế nữa, chốn tam đồ rất dễ vào nhưng muốn thoát khỏi
trăm ngàn vạn lần khó. Tại sao vậy? Vì thời gian thọ khổ
tội nhân trong địa ngục quá lâu dài. Sự việc này, nếu
không y cứ trong kinh Luận dẫn ra để làm chứng cứ thì
quí vị khó phát tín tâm tha thiết niệm Phật cầu về Tây
phương. Nơi đây, tôi xin y trong luận Câu Xá lược dẫn để
quí vị được biết rõ và để cho gọn tôi xin tóm lược đại
khái như sau, trước hết là tóm lược ngày tháng của ba
nơi: nhân gian, cõi trời và cõi địa ngục.
Ở cõi
nhân gian chúng ta lấy 30 ngày làm một tháng, mười hai
tháng làm một năm. Trên sáu cõi trời ở Dục giới và sáu
cảnh địa ngục ở dưới minh phủ cũng đồng như vậy. Xin quí
vị nhớ điểm này làm gốc cho đoạn văn sau để thấy rõ sự
dài ngắn của ba nơi khác nhau một trời một vực.
Năm
mươi năm nơi cõi nhân gian bằng một ngày đêm nơi cõi
trời Tứ Thiên Vương, thọ số nhất định ở cõi này là 500
năm. Thời gian dài đăng đẳng 500 năm của cõi trời Tứ
Thiên Vương như thế chỉ bằng một ngày đêm trong cảnh địa
ngục Đẳng Hoạt.
Một
trăm năm trong cõi nhân gian chỉ là một ngày đêm của cõi
trời Đao Lợi, thọ số nhất định của cõi trời này là 1.000
năm. Thời gian dài đăng đẳng 1.000 của cõi trời Đao Lợi
như thế mà đối với cõi địa ngục thứ hai cũng chỉ là một
ngày đêm.
Như
trên tôi đã nói qua hai cõi trời và hai cảnh địa ngục,
còn ba cõi trời và ba cảnh địa ngục kia cũng xin lược.
Chỉ xin nói rõ cõi trời Tha Hóa Tự Tại và cõi Cực Viêm
Nhiệt đại địa ngục.
16.000
năm ở nhân gian bằng một ngày đêm ở cõi trời Tha Hóa Tự
Tại, thọ số nhất định ở cõi trời này là một vạn 6.000
năm, đối với Viêm Nhiệt địa ngục chỉ là một ngày một đêm
của cõi Viêm Nhiệt đại địa ngục là 100 thế kỷ của cõi
nhân gian.
Trên
là nói sự lâu dài và kịch khổ trong chốn địa ngục, tiếp
theo xin trích lời dạy của Tổ về sự thọ khổ và thời gian
lâu dài của loài bàng sanh, nơi đây xin đơn cử về loài
kiến, nương theo đó mà biết tất cả loài bàng sanh khác.
Từ đức
Phật Tỳ Bà Thi cho đến Bổn sư Thích Ca là trải qua bảy
đức Phật, với thời gian lâu dài như vậy, chúng sanh vẫn
chưa thoát được thân kiến. Sự việc ấy trong kinh Hiền
Ngu, phẩm thứ 43 quyển thứ chín có nói về trưởng giả Tu
Đạt làm tịnh xá.
Khi
Cấp Cô Độc thấy ngài Xá Lợi Phất có vẻ buồn, bèn hỏi:
- Tôn
giả, tại sao ngài có vẻ buồn?
-
Trưởng giả có nhìn thấy đàn kiến này không?
- Dạ
thưa tôn giả, có nhìn thấy.
-
Trưởng giả vì chưa có đạo nhãn, nên không biết nguyên ủy
đám kiến này. Đời quá khứ cũng ở khu đất này, ông làm
tịnh xá cúng dường đức Phật Tỳ Ba Thi thì đàn kiến này
nó ở đây. Đến đức Phật Thi Khí, ông cũng làm tịnh xá tại
khu đất này để cúng dường Phật, đàn kiến này cũng sanh ở
đây. Đến đời đức Phật Tỳ Xá Phù, ông cũng làm tịnh xá ở
khu đất này cúng Phật, đàn kiến cũng ở đây. Đến đời đức
Phật Câu Lưu Tôn, ông cũng làm tịnh xá ở khu đất này
cúng Phật, đàn kiến này cũng sanh ở đây. Đến đời đức
Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, ông cũng làm tịnh xá ở khu đất
này cúng Phật, đàn kiến này cũng sanh ở đây. Đến đời đức
Phật Ca Diếp, ông cũng làm tịnh xá ở khu đất này cúng
Phật, đàn kiến này cũng sanh ở đây. Cho đến nay là đức
Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, ông làm tịnh xá ở khu đất này
cúng Phật, đàn kiến này cũng ở đây. Như thế đã 91 kiếp
chưa thoát khỏi thân kiến thì biết ngày nào mới giải
thoát? Ông nên coi sanh tử đọa lạc lâu dài như thế, đã
mấy ai biết sợ mà cầu giải thaót, cho nên con người có
trí phải biết bỏ lòng tham dục, si mê mà tu đạo làm
thiết yếu!
Tu Đạt
nghe xong rơi lệ chứa chan, thương mình và thương chúng
sanh mê lầm lạc nẻo, tham chút vinh lạc nhơ bẩn của thế
gian đến độ phải bỏ thân này, thọ than kia, lộn vòng
xoay trong ác thú!
Theo
trong kinh Hiền Ngu nói trên, tôn giả Xá Lợi Phất, ngài
dùng túc mạng thông để thấy rõ đàn kiến ở tại khu đất
sắp xây cất tịnh xá cho Phật tức là Bổn sư Thích Ca, từ
đức Phật Tỳ Bà Thi đến Bổn sư Thích Ca là 91 kiếp, thời
gian ấy quá lâu xa. Ở đây xin gác qua không cần tính mà
chỉ lấy một tiểu kiếp thứ chín trong hai mươi tiểu kiếp
thời kỳ tiếp Trụ. Niên số tiểu kiếp này là 16 triệu 800
ngàn. Chỉ nói phớt qua niên số của một tiểu kiếp để quí
vị đọc bài thấy rõ sự lâu dài của kiếp bàng sanh như con
kiến. Niên số tiểu kiếp lâu dài dường ấy thì sự lâu dài
của kiếp khác không cần nói cũng biết. Ở trong đây nói
loài kiến sanh tử, tử sanh trong 91 tiểu kiếp cũng chưa
thoát khỏi thân kiến.
Chúng
sanh ở trong vòng luân hồi sống chết, chết sống như trên
vừa nói qua địa ngục và bàng sanh, thời kiếp lâu dài
không tính kể, biết bao giờ chấm dứt, lại chịu muôn ngàn
thống khổ, xúm nhau bức ngặt, đốt thiêu không nơi nương
tựa, không người cứu độ. Mỗi một khi nói đến, toàn thân
nổi gai ốc, rụột gan như đứt đoạn, ngũ tạng tựa đốt
thiêu. Thế nên, hôm nay chúng ta được thân người lại
được gặp Phật pháp, hơn nữa lại được gặp pháp môn tối
thắng có một không hai, thống thiết nghĩ đến sự sanh tử
luân hồi như cha mẹ chết chưa chôn, như cứu lửa cháy
dầu.
Phải
nhất tâm niệm Phật, cầu mau thoát khỏi luân hồi. Nhưng
chúng ta vì sợ sanh tử, cầu thoát luân hồi thì tất cả
nhân loại nói riêng và chúng sanh nói chung cũng đều bị
sanh tử luân hồi, đều cần phải tìm đường thoát ly. Vì
những chúng sanh ấy với ta đồng một thể tánh, đều là cha
mẹ của chúng ta trong nhiều đời kiếp mà cũng là chư Phật
ở thuở vị lai. Như thế, nếu chúng ta chỉ cầu tư lợi,
không có tâm phổ độ chúng sanh, đối với lý có nhiều
khuyết điểm, đối với tâm của người Phật tử đâu thể an
được. Do đó, chúng ta cần phải biết phát Bồ đề tâm.
(Thông thường kinh nói, phát Bồ đề tâm có nghĩa là phát
đại tâm, trên cầu vô thượng Phật quả, dưới cứu khổ chúng
sanh). Tôi xin y cứ trong văn đại Sám Hối dẫn một đoạn
sau đây. Nguyên văn: "Ngã kin phát tâm bất vị cầu nhân
thiên phước báo... nhất thời đồng đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề". Ý nghĩa đoạn văn sám hối này là nói về
phát Bồ đề tâm cũng gọi là phát tâm cầu vô thượng Phật
quả, nên trong văn sám mới nói: "Con hôm nay phát tâm,
không chuyên vì tự mình mong cầu phước báo cõi nhân
thiên để riêng hưởng vui ngũ dục, chẳng những với sự
diệu lạc trong cõi nhân thiên không mong cầu mà cái vui
thanh tịnh tịch diệt Niết bàn của nhị thừa, Thanh văn,
Duyên giác cho đến các vị Bồ tát của Quyền thừa cũng
không mong cầu luôn. Chỉ y nơi tối thượng thừa, phát Bồ
đề tâm nguyện cùng với tất cả chúng sanh trong pháp giới
đồng thành quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tại vì
sao không cầu phước báo nhân thiên? Vì phước báo cõi
người vui ít khổ nhiều, hơn nữa lại là cái vui trong
khổ. Sự việc này xin quý vị đến các bệnh viện cùi hay
lao thì rõ. Sự diệu lạc ở cõi trời với nhân gian 100%
không bì kịp, nhưng khi phước trời hết cũng có cái khổ
ngũ suy tướng hiện rồi phải chịu luân hồi như trong kinh
nói những bậc tu hành thiền định cao sanh lên cõi trời
Phi tưởng, Phi phi tưởng thọ số của hàng thiên nhân cõi
này đén tám vạn kiếp. Một đại kiếp theo niên số của nhân
gian là 1.344.000.000 năm (một tỷ 3444 triệu năm). Một
đại kiếp niên số chừng ấy thì niên số của tám vạn đại
kiếp không cần nói, quí vị biết sự lâu dài. Khi phước
trời đã hết vẫn bị đọa làm thân con phi ly (chồn bay).
Còn bậc thánh Nhị thừa dù đã ra khỏi vòng luân hồi trong
tam giới mà vẫn còn trầm trệ trong cảnh không tịch Niết
bàn, không hóa độ chúng sanh. Hàng Quyền thừa Bồ tát đã
phát đại tâm phổ độ chúng sanh nhưng vô minh chưa phá
hết, thế là chưa cứu cánh đến quả vị vô thượng giác.
Nam Mô
A Di Đà Phật. Như trên tôi đã theo bài kệ của Tổ giải
thích đã xong. Bây giờ cần có điểm phải nói rõ, nghĩa là
thông thường tiên đức có dạy: "Ngôn dị mà hành nan. (nói
lý thuyết rất dễ nhưng sự thật hành 100% khó khăn). Thế
cho nên đại Bồ đề tâm đã phát thì cần phải tu đại hạnh
nhưng đại hạnh đâu phải là việc dễ làm. Như Bổn sư Thích
Ca chúng ta tu hành Bồ tát đạo trong vô lượng kiếp ở
thời qiá khứ, làm một vị đại quốc vương muốn cầu chánh
pháp của Phật, chỉ một bài kệ bốn câu mà phải khoét thân
mình nghìn lỗ để chế dầu làm tim đốt đèn. Lại có khi vì
cầu một bài kệ, phải đóng thân nghìn cây đinh, lại có
lúc nguyện thực hành xả thí bất nghịch nhơn ý (không
trái ý người) nên ông Lao Độ Sai, dòng Bà la môn
đến xin thủ cấp, ngài vẫn sẵn sàng hứa khả, vì nếu không
thuận ý người thì đại nguyện của mình không mãn.
Về
việc cầu pháp của Bổn sư Thích Ca hành Bồ tát đạo trong
vô lượng kiếp ở tời quá khứ xin xem trong phẩm một Phạm
Thiên Thỉnh Pháp ở quyển một của kinh Hiền Ngu thì rõ,
phẩm 16, quyển 5 nói sơ lược để quí vị thấy rõ việc hành
Bồ tát đạo của Bổn sư chúng ta với hạnh khó làm. Tiền
thân của Bổn sư là đại vương Nguyệt Quang, thời ấy có
một vị tiểu vương là Tỳ Ma Tư Na nghe danh vua Nguyệt
Quang đồn khắp muôn phương, trên thì các vị tiểu quốc
vương, dưới thì tất cả thần dân đều khác miệng đồng lời
tán thán. Do đó, ông đem lòng ganh ghét cực độ đến mức
ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Ông tự nghĩ phải tìm mưu kế
gì để tiêu diệt ông Nguyệt Quang này mới thỏa dạ, liền
triệu tập các thầy Bà la môn vào tới nội cung, ông thưa
với quý thầy rằng:
- Tôi
có một việc đáng lo, dáng sợ đến nỗi ngày quên ăn, đêm
quên ngủ. Quý thầy có phương tiện gì để giải quyết hộ,
trẫm xin vạn tạ thâm ân.
Quý
thầy Ba la môn hỏi:
- Tâu
bệ hạ! Có việc chi xin cứ nói chúng tôi rõ, nếu giúp
được chúng tôi xin hết sức.
Vua
nói:
- Thưa
quý ngài! Hiện nay vua Nguyệt Quang muôn phương mến
phục, phúc đức lớn lao. Dĩ nhiên có sự lo lắng cho tôi
sau này. Quý ngài có phép thần gì tiêu diệt ông vua đó!
- Tâu
bệ hạ! Vua Nguyệt Quang là người có đức lớn thương dân
như con, dân coi vua như cha mẹ, chúng tôi đâu nỡ đem
tâm gì để mưu hại, thà chết chớ không nỡ hại người hiền.
Các
giáo sĩ Bà la môn nói những lời trên xong, đứng dậy tỏ ý
bất phục và khinh miệt vua Tỳ Ma Tư Na, quay lưng trước
mặt vua và bỏ đi. Nói về vua Tỳ Ma Tư Na nơi tâm vừa bực
tức lại buồn rầu hạ chiếu cho toàn dân trong nước biết,
nếu ai lấy được đầu của vua Nguyệt Quang, thì sẽ gả công
chúa và chia nửa nước để cai trị. Khi đó có một người
dòng Bà la môn tên là Lao Độ Sai ở núi Hiếp đến xin đi
lấy đầu vua Nguyệt Quang. Lao Độ Sai lãnh chiếu đi lấy
đầu vua Nguyệt Quang trải qua nhiều ngày mới đến. Khi
vừa tới Ngọ môn liền xin quan giữ cửa cho vào yết kiến
đại vương. Khi vào đến nội cung, vua Nguyệt Quang niềm
nở đón tiếp và hỏi rằng:
Ngài
từ phương xa đến đây có mệt nhọc lắm không? Ngài có cần
dùng gì tôi xin trân trọng kính biếu.
- Muôn
tâu Thánh thượng, tôi ở phương xa đến đây có một việc
duy nhất là xin thủ cấp của ngài, vì nghe đại vương có
tâm đại nhân từ thương dân như con một, lại nguyện bố
thí không trái ý người.
Đại
vương Nguyệt Quang nghe mấy lời ngỗ nghịch trên nhưng
lòng không thấy gì làm buồn giận. Ngài đáp rằng:
- Việc
ấy trẫm xin sẵn sàng làm mãn ý ngài, chỉ xin ngài lưu
lại đây thời gian tuần lễ để trẫm hạ sắc lệnh cho các
tiểu vương cùng muôn dân được biết.
Tin
đức vua Nguyệt Quang hứa cho thủ cấp lan đi như tiếng
sét trong khắp mười phương, bấy giờ có một vị đại thần
tên Đại Nguyệt nghe được tin ấy lòng đau như cắt, lập
tức đi thuê người làm 500 thủ cấp bằng thất bảo đem dâng
cho đạo sĩ Lao Độ Sai và hết lòng thành khẩn cầu ông
nhận lấy, bỏ qua ý định xin thủ cấp của vua. Đại thần
Đại Nguyệt nói rõ xin hơn thua:
- Đạo
sĩ dùng 500 chiếc thủ cấp này ăn suốt đời mình đến đời
con cháu cũng không hết, đầu của đại vương tôi ngài
không dùng vào đâu được, chỉ vài ngày nó sẽ thúi rã.
Nhưng
ông ta nhất định không nghe theo lời của đại thần Đại
Nguyệt. Thế là đến ngày thứ bảy, đại vương Nguyệt Quang
bảo Lao Độ Sai lấy thủ cấp. Trong giờ phút ấy, Nguyệt
Quang đại vương một lòng thành kính, chắp tay phát
nguyện: "Nguyện mười phương chư Phật từ bi chứng giám
cho con,con nguyện đem công đức bố thí đầu không cầu làm
Phạm vương, Ma vương, Đế thích, Chuyển luân Thánh vương
để vui sướng ở ba cõi, con xin cầu thành Phật độ chúng
sanh dìu dắt muôn loài đến cõi Niết bàn an lạc".
Sau
khi đại vương Nguyệt Quang phát nguyện, Lao Độ Sai múa
đao hạ thủ cấp. Thế là nguyện của ông đã mãn. Bấy giờ
liền mang thủ cấp của vua Nguyệt Quang về bổn quốc để
hưởng sự vui sường sắc tài danh vọng. Lúc bấy giờ ở bên
ngoài tất cả các tiểu vương quốc và thần dân hay tin
khác nào như cha mẹ mình thệ thế, trong nội cung các phu
nhân, thế nữ cùng các quan đại thần than khóc vang động
đất trời, có người chết đứng, có người ngã nhào, nằm
thiếp dưới đất, có người bứt tóc bứt tai, có người cào
cấu mặt mày đến độ chảy máu..., cảnh tượng thảm thương
diễn ra không bút mực nào tả cho cùng, không thể nào nói
cho hết.
Giờ
đây lại nói về Lao Độ Sai mang chiếc thủ cấp của vua
Nguyệt Quang đi được vài ngày thì trở nên sình thúi, hôi
hám không chịu nổi, bèn vất bỏ nơi vệ đường, dùng chân
chà đạp. Dân chúng nhìn thấy biết là thủ cấp của vua
mình, họ xúm nhau đánh đập Lao Độ Sai tơi bời và nguyền
rủa một cách thậm tệ lại truyền với nhau rằng thằng độc
ác này một hột cơm cũng không cho, một giọt nước cũng
không thí. Lại nghe tin vua của hắn là Tỳ Ma Tư Na khi
vừa được tin đã hạ thủ cấp của vua Nguyệt Quang, quá vui
mừng bể tim mà chết. Lao Độ Sai phần vì đi đường xa mệt
mỏi, phần đói khát lại hay tin vua mình đã chết có về
tới nước cũng mang danh ác độc không được hưởng quyền
cao tước trọng, vợ đẹp hầu xinh, nên buồn rầu đến cao độ
bể tim mà chết giữa đường. Cả vua tôi khi xả báo thân do
tội ác cực trọng tùy nghiệp mà bị đọa vào A Tỳ địa ngục
chịu muôn phần kịch khổ.
Còn
không biết bao nhiêu việc khổ hạnh khó làm khác không
thể kể xiết, chỉ nói sơ qua để quí vị thấy rõ ở cõi Ta
bà này thực hành Bồ tát đạo không phải là chuyện dễ
dàng. Nhưng không thể thực hành những công hạnh của Bổn
sư Thích Ca mà nương theo các pháp môn khác tu tập cầu
thoát sanh tử cũng là điều vạn nan, vì tu các pháp môn
tự lực, đối với hai món phiền não kiến tư chưa đoạn sạch
vẫn bị luân hồi nên trong kinh thường lấy ví dụ con chim
muốn bay mà còn bị một sợi chỉ mành cột chân không thể
bay được. Do vậy ở trong các hạnh môn tìm vào một môn,
hạ thủ công phu dễ dàng mà thành công cao không chi hơn
là dùng lòng tin sâu chí nguyện tha thiết mà nhất tâm
niệm thánh hiệu Từ phụ A Di Đà Phật.
Nam Mô
A Di Đà Phật, tôi xin thành tâm theo lời Liên Tông thập
tam Tổ chỉ dạy để kết thúc bài văn giải thích cho bài kệ
này. Tổ dạy: "Ta Bà là cảnh xấu xa ô trược, lại đầy dẫy
các thứ khổ đau". Thế thì chúng ta cần phải mong cầu
thoát khổ nhưng mong cầu thoát khổ lẽ đương nhiên phải
tu theo pháp môn niệm Phật cầu sanh Tây phương. Tại sao
vậy? Vì Tây phương Cực Lạc thế giới là cảnh thuần tịnh
lại hoàn toàn an vui, với sự khổ danh từ còn không nghe
huống chi là sự thật. Vậy chúng ta muốn thoát cảnh ô
trược khổ não cõi Ta Bà thì không có chi hơn là một lòng
thành kính tin theo Bổn sư Thích Ca chỉ dạy, phải tin
sâu, phát nguyện thiết, phải chuyên tâm niệm Phạt và tin
theo lời khuyến tấn của chư Phật trong mười phương mà
thực hành. Tại sao phần giải thích bài kệ tôi lại sắp
thứ tự đảo lộn? Vì hai câu kệ sau là món tư lương để về
Tây phương Cực Lạc, thế nên tôi nói trước để quí vị biết
rõ pháp môn tu hành mau giải thoát đó mới giải thích hai
câu trước để chỉ rõ sự tu hành là cốt mong thoát ly sanh
tử. Nhưng riêng cầu sớm thoát ly cho bản thân mình ấy là
điều kiện không hợp lý, trái lời Phật dạy. Hơn nữa,
trong kinh Vô Lượng Tho dạy: "Tam bối vãng sanh đều phát
Bồ đề tâm", đó là lý do trong khi giải thích tôi đã có
sự đảo lộn: đem câu sau để trước, đem trớc để sau là như
vậy.
Phần quyết nghi:
Kính
thưa quí vị, quí vị đọc hai đoạn văn trong Luận Đại Trí
Độ và kinh Tăng Nhứt A Hàm so sánh công đức bố thí và
niệm Phật trong phần ba, lời giải thích câu kệ thứ tư
chắc không khỏi có tâm thắc mắc mà vấn nạn rằng sự so
sánh này dường như quá đáng. Vì một người trải qua thời
gian nghìn năm đem thất bảo cúng dường chư Phật mà không
bằng có người chỉ niệm một câu "Nam Mô A Di Đà Phật"(*)
Đáp: Kính thưa quí vị, tôi cũng như quí
vị đều là phàm phu nhục nhãn, chỉ thấy việc hiện tiền...
Tuy nhiên, thưa quí vị, người Phật tử tin Phật phải dùng
trí huệ suy đoán mà tin chứ không thể tin một cách mù
quáng. Thế nên, nơi đây tôi nêu lên hai việc để quyết
nghi cho quí vị:
a.- Như
trong kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật có một đoạn như
sau: Như Lai bất dị ngữ giả", nghĩa là các đức như Lai
thì chơn ngữ dã, thật ngữ dã. "bất cuống ngữ giả, nói
lời chơn chánh, nói lời thành thật, nói lời đúng đắn,
không dối gạt một ai, nói lời không sai ngoa. Thế nên,
lời nói của Phật là một kim ngôn quyết định, dù trải qua
hằng hà sa số kiếp cũng không có một đấng thánh nhân nào
thay đổi được. Vì thế, khi Bổn sư Thích Tôn sắp Niết bàn,
ngài hỏi các thầy Tỳ kheo rằng: "Chúng con đối với lý Tứ
đế có điểm nào nghi nên hỏi mau đi, đừng hoài nghi trong
tâm, một khi Thế Tôn đã Niết bàn, không ai giải quyết
cho chúng con". Đức Thế Tôn ba phen gạn hỏi như vậy
nhưng trong chúng vẫn im lặng. Trong giờ phút ấy, tôn
giả A Na Luật đã dùng thiên nhãn quán sát tâm đại chúng,
thấy rõ toàn chúng không có tâm nghi. Đoạn tôn giả kính
cẩn lễ Phật mà bạch rằng: "Kính lạy đức Thế Tôn, mặt
trăng có thể làm cho nóng được, mặt trời có thể làm cho
lạnh được chứ với lý Tứ đế của Phật đã tuyên thuyết là
một thiết án bất di bất dịch" (xin lược bớt).
b.- Xin
quí vị đọc lại đoạn giải thích câu kệ thứ nhất: "Thật vì
sanh tử". Trong đoạn giải thích này, tôi dẫn trong kinh
Hiền Ngu quyển thứ 9 một đoạn về việc tôn giả Xá Lợi
Phất cùng với trưởng giả Cấp Cô xây cất tịnh xá cho Phật.
Tôn giả Xá Lợi Phất quí vị ai cũng biết, ngài là trí huệ
bậc nhất trong hàng đại Thanh văn, túc mạng thông của
ngài biết suốt 91 tiểu kiếp nhưng đây là hạn cuộc đối
với đàn kiến này, chứ sự thật ngài còn biết lâu xa hơn
nữa. Thế mà đối với thiện căn niệm Phật của ông cụ một
trăm tuổi xin xuất gia, ngài không thể biết rõ. Như thế,
chúng ta là phàm phu, kiếp sống của một đời người còn
nhớ không rõ mà trở lại hoài nghi với việc hằng hà sa số
kiếp của Phật nói, khác nào con ếch nằm dưới đáy giếng
xem trời.
Kết
thúc đoan văn quyết nghi này, xin quí vị nhớ lại trước
tôi đã dẫn trong các kinh nói hạt giống niệm Phật một
khi đã huân vào trong tạng thức, dù trải qua vô lượng vô
biên kiếp vẫn không tiêu mất, một khi gặp duyên liền
phát sanh. Nói một cách dễ hiểu: chúng ta đem hạt bắp,
hạt đậu... bỏ dưới mặt đất, đến khi gặp duyên, sương mù,
mưa... thì nó nẫy mầm cho đến thành cây, đơm hoa kết
trái. Còn việc bố thí công đức vĩ đại kia thuộc về phước
hữu lậu, dù trải qua nhiều kiếp hưởng diệu lạc cõi nhân
thiên, cuối cùng cũng ở trong vòng luân hồi và bị đọa
lạc, nếu không tiếp tục tu phước nghiệp.
(*) Sự việc này quá dễ vì trẻ con
ba tuổi vẫn niệm được.