CÕI THƠ TRONG
KINH KIM CƯƠNG
Nhã Lan Thư
Vì
một duyên lành được nghe kinh giảng của Hòa Thượng Thích
Nguyên Hạnh
Buổi
chiều cuối năm, trời mù lạnh, tuyết còn đọng những mảng
trắng đã ố mầu bụi, trên con đường dẩn vào tiệm tạp hóa nhỏ
của người Việt trong khu phố China, tôi chợt nhìn thấy một
hộp nhỏ để trên thùng gổ đựng cam với mảnh giấy của ai đó:
“Xin vui lòng tiếp nhận”.
Tò mò
tôi dừng lại mở ra, thật bất ngờ đó là thùng băng giảng kinh
Kim Cương, như một đóa hoa vô tình nở ra của món qùa năm mới,
tôi nhặt lên, trân trọng bằng tất cả tấm lòng biết ơn một
đạo hửu nào đã cất công mang thùng kinh nầy để bố thí cho
người hửu duyên. Buổi chiều trên đất khách bổng trở nên ấm
áp hơn. Tôi quay về nhà rủ hơi lạnh còn bám trên áo, vào
trong bếp đun một ấm trà nhỏ, thắp lên một nén hương trầm,
lòng như vẳng lên câu thơ xưa:
Rủ áo
phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang
Khói
hương lảng đảng trong âm thanh trầm bổng giọng nói của vị
pháp sư mang âm hưởng của đất trời cổ kính:
- Hi
hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ-tát, thiện phó
chúc chư Bồ-tát. Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát
A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, vân hà ưng trụ, vân hà
hàng phục kỳ tâm?
Giữa
một cỏi người hiện đại, đầy mây mù của thế kỷ hai mươi mốt
này, lời kinh như một trận gió lớn thổi qua tâm hồn người
ngổn ngang những lo toan triền miên bất tận, có lẻ từ vô thỉ
đến giờ.
Trưởng lảo Tu Bồ Đề hiện ra,ngài đứng đó rở ràng như một
vầng trăng sáng, ngài đem câu hỏi nặng ngàn cân đã đeo theo
kiếp người từ qúa khứ cổ xưa đến hiện tại đầy văn minh máy
móc như phép lạ của điện toán:
Bạch
Thế Tôn! Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác nên làm sao trụ, làm sao hàng phục tâm
kia?
Câu
hỏi đó từ hai ngàn năm trăm năm trước vẫn còn mới, hiện tại
và qúa khứ không có gì thay đổi. Con người với đầy xảo
thuật, đầy thông minh, đầy công thức mỗi ngày mỗi đòi hỏi
mới…mới… vô tận, vẩn bất lực trước bản tâm vốn tỉnh lặng như
như, nhưng vẩn hoài viển ly điên đảo. Ngày càng có nhiều bộ
óc mỏi mòn, con người cứ tưởng mưu cầu hạnh phúc bằng văn
minh sao vẩn hoài đau khổ, thuốc men cứ theo nhau phát triển
hoài hoài, và tội nghiệp thay chúng sanh vẩn chìm sâu trong
vô minh chấp chặt ngày một dầy thêm.
Vị A
La Hán đã vỉ hạnh phúc con người mà phát tâm đại từ bi cầu
xin Như Lai chỉ dậy. Những lời kinh như một dấu nhấn ngân
dài của nốt nhạc vô thanh:
-Làm
sao hàng phục tâm???
-Chư
Bồ-tát ma-ha-tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm. Sở hữu nhất
thiết chúng sanh chi loại, nhược noãn sanh, nhược thai sanh,
nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô
sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng
phi vô tưởng, ngã giai linh nhập Vô dư Niết-bàn nhi diệt độ
chi. Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh,
thực vô chúng sanh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề,
nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng tức phi Bồ-tát.
-Các
vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng phục tâm kia. Có tất cả
các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài
sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có
hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không
tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến
vào Vô dư Niết-bàn mà được diệt độ đó. Diệt độ như thế vô
lượng, vô số, vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh
được diệt độ. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có
tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức
chẳng phải là Bồ-tát.
Phật
hứa sẻ dậy, bắt đầu từ hàng Bồ Tát lớn, các ngài dẩn đầu
trong hạnh tu, vì nếu Bồ Tát mà còn chấp ngã, còn rơi vào sự
lôi cuốn của sáu trần thì chúng sanh làm sao một bước nhẩy
vọt ra khỏi biển đời khổ nạn được. Vì thế Như Lai chỉ ra
rằng mỗi một vọng niệm khởi lên thì ta qúan sát và nhẹ nhàng
đưa chúng vào vô dư niết bàn. Bởi vì tất cả mọi việc trên
cỏi đời nầy đều là bọt, bóng, sương, tuyết, tất cả sẽ tan,
tất cả rồi sẽ không bền vững:
Bia
không mộ sẽ hư tàn
Thân ta lưu lạc bên ngàn tuyết giang
Lời
thơ mang mang sầu, thân thế sự nghiệp, cho đến danh vọng,
đền đài rồi củng đều hóa không. Lời kinh dù đọc ngàn lần
vẩn phủ đầy sương khói bởi vì con ngừơi chưa thể nào hàng
phục tâm mình. Nguyễn Du nhà thơ của thế kỷ trước đã thốt
lên lời tán thán:
Kim
Cương đọc đến ngàn lần
Mà
trong mờ ảo như gần như xa
Lời
kinh Kim Cương bổng trở mình cuồn cuộn như sóng thần đập vở
vào tri kiến tầm thường của con người, đánh thức trí tuệ
bừng sáng:
-Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ?
-
Phất dã Thế Tôn! Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai. Hà
dĩ cố? Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng.
Phật
cáo Tu-bồ-đề:
-
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi
tướng tắc kiến Như Lai.
-Này
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Có thể do thân tướng mà thấy Như
Lai chăng?
-
Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Không thể do thân tướng thấy
được Như Lai. Vì cớ sao? Như Lai đã nói thân tướng tức không
phải thân tướng.
Phật
bảo Tu-bồ-đề:
-
Phàm những gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng
chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.
Lời
Như Lai dậy đẹp như một cành sen trắng muốt tinh khiết, ngài
chì dậy chúng sanh thóat cõi mê mờ của cuồng tín, của giáo
điều, của tâm tôn thờ thần tượng. Như Lai đã vượt lên trên
tất cả triết thuyết từ duy thần cho đến chủ nghĩa hiện đại
nhất. Như Lai hiện thân bình dị của một người khất sỉ vỹ
đại nhất, ngài gạt bỏ giai cấp, chiến tranh và bằng một lòng
thương vô bờ bến muốn trải ra trên cỏi thế nầy một cỏi người
an lạc cho muôn loài. Còi người nên thơ đó là sự rủ bỏ mọi
chấp trước từ có đến không, từ sắc đến vô sắc. Cỏi an lạc
đó đã thắp sáng bằng lời dậy của chân kinh Kim Cương, ánh
sáng rọi khắp cùng vô minh tăm tối.
Như
Lai tuyên thuyết lời kinh chói sáng như viên kim cương, kêu
gọi con người rời bỏ cội nguồn tham đắm của hư danh phù thế,
vỉ tướng duyên hợp hư gỉa của nó. Cái gi là thật? Ngay cả
thân nầy của chính cái ta hiện hửu với hình sắc tướng cũng
chỉ là cánh bèo trôi giạt rồi một mai sẽ tan biến:
Nghĩ
thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê
(Cung
óan ngâm khúc)
Màn
sương khói vô minh vẩn đẩy con người bước đi trong hành
trình mê vọng, rồi từ đó khởi sanh vô vàn tâm tướng và guồng
máy luân hồi vần xoay chuyển không ngừng nghĩ.
-Nhất
thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.
Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như sương cũng như điện,
Nên khởi quán như thế.
Cả
một kho tàng kinh điển nhiều như cát sông Hằng. cuối cùng
rốt ráo chỉ thu gọn lại trong bốn dòng kinh, lời kinh kỳ vỉ
như cả sơn hà đại địa bổng trải dài ra vô tận thoắt hiện rồi
thoắt mất. Dòng kinh kỳ vỉ nầy đã đánh thức một vị thiền sư
vô tiền khoáng hậu của lịch sử giáo ngoại biệt truyền, ngài
Huệ Năng với trí tuệ Bát Nhã rực sáng và từ đó đã xuất hiện
vô số những thiền sư khác. Các ngài đã đến, đã hiện diện
trong cỏi giả tướng nầy, đã trang nghiêm cỏi Phật, đã thanh
tịnh cỏi ngừơi, đã trải hương giới đức cùng khắp hư vô.
Trong dòng thiền thơm mùi hương chiên đàn đó sáng ngời một
vị vua của lịch sử Việt Nam, thiền sư Trần Nhân Tông, ngài
đã một ngày bỏ lại sau lưng cung vàng điện ngọc, gia nhập
vào bước chân tăng lữ của ngàn năm trước Thái Tử Tất Đạt Đa
đã dong duổi trên những con đường xứ Ấn với hùng tâm cứu độ
nhân loại:
Tích nhân nghì, tu đạo đức
Ai hay này chẳng Thích Ca
Cầm giới hạnh, đoạn xan tham
Chỉn thực ấy là Di Lặc”
(Cư
trần lạc đạo phú - Hội thứ sáu)
Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Tạm
dịch:
Sống ở trên đời theo với hoàn cảnh mà vui với đạo
Ðói thì ăn, mệt thì ngủ
Của báu sẵn trong nhà khỏi tìm kiếm
Ðứng trước cảnh vật mà vô tâm thì không phải hỏi
Thiền là gì.
Dòng
kinh Kim Cương đã bao trùm cả tam thiên đại thiên thế giới,
bàng bạc trong không gian vô tận, xua đuổi đi những cụm mây
vô minh, đem ánh sáng lónh lánh của trí tuệ Ba La Mật,
trong trẻo như trăng rằm tháng tám, ngài Xuyên thiền sư đã
viết:
Vô
hạn dã tâm phong quyển tận
Nhứt luân cô nguyệt chiếu thiên tâm
Dịch
nghĩa:
Gió
cuốn mây đen về biển cả
Một vừng trăng sáng giữa trời không
Bên
ngoài cửa tiếng pháo mừng xuân mới đang nổ vang cùng tiếng
khua nồi chảo như thanh la nảo bạt. Mùi hương trầm vẩn
quyện thơm bát ngát, tôi bất giác chấp tay nguyện cầu chư
Phật mười phương, nơi các ngài không ngừng rãi tâm từ bi
cho chúng sanh trong giây phút giao thời thiêng liêng đồng
phát đại nguyện cho cõi đất thêm xanh ngát bóng mát của lòng
Từ như nhất, cùng buông bỏ tất cả để đến bờ bên kia giác ngộ,
vượt qua, vượt qua hỡi các cùng tử của Như Lai.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NHÃ
LAN THƯ
Ngày cuối năm 2009