|
Chuyển hóa nổi lo
Chuyển hóa nỗi lo cũng là chuyển hóa nội tâm.
Tâm có sáu phiền não căn bản và 20 phiền não phụ. Việc
chính yếu chúng ta cần thực hiện trên bước đường tu là
chuyển hóa nội tâm, tức chuyển đổi tâm phiền não thành
tâm Bồ đề, hay tâm giác ngộ. Nói đúng hơn, người tu phải
phát tâm Bồ đề, mới dùng tâm Bồ đề này để chuyển hóa
phiền não.
Sáu căn bản phiền não là tham, sân, si, mạn, nghi, nghĩa
là từ nhận thức sai lầm, chúng ta tạo thêm: thân kiến,
biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, gộp chung
lại thành thập triền là mười thứ phiền não ràng buộc,
ngăn che chúng ta không thấy được chân lý, khiến chúng
ta mắc phải sai lầm, dẫn vào con đường khổ đau. Ý này
được diễn tả trong bài sám Quy mạng rằng: Thập triền
thập sử tích thành hữu lậu chi nhân.
Theo tôi, thập triền, thập sử, hay sáu căn bản phiền não,
hoặc 20 phiền não phụ (gồm có phẫn, hận, phú, não, tật,
san, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử,
hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán
loạn, bất chánh tri) có thể thu gọn lại cho dễ nhớ dễ
thực hành, đó là buồn giận, lo sợ luôn tác động chúng ta
rất mãnh liệt. Riêng tôi, sinh ra và lớn lên trong thời
kỳ chiến tranh khốc liệt, nên những sự mất mát về người
thân, về mọi thứ làm mình dễ buồn giận lo sợ. Vì vậy,
chuyển hóa nỗi lo, hay chuyển hóa buồn giận lo sợ là bài
pháp tôi đã thực hiện trong một thời gian dài hơn 50 năm,
muốn chia sẻ kinh nghiệm này với quý vị.
Sống trên cuộc đời này mà bảo không lo là điều khó làm.
Năm 1975, sau khi đất nước mới giải phóng, còn rất nhiều
vấn đề nan giải đối với mọi người. Ni sư Vĩnh Bửu đến
thăm, thấy tôi bình thản, mới nói rằng “chết đến nơi mà
thầy không lo”. Tôi trả lời nếu thật sự chết thì có lo
cũng chết, không lo cũng chết; nhưng không lo, chết
trong an lạc vẫn tốt hơn là chết trong nỗi lo buồn. Tôi
cảm giác càng lo càng bị phức tạp, rắc rối bao vây thì
càng khổ sở hơn, nên tôi tập không lo lắng bất cứ điều
gì xảy ra.
Tôi tin rằng cuộc đời tu học và hoằng pháp của tôi đã có
Phật lo, nên tôi mới tu học được và hoằng pháp được;
mình lo không được, còn gánh thêm phiền não, tội lỗi thì
không phải là điều mà người chân tu hướng đến. Thật vậy,
thực tế cho thấy một số người bạn đồng hành luôn lo cho
cuộc sống của họ, làm sao có chỗ ở tốt, có chùa lớn;
nhưng chưa được chùa thì mạng sống đã chấm dứt. Hoặc có
người lo chuyện lớn, lo cho xã hội, lo cho cả thế giới,
thậm chí lo hành tinh của chúng ta sẽ va chạm vào hành
tinh khác thì cả nhân loại này sẽ tiêu tan thành tro bụi
trong chớp mắt, v.v… Đừng hiểu lầm rằng không lo là bỏ
mặc mọi việc cho hư. Không lo những việc không đáng lo
hoặc những việc vượt ngoài khả năng mình. Thử nghĩ thân
phận như con kiến mà đòi lo chuyện đội đá vá trời, rõ là
ngông cuồng. Phải nói ít có người trong lòng được bình
an, vì phần nhiều họ thường lo những điều không cần
thiết. Trong khi Đức Phật dạy chúng ta những việc rất
thực tế trong cuộc sống, được ví như người bị mũi tên
độc, cần chữa trị ngay để lấy chất độc ra, đừng lo hỏi
chất độc gồm có thành phần gì, người bắn mũi tên độc
xuất thân từ đâu, v.v...
Đối với tôi, đặt niềm tin sâu sắc ở Đức Phật thì tất cả
nỗi lo trong lòng tự nhiên tiêu tan. Được thức ăn, nghĩ
rằng Phật cho mình; không có thức ăn, nghĩ là Phật thử
thách mình. Tin Phật sắp xếp như vậy, tâm được an lạc
liền. Đạo Phật là đạo giải thoát, an lạc, làm sao không
bị hệ lụy vì thức ăn, hay nói chung, không để đời sống
vật chất tác hại tâm mình.
Sống trong hoàn cảnh nào, cũng dùng tâm Bồ đề phân tích,
lý giải, để đạt được kết quả tốt nhất, là kinh nghiệm
của tôi. Còn mình chỉ lo việc không đáng lo, mất công
nhiều, nhưng kết quả không được bao nhiêu mà chúng ta
lại xa rời nếp sống giải thoát trong Chánh pháp. Nếu
nghĩ mình tự lo được thì Phật khỏi lo; nhưng tin chắc
rằng tất cả mọi việc do Phật sắp xếp một cách đúng đắn
thì trở về Bồ đề tâm của chúng ta, theo sự đúng đắn đó
mà hành xử. Tôi thường nói rằng ở nơi đâu và ngay lúc đó,
dùng Bồ đề tâm mình giải quyết, xong rồi thì cho qua.
Ngay lúc đó, có Bồ đề tâm, tức tâm sáng suốt là nhờ
không lo không tính, mới trực nhận được giải pháp một
cách tốt nhất; còn lo lắng quá, tính toán quá thì tâm
trí rối bời, mờ tối, phiền não bao vây, việc chúng ta
không thể thành tựu tốt đẹp.
Hóa giải nỗi lo đầu tiên của tôi là đem ký thác cho Phật,
Bồ tát, Long thiên; xuất phát từ niềm tin kiên định như
vậy, tôi vượt qua mọi khó khăn, phiền muộn. Trong phẩm
Pháp sư thứ mười, kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy rằng người
trì kinh ở nơi vắng vẻ, Phật sẽ khiến hóa nhân đến nghe
pháp; có người hại, Phật sẽ khiến Bát bộ Thiên long giữ
gìn. Nếu chúng ta tin lời Phật dạy như vậy, thì còn sợ
gì. Thí dụ hôm nay tôi thuyết pháp tại giảng đường này,
Phật khiến Phật tử hữu duyên đến nghe pháp và thực hành
Chánh pháp. Nếu tôi lo thì phải kêu gọi mọi người đến,
nhưng họ thật sự có muốn nghe pháp, muốn tu hay không.
Không muốn tu mà mời tới thì làm cho việc tu tập của
chúng ta càng phức tạp, khó khăn thêm.
Các vị trong ban tổ chức khóa tu nói rằng tại một số
giảng đường, thuyết pháp một tiếng đồng hồ còn không có
nhiều người nghe, mà mở khóa tu Một ngày an lạc như
chúng ta tại một giảng đường lớn thì e rằng khó thành
công, lo quá. Tôi nói rằng quý vị đừng lo, có Phật lo
thì tất cả mọi việc đều tốt đẹp. Chỉ có một điều quý
thầy cần lo là giữ tâm thanh tịnh thì nhất định việc tu
hành của Phật tử sẽ được tốt đẹp. Đại đức Nhật Từ cũng
có ý tốt, có tinh thần trách nhiệm, nên lo ngại rằng sẽ
không có nhiều người đến nghe pháp, nên đã vận động và
rước những người mù và bệnh nhân ung bướu đến nghe pháp.
Tôi bảo rằng nếu họ muốn nghe pháp, chúng ta tạo điều
kiện cho họ đến để hiểu biết Chánh pháp, được tu hành và
hóa giải được nghiệp của họ, thì khi rời bỏ xác thân, họ
ra đi nhẹ nhàng. Chúng ta giúp họ thăng hoa trên hành
trình tâm linh, nếu họ muốn. Còn họ không muốn tu, nhưng
chúng ta cho đến để lấp đầy giảng đường là điều không
nên. Tôi chủ trương trong khóa tu này, Phật tử “ăn pháp,
ăn thiền” là chủ yếu; còn muốn ăn ngon thì đến nhà hàng,
muốn ở tốt thì vào khách sạn. Giảng đường này chỉ phục
vụ người tu.
Phật khiến các Phật tử đến tu học và việc hóa giải nỗi
lo sợ buồn giận trong tâm Phật tử là nhiệm vụ của quý
Tăng Ni trong Đoàn Giảng sư. Sau khi chết, chúng ta về
đâu, đó là việc lớn nhất của hàng đệ tử Phật phải lo,
phải sợ. Quý Tăng Ni có trách nhiệm thấy con đường đi
của chính mình để hướng dẫn người khác và phải tìm được
cuộc sống an lạc cho chính mình để chỉ dạy cho người
được an lạc. Đó là việc làm thiết thực nhất; còn việc
tập họp, tổ chức vui chơi, ngủ nghỉ ăn uống bình thường
không cần thiết.
Như vậy, điều chúng ta lo là hóa giải được tâm phiền não
của mình và hóa giải cho người. Và thực tế cho thấy quả
đúng như vậy, đạo tràng chúng ta ăn trưa một hộp cơm năm
ngàn đồng vẫn tu được, chứng tỏ Phật khiến những người
đến đây nghe pháp, thực tập giáo pháp. Chúng ta phải có
trách nhiệm hóa giải được nỗi lo sợ buồn giận của tất cả
Phật tử về đây tu học.
Đối với người tu hành, việc quan trọng nhất là thiền
thực và pháp thực; vì xóa bỏ nỗi lo sợ buồn giận trong
lòng không gì hơn là thực tập thiền và ứng dụng giáo
pháp. Tôi cũng nhờ thể nghiệm thiền và giáo pháp trên
bước đường tu, lần lần phiền não được cắt bỏ. Đầu tiên,
chúng ta tập vui với pháp, vui nghe pháp. Thuở còn là
học Tăng, có pháp hội thuyết pháp, tôi hay để tâm nghe;
có tác phẩm hay tôi thường tìm đọc. Tâm chúng ta để vào
sách vở, kinh điển, tất cả việc khác tự nhiên không chi
phối được. Còn ngồi không rồi buồn man mác, nhìn trời
mưa hay mây bay cũng rầu rĩ và tâm buồn thì nhìn sự vật
làm sao vui được.
Thực tế nhiều người muốn hóa giải nỗi buồn lo lại rơi
vào sai lầm bằng cách tìm thuốc lá hút, tìm cà phê uống,
lâu ngày tạo thành nghiệp nghiện thuốc lá, ghiền cà phê,
là tạo cơ hội cho ma và nghiệp kéo họ vào đường tà một
cách dễ dàng.
Như vậy, không được phép ngồi không để buồn, không cho
nghiệp khởi, không cho ma dẫn, chúng ta phải có định
hướng bằng cách để tâm vào việc đọc kinh sách, suy nghĩ
lời Phật dạy. Trải qua một thời gian thực tập như vậy,
trí tuệ phát sinh, Bồ đề tâm sáng lên, chúng ta thấy
biết sự vật đúng như Phật dạy, tự động buồn giận lo sợ
biến mất; đó là cách hóa giải phiền não hữu hiệu nhất.
Tôi thường tâm niệm rằng đường còn xa, việc còn nhiều,
cứ lo làm việc, lo nỗ lực đi mãi trên con đường giác
ngộ; kinh nghiệm bản thân này tôi muốn chia sẻ cho tất
cả Phật tử hữu duyên.
Những người để cho thì giờ rảnh rỗi nhiều, thường dễ bị
ma kéo vào nhiều việc không tốt và từ những cái không
tốt này sẽ sinh ra những điều không tốt khác, chắc chắn
quả báo không tránh được. Sám Quy mạng diễn tả rằng "lục
căn lục trần vọng tác vô biên chi tội". Để cho sáu căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý tiếp xúc với sáu trần:
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, dẫn đến tội lỗi sinh
ra trùng trùng, khổ này làm nhân cho khổ khác phát sinh,
khổ này chồng chất lên khổ khác và kiếp này khổ chồng
chất lên kiếp khác khổ.
Đối với tôi, thuở còn trẻ tuổi, khởi tu bằng cách ép
mình vào việc học, tập trung tư tưởng để tìm hiểu yếu
nghĩa của pháp Phật, thì gần như tôi quên tất cả mọi
việc, ngoài luận văn nghiên cứu, tôi không biết gì khác.
Nhưng đến khi hoàn thành việc học, trí tuệ phát sinh,
nhìn lại cuộc đời, tôi thấy cái gì cũng đẹp hơn. Còn
giai đoạn trước, lo sợ tính toán mà không được gì. Kinh
Hoa Nghiêm dạy rằng cỏ cây, mây bay, suối reo, chim hót…
đều là Phật pháp, chỉ có tu học Phật pháp, thâm nhập
Phật pháp là hóa giải được mọi phiền não.
Chúng ta còn nhớ câu chuyện giữa Phật Ấn và Tô Đông Pha.
Tô Đông Pha làm quan và cũng là học giả thì bao nhiêu dữ
kiện tốt xấu của cuộc đời, ông chất chứa đầy ắp trong
tâm trí, nên có đủ buồn lo. Phật dạy biết nhiều phiền
não nhiều là vậy. Cuộc đời của Tô Đông Pha lại quá thăng
trầm, phải tính toán lo lắng đủ thứ; nhưng ông không
được đãi ngộ. Làm quan, ông phải lo giải quyết sao cho
dân vừa lòng, mà dân ủng hộ thì ông lại lo "búa tạ"
triều đình đập xuống. Trong khi Thiền sư Phật Ấn không
có gì để lo lắng, tính toán, nên tâm thanh tịnh, trong
sáng, không phiền não.
Tô Đông Pha có người em gái là đệ tử của ngài Phật Ấn.
Ông thấy người em lúc nào cũng sống an vui, khỏe mạnh.
Học đạo để được như vậy, không phải học đạo để khổ,
không phải học lý thuyết suông. Nhờ tâm giải thoát, bà
này sống ung dung tự tại, không bệnh. Tâm buồn giận, lo
sợ thì nội tạng phải hư tổn, phải bệnh và nhờ tâm an,
hoàn cảnh cũng tốt theo. Bà này là nhà kinh doanh thành
đạt tiêu biểu trong Phật giáo.
Tô Đông Pha thấy em gái tầm thường. Điều này dễ hiểu, vì
người Trung Quốc xem thường phụ nữ; đối với họ, cái gì
cũng nam tử hán là nhất; nhưng thử nghĩ nam tử mà khổ
đau, rầu rĩ thì có nhất hay không. Người em gái của ông
nhờ quy y với Phật Ấn Thiền sư mà có cuộc sống tốt đẹp
như vậy. Tô Đông Pha cũng tìm Phật Ấn xem ra sao mà
người em ca ngợi. Nhưng ông thấy Phật Ấn bề ngoài bình
thường, nên ông hỏi “Ngài thấy tôi thế nào?”. Phật Ấn
chỉ chắp tay cúi đầu chào ông hai tiếng Mô Phật. Ông mới
nghĩ rằng Phật Ấn coi ông là Phật thì nhà sư này chắc là
tâm thần. Phật Ấn hỏi lại Tô Đông Pha rằng “ông thấy tôi
như thế nào?”. Tô Đông Pha đáp “tôi thấy ông như một bãi
phân”. Câu này ám ảnh tôi mấy chục năm. Nếu chúng ta
nghe câu nói như vậy dễ chạm tự ái lắm, nhưng tự ái nổi
lên thì coi chừng nguy hiểm, coi chừng mình là bãi phân
thật.
Đọc kỹ kinh Hoa Nghiêm, chỗ này cho chúng ta thấy điều
gì, thấy Phật Ấn hay Tô Đông Pha là Phật? Phật Ấn là
người tu hành không buồn giận lo sợ. Trong tâm ngài chỉ
có Phật và tất cả mọi việc do Phật sắp xếp. Kinh Hoa
Nghiêm dạy rõ rằng trong tâm mình có Phật thì nhìn đâu
cũng là Phật, nhìn mây bay, núi cao cũng có dáng Phật,
nhìn chim cá, muôn loài đều dễ thương. Vì tâm Phật là
tâm từ bi hỷ xả, nên tâm mình có Phật ngự trị thì buồn
giận lo sợ trong ta rơi rụng và đối với tất cả mọi
người, mọi loài, chúng ta chỉ có tình thương bao la. Vì
ngài Phật Ấn là bậc chân tu, đã đem Phật vô tâm, nên
ngài thấy Tô Đông Pha cũng là Phật. Còn chúng ta, nếu
thấy người nghịch, người đáng ghét cũng dễ thương là đã
nhìn thấy được Phật.
Trong khi Tô Đông Pha là học giả, trong tâm chất chứa
nhiều sự kiện, cái gì cũng biết, nên tâm phân biệt, cố
chấp đã khiến ông thấy Phật Ấn dở, xấu; ông mới nói ngài
là bãi phân. Điểm này cần lưu ý rằng tất cả những gì xấu
ác do chúng ta nghĩ ra, nói ra là phát xuất từ trong tâm
mình đã chứa nhóm sẵn những điều xấu ác đó. Và mình
không bằng lòng với những cái xấu ác trong tâm mình sẵn
có là điều khổ nhất. Vì vậy, đem Phật pháp vào tâm,
chúng ta thấy an lạc vô cùng. Hình ảnh của Phật, Bồ tát,
Thánh tăng đặt vô tâm thì hình ảnh cao quý của các ngài
hiện lên, chắc chắn chúng ta cảm thấy an vui tự tại. Đó
là pháp hành mỗi ngày của tôi. Mỗi sáng sớm tôi tụng
kinh rồi mới làm việc và tối tụng kinh rồi mới ngủ. Buổi
sáng đem kinh vào tâm để ngăn chặn những ác xấu thâm
nhập; tối tụng kinh để rửa sạch những trần lao đã tiếp
xúc trong ngày làm việc, để cho tâm thanh thản vào
Thiền, hay vào giấc ngủ. Nhờ vậy, tôi an lạc trong cuộc
sống hành đạo và an lạc trong giấc ngủ.
Đem Phật pháp vào lòng để rửa sạch trần tâm, giống như
lấy nước rửa thân cho sạch. Điều này gợi tôi nhớ đến câu
chuyện về Bồ tát Quan Âm ở đời Thanh rất dễ thương. Có
một vị Hòa thượng đi hóa duyên, một hôm Ngài gặp một
người ác lấy thùng phân ụp lên đầu Ngài. Hòa thượng vẫn
vui vẻ để y nguyên thùng phân trên đầu, vừa đi vừa nói
“Thùng phân lớn đội thùng phân nhỏ”. Mọi người thấy vậy
đi theo xem Ngài làm gì. Hòa thượng đi đến dòng sông,
tắm rửa xong, Ngài nói rằng phân bên ngoài lấy nước rửa
sạch được; sợ nhất là phân trong lòng khó tẩy sạch.
Việc làm của Hòa thượng là bài thuyết pháp sống động,
hóa giải được kẻ ác này trở thành Phật tử thuần thành,
một lòng tu theo Hòa thượng. Ngài là biểu tượng phạm
hạnh dạy cho chúng ta hiểu rõ thế nào là rửa sạch phân
nhơ trong tâm mình. Chúng ta thường sai lầm, đem phân
nhơ để vô tâm mình, nên nghiệp và phiền não cứ tăng
thêm. Tăng Ni và Phật tử nỗ lực tu tập, đừng đem phiền
não vào tâm; cần đưa pháp vào tâm để rửa sạch lòng trần.
Và khi tẩy sạch phiền não, mới tiến sang giai đoạn hai
là hành Thiền. Nhiều người nghĩ rằng tu Thiền quan trọng
nhất, nhưng quên mất Trí Giả đại sư dạy rằng muốn tu
Thiền, phải sám hối hết nghiệp mới được, ví như một bình
phân nhơ muốn đựng cam lồ thì phải rửa bình cho sạch.
Người tội lỗi phải sám hối tiêu tội mới vào Thiền được;
nếu không, dễ bị đọa lạc.
Ngài Trí Giả e ngại chúng ta không hiểu, mới nói thêm
trong Ma ha chỉ quán để chúng ta nhận biết thế nào là
sám hối hết tội. Đem Phật vào tâm được phải qua hai giai
đoạn. Giai đoạn một, phải sám hối đến khi chúng ta thấy
hảo tướng, nghĩa là lòng chúng ta chỉ thấy Phật, không
thấy người ác xấu để buồn giận, là mình hết nghiệp.
Nhưng qua giai đoạn hai, cao hơn để tu Thiền, tất cả
chúng sinh phải thấy ta là Phật thì mới thật sự hết
nghiệp. Như vậy, Phật hiện trong tâm ta trước và sau đó
Phật hiện lên thân chúng ta, thì mới thực tập Thiền
được. Còn các giai đoạn trước, chúng ta chỉ sử dụng được
Thiền tứ niệm xứ quán là quét dọn phân nhơ trong tâm,
chứ chưa làm được gì lớn lao hơn.
Tóm lại, thể nghiệm Phật pháp trong cuộc sống theo đúng
tinh thần Phật dạy và ứng dụng Thiền quán trên bước
đường tu làm cho trí tuệ chúng ta sáng lên, hiểu biết
mọi việc đúng như thật, làm cho tâm chúng ta thanh tịnh,
giải thoát, an vui và tác động cho mọi người cũng được
an vui, giải thoát, sáng suốt. Được như vậy thì tất cả
buồn giận lo sợ, phiền não, trần lao, nghiệp chướng đã
được chuyển hóa thật sự tốt đẹp, mà kinh Pháp Hoa ví như
hoa sen vươn lên từ bùn nhơ, tỏa hương thơm ngát cho
đời.
|