CUỘC
ĐỜI SIÊU VIỆT CỦA 16 VỊ TỔ KARMAPA TÂY
TẠNG
Nguyên
tác: The History of Sixteen Karmapas of Tibet
Karma Thinley Rinpoche - Việt dịch:
Nguyễn An Cư
Thiện Tri Thức 2543-1999

Nguyên
tác:
The History of Sixteen Karmapas of Tibet
Thư
viện Hoa sen
MỤC
LỤC
Lời
Nói Đầu
Lời
Tựa
Dẫn
Nhập
Nền
tảng Lịch Sử và Lư Thuyết
01
Karmapa Dusum Khyenpa
02
Karmapa Karma Pakshi
03
Karmapa Rangjung Dorje
04
Karmapa Rolpe Dorje
05
Karmapa Dezhin Shegpa
06
Karmapa Thongwa Donden
07
Karmapa Chodrag Gyaltsho
08
Karmapa Mikyo Dorje
09
Karmapa Wangchuk Dorje
10
Karmapa Choying Dorje
11
Karmapa Yeshe Dorje
12
Karmapa Changchub Dorje
13
Karmapa Dudul Dorje
14
Karmapa Thegchog Dorje
15
Karmapa Khakhyab Dorje
16
Karmapa Rangjung Rigpe Dorje
Chú
Thích
Phụ
Lục (A)
Phụ
Lục (B)
Phụ
Lục (C)
Phụ
Lục (D)
Phụ
Lục (E)
Phụ
Lục (F)
Phụ
Lục (G)
(H́nh bên phải là Karmapa Rangjung Rigpe Dorje XVI)
Ḍng
tu hành của truyền thống Kagyu là viên ngọc
vương miện của thế giới thiền
định Phật giáo. Kiểu mẫu và cách sống
của các đại sư thuộc truyền thống này
đă gây nguồn cảm hứng cho vô số hành giả,
cuộc đời của họ được hiến
dâng cho thiền định hơn nữa. Các vị Karmapa
là các cột trụ lớn của truyền thống Kagyu,
các vị đă làm cho ḍng phái tiếp tục dầu cho
những trở ngại về chính trị, xă hội và kinh
tế.
Karma
Thinley Rinpoche là một người bạn rất thân và là
học tṛ của tôi. Tôi tán thưởng cái nh́n và trí
huệ của ông trong việc khai mở cho chúng ta thấy
câu chuyện thực sự của ḍng các vị Karmapa.
Chắc chắn cuốn sách này sẽ làm lợi lạc cho
độc giả ; họ sẽ đọc nó với
nguồn cảm hứng và ḷng qui ngưỡng.
Tôi
là người đầy tớ và người truyền bá
của truyền thống Kagyu.
Chogyam
Trungpa
Kim Cang sư
Chogyam Trungpa Rinpoche
Boulder,
21 tháng 2 năm 1980
“Giáo
huấn của các vị Karmapa sẽ trường tồn
lâu như giáo huấn của một ngàn
Đức Phật.”
– Karma Pakshi
Vị
Terton vĩ đại Chogyur Linpa đă tiên báo rằng
vị Karmapa thứ mười sáu hay mười bảy
một ngày nào sẽ vượt đại dương.
Đúng như lời tiên báo đó, giáo huấn của
vị Karmapa thứ mười sáu đă đến lục
địa Tây phương. Thật vậy, Gyalwa Karmapa
đến bây giờ đă hai lần du hành ṿng quanh thế
giới và ban cho các lời dạy cùng các lễ nhập môn
cho nhiều tín đồ và xây nhiều trung tâm Kagyu.
Ở
Tây Tạng có chín phái Phật giáo theo giáo huấn của
Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương
thừa : phái Gelugpa, sáng lập bởi hóa thân của
Đức Văn Thù là Tsongkhapa ; phái Nying-mapa, sáng lập
bởi Vajracarya Padmasambhava, Vua Trisong Detsun và Trụ Tŕ
Santaraksita ; phái Kadampa, sáng lập bởi Atisa và Gyalwa Dromtonpa
; phái Sakyapa, sáng lập bởi Drogmi Lotsawa và Konchog Gyalpo ;
phái Kagyupa, sáng lập bởi Naropa và Marpa Lotsawa ; phái Chod
(đoạn dứt bản ngă), sáng lập bởi nữ
thành tựu giả Machig Labkyi Dronma ; phái Shijay (làm lành đau
khổ), sáng lập bởi Dampa Sangye ; phái Shangpa Kagyu, sáng
lập bởi Khyungpo Naljor ; và phái Urgyen Nyendrup, sáng lập
bởi đại thành tựu giả và pháp sư Urgyenpa
Rinchen Pal.
Hiện
nay tồn tại mạnh mẽ là Gelugpa, Sakyapa, Kagyupa và
Nyingmapa. Tất cả đều theo những giáo lư căn
bản của đạo Phật được truyền
từ Ấn Độ đến Tây Tạng, động
viên những tài nguyên lớn con người và vật
chất qua nhiều thế kỷ.
Một
cách nền tảng, mọi tông phái này là những
người nắm giữ sự trao truyền Kim
Cương thừa từ Vajradhara đến các tổ.
Vị Lạt ma thật sự là sự biểu lộ
của Vajradhara, và bởi thế, rất là quan trọng.
Điều này giải thích tại sao ngày xưa Phật
giáo Tây Tạng được xem là Lạt ma giáo. Danh
từ này liên quan đến phương diện này của
Phật giáo Tây Tạng.
Nếu
bạn nghiên cứu, học hỏi một tông phái bạn
sẽ hiểu được mọi tông phái. Không có sự
khác biệt quan trọng nào trong các giáo huấn của chúng.
Một câu châm ngôn Tây Tạng nói rằng khi bạn ném
một bông hoa vào mạn đà la, nó rơi vào vị
thần nào th́ vị ấy là của bạn. Tương
tự, bất cứ tông phái nào bạn gặp đầu
tiên và nhận được giáo huấn từ đó
đều trở nên rất quan trọng cho bạn.
Bạn phải học các giáo huấn ấy một cách
đúng đắn và nhận sự truyền ḍng. Cũng
quan trọng là phải biết lịch sử của ḍng
phái.
Có
nhiều cuốn sách về cuộc đời các vị
Karmapa được viết ra ở Tây Tạng. Tôi không
làm điều ǵ mới hơn, tốt hơn các sử
liệu vẫn hiện c̣n, mặc dầu một vài sử
liệu này được viết từ hàng thế kỷ
trước và chưa hoàn tất. Từ các sách sử
ấy, tôi thu thập câu chuyện cuộc đời các vị
và dịch ra tiếng Anh với sự giúp đỡ
của Stanley Fefferman và John Mac Cann. Bản văn
được xuất bản bởi Jampa Thaye (David Stott),
đang nghiên cứu tiến sĩ tại đại
học
Ở
Tây phương có nhiều Lạt ma Kagyu và các người
theo học. Như là một món quà cho những ai thích thú
chuyên tâm vào ḍng Karma Kagyu và ngưỡng mộ Gyalwa Karmapa mà
chúng tôi đă thu góp và dịch ra câu chuyện của
mười sáu hóa thân của Karmapa. Tôi hy vọng cuốn
sách này giúp một sự hiểu biết về học
hỏi và tu tập đạo Bồ tát và như thế nào
tông phái đă được truyền bá từ lúc khởi
thủy cho đến ngày nay. Mỗi vị Karmapa có một
hiệu năng với chút ít khác nhau như là một vị
Bồ tát để cứu giúp hữu t́nh. Bất cứ
công đức nào có được từ công việc
ấy đều được hồi hướng cho gia
đ́nh thế giới của chúng ta – thế giới
phải có ḥa b́nh, hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau,
chiến tranh và đói kém và hồi hướng cho sự
thành tựu viên măn của giác ngộ và mức độ
tâm linh của Bồ tát.
Related
Stories:
Karmapa controversy
The
Karmapa lineage is the most
ancient tulku lineage in Tibetan Buddhism, pre-dating the Dalai Lama lineage by
more than two centuries. The lineage is an important one as the Karmapa is
traditionally the head of the Karma Kagyu school, one of the four main schools
of Tibetan Buddhism. Unfortunately the recognition of the 17th Karmapa has
become mired in controversy. Since the death of the 16th Karmapa in 1981
two different candidates have come forward, neither of which has gained
universal recognition as the true Karmapa.
There
are two claimants — Urgyen
Trinley Dorje (also spelled Ogyen Trinley Dorje) and Thaye Dorje — each
supported by a number of important lamas from the Kagyu lineage. Both have
already been enthroned as 17th Karmapa and perform ceremonial and ritual
duties. As of 2006, they have not met.
This
situation has led to deep division among Kagyu followers all over the world.
Each side accuses the other of lying and wrongdoing. It is therefore very hard
to produce an objective description of the events, because the most important
developments are known only from conflicting accounts by those involved.
Read More From
Wikipedia, the free encyclopedia
(Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen)