|
CƯỜI MƯỜI THANG THUỐC BỔ
Bs Nguyễn Ý Đức
1. CƯỜI MƯỜI THANG THUỐC BỔ
“Laughter is the most inexpensive and most effective wonder
drug”
Bertrand
Russel
Ta
thường nghe nói: “Cười bằng mười thang thuốc bổ”, “Cười
là dược phẩm tuyệt hảo”, hoặc “Cười mang vui cho người,
cho ta”..
Những
ý kiến về sự lợi ích của nụ cười với sức khỏe này không phải là
khám phá mới lạ, nhưng khoa học thực nghiệm ngày nay đã chứng
minh ý kiến đó là đúng.
Cụ Nguyễn Công Trứ của ta chẳng lấy nụ cười để giải cơn sầu:
“Ngồi
buồn mà trách ông Xanh,
Khi
vui muốn khóc, buồn tênh lại cười;
Kiếp
sau xin chớ làm người,
Làm
cây thông đứng giữa trời mà reo”.
Vâng,
làm cây thông ngạo nghễ vươn cao lên mà reo cười chẳng thú lắm
sao.
Cụ
Nguyễn Khuyến thì:
“Được
thua hơn kém lưng hồ rượu,
Hay
dở khen chê, một trận cười”
Để
xóa bỏ mọi tỵ hiềm trách móc khen chê.
Cụ
Phan Bội Châu thì lấy nụ cười để xóa bỏ mọi dị biệt, oán thù
giữa con người với con người:
“Bủa
tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở
miệng cười tan cuộc oán thù”
Friedrich
Nietzche triết lý “Trên thế gian, con người chịu nhiều đau
đớn quá ghê gớm khiến họ bắt buộc phải sáng tạo ra tiếng cười”.
Nhà
nhân chủng học Francois Rabelais thì cho “cười là đặc tính
của con người”; triết gia Pháp Henri Louis Bergson thêm “Biết
cười và biết chọc cười là hai đặc tính của con người và là một
hiện tượng của xã hội”
Nhà
văn tiền phong Nguyễn Văn Vĩnh thì: “Việt Nam ta có một thói
lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê
cũng cười. Hay cũng hì mà dở cũng hì; phải cũng hì, quấy cũng hì.
Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc rất nghiêm trang”
Người Nhật mỗi buổi sáng đều chào đón bình minh với lời cầu
nguyện và vỗ tay, như để khơi động mở màn cho một ngày mới. Chỉ
với vỗ tay là tiếng gọi thể xác bừng tỉnh, làm ta thấy vui vẻ,
sung sướng.
Vậy
Cười là gì vậy?
Theo
Tự Điển Việt Nam của Nguyễn Như Ý, cười là “tỏ rõ sự vui vẻ,
thích thú bằng sự cử động môi hoặc miệng và có thể phát ra thành
tiếng”. Các tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa
cười là “nhích môi, há miệng, nhe răng, phát ra tiếng hay
không để tỏ sự vui mừng hay một ý tứ gì”. Một tác giả khác
giải thích “cười là một hành động tạo ra những âm thanh và cử
động của mặt và thân thể, biểu thị một cách sôi nổi một sự thích
thú, vui vẻ hoặc khinh bỉ”.
Cười là một động tác bẩm sinh, xuất hiện ở bất cứ em bé nào sanh
ra được dăm tuần lễ, dù các em tật nguyền khiếm khuyết thính thị.
Bé mới sanh 10 ngày tới sáu tháng chưa biết nhột mà cảm thấy khó
chịu khi ta cù vào chân; sau tuổi đó, khi cù thì bé lại lăn ra
ngủ vì không biết cách đối phó; mãi tới bốn tuổi bé mới biết
nhột cười khi ta cù gãi vào chân.
Nói chung, để được gọi là cười, phải có sự phối hợp của ba yếu
tố: hơi thở thoát khỏi miệng từng hồi đứt đoạn; tiếng động do
không khí chạm vào thanh quản và sự co giựt của bắp thịt trên
mặt. Các bắp thịt này rất nhỏ, ngắn nhưng tương ứng với nhau:
một cơ chuyển động thì các cơ khác cũng phụ họa theo. Cười bắt
đầu ở cửa miệng với sự nhếch mép làm chuyển động lan xuống khí
quản, dây thanh âm, các bắp thịt ở bụng, hoành cách mô, phổi.
Hơi thở thoát ra rồn rập và nếu kéo dài có thể đưa tới hụt hơi,
ngộp thở.
Trên
mặt có 15 cặp bắp thịt tham dự vào việc cười, trong khi đó thì
có tới 72 bắp thịt cần được vận dụng để nhăn nhó, khó chịu. Y lý
và võ thuật Đông Phương cho là có cả trăm huyệt cười trên cơ thể,
với ba huyệt chính: một nằm ở gan bàn chân, huyệt đại tiếu ở
nách và huyệt kinh môn ở lưng.
Tùy theo các bắp thịt co mà ta có những nụ cười khác nhau:
nụ
cười nửa miệng, cười miếng chi, chúm chím; cười duyên, cười tình,
cười con mắt có đuôi; cười rúc rích với nhau như mấy bé gái nói
vụng về mấy cậu trai; cười khì, cười hề hề thành thật vì vui
không hậu ý, vô thưởng vô phạt; cười khoái trá, cười giòn tạo
không khí vui vẻ, sung sướng; cười hóm hỉnh ranh mãnh nhìn vào
mắt kẻ đối thoại như muốn tỏ rằng mình đã biết cái bí ẩn của họ;
cười xòa, cười huề bỏ qua mọi căng thẳng cho xuôi việc; cười
ngoại giao, cầu tài nịnh, cười lỏn lẻn, dã lã để được việc; cười
mát chế riễu, cười khẩy coi thường, cười nhạt không bằng lòng,
cười quỷ quyệt ngọt ngào nhưng đầy âm mưu xấu; cười tới chảy
nước mắt, vãi đái và đau cả bụng.
Lịch
sử kim cổ đã có nhiều nụ cười đáng nhắc nhở như tiếng cười ô
trọc, ngạo mạn của Võ Tắc Thiên; cười khêu gợi của Dương Quý
Phi; nụ cười thầm kín, huyền bí khi ẩn khi hiện của thiếu phụ
Joconde; nụ cười hứa hẹn của Điêu Thuyền khi chuốc rượu Lã Bố;
cười vô tư, tự do của bầy trẻ vừa tan lớp học; cười đáng giá
ngàn vàng của Bao Tự; cái cười khoái trá, liên tục đến chết của
Trình Giảo Kim trước tình đời đen bạc tráo trở; cười hà hà,
khanh khách, the thé rồi ằng ặc của Bành Trưởng Lão khi bị Hoàng
Dung thôi miên; cười thỏa mãn của Ngưu Cao khi nhẩy xuống sông
bắt sống được tướng địch Ngột Duật..
Và
công dụng của Cười ra sao?
Đã
có nhiều quan sát, nghiên cứu thực nghiệm về công dụng của nụ
cười với sức khỏe.
a.Theo
bác sĩ thần kinh tâm trí William Fry, chuyên viên về hài hước và
sức khỏe, thì đã có những chứng minh khoa học là sự cười đùa
thích thú kích thích đa số các hệ thống sinh lý trong cơ thể.
Một cơn cười rung bụng làm tim đập mau hơn, máu lưu thông dễ
dàng hơn, các bắp thịt vận động co duỗi tốt hơn. Nó giống như
một sự vận động và sau trận cười ta cảm thấy thư giãn thoải mái.
Cười ngăn cơn suy tim bằng cách làm tâm thần thoải mái, nhẹ
nhàng, tan biến buồn rầu, tức giận, giảm ứ đọng máu lưu thông
tránh tai biến não, làm giảm khó chịu vì nan bệnh ung thư.
Trên
Tạp san Y Học JAMA ngày 12-7-1984, bác sĩ Donald Black cho hay
cơn cười vui tái tạo sự thăng bằng, kích thích máu lưu thông và
tạo ra cảm giác thoải mái.
Tại
Đại Hội lần thứ 73 của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ tại New Orleans ngày
15 tháng 11 năm 2000, bác sĩ chuyên khoa Tim Mạch Michael Miller
trình bày là người bị bệnh tim cười 40% ít hơn so với người cùng
lứa tuổi không có bệnh tim. Họ thường ít nhận ra hoàn cảnh đáng
cười hoặc là lợi dụng hoàn cảnh đó để thoát ra khỏi một khó chịu.
Ngoài việc cười ít hơn, họ còn dễ giận hờn dù hoàn cảnh có tích
cực, đáng vui. Theo bác sĩ Miller, cho tới bây giờ, để giảm nguy
cơ lên cơn suy tim, ta thường giảm chất béo, vận động cơ thể,
không hút thuốc lá. Nhưng trong tương lai, có lẽ lời khuyên để
có một trái tim lành mạnh, sẽ gồm có vận động cơ thể, ăn uống
đúng cách, giảm chất béo, không hút thuốc lá kèm theo một hoạt
động hữu ích khác là cười đùa vui vẻ nhiều lần trong ngày.
Người
ta chưa biết tại sao cười ngừa bệnh tim nhưng chắc chắn là sự
căng thẳng tâm thần có liên hệ tới tổn thương viêm thành mạch
máu rồi chất béo đóng trên động mạch vành, đưa tới lên cơn đau
tim. Nên nhớ một trong những nguy cơ của cơn suy tim là căng
thẳng, lo âu.. Khi tươi cười thì ta cảm thấy tự tin, tích cực và
kiểm soát được sự hoảng sợ và sẽ phục hồi mau hơn.
b.Cười
tăng khả năng chống nhiễm trùng của cơ thể. Theo American
Association for Therapeutic Humor, cười tăng sản xuất T cell
chống lại vi khuẩn, tăng sức đề kháng, tăng hóa chất tốt trong
cơ thể.
c.Nhà
báo Norman Cousins bị bệnh viêm cứng khớp đốt xương sống. Ông ta
thấy mỗi ngày khi cười rung bụng mười phút thì giảm đau và ngủ
thoái mái được hai giờ mà không cần thuốc men gì. Theo Cousins,
sự cười có tác dụng tốt vào tâm trí ông ta, do đó giảm khó khăn
bệnh hoạn. Cười làm thư giãn bắp thịt bằng cách tăng hóa chất
catecholamine, hóa chất này lại kích thích tiết ra một chất giảm
đau tự nhiên của cơ thể là endorphins.
Nhiều
bệnh viện đã áp dụng trị liệu bằng Cười như một thứ thuốc làm
giảm đau đớn, lo âu ở bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Hiện nay
có trên 1300 Laughter Club trên thế giới do bác sĩ Kataria bên
Ấn Độ khởi xướng thành lập. Ta nhớ rằng có nhiều cơn đau cũng do
cảm xúc mà ra và nếu ta ngâm mình trong sầu bi, tự trách thì cơn
đau tăng, mà qua sự vui cười hớn hở thì đau cũng giảm lần.
d.Theo
Joe Goodmand, Giám Đốc Humor Project, thì một số kích thích tố
tiết ra do căng thẳng đều bị cơn cười vui làm tan biến. Trong
đời sống hàng ngày, ta không thể tránh được những phút căng
thẳng, nhưng một cơn cười phá đều làm nó hết đi. Ta có thể tự
hài hước mà không mất tiền mua, không cần gia nhập câu lạc bộ
sức khỏe hoặc đi khám bác sĩ.. Ông ta đề nghị chúng ta lập một
thư viện với nhiều phim, sách hài hước khác nhau. Khi thấy dấu
hiệu buồn phiền thì vào coi một đoạn phim, đọc một đoạn văn vui,
để rồi cười phá lên.
e.Ngoài
ra, Cười làm hô hấp tốt hơn và giảm carbon dioxide trong máu;
tăng cường hệ miễn dịch, có nhiều huyết cầu tố A chống lại nhiễm
hô hấp; cung cấp nhiều dưỡng khí cho não, khiến ta suy nghĩ tốt
hơn; giảm huyết áp, giảm u sầu, làm bắp thịt mạnh hơn. Có người
đã nói rằng nếu ta thực hiện từ 100 đến 200 cơn cười mỗi ngày
thì sẽ mang lại lợi ích cho cơ thể tương đương với mươi phút
chạy bộ.
f.Về
tâm lý, Freud coi cười là môn thuốc tẩy xổ ưu phiền; Darwin coi
cười là đối nghịch với khóc mà khóc là dấu hiệu của phiền não,
đau đớn.
Từ
lâu, các nhà y học đã nhận thấy rằng những bệnh nhân yêu đời, tự
tin và hy vọng đáp ứng thuận tiện hơn với điều trị và mau lành
hơn người lúc nào cũng u sầu, than thân, nản lòng. Voltaire có ý
kiến tương tự: “Có người cười như lên cơn động kinh; người ta
cũng nói có kẻ chết vì cười; điều này tôi không tin lắm nhưng
chắc chắn là có nhiều người chết vì sầu thảm”. Tác giả
Nguyễn Gia Thiều cũng đã viết:
“Giết
nhau chẳng cái lưu cầu,
Giết
nhau bằng cái u sầu độc chưa”.
Cười
cũng làm ta tự tin, yêu đời hơn, tăng giao hảo với mọi người.
Nơi làm việc mà có sự hòa thuận, vui vẻ thì nhân viên làm việc
hữu hiệu hơn, giảm căng thẳng, tăng sản xuất và tăng tình cảm
giữa họ với nhau.
Ngoài
ra, Cười là một xúc động lành mạnh dễ lan truyền, chứ không nguy
hiểm như lây lan cúm gà, cúm người. Đây là một hoạt động giải
trí tự nhiên, không tốn tiền, không có tác dụng xấu, thích hợp
cho mọi người, mọi tuổi. Chỉ một nụ cười nhỏ có thể lan truyền
khắp trái đất. Cho nên khi thấy một nụ cười, hãy tiếp nhận, đừng
để nó lạc lõng và tạo ra một dịch cười, khiến mọi người cũng
nhiễm. Cũng may là rất ít người miễn nhiễm, dị ứng với cười.
Kết
luận
Nói
về ích lợi của Cười đối với cơ thể thì nhiều vô tận. Xin kết
luận với câu nói của Steve Bhearman: “hài hước có sức mạnh
chữa trị rất lớn đối với xúc động. Ta không thể vừa tức
giận, sợ hãi, đau đớn khi ta đang cười phá lên”
Và
của Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Nếu ta duy trì một tình cảm thân ái
và đầy tình thương thì tự nhiên cửa lòng ta mở rộng.Qua cánh cửa
đó, ta sẽ đối thoại dễ dàng với mọi người. Ta sẽ thấy rằng họ
cũng như ta và từ đó ta sẽ sẵn sàng liên hệ với họ và tạo ra một
tình bạn tốt, sẽ bớt đi sự e dè, không còn cảm giác sợ hãi, nghi
ngờ, bất an”.
Bác
sĩ Nguyễn Ý Đức
|